CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 1 của 3 123 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 24

Chủ đề: Vương quốc Angkor

  1. #1
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết

    Vương quốc Angkor

    Vương quốc Angkor




    Những Thành Tựu Của Đế Quốc Ăngkor Trong Thời Kỳ Cực Thịnh

    Tạ Đức Vượng


    Đế quốc Ăngkor là một niềm tự hòa của người Á Đông cũng như toàn thế nhân loại, đất nước này, con người xứ sở này đã xây dựng nên công trình vĩ đại cho nhân loại, đó chính là Ăngkor Wat. Việc xây dựng nên những công trình bao gồm cả bệnh viện, hồ chứa nước, Ăngkor vĩ đại là biểu hiện cho một quá trình phát triển của đất nước, đế quốc này.

    Chúng ta cũng hay tự hỏi cho mình tại sao gọi là “đế quốc Ăngkor” cái từ đế quốc hay dùng cho các nước tư bản. Nếu chúng ta tìm hiểu thì sẽ trả lời được ngay, vì đã có một thời kỳ người Campuchia đã có một lãnh thổ với một tích rộng. Trong thời kỳ cực thịnh của ĂngKor thì đã có những thành tựu sau.

    Thời kỳ vua Suryavarman I (trị vì 1002 – 1050)

    Sau cái chết của Jayavarman V là một thập kỷ xung đột. Các vị vua chỉ trị vì vài năm và bị thay thế thông qua bạo lực của các vị kế nhiệm cho mãi đến thời vua Suryavarman I (trị vì 1002 – 1050) cuối cùng giành được ngôi báu.

    Thời kỳ trị vì của ông có những thành tựu sau:

    Thứ nhất: Được đánh dấu bằng các nỗ lực đảo chính liên tục của các đối thủ hòng lật đổ bằng quân sự. Về phía tây, ông đã mở rộng vương quốc của mình đến tỉnh Lopburi của Thái Lan ngày nay, về phía nam đến eo đất Kra.

    Thứ hai: Tại Angkor, việc xây dựng Tây Baray bắt đầu dưới triều Suryavarman I, một hồ chứa nước thứ 2 và rộng hơn hồ Đông Baray với kích thước 8 x 2,2 km. Với việc xây dựng hồ chứa này nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp đồng thời là nơi cung cấp nguồn nước cho việc sinh hoạt của nhân dân.

    Đó là một số thành tựu nổi bật trong thời kỳ Suryavarman I nắm Vương quyền, ông được coi là người khởi đầu cho sự phát triển, hưng thịnh của đế quốc Ăngkor.

    Thời kỳ Suryavarman II – Angkor Wat



    Suryavarman II là một vị anh hùng có tài hơn người, ông có đường lối ngoại giao khôn khéo, ông còn là nhà quân sự lỗi lạc đồng thời là nhà kiến trúc tài ba, chính vì thế trong thời kỳ cầm quyền ông đã xây dựng nên nhiều thành tựu cho nhân dân Camphuchia nói riêng và thế giới nói chung.

    Trước tiên đó là việc ông cho xây dựng ngôi đền lớn nhất của Angkor Wat, ngôi đến này được xây dựng trong khoảng thời gian 37 năm: Angkor Wat, là nơi thời thần Vishnu. Công trình ngày nay vẫn còn tồn tại, nó biểu tượng cho sức manh, trí tuệ của con người Campuchia. Công trình này vẫn còn tồn tại đến ngày nay, nhưng xét kỹ ra thì nó cũng đang bị ảnh hưởng xấu bởi sự phát triển của quá trình toàn cầu hóa, mỗi năm nhà nước Campuchia phải bỏ ra một số tiền không nhỏ để trùng tu lại.

    Thứ hai: Suryavarman II đã xâm chiếm vương quốc Haripunjaya của dân tộc Môn đến phía tây (ngày nay là miền Trung Thái Lan) và một khu vực xa hơn về phía tây của vương quốc Pagan (Myanmar ngày nay), phía nam lấn về khu vực bán đảo Malay đến vương quốc Grahi (nay là tỉnh Nakhon Si Thammarat của Thái Lan), về phía đông lấy nhiều tỉnh của Champa, về phía bắc đến biên giới phía bắc của Lào ngày nay. Sự kết thúc của hoàng đế Suryavarman II không được rõ ràng lắm. Văn bia cuối cùng ghi nhận tên ông có liên quan đến dự tính xâm lược Đại Việt là từ năm 1145. Có lẽ ông qua đời trong một cuộc hành quân trong khoảng thời gian từ năm 1145 đến 1150.

    Thời kỳ tiếp theo các vua trị vì trong thời gian ngắn và bị vị vua sau lật đổ bằng vũ lực. Cuối cùng, năm 1177, Khmer đã bị quân Chămpa đánh bại trong một trận thủy chiến trên hồ Tonlé Sap và bị sáp nhập thành một tỉnh của Chămpa.

    Nói chung trong thời kỳ Suryavarman II trị vì thì đế quốc Ăngkor có được những thành tựu đáng kể trong việc phát triển của mình. Một đế quốc rộng lớn bậc nhất tại Đông Nam Á đã được tái thiết lập tại bán đảo Đông Dương.

    Jayavarman VII – Angkor Thom



    Vị vua tương lai Jayavarman VII (trị vì từ 1181-1218) đã là một nhà lãnh đạo quân sự như với tước vị hoàng thân dưới thời các vua trước. Sau khi người Chăm đã xâm chiếm Angkor, ông đã tập hợp một đội quân và giành lại kinh đôYasodharapura. Năm 1181, ông đã lên ngôi và tiếp tục gây chiến chống lại các vương quốc phía đông trong 22 năm cho đến khi Đế quốc Khmer đánh bại Chăm Pa năm 1203 và xâm chiếm phần lớn lãnh thổ của Chăm Pa.

    Jayavarman VII được coi là vị hoàng đế vĩ đại cuối cùng của Angkor không chỉ vì những chiến công của ông chống lại quân Chăm Pa mà còn là một người cai trị không phải là bạo chúa như cách các hoàng đế trước đó đã cai trị vì ông là người thống nhất đế quốc này và trên cả là do các công trình xây dựng được tiến hành dưới thời kỳ cai trị của ông.


    Cầu đá cổ hơn 1000 tuổi thuộc vương triều Angkor

    Kinh đô mới được xây dựng có tên gọi là Angkor Thom (có nghĩa là: “Thành phố vĩ đại”). Ở khu trung tâm, nhà vua (một phật tử Phật giáo Đại thừa) đã cho xây dựng làm tòa tháp quốc gia – Bayon với các tháp được cho là mang hình khuôn mặt của Quán Thế Âm bồ tát, mỗi tháp cao vài mét được chạm khắc bằng đá. Các đền chùa khác được xây dựng dưới thời Jayavarman VII là Ta Prohm, Banteay Kdei và Neak Pean, cũng như hồ chứa nước Srah Srang.

    Cùng với những công trình đó, một hệ thống các đường phố đã được xây dựng kết nối các trấn của đế quốc. Bên các phố này, 121 nhà nghỉ được xây cho các nhà buôn, quan chức và lữ khách. Ông cũng cho thiết lập 102 bệnh xá.
    Đây là thời kỳ thật huy hoàng, chói sáng và vĩ đại nhất trong lịch sử phát triển Campuchia, đồng thời đây cũng là thời kỳ đánh dấu sự đi xuống, suy vong của đế quốc Ăngkor. Thật sự mà nói đế quốc Ăngkor bước vào thời kỳ suy vong sau khi con của Jayavarman VII là Indravarman II (trị vì 1219-1243), bởi vì trong thời gian trị vì thay cho Cha mình thì Indravarman II cũng có những thành tựu trong việc hoàn thành những công việc về mặt xây dựng mà trước đó Cha ông chưa làm xong, tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng ông không thành công trong việc quân sự.

    Tóm lại đế quốc Ăngkor trong thời kỳ cực thịnh của mình được bắt đầu từ khi Suryavarman I (trị vì 1002 – 1050) và kết thúc Jayavarman VII (trị vì từ 1181-1218) đã có nhiều thành tựu nổi bật, và nó biểu hiện ở những việc như là xây dựng đền đài, những công trình thủy lợi như là đào hồ chứa nước, đào kênh mương. Trong thời kỳ cực thịnh này những công trình như là bệnh viện hay là công trình Ăngkor Wat- một kỳ quan thế giới cũng đã được xây dựng. Chúng ta phải hiểu rằng, việc xây dựng những công trình này tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc, sức người, chính điều đó là cái duyên cớ để là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự suy vong của đế quốc này. Những công trình vĩ đại luôn có hai mặt, những công trình vĩ đại của Camphuchia nói riêng hay của thế giới nói chung luôn ẩn chưa trong đó xương máu của người dân lao động. Nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, những công trình đó là biểu tượng cho sức mạnh, trí tuệ của người cầm quyện, của những con người làm lên nó. Còn riêng đối với công trình ĂngKor Wat việc xây dựng nó tốn rất nhiều thời gian và công sức của người xưa, tuy nhiên việc giải hết mật mã về việc xây dựng công trình này là một dấu hỏi chấm mà người ngày nay chưa thật sự giải hết được, nó hình như là cùng tồn tại với năm tháng.

  2. #2
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết
    Những vị vua huyền thoại của vương triều Angkor



    Nam Yên


    Có dịp đến Campuchia ngày nay để tham quan khu vực Hoàng cung vương quốc Campuchia, thăm chùa Vàng, chùa Bạc xong, mọi người men theo một lối đi dài để ra phía cổng sẽ gặp bức tượng đá khá cao tạc thờ vua Suryavarman II, vua Jayavarman VII đang tọa thiền nhập định, với tấm bản đồ bờ cõi đế chế Khmer sau lưng rất rộng lớn.

    Nhưng chắc chắn mọi người sẽ phải đặt một câu hỏi rằng: Vì sao hai vị vua vĩ đại nhất, tài ba lỗi lạc nhất trong lịch sử dân tộc Khmer, người đã kiến trúc và xây dựng nên Angkor Wat, Angkot Thom, Bayon… người đã có công mở rộng đế chế Khmer bằng những cuộc chinh phạt hùng mạnh mà tượng thờ không có hai cánh tay? Tất nhiên, không phải vì chiến tranh hay do con người làm hư hỏng hai cánh tay. Giả dụ, nếu có điều ấy, những nghệ nhân điêu khắc đá tài hoa của đất Chùa Tháp sẽ dễ dàng làm hai cánh tay cho những vị vua thần thánh này, điều đó không phải là chuyện khó. Nhưng vì sao bức tượng không có hai cánh tay?

    Vị vua huyền thoại xây dựng Angkor Wat bất tử với thời gian

    Suryavarman II (thụy hiệu Paramavishnuloka) là một vị vua của Đế quốc Khmer từ năm 1113 đến 1149 và là vị vua đã cho xây dựng đền và thành Angkor Wat thờ thần Hindu Vishnu. Thành tựu rực rỡ của ông được thể hiện qua những kiến trúc tuyệt mỹ của tôn giáo dân tộc Khmer và nhiều chiến dịch quân sự vang dội, cùng việc phục hồi chính quyền cực mạnh của thời đại Angkor đã khiến cho nhiều nhà lịch sử xếp Suryavarman II là một trong vị vua vĩ đại nhất của đế quốc này.

    Toàn bộ khu vực Angkor Wat có chu vi gần 6km và diện tích khoảng 200ha, nơi cao nhất là đỉnh tháp của ngôi đền chính, có độ cao 65m. Angkor Wat là đền núi duy nhất ở đất nước Campuchia có lối vào chính ở hướng Tây, hướng mặt trời lặn. Theo kiến trúc và tín ngưỡng tôn giáo, cửa Tây là cửa tử, cửa ma quỷ. Dấu ấn này dễ nhìn thấy trên tất cả đền tháp Hồi giáo và Ấn Độ giáo ngày nay. Tất cả cổng chính đều quay về hướng Đông, hướng của Đấng Tối cao và Thánh Ala ngự trị. Cửa Tây, hầu hết là cửa giả, xây kín, không sử dụng nhằm tránh tà khí và yêu ma.



    Thế nhưng, Angkor Wat lại chọn hướng Tây làm cổng chính. Sự bí hiểm này rất có thể là một kiến thiết đặc biệt về quân sự, nhằm bảo vệ kinh đô huyền thoại. Vì phía Tây Angkor Wat ngày nay là một khu rừng già nguyên sinh, nối tiếp các khu vực đền tháp liên hoàn. Trước đó, người Chiêm Thành, Java liên tục đánh phá các kinh đô Chân Lạp, dựa vào thủy quân đi ngược sông Mê Kông lên Biển Hồ Tonle Sap trực diện tấn công vào các kinh đô của Angkor.

    Angkor Wat (tiếng Khmer nghĩa là thành phố chùa) từ lâu đã trở thành biểu tượng huy hoàng của đất nước Campuchia. Ngay sau khi được phát hiện vào năm 1861, Angkor Wat đã làm cho các nhà nghiên cứu bàng hoàng. Lúc đó người ta đã đặt ra nhiều giả thuyết kỳ lạ. Người cho rằng chính chủ nhân của những kim tự tháp Ai Cập đã đến đây và xây dựng nên Angkor Wat. Người khác lại phỏng đoán có bàn tay của người Hy Lạp cổ đại trong việc tạo dựng nên ngôi chùa đá kỳ diệu này. Còn truyền thuyết của người Khmer thì cho rằng Angkor Wat có nguồn gốc từ thần linh trợ giúp.

    Truyền thuyết về Angkor Wat kể lại rằng: Ngày xưa, vị thần tối thượng Indra có quan hệ với một người đàn bà dưới trần gian. Người đàn bà này đã hạ sinh ra một hoàng tử tên là Preah Két Mêalêa (ánh sáng thiên thần). Vì được Hoàng hậu sinh ra, nên Preah Két Mêalêa trở thành hoàng tử kế vị ngôi vua ở Indra Prast (Campuchia cổ). Thần Indra nhìn thấy vẻ khôi ngô tuấn tú của chú bé nên đã đem chú về trời.

    Các thiên thần không bằng lòng cho con của người dưới trần gian chung sống với mình trên thượng giới, nên đòi Indra phải trả Preah Két Mealêa xuống hạ giới làm người phàm. Tuy rất thương hoàng tử, nhưng vị thần tối thượng không thể làm trái các quy định nơi thượng giới và làm mích lòng các thiên thần. Thần nảy ra ý định sai một vị kiến trúc sư vĩ đại của các thần là Preah Pisnuka xây ngay ở hạ giới một lâu đài tráng lệ giống hệt lâu đài của thần Indra trên thượng giới cho hoàng tử sống, làm nguôi ngoai nỗi nhớ thượng giới.

    Chỉ một đêm, các thiên thần đã trợ giúp xây xong tòa lâu đài, đó chính là Angkor Wat ngày nay. Trên các phiến đá ở Angkor Wat còn hằn rõ những lỗ tròn chính là những dấu tay bê đá của các thần. Và trên núi Kulen còn in dấu hai bàn chân khổng lồ của những thiên thần vác đá khối xây thành Angkor Wat. Chính vì vậy mà ngày nay, con người không thể lý giải những tảng đá nặng cả chục tấn được đưa lên cao bằng cách nào và đá xanh quý hiếm này được khai thác từ nơi đâu…

    Người đời sau lần theo dấu vết của những dòng bia đá ở các đền đài để tìm trong sâu xa những bí ẩn người xưa để lại và lịch sử về Angkor Wat đã hiện dần lên. Cùng với tục thờ Thần – Vua, một loại hình kiến trúc kỳ lạ của người Khmer ra đời: đền núi. Mỗi ngôi đền mộ là hình ảnh của quả núi vũ trụ Mêru, nơi ngụ của thần linh theo Ấn Độ giáo.

    Sau khi lên ngôi vào năm 1113, Vua Suryavarman II chọn một khu đất rộng và thoáng đãng ở góc Đông Nam đô thành Yasodharapura để xây đền núi cho mình. Đó chính là kỳ quan thế giới Angkor Wat ngày nay. Công trình được khởi công vào năm 1122 và hoàn thành vào năm vua mất, khoảng năm 1150. Angkor Wat nằm trong khu đất thiêng rộng 1500 x 1300m và bị giới hạn bởi một hồ nước rộng. Không ai biết vì sao nhà vua chọn cửa đền chính mở về hướng Tây – nơi có hồ lớn, cũng là hướng tới đô thành, chứ không mở về hướng Đông như mọi đền núi Khmer khác.

    Khu đền chính bao gồm 398 gian phòng với nghệ thuật chạm trổ, khắc đá độc đáo cả trên trần phòng, hành lang, các lan can… tất cả thể hiện sức mạnh phi thường và bàn tay điêu luyện của người Khmer cổ đại. Cũng chưa có một tài liệu nào nói về số lượng nhân công xây dựng Angkor Wat cũng như những kỹ thuật được sử dụng vào thời này ra sao.

    Xung quanh đền, có hào rãnh bao bọc, bên ngoài bức tường có nhiều hồ chứa nước, sự thiết kế của ngôi đền này rất cân đối và lung linh rực rỡ. Toàn bộ khu vực nằm trong vòng tường thành rộng tới 83.610m². Hai bên phía trong cổng chính có hai nhà dạng tháp nhỏ đối xứng nhau, tương truyền là nơi các quan lại dừng chân trước khi vào đền và cũng là nơi nhà vua và hoàng tộc ngự giá.

    Trung tâm của thánh điện là một tòa tháp cao 61m. Con người muốn đi tới đó phải qua mấy bậc cửa, một bậc thềm cao và một khu sân rộng. Cấu trúc các tòa tháp còn lại luôn ở vị trí thấp hơn. Trên những bức phù điêu đá, các nghệ nhân tài ba đã miêu tả rất sinh động những cảnh tượng trong sử thi Ấn Độ. Rất nhiều thần linh nam và nữ vui vẻ nhảy múa với nhau trong tư thế trêu chọc. Qua bốn góc hành lang dài hun hút tầm mắt, lộng gió là các phù điêu nối tiếp nhau, chạy dài đến mấy trăm thước, đã thể hiện nhiều nhân vật lịch sử, cũng như đời sống, tôn giáo, nghệ thuật, văn hóa, xã hội, quân sự rất thật trong lịch sử của Campuchia suốt các triều đại Angkor.

    Qua một khoảnh sân rộng như một quảng trường, lô nhô hình rắn thần Nagar và các tượng thần binh, dẫn vào cửa chính môn Angkor Wat cũng được làm bằng đá tảng dài 230m, mặt lộ rộng gần 10m, cao 5m so với mặt nước hồ trong xanh ở hai bên. Sự thật không phải là hồ nước mà là con hào đào hình vuông như một con sông nhân tạo vuông vức bao bọc quanh kinh đô Angkor Wat. Hào nước bao bọc Angkor Wat rộng 190m tạo nên một hình vuông dài một cây số rưỡi.



    Tương truyền quanh con hào sâu và rộng này, nhà vua Suryavarman II đã thả xuống hàng triệu con sấu hung dữ để bảo vệ vòng ngoài cho kinh đô. Trong một trận chiến ác liệt với người Chiêm Thành tại con hào này, người Chiêm Thành đã dùng bè tre kết thành mảng lớn, bốn mặt đốt dầu tẩm chất độc đặc chế từ cây trái mã tiền và mủ cây mít độc làm “đội thủy binh sấu” chết, không gây trở ngại cho đoàn quân thiện chiến và dũng mãnh của Chiêm Thành vượt hào đánh chiếm Angkor, bắt luôn cả vua Chân Lạp.

    Khu đền chính được xây dựng theo hình Kim Tự Tháp, với 5 tháp chính tượng trưng cho núi vũ trụ Mêru của Ấn Độ và được chia làm ba cấp độ cao, độ cao thứ nhất tượng trưng cho địa ngục hay là đất, tầng hai tượng trưng cho đất liền hay là đất nơi cư ngụ con người, cỏ cây, muôn loài, độ cao thứ ba tượng trưng cho quyền năng thần bí, của gió, nơi cư ngụ của thần thánh như đỉnh Olympia trong thần thoại Hy Lạp. Tầng trên cùng được xem là cao nhất với độ cao tuyệt đối là 65m, có 7 vòng tượng trưng cho 7 rặng núi thiêng của Mêru vươn lên giữa rừng già. Mỗi tháp có hình dáng một đóa hoa sen đang nở.

    Chính điện Angkor Wat là một kiến trúc ba tầng, kết nối với nhau nhờ những hành lang sâu thẳm. Toàn bộ kiến trúc Angkor Wat là những phiến đá xanh, ở đâu cũng thấy chạm trổ hoa văn, phù điêu theo truyền thuyết và các tích cổ xưa mà các chuyên gia nghiên cứu, khảo cổ đều cho rằng nguồn gốc xuất phát từ sử thi Ấn Độ Mahabharata và Raymana và toàn cảnh lịch sử về chiến công, đất nước và con người Chân Lạp dưới thời vua Suryavarman II trị vì.

    Tầng một có tên là Địa ngục, là công trình được xây dựng vào nền cực thịnh của Angkor. Có lẽ độc đáo nhất là những bức tranh điêu khắc trên tường của dãy hành lang tầng thấp nhất. Đây có thể xem là bức tranh điêu khắc trên đá to nhất, dài nhất của thế giới được điêu khắc hoàn toàn bằng đôi bàn tay tài hoa của các nghệ nhân Khmer trong hàng chục năm. Với bề cao 2,5m và chạy dài hơn 800m miêu tả những điển tích trong kinh điển Bà La Môn, những chiến công lừng lẫy của vua huyền thoại Suryavarman II – người tạo dựng ngôi đền.

    Tầng hai có tên gọi là Trần gian là một khoảng sân rộng được bao bọc bởi dãy tường thành, bên trong là các gian điện thờ các vị thần, khu vực tầng tháp thứ hai là nơi có hệ thống thoát nước cho cả ngôi đền. Tại các gian điện thờ các vị thần Visnu theo Ấn Độ giáo to lớn bằng loại đá đen tuyền, hiện đang bị người dân Campuchia lầm tưởng là Phật Thích Ca nên đã mặc áo bào vàng và thờ cúng. Sự lầm tưởng về vị thần của Hindu giáo và Phật giáo cũng dễ hiểu vì trong quá khứ, lịch sử đã có sự pha trộn.

    Tầng ba của Angkor Wat có tên gọi là Thiên đường. Đây là tầng cao nhất, nơi được xem là nơi trú ngụ của các thần linh trong truyền thuyết với độ cao 65m. Các cầu thang đi lên các tháp trung tâm chia làm bốn mặt. Tầng thứ ba gồm hai hành lang chữ thập cắt nhau thẳng góc ở giữa. Ở điểm giao tiếp của hai hành lang là trung tâm đền Angkor Wat. Xưa kia trung tâm đền có tượng thờ bằng vàng thần Visnu, nhưng tượng đã bị kẻ xấu lấy mất. Ngày nay, trung tâm đền chỉ có các tượng thờ Phật.

    Tháp ở trung tâm đền là tháp cao nhất Angkor Wat, chung quanh tháp là bốn hành lang hình vuông. Ở mỗi góc hành lang là một tháp. Tháp trung tâm và bốn tháp chung quanh tạo thành tòa chân trời nổi tiếng của Angkor Wat khi ta nhìn từ đằng xa hay lúc gần đến khuôn viên đền. Các cầu thang đi lên dốc đứng gần như 45 độ, hẹp và vô cùng khó leo. Vào năm 2010, công việc tu sửa và tôn tạo di tích kỳ quan thế giới được tiến hành nên du khách đến Angkor Wat tham quan không được lên tầng Thiên đường.

    Trong những gian phòng lớn của ngôi đền, có một gian rất huyền bí, du khách thường đến đó đứng hơi sát tường, nắm chặt bàn tay và vỗ lên ngực nhẹ nhẹ thì lập tức có tiếng vang vọng với âm thanh rất rõ, hệt như mình đang đánh trống. Với rất nhiều hình ảnh các tiên nữ được điêu khắc trên tường, nếu để ý sẽ nhìn thấy có một tiên nữ há miệng nửa kín nửa hở giống như cô này đang mắc cỡ vì mới tiến cung nên đứng thầm cười một mình, thập thò bên phải sát cánh cửa. Đền Angkor là một thành tựu kiến trúc huy hoàng, nó thể hiện một trình độ sâu sắc về thể tích, không gian và sự tổ hợp kỷ hà.

    Vị vua huyền thoại với trận chiến bi thảm

    Theo lịch sử, dưới triều đại cai trị của vua Suryavarman II, ngôi đền lớn nhất Angkor Wat (Đế Thiên) đã được vua ra lệnh xây dựng trong kinh đô Angkor trong khoảng thời gian 37 năm. Cũng trong thời gian này, Suryavarman II đã phát động cuộc xâm lăng các quốc gia lân cận. Đầu tiên là vương quốc Haripunjaya của dân tộc Môn (nay là miền Trung Thái Lan).

    Tiếp đến là một phần đất khá rộng về phía Tây thuộc vương quốc Pagan (nay là Myanma) cũng bị đội quân dũng mãnh của Suryavarman II thôn tính xác nhập vào bản đồ đế chế Khmer (Chân Lạp). Phía Nam, vương quốc Grahi (nay là tỉnh Nakhon SiTham Marat Thái Lan) thuộc khu vực bán đảo Malay cũng bị Suryavarman II chiếm đất. Một phần đất Chiêm Thành phía Đông cũng bị chiếm mất và uy hiếp cả Đại Việt về phía Tây.

    Cũng cần nhắc lại một giai đoạn lịch sử, vào năm 1080, sau khi vương quốc Chiêm Thành hòa hoãn với Đại Việt, vua Chiêm Thành Harivarman IV đã dốc toàn lực hùng mạnh tràn sang đánh chiếm đế quốc Chân Lạp. Quân Chiêm Thành chiếm Sambor (phía Bắc Phnompenh và phía Đông Biển Hồ Tonle Sap), giết vua Chân Lạp Harshavarman III, tàn phá kinh đô Somesvara (Angkor), bắt mang về nước rất nhiều tù binh Chân Lạp.

    Để trả mối thù cao hơn núi này, năm 1145, vua Suryavarman II của Chân Lạp phục thù đánh chiếm thành Đồ Bàn của Chiêm Thành và tàn phá khu Thánh địa Mỹ Sơn tan tành mà ngày nay chúng ta nhìn thấy đống đổ nát hoang tàn như vậy. Cho mãi đến năm 1149, vua Chiêm Thành mới đủ sức đánh đuổi người Khmer xâm lược, giành lại đất nước.

    Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, năm 1128, hơn hai vạn quân Chân Lạp vào cướp bến Ba Đầu ở châu Nghệ An. Đoàn quân xâm lược hùng mạnh này do đích thân vua Suryavarman II thân chinh. Vua Lý Nhân Tông sai Nhập nội Thái phó Lý Công Bình cùng các đô chức Nghệ An đi đánh giặc.

    Vào thời điểm này, vua Lý Nhân Tông lâm bệnh, có di chiếu để lại luôn dặn dò các quan tướng trong triều lập thái tử Dương Hoán lên ngôi hoàng đế khi mới 12 tuổi và tổ chức tang lễ bình thường trong ba ngày, chuyên tâm mài gươm, mài giáo chuẩn bị đánh giặc Chân Lạp quay lại. Ba tháng dốc tâm đánh giặc, Thái phó Lý Công Bình đã đánh tan tành quân Chân Lạp tại Nghệ An.

    Bị thua quá đau, chưa quá nửa năm sau, vua Suryavarman II tức tối huy động thêm thủy binh trên 700 thuyền chiến quay lại đánh phá vào hương Đỗ Gia thuộc châu Nghệ An (nay là Hà Tĩnh) báo thù thất bại lần trước. Vua Lý Thần Tông hạ lệnh cho Nguyễn Hà Viêm ở Thanh Hóa, tướng Dương Ổ ở châu Nghệ An đánh giặc Chân Lạp. Lúc này, hoàng đế Suryavarman II gửi quốc thư cho vua Lý Thần Tông yêu cầu cử sứ giả sang Chân Lạp, vua Lý nhận thư nhưng không thèm trả lời.

    Năm Nhâm Tý 1132, vua Suryavarman II hội quân với Bắc Chiêm Thành, hợp nhau tấn công vào châu Nghệ An của Đại Việt. Hoàng đế Lý Thần Tông xuống chiếu cho Thái úy Dương Anh Nhĩ huy động toàn bộ quân binh ở Thanh Hóa, cùng với quân binh châu Nghệ An hợp sức đánh tan tành quân xâm lược Chân Lạp và Chiêm Thành.

    Sau thất bại thảm hại, Chân Lạp và Chiêm Thành đều cử sứ giả đến Đại Việt cầu thân, thuần phục. Nhưng chỉ hai năm sau, Suryavarman II lại sai tướng Phá Tô Lăng mang thêm mấy vạn quân vào đánh Nghệ An lần thứ ba. Lần này, vua Lý Thần Tông hạ lệnh cho Thái úy Lý Công Bình mang quân tiêu diệt hoàn toàn quân xâm lược.



    Trong khoảng thời gian từ năm 1145 – 1149, đế quốc Chân Lạp hùng mạnh đã nuốt chửng Chiêm Thành vùng đất phía Bắc, xem như đã tiếp giáp biên giới Đại Việt ở phía Nam. Năm 1150, vua Suryavarman II thân chinh mang quân tấn công vào Đại Việt. Lúc bấy giờ, vua Lý Anh Tông mới 10 tuổi, nhưng dưới trướng có rất nhiều quan văn, quan võ tài ba lỗi lạc như Thái phó Tô Hiến Thành, Thái úy Mậu Du Đô… nên việc canh phòng biên giới rất cẩn mật.

    Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, văn bia đá khắc trên tường thành Angkor Wat ghi lại cho thấy: Vào năm 1149, vị vua Chiêm Thành anh hùng Jaya Harivarman IV đánh bộc hậu từ phía Nam tiến ra phía Bắc vương quốc Chiêm Thành để đánh quân xâm lược Chân Lạp, giành lại lãnh thổ phía Bắc. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chỉ ghi lại quân xâm lược và vua Chân Lạp Suryavarman II gặp phải bệnh tật, chướng khí trong rừng núi nên tử vong rất nhiều và tự tan vỡ.

    Nhưng nếu xét ở thế, vua Chân Lạp “lưỡng đầu thọ địch” trong hoàn cảnh vô cùng bất lợi: không gặp thiên thời – năm đó hạn hán kéo dài từ mùa xuân đến mùa thu lại gặp phải mùa gió phơn Tây Nam (gió Lào) rất khắc nghiệt. Không gặp địa lợi, quân Chiêm Thành hùng mạnh đang ráo riết tấn công từ phía Nam, quân Đại Việt phòng bị cẩn mật, vững chắc phía Bắc. Và cuối cùng là yếu tố nhân hòa, quân đội xâm lược của Suryavarman II luôn bị người Chiêm Thành và Đại Việt oán ghét, căm hận nên chỉ riêng cuộc chiến tranh du kích cũng đủ làm quân binh Chân Lạp suy yếu dần từng ngày.

    Trong một cuộc chiến không đánh mà tan, vị vua vĩ đại, tài giỏi và cường quyền tham vọng nhất của đế chế Khmer Suryavarman II cùng đoàn quân xâm lược hùng mạnh của ông ta đã có kết cục rất bi thảm tại vùng núi lam chướng tử địa ở núi Vụ Thấp, còn gọi là núi Vụ Ôn tức Vụ Quang (Hương Khê – Hà Tĩnh) ngày nay.

    Vị vua huyền thoại của người Chân Lạp đã bỏ mạng giữa núi rừng sâu thẳm từng là nơi giáp ranh giữa hai quốc gia Chiêm Thành và Đại Việt. Một nhà kiến trúc vĩ đại tạo nên kỳ quan nhân loại Angkor Wat và nhiều đền đài khác, chỉ vì tham vọng bành trướng cả khu vực châu Á, đã đi đến kết cục rất bi thảm. Không ai biết thân xác nhà vua vĩ đại ở đâu và cũng không ai biết gì những bí mật về Angkor Wat mà ông mang theo vào cõi vĩnh hằng. Một vương triều hùng mạnh nhất trong lịch sử chấm dứt vĩnh viễn, mãi sau này, đời cháu của ông mới khôi phục lại đế chế cường thịnh.

    Lăng mộ hoang phế của vị vua “bách chiến bách thắng”

    Boeng Mealea là ngôi đền nằm trong quần thể Angkor Wat, cách Siêm Riệp khoảng 70km về phía Đông Bắc, được xem là phiên bản của Angkor Wat, tương truyền là nơi chôn cất vị vua vĩ đại Suryavarman II. Ngôi đền linh thiêng cùng chung số phận với Kulen, Angkor Wat hơn 800 năm lạc mất giữa rừng già được các nhà khoa học khảo cổ Pháp phát hiện vào năm 1954.

    Vương triều Angkor từng là vương triều hùng mạnh nhất lịch sử Khmer, dưới sự trị vì của vua Suryavarman II – vị vua được mệnh danh là “vị vua bách chiến bách thắng”. Cũng chính ông là người xây dựng nên Angkor Wat – một công trình vĩ đại mà người đời sau nghiêng mình thán phục. Đế chế Khmer dưới sự trị vì, mở mang bờ cõi của ông đã bành trướng đến biên giới Bắc Lào ngày nay, phía Nam đến tận bán đảo Malay, phía Tây đến tận vương quốc Pagan-Myanmar.

    Sau khi nhà vua Suryavarman II tử trận, cái chết của ông cùng với vương triều Angkor Wat rực rỡ đã chìm sâu vào quên lãng. Người ta không biết và cũng không ai có thể giải thích về những bí mật của vương triều.

    Theo tư liệu người Pháp để lại tại Viện Viễn Đông Bác cổ, năm 1954, các nhà khoa học Pháp đã có thông tin về một khu đền lớn như một phiên bản của Angkor Wat nằm trong khu rừng già cách Angkor Wat không xa, nhưng hoàn toàn không có đường vào. Qua những tư liệu cổ, trên các bia ký còn đặt trong đền, người ta mới biết đền Boeng Mealea chính là nơi chôn cất thi hài vua Suryavarman II cùng nhiều vàng bạc, châu báu của vương triều.

    Nhưng do chiến tranh triền miên, khu đền Boeng Mealea lại chìm đắm giữa rừng hoang. Năm 2003, chính phủ khai phá một con đường mòn dẫn vào Boeng Mealea. Đây là khu vực còn rất nhiều bom mìn vẫn chưa gỡ bỏ hết sau chiến tranh Ponpot, nên xung quanh khu vực đền, lực lượng CMAC – lực lượng rà phá bom mìn quốc tế – vẫn đang hoạt động. Khu vực rà soát bom mìn được căng cờ đỏ và có khi bom mìn chỉ cách con đường độc đạo vào đền không đầy nửa mét.

    Gần như toàn bộ đền tháp đã sụp đổ hoang tàn, nhưng vẫn có thể nhận ra dáng dấp vĩ đại và sự hoành tráng của nó không thua kém gì Angkor Wat. Thậm chí, các khối đá xây đền nơi này còn to hơn cả đền Angkor, nặng trung bình 8 tấn so với 3 – 5 tấn của Angkor Wat. Đền Boeng Mealea ngày xưa như một thành phố nhỏ với diện tích 108ha và có hào nước bao bọc quanh thành, có nơi rộng đến 45m. Đền có ba lớp tường bao bọc và được trấn giữ bởi những cánh cổng bằng đá khổng lồ, chính giữa là ngọn tháp cao đến 42m nhưng đã bị gãy đổ.

    Đặc biệt hơn, Boeng Mealea có đến bốn thư viện ở bốn góc thành trong cảnh hoang tàn, trong khi hầu hết các đền đài thời kỳ Angkor chỉ có hai thư viện. Trung tâm của đền có quan tài của vua Suryavarman II nằm lăn lóc dưới đất. Theo Ủy ban Apsara, từ những năm chiến tranh, không chỉ các nhà nghiên cứu khảo cổ học mà còn những băng nhóm đào bới mộ cổ đã tìm đến đây và khai quật ngôi mộ cổ này, nhiều vàng bạc, châu báu đã bị lấy đi, những mảng phù điêu tuyệt mỹ trên tường của đền cũng bị đục lấy mất và xô ngã chiếc quan tài từ trên đền xuống đất. Nhưng họ không tìm thấy được thi hài của Suryavarman II.



  3. #3
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết
    Suryavarman II – người xây những đền tháp vĩ đại

    Sau khi vua Suryavarman II qua đời, ánh sáng mặt trời đã tắt vụt, bóng đêm và sự tuyệt vọng của đế chế Angkor huy hoàng phủ trùm lên một màu đen tóc tang. Nội bộ triều đình mâu thuẫn, lục đục, tranh giành quyền lực, các công trình đền tháp xây dựng dở dang phải ngưng trệ, đình đốn. Chiến tranh tranh giành cát cứ và ngoại xâm bấy lâu dòm ngó chờ cơ hội xâm chiếm đế chế Khmer. Cả xã hội Chân Lạp rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng cho đến khi một mặt trời mới rực rỡ xuất hiện trên bầu trời Angkor… đó là Hoàng tử Jayavarman VII.

    Jayavarman VII (1181- 1220) là vua của Đế quốc Khmer, được xem là một trong ba vị vua tài năng, anh hùng lỗi lạc của dân tộc Khmer dưới triều đại Angkor. Ông là con trai của vua Dharanindravarman II (trị vì từ 1150 – 1160) và Sri Jayarajacudamani. Ông đã cưới Jayarajadevi và sau khi bà qua đời, ông cưới em gái bà là Indradevi. Người ta cho rằng hai người phụ nữ này đã truyền cảm hứng lớn cho ông, đặc biệt là lòng mộ đạo của ông đối với Phật giáo.

    Nhiều giả thuyết cho rằng sau khi vua Suryavarman II tử nạn trong vùng rừng núi Vụ Quang, châu Nghệ An (Đại Việt), để tránh bị xâm hại, trả thù đời sau nên hoàng tộc đã cho làm lễ trọng đại hỏa táng thi hài vua như một cách trấn an người dân và quân binh đế chế Khmer. Sau đó tro cốt được đưa vào thờ trong đền Angkor Wat, còn quan tài và ngôi đền này được xây nên chỉ làm nơi thờ cúng hình bóng quốc vương.

    Trước đó, chỉ có một vị vua khác của Đế quốc Khmer là một Phật tử. Ông là người đã cho xây dựng rất nhiều đền đài to lớn còn lưu dấu đến ngày nay như: Ta Prohm, Preah Khan, Angkor Thom, Bayon, Jayatataka Baray, Neak Pean, Ta Som, Ta Nei, Ban Teay Chhmar, Prasats Chrung, Sân Voi, Ta Prohm Kel, Hospital Chapel, Krol Kô, Srah Srang, Royal Place.


    Đền TaProhm

    Trong số những ngôi đền đó, nổi tiếng nhất là kinh thành Angkor Thom với đền Bayon là sự tuyệt mỹ về kiến trúc và điêu khắc. Nơi đây còn có tên gọi là Đền Đế Thích – một kiệt tác kiến trúc chỉ sau Angkor Wat mà tổ tiên ngài là vua Suryavarman II đã xây dựng nên.

    Jayavarman VII lúc sinh thời được sử sách lưu truyền là một người thích sống ẩn dật, chọn lối sống thanh bần, tu niệm theo Phật, tỏ ra rất thờ ơ với mọi biến động trong đời sống chính trị, xã hội Khmer. Tuy nhiên, nhìn thấy đất nước Chân Lạp quá tang thương vì loạn lạc và bị ngoại xâm giày xéo, ông thấy không còn con đường nào khác hơn là theo con đường kiếm cung mới mong cứu được đất nước qua cơn nguy khốn, mang lại no ấm cho muôn dân và sự cường thịnh của một vương quốc từng kiêu hãnh, hùng mạnh.

    Lúc bấy giờ, đất nước Chân Lạp đã rơi vào tay Chiêm Thành, đền Angkor Wat và mọi thể chế hùng mạnh của vương triều Suryavarman II hoàn toàn bị xóa sổ. Ông dấy binh khởi nghĩa từ rừng núi Kulen nơi Tiên đế dựng nghiệp và tập hợp các thế lực hùng mạnh đang cát cứ trong các tỉnh thành lúc bấy giờ chống lại quân xâm lược Chiêm Thành. Sau bốn năm chiến đấu, ông đã đánh đuổi được quân Chiêm Thành ra khỏi đất nước, khôi phục lại sự thanh bình và xây dựng nên một đất nước hùng mạnh.

    Để thực hiện sự nghiệp giải phóng đất nước, trước khi lên ngôi, Jayavarman VII bắt đầu xây dựng lại quân đội, rồi tiến hành nhiều cuộc phản công, trong đó có một trận hải chiến oanh liệt và hiển hách nhất lịch sử đã được miêu tả trên bức tường đá chạm nổi ở các đền Bayon và Bantay Cherma ngày nay.

    Sau khi giành lại độc lập, Jayavarman VII lên ngôi Quốc vương. Ông liền bắt tay vào việc khôi phục lại kinh đô và cho xây dựng ở đây một khu thành mới gọi là thành Yaxodarapura.

    Bản văn bia có thuật lại với những lời lẽ rất nên thơ trong ngày đó như sau: “Buổi lễ đăng quang của vua Jayavarman VII tổ chức bốn năm sau ngày thất thủ kinh đô. Kinh thành Yaxodarapura giống như một cô thiếu nữ hiền hậu, xứng đôi vừa lứa với người yêu của mình, nhiệt tình và say đắm, được trang trí bằng một tòa lâu đài dát vàng ngọc với những dãy thành quách bao bọc như một dải lụa che thân: cô thiếu nữ đó được nhà vua cưới để tạo ra hạnh phúc cho muôn loài trong một buổi lễ huy hoàng, dưới đài vinh quang sáng chói”.

    Nằm ở trung tâm quần thể Angkor Thom và cách Angkor Wat khoảng 300m, Bayon là ngôi đền ấn tượng nhất của kiến trúc đền núi Campuchia bởi sự kỳ vĩ về quy mô cũng như cảm xúc mà nó đem lại.

    Từ xa, du khách có thể cảm nhận cảnh đẹp tuyệt vời được phô bày ngay trên con đường chính dẫn tới cổng đền thờ. Dọc theo hai bên đường lát đá phiến bắc qua một con sông đào, hai bên là 54 bức tượng khổng lồ ôm ngang lưng rắn thần Nagar chia thành hai hàng cân xứng: bên trái là các thần, bên phải là các quỷ.

    Một vài pho tượng khiếm khuyết từng bộ phận đầu, mình, tay chân do thời gian cùng các biến động của lịch sử và chiến tranh. Hầu hết các pho tượng này đều quay lưng lại đền, ngả người ra sau với dáng điệu mạnh mẽ mô tả lại điển tích “khuấy biển sữa tìm thuốc trường sinh” mà vị vua Jayavarman VII cùng thần dân từng mong mỏi tìm thấy được. Một kiệt tác kiến trúc ngàn năm vẫn làm lòng người hậu thế xao xuyến, bâng khuâng.

    Nếu như Angkor Wat với năm ngọn tháp lớn đã trở thành biểu tượng của vương quốc Campuchia thì những khuôn mặt Phật tạc trên những ngọn tháp đền Bayon là niềm tự hào lớn lao của người dân xứ xở này. Đó là bức thông điệp ngàn xưa mà Bayon muốn gửi lại mai sau như một khát vọng về hòa bình, lòng từ mẫn, thánh thiện đã khắc họa nên nụ cười Bayon bất tử. Khuôn mặt của đức Phật khổng lồ được tạc trên đá, sừng sững giữa trời đất, thách thức mọi biến đổi của thời gian là đề tài cho những cuộc tranh luận không dứt về những điều huyền bí ẩn chứa trong nét chạm khắc của những người thợ đá vô danh xưa kia. Có bao nhiêu Phật, Thần trong chùa là có bấy nhiêu cách thể hiện nụ cười, hướng nhìn khác nhau.

    Chính vì thế, 54 ngọn tháp tại Bayon đã được thiết kế như một mê cung tròn đồng tâm, trên đó khắc trăm khuôn mặt với nụ cười huyền bí đã mãi đi vào lịch sử của miền đất cổ kính này. Điều gây ấn tượng mạnh mẽ nhất ở mỗi ngọn tháp là 4 khuôn mặt của Đức Phật xoay theo 4 hướng với cặp môi hé nở nụ cười mầu nhiệm như truyền gửi thông điệp tới cả ngàn vạn kiếp luân hồi.

    Và Bayon đâu chỉ chứa đựng bí mật về nụ cười trầm mặc trên hàng trăm khuôn mặt Phật, mà mỗi bậc thang để xuống dưới chân ngọn tháp chính, trên các bức tường nối các hành lang chạy xuyên cắt nhau như một mê cung còn ẩn chứa nguyên vẹn nét sinh động của hàng trăm ngàn vũ nữ Apsara được chạm trên các phiến sa thạch.

    Truyền thuyết Khmer cổ kể lại, những vũ nữ có điệu múa mê hồn này đã được hóa thân từ chính nước biển khi các thần linh cùng rắn thần Nagar khuấy tung biển sữa tìm thuốc trường sinh. Một hình tượng lãng mạn như chính vũ điệu mà con người có thể cảm nhận khi nhìn ngắm vũ nữ trên từng phiến đá.

    Đôi tay mềm mại, khéo léo kỳ diệu, tấm lưng thon thả, nụ cười hé mở và đôi chân như nhún nhảy vẫn theo nhịp trống và tiếng đàn ngũ âm từ xa xăm vọng về. Không chỉ tại Bayon mà tại tất cả các kiến trúc cổ của đất nước Chùa Tháp này, đâu đâu cũng có thể chiêm ngưỡng vũ điệu uốn lượn của các vũ công Apsara trên các bức tượng đá và chạm khắc trên tường đá.

    Nếu như Angkor Wat tạo nên sự kinh ngạc vì những bức họa tinh vi và hoành tráng thì tại Bayon là một sửng sốt, bởi các phù điêu có nội dung phong phú, sinh động hơn nhiều, bao gồm cả cảnh sinh hoạt đời thường và tôn giáo, lịch sử. Ở đó, các phù điêu mô tả một cách sống động những điển tích về nghi lễ tôn giáo, các sinh hoạt lễ hội, cảnh vui chơi giải trí, cảnh chiến binh Khmer giao chiến cùng quân đội Chiêm Thành bằng thủy binh giành lại đất nước…

    Với những bức phù điêu này, Bayon đã tái hiện lại cho các thế hệ sau một bách khoa toàn thư về cuộc sống, phong tục tập quán, phong cảnh của hàng trăm năm trước. Một điều thú vị về sự phân chia đẳng cấp trong xã hội xưa cũng được thể hiện rõ nét ở đây: nếu như các cảnh đời thường của người dân được chạm phía ngoài, thì tại hành lang phía trong, các bích họa lại mô tả chủ yếu cuộc sống cung đình, cảnh múa hát trong cung đình, cảnh vua chúa, quan lại trong cuộc sống vương giả.

    Phủ dày sau lớp màn thời gian, hình ảnh vàng son dĩ vãng của vương triều Jayavarman VII cũng như hàng trăm, hàng ngàn người thợ vô danh đã tạo dựng nên khu điện thờ Bayon đã trở thành huyền thoại, thành một đề tài gây nhiều tranh cãi trong giới học thuật. Song, dù hiểu biết hay không về lịch sử, kiến trúc hay tôn giáo, mỗi người khi đứng trước các khuôn mặt Phật chạm khắc trên từng ngọn tháp đang nở nụ cười gửi về thế giới đều cảm nhận rõ rệt những cảm xúc đặc biệt đang dâng lên trong lòng.

    Và, dù triều đại và thời thế đã đổi thay, nhưng Bayon – ngôi đền kỳ lạ nhất và cũng lãng mạn nhất của dân tộc Khmer – vẫn trường tồn cùng với đất nước Campuchia và nhân loại như một công trình kiến trúc lịch sử đầy sáng tạo của con người.

    Bayon là khu đền kiến trúc theo một nghệ thuật đầy cảm hứng và sáng tạo với những trang trí chạm khắc bằng đá đẹp đẽ và hoành tráng vô cùng. Đền Bayon được xây dựng trong khoảng cuối thế kỷ thứ 12 và đầu thế kỷ thứ 13 như là đền núi chính thức của vua Jayavarman VII, tin theo Phật giáo Đại thừa khác với tín ngưỡng Ân Độ giáo như các vua đời trước nhưng vẫn theo truyền thống vua thần (Devaraja).

    Vua Jayavarman VII cải giáo sang Phật giáo Đại Thừa vì ngài cho rằng, các vua đời trước nối nghiệp nhà vua vĩ đại Suryavarman II đều theo Ấn Độ giáo, là người xây dựng Angkor Wat huyền thoại cũng đã bị quân Chiêm Thành đánh bại. Sự thay đổi về quốc giáo cũng là sự tách biệt về tôn giáo, tín ngưỡng riêng của mọi thần dân đế quốc Khmer như là một khẳng định về ý thức tự chủ, tự cường của xã hội, quốc gia Chân Lạp từ khi vua Jayavarman VII lên ngôi trị vì. Cũng từ đó, sau khi Jayavarman VII băng hà, những đời vua nối tiếp với tín ngưỡng khác nhau như Ấn Độ giáo, Phật giáo nguyên thủy, cũng đã cho xây thêm những ngôi đền dựa theo tín ngưỡng của mình.

    Cấu trúc của Bayon gồm ba tầng, ngày nay cả ba tầng đều đổ nát nhiều, gạch đá nằm ngổn ngang khắp nơi do chiến tranh và sự lưu lạc tám thế kỷ giữa rừng già. Hai tầng phía bên dưới bố trí theo hình vuông, tô điểm bằng những phù điêu, chạm khắc tinh xảo trên tường. Tầng thứ ba được sắp xếp theo hình tròn với nhiều tháp mà các mặt đá có hình khuôn mặt Phật.

    Dãy hành lang ở tầng dưới là một kho tàng nghệ thuật với 11 ngàn bức phù điêu chạm khắc trên tường đá chạy dài 1200m, một tổng hợp liên quan đến lịch sử lẫn các truyền thuyết, miêu tả cảnh diễu hành của vua và hoàng gia, những trận đánh của vua Jayavarman VII với Chiêm Thành bằng cả thủy lẫn bộ chiến, ngoài ra còn miêu tả đời sống văn hóa, xã hội của một nền văn minh đã bị lãng quên từ bao thế kỷ. Nhiều khoảng tường vẫn còn dở dang, chỉ còn để lại nét phát họa, có lẽ bị dở dang khi vua Jayavarman VII qua đời.

    Hình ảnh nổi bật nhất của Bayon vẫn là những ngọn tháp cao vút ở trung tâm bằng đá tảng, chạm khắc thành 2 – 3 và chung chung là 4 khuôn mặt nhìn bốn hướng. Kiến trúc của Bayon được xem như có phong cách của trường phái Baroque, trong khi Angkor Wat thuộc phái cổ điển. Sự tương đồng của vô số khuôn mặt khổng lồ ở trên các tháp của đền Bayon với các bức tượng khác của vua Jayavarman VII khiến nhiều học giả đi đến kết luận đây chính là khuôn mặt của nhà vua.

    Có người cho là của mặt của Quan Thế Âm Bồ Tát (Avalokitesvara hay Lokesvara). Nhà học giả chuyên về Angkor học Coedes thì lý luận rằng Jayavarman VII theo truyền thống của các vua Khmer tự cho mình là vua thần (Devaraja), khác với các vua trước theo Ấn Độ giáo tự cho mình là hình ảnh của thần Shiva, trong khi Jayavarman VII là một Phật tử nên cho hình ảnh Phật và Bồ tát là chính mình. Có tất cả 37 tháp đền đá tạc hình nhiều khuôn mặt nhìn xuống và nhìn đi bốn hướng như thể quan sát chúng sinh và che chở cho đất nước.

    Bên trong đền có hai dãy hành lang đồng tâm ở tầng dưới, và một dãy ở tầng trên. Tất cả nằm dồn lại với nhau trong một không gian hạn hẹp 140 x 160m, trong khi phần chính của ngôi đền nằm ở tầng trên lại còn hẹp hơn với kích thước 70 x 80m, khác với Angkor Wat, người ta phải trầm trồ với qui mô to lớn và thoáng rộng của nó. Từ xa nhìn vào, Bayon trải dài theo chiều ngang như một đống đá lổn nhổn muốn vươn lên trời cao với không gian dường như không có giới hạn.

    Đền Bayon tạo cho con người cảm giác bay bổng và chinh phục hoàn toàn bởi vẻ đẹp mẫu mực và đầy sống động. Ngôi đền được tạo thành bởi 50 ngọn tháp bằng đá. Cốt lõi của nó là một quần thể kiến trúc được xây dựng kiểu bậc thang với 16 bảo tháp hạng trung với nhiều tháp nhỏ liên kết với nhau, chính giữa là một tháp vàng hình tròn, cao 45m. Đỉnh của mỗi ngọn tháp, cả 4 mặt đều có tượng Phật mỉm cười. Những phù điêu bằng đá ở Bayon kể lại sự tích Phật Thích Ca và chúng là cuốn biên niên sử về cuộc sống của người Campuchia trong thời đại Angkor.

    Toàn bộ Angkor với những tháp, đền đài, phù điêu và hành lang mênh mông đều làm từ các tảng đá xếp chồng lên nhau với dáng vẻ rất tự nhiên, ngay cả ở trên nóc vòm. Tất cả các họa tiết trang trí bằng đá như tượng Phật, vũ nữ, chiến binh và những hình hoa sen minh họa sử thi Ramayana và Mahabharata đều rất sống động, mềm mại. Với 1.700 nàng Apsara ở Angkor là 1.700 vũ nữ hoàn toàn khác nhau với thân hình tuyệt mỹ, những vẻ mặt, tư thế, động tác hình thể không hề trùng lặp. Vì sao là con số 1.700 mà không là con số khác? Đây vẫn là một câu hỏi trong nhiều câu hỏi chưa tìm được lời giải đáp ở Angkor ngày nay.

    Một chiều nào đó, ở một góc nào đó trong hành lang của Angkor Wat hay đền Bayon, khi ánh nắng chiều hắt những sợi vàng óng ánh phủ lên khu vực đền tháp kỳ vĩ, con người sẽ tự đắm chìm trong suy tưởng, chiêm nghiệm và thả hồn ra đón gió mát và ngắm nhìn những chú voi đủng đỉnh nện bước chân dạo quanh vòng thành cổ để mơ về một ngày xa xưa khi những bậc quốc vương vĩ đại huyền thoại của triều đại Angkor đang khởi hành xa giá…

    Trở lại câu chuyện cũ, vì sao những bức tượng người xây dựng nên Angkor Wat và Angkor Thom, Bayon huyền thoại không có hai bàn tay ? Chắc hẳn không hề có sự vô ý của con người mà là sự cố tình để không ai hiểu được những bí mật, những nhiệm mầu và bí ẩn của những vị vua vĩ đại hóa thân thành Thần, Phật trong truyền thuyết Khmer. Không ai vẽ chỉ tay trên bàn tay hay chân của Phật dù có hàng triệu tượng Phật được xây, tạc trên đời. Cũng như các vị vua vĩ đại xây dựng nên Angkor huyền thoại, nếu là bàn tay người thường, hẳn không thể có những đền tháp vĩ đại kia.

    Chuyện kể lại rằng, ngày xưa có một vị hoàng đế muốn các danh họa tài ba trong thiên hạ vẽ hình ảnh Hoàng hậu cực kỳ xinh đẹp của mình. Tất cả danh họa tài ba được mời đến đều bị đuổi về vì khi vẽ xong, các quan đại thần người khen mặt đẹp, mắt xinh, nhưng lại có kẻ chê vẽ tóc không đẹp, dáng không giống… Các danh họa lần lượt bị chém đầu vì tội khi quân. Bỗng có một họa sĩ xin được vẽ Hoàng hậu, mọi người ngạc nhiên và can ngăn vì không muốn thấy thêm một cái đầu lìa khỏi cổ.

    Người họa sĩ lặng lẽ ngồi uống cạn mấy bình trà rồi lấy bút vẽ mấy nét và đổ mực lên khá nhiều… Bức vẽ dâng lên, vua vô cùng ngạc nhiên và giận dữ vì không thấy bóng dáng Hoàng hậu đâu cả. Người họa sĩ từ tốn bẩm: “Tâu bệ hạ, thần vẽ Hoàng hậu xinh đẹp đang trùm chăn ngủ. Bởi khi Hoàng hậu nằm ngủ trong chăn, không ai nhìn thấy gì cả. Vì không ai có thể vẽ giống hệt như nhân vật mẫu, cũng như không có ai trên đời có nét đẹp hoàn chỉnh tuyệt đối”. Vua hiểu ra sự việc, thôi không cần thợ vẽ nữa và ban thưởng cho người họa sĩ thông minh tài trí kia.

    Huyền thoại Angkor muôn đời vẫn là huyền thoại bất tử vì tất cả bí ẩn của hai vị vua vĩ đại và Angkor Wat, Angkor Thom, Bayon mãi mãi bất tử. Hai cánh tay của vua trên tượng đá có hay không có là một bí ẩn nhiệm mầu. Nhưng đền tháp kỳ quan nhân loại là hiện hữu có thật trên đời.


  4. #4
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết
    Đế quốc Khmer bị diệt vong như thế nào?


    Đền Bakheng

    Minh Long


    Đế quốc Khmer từng trải dài trên phần lớn lãnh thổ Đông Nam Á từ năm 801 tới năm 1400 trước khi biến mất đột ngột. Livescience khẳng định đây là một trong những nền văn minh vĩ đại nhất trong lịch sử loài người trước khi nó suy vong.

    Trong nhiều thập kỷ qua giới sử học đưa ra vô số lời giải thích về sự diệt vong của đế quốc Khmer. Một số chuyên gia cho rằng nguyên nhân là cuộc xung đột với các quốc gia khác, trong khi nhiều người khẳng định đế chế này bị tiêu diệt do đất đai thoái hóa.

    Nhưng, theo Livescience, Brendan Buckley – một chuyên gia về khí hậu của Đại học Columbia, Mỹ đã tìm ra bằng chứng đáng tin cậy về việc đế quốc Khmer suy vong do thiếu nguồn nước dành cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt. Tình trạng đó khiến hệ thống thủy lợi quy mô lớn của Angkor – kinh đô của đế chế – tê liệt, trong khi hệ thống này rất quan trọng với nền kinh tế nông nghiệp. Thủ phạm gây nên tình trạng khan hiếm nước là hai đợt hạn hán nghiêm trọng do biến đổi khí hậu gây nên.

    Buckley và các đồng nghiệp đã dựng lại bức tranh khí hậu trong khu vực xung quanh kinh đô Angkor của đế chế Khmer cổ bằng cách nghiên cứu những vòng tròn bên trong thân các cây bách tại một vườn quốc gia gần đó. Những vòng tròn cho thấy vương quốc này từng trải qua một đợt siêu hạn hán kéo dài tới ba thập kỷ – từ khoảng năm 1330 tới năm 1360. Sau đó đó vương quốc còn hứng chịu một đợt hán hán khắc nghiệt hơn nhưng ngắn hơn trong khoảng thời gian từ năm 1400 tới năm 1420. Buckley cho rằng hai đợt siêu hạn hán có thể khiến mùa màng thất bát và bệnh truyền nhiễm lan rộng – hai thảm họa đối với một đất nước có mật độ dân số lớn. Thế rồi tới năm 1431, vương quốc sụp đổ sau một cuộc tấn công của nước Xiêm (Thái Lan ngày nay).

    “Vào thời đó kinh đô Angkor đối mặt với hàng loạt vấn đề xã hội, chính trị và văn hóa. Sự thay đổi lớn của môi trường đã đẩy người dân Khmer tới giới hạn cuối cùng trong khả năng chịu đựng và họ không thể thích nghi được với thay đổi ấy. Tôi không nói biến đổi khí hậu là nguyên nhân trực tiếp khiến nền văn minh Khmer cổ sụp đổ, nhưng chắc chắn một đợt hạn hán kéo dài tới 30 năm phải gây nên một tác động nào đó”, Buckley phát biểu.

    Nhóm của Buckley cũng tìm thấy bằng chứng về những mùa mưa mạnh khiến hệ thống thủy lợi của kinh đô Angkor bị phá hủy. Trong mùa mưa bình thường, hệ thống thủy lợi khổng lồ – gồm kênh rạch, đê, hồ chứa nước – của Angkor có thể chịu được lượng mưa lớn. Nhưng sau một đợt siêu hạn hán kéo dài, hệ thống ấy có thể bị hủy hoại.

    Các chuyên gia cho rằng El Niño, được tạo nên bởi sự ấm lên của dòng nước ấm ở phía đông Thái Bình Dương khiến một lượng hơi nước rất lớn bay vào không khí, cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn những mùa mưa ở khu vực xung quanh Angkor khiến hạn hán kéo dài.

    “Chúng ta cần nhớ rằng các nền văn minh vẫn có thể bị tổn thương trước biến động của khí hậu”, Kevin Anchukaitis, một thành viên trong nhóm nghiên cứu, phát biểu.

    Nhiều nghiên cứu trước đây chứng tỏ rằng những thay đổi đột ngột về môi trường có thể đẩy các nền văn minh cổ tới tình trạng diệt vong. Nền văn minh của người Anasazi ở phía tây nam nước Mỹ, đế chế của người Maya ở Trung Mỹ và vương quốc Mesopotamia (phía tây nam châu Á ngày nay) của người Akkadian là những nền văn minh biến mất vì biến đổi khí hậu.


  5. Có 1 người thích bài viết này


  6. #5
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết
    Lịch sử hình thành của miền nam Việt Nam
    Võ Thanh Liêm

    I. Vương quốc cổ Phù-Nam

    Vùng đất trù phú Nam Bộ của Việt nam ngày nay từ khu vực Ðồng Nai đến Hà Tiên xưa thuộc Vương Quốc Phù Nam. Phù Nam là tên phiên âm tiếng Hán của từ Phnom có nghĩa là núi. Theo sách Lĩnh Nam Trích Quái thì người Tàu thời xưa gọi tên nước này là ‘Diệu Nghiêm’.

    Vương quốc Phù Nam là vương quốc đầu tiên hình thành tại Ðông Nam châu Á, tồn tại từ đầu thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 6 sau Công nguyên. Chúng ta có thể khẳng định rằng xã hội văn minh đã hiện hữu tại vùng đất này rất lâu trước khi vương quốc được thành lập.

    Lịch sử bắt đầu từ khoảng năm thứ nhứt sau Công nguyên khi tại châu Âu, Ðại Ðế Claudius ra sức chinh phục đất Anh Cát Lợi và tại Trung Hoa là nhà Tây Hán. Theo truyền thuyết thì ngày xưa có một vị giáo sĩ anh hùng (Brahman) người Ấn Độ tên là Kaundinya được thần linh chỉ đường xuống thuyền xuôi về hướng đông.

    Sau một cuộc hành trình đầy gian truân, thuyền của Kaundinya đến được đất liền của đồng bằng sông Cửu Long. Bỗng từ đất liền xuất hiện một mỹ nhân trên chiếc thuyền nan bơi ra chặn thuyền của Kaundinya lại. Mỹ nữ này là Nữ Chúa Soma, con gái của vua Rắn Hổ mười đầu. Trận thư hùng diễn ra giữa anh hùng và giai nhân. Nhờ phép thuật thần thông nên Kaundinya thắng trận. Nữ chúa Soma cầu hòa. Sau đó không lâu hai người yêu rồi cưới nhau sinh ra một người con trai. Người con trai này trở thành vị vua đầu tiên của Vương quốc Phù-Nam lấy hiệu là Kampu.

    Kinh đô trù phú của vương quốc được xây dựng tại thành Vyadhapura. Hầu hết những dữ kiện liên quan đến vương quốc cổ nhất Ðông Nam Á này đều đến từ sử liệu Trung Hoa và di vật khai quật được ở Óc-Eo. Chính vì thế tên các vương triều thường là do phiên âm ra tiếng Hán.

    Vào năm 245 sau Công nguyên nhà Hán Trung Hoa sai sứ giả là K’ang T’ai đi kinh lý vương quốc Phù Nam. Ông đã mô tả là vương quốc này đã biết cách luyện kim, kinh đô Vyadhapura có xây thành bằng gạch kiên cố chung quanh, có hệ thống kinh đào để thuyền bè có thể đi xuyên qua lãnh thổ. K’ang T’ai cũng nói rằng vương quốc Phù Nam có thư viện với nhiều sách vở chữ Phạn, có luật lệ, hệ thống thâu thuế và nông nghiệp, thương mãi đều phát triển.

    Thường thì người Hoa có tục lệ khinh khi những dân tộc không phải là Hán tộc. K’ang T’ai đã kết luận rằng người Phù Nam là một dân tộc man di, nước da đen đúa xấu xí, tóc quăn và đa số ở truồng, đi chân không. Ông sứ giả có than phiền điều này với quốc vương Phù Nam là vua Hun Fan Huang. Nhà vua sau đó ra lệnh cho tất cả thần dân của Ngài về sau phải quấn vải vào phần dưới thân thể, tiền thân của chiếc sà-rong mà người Thái, Miên và Mã Lai thường mặc ngày nay.

    Những lời kể lại của thương nhân các nơi khác lại tỏ ra thán phục nền văn minh và sự hùng cường của Phù Nam. Họ kể rằng giới quí tộc Phù Nam ăn mặc diêm dúa, ở cung điện nguy nga bật nhất và nước Phù Nam có rất nhiều đồ châu bảo vàng bạc quí giá. Vương quốc sử dụng chữ Phạn cổ Sanscrit của Ấn Ðộ trong công việc hành chánh và thương mãi.

    Trong vòng 300 năm sau ngày lập quốc, Phù Nam đã có một hạm đội chiến thuyền và quân lực hùng mạnh. Vương quốc Phù Nam đã chinh phục được hầu như toàn thể những khu dân cư của vùng Mã Lai -Thái lan - Miên và nam Miến Ðiện để kiểm soát đường hàng hải của các thương thuyền giữa Trung Hoa và Ấn Ðộ.

    Hào quang cường thịnh và cách tổ chức hành chánh của Phù Nam đã làm gương mẫu cho những nền văn minh sau này như là tiểu vương quốc Sri Vijaya (Palembang), Sailendra ở Java Indonesia, và Malacca góp phần truyền bá văn minh Ấn Ðộ đến những thành phố, bộ lạc phiên thuộc dưới quyền kiểm soát của Phù Nam.

    Óc-Eo ngày xưa là một thương cảng trù phú có nhiều thương thuyền ghé lại. Vào thời điểm này thương gia đến Óc-Eo tấp nập từ đông sang tây: Ðế quốc La Mã qua Ấn Ðộ và Trung Hoa. Người ta đã tìm được những đồng tiền cổ của La Mã tại đây.

    Con của Hun Fan Huang là Fan-Shih-Man lên nối ngôi khoảng đầu thế kỷ thứ 3. Tiếp theo là các vua Hun TienHun Phan Fan cha truyền con nối. Vua Hun Phan Fan là một vị minh quân trị vì từ cuối thế kỷ thứ 3 qua thế kỷ thứ 4. Ông nới rộng lãnh thổ, làm hùng mạnh quốc gia và thọ 90 tuổi, không rõ năm nào.

    Con của vua Hun Phan Fan là Hun Phan Phan không thích làm vua nên bỏ đi tu, nhường ngôi cho một viên tướng là Seray Mara sử Tàu gọi là Fan Che Man. Vua Fan Che Man nới rộng lãnh thổ Phù Nam ra gấp đôi diện tích cũ. Ông đã băng hà vào khoảng năm 204-210.

    Sau cái chết của vua Fan Che Man triều đình Phù Nam rơi vào cảnh rối loạn liên tiếp. Người cháu của vua là Fan Chan giết chết thái tử con của vua trước để chiếm ngôi. Hai mươi năm sau một người con của vua Fan Che Man là Asachi lại giết được Fan Chan để lấy lại ngai vàng.

    Sau đó không lâu Asachi lại bị tướng Siun giết để lên làm vua. Hoàn cảnh nào đưa vua Chandana lên ngôi vương không được sử liệu Trung Hoa nhắc đến. Có những chổ trống trong lịch sử những nước lân bang mà có lẽ vì trùng họp với những biến động chính trị tại triều đình Trung Quốc nên sử gia Trung Hoa đã không thể điều nghiên ghi chép.

    Năm 357 Phù Nam dưới triều vua Chandana sang cầu phong Trung Hoa và xin triều cống. Một điều đáng nói là mặc dù những dân tộc tại Ðông Nam châu Á bị ảnh hưởng sâu đậm của văn minh Ấn Ðộ, nhưng người Ấn Ðộ và lịch sử Ấn Ðộ hoàn toàn không quan tâm đến thế giới phía đông này cho đến mãi thế kỷ 20 chính phủ và nhân dân Ấn Ðộ mới tìm hiểu thêm về một vùng văn minh Ấn Ðộ đã có mặt tại đây từ lâu. Lịch sử Ấn Ðộ không đếm xỉa gì đến vùng Ðông Nam châu Á có ảnh hưởng văn hóa Ấn trong quá khứ.

    Ngược lại người Trung Hoa từ hơn 2000 năm nay luôn xem vùng biển phương nam thuộc ảnh hưởng của Thiên triều. Họ cho sứ giả đi điều tra và ghi chép cẩn thận những điều mắt thấy tai nghe. Từ lúc ban đầu ấy các nước đông nam Á đều đã có liên hệ ngoại giao với Trung Hoa qua hình thức cống sứ và xin phong. Trong thâm tâm tầng lớp lãnh đạo Trung Hoa, Thiên triều có thẩm quyền và nhiệm vụ can thiệp tại vùng nam châu Á nếu cần. Lịch sử đã chứng minh điều đó và gần đây nhất là Trung quốc đã đánh vào miền Bắc Việt nam năm 1979 vì bất đồng về chủ quyền và ảnh hưởng tại vương quốc Kampuchia.

    Nhưng cũng nhờ thế mà ta có những sử liệu quí giá từ thời thượng cổ để tìm hiểu lịch sử của những quốc gia phương nam của Trung Quốc trong đó có Việt Nam ngày nay và Phù Nam xưa.

    Những thần dân của Phù Nam xưa thuộc giống người thổ da đen Khmer, Môn-Khmer, Miến, và dân đa đảo Malay-indônêsiên. Ngôn ngữ sử dụng thuộc hệ Ấn độ pha trộn với nhiều sắc thái, thổ ngữ địa phương.

    Người nước Phù Nam theo đạo Bà La Môn và Phật giáo. Vương quốc Phù Nam đạt đến sự cực thịnh dưới triều vua Kaundinya Jajavarman (478-514). Vua Rudravaman (514-539) có sai sứ sang Trung Hoa triều cống và cho biết Ngài có một lọn tóc xá lợi của Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni.

    Trong thời gian này các vị cao tăng Phật giáo người Phù Nam đã dịch cuốn Phật Kinh Vimutti Magga sang chữ Hán. Ngày nay cuốn kinh này chỉ tồn tại bằng chữ Hán vì bản chánh chữ Phạn đã bị thất lạc. Thế rồi sau đó vương quốc Phù Nam bị suy tàn bởi nội loạn và sự nổi dậy của dân tộc Khmer (một xứ phiên thuộc của Phù Nam), tràn sang từ vùng đất thuộc nước Lào bây giờ.

    Một yếu tố khác góp phần vào sự suy tàn của Phù Nam là nền kinh tế của quốc gia đã đi xuống từ sau những tiến bộ về kỹ thuật hàng hải. Thuyền buôn vào thời điểm này đã có thể đi xa bờ và ít có nhu cầu ghé lại Óc-Eo trên đường đi qua Trung Quốc.

    Năm 539 vương quốc Phù Nam bị buộc phải triều cống cho người Khmer lúc đó là Vương quốc Chân Lạp. Ðến năm 627 Phù Nam bị người Khmer dưới quyền vua Chân Lạp là Bhavavarman xóa hẳn tên trên bản đồ. Những thần dân của Phù Nam bị sát nhập vào vương quốc Khmer. Hoàng gia của Phù Nam dùng đường biển tị nạn sang đảo Java của Nam Dương (Indonesia). Họ sống âm thầm mãi đến gần 200 năm sau, hậu duệ của nhóm người này phát lên để dựng nên triều đại huy hoàng Sailendra.

    Các ông hoàng bà chúa của dòng họ này lại kết hôn với các lãnh chúa của các tiểu vương lân bang như Mã Lai và nhiều đảo quốc trong vùng. Cho đến ngày nay giới quí tộc, hoàng gia các nước đa đảo như Mã Lai, Nam Dương (Indonesia) đều có liên hệ huyết thống với hoàng tộc nước Phù Nam của miền nam Việt Nam.

    Từ năm 550 trở về sau cho đến khi chúa Nguyễn bành trướng thế lực đến miền nam, người Khmer cai tri xứ này theo niên hiệu các vị vua Chân Lạp. Từ khi bị mất nước về tay Chân Lạp người dân Phù Nam trở thành một dân tộc lục địa, mất đi khả năng hàng hải. Ngày nay người Khmer nhìn nhận các vương triều Phù Nam là tổ tiên của dân tộc Khmer và là một phần của lịch sử Khmer. Người Khmer còn được chúng ta biết đến qua nhiều danh xưng Cao Miên, Chân Lạp, Cam bốt và Kampuchia.

    Vào lúc người Việt di cư đến vùng đất miền Nam vào năm 1800 người ta tìm thấy một pho tượng nữ vương bằng cẩm thạch bị chôn vùi từ thế kỷ thứ 5 hoặc thứ 6 sau Công nguyên. Có thuyết cho rằng đó là tượng quốc mẫu vương quốc Phù Nam là Soma. Người Việt kính cẩn lập đền thờ bà tại núi Sam tỉnh An Giang gọi là đền thờ Bà Chúa Xứ. Hàng năm cư dân Hoa, Việt, Miên lui tới cúng bái, hương khói vô cùng linh thiêng. Sự việc đó cho thấy lòng biết ơn của những người đến sau đối với những đợt người đã khai phá vùng đất này trước dân tộc Việt Nam.

  7. Có 1 người thích bài viết này


  8. #6
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết
    II. Vương quốc Chân Lạp làm chủ khu vực miền nam Việt Nam (thế kỷ thứ 7-thế kỷ 17 sau Công Nguyên)

    Năm 600-611 có triều vua Mahendravarman tiếp theo là vua Isanavarman đóng đô tại Ankor Borey. Năm 750 vua Jayavaman I mở rộng lãnh thổ, xây thêm đền đài. Ngài cho khẩn hoang và trồng lúa cùng các loại hoa màu dọc bờ sông Cửu Long xuống tới miền Tây Việt Nam ngày nay.

    Khoảng năm 780 dòng Vương cũ của Phù Nam giờ thành Vương Triều Sailendra của đảo Java (Indonesia) trở nên hùng mạnh đã dùng binh lực ép buộc vương quốc Chân Lạp của người Khmer phải triều cống và lệ thuộc. Từ năm 800 đến 887 nước chân Lạp dưới sự lãnh đạo của vua Jayavaman II (802-887) và Jayavaman III (850-887) đã giành lại được độc lập từ dòng Sailendra của Java. Vương quốc Chân Lạp được đổi tên là Kampuchia.

    Trong thời này những thế lực phong kiến có khuynh hướng chia đế quốc Chân lạp thành Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp (vùng đồng bằng miền nam tức Phù Nam xưa). Jayavaman II còn có tên là Puskarak đã từng bị bắt trong trận chiến, và bị đày qua đảo Java. Sau ông trốn thoát về tổ chức nghĩa quân giải phóng đất nước chống lại quân chiếm đóng Java và quân người Chăm nước Champa (Trung Việt ngày nay).

    Năm 803 Puskarak lên ngôi Vương lấy hiệu là Jayavaman II rồi tuyên bố độc lập. Tuy nhiên quyền lực của đảo quốc Java không ngừng dòm ngó vương quốc Kampuchia của Jayavaman II. Trong suốt 50 năm trị vì ông đã dời đô 5 lần vì chiến tranh với Java. Khi Jayavaman III qua đời không con nối dõi nên một người bà con họ mẹ đã lên ngôi xưng vương hiệu là Indravaman I (877-889).

    Vua Indravaman I là một vị vua anh hùng, có tài thao lược và cũng yêu nghệ thuật văn thư. Trong đời ông đã có công thống nhất Lục Chân Lạp với Thủy Chân Lạp và xây dựng thêm nhiều thành phố lớn, khuyến khích nông nghiệp và thương mãi. Indravaman I cũng khởi đầu nới rộng Ðế quốc Khmer (Kampuchia), thay đổi bản đồ chính trị trên bán đảo Ðông Dương bằng những võ công nổi bật.

    Con của Indravaman I nối sự nghiệp của cha xưng hiệu là Yaksovaman I (889-900).Yaksovaman I dời kinh đô từ Hari Hara Ley đến Yaso Tha Bura trên cao nguyên Bakheng. Chính vào thời điểm này sự phú cường của Ðế quốc Kampuchia đã cho phép nhà vua khởi công nhiều công trình kiến trúc vĩ đại trong đó có Angkor Wat (Ðế Thiên Ðế Thích), đền đài Lo Ley, đền đài Phnom Bok. Angkor Wat đã là một công trình kiến trúc vĩ đại nhất của vùng Ðông Nam Châu Á. Nhà vua còn cho đào hồ Ðông Baray dài 7 km, ngang 1800 km. Một công trình vĩ đại vào thời đó. Những công trình to tát này đa phần nhờ vào hàng vạn tù binh và nô lệ bắt được từ những trận chiến chinh phạt Xiêm và Lào.

    Suốt thế kỷ thứ 9 Ðế quốc Khmer-Chân Lạp có 6 triều vương đó là Hashavaman I (900-922), Isanavaman II (922-928), Jayavaman IV (928-941), Harshavaman II (941-944), Rajendravaman II (944-968), và Jayavaman V (968-1001).

    Rajendravaman II vốn là một vị tướng của vương quốc sau khi gôm quyền lực vào tay đã lên ngôi vương tại Angkor Wat (Ðế Thiên Ðế Thích). Trong 24 năm cầm quyền ông cho xây thêm nhiều đền tháp lâu đài và đánh bại quân Chăm của Vương quốc Chiêm Thành (Champa, Trung Việt). Khi nhà vua băng hà con là Jayavaman V lên thay.

    Sau cái chết của Jayavaman V năm 1001 toàn lãnh thổ Chân Lạp rơi vào cảnh đại loạn kéo dài 9 năm. Lãnh chúa Suryavaman I (1002-1050) đã đàn áp được những thế lực khác và thống nhất ngôi Vương tại Angkor Wat. Từ năm 1050 đến 1177 đế quốc Khmer tiếp tục bành trướng. Phía bắc giáp Trung Hoa, phía nam giáp biển Xiêm La (Thái Lan), phía tây giáp Miến Ðiện, phía đông giáp Chiêm Thành. Trong thời gian này hùng cường nhất là vua Suryavaman II (1113-1150). Nhà vua xông pha trận mạc để lại nhiều võ công oai hùng. Ngài đã đụng trận với Trung Hoa, Ðại Việt, Chiêm Thành, Xiêm và Miến-Mường. Ngài đã chết tại sa trường một cách oanh liệt.

    Năm 1177 quân Chăm của Vương Quốc Chiêm Thành (Champa) xâm lăng và giết được vua Khmer là Tri-Bhuvanadit-yavarman khởi đầu cho quá trình suy tàn của đế quốc Khmer từ thế kỷ thứ 13. Trên thế giới lúc đó là thời điểm đế quốc Mông Cổ đang bành trướng vào Ấn Ðộ phía Tây, xâm chiếm Trung Hoa phía Bắc và phía Ðông hai vương quốc Ðại Việt và Chiêm Thành đang nắm tay hợp sức đẩy lui đoàn quân viễn chinh Mông Cổ.

    Sự suy nhược của Ðế quốc Khmer vào thế kỷ 13 tạo cơ hội cho người Thái (Xiêm) nổi dậy giành độc lập. Danh xưng ‘Thái’ có nghĩa là ‘tự do’ không còn nô lệ nữa. Quân đội người Thái đã tấn công đế đô Angkor (trong khoảng thời gian 1431-1432) và tàn sát hàng mấy vạn người gà chó không chừa để trả thù sự tàn bạo hà khắc mà người Khmer đã áp đặt lên họ trước kia. Sự tàn sát đã khủng khiếp đến độ không còn ai sống sót để nhớ lại nơi chốn này. Ðế đô Angkor đã bị quên lãng bởi chính người Khmer trong suốt 500 năm mãi đến thế kỷ 19, ông Henri Mouhot, người Pháp, trong lúc đi thám hiểm rừng sâu mới tìm lại phế tích Angkor Wat năm 1860.

    Năm 1401? vua Chân Lạp Ponhea Yat dời đô về Phnom Penh (Nam Vang) đánh dấu một triều đại mới, chấm dứt kỷ nguyên Angkor. Chữ Phạn Ấn độ cổ Sanscrit không còn được sử dụng nữa. Lối chữ mới theo thể Pali giống Mã Lai được thay vào. Toàn thể những dòng dõi vương tôn, quí tộc cũ theo văn hoá Ấn Ðộ biết đọc, viết chữ Sanscrit đã bị người Thái tận diệt. Năm 1528 vua Ong Chân I lại phải dời đô về Lovek (La Bích). Ðến năm 1593 quân Xiêm lại tấn công La Bích. Từ đó người Thái nắm quyền phế lập các vua chúa Khmer.

    No Avatar

    dksaigon

     22:10, 10th Jun 2013 #20277 

    Lỗi của bài gốc sơ sót không chỉnh! Hồ ba rài có biển giới thiệu ghi đúng là ngang 1,8 km.

    No Avatar

    dongdoi_f2

     11:40, 10th Jun 2013 #20236 

    "dài 7 km, ngang 1800 km", to quá! gõ nhầm?



  9. #7
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết
    III. Chúa Nguyễn bành trướng thế lực của người Việt tại Thủy Chân Lạp (thế kỷ 17-18 sau Công Nguyên)

    Một biến cố chính trị tại phương đông, miền cực nam nước Ðại Việt đã làm thay đổi tình thế lúc đó là sự xuất hiện của chúa Nguyễn Hoàng, truyền nhân của Nguyễn Bặc, Nguyễn Trãi và Nguyễn Kim. Chính sách Nam Tiến của các chúa Nguyễn sau đó nhằm để chống lại thế lực của chúa Trịnh ở Thăng Long tạo nên áp lực to tát cho hai lân quốc Champa và Chân Lạp.

    Trong khoảng thời gian từ năm 1611-1653 vương quốc Champa đã bị dồn nén bởi thế lực của chúa Nguyễn nên co cụm lại một vùng nhỏ từ Nha Trang đến Phan Thiết. Không dừng lại ở Champa, chúa Nguyễn bắt đầu dòm ngó đến Chân Lạp.

    Sau một thời gian ở Xiêm làm con tin, Chey Chetta II về Chân Lạp lên ngôi vương năm 1618. Tân vương cải canh mọi việc và mang lòng không không phục người Xiêm. Chey Chetta II dời đô về Oudong (Long Úc), thuộc tỉnh Kompong Luông. Tân vương tổ chức quân đội có thực lực. Mấy năm liền không thấy Chân Lạp dâng phẩm vật triều cống, Xiêm vương mang quân tấn công vào Chân Lạp hai lần đều bị quân của Chey Chetta II đẩy lui.

    Tuy nhiên về lâu về dài Chân Lạp sẽ không thể đương đầu với quân Xiêm. Chey Chetta II quyết định nhờ vào thế lực của chúa Nguyễn Ðàng Trong, lúc đó là Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635). Quốc sử Cao Miên đã chép như sau về giai đoạn này: ‘Vua Xiêm muốn tái lập uy quyền trên đất Cao Miên, nên xua binh tấn công. Năm 1623, một đạo quân từ phía Bắc xâm nhập lãnh thổ, bị quốc vương Chey Chetta II thân chinh đánh tan rã ở Bâribaur cách biển Hồ lối 50 km. Ðạo thứ hai tiến vào tỉnh P. Meas bị Hoàng đệ Prah Outey đẩy lui. Năm sau, 1624 quân Xiêm theo đường biển đổ bộ miền duyên hải, bị phản công dữ dội phải rút về. Ðể đề phòng quân Xiêm quấy nhiễu, quốc vương Chey Chetta II cưới một công chúa xứ Ðàng Trong hầu dựa vào thế lực của nhà Nguyễn ở Huế.’

    Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đã quyết định gả Hoàng Nữ Ngọc Vạn cho vua Cao Miên năm 1620. Chúa còn hai Hoàng nữ khác là Ngọc Khoa gả cho vua Chiêm Pô Romê và Hoàng nữ Ngọc Hoa lại gả cho một thân vương người Nhật Bổn.Vua Cao Miên mặt khác lại nghe truyền rằng Sãi Vương là người mộ đạo Phật, trong người có nhiều Phật tính nên muốn kết tình gia đình. Ði theo hộ tống đám cưới bà Hoàng Ngọc Vạn xinh đẹp là đông đảo quan lính người Việt của Sãi Vương trang bị khí giới, tàu thuyền có súng ống, thuyền được trang hoàng lộng lẫy hình chim phượng mạ vàng.

    Tham dự lễ cưới có nhiều người ngoại quốc từ Bồ Ðào Nha, Tây Ban Nha, Nhựt Bổn, Ý Ðại Lợi, Trung Hoa. Bà Ngọc Vạn ngồi kiệu 8 người khiêng sánh duyên với vị vua hào hùng anh tuấn. Hoàng nữ Ngọc Vạn được tấn phong Hoàng Hậu với tước hiệu là Sô Dach Prea Peaccac Vodey Prea Voreac Khsattey.

    Tiếp theo sau cuộc hôn nhân vương giả này, bà Hoàng Ngọc Vạn đã xin với Hoàng phu cho nhiều người tùy tùng nắm giữ chức quyền trong triều đình Chân Lạp. Dưới sự bảo trợ của Hoàng hậu Ngọc Vạn lưu dân người Việt từ Ðàng Trong ồ ạt theo đường biển vào lập nghiệp tại vùng Thủy Chân Lạp. Họ làm nghề nông, buôn bán, tiểu công nghiệp, đánh cá, thợ rèn v.v.. chỉ 3 năm sau, tức năm 1623 lưu dân Việt định cư tại Thủy Chân Lạp lên đến 20,000 người. Sãi vương liền viết thư cho con rể xin ‘cho mượn’ đất tại Prey Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobey (Bến Nghé) để tiện việc thâu thuế người Việt tại đây. Vua Cao Miên chấp thuận.

    Sau khi quốc vương Cao Miên băng hà chỉ sau 5 năm lấy vợ Việt, toàn vùng Bà Rịa giáp giới Chiêm Thành, Kâmpéâp Srekatrey (Biên Hòa), Prey Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobey (Bến Nghé) đều thuộc quyền người Việt cai trị và thâu thuế.

    Từ sau khi vua Chey Chetta II băng hà các hoàng tử con của các bà phi người Chân Lạp liên tiếp lên làm vua: Ponhea To (1629-1630), Ponhea Nu (1630-1640). Sau cái chết mờ ám của vua Ponhea Nu năm 1640 quan phụ chính Prah Outey (là hoàng thúc của vua) đưa con mình là Ang Non I (1640-1642) lên ngôi.

    Vào năm 1642 một người con của vua Chey Chetta II liên hiệp với người Mã Lai nổi dậy giết toàn gia hoàng thúc Prah Outey để lên ngôi xưng hiệu Ponhea Chan I (1642-1659). Sử Việt gọi vị vua này là Nặc Ông Chân. Các hoàng thân thuộc phe cánh Ang Non I vào cung bà Hoàng Thái Hậu Ngọc Vạn xin cầu viện chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (1648-1687).

    Chúa Hiền nhân cơ hội có lời yêu cầu nên hưng binh chinh phạt Chân Lạp vào tháng 10 năm 1658. Quân Chân Lạp thua to tại ngoài khơi Bà Rịa và trận Gò Bích. Quân Nguyễn tiến vào Nam Vang bắt quốc vương Nặc Ông Chân bỏ vào cũi sắt đem về tỉnh Quảng Bình. Vua Nặc Ông Chân chết tại đây. Chúa Hiền đưa Hoàng tử So con trai bà Thái hậu Ngọc Vạn lên ngôi vua lấy hiệu là Batom Réachea (1658-1672).

    Vào thời điểm này triều đình Chân Lạp hợp thức hóa chủ quyền của nhà Nguyễn tại Ðồng Nai. Năm 1672 vua Batom Réachea bị ám sát chết. Con trai là Ang Chey tức Nặc Ông Ðài lên nối ngôi. Tân vương dựa thế lực người Xiêm mang quân lấn ép vùng Ðồng Nai. Lưu dân người Việt kêu cứu triều đình chúa Nguyễn lúc đó đóng đô ở Kim Long. Chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần sai các tướng Nguyễn Dương Lâm cùng với Nguyễn Diên Thái và Văn Sùng mang quân tới tận Oudong hỏi tội Nặc Ông Ðài rồi đưa Ang Saur tức Nặc Ông Thu hiệu Chey Chetta IV, em của Nặc Ông Ðài lên ngôi Chính Vương ở Oudong Lục Chân Lạp.

    Chúa Hiền lại đồng thời cho Ang Non tức Nặc Ông Nộn con trai thứ của bà Ngọc Vạn và vua Chey Chetta II làm Thứ Vương vùng Ðồng Nai –Mô Xoài. Vua Nặc Ông Nộn đóng đô tại Sài Gòn tức Prey Nokor. Lúc đó là năm 1674. Cả hai vị vua Chân Lạp đều phải triều cống xưng thần với chúa Nguyễn tại Kim Long. Vua Nặc Ông Nộn ở Sài Gòn đến khi chết năm 1691 thì toàn quyền cai trị tại đây thuộc về chúa Nguyễn.

  10. Có 1 người thích bài viết này


  11. #8
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết
    IV. Các di thần nhà Minh xin định cư tại Thủy Chân-Lạp vùng Biên Hòa-Mỹ Tho.

    Vào năm 1679 tức năm Khang Hy thứ 18 nhà Ðại Thanh có di thần của nhà cựu Minh bên Tàu vì không cự lại quân Thanh triều đến xin hàng phục nhà Nguyễn. Bọn di thần nhà Minh gồm có Tổng binh Long Môn Dương Ngạn Ðịch, Phó tướng Hoàng Tiến, và Tổng Binh các phủ Cao, Lôi, Liêm là Trần Thượng Xuyên, Phó tướng Trần An Bình mang 3000 binh lính thủ hạ và gia quyến trên 50 chiến thuyền đến cửa Tư Dung và Ðà Nẵng xin được làm thần dân của chúa Nguyễn.

    Chúa Hiền chấp thuận cho giữ nguyên binh hàm chức tước rồi truyền cho vua Cao Miên cho phép người Minh vào định cư xứ Ðồng Nai và sau đó thay mặt cho nhà Nguyễn lấn dần đến Cần Thơ. Nhờ đợt di cư này mà ảnh hưởng của nhà Nguyễn tại đất Thủy Chân Lạp ngày càng to tát. Các tướng nhà Minh giờ làm quan cho triều đình nhà Nguyễn. Họ cũng góp phần xông pha trận mạc mở rộng lãnh thổ cho nhà Nguyễn, nổi bật là Thống Binh Trần Ðại Ðịnh con của Trần Thượng Xuyên triều chúa Ninh Vương.

    Người Minh vốn cùng văn hóa với người Việt nên hợp nhau khai hoang khẩn đất, lập chợ, xây dựng phố phường, buôn bán tấp nập. Những nơi như Gia Ðịnh, Biên Hòa, Thủ Ðức, Cần Thơ không mấy chốc trở nên sầm uất vô cùng. Triều đình nhà Nguyễn lại được dịp có thêm dân thêm đất và thêm thuế thu nhập.

    Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần băng hà năm 1687 ở ngôi 39 năm, Nghĩa Vương Nguyễn Phúc Thái (còn gọi là Trăn) lên thay (1687-1691). Nghĩa Vương dời đô về Phú Xuân (Huế). Trong thời gian chúa mới lên ngôi có một di thần nhà Minh là Hoàng Tiến giết chủ tướng là Dương Ngạn Ðịch ở Mỹ Tho rồi tự xưng là Phấn Dũng Hổ Oai Tướng Quân thống lĩnh quân sĩ Long Môn người Minh đóng đồn ở Ðịnh Tường. Hoàng Tiến thả quân qua Cao Miên cướp của giết người. Vua Cao Miên là Nặc Ông Thu bất bình vì việc làm sai quấy này và ngờ là chủ ý của Thiên Vương nhà Nguyễn. Vua Nặc Ông Thu quyết định bỏ triều cống và chuẩn bị binh lính chống lại triều đình nhà Nguyễn.

    Tháng Giêng năm 1690 Chúa Nghĩa sai lão tướng là Vạn Long mang quân đến Rạch Gầm dàn trận. Vạn Long dùng kế bắt được Hoàng Tiến rồi xua quân qua Cao Miên đánh thốc tới Nam Vang và Long Úc (thành Oudong). Vua Cao Miên cả sợ dâng 30 thớt voi, 150 lạng vàng, 600 lạng bạc, 6 con tê giác để xin hòa và giữ lệ triều cống như xưa. Quan quân nhà Nguyễn rút về Phú Xuân tháng 8 năm đó. Chúa Nghĩa không thọ lâu, ngài băng hà năm 1691 thọ 43 tuổi.

    Năm 1698 chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) sai Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh đi đánh Cao Miên và kinh lược mấy tỉnh miền nam. Lễ Thành Hầu chia cắt giới phận, canh cải địa điền, kiểm kê nhân khẩu, lập sổ đinh điền cho có nề nếp. Lúc đó toàn miền nam có dân số 40,000 gia đình (hộ) đất đai mở ra 1000 dặm. Thành quả này đạt được trong vòng 70 năm. Sự trù phú của miền nam nhờ một phần vào sự tiếp sức của di thần nhà Minh và chế độ bắt người thổ dân, các dân tộc miền núi về làm nô lệ. Theo lời kể của người phương Tây thì việc buôn bán nô lệ để giúp người Việt canh tác có cả thuế nông nô của triều đình.

    V. Căn Khẩu Quốc - Hà Tiên

    Năm 1671 có người Minh tên là Mạc Cửu quê ở Lôi Châu, Quảng Ðông mang gia quyến binh lính 400 người và 10 chiếc thuyền di cư sang Thủy Chân Lạp đổ bộ lên bờ biển Panthaimas vịnh Thái Lan. Mạc Cửu đến Oudong xin yết kiến vua Nặc Ông Thu và ở lại hợp tác giữ chức Óc Nha cho đến năm 1681. Lúc ấy thấy chính sự Chân Lạp rối ren, ông xin vua Chân Lạp cho đi khai khẩn vùng đất hoang Panthaimas. Vua thuận cho.

    Mặc Cửu chiêu tập đám cướp biển lại mở sòng bạc, chiêu mộ dân phiêu bạt chạy trốn nhà Thanh về lập nên 7 xã là: Mán Khảm (Peam), Long Kỳ (Ream), Cần Bột (Kampot), Hương Úc (Konpong Som), Sài mạt (Cheal Meas), Linh Quỳnh (Rạch Giá) và Phú Quốc (Koh Tral). Ngoài ra còn có người Ấn Ðộ, người Nam Ðảo, người Kinh, người Thái, người Cao Miên đến sinh sống. Thủ phủ đặt tại Hà Tiên tức Căn Khẩu. Mạc Cử đặt tên vùng đất của mình là ‘Căn Khẩu Quốc’. Lãnh địa này thuộc Chân Lạp nhưng vua Chân Lạp không đủ sức cai quản nên được qui chế tự trị. Không bao lâu Căn Khẩu Quốc của Mạc Cửu trở nên giàu có, người đi vào buôn bán, cờ bạc, đổi chác tấp nập.

    Thấy kinh tế vùng Căn Khẩu nổi lên như sóng vua Xiêm chuẩn bị thôn tính vùng đất này. Năm 1678 quân Xiêm tràn sang cướp phá bắt Mặc Cửu và gia quyến về Muang Galapuri (Vạn Tuế Sơn). Hai năm sau nhân lúc nước Xiêm có loạn ông mang quyến thuộc trốn về lại Căn Khẩu. Ông lại bắt tay khôi phục lại Căn Khẩu. Mạc Cửu nhiều lần xin triều đình Chân Lạp cứu nhưng Vương triều Chân Lạp lúc đó quá yếu, tự giữ mình còn không xong nên từ chối không thể giúp gì cho họ Mạc.

    Năm 1711 Mạc Cửu cùng tùy tùng là Trương Cầu, Lý Xá mang vàng lụa đến gỏ cửa Khuyết ở Huế xin thần phục chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1691-1725). Mạc Cửu được giữ chức Tổng Binh toàn quyền cai trị xứ Căn Khẩu mà không phải nộp thuế cho triều đình.

    Nghe được tin này vua Xiêm cho 20,000 quân tấn công Căn Khẩu quốc, một thuộc địa mới của nhà Nguyễn. Mạc Cửu thua chạy về Gia Ðịnh xin triều đình Huế cứu giúp. Quân Triều Nguyễn đánh đuổi người Xiêm đi và trả lại toàn vẹn đất đai cho Mạc Cửu cai trị nhưng đổi tên Căn Khẩu thành Hà Tiên Trấn với mục đích lưu lại dấu ấn của triều đình họ Nguyễn.

    Sử Cao Miên chép về chuyện này như sau: ‘Năm 1710, sau khi quốc vương Thomo Réachea bỏ thủ đô, Nặc Ông Em lên ngôi. Ðây là lần thứ nhì ngài trị vì. Trong ba năm 1711-1716 và 1722, ngài đẩy lui ba lần tấn công của Thomo Réachea nhờ quân Xiêm trợ giúp. Ngài nhờ triều đình Huế che chở và giúp về mặt quân sự. Ngài phó thác việc phòng thủ các tỉnh Peam (Hà Tiên), Kampot, Kampong Som cả cù lao Phú Quốc cho một người Trung Hoa tên Mạc Cửu. Họ Mặc gốc người Quảng Ðông di cư sang Cao Miên sau khi bị nhà Thanh lật đổ. Ông gầy dựng được sự nghiệp to tát nhờ mở sòng cờ bạc. Ông xây dựng một pháo đài ở Peam, tuyển mộ quân sĩ và thủy thủ. Có lần một hạm đội Xiêm đến gần thị trấn định đổ bộ giúp Thomo Réachéa bị quân Mặc Cửu tiêu diệt gần hết. Tuy nhiên đến năm 1715, Mặc Cửu qui phục chúa Nguyễn, quốc vương Ang Em thuận cho người Việt Nam kiểm soát bờ biển từ miền Nam đến Xiêm. Về sau hoàng triều Cao Miên lấy lại quyền hành trực tiếp hai tỉnh Kampot và Kompong Som, nhưng tỉnh Peam (Hà Tiên) và cù lao Phú Quốc vẫn còn bị hậu duệ của Mặc Cửu cai trị cho vua Việt Nam’.

    Mùa hạ năm 1735 Mạc Cửu chết, hưởng thọ 81 tuổi. Ninh Vương Nguyễn Phúc Thụ (có sử ghi là Trú:1725-1739) phong ông làm Khai Trấn Thượng Trụ Quốc Ðại Tướng Quân, tước Cửu Lộc Hầu. Ðến đời Minh mạng được phong làm Thần hiệu là Thọ Công Thuận Mỹ Trung Ðẳng Thần. Năm 1738 chúa Nguyễn Phúc Thụ ban cho dòng họ Mạc ‘Thất Diệp Phiên Hàn’ (bảy chữ quí tộc) nối đời vinh hiển là: Thiên, Tử, Công, Hầu, Bá, Tử, Nam. Con trai Mạc Cửu là Mạc Thiên Tứ lên nối quyền cai trị Hà Tiên. Con của Tứ là Mạc Công Du, Con của Du là Mạc Hầu Lâm, con của Lâm là Mạc Bá Bình, con của Bình là Mạc Tử Khâm, con của Khâm là Mạc Nam Lan. Bà Nam Lan tuyệt tự hết người thừa kế nhưng cũng vừa tròn bảy chữ vua ban.

  12. Có 2 người thích bài viết này


  13. #9
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết
    VI. Vùng đất Méso-Longhor tức Mỹ Tho, Vĩnh Long

    Năm 1731 quân Chân Lạp đánh Gia Ðịnh. Ninh Vương sai Tướng Trương Phước Vĩnh và Cai Cơ Ðạt Thành cùng tướng quân Trần Ðại Ðịnh (con của Trần Thượng Xuyên người Minh) đem quân ra chống đỡ. Cai Cơ Ðạt Thành bị quân Cao Miên giết ở Bến Lức. Trần Ðại Ðịnh mang quân bản bộ Long Môn đắp đồn Cây Mai ở Sài gòn để cầm cự. Cai đội Nguyễn Cửu Triêm đem quân cứu ứng đến Bến Lức, quân Miên lại rút về Tân An.

    Tháng 4 năm 1731 Trần Ðại Ðịnh đánh vào Lovek (La Bích). Cha con quốc vương Chân Lạp là Nặc Yêm (Ang Em)Nặc Tha (Satha II) xin nhường đất Mésa (Mỹ Tho) và Longhor (Dinh Long Hồ tức Vĩnh Long bây giờ) để cầu hòa. Chúa Nguyễn sai khổn thần đo đạt đặt thành Châu Ðịnh Viễn và dinh Long Hồ. Riêng Trần Ðại Ðịnh có công không có thưởng lại bị tội. Vốn Ninh Vương nóng lòng chiến thắng nhưng nghe tin Ðại Thành tử trận nên viết thư quở Phước Vĩnh. Phước Vĩnh hãi quá đổ hết tội cho Trần Ðại Ðịnh là người Hoa mưu phản xin mang ra xử trảm. Trần Ðại Ðịnh trốn chạy nhưng không về Quảng Ðông mà ra Huế kêu oan. Chúa sai bỏ vào ngục chờ điều tra rồi mới xử. Khi điều tra ra việc Phước Vĩnh vu oan thì Trần Ðại Ðịnh vì buồn rầu nên bị ốm nặng đã chết. Ninh Vương truy tặng Ðại Ðịnh hàm Ðô Ðốc Ðồng Tri thụy là Trương Mẫn. Trương Phước Vĩnh bị gián xuống làm Cai Ðội.

    VII. Mạc Thiên Tứ nới rộng thêm lãnh thổ cho Nguyễn Vương Ðàng Trong.

    Mạc Thiên Tứ cai trị trấn Hà Tiên rất thịnh vượng. Tứ mở văn đàn làm thơ, phổ nhạc, vịnh phú, lập Chiêu Anh Các để chiêu nạp nhân tài. Về võ công Tứ cũng lẫy lừng không kém. Năm 1739 Tứ dẹp tan một trận tấn công của vua Cao Miên. Năm 1747 Tứ dẹp yên bọn cướp biển ở Long Xuyên.

    Năm 1753 vua Cao Miên là Nặc Ông Nguyên (Ang Snguôn) hà hiếp người Chăm từ Chiêm Thành tị nạn Việt Nam qua Cao Miên đồng thời thông mưu với chúa Trịnh ngoài Bắc để đánh úp chúa Nguyễn đòi lại đất đai đã mất. Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1739-1765) sai Nguyễn Cư Trinh hưng binh đánh Cao Miên mùa hạ năm 1754. Binh triều đi tới sông Vàm Cỏ thì quân địch cả sợ ra hàng. Nặc Nguyên chạy ra Vĩnh Long.

    Ở vùng Vàm cỏ Nguyễn Cư Trinh chiêu dụ người Chăm tị nạn bây giờ không nơi nương tựa có tới 10,000 người và hộ tống họ đi về Ðồng Tháp Mười (Tà Vô Ân). Ở đây phục binh của vua Cao Miên ùa ra đánh giết người Chăm chết mất 5000 người. Quân tiếp ứng của ông Thiện Chính đến không kịp để cứu. Về sau Vũ Vương giáng ông Thiện xuống làm Cai Ðội.

    Nguyễn Cư Trinh cứu được 5000 người Chăm cho về định cư ở núi Bà Ðen, Châu Ðốc. Nguyễn Cư Trinh lại tuyển người Chăm khoẻ mạnh đưa cho khí giới thúc họ đi tiên phong đánh quân Cao Miên. Quân triều đi sau ủng hộ. Thanh thế to lớn nên vua Cao Miên bỏ chạy xuống Hà Tiên nhờ Thiên Tứ cứu mạng.

    Vua Cao Miên nhờ Tứ xin với Võ Vương cho dâng hai phủ Tầm Bôn (Gò Công) và Lôi Lập (Tân An) để chuộc tội. Chúa Nguyễn thuận cho và truyền cho nhập vào châu Ðịnh Viễn. Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát cho vua Cao Miên Nặc Ông Nguyên về nước.

    Vua Cao Miên là Nặc Ông Nguyên băng hà năm 1758. Dòng họ vua Cao Miên tranh nhau làm vua. Mạc Thiên Tứ giúp cho Nặc Ông Tôn làm vua nên được tặng Tầm Phong Lâm (Meat Chruk) tức Châu Ðốc và Sa Ðéc. Nội chiến ở Cao Miên vẫn không dứt. Các vua Cao Miên lại sang triều Nguyễn dâng đất cầu cứu. Thế là Nặc Ông Thuận (Thommo Réchea) hiến Sóc Trăng, Bạc Liêu. Nặc Ông Tôn (Ang Tong) hiến hết đất từ núi Thất Sơn, Sa Ðéc, Kiên Giang và Long Xuyên về sau đều thuộc chủ quyền chúa Nguyễn.

    Từ đây chấm dứt cuộc nam tiến của dân tộc Việt nam. Cuối triều Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát có quyền thần là Trương Phúc Loan ra mặt thao túng. Võ Vương băng hà năm 1765, Trương Phúc Loan phế bỏ tự quân là Phúc Côn lập Ðịnh Vương Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777) 12 tuổi lên ngôi mở đường cho mầm loạn lạc về sau. Sự việc sẽ nói ở phần sau.

    VIII. Luận về những khía cạnh văn hóa ngoài phạm vi đất đai.

    Ðến đây dân tộc chúng ta đã tạm dừng chân sau một cuộc hành trình dài. Khởi nguồn từ miền Nam Trung Hoa khu vực rộng lớn phía Nam sông Dương Tử ở một quá khứ xa xôi. Những di dân người Việt vào thế kỷ 17 đã lần đầu tiên nhìn thấy đồng bằng sông Mékong.

    Tại đây có đồng bằng, sông lạch, rồi lại đồng bằng. Nhiều đồng bằng hơn cả đồng bằng sông Hồng, một vùng đất duy nhất tổ tiên chúng ta có thể biết được để so sánh. Ðối với một dân tộc sống nhờ vào trồng lúa ngập nước thì vùng đất này là ‘vàng’. Khi mà nhà Thương Trung Quốc ngày xưa chỉ có 70 dặm mà xưng Ðế thì chúa Nguyễn và dân tộc Việt Nam vào thế kỷ 17 đã có 1000 dặm dư đồ. Một ngàn dặm vàng. Một thành quả không nhỏ.

    Miền nam có một khí hậu không bao dung cho nhiều người đến từ phương bắc. Ở đây mưa triền miên 6 tháng rồi lại nắng liên tục 6 tháng. Ðầm lầy đầy những muỗi mồng rắn rít cực độc. Rừng rậm nhiều lau sậy chứa đựng những hiểm nguy khôn lường, những ác thú như cọp, gấu, cá sấu có thể giết và ăn thịt người. Sau rừng cây ẩn hiện những người đờn thổ đen đúa trần truồng tâm tính bất tường đối với chúng ta.

    Rất có thể những người thổ dân tại đây có những bùa mê ngải lú mà chúng ta không biết? Lo âu! Cả một vùng đất hoàn toàn xa lạ mà những thần linh quen thuộc dường như không còn quyền phép để nhường chỗ cho những quyền lực thần bí khác. Chúng ta có thể phần nào cảm thông được nỗi lo sợ của những người Việt đầu tiên đến đây theo lịnh của chúa Sãi qua câu ca dao xưa: ‘Tới đây non nước lạ lùng, nghe tiếng chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo’.

    Theo sử liệu triều Nguyễn thì vùng đất mới miền Nam gần như hoang vu, có chăng chỉ là rải rác những srok của người Khmer. Srok tiếng Khmer có nghĩa là vương quốc nhưng cũng lại có nghĩa là một vùng mà cư dân có thể đi lại bằng chân. Tương tự như chúng ta dùng danh từ nước để chỉ nước uống và quốc gia. Tuy thế đơn vị srok vào thời đó lại không có nhà thương, trường học, đạo giáo thì tùy tâm, quan lính thỉnh thoảng mới đến chỉ để thâu thuế và vua thì xa.

    Vào thế kỷ 17, vương quốc Chân Lạp ở giai đoạn suy yếu. Một giai đoạn suy yếu đã kéo dài từ thế kỷ 13 sau hơn 1000 năm thành công theo văn hóa Bà La Môn giáo (Hindu). Nhưng với tình thế thay đổi nhanh chóng nền văn hóa cổ này với những hệ lụy đẳng cấp bất di dịch không còn thích hợp với không khí chính trị nơi đây.

    Người Khmer, trong sự lấn cấn sau khi thất thủ đế đô Angkor đã từ bỏ Bà La Môn giáo để thay vào đó bằng Phật giáo, vốn cũng đã từng tồn tại song song với Bà La Môn giáo nhưng giờ lại trở nên có nhiều ưu thế hơn trong hoàn cảnh mới đầy loạn lạc.

    Khác với Bà La Môn giáo là đạo thật sự của giới quí tộc cầm quyền mà thôi vì nó giúp cho giới này duy trì quyền lực, Phật giáo tạo một cảm giác bình đẳng cho mọi người. Thế nhưng vương quốc Khmer vẫn không thể tạo lại nét huy hoàng quá khứ. Văn hóa Phật giáo cân bằng sự khắc khe của Bà La Môn giáo nhưng lại mang tính chấp nhận hiện tại như một định mệnh ‘karma’.

    Tại miền Nam những dấu vết của một đế quốc Phù Nam được dựng lên bởi những võ công bằng thủy quân, một nền kinh tế cường thịnh nhờ thương mãi đã theo những di tích xa xưa chôn vùi trong lớp bùn đất tại Óc Eo. Người di dân Việt Nam sau cùng đã đến đây để chinh phục vào thế kỷ 17.

    Người Việt sau 4000 năm Nam tiến giờ đã mang trong mình nhiều dòng máu pha trộn của người Việt cổ, Lạc hầu lạc tướng gốc Mường, Hán tộc, Chăm, Nam đảo-Malay-Polynésiên và giờ đây những cuộc hôn nhân giữa Việt-Cao Miên lại cho chúng ta yếu tố Môn-Khmer trong dòng máu người miền Nam.

    Dù không đem thành bại luận anh hùng, yếu tố quyết định cho sự thành công hay thất bại của một dân tộc vẫn là yếu tố văn hóa. Ðặt biệt là văn hóa tổ chức. Di dân Việt Nam là một tạp chủng về mặt huyết thống nhưng văn hóa lại là văn hóa Khổng-Mạnh của Trung Hoa đề cao sự học và phục tùng mệnh lệnh. Vì đề cao sự học nên không có phân chia đẳng cấp vĩnh viễn của Bà La Môn giáo. Một người bần dân nếu học giỏi vẫn trở thành Công Hầu vinh hiển trong một kiếp người và ngược lại từ Công Hầu có thể trở thành ‘Cai Ðội’ ngay nhãn tiền nếu bất tuân thượng lịnh. Thêm vào đó người Việt Nam lại cũng có thêm chút đỉnh Phật giáo nhưng đa phần là đạo thờ tổ tiên và vai trò phụ nữ trong gia đình vẫn hãy còn mạnh. Một chút gì sót lại của chế độ mẫu hệ mà người Chiêm Thành và người Việt cổ cùng chia sẻ.

    Ðến đây chúng ta có cảm tưởng chỉ có một hướng đi xuống phương nam mà thôi. Thực ra không phải thế. Từ thượng cổ trước thời điểm có sự phân chia quốc gia, Hán tộc tức người Tàu hay Trung Hoa chỉ tập trung ở khu vực sông Hoàng Hà, cái nôi của nền văn minh Trung Hoa. Chung quanh họ lúc đó không phải là đất hoang mà là nơi tập trung của những giống dân khác trong đó có Việt tộc. Người Việt cổ, cứ coi là man di thật sự đi, đã cộng cư với những giống dân ‘man di mọi rợ’ anh em khác như Chăm cổ, Malay-Polynesien cổ từ phía nam kéo lên phương bắc.

    Trong giai đoạn khủng hoảng tranh chấp giữa nhóm người ‘văn minh’ với hào quang của những tiến bộ của người Hán, nhóm người ‘man di’ anh em trở thành thù địch. Thù địch rồi lại trở thành anh em để chống lại Hán tộc. Chiến tranh rồi lại hoà bình. Hoà bình rồi lại chiến tranh. Cứ thế từng đợt người lại kéo ngược về phương nam chinh phục những vùng đất cũ giờ lại thành ‘mới’. Ðến đầu thề kỷ 19 nền văn hóa Phật-Khổng Mạnh lại bị văn hóa của người Pháp da trắng từ xa đến chinh phục.

  14. Có 1 người thích bài viết này


  15. #10
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết
    Một cái nhìn về lịch sử Campuchia

    Ralph Smith (1939 - 2000) là giáo sư chuyên ngành lịch sử Đông Nam Á tại trường nghiên cứu phương Đông và châu Phi, London (School of Orientaland African Studies).
    Một trong những bài tiểu luận cuối đời của ông, xuất bản năm 1998, có tựa đề “Cambodia” and “Vietnam” in a regional perspective(16th –19 Centuries)[“Campuchia” và “Việt Nam” trong cái nhìn khu vực (thế kỷ 16-19)]

    Trong bài này, Ralph Smith cho rằng vấn đề Campuchia thế kỷ 20 cần được nhìn từ góc độ lịch sử cổ xưa hơn (cụ thể là những gì xảy ra từ giữa thế kỷ 16 đến cuối 18) và trong tương quan so sánh với tình hình các nước Đông Nam Á khác trong giai đoạn “tiền thuộc địa”.

    Bài viết cung cấp nhiều tư liệu xung quanh mối quan hệ phức tạp giữa Campuchia và các vương quốc láng giềng trong thời kì mà vấn đề cương vực còn chưa ổn định. Có thể xem đâylà một tài liệu tham khảo, và những nghiên cứu sau này có thể giúp khẳng định hay phủ nhận quan điểm của Ralph Smith.


    Thời hậu Angkor

    Giai đoạn Angkor trong lịch sử Campuchia kéo dài từ đầu thế kỷ Chín đến đầu thế kỷ 15 sau Công nguyên. Giữa thế kỷ 15, sau đợt tàn phá của vương quốc Ayutthaya của Thái Lan, khu vực Angkor chấm dứt thời kì là thủ đô.
    Người Khmer thành lập một thủ đô mới cách địa điểm mà ngày nay là Phnom Penh mấy trăm kilô mét về phía Đông Nam.(*)

    Vua Ang Chan (1516 – 1567) sau đó chuyển thủ đô về Lovek, nằm trên bờ sông Tonle Sap, phía bắc Phnom Penh.
    Nhưng năm 1594, vương quốc Ayutthaya một lần nữa tấn công và tàn phá Lovek. Lịch sử Campuchia mô tả sự sụp đổ của Lovek như mở đầu của một thảm họa mà Campuchia không bao giờ vượt qua.

    Tại Campuchia, giai đoạn từ 1595 đến 1599 đầy ắp các sự kiện sôi động. Sự sụp đổ của Lovek tạo cơ hội cho sự can thiệp của phương Tây. Tây Ban Nha đã thiết lập sự có mặt của họ ở Đông Nam Á từ trước đó: Manila được thành lập năm 1572. Hai nhân vật chính trong nỗ lực của Tây Ban Nha muốn mở rộng ảnh hưởng xuống lưu vực sông Mêkông là Blas Ruiz de Hernan Gonzales và Diogo Veloso.

    Cả hai người này đều đã sống ở Lovek trước khi nó rơi vào tay người Thái. Năm 1596, họ dẫn một nhóm quân Tây Ban Nha quay về Campuchia để phục hưng cho ngôi vua của Satha (vị vua của Campuchia đã chạy trốn khi Lovek sụp đổ.) Họ đặt một đứa con của Satha lên ngôi vua năm 1597. Nhưng mọi hi vọng biến nước này rơi vào ảnh hưởng của Tây Ban Nha tan thành mây khói khi chỉ hai năm sau, đoàn quân Tây Ban Nha bị hạ sát toàn bộ và vị vua mới bị hạ bệ bởi một phe khác có sự ủng hộ của cộng đồng người Mã Lai.

    Nếu người Tây Ban Nha đã thành công, nó cóthể đã dẫn đến sự phát triển sau này của Phnom Penh như một trung tâm buôn bán mới ở biển Nam Trung Hoa.

    Tiềm năng buôn bán

    Trong nửa đầu thế kỷ 17, người ta thấy có thêm lý do để xem Campuchia trong giai đoạn này có tiềm năng thuộc về một Đông Nam Á “khu vực biển” thay vì nhất thiết rốt cuộc bị đóng cửa trước các phương thức buôn bán ở biển Nam Trung Hoa.

    Một sự ổn định tương đối trở lại với việc thành lập một thủ đô mới tại Oudong của vua Chay Chettha II (giaiđoạn 1618-1628). Để cân bằng ảnh hưởng từ vương quốc Ayutthaya của Thái Lan, ông khuyến khích quan hệ với triều đình nhà Nguyễn, và cho phép số lượng nhỏ ngươi Việt đến sống gần nơi sau này là Sài Gòn.Người Hà Lan mở một nhà máy ở Oudong năm 1620, và mặc dù sau đó nhà máy đóng cửa, nhưng các thương nhân nước họ vẫn tiếp tục buôn bán ở đây.

    Từ năm 1628 đến 1642, quyền lực tại triều đình Oudong nằm trong tay Hoàng thân Outey. Trong nhiều năm, Oudong hưởng sự độc lập, không lo các sức ép quân sự từ bên ngoài. Người Hà Lan vẫn buôn bán ở Campuchia, cùng người Bồ Đào Nha, Trung Quốc, cùng các thương nhân Việt Nam và Mã Lai. Từ năm 1636, người Hà Lan, theo sau việc Nhật Bản đóng chặt cửa với phương Tây ngoại trừ Hà Lan, đã tìm cách mở rộng hoạt động ở Lovek bằng việc không chỉ mua gạo mà cả các sản phẩm gỗ của Campuchia.

    Nhưng đột nhiên năm 1642, hoàng thân Outey và con trai bị lật đổ bởi một phe nhóm có sự ủng hộ của người Chăm và Mã Lai. Vị vua mới, Ram Thupdey Chan (trị vì 1642-1658) lấy một người vợ Mã Lai và cải sang đạo Hồi: một diễn biến nên được xem trong hoàn cảnh cải đạo Hồi, gần như cùng thời, của nhiều người Chăm ở khu vực mà hiện nay là miền trung Việt Nam. Vị vua mới không thân thiện với người Hà Lan và năm 1643, một nhóm người Hà Lan bị bao vây và hạ sát khi họ đặt chân tới Oudong.

    Cuộc xung đột chấm dứt việc buôn bán của Hà Lan, và những nỗ lực tái phục hồi sau năm 1654 cũng không thành công. Vào thời điểm này, có thể nói viễn cảnh của một nước Campuchia Hồi giáo là có thể. Cuối cùng, không phải người Hà Lan, mà là Việt Nam, đã ngăn viễn cảnh đó xảy ra. Năm 1658, các con trai còn sống của Outey nổi loạn chống Ram Thupdey Chan, và tạo điều kiện cho nhà Nguyễn trực tiếp can thiệp vào chính trị Campuchia.

    Diễn biến sau 1658

    Thập niên 1590 cũng đầy biến động tại Việt Nam, nơi hàng thập niên nội chiến giữa nhà Mạc ở Hà Nội và liên minh Trịnh-Nguyễn ở Thanh Hóa đã kết thúc với thất bại của nhà Mạc năm 1592. Năm 1599, tranh chấp giữa Trịnh Kiểm và Nguyễn Hoàng khiến Nguyễn Hoàng phải lui khỏi Thăng Long và bắt đầu xây dựng căn cứ riêng về phía Nam.Một phần sức mạnh của những người kế vị Nguyễn Hoàng sau này là việc buôn bán nhộn nhịp tại Hội An. Lợi nhuận từ đây giúp nhà Nguyễn duy trì sự độc lập khỏi nhà Trịnh trong hơn một thế kỷ rưỡi, cũng như mở rộng về khu vực mà khi đó còn là vùng hạ Campuchia (Thủy Chân Lạp).

    Khi chúa Trịnh quyết định vào năm 1627 phải thiết lập kiểm soát các tỉnh “phản loạn”, nhiệm vụ này hóa ra khó khăn hơn họ dự liệu. Chiến dịch đầu tiên của nhà Trịnh thất bại, và vào đầu thập niên 1630, phe nhà Nguyễn củng cố sức mạnh phòng thủ với việc xây lũy Đồng Hới ở tỉnh Quảng Bình. Năm 1634, cósự giúp sức của người Bồ Đào Nha, nhà Trịnh vẫn thất bại. Ba năm sau, người Hà Lan buôn bán ở Đông Kinh và kết quả là nhà Trịnh nhờ họ giúp. Nhưng ngay cả sự hỗ trợ này cũng không giúp phía Bắc có lợi thế vào năm 1642-1643 khi một chiến dịch khác phải hủy bỏ sau khi các tàu Hà Lan bị đánh chìm.

    Triều đình Nguyễn tiếp tục tồn tại sau các chiến dịch khác trong ba mươi năm kế tiếp, trước khi nhà Trịnh hoàn toàn từ bỏ nỗ lực đánh chiếm. Kết quả của cuộc xung đột này có những tác động sâu sắc cho lịch sử sau đó của cả Việt Nam và Campuchia. Giả sử chúa Trịnh thành công trong việc thống nhất và duy trì thủ đô ở Hà Nội, có lẽ họ sẽ không có nhiều nhu cầu can dự vào chính trị nội bộ tại Oudong; và những người định cư người Việt hướng về nam có thể đã không có sự bảo vệ chính thức khi họ cư ngụ tại vùng Thủy Chân Lạp. Còn khi cuộc xung đột tạm dừng ở thế bất phân thắng bại, nhà Nguyễn có lý do để hướng về nam tìm thêm đất. Sự can dự của triều Nguyễn vào cuộc xung đột quyền lực tại Oudong năm 1658-1659 đánh dấu sự khởi đầu của một sự bành trướng về mặt hành chính.

    Kết quả tức thời của sự can thiệp lần một là vua Ang Sor (trị vì 1659-1672) đồng ý nộp triều cống cho triều Nguyễn ở Huế và cấp phép sử dụng đất đầy đủ cho người Việt mà đã định cư ở vùng Thủy Chân Lạp. Vị vua này bị ám sát năm 1672 và các xung đột lại nổ ra, khiến người Việt một lần nữa can thiệp. Kết quả sau đó là có một vị vua mới, Chay Chettha III, tìm cách độc lập khỏi ảnh hưởng nhà Nguyễn. Nhưng nhà Nguyễn lại ủng hộ một triều đình đối địch tại Prey Kor (sau này là Sài Gòn), do Ang Non đứng đầu cho tới năm 1691. Như vậy, đến thập niên 1680, sự kiểm soát của Campuchia tại hạ lưu sông Mêkông đã bắt đầu giảm bớt. Vào thời điểm này, vai trò của người Hoa cũng trở nên quan trọng.

    Tại Trung Quốc, sự sụp đổ của nhà Minh dẫn đến làn sóng người Minh Hương tại vùng Đông Nam Á. Ba nhóm di dân Trung Hoa đến vùng Thủy Chân Lạp vào khoảng năm 1680. Một nhóm của Mạc Cửu được triều đình Campuchia ở Oudong cho phép đặt căn cứ tại Hà Tiên. Hai nhóm khác ban đầu đến triều đình Nguyễn ở Phú Xuân, nhưng được khuyến khích sang sống tại Biên Hòa và Mỹ Tho trong địa phận của hoàng tử Ang Non thân Việt Nam kiểm soát. Không kể sự can dự thỉnh thoảng vào tình hình chính trị Campuchia, thì những người di dân Trung Quốc đã đóng vai trò trong việc phát triển các khu vực của riêng họ độc lập với thủ đô chính của Campuchia, và họ cũng tham dự vào thương mại.

    Năm 1693, nhà Nguyễn tiến chiếm nơi mà sau đó là tỉnh Bình Thuận; giờ đây họ sẵn sàng mở rộng quyền kiểm soát hướng về đồng bằng Mêkông. Năm 1699, một sự can thiệp khác vào triều chính Oudong đi kèm với việc kiểm soát Sài Gòn và thiết lập hai tỉnh Biên Hòa và Gia Định. Các diễn biến tương tự dẫn đến việc nhà Nguyễn kiểm soát Mỹ Tho và Vĩnh Long năm 1732; Châu Đốc, Sa Đéc, Trà Vinh và Sóc Trăng năm 1757. Trong khi đó, khoảng năm 1714, người Trung Quốc thành lập Hà Tiên đã từ bỏ sự trung thành với Oudong và bắt đầu cống nạp cho Huế. Hà Tiên lúc này đã trở thành một cảng buôn bán tấp nập. Mặt khác, từ góc nhìn của Campuchia, thì những sự phát triển này đã tạo nên một vương quốc Campuchia phân tán, không tránh khỏi sự can thiệp của Thái Lan và Việt Nam, và -quan trọng nhất – ngày càng bị tách khỏi hoạt động buôn bán trên biển Nam Trung Hoa.

    Sự giảm tầm quan trọng của Campuchia, từ góc nhìn Trung Quốc, được phản ánh qua các sứ bộ cống nạp từ các vương quốc Đông Nam Á. Nhà Thanh đã phục hồi hệ thống cống nạp vào thập niên 1660, nhưng đến lúc đó thì Campuchia không còn được xem là một nước đủ tư cách gửi triều cống.

    Nhìn về Đông Nam Á thế kỷ 17-18

    Kinh nghiệm của Campuchia từ cuối thế kỷ 16 đến cuối thế kỷ 18 không phải là duy nhất tại Đông Nam Á cùng thời kì. Ralph Smith cho rằng hai thế kỷ này – chứ không phải thế kỷ 19 – mới là thời kì hình thành mô hình địa chính trị của khu vực này thời “hiện đại”. Nó áp dụng cho Miến Điện, Xiêm và Việt Nam; và cho cả Philippines, với vai trò của Tây Ban Nha. Ngay cả mô hình thống nhất của nước Indonesia hiện đại cũng có thể được xem là bắt đầu từ những sự kiện thế kỷ 17và 18.

    Trong trường hợp Miến Điện, Xiêm, Việt Nam và Philippines, sự phát triển chủ yếu là sự xuất hiện của một thủ đô duy nhất đủ mạnh để duy trì quyền kiểm soát hành chính với toànbộ khu vực mà sẽ là diện tích “quốc gia”. Một số đặc điểm của sự kiểm soát đó - như các phương tiện liên lạc nhanh chóng, và hình thức kiểm soát tàI chính kiểu phương Tây – chỉ xuất hiện ở giữa thế kỷ 19 hoặc muộn hơn. Nhưng các bước cần thiết cho sự thống nhất đã cótừ trước đó. Các bước này đòi hỏi nhà vua (và các cận thần) phảikết hợp cả hai nguồn tài nguyên: một mặt, các vùng sản xuất gạo và cung cấp nhân lực; mặt khác, là lợi nhuận (dưới hình thức thuế hay thậm chí hối lộ) đến từ buôn bán với bên ngoài.

    Trong số các vương quốc lâu đời ở vùng Đông Nam Á lục địa, chỉ riêng Campuchia là có độc nhất một nguồn tài nguyên giúp cho sự xuất hiện của một thực thể chính trị “hiện đại”: đó là vùng sản xuất gạo, bao bọc bởi rừng. Campuchia thiếu đi một thành tố khác: một cảng buôn bán lớn, nơi người Hoa và có thể cả các thương nhân châu Âu có thể tham gia hoạt động, và nhờ đó đem lại lợi nhuận cho triều đình bản địa. Cho đến mãi giữa thế kỷ 17, có lẽ Campuchia vẫn còn có thể phát triển và mở rộng buôn bán đường biển.Nhưng sau đó, một loạt các yếu tố đã khiến cho khả năng đó không thành. Đến giữa thế kỷ 19, người Anh và Pháp quan tâm nhiều hơn đến các cảng của Xiêm và Việt Nam; Campuchia chỉ còn là một “lối đi sau”dẫn vào Trung Quốc thông qua sông Mêkông.

    Ralph Smith kết thúc bài tiểu luận rằng:“Đôi khi người ta nói việc Pháp lập chế độ bảo hộ ở Campuchia năm 1863 đã “cứu” Campuchia khỏi sự diệt vong hoàn toàn bởi các láng giềng. Nhưng người ta có thể phản bác rằng quyết định của Pháp lập cảng Sài Gòn sau năm 1860 là một giọt nước tràn ly, hủy bỏ mọi viễn cảnh lâu dài về một nước Campuchia thật sự độc lập.”
    .................................................. .................................................. ...
    Toàn văn bài tiểu luận của Ralph Smith introng quyển Guerre et paix enAsie du Sud-Est, do Nguyễn Thế Anh và AlainForest hiệu đính, Paris, Editions L'Harmattan, 1998.
    ______

    (*) Người Khmer thành lập một thủ đô mới cách địa điểm mà ngày nay là Phnom Penh mấy trăm kilô mét về phía Đông Nam.
    Sau Angkor thì thủ đô của Khmer là Lovek và Udong cách Phom Penh khoảng 30 km về phía bắc. Chỗ này tác giả có thể nhầm lẫn hoặc lỗi dịch thuật chăng?

  16. Có 1 người thích bài viết này


Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •