chung cư linh tây tower thủ đức

linh tây tower

Thứ tư, 29/03/2017

Sự kiện qua Ảnh: 1000 năm Thăng Long - HN

Hát cùng Khúc Quân Hành



Get the Flash Player to see this player.

Nghe hát xẩm ở chợ Đồng Xuân

Đàn bầu, báu vật vô giá của dân tộc, tưởng gần như vắng bóng và bị thay thế bởi đàn bầu điện nhưng mới đây nó đã được nghệ sĩ nhân dân Xuân Hoạch hồi sinh ngay giữa Hà thành tại một nơi hết sức dân dã: chiếu Xẩm trước cửa chợ Đồng Xuân vào mỗi tối thứ bảy.

Nghệ sĩ nhân dân (NSND) Xuân Hoạch đã mày mò phục chế cây đàn bầu mộc từ trong những tư liệu ảnh của người Pháp để lại...

Long đong phận đàn bầu

Cây đàn bầu vốn chiếm thế độc tôn trong lòng mỗi người con đất Việt nhiều thế kỷ, nhưng tới nửa cuối thế kỷ 20 khi các nhạc cụ điện ngày càng phổ biến thì phong trào cải tiến để âm thanh lớn bắt đầu phát triển và nở rộ. Đó cũng là thời điểm báo hiệu những thăng trầm của đàn bầu.

Vào những năm 1950, đàn bầu điện bắt đầu xuất hiện trong các đoàn văn công. Giáo sư Phạm Minh Khang, nguyên Chủ nhiệm khoa Lý luận Sáng tác Chỉ huy, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam (Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam) cho rằng: “Sự xuất hiện tiếng đàn điện phù hợp với thời điểm ấy, khi các đoàn phải tập trung biểu diễn phục vụ chiến sĩ và nhân dân. Để phục vụ đông đảo công chúng một cách hiệu quả cần phải có âm thanh lớn, các nghệ sĩ đã sáng tạo ra việc lắp thêm ô-ri-ông-tông khuếch đại âm thanh”. Sáng tạo này rất độc đáo vì nó vẫn giữ được hồn cốt của tiếng đàn bầu, từ nhấn nhá đến rung, kể cả những tiếng phát ra từ sự tác động giữa que gảy với dây đàn rất đặc trưng của đàn bầu.

Vài thập niên sau, thêm một làn sóng cải tiến nhạc cụ, nhiều nghệ sĩ đã lắp thêm mô-bin kèm theo cái loa như loa nén cỡ nhỏ. Cũng từ thời điểm ấy đàn bầu điện có thể rung, nhấn nhá thêm nhiều cung bậc nhưng nó đã khác xa với cây đàn bầu cổ truyền và rất dễ lẫn với âm thanh của nhiều nhạc cụ điện du nhập khác như guitar điện, guitar Hawai...

Theo các chuyên gia, lần cuối cùng đàn bầu mộc đến với đông đảo công chúng cách đây đã 30 năm. Năm 1978, Nhạc hội Đàn bầu lần đầu được tổ chức từ sáng kiến của cố giáo sư, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước nguyên là Viện trưởng Viện Âm nhạc. Nhạc sĩ Thao Giang, lúc ấy là Phó trưởng Khoa Nhạc cụ Truyền thống của Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam) đã được sự chỉ đạo của Giám đốc, nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương về việc đặt những cây đàn bầu này để khai thác, áp dụng trong giảng dạy tại trường: “Cụ Phước muốn tổ chức Nhạc hội vì cụ muốn cây đàn bầu cổ truyền trở về với vị trí vốn có của nó, đồng thời cũng là dịp nhìn nhận để tiếp tục phát triển cây đàn cải tiến. Không thể quên được lần ấy tiếng đàn bầu mộc độc đáo được các nghệ nhân Thân Đức Chinh (Bắc Giang), Nguyễn Văn Nguyên (Hà Nội), Nguyễn Ngọc Thư, Nguyễn Văn Quang (Hải Phòng)…”.

Không ai biết thời điểm chính xác cây đàn xuất hiện, song nhà nghiên cứu Hoàng Kiều dẫn lời cụ nghệ nhân Nguyễn Văn Nguyên: Đàn bầu tương truyền chính là báu vật mà Bụt ban cho thái tử Trần Quốc Đĩnh trong lúc bị người em ruột hãm hại bơ vơ giữa nơi rừng sâu. Cũng từ đấy hát xẩm ra đời gắn với đàn bầu. Có lẽ cũng do gắn với hát xẩm và những nghệ nhân mù lòa cơ cực nên đàn bầu cũng cùng chung số phận hẩm hiu! Rồi mãi đến năm 1892 đàn bầu mới được những người hát xẩm Bắc kỳ đưa vào Huế và khoảng đầu thế kỷ 20 người ta mới thấy một số nhạc sĩ tài tử dùng đàn bầu để hòa tấu trong dàn nhạc...

NSND Xuân Hoạch và cây đàn bầu mộc do ông chế tác

Và mối duyên nợ với “tiếng hồn dân tộc”

NSND Xuân Hoạch được Nhà nước phong tặng danh hiệu nghệ sĩ ưu tú năm 1993 và NSND năm 2007 do những đóng góp cho cây đàn nguyệt. Song, ông lại luôn bị tiếng đàn bầu ám ảnh. Quê ông ở Thái Bình, từ nhỏ đã ngấm tiếng bầu cùng những làn điệu chèo. Được học đàn nguyệt chính quy tại Trường Âm nhạc Việt Nam nhưng ông vẫn học lỏm đàn bầu ở lớp của thầy Bá Sách. NSND Xuân Hoạch kể: “Đàn bầu với tôi như một món nợ. Chừng nào chưa trả lại được cho nhân dân tiếng đàn bầu dân tộc thì chừng đó gánh nợ vẫn còn đeo đẳng bên tôi”.

Theo NSND Xuân Hoạch, cây đàn bầu mộc có nhiều đặc điểm khác biệt với đàn bầu hiện nay. Hộp cộng to, cần đàn cứng cáp, và que đàn thì rất dài, có khi dài bằng cái đũa con. Khi đánh, sự tác động giữa que đàn lên dây đàn sẽ tạo một tiếng phụ nghe rất hay, rất đặc trưng của tiếng đàn bầu mộc, vì thế nó mới được ví như tiếng kêu “tích tịch tình tình tang”. Đàn bầu ngày nay đã hoàn toàn mất đi âm sắc này. Tư thế chơi đàn cũng rất đẹp chứ không phải cúi gầm mặt như đàn bầu điện hiện nay.

Quá trình chế tác đàn bầu mộc của NSND Xuân Hoạch không hề đơn giản. Có quá nhiều khâu phải thực hiện. Đầu tiên phải nhớ lại cây đàn ngày xưa mà nghệ sĩ từng được tận mắt thưởng thức kết hợp với những tấm ảnh đàn bầu do người Pháp chụp đầu thế kỷ 20 ở Hà Nội, sau đó vẽ ra để định dạng kích thước. Việc chọn chất liệu phục chế cũng không đơn giản. Xưa các cụ dùng gỗ hoặc tre to để làm hộp đàn, sau khi suy nghĩ và tham khảo, ông quyết định chọn chất liệu tre làm bầu đàn.

Bỏ ra không biết bao nhiêu thời gian rong ruổi khắp các điểm bán tre nứa mới có thể tìm cho ra một cây ưng ý. Ngay như quả bầu nậm, dù chỉ có tác dụng giúp cho cây đàn thêm duyên dáng nhưng ông cũng phải nhờ anh em họ hàng ở tận Quảng Trị gửi ra. Vì thời điểm ấy không thể tìm được bầu nậm khô ở Hà Nội. Có đầy đủ nguyên liệu làm đàn rồi mới đến khâu quan trọng nhất là chế tác. Phải chú ý từng chi tiết nhỏ để làm sao khi cây đàn thành hình có thể phát ra được âm thanh tốt nhất. Mãi tới năm 1990, ông mới phục chế xong cây đàn bầu mộc đầu tiên. Rồi đàn thử, thu băng và đem “khoe” những người bạn thân thiết.

Tiếng đàn bầu mộc hôm đó của NSND Xuân Hoạch đã trở thành cảm hứng ra đời tác phẩm Du thuyền trên sông Hương đậm chất âm nhạc Huế lại pha chút âm nhạc Hát Văn của nhạc sĩ Thao Giang. Đó là một bản nhạc với sự góp mặt của bốn nhạc cụ, trong đó ngoài đàn bầu còn có ba nhạc khí gõ là mõ, thanh la và trống. Trao tặng NSND Xuân Hoạch tổng phổ bản nhạc, nhạc sĩ Thao Giang động viên: “Đây là tác phẩm viết cho đàn bầu mộc sẽ thể hiện được tính năng cây đàn và tài nghệ của người nghệ sĩ biểu diễn. Nhưng phải tập để làm sao chỉ một mình có thể đảm đương tất cả các nhạc cụ này. Các cụ nghệ nhân đàn bầu xưa vẫn làm được điều này”.

Quả là một điều không đơn giản trong khi tay đàn, hai chân phân ba loại nhạc cụ mà mỗi chân lại phải đảm đương hai kiểu tiết tấu khác nhau (một chân nhịp thuận và một chân là tiết tấu đảo). Các cụ nghệ nhân thời xưa không phải lúc nào cũng sử dụng “chiêu độc” này nhưng cụ nào cũng thạo việc tay vừa gảy đàn vừa đánh trống, chân giậm nhịp rất điệu nghệ...

Hiện thuộc “quân số” của Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam nhưng muốn gặp NSND Xuân Hoạch phải tìm tới Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam (Trung tâm) tại đình Hào Nam. Vì cứ rảnh ông lại tới đây truyền dạy cho các bạn yêu nghệ thuật truyền thống về đàn nguyệt, đàn bầu, đàn đáy, hát văn và hát xẩm...

Học sinh của ông đủ lứa tuổi, có cụ bà hơn 80 đến học lại những câu hát ru, có cháu bé chỉ hơn 10 tuổi. Nhưng điều ông trăn trở là cho đến nay, vẫn chưa tìm được một học trò cưng để giao lại những bí quyết phục chế đàn bầu nguyên gốc. Ông bảo để có thể thể hiện đàn bầu theo đúng lối truyền thống dân tộc để đạt được yêu cầu đơn giản nhất chí ít cũng phải mất ba năm dồn toàn tâm toàn lực, còn đạt độ nhuần nhuyễn thì phải mất cả cuộc đời. Mà bây giờ, tìm được một người trẻ yêu và dám hy sinh tất cả cho cây đàn bầu thật như đáy bể mò kim…

Sưu tầm


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Mặt trận Biên giới Tây Nam (P2.3)

Mặt trận Biên giới Tây Nam (P2.3)

Những ngày rảnh, mà nằm chốt thì toàn những ngày rảnh. Rất khoái! Không vất vả như thời huấn luyện. Chỉ có mỗi ban đêm khổ vì gác địch. Những ngày như thế, tôi xách AK đi vẩn vơ dọc bờ mương bắn cá. Tháng 12 rồi mà sen hồng, súng hồng vẫn n...

Đọc tiếp...

Bàn về nghệ thuật Quân sự

Việt Nam có lịch sử truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước vô cùng oanh liệt. Các cuộc chiến tranh chống kẻ thù xâm lược do nhân dân ta tiến hành đều là chiến tranh nhân dân chính nghĩa, thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân tham ...

Đọc tiếp...

linh tây tower