chung cư linh tây tower thủ đức

linh tây tower

Thứ hai, 27/03/2017

Sơ cứu vết thương chiến tranh (P3)

Chương 2. Bỏng và sơ cứu vết thương bỏng

Chương 3. Chấn thương do sức ép, áp lực vùi lấp thời gian dài và sơ cứu khi bị sức ép

Chương 2

Bỏng và sơ cứu vết thương bỏng

Bỏng là  vết thương trên cơ thể con người, bị gây ra dưới tác động của nhiệt độ rất cao, có nghĩa là bị đốt cháy ở nhiệt độn cao. Bỏng có thể do lửa chảy, chất lỏng có nhiệt độ cao, kim loại nóng đỏ hoặc nóng chảy, hơi nước, không khí có nhiệt độ cao. Bỏng cũng có thể xảy ra khi cơ thể bị chiếu xạ bởi những tia quang học có công suất rất lớn ( như một hiện tượng cháy nổ có cường độ mạnh, có nhiệt độ hàng nghìn độ)

Trong chiến tranh, chiến sỹ có thể bị bỏng do đối phương sử dụng các loại vũ khí đặc biệt, có sử dụng các hợp chất cháy như napal, tecmit, photpho, bom nhiệt áp hoặc vũ khí hạt nhân. Ngoài ra, còn có thể bị bỏng do các vụ cháy nổ xảy ra khi vũ khí đạn dược, trang thiết bị hoặc công sự phòng thủ bị cháy do sự phá hoại của bom đạn địch. Trong mọi trường hợp, vết bỏng đều xảy ra khi có lửa và nhiệt độ quá cao..
Thông thường, những phần cơ thể không được che chắn bởi quần áo hay trang bị bị tổn thương trước hết. Do quần áo và trang bị đã giảm đi rất nhiều sự nhân tố gây tổn thương của lửa, khống khí nóng và chiếu xạ nhiệt, do đó, các vết bỏng thường bắt đầu từ tay và mặt. Nhưng nếu quần áo bị cháy, đặc biệt là quần áo thấm mồ hôi hoặc nước, thì vết bỏng rất sâu và nặng, nếu bị bỏng bởi chất lỏng như nước sôi, phần cơ thể có quần áo có thể bị bỏng nặng hơn phần không bị che chắn, do hơi nước, đọng trong vải, nguội lâu hơn và tác động lâu hơn nên cơ thể.
Cơ thể người nếu chịu tác động càng lâu của nhiệt, thì vết bỏng càng năng. Viết bỏng gây ra do chiếu xạ nhiệt và không khí nóng thường tác động rất nhanh, trong khoảng thời gian xảy ra vụ nổ ( bom nhiệt áp, bom hạt nhân). Nhưng những vật chất gây cháy như xăng, napalm, photpho hoặc quần áo bị cháy sẽ lâu hơn rất nhiều và càng lúc càng nặng. Vì vậy, nguyên tắc đầu tiên khi bị bỏng là cố gắng dập tắt lửa và loại bỏ quần áo đang bén lửa cũng như các chất cháy trên cơ thể nạn nhân.
Hiện tượng cháy – Đó là hiện tượng oxy hóa rất nhanh, phản ứng kết hợp giữa các chất cháy và oxy có trong môi trường.


Chỉ có một số các chất đặc biệt có trong thành phần phân tử oxy và có khả năng cháy được không cần không khí, tất cả các trường hợp còn lại đều phải có không khí, nếu ngăn không khí không tiếp xúc với chất cháy thì nó sẽ tắt. Nước và gas CO2 có khả năng dập tắt lửa nhanh, do do ngăn không cho chất cháy tiếp xúc với không khí môi trường.

Phương tiện dùng để dập tắt lửa tốt nhất là BÌNH CỨU HỎA, phun ra nước được trộn với khí CO2 hóa lỏng, tạo ra dạng bọt . Trên các phương tiện có trang bị đầy đủ bình cứu hóa, như tầu chiến, xuồng máy, xe cơ giới. Rất dễ dập tắt lửa bắt cháy quần áo và các chất gây cháy trên thân người. Nhưng không nên hướng vùi phun vào mặt nạn nhân cháy và phun quá lâu, vì người được cấp cứu có thể bị ngạt thở, phương pháp tốt nhất là người bị thương nằm co lại trên mặt đất hoặc mặt bong tầu, và người cứu hộ dùng bình cứu hỏa dập lửa. Nước cũng là chất để dập lửa rất hiệu quả trên quần áo và thân người. Nếu ở gần nước, có thể nhảy xuống để dập lửa, nhưng nếu nước quá xa, không được chạy tới, khi chạy, không khí chuyển động thành gió có thể làm cho chất cháy bùng lên chùm kín người. Nếu không có nước, có thể dùng chăn, vải bạt hoặc các loại vải dầy chùm kín người. Nạn nhân bị dính lửa cần nằm xuống mặt đất, quấn mình vào vải bạt, chăn dầy hay áo choàng, áo mưa quân sự. Nếu bị cháy một bên, cần đè bên bị cháy xuống mặt đât. Khi cấp cứu người bị cháy, phương pháp tốt nhất là quấn nạn nhân vào trong vải chùm. Khi quần áo trang bị bắt cháy, phương pháp nhanh nhất là cởi bỏ. Mùa đông dễ dập lửa hơn, do không khí lạnh, có tuyết, người bị cháy cần lăn mình trên tuyết hoặc trên vùng đất ướt để dập lửa. Trong điều kiện không có gì để dập lửa, phương pháp cuối cùng là dập lửa trên người bằng cách xúc đất hoặc cát đổ lên. Đây là phương pháp cuối cùng, vì trên người đã hình thành vết thương bỏng, rất dễ bị nhiễm độc vết thương.
Giọt chất cháy như napalm, cháy trên da, cần phải dập tắt băng cách dúng phần cơ thể bị cháy vào nước hoặc đổ nước lên. Mùa đông có thể đưa tay hay bộ phận cơ thể vào tuyết. Không được cố gắng gạt chất cháy ra khỏi da. Napalm là hợp chất cháy với chất nhầy dính, nó sẽ cháy lan ra trên da, dùng tay gạt napalm sẽ dính lên tay, gây cháy bỏng trên tay. Nếu không có nước, cần quấn quanh vết cháy bỏng napalm bằng quần áo, vải mưa hoặc vải ướt. Nếu napalm rơi trên quần áo, phải cởi bỏ ngay, sau đó hãy dập tắt lửa.
Các phương pháp như trên cũng được áp dụng cho chất cháy photpho, photpho dễ gạt ra khỏi da hay quần áo, nhưng lại tự cháy được trong không khí. Hỗn hợp napalm và photpho cũng có tính chất trên. Do đó, khi dập tắt lửa, cần gạt chất cháy khỏi cơ thể, trước khi nó bắt cháy trở lại. Gạt bỏ chấy cháy photpho rất dễ dàng, nhưng gạt bỏ hỗn hợp cháy napalm photpho rất khó, vì napalm có tính chất dính vào cơ thể, cần quấn chặt vết bỏng bằng vải ướt và chuyển về quân y, chấy cháy sẽ bị loại bỏ bởi các cán bộ quân y viện. Quần áo, trang bị, nếu bị bắn napalm vào, phải vất bỏ hoặc cắt bỏ, tránh trường hợp napalm cháy lại.

Các mức độ tổn thương do bỏng.

Mô hình lớp da người

Mô hình độ bỏng

Khi bị bỏng, lớp da bên ngoài bị tổn thương, lượng máu trong cơ thể chảy tăng cường về phía vết bỏng, các dây thần kinh trên bề mặt da bị tổn thương, xuất hiện rất nhanh hiện tượng tấy đỏ, cảm giác nóng bỏng và đau buốt. Nếu đến thời điểm đó mà tác động nhiệt chấm dứt, thì vết bỏng như vậy được gọi là bỏng độ 1, nhẹ nhất. Đau đớn kéo dài trong vài giờ, sau đó hết đau. Sau một ngày hết đỏ.
Nếu tác động nhiệt kéo dài hơn và mạnh hơn, bỏng sẽ phát triển tiếp ở độ 2, trên vết bỏng xuất hiện các bong bóng phồng lên bằng lớp da trong và mỏng, vết phồng bong bóng chứa chất dịch vàng, trong của huyết tương. Đau rát và dài hơn, nếu tác động của nhiệt kết thúc ở đây, thì đau rát kéo dài từ một đến 2 ngày sau đó sẽ hết, vết phồng dần dần khô đi, tạo thành lớp biểu bì chết sau 8 đến 10 ngày, dưới lớp biểu bì chết là lớp da non mới hình thành. Đấy là kết quả rất tốt của vết thương, nếu như vết bỏng không bị nhiễm trùng, vết thương nhiễm trùng khi lốt phồng vỡ ra. Do lớp da quá mỏng và bị căng do sức ép của dịch, khi cọ xát với cơ thể và quần áo, sẽ rách vỡ, để lộ lớp biểu bì bị thương không có bảo vệ, và ngay tức khắc sẽ bị nhiễm trùng và mưng mủ vết thương. Để chữa lành vết thương thời gian sẽ không là 10 ngày mà sẽ kéo rất dài, hàng tháng sau đó, vết thương khi lành sẽ hình thành các vết sẹo lồi, các vết sẹo sẽ co kéo các lớp da và cơ, làm biến dạng khuôn mặt, gây khó khăn trong hoạt động của tay chân, cổ. Thậm chí ở những vị trí giao nhau của các bộ phận, sẹo sẽ co kéo da từ bên này sang phía bên kia, như cơ bụng với cơ bẹn, cơ cánh tay với cơ ngực.
Tác động nhiệt nếu tiếp tục sẽ hình thành bỏng độ 3, khi đó các lớp da sẽ bị chín, các tế bào bị chết và các protein sẽ bị cô đặc lại. Lớp da biểu bì cơ thể bị chết hoàn toàn, tổn thương đi sâu vào các cơ.
Khi cơ thể chịu tác động của ngọn lửa cường độ cao hoặc sắt nóng chảy, da người không những bị chín mà còn bị cháy, trở thành than. Cũng với da cháy sẽ làm tổn thương cả cơ, xương và các khớp. Người bị tổn thương ở cấp độ này là bị bỏng ở cấp độ 4.
Sự hồi phục và lành vết thương sau khi bị bỏng ở độ 3 và 4 rất chậm, 3 đến 4 tuần cho việc tách và bong các lớp da và cơ đã chết. Với xương việc tách chỗ tổn thương còn lâu hơn rất nhiều. Chỉ sau khi các lớp ra và xương chết đã tách rời hoàn toàn, quá trình phục hổi xảy ra rất chậm, kéo dài hàng năm với những vết sẹo rất sâu, để lại những hậu quả không thể khắc phục được về cơ, da và nếu bị thương ở tay, chân, các vết sẹo sẽ làm hạn chế rất nhiều khả năng làm việc của con người. Bỏng độ 4 có thể dẫn đến phải cắt bỏ 1 phần cơ thể.

Bỏng độ 1,2 và 3

Trong những trường hợp bị bỏng nặng, vết thương không thể tự phục hồi, vì tổn thương rất sâu và rộng. Cơ thể không có khả năng phục hồi. Để lấp đầy các vết thương sâu và rộng, phục hồi lại khả năng làm việc của các bộ phận, cần có sự can thiệp của phẫu thuật, và phẫu thuật thẩm mỹ. Chính xác là cắt chuyển các lớp da, với mục tiêu là xóa bỏ các vết sẹo làm biến dạng khuôn mặt, cơ thể. Phục hồi lại khả năng làm việc của các bộ phận sau hậu quả của vết bỏng gây lên. Phẫu thuật trong lĩnh vực này đã đạt được những thành tựu to lớn, có thề phục hồi được 60-70% tổn thương sau khi chữa lành vết thương.
Vết bỏng độ 3 và độ 4 rất dễ bị nhiễm trùng, các vết thương thường mưng mủ lớn do các tế bào chết. Vết thương trong khi lành dần cũng tạo nhiều mủ.
Súng phun lửa, napalm, photpho khi trúng người có thể gây bỏng đến độ 3, các loại khác như lựu đạn quang, chiếu xạ vũ khí hạt nhân, có thể gây bỏng độ 1 hoặc 2 có thể đến độ 3 tùy theo vị trí đứng có gần tâm nổ hay không và những chỗ không được quần áo che phủ. 
Nói chung, trong trường hợp bị bỏng nặng thường không xác định cụ thể được bỏng độ mấy, thông thường trên một số khu vực vết bỏng ở mức độ 1 (da đỏ rực) , một số chỗ khác có vết phồng (bỏng độ 2) và trong một số chỗ có thể da bị chết (bỏng độ 3)

Vấn đề quan trọng là: vết bỏng nguy hiểm hay không phụ thuộc một phần vào độ bỏng, phần quan trọng hơn là diện tích da bị bỏng. Ví dụ, vết bỏng rất nặng độ 4 ở đầu chi có thể làm mất một phần cơ thể. Nhưng nếu vết bỏng ở ngực và bụng hoặc toàn bộ lưng, sẽ nguy hiểm cho tính mạng, dù chỉ là vết bỏng rộp phồng. Người bị thương có thể chết vì đau đớn, nếu như vết thương bao trùm toàn bộ cơ thể. Vết bỏng càng rộng, độ nguy hiểm càng cao, dù bỏng độ 3 nguy hiểm hơn nhiều bỏng độ 1. nhưng tại sao diện tích bỏng lại là nguy hiểm nhất?

1- Diện tích bỏng càng lớn, sự tổn thất của các dây thần kinh càng rộng, do đó mức độ đau đớn càng cao. Sự đau đớn càng lớn và càng kéo dài, càng gây nguy hiểm đến tính mạng, cơn đau dữ dội và kéo dài sẽ làm tê liệt hệ thần kinh và gây shock  ngay cả đối với bỏng độ 1, nếu cơn đau qua đi nhanh trước khi phá hủy sự làm việc bình thường của hệ thần kinh, thì nguy hiểm tính mạng với độ bỏng 1 được đẩy lùi.
2- Nếu bỏng độ 2 và độ 3, khi ở độ bỏng này, vết thương có khả năng nhiễm trùng rất cao. Nếu mặt vết bỏng nhiễm vi khuẩn, trên cơ thể thương binh sẽ bị vết thương mưng mủ rất lớn. Vi khuẩn từ vết thương có thể thâm nhập vào máu và gây nhiễm độc toàn bộ cơ thể. Nếu vi khuẩn không nhiễm được vào máu, thì chất độc mà chúng tiết ra có thể thấm vào máu và đầu độc các cơ quan nội tạng. Trên vết thương xuất hiện lượng mủ lớn, mur được cấu thành từ huyết thanh và protein. Hàng ngày mất một lượng lớn các chất dinh dưỡng để nuôi cơ thể sẽ làm kiệt sức người bị thương. Sự kiệt quệ về thể chất cùng với khả năng nhiễm độc của cơ thể là mối đe dọa lớn đối với tính mạng người bị thương.
Napalm, chất cháy lỏng của súng phun lửa, photpho, khi rơi trên cơ thể dưới dạng giọt và mẩu chất cháy, chỉ có thể tạo được những vết cháy bỏng nhỏ, còn các mảng cháy bỏng lớn thường xảy ra khi cháy quân phục và không kịp cởi ra hay dập tắt lửa.
Chiếu xạ quang của vụ nổ hạt nhân có thể gây bỏng toàn thân mà không gây cháy quân phục, nếu quân phục mỏng..


Từ những nhận định trên khẳng định, sơ cứu chống nhiễm khuẩn vết bỏng vô cũng quan trọng, cơ thể khi bị bỏng vẫn có khả năng làm việc, đau đớn chỉ gây nguy hiểm khi vết bỏng quá rộng, nhưng nhiễm khuẩn với vết bỏng nhỏ có thể gây hoại tử và phải cắt bỏ từng phần, thông thường rất lâu lành vết thương. Bỏng trên diện rộng nếu nhiễm khuẩn có thể gây nguy hiểm tính mạng.
Chống nhiễm khuẩn phải được thực hiện ngay trên chiến trường, khi sơ cứu vết thương. Phương thức tốt nhất vẫn là băng bó vết thương bằng bông băng vô trùng trong gói cứu thương của mỗi cá nhân chiến sỹ. Rất cẩn thận không làm vỡ các lốt bỏng, không được chạm tay lên bề mặt vết bỏng, không được phép bôi bất cứ thứ gì lên bề mặt vết bỏng độ 2 và độ 3. Ngoại trừ các sản phẩm như thuốc mỡ chống bỏng và băng chống bỏng nếu có trong trang bị y tế của chiến sỹ quân y. Dùng nước để giảm đau vết bỏng và hạ nhiệt mặt da bị bỏng rất tôt, nhưng yêu cầu nước phải rất nhiều, 2-3 lít cho một vết bỏng không lớn để hạ nhiệt và làm sạch vết thương chống nhiễm khuẩn, yêu cầu phải là nước đun sôi và làm tiệt trùng, nếu nước không được làm sạch và tác động của tay chân sẽ gây nhiễm khuẩn rất nhanh vết bỏng. Vì vậy, trong điều kiện chiến trường, không có được nước tiệt trùng, và điều kiện có được thuốc mỡ chống bỏng, băng chống bỏng, phương án tốt nhất vẫn là băng bó vết thương và tiêm thuốc giảm đau. Không được phép sử dụng bất cứ bài thuốc hoặc cách chữa dân gian nào trong điều kiện chiến trường, vì sẽ gây nhiễm khuẩn nặng, thương binh dễ bị tử vong.
Vậy, trong điều kiện chiến trường, nếu không được trang bị thuốc mỡ chống bỏng và băng chống bỏng, để thực hiện sơ cứu bỏng phương án tối ưu là băng bó vết thương và tiêm thuốc giảm đau. Trong điều kiện bị thương ở phần đầu và mặt, cần đặt 1 miếng gạc bên má phải, một miếng bên má trái và băng lại toàn bộ khuôn mặt, để lại khe hở cho mắt và miệng. Nếu bị thương vào mắt, thì cần băng cả phần mắt để thương binh có cảm giác an toàn hơn, vì dù sao mắt cũng không được nhìn, sẽ xẩy ra nhiễm khuẩn khi thương binh theo thói quen sẽ cố gắng nhìn. Nếu có thuốc chống bỏng và băng chống bỏng, sau khi dập tắt lửa, tiêm thuốc giảm đau, để thương binh không bị sốc, sau đó dùng thuốc chống bỏng nhẹ nhàng bơm lên vết bỏng tạo thành một lớp màng mỏng, đặt băng chống bỏng lên và băng lại. Nếu không có đủ thuốc mỡ chống bỏng có thể dùng băng chống bỏng đặt lên, sau đó dùng băng tiệt trùng băng lại.

Khi bị bỏng trên thân người, còn quần áo, cần phải giải phóng quần áo ra khòi vùng bị thương trên diện rộng, đối với vết bỏng phải cắt toàn bộ trang phục khỏi bộ phận bị bỏng, không được xé hoặc cởi do quần áo có thể xát vào vết thương, những miếng vải dính vào vết bỏng không được kéo hoặc gỡ ra, do sẽ gây đau đơn và nhiễm trùng vết thương, ngoại trừ vải có dính chất cháy như napalm. Sau đó bôi thuốc, đặt băng chống bỏng và băng kín, rộng cả ra ngoài khu vực bị bỏng để tránh nhiễm khuẩn vết bỏng. Mùa rét cần nhanh chóng thực hiện động tác băng bó sơ cứu, sau đó quấn chăn hoặc vải để giữ nhiệt cơ thể, mùa hè có thể quấn vải mỏng, đợi đội tải thương đưa về quân y viện.


Trường hợp bị bỏng nhẹ, bỏng độ 1 không cần thiết phải băng lại do da không bị tổn thương lớn, nhưng cần làm giảm đau đớn bằng nước, dội thật nhiều nước sạch để giảm đau ( lấy từ bi đông nước đun sôi) sau 10 đến 15 phút xác định, nếu bỏng độ 2 ( thường xảy ra nhất) tạo thành phồng rộp thì tiến hành bôi, băng theo chỉ định.
Trường hợp bị bỏng do điện giật. Với hiện tượng bị điện giật, cơ thể ngoài sốc điện còn bị bỏng với nhiệt độ rất cao, bỏng thường ở độ 3 và 4. Vết bỏng điện thường không rộng nhưng rất sâu, có thể gây tổn thương đến tận xương, đặc thủ của vết thương do điện giật là đi kèm với bỏng thường là bị ngất, không thở được và suy tim đến độ không nghe được nhịp đập của tim, người bị thương tưởng như đã chết (Chết lâm sàng). Những trường hợp như vậy, biện pháp sơ cứu đầu tiên là làm nạn nhân hồi tỉnh.
Có khái niệm cho rằng, nếu người bị điện giật thì cần để người bị điện giật nằm xuống đất hoặc vùi xuống đất, họ sẽ hồi tỉnh, nhưng đó là những nhận định sai lầm. 
Việc sơ cứu người bị nạn đầu tiên là phải thực hiện hô hấp nhân tạo. Đặt nạn nhân nằm trên mặt đất, hơi ngửa đầu và quay sang một bên, để làm được điều này, dưới lưng nạn nhân nên kê thêm một cái đệm nhỏ bằng vải hoặc quần áo quấn lại, cởi toàn bộ thắt lưng, khuy cổ áo để thoải mái khi thở. Chiến sỹ sơ cứu ngồi trên phía đầu đối phương, cầm chặt tay phía trên cổ tay, khi hô 1 thì nhấc tay lên, quay về phía mình từ trên xuống đến mặt đất, ngực nạn nhân sẽ bị nhấc lên và đó là hít vào, khi đếm 2 co hai tay nạn nhân gập khuỷu tay, đè lên ngực nạn nhân và nhấn mạnh, đó là thở ra.

Hô hấp nhân tạo 1

Hô hấp nhân tạo 2

Hô hấp nhân tạo rất tốn sức, nên có 2 người cùng làm. Không được làm nhanh và gấp, nhưng cần mạnh mẽ để có thể nghe thấy tiếng thở ở phổi. Khoảng 15 đến 18 nhịp trong một phút, hô hấp nhân tạo đôi khi rất lâu, có trường hợp chiến sỹ sống lại sau gần 2 giờ liên tục hô hấp nhân tạo. Do đó, phải thực hiện ngay khi phát hiện đồng đội bị mất hơi thở. Và gọi khẩn cấp quân y để có biện pháp mạnh cấp cứu kịp thời.

Hà hơi thổi ngạt và hô hấp nhân tạo


Trường hợp hà hơi thổi ngạt khi nạn nhân trong trạng thái tim ngừng đập, phổi không hoạt động (chết lâm sàng) cũng phải làm đồng thời với hô hấp nhân tạo, cần bịt mũi người bị nạn, có thể đặt một chiếc khăn mùi xoa lên miệng nạn nhân, chuẩn bị lấy hơi thật sâu và mạnh, sau đó khớp môi người cứu với miệng nạn nhân, thổi thật mạnh hơi của mình vào phổi người bị thương (tương đương với hít vào), sao cho phổi thương binh đầy không khí, sau đó dùng 2 tay đè lên ngực nạn nhân, và đẩy mạnh xuống, tạo sức nén cho phổi, đẩy không khí ra ngoài ( thở ra). Hô hấp nhân tạo làm đều khoảng 16 – 18 lần trong một phút cho đến khi phục hồi hoàn toàn hơi thở tự nhiên.

 

 

Chương 3

Chấn thương do sức ép, áp lực vùi lấp thời gian dài và sơ cứu khi bị sức ép

Bị sức ép, khái niệm bị thương sức ép được hình thành trong chiến tranh hiện đại, khi con người bị chấn thương toàn thân, toàn bộ cơ thể. Cũng dễ hiểu là không có một vật cứng nào có thể gây chấn thương con người toàn bộ. Sức ép là thể hiện chấn thương bằng một biện pháp đặc biệt, thường là sóng xung kích của một vụ nổ bom, đạn có công suất rất lớn ( từ vài trăm kg đến hàng nghìn kg) hoặc một vụ nổ hạt nhân. Thông thường, có rất ít người bị sức ép dưới nước, nhưng có rất nhiều trường hợp bị sức ép bằng sóng xung kích của vụ nổ bom, đạn.
Sóng xung kích của bom, đạn, bom nhiệt áp v..v. có khả năng gây chấn thương trong khoảng 100m trở lại, phụ thuộc vào khả năng công phá và phương thức nổ của bom, đạn. Vũ khí hạt nhân có khả năng gây chấn thương đến hàng nghìn m. Áp lực của bom đạn gây chấn thương trên toàn bộ cơ thể, nhưng mỗi bộ phận có sức chịu đựng khác nhau. Thông thường, chấn thương mạnh nhất sẽ là não bộ và hệ thần kinh, các bộ phận khác của cơ thể cũng sẽ bị ảnh hưởng tùy theo áp lực. Trong trường hợp áp lực quá lớn, các chấn thương sẽ gây dập nội tạng và gây chết người.
Khi bị chấn thương do sức ép, người chấn thương bị ngất, tùy theo sức ép có thể từ vài phút đến hàng giờ. Với sức ép lớn, người bị tổn thương từ ngất đến chết lâm sàng và chết. Trong trường hợp bị nhẹ, người bị sức ép có thể hồi phục và không có gì biểu hiện đặc biệt. Khi sức ép quá lớn sẽ có những tổn thường ngầm bên trong như chảy máu trong, nghẹt thở v.v... đôi khi là nguyên nhân của tổn thương sinh mạng.
Sơ cứu tổn thương sức ép bắt đầu khi người bị thương nằm trong trạng thái bị ngất, phải chuyển người bị ngất ra khỏi vị trị có thể gây tổn thương ngoại thể (các vật gây hại, như tường đổ, nhà cháy, trang thiết bị cháy nổ.v.v...) về vị trí an toàn,  người bị sức ép nhẹ sẽ nhanh chóng tỉnh dậy, nếu người bị nặng hơn, cần có phương pháp cứu tỉnh. Kiểm tra toàn thân người bị sức ép xem có còn thở hay không, có vết thương nào gây chảy máu nhiều hay không. Nếu người bị chấn thương không thở được thì cần làm hô hấp nhân tạo. Cứu tỉnh xong người bị ngất, bước tiếp theo sẽ là kiểm tra y tế toàn bộ cơ thể, những người bị nặng hơn, có biểu hiện đau đớn nội tạng, mất khả năng chiến đấu công tác được chuyển về tuyến trên, những người nhẹ hơn sẽ phục hồi rất nhanh và lại có khả năng chiến đấu công tác.
Người bị nặng hơn không thở được cần hô hấp nhân tạo, trước hết cần kiểm tra xem họ có bị nghẹt thở bởi đất cát ở mũi miệng hay không để lau sạch đất cát. Nếu miệng bị nhét đầy đất, bóp miệng cho há miệng, đặt vào miệng thanh gỗ hoặc vật cứng để mở miệng, làm sạch miệng thương binh bằng cách móc đất ra và làm sạch bằng khăn hoặc mẩu băng. Sau đó làm hô hấp nhân tạo.
Khi bị chấn thương bởi sóng xung kích, thương binh có thể bị ném đi, quật ngã, ném văng vào những vật cứng khác, và bị chấn thương một số vị trí khác nhau trên cơ thể như gẫy xương, rách các mô cơ và có thể dẫn đến chấn thương sọ não. Người bị thương cần khẩn cấp đưa vào quân y viện để cấp cứu. Những vết thương cụ thể cần phải được sơ cứu ngay, băng bó, nẹp vết thương, ngăn chặn chảy máu trước khi đưa vào viện cấp cứu.
Bị sức ép, nếu không nặng quá thì thường có kết quả ổn định, những hậu quả như bị điếc, nói lắp hoặc những hậu quả khác sẽ được chữa trị nhanh và thương binh nhanh chóng phục hồi.

Một hiện tượng sức ép tiếp theo, đó là do bị đất vùi, nhà sập đổ hoặc các vật khác lên một phần hoặc toàn thân do các vụ nổ của đạn pháo, bom hoặc vụ nổ nguyên tử hoặc những thảm họa khác. Những chấn động sẽ làm sụp đổ các công trình xây dựng, phá hủy hầm ngầm, công sự. Vật liệu, đất đá sẽ đổ sập lên người và vùi lấp trong khu vực công trình đó.
Khi bị đè nén, vùi lấp lên toàn thân, người thường bị tổn thương đầu tiên là dồn nén vùng ngực, máu bị ép sẽ trào lên đầu và cổ, xuất hiện các mạch máu căng phồng dưới da. Áp lực máu quá lớn sẽ làm cho các mạch máu nhỏ bị vỡ, máu sẽ chảy ra dưới da và trào lên mũi, miệng. Phần đầu và mặt bị sưng, chuyển sang mầu xanh sẫm, mắt cũng bị rớm máu. Cảm giác bị nghẹn thở, ho và cơn đau trong ngực rất mạnh, nhưng nếu giải phóng khỏi bị nén thì hơi thở sẽ phục hồi, các mao mạch bị phá hủy sẽ dần dần hồi phục, trên da mất đi vết xanh chàm sau một thời gian, các mao mạch trên cổ và mặt sẽ chìm dần. Người bệnh sẽ lành dần sau đó mà không để lại nhiều di chứng đặc biệt, có gì thì chỉ là hậu quả sau này của tổn thương cơ thể.
Sơ cứu bắt đấu từ việc giải phóng người bị đè ra khỏi bị đè để không bị ép nữa. Đặt người bị thương ở tư thế ngồi hoặc nửa nằm nửa ngồi cho dễ thở. Trong điều kiện tốt, quân y có ngay thì có thể cho thở ô xy. Người bị thương sẽ phục hồi hơi thở rất nhanh.
Một trường hợp tiếp theo là phần mềm cơ thể như đùi, hông, phần chân. Ở những phần này, không có những bộ phận quan trọng của cơ thể, nhưng bị đè ép nhiều giờ có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, càng bị đè ép lâu càng nguy hiểm với hậu quả khó khắc phục.
Nguy hiểm nằm ở chỗ khi các phần mềm bị đè ép lâu sẽ phá vỡ các kết nối cơ và làm tổn thương các mô cơ, sẽ sinh ra các chất độc đối với cơ thể, sau khi không bị đè ép nữa. Máu chảy qua chỗ bị tổn thương và mang chất độc vào cơ thể và gây nhiễm độc toàn bộ cơ thể, nếu không kịp thời chữa trị, sẽ gây nguy hiểm cho tính mạng người bị thương.
Những bó cơ có rất nhiều ở chân, nên khi bị chèn đè, sẽ nguy hiểm hơn, phần của tay sẽ bớt nguy hiểm. Nếu tổn thương cơ đi kèm với tổn thương xương khớp, thì nguy hiểm càng ở mức độ cao hơn. Sơ cứu  trước hết phải giải phóng những vật đang đè nén lên thương binh, khi tháo rỡ, bới hoặc xúc các vật, đất cát đang đè nén cần rất thận trong, không làm thay đổi tư thế vị trí nằm của thương binh để tránh tổn thương thêm và gây nhiễm độc cơ thể. Khi triển khai đưa thương binh ra khỏi vị trí cần đảm bảo đã kiểm tra kỹ những vết thương tổn, gẫy xương, đã bó nẹp cẩn thận để không gây tổn thương thêm các phần có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, đã băng cầm máu và tiêm giảm đau chống sốc. Sau khi cầm máu, thương binh cần được bổ xung nước để chống lả đi do mất nước, trong điều kiện thời bình có thể thực hiện truyền nước, huyết thanh để phục hồi một chút thể lực thương binh. Trong chiến trường, để phục hồi thể lực, có thể cho thương binh uống 1 cốc nước có pha 20-30 gam vodka và 1-2 thìa đường. Thương binh sẽ có chút thể lực đề di chuyển.

Nếu người bị sức ép không bị những tổn thương xương và phần mềm quá nặng, không mất máu thì sau khi gỡ bỏ các vật chèn đè lên cơ thể, có thể cảm thấy rất tốt, một số người còn có khả năng đi lại, xem xét trên cơ thể chỉ có vết xước, vết tím hoặc tụ máu mầu xanh trên da, nhưng trạng thái ấy kéo dài không lâu, một lúc sau người bị đè nén sẽ có cảm giác rất xấu, chân tay run rẩy, có cảm giác bất an, buồn bã chân tay, mặt xanh lét hoặc không ít người bị suy tim đột ngột. Sẽ xuất hiện các bệnh như đau thận, có thể đái ra máu. Đó là chất độc trong các mô cơ khi máu lưu thông đã hòa vào với máu, chảy xuống thận và tấn công thận. Do đó, trạng thái khỏe khoắn sau khi bị vùi lấp, bị sập hầm hoặc bị chèn ép không thể tin tưởng. Người bị vùi lấp sau khi cứu tỉnh phải được đặt nằm yên không làm bất cứ cử động nào đối với các bộ phận bị vùi lấp. Cần đặt người bị thương lên cáng sau khi băng bó những vết thương, những tổn thương như bị gẫy xương cần được nẹp. Trong trường hợp có thể nên chuyển đến quân y tiền phương để khám xét lại toàn bộ và tiến hành chữa trị vết thương.

Một số phương pháp di chuyển thương bệnh binh trên chiến trường và trong thảm họa

Pic 01

Pic02

Pic03

Pic04

Pic05

Pic 06 Cáng thương

Pic 07 Chuyển thương

Pic 08 Di chuyển thương binh


* * *

Trong chiến trường, mọi chuyện đều có thể xảy ra, những giải pháp đã nêu là rút ra từ thực tế kinh nghiệm của cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại của nhân dân xô viết, đồng thời tổng kết các kinh nghiệm của các cuộc chiến tranh khác. Chiến sỹ trên chiến trường có thể gặp mọi hoàn cảnh, thực hiện đúng những kinh nghiệm đã nêu có thể cứu được không những đồng đội, đồng thời có thể cứu được chính mình. Trong thời bình, những kinh nghiệm đó có thể giúp được nhân dân trong những thảm họa hoặc những bất ngờ xảy ra trong cuộc sống. Đó cũng là nhiệm vụ của chúng ta.

Vụ Giáo dục Quốc phòng


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

linh tây tower