CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 1 của 12 12311 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 116

Chủ đề: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

  1. #1
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    [center:ctv4j0ta]Tôn Trung Sơn và kế sách mỹ nhân[/center:ctv4j0ta]

    Trong lịch sử thế giới, những mỹ nhân được các nhà cầm quân tài ba khai thác như một vũ khí vô cùng lợi hại với những thủ đoạn hết sức tinh vi. Đến ngay cả một người được coi là Quốc phụ Trung Hoa như lãnh tụ Tôn Trung Sơn cũng đã từng sử dụng kế sách này. Mặc dù chỉ ra tay có 1 lần nhưng kết quả mà người lãnh đạo cuộc cách mạng Tân Hợi - Tôn Trung Sơn đạt được lại vô cùng to lớn.


    Đòn hiểm

    Từ ngàn xưa, người đẹp được ví như nước, anh hùng được ví như bùn và nước thì làm cho bùn... nhão ra. Do vậy đa số anh hùng vì đã thương hoa tiếc ngọc nên bỏ lãng nhiệm vụ. Thậm chí có người đã mất nước bởi mỹ nhân kế.

    Trải dài trong lịch sử của đất nước Trung Hoa, Tây Thi là nữ gián điệp được dùng làm mỹ nhân kế đầu tiên và nổi tiếng nhất trong lịch sử nước này. Đứng đầu trong Tứ đại mỹ nhân, Tây Thi được Việt Vương Câu Tiễn gửi sang nước Ngô nhằm mê hoặc Ngô Vương Phù Sai. Kết quả, Phù Sai mất nước, phải tự sát. Tây Thi hoàn thành sứ mệnh, vẻ vang trở về cố quốc.

    Không chỉ có Tây Thi, cách thức sử dụng những người đẹp cũng như sự hấp dẫn của họ là không bao giờ có giới hạn và sức mạnh của mỹ nhân kế đã được chứng minh trên thực tế có lúc còn lớn hơn sức mạnh cả trăm nghìn người lính trên chiến trường. Hiểu rõ được lợi ích đó, nhà cách mạng Tôn Trung Sơn với sự nghiệp cách mạng vẻ vang trước đó đã quyết định sử dụng kế sách này mặc dù đã gặp phải rất nhiều phê phán cho rằng: Đó là kế sách đê tiện.

    Quay lại thời điểm khi Tôn Trung Sơn quyết định dùng mỹ nhân kế, khi chiến tranh lần thứ nhất nổ ra, Trung Quốc vẫn giữ thái độ trung lập cho tới khi Mỹ thúc giục tất cả các quốc gia trung lập tham gia với đồng minh. Đoàn Kỳ Thụy khi đó với tư cách là nhà lãnh đạo nhiều quyền lực nhất tại Trung Quốc đã ủng hộ mạnh mẽ việc gia nhập đồng minh, bởi vì ông ta sẽ lợi dụng cơ hội đó để có được những khoản vay từ Nhật Bản, phục vụ cho những kế hoạch riêng của mình. Đoàn Kỳ Thụy đã cho giải tán nghị viện ngay khi lên chức Thủ tướng và chính thức tuyên chiến với Đức, áo - Hung vào ngày 13/8/1917. Chính sự coi thường hiến pháp của Đoàn Kỳ Thụy đã khiến Tôn Trung Sơn kêu gọi thành lập một chính phủ mới ở Quảng Châu để chống lại sự lạm dụng quyền lực của Đoàn Kỳ Thụy.

    Tuy nhiên, tại tỉnh Quảng Châu khi đó có một tỉnh trưởng đương nhiệm tên là Chu Khánh Lan. Dù là người của chế độ cũ, nhưng vị tỉnh trưởng này luôn hô hào ủng hộ chế độ mới của Tôn Trung Sơn. Thực ra, Tôn Trung Sơn cũng thừa hiểu đây là một gián điệp của Đoàn Kỳ Thụy nhưng không thể cách chức ông ta nếu không tìm được lý do chính đáng. Cuối cùng nhà cách mạng này cũng đã phát hiện ra một điểm yếu có thể hạ bệ được nhân vật này: Chu Khánh Lan là một kẻ rất háo sắc.

    Vì là một người háo sắc có tiếng nên Chu Khánh Lan rất hay lui tới những chốn ăn chơi truỵ lạc và các kỹ viện khắp tỉnh Quảng Châu. Đặc biệt, hắn cũng rất thích đi thị sát và diễn thuyết tại các trường nữ sinh trong thành phố nhằm tìm những mỹ nữ phục vụ cho nhu cầu dâm dục của mình. Rất nhiều nữ sinh có nhan sắc tại các trường trong tỉnh đều đã phải phục vụ ông tỉnh trưởng, vì một khi Chu Khánh Lan nhắm tới ai thì người đó khó cơ hội thoát khỏi nanh vuốt của hắn. Vì thế số lượng nữ sinh đã từng phục vụ tên tỉnh trưởng này khó có thể thống kê một cách chính xác. Lo sợ cho con gái mình lọt vào mắt xanh của Chu Khánh Lan, rất nhiều gia đình có con gái đến tuổi trưởng thành ở Quảng Châu khi đó đều trướng rủ màn che, không dám gửi con em mình đến các trường nữ sinh trong thành phố. Tuy nhiên, không gia đình nạn nhân nào dám tố cáo hành vi của tên tỉnh trưởng vì sợ ảnh hưởng đến tính mạng.

    Nhưng có một ngày đẹp trời, tại khách sạn hào hoa bậc nhất tại thành phố Quảng Châu bỗng xuất hiện một đôi tình nhân gắn với nhau như sam, không rời nửa bước. Người ngoài nhìn vào thì nhận xét đó là một cặp trời sinh vì cả hai đều mang dáng vẻ rất phong lưu nhưng cũng rất lả lơi. Rồi ngày tiếp đó, tại một căn phòng sang trọng trong khách sạn, một ký giả đã chụp được những bức ảnh mặn nồng của cặp tình nhân này và dọa sẽ công bố rộng rãi nếu chủ nhân của chúng không trả tiền chuộc. Vì sao người ký giả này lại làm như vậy? Đơn giản người đàn ông trong ảnh chính là tỉnh trưởng Quảng Châu đương nhiệm - Chu Khánh Lan.

    Tranh cãi

    Để ém chuyện mây mưa của mình, Chu Khánh Lan đã vội vàng bỏ hơn 3000 vạn đồng để mua chuộc tên ký giả kia. Việc thoả thuận được tiến hành trong không khí nhẹ nhàng và hài lòng từ hai phía. Tuy nhiên, sau đó 2 ngày, trên khắp các trang báo tại tỉnh Quảng Châu, người dân đều đọc được thông tin về phẩm chất đồi trụy của tỉnh trưởng Chu Khánh Lan. Không chỉ có hình ảnh minh họa, câu chuyện trong khách sạn của ông tỉnh trưởng cũng được miêu tả khá chi tiết trong bài phóng sự. Cũng chỉ hai ngày sau khi thông tin này được chuyển thẳng lên cấp trên, vì xấu hổ và nhục nhã, Chu Khánh Lan đã phải nộp đơn từ chức.

    Sau vụ việc này, nhiều người đặt câu hỏi vì sao một tên cáo già như Chu Khánh Lan lại có lúc sơ suất như vậy. Hay đã có người đứng sau vụ việc này để dụ Chu Khánh Lan vào bẫy. Tuy nhiên, khi đó không phải ai cũng biết rằng, kịch bản và đạo diễn của vở kịch này không ai khác chính là Tôn Trung Sơn.
    Nhận được thông tin về tính háo sắc của tỉnh trưởng Chu Khánh Lan, Tôn Trung Sơn lập tức hạ lệnh tìm kỹ nữ tài sắc nổi tiếng của Hồng Kông khi đó là Tiểu Ngân Linh đến để thực hiện kế hoạch. Kỹ nữ Ngân Linh sau khi đến Quảng Châu, được đưa vào một trường nữ sinh nổi tiếng trong thành phố để theo học. Với vẻ đẹp được coi là nghiêng nước nghiêng thành của mình, Tiểu Ngân Linh đã làm mê mẩn bao nhiêu công tử nhà giàu trong thành phố, nhưng cô lúc nào cũng tỏ ra giữ lễ và rất trong sáng. Chỉ khi có tỉnh trưởng đến diễn thuyết tại trường, cô nữ sinh thơ ngây này mới chính thức bám riết lấy Chu Khánh Lan. Và câu chuyện tình yêu qua buổi diễn thuyết của ông tỉnh trưởng Chu Khánh Lan đã được diễn ra bằng những cuộc mây mưa trong khách sạn với cô nữ sinh xinh đẹp Tiểu Ngân Linh.

    Vậy vì sao một nhà cách mạng nổi tiếng như Tôn Trung Sơn lại sử dụng kế sách này? Nhiều nhà phân tích đã đưa ra 3 lý do chủ đạo cho hành động này của ông như sau: Một là Chu Khánh Lan là một tên háo sắc, vì thế mỹ nhân kế là liều thuốc chữa trị hiệu quả và dứt điểm nhất. Hai là Mỹ nhân là một kế sách nhẹ nhàng và hiệu quả, đồng thời cũng tiết kiệm được sinh lực binh sỹ, không tốn một mũi tên hòn đạn cũng như tiền từ ngân sách. Ba là: Vì chính phủ mới của Tôn Trung Sơn còn non trẻ, do yếu tố lịch sử nên tại thời điểm đó ông không có quyền lực tuyệt đối để tự quyết định mọi việc, hơn nữa ông cũng không được hoàn toàn được chi phối lực lượng quân đội, vì thế sử dụng mỹ nhân kế chính là biện pháp vẹn cả đôi đường.

    Nhiều người đưa ra nhận xét kế sách này của Tôn Trung Sơn mang tính chất hạ sách. Tuy nhiên nhiều nhà nghiên cứu Trung Quốc lại cho rằng: Bản thân kế sách không mang tính giai cấp. Dù cho nó có cao sang hay đê tiện nhưng đem lại lợi ích to lớn cho dân tộc thì nó vẫn luôn được coi là cao quý. Cũng giống như một nhà sử học nổi tiếng đã nói: "Anh hùng không hỏi nhau thực hiện như thế nào, mà chỉ cần quan tâm kết quả ra sao”.

    Hải Hiền

    "Theo Pháp luật & Cuộc sống"

  2. #2
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    [center:3b66lka3]Scandal chết người của cơ quan tình báo quân sự Ba Lan WSI[/center:3b66lka3]

    Stefan Zielonka, viên hạ sĩ quan cơ yếu của cơ quan tình báo quân sự WSI của Ba Lan, đột nhiên biến mất ngay giữa Varsava. Chính quyền Ba Lan không nói gì đến vụ này trong nửa năm. Họ cố tìm hiểu điều gì đã xảy ra, đồng thời bao che, giấu giếm những điểm sơ hở trong hệ thống tình báo của mình để tránh sự trừng phạt. Nhưng thông tin đã bị lọt ra ngoài và dù không muốn, họ đã phải thừa nhận. Những vấn đề gì xảy ra trong những trường hợp tương tự và làm thế nào để khắc phục?

    Đối với tình báo thì không có gì đáng sợ hơn là nhân viên cơ yếu của mình biến mất. Mọi cơ quan tình báo đều mơ ước có được nguồn tin là một nhân viên cơ yếu. Bởi vậy, phản gián bảo vệ nhân viên cơ yếu đúng là như bảo vệ con ngươi của mắt mình. Nhưng nếu như một khi anh ta vẫn biến mất, thì như ở Lubyanka (ý nói cơ quan tình báo Liên Xô/Nga) người ta thường nói là hãy chờ đón "những hậu quả thê thảm". Tất cả đều chờ đợi: từ các vị chỉ huy, các sĩ quan hoạt động lẫn các điệp viên của họ. Tại sao vậy? Đó là vì nhân viên cơ yếu biết tuốt. Dù anh ta đã chạy trốn, hay là bị bắt cóc cũng chẳng có gì quan trọng. Một khi ở bên kia biên giới, anh ta sẽ "lột truồng" cơ quan tình báo mà anh ta từng phục vụ cho đối phương. Với những doanh nhân mà kế hoạch làm ăn, ý đồ, tiềm lực, lực lượng và phương tiện bị lộ với các đối thủ cạnh tranh thì chỉ còn đường sạt nghiệp.

    Stefan Zielonka làm nhiệm vụ liên lạc cơ yếu với các tình báo viên bất hợp pháp

    Stefan Zielonka là nhân viên cơ yếu tại Varsava của Cục Thông tin Quân sự (tình báo quân sự) WSI đã 20 năm. Gần đây, anh ta giữ chức vụ nhân viên cơ yếu trưởng của cục hoạt động của WSI. Anh ta bảo đảm công tác liên lạc với các tổ tình báo bất hợp pháp; duy trì liên lạc với các nguồn tin không được bảo vệ bằng vỏ bọc ngoại giao. Xét theo tính chất công việc, anh ta hiểu rất rõ các cách thức thông tin liên lạc của NATO.

    Tổn hại đối với an ninh quốc gia của Ba Lan

    Thực tế cho thấy, mức độ hiểu biết thông tin của nhân viên cơ yếu phụ thuộc vào chức vụ mà anh ta đảm nhiệm. Stefan Zielonka được quyền tiếp cận tất cả các giai đoạn của công tác mã hoá vì thế anh ta là mối quan tâm đặc biệt của các chuyên gia mã thám và phân tích mã, những người đang nỗ lực "bẻ khoá" các mật mã của đối phương.

    Ngoài ra, một kẻ phản bội như vậy có thể trong quá trình hợp tác với tình báo đối phương có thể chuyển cho đối phương bản sao các cuốn sách mã và các bức điện mã chụp vi phim của cơ quan tình báo, cũng như các tài liệu mật khác làm bộc lộ lực lượng điệp viên quý giá của các cơ quan tình báo nước mình. Đây chính là mối quan tâm của các đơn vị tình báo hoạt động của đối phương. Trong trường hợp này, tình báo đối phương có cơ hội tuyển lại điệp viên đã bị kẻ phản bội tố giác và bắt đầu trò chơi nghiệp vụ phục vụ cho lợi ích của mình.

    Dĩ nhiên là, một nhân viên cơ yếu cỡ Zielonka được biết mọi nhiệm vụ của trung ương tình báo và các báo cáo của các tổ tình báo về những điệp vụ đặc biệt nhạy cảm của tình báo Ba Lan, cũng như các tin tức khác vốn là bí mật quốc gia. Anh ta cũng biết tên tuổi các học viên tốt nghiệp trường cơ yếu mà anh ta cùng học về những kỹ năng nghề nghiệp, và đặc điểm của các đồng nghiệp củ anh ta đang làm việc ở nước ngoài hoặc tại trung ương tình báo.

    Tóm lại, vụ chạy trốn của Zielonka chắc chắn gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho tất cả các cơ quan tình báo không chỉ của Ba Lan mà cả của các quốc gia NATO. Ngoài ra, đây còn là đòn đau đớn đánh vào thể diện của quân đội Ba Lan. Vì thế, sẽ là tốt hơn nhiều đối với quân đội Ba Lan nếu như Zielonka tự tử. Đây là giả thiết mà ở Varsava người ta bám vào khá lâu.

    Zielonka đã chuồn như thế nào

    Zielonka biến mất không dấu vết khỏi nhà vào tháng 5.2009. Dường như, anh ta đã kịp làm việc như một điệp viên cho tình báo nước ngoài trong thời gian khá lâu và có thể đã sắp bị bại lộ. Cơ quan tình báo mà anh ta cộng tác đã chấp nhận mạo hiểm và sử dụng một trong các kênh của mình để giải thoát nguồn tin của mình. Anh ta đã chuồn đi với những biện pháp đề phòng cẩn thận để ý đồ khỏi bị thất bại. Bản thân thời điểm biến mất được lựa chọn sao cho càng chậm bị phát hiện càng tốt. Đó là ngay trước lễ Phục sinh của Công giáo. Mấy ngày, cô vợ vẫn nghĩ anh ta đang ở cơ quan, còn cấp trên thì nghĩ anh ta nghỉ ốm kéo dài. Anh ta chỉ mang theo đồ dùng cá nhân. Hộ chiếu và các giấy tờ khác anh ta bỏ lại nhà. Rõ ràng là anh ta định vượt biên bất hợp pháp. Anh ta không hề rút số tiền tiết kiệm lớn từ tài khoản nhà băng của mình. Anh ta biết rằng, điều đó sẽ làm cơ quan phản gián vốn đang kiểm soát tài khoản của các nhân viên cơ yếu chột dạ đề phòng. Đồng thời, anh ta khôn khéo tung ra cho cảnh sát câu chuyện giả về chuyện tự tử của mình. Anh ta làm như cuộc hôn nhân của mình đến lúc đó đã tan vỡ, còn ở cơ quan thì tình thế cũng bế tắc. Các thám tử của phòng đặc biệt thuộc cơ quan cảnh sát và phản gián quân sự đã mở cuộc truy tìm viên hạ sĩ quan cơ yếu. Cả hai lực lượng này đều hài lòng cắn câu giả thiết tự tử.

    Lãnh đạo tình báo Ba Lan không nhận thức được ngay đây là một vụ phản bội tổ quốc. Nhưng đến lúc này, viện công tố đã mở cuộc điều tra về việc Zielonka mất tích và có thể đã tự tử. Người ta quyết định chờ đợi với hy vọng mọi chuyện sẽ qua.

    Một mặt, chẳng có gì khác thường trong câu chuyện này. Các nhân viên cơ yếu luôn là miếng mồi ngon cho bất kỳ cơ quan tình báo nào và săn tìm họ là một trong những nhiệm vụ chính của các cơ quan tình báo. Cách thức trốn chạy của Zielonka xem ra rất giống vụ CIA đánh tháo táo tợn sĩ quan cơ yếu của KGB V.I. Sheimov năm 1980. Để thực hiện một chiến dịch như vậy cần hợp đồng rất chặt chẽ về thời gian.

    Phản gián Ba Lan đối phó

    Khi ở Varsava người ta cuối cùng cũng hiểu ra là đã xảy ra một vụ phản bội tổ quốc, họ liền tìm cách khắc phục các hậu quả. Đây là một quá trình lâu dài, tốn công sức và rất tốn kém, hơn nữa lại mang tính phá hoại ghê gớm. Bởi lẽ, sẽ không tránh khỏi việc cải tổ công tác phối hợp và điều phối vốn đã chạy trơn tru của các cơ quan tình báo trong một thời gian khá dài.

    Ở Varsava, người ta đã bắt đầu hành động theo nguyên tắc một cách muộn màng. Trung ương tình báo gửi cho các tổ tình báo Ba Lan ở nước ngoài và các cơ quan tình báo đồng minh thông báo về vụ phản bội của nhân viên cơ yếu Zielonka và yêu cầu áp dụng các biện pháp an ninh đối phó liên quan đến vụ việc này.

    Đồng thời, họ cũng bắt đầu làm một việc tốn kém là thay thế các mật mã và quy trình liên lạc mà trung ương tình báo Ba Lan sử dụng để liên lạc với các tổ tình báo và các cơ quan tình báo đồng minh. Họ phát lệnh cho điệp viên nằm im và tổ chức giải cứu các điệp viên bị bại lộ khỏi địa bàn các nước đối tượng. Đôi khi, trong những tình huống đó, người ta còn triệu hồi các tình báo viên bị lộ khỏi các tổ tình báo ở hải ngoại.

    Các nhà phân tích của cơ quan phản gián của bên bị phản bội trong lúc đó cố gắng xác định các hoàn cảnh khiến họ mất nhân viên cơ yếu (ai và bằng cách nào đã tuyển mộ anh ta, trong những hoàn cảnh nào, các kênh liên lạc điệp báo nào đã được sử dụng trước khi chạy trốn, số lượn và thời gian các phiên liên lạc đã diễn ra và quá trình chạy trốn).

    Sau đó, phản gián đối ngoại gửi đến tổ tình báo của mình ở quốc gia dự đoán kẻ phản bội đang ẩn náu chỉ thị thu thập tin tức về kẻ đào ngũ, nơi sinh sống và làm việc của anh ta. Đồng thời, người ta phải chi rất nhiều kinh phí để thay đổi toàn bộ hệ thống an ninh của các cơ quan đại diện ở nước ngoài của quốc gia đang bị đe doạ lợi ích.

    Trong những trường hợp như vậy, đối phương thường lợi dụng sự kiện chạy trốn vào mục đích tuyên truyền. Họ tiến hành các chiến dịch tung hoả mù nhằm đánh lừa đối phương về mức độ thiệt hại, hậu quả thật sự của vụ phản bội. Sử dụng sự kiện phản bội vào mục đích tuyên truyền cảnh giác dân chúng. Nhiều khi một phần thư tín ngoại giao bị giải mã sau khi xảy ra vụ phản bội được công bố để tác động đến nền chính trị quốc tế.

    Đâu là điểm đến của Zielonka

    Tại Varsava, viện công tố quân sự quân khu đang cố điều tra xem ai đứng sau vụ đào ngũ của Zielonka. Một số chuyên gia cho rằng, đó là các cơ quan tình báo Trung Quốc. Tình báo Trung Quốc đang hoạt động ráo riết trên toàn cầu để săn lùng thông tin của chính phủ các nước khác. Giả thiết này là rất có khả năng, tuy nhiên chưa có gì để khẳng định chắc chắn.

    Giả thiết khác thì cho rằng, vụ chạy trốn của Zielonka là bàn tay của tình báo Nga mà hoạt động của họ gần đây được nói đến nhiều ở Ba Lan.
    Quả thực, sự đối kháng địa-chính trị giữa Moskva và Varsava, đặc biệt gia tăng trong những năm gần đây tiếp tục thổi bùng những thù hận cũ.

    Một thực tế ủng hộ giả thiết này là đến nay người ta vẫn cho rằng, nhiều nhân viên tình báo quân sự Ba Lan có liên hệ mật thiết với Nga kể cả sau khi Ba Lan gia nhập NATO.

    Có thể, phòng điều tra truy tìm đặc biệt mới được thành lập trong cục hình sự của Cơ quan An ninh nội địa Ba Lan sẽ làm sáng tỏ vấn đề này. Phòng này có chức năng truy tìm các nhân vật có tầm quan trọng đối với an ninh quốc gia.

    Mọi bí mật sớm muộn sẽ trở nên sáng tỏ. Vì thế, nếu như phòng điều tra truy tìm đặc biệt của an ninh Ba Lan không thể nhanh chóng tìm hiểu được vụ chạy trốn này thì không lâu nữa, những chi tiết ly kỳ của nó sẽ được đăng tải trên báo chí. Như thường lệ, Zielonka sẽ không bỏ qua cơ hội tô vẽ trong hồi ký của mình. Những kẻ đào ngũ thường kiếm tiền cho mình bằng cách đó.

    Nguồn: AN.-N.3(193), 28.1.2010

  3. #3
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    [center:21u01uwj]Tổng giám đốc MI-5 Stella Rimington và chiến dịch buộc IRA giải giáp[/center:21u01uwj]

    Dame Stella Rimington, nữ tổng giám đốc đầu tiên của MI-5 và điệp viên hai mang Shean O'Callaghan cũng xây dựng và thực hiện thành công chiến dịch tình báo phá vỡ IRA từ bên trong, buộc tổ chức này phải giải giáp và tham gia tiến trình hoà bình ở Bắc Ireland.

    Tốt nghiệp chuyên ngành tiếng Anh Đại học tổng hợp Edinburgh và là mẹ của hai đứa con, Stella Rimington đứng đầu cơ quan phản gián Anh MI-5 vào tháng 2.1992 lúc bà tròn 56 tuổi. Đến lúc đó, bà đã làm việc tại cơ quan này 22 năm. Từng giữ các cương vị lãnh đạo tại cả 3 phòng nghiệp vụ (phản gián, chống phá hoại và chống khủng bố). Trước bà, người ta không tin tưởng giao phó cho phụ nữ những chức vụ lãnh đạo tại các cơ quan quyền lực ở London. Và họ đã không phải nuối tiếc gì. Sáu năm sau, bà được tặng thưởng danh hiệu vinh dự Dame Commander của Hội hiệp sĩ Order of the Bath. Bà đã làm được gì?
    Stella đã nghĩ ra một chiến dịch rất độc đáo với mục đích phá tung từ bên trong tất cả các tổ khủng bố chống Anh của tổ chức khét tiếng Quân đội Cộng hoà Ireland - IRA. Thật khó nói là tự bà đã nghĩ ra hay có ai mách bảo. Trong tay bà có một điệp viện quý giá là phần tử khủng bố Bắc Ireland cỡ bự Shean O'Callaghan có biệt hiệu Jackal. Anh ta nằm trong ban lãnh đạo IRA và hiểu biết đến chân tơ kẽ tóc các cơ cấu của tổ chức này. Đã bị kết án do tham gia các vụ giết chóc với mức án tổng cộng 539 năm tù. Nhưng đồng thời, anh ta cũng đã cáo giác các đồng đảng với Stella và hỗ trợ ngăn chặn các vụ khủng bố được lên kế hoạch chống lại các thành viên của Hoàng gia Anh. Kết quả là, sau 8 năm chịu án, theo thỉnh cầu của lãnh đạo MI-5, anh ta đã được Nữ hoàng Anh "tha thứ".

    Chính cặp bài trùng Shean và Stella vào đầu thập niên 1990 đã lên kế hoạch một chiến dịch từng giai đoạn nhằm chấm dứt đổ máu. Để mở đầu, họ đã xác định các địa điểm có đông người Ireland sinh sống ở ngoài nước Anh. Những địa điểm đó khá nhiều. Trong đó có Mỹ, Canada, Australia, cũng như nhiều nước châu Âu và châu Phi.

    Các chuyên gia tuyển mộ giàu kinh nghiệm được cử đến các khu vực này và trong giai đoạn đầu sẽ làm nhiệm vụ tài trợ, giúp đỡ cho các thanh niên Ireland gặp khó khăn về vật chất và những khó khăn khác. Cơ hội để tiếp cận theo cách này quá nhiều: những người trẻ tuổi mong muốn được học tập, xin việc làm hay những khó khăn khi giải quyết các vấn đề pháp lý, chỗ ở và các vấn đề thường nhật khác. Nếu không có khó khăn, thì người ta khôn khéo tạo ra chúng và vượt qua một cách dễ thấy.

    Dần dần, "những người đỡ đầu" đầy quan tâm của những thanh niên Ireland, sau khi đã từng bước uốn nắn thế giới quan của những người được bảo trợ, sẽ thu hút họ tham gia giải quyết những nhiệm vụ nhằm chấm dứt đổ máu của những người vô tội. Được sự đồng tình cơ bản đối với việc này của những người được bảo trợ hàm ơn, các sĩ quan hoạt động của tình báo Anh tạo ra những điều kiện để đưa những thanh niên Ireland được tuyển mộ với động cơ "lý tưởng-vật chất" vào tầm nhìn của các chuyên gia tuyển mộ của những tổ khủng bố. Các chuyên gia này thường xuyên tìm kiếm ứng viên để bổ sung "dòng máu mới" cho đội ngũ của mình.

    Các điệp viên trẻ của MI-5 được đánh vào các tổ chức của IRA bằng cách đó được giao nhiệm vụ phát hiện các thành viên hoạt động bí mật, các kênh liên lạc của họ, các địa điểm trú đóng của các tổ của tổ chức khủng bố này, các nguồn cung cấp tài chính... Nhằm che giấu các điệp viên hai mang để đạt được mục đích cuối cùng, họ được phép tham gia các hành động cực đoan của lực lượng khủng bố nhưng phải báo trước cho các sĩ quan chỉ đạo của MI-5.

    Khi số lượng các điệp viên được đánh vào các tổ chức của IRA bằng cách đó đạt đến mức độ cần thiết, lực lượng an ninh Anh liền tiến hành một chiến dịch bắt giữ đồng loạt các thành viên của các tổ IRA đã bị phát hiện. Mấy trăm thành viên tích cực bị bắt giữ và được nói về sự vô ích của việc tiếp tục chống đối. Nguy cơ bị báo thù tất yếu vì thực hiện những tội ác đã buộc IRA vào năm 1998 tuyên bố giải giáp hoàn toàn trước tháng 5.2000.
    Ban đầu, nhiều người cho rằng, chiến dịch là bất khả thi, tốn kém, cực kỳ công phu và tốn rất nhiều thời gian. Hơn nữa lại không bảo đảm thành công. Nhưng dù muốn hay không, người ta đã phải tặng thưởng Stella Rimington và ân xá Jackal. Họ xứng đáng được như thế.

    Sau khi về hưu, Stella Rimington đã viết nhật ký. Nhưng khi các đồng nghiệp của bà đọc bản thảo, họ ban đầu đã giật mình, còn sau đó là bằng mọi cách ngăn cản dự định của bà. Họ phản ứng rất mạnh với những chi tiết "nhạy cảm" trong nội bộ MI-5 và MI-6. Đặc biệt là liên quan đến việc sử dụng các phương pháp vũ lực đấu tranh chống khủng bố.

    Người ta khẩn cấp triệu tập một cuộc họp khẩn. Tụ tập về dinh thủ tướng Anh là các bộ trưởng và các nhà lãnh đạo các cơ quan quyền lực. Cuối cùng, họ đã xác định bà Stella không tiết lộ các bí mật nhà nước và không phản bội tổ quốc. Nhưng sếp cơ quan tình báo Anh MI-6 Richard Dearlove (1999-2004) tìm thấy trong bản thảo sự vi phạm luật về các bí mật công vụ. Ông ta có những món nợ riêng với Rimington. Chính bà đã từng phá tan kế hoạch thống nhất các cơ quan tình báo Anh dưới ngọn cờ của MI-6 sau khi Liên Xô sụp đổ.

    Kết quả là người ta đã không thể bắt giữ Rimington. Nhưng thiết phục bà hạn chế phạm vi độc giả của hồi ký của bà ở chế độ "lưu hành nội bộ": cũng không xong.

    Dame Stella Rimington (sinh tháng 5.1935) nhà văn và Tổng giám đốc MI-5 từ năm 1992-1996.
    Bà là nữ tổng giám đốc đầu tiên của MI-5 và cũng là tổng giám đốc đầu tiên được công khai tên tuổi khi được bổ nhiệm. Năm 1993, Stella Rimington trở thành tổng giám đốc MI-5 đầu tiên chụp hình công khai tại buổi giới thiệu cuốn sách mỏng nói về các hoạt động cơ bản MI-5. Bà được phong tước hiệp sĩ Dame Commander, tước hiệu bậc thứ hai trong 3 cấp, của Hội hiệp sĩ Order of the Bath vào năm 1996


    Nguồn: Chiến dịch "Chấm dứt đổ máu tại xứ Albion" / Stalnislav Lekarev // AN.-14(204), 15.4.2010.

  4. #4
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    [center:38i6cqrk]Những tổ chức nào thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình?[/center:38i6cqrk]

    Thủ đoạn của người Mỹ ngày càng tinh vi hơn với cái gọi là "Con dao mềm" hay còn gọi là thủ đoạn "Rót nước trà vào chân tường", thông qua các biện pháp như chi viện kinh tế, tài trợ cho những phe phái đối lập tại các quốc gia để tiến hành chính biến.
    Về chuyện lật đổ chính quyền của các quốc gia khác, người Mỹ luôn thể hiện tính chuyên nghiệp. Người ta nhắc nhiều đến vai trò của CIA trong các cuộc chính biến quân sự tại các nước ngoài. Tuy nhiên, vai trò đó chủ yếu được sử dụng trong thời gian Chiến tranh lạnh, còn giờ đây, thủ đoạn của người Mỹ ngày càng tinh vi hơn với cái gọi là "Con dao mềm" hay còn gọi là thủ đoạn "Rót nước trà vào chân tường", thông qua các biện pháp như chi viện kinh tế, tài trợ cho những phe phái đối lập tại các quốc gia để tiến hành chính biến.

    Việc lên kế hoạch cho các thủ đoạn này được thực hiện bởi một nhóm cố vấn đặc biệt của chính phủ, thực chất đây là những cơ quan dân sự được Chính phủ Mỹ tài trợ trực tiếp. Từ Đông Âu, Mỹ Latinh và gần đây nhất là Myanmar, đằng sau tất cả những cơn bão chính trị mang tên “cách mạng màu sắc” này đều có hình ảnh của một cơ quan được mệnh danh là “CIA thứ 2” của Mỹ.

    Vậy rốt cuộc cơ quan này hoạt động như thế nào? Để đạt được những mục đích chính trị đen tối của họ. Mới đây, tờ Global Times của Mỹ đã tiết lộ diện mạo thật của những “cơ quan cố vấn” này.

    Quỹ quyên góp bảo vệ dân chủ

    Trong những vụ lên kế hoạch và trực tiếp tham gia vào “các cuộc cách mạng màu sắc” thời gian qua, Chính phủ Mỹ đã thông qua hàng loạt tổ chức phi chính phủ được thành lập từ các nhóm cố vấn, chuyên gia và quỹ tiền tệ. Hầu hết những nhóm cố vấn này được Chính phủ Mỹ tài trợ trực tiếp, mặc dù trên danh nghĩa những cơ quan này được gọi là cơ quan cố vấn, thế nhưng thực chất, họ chính là những công cụ bí mật của Chính phủ Mỹ để thực hiện những sứ mệnh lật đổ chính quyền tại các nước đối địch.

    Hiện nay, rất khó có thể thống kê chính xác được con số những cơ quan, tổ chức như vậy trên đất Mỹ, không chỉ hoạt động độc lập, mà mối quan hệ giữa những cơ quan này cũng khá phức tạp. Trong số đó, nổi lên một số tên tuổi như Quỹ Quyên góp bảo vệ dân chủ toàn quốc, Viện Nghiên cứu xã hội mở cửa và Quỹ Soros (Open Society Institute and Soros Foundations Network) do nhà tài phiệt George Soros lập lên và Phòng Nghiên cứu Gia đình tự do và Einstein.

    Quỹ Quyên góp bảo vệ dân chủ toàn quốc (hay còn gọi là Quỹ Dân chủ quốc gia Mỹ) được Quốc hội Mỹ lập nên, toàn bộ nguồn vốn hoạt động của quỹ này đều được lấy từ ngân sách quốc gia Mỹ. Về hình thức, thì tổ chức này hoạt động dưới danh nghĩa tư nhân, nhưng trên thực tế lại là một cơ quan chính phủ, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phối hợp hành động với Quốc hội và CIA, do đó tổ chức này còn được gọi với một tên khác, đó là Cục Tình báo trung ương số 2.

    Trong hệ thống của Quỹ Quyên góp bảo vệ dân chủ toàn quốc có 4 cơ quan liên quan, gồm: Phòng Nghiên cứu cộng hòa quốc tế của đảng Cộng hòa, Phòng Nghiên cứu dân chủ toàn quốc của đảng Dân chủ, Trung tâm Doanh nghiệp tư nhân quốc tế của Hội Doanh nghiệp Mỹ và Trung tâm Lao động quốc tế và Đoàn kết quốc tế của Liên đoàn Lao động và tư sản Mỹ. Ngoài ra, còn có rất nhiều cái gọi là tổ chức phi chính phủ được quỹ này tài trợ, như Tạp chí dân chủ, Phong trào dân chủ thế giới, Diễn đàn nghiên cứu dân chủ quốc tế, Chương trình Quỹ giải thưởng Reagan - Fasel và Trung tâm Viện trợ báo chí quốc tế...

    Năm 1982, Tổng thống đương nhiệm của Mỹ lúc đó là Reagan đề xướng việc thành lập một cơ quan chuyên môn, nhằm thực hiện sứ mệnh “thúc đẩy nền dân chủ” trên phạm vi toàn thế giới. Năm sau, Quốc hội Mỹ đã thông qua “Luật Ủy quyền Quốc hội”, và chi khoảng 31,3 triệu USD để lập lên Quỹ Quyên góp bảo vệ dân chủ toàn quốc và quyết định đặt trụ sở của tổ chức này tại thủ đô Washington. Nhiệm vụ của Quỹ Quyên góp chủ yếu là thực hiện những phi vụ mà Cơ quan Tình báo trung ương không được phép thực hiện do đi ngược lại với điều luật của Quốc hội, ví dụ như ủng hộ cho chính đảng của các nước khác.

    Hàng năm, quỹ này đều nhận được tiền hoạt động từ ngân sách quốc gia Mỹ. Trong năm tài khóa 2004, số kinh phí của tổ chức này là 80,1 triệu USD, trong đó, 79,25 triệu USD được lấy từ nguồn ngân sách chính phủ, chỉ có một phần nhỏ trong số tiền khổng lồ đó thu được từ hoạt động quyên góp. Trong khi đó, 3 quỹ thường xuyên quyên góp tiền cho Quỹ Quyên góp bảo vệ dân chủ toàn quốc thực chất cũng chính là những công ty kinh doanh của chính phủ hoạt động dưới danh nghĩa tư nhân. Do đó, xét từ nguồn kinh phí của tổ chức này, thì đây là một cơ quan của chính phủ 100%.

    Về tính chất, thì quỹ này là một tổ chức siêu đảng phái, một nửa số kinh phí có được từ Quốc hội Mỹ được cung cấp cho 4 cơ quan liên quan; phần còn lại được dùng để tài trợ cho các tổ chức khác hoạt động cùng mục đích. Quỹ này được điều hành bởi Kahl Goeshman. Người này từng là cố vấn cao cấp của Mỹ tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc và thư ký của đảng Dân chủ xã hội Mỹ. Trong số những Chủ tịch Hội đồng quản trị đương nhiệm và tiền nhiệm của Quỹ này có Lee Hamilton, đồng Chủ tịch Ủy ban điều tra độc lập về sự kiện 11/9, Bill Frist, cựu lãnh đạo đảng chiếm đa số tại Thượng viện và Michael Fushan, một nhà lý luận nổi tiếng của phe bảo thủ...

    Mạng lưới của Quỹ Quyên góp bảo vệ dân chủ toàn quốc có mặt trên toàn thế giới, hình thức hoạt động của nó cũng chẳng khác gì so với CIA, đối tượng nhắm đến của bọn họ là những tổ chức chính trị cánh hữu trên toàn thế giới. Một trong những người sáng lập ra quỹ này là Allen Weinstein từng nói: “Những việc mà chúng ta làm ngày hôm nay, đều là những việc mà CIA đã từng làm cách đây 25 năm”.

    Một trong những vụ tham gia vào việc lật đổ chính quyền bên ngoài lãnh thổ Mỹ nổi tiếng nhất của Quỹ Quyên góp bảo vệ dân chủ toàn quốc là tại Venezuela sau khi ông Chavez thành lập chính phủ cánh tả.

    Hoạt động chủ yếu của Quỹ này tại Venezuela là thông qua các thủ đoạn như cung cấp vốn, vị trí hoạt động và mời đến thăm Mỹ để ủng hộ các phe phái đối lập tích cực hoạt động lật đổ chính quyền của Tổng thống Chavez và liên minh chính đảng của ông, như cung cấp tiền vốn cho các chính đảng đối lập, các tổ chức phi chính phủ (NGO), các cơ quan báo chí, cơ quan nghiên cứu, các trường đại học, tổ chức công đoàn và khối doanh nghiệp; đào tạo nhân viên, đề xuất ý tưởng... nhằm thực hiện kế hoạch “can thiệp ngầm” đối với chính quyền Tổng thống Chavez.

    Theo tiết lộ của báo chí Mỹ, thì Quỹ này đã cung cấp số tiền lên đến 1,13 triệu USD cho Trung tâm Truyền bá tri thức kinh tế tự do và Điều hòa dân chủ, 2 tổ chức đối lập tại Venezuela, đồng thời trực tiếp tài trợ cho kế hoạch “Xây dựng cộng đồng chung Venezuela” của trung tâm này. Sau khi nhận được tiền tài trợ từ phía Mỹ, hai tổ chức này đã soạn thảo ra cái gọi là “Kế hoạch quốc gia chung”, tức “Kế hoạch quá độ”, mục tiêu của kế hoạch này là lật đổ chính phủ của ông Chavez, thành lập chính quyền đối lập.

    Một tổ chức đối lập khác của Venezuela là “Welcome join!” cũng đã nhận được khoản tiền tài trợ là 50.000 USD, số tiền này được dùng để tập hợp chữ ký của những người phản đối ông Chavez, nhằm thực hiện âm mưu bãi bỏ chức vụ của Tổng thống đương nhiệm thông qua hình thức bỏ phiếu biểu quyết trên toàn quốc, nhưng âm mưu này đã thất bại hoàn toàn.

    Trong cuộc tổng tuyển cử năm 2006, Quỹ Quyên góp bảo vệ dân chủ toàn quốc cũng đã tìm mọi cách để ngăn cản ông Chavez tái đắc cử, nhưng một lần nữa họ lại phải nhận thất bại.

    Phòng nghiên cứu xã hội mở

    Khác với Quỹ Quyên góp bảo vệ dân chủ toàn quốc được lập nên bởi Chính phủ Mỹ, Phòng Nghiên cứu xã hội mở được thành lập lên bởi nhà tài phiệt quốc tế Geogre Soros. Có trụ sở tại New York, Quỹ Soros dưới sự điều hành của Geogre Soros thực chất là một cơ quan có những mối quan hệ đặc biệt và khá phức tạp với Chính phủ Mỹ. Ngoài ra, Soros còn cho thành lập lên hai chương trình mang tên “Sáng kiến về xã hội mở tại Tây Phi” và “Sáng kiến xã hội mở tại Nam Phi”.

    Mặc dù không có quan hệ chính thức với Chính phủ Mỹ, thế nhưng mục tiêu “thúc đẩy dân chủ”, lật đổ chính quyền các quốc gia đối lập... của Phòng Nghiên cứu xã hội mở, tức Quỹ Soros lại khá giống với mục tiêu của Chính phủ Mỹ hiện nay, do đó, giữa tổ chức này và Chính phủ Mỹ thường xuyên có những cuộc “đi đêm” đầy bí ẩn?

    Hiện nay, Quỹ Soros đều có các chi nhánh tại châu Âu, châu Á, Mỹ Latinh và châu Phi, thế nhưng tên của những chi nhánh này lại khác nhau, phù hợp với hoàn cảnh của nước sở tại mà họ đứng chân. Hoạt động của quỹ này đã vươn tới trên 60 quốc gia và khu vực trên thế giới. Hình thức hoạt động của những chi nhánh này đều được chi phối, chỉ đạo bởi Phòng Nghiên cứu xã hội mở, sau khi kế hoạch được đề ra, các chi nhánh của quỹ này tại nước sở tại có toàn quyền thực hiện kế hoạch, chi phí hàng năm của hai tổ chức này lên đến 900 triệu USD.

    Phòng Nghiên cứu xã hội mở và Quỹ Soros tuyên bố rằng, tôn chỉ hoạt động của họ là “ra sức thúc đẩy việc xây dựng kết cấu cơ sở và hạ tầng cơ sở của một xã hội mở”. Thế nhưng, các nhà phân tích cho rằng, “xã hội mở” thực chất chỉ là một chiêu bài, viện trợ và cứu nghèo chẳng qua cũng chỉ như tấm “vải xô” nhằm che đậy ý đồ muốn khơi dậy “làn sóng dân chủ kiểu Mỹ” tại những quốc gia mà theo họ là “không đủ dân chủ” và “có thể cướp đi giá trị đích thực của xã hội Mỹ bất cứ lúc nào”.

    Năm 1990, Quỹ của Soros đã cho thành lập một quỹ mang tên Quỹ Phục hưng quốc tế tại Ukraina, hoạt động thực chất của Quỹ này là “tuyên truyền dân chủ kiểu phương Tây”. Đến năm 2004, Quỹ này đã đầu tư số tiền khoảng 82 triệu USD cho Quỹ Phục hưng quốc tế. Ngoài việc cho thành lập trụ sở của Quỹ ngay tại thủ đô Kiev, Soros còn cho thành lập lên 24 các chi nhánh tại 24 khu vực khác trên lãnh thổ Ukraina

    Năm 1992, Quỹ của Soros đã có mặt tại Moldova với mục đích duy nhất là “thúc đẩy các quan niệm giá trị của phương Tây”; năm 1993, quỹ này bắt đầu để ý đến Kyrgyzstan, một nơi được mệnh danh là “Hòn đảo dân chủ tại Trung Á”, mục tiêu trọng điểm của họ tại đất nước này là tài trợ cho các hoạt động báo chí độc lập, và nhanh chóng tạo được ảnh hưởng trên các lĩnh vực như y tế, văn hóa và giáo dục; từ năm 1994 đến năm 1997, quỹ này nhanh chóng vươn tới các quốc gia như Gruzia, Kazakhtan, Uzebekistan, Azakbaizan và Armenia. Trong số những quốc gia này, thì khu vực Kavkaz được coi là địa bàn chiến lược của tổ chức này.

    Tại Nga, ngoài tổ chức tư nhân của Soros còn có gần 10 cái gọi là cơ quan nghiên cứu. Mục đích hoạt động của Phòng Nghiên cứu xã hội mở và Quỹ Soros tại các quốc gia SNG là tuyên truyền cái gọi là nền dân chủ và quan niệm giá trị tự do kiểu Mỹ, nhằm phục vụ cho âm mưu thành lập lên hệ thống chính quyền thân Mỹ.

    Cuối năm 2004, tại Ukraina nổ ra cuộc “Cách mạng màu sắc”. Theo tiết lộ của một số nghị sĩ Quốc hội Mỹ thì trong cuộc cách mạng này, Phòng nghiên cứu xã hội mở và Quỹ Soros có một vai trò hết sức quan trọng, bởi sau đó, người trở thành Tổng thống của nước này, ông Yushenko chính là một thành viên trong Hội đồng quản trị của phòng nghiên cứu này.

    Năm 2005, tại Kyrgyzstan cũng nổ ra cuộc "cách mạng màu sắc". Trên thực tế, kẻ đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng này chính là Phòng Nghiên cứu xã hội mở tại Kyrgyzstan đã sớm thúc đẩy cá gọi là “dân chủ” theo kiểu phương Tây

    Nguồn: ANTG, 04.03.2008.

  5. #5
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    [center:26a6tpk6]Những điểm yếu của tình báo Mỹ[/center:26a6tpk6]


    Tờ Washington Post cho biết kể từ sau các vụ tấn công 11/9/2001, hệ thống tình báo mật vụ của Mỹ đã phát triển đến mức hiện không ai biết chi phí chính xác của hoạt động này là bao nhiêu, hay có bao nhiêu người tham gia vào công tác này.
    Washington Post nói gần 2000 công ty tư nhân và 1270 cơ quan chính phủ đã tham gia vào công tác chống khủng bố tại 10 ngàn địa điểm trên toàn đất nước.
    Báo cáo này, mang tên Hoa Kỳ Tối mật (Top Secret America), được đưa ra sau hai năm điều tra của Washington Post.

    Các quan chức được trích dẫn thừa nhận rằng hệ thống này còn nhiều thiếu sót, nhưng họ cũng đặt các câu hỏi về kết luận của tờ báo.

    Trước khi báo cáo được đưa ra, Nhà Trắng nói với tờ Washington Post rằng họ biết có các vấn đề trong việc thu thập tình báo của Mỹ và đang tìm cách xử lý.

    Cồng kềnh

    Báo cáo này nói việc phát triển ngành an ninh - với các hợp đồng trị giá hàng tỉ dollar được đưa ra cho nhiều cơ quan chính phủ và nhà thầu tư - đã kéo theo một hệ thống khó sử dụng, thiếu giám sát trong khi lại lãng phí và trùng lặp cao.

    Theo tờ Washington Post:

    Khoảng 854 ngàn công dân Mỹ được phép tiếp cận các thông tin bí mật cao.
    1/5 trong số các tổ chức chống khủng bố ở Mỹ là được tạo ra kể từ sau các vụ tấn công 11/9/2001.
    Hơn 250 cơ quan an ninh được lập ra hoặc tái cơ cấu kể từ sau vụ 11/9.
    Hơn 30 khu tổ hợp với diện tích chừng 1.6 triệu mét vuông được xây dựng cho tình báo mật tại khu vực Washington kể từ sau vụ tấn công.
    Nhiều cơ quan ấn hành rất nhiều báo cáo mà các quan chức chẳng bao giờ sờ tới.
    Kể từ sau các vụ tấn công 11/9, hệ thống tình báo và theo dõi của Mỹ đã thay đổi mạnh, với nhiều cải cách - như việc tạo ra Ban Giám đốc Tình báo Quốc gia để theo dõi 16 cơ quan hoạt động tình báo - và tiêu tốn rất nhiều nguồn lực.

    Các quan chức Mỹ thì nói những cải cách này đã kéo theo những cải thiện lớn.

    Phóng viên BBC về quốc phòng và an ninh, Nick Childs, nhận định các sự cố gần đây - như vụ đánh bom máy bay không thành tại Detroit vào tháng 12 năm ngoái, và vụ tấn công bất thành ở quảng trường Times ở New York vào tháng Năm - tiếp tục cho thấy những yếu kém và thất bại của hệ thống tình báo.

    Không lộ danh tính

    Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates nói sự cồng kềnh của hệ thống thu thập tình báo Mỹ không phải là không quản lý nổi, nhưng đôi khi người ta khó mà có được thông tin chính xác.

    Tháng trước, Tổng thống Barack Obama chỉ định tướng về hưu James Clapper, vốn là quan chức hàng đầu của Lầu Năm Góc, lên thay cho đô đốc Dennis Blair làm lãnh đạo ngành tình báo trong thời gian tới.

    Báo cáo Hoa Kỳ Tối mật do phóng viên đoạt giải Pulitzer, Dana Priest soạn thảo với sự cộng tác của hơn hai chục phóng viên khác, và được ấn hành làm ba phần trong tuần này.

    Washington Post nói cuộc điều tra của họ dựa trên các tài liệu của chính phủ, hồ sơ công và hàng trăm cuộc phỏng vấn với các quan chức tình báo, quân sự và kinh doanh cùng các cựu quan chức.

    Theo Washington Post, đa phần những người được phỏng vấn yêu cầu giữ bí mật danh tính, do họ không được phép nói công khai hoặc sợ bị trả đũa tại nơi làm việc.

    Nguồn: BBC, 19.7.2010.

  6. #6
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    [center:344ss9n3]Cuộc đảo chính bất thành của Ecuador: Liệu có bàn tay của CIA?[/center:344ss9n3]


    Quốc gia Nam Mỹ Ecuador vừa nổ ra một cuộc đảo chính bất thành của các lực lượng bất mãn và chống đối lại chính phủ. Vụ việc đã khiến cho đương kim Tổng thống Rafael Correa - vẫn nổi tiếng là một người bạn thân thiết với Tổng thống Hugo Chavez của Venezuela, và là người thường chỉ trích Washington gay gắt - chút nữa đã bị lật đổ, thậm chí bị sát hại.
    Như thường lệ, "đối tượng tình nghi" hàng đầu đứng đằng sau vụ bạo loạn trên vẫn được nêu tên là Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA).

    Cuộc bạo loạn bắt đầu từ ngày 29/9 vừa qua, khi một số nhân viên cảnh sát và quân nhân tràn xuống đường tham gia biểu tình phản đối việc Tổng thống và Quốc hội đã thông qua quyết định cắt giảm ngân sách hoạt động của các cơ quan hành pháp.

    Chỉ một ngày sau, tình hình đã biến chuyển thành những cuộc bạo động đẫm máu không thể kiểm soát. Những phần tử nổi loạn đã chiếm sân bay ở thủ đô Quito, cắt đứt tuyến đường chính từ sân bay về thành phố, khiến tất cả các chuyến bay đều bị bãi bỏ. Kèm theo đó, phe đảo chính còn đánh chiếm một số căn cứ quân sự tại Quito, thành phố cảng Guayaquil và nhiều thành phố khác.
    Trên đường phố thủ đô Quito đã nổ ra những cuộc chạm súng thực sự giữa những kẻ nổi loạn và lực lượng trung thành với Tổng thống Correa, khiến hàng chục người thiệt mạng và bị thương. Bản thân Tổng thống cũng bị thương và phải vào bệnh viện để phẫu thuật đầu gối. Sau một thời gian ban hành tình trạng khẩn cấp trên khắp đất nước, chính quyền đã dần ổn định được tình hình. Tư lệnh quân đội Ernesto Gonzalez tuyên bố quân đội phục tùng Tổng thống vô điều kiện, đồng thời kêu gọi những kẻ nổi loạn đầu hàng.

    Những phản ứng của cộng đồng quốc tế ủng hộ Tổng thống Correa đã được liên tục đưa ra, đặc biệt là từ người bạn thân thiết Hugo Chavez. Ông này ngay lập tức cảnh báo nguyên thủ Ecuador đang gặp nguy hiểm, đồng thời kêu gọi giới quân sự bảo vệ vị thủ lĩnh hợp hiến của mình.

    Nguyên thủ trong Liên minh các quốc gia Nam Mỹ (UNASUR) đã gặp gỡ trong một hội nghị khẩn tại Argentina, nhất trí lên án âm mưu đảo chính và bày tỏ sự ủng hộ Tổng thống Correa. Văn kiện cuối cùng của hội nghị còn kêu gọi "phải đưa ra tòa những kẻ chịu trách nhiệm trong vụ nổi loạn trên".

    Sau khi đảo chính thất bại Washington mới chính thức đưa ra tuyên bố ủng hộ đồng minh của Tổng thống Chavez. Tuy nhiên theo các nhà quan sát, đó chỉ là một cử chỉ xã giao mang tính giả tạo của Nhà Trắng. Khó có thể hình dung Washington lại ủng hộ một chiến hữu thân cận của ông Hugo Chavez, người luôn có quan điểm chống Mỹ kiên quyết chẳng kém người bạn của mình.

    Trong suốt thời gian cầm quyền vừa qua của mình (từ tháng 1/2007), Correa đã nổi tiếng với những phát biểu và hành động chống lại Washingon.

    Chẳng hạn như vị Tổng thống này đã cho quốc hữu hóa một loạt các cơ sở khai thác dầu trước đó thuộc về các công ty nước ngoài, mà chủ yếu là các công ty Mỹ. Ông Correa công khai tuyên bố, chính sách đối ngoại của Ecuador hướng tới mục tiêu xây dựng được một khối liên minh Nam Mỹ thống nhất để chống lại tình trạng bá quyền của Mỹ.

    Ngay sau khi lên nắm quyền, Tổng thống Correa thẳng thừng bác bỏ đề xuất thành lập một khu vực thương mại thống nhất với Mỹ và đuổi quân Mỹ khỏi căn cứ không quân gần thành phố Manta được thuê từ trước đó.
    Nếu như cách đây một thời gian không lâu, mọi chiến dịch can thiệp của Washington về cơ bản đều đạt được mục đích (ngoại trừ trường hợp của Cuba). Nhưng kể từ cuối những năm 90 thế kỷ trước, khi Tổng thống Hugo Chavez lên cầm quyền tại Venezuela, thời thế đã không còn đứng về phía Washington nữa. Tình báo Mỹ đã liên tục gặp thất bại, ngay cả khi những kẻ nổi loạn được Washington hậu thuẫn gần như đã lật đổ được Tổng thống Chavez vào ngày 18/4/2002.

    Chính sự thật này đã từng được cựu Tổng thống Mỹ Jimmy Carter thừa nhận. Theo tuyên bố của ông này với tờ El Tiempo của Colombia, Washington đã tham gia trực tiếp vào âm mưu lật đổ Chavez. Cần nhắc thêm rằng, ngay khi lực lượng nổi loạn tạm thời lên nắm quyền tại Venezuela trong 2 ngày, Mỹ đã có tuyên bố chính thức hoan nghênh cuộc đảo chính.

    Có nhiều dữ liệu khác còn cho thấy, cuộc đình công lâu dài trước đó trong lĩnh vực khai thác dầu của Venezuela cũng được tài trợ từ các quỹ tài chính của Mỹ. Chưa đầy nửa năm sau, Tổng thống Chavez lại tuyên bố ngăn chặn được một âm mưu đảo chính mới với kẻ đứng đầu là cựu Ngoại trưởng Enrique Tejera có quan hệ chặt chẽ với Washington.

    Nếu tính trong 10 năm gần đây, dù đã triển khai không ít nỗ lực, nhưng thành công duy nhất của Washington chính là vụ đảo chính lật đổ được Tổng thống Manuel Rosale tại Honduras.

    Theo các nhà quan sát, Washington từ trước tới nay vẫn theo đuổi chính sách đối ngoại thuần túy phục vụ cho những lợi ích của bản thân mình tại Nam Mỹ. Chính vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi tình báo Mỹ luôn đứng đằng sau những âm mưu lật đổ hay ám sát những nguyên thủ quốc gia “không hợp khẩu vị” với mình tại khu vực này. Trường hợp mới nhất đối với Tổng thống Correa nhiều khả năng cũng không nằm ngoài quỹ đạo trên.

    Nhưng thời thế và cán cân lực lượng tại khu vực này giờ đây đã có nhiều thay đổi khiến Washington giờ đây khó có khả năng tiếp tục "thay trời hành đạo" như trước đây
    Đinh Linh (tổng hợp)

    Nguồn: An ninh thế giới

  7. #7
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    [center:2qypjlm7]Tình báo Mỹ đã lấy thông tin từ lãnh đạo Liên Xô như thế nào?[/center:2qypjlm7]

    Năm 1956, tại Đại hội Đảng lần thứ XX, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô khi đó là Nikita Sergeyevich Khrushchyov đã có một bài phát biểu gây chấn động thế giới. Một phần nội dung của bài phát biểu này nhắc đến những thay đổi to lớn về chính sách đối ngoại của Liên Xô, đồng thời nó sẽ làm thay đổi toàn bộ cục diện của cuộc chiến tranh lạnh đang ở mức cao trào giữa Liên Xô và các nước phương Tây. Sau bài phát biểu của Tổng bí thư Nikita Sergeyevich Khrushchyov, Cục tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã đau đầu tìm mọi cách moi được thông tin từ bản báo cáo đặc biệt quan trọng này.

    Lệnh "động thủ" từ Tổng thống

    Vì nội dung bản báo cáo của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Sergeyevich Khrushchyov được bảo mật kỹ lưỡng, bản in của nó cũng không được phát tán, thậm chí ủy ban An ninh Quốc gia Liên Xô khi đó (KGB) cũng chỉ có vài bản. Tất cả những thông tin khác trừ những lời đã phát biểu của Tổng Bí thư tại Đại hội đều được bảo mật một cách tối đa. Trước tình hình này, Tổng thống Mỹ khi đó là Eisenhower lập tức chỉ thị xuống ngoại trưởng John Foster Dulles: Ngay tức khắc tìm mọi biện pháp mang toàn bộ nội dung bản báo cáo của Tổng bí thư Nikita Sergeyevich Khrushchyov về Mỹ. Rất có thể đây là những bước đi mới của Chính phủ Liên Xô mà chúng ta vẫn chưa thể lường trước được.

    Nhận được chỉ thị từ Tổng thống, ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles đã đau đầu với nhiệm vụ rất khó khả thi này. Làm sao có thể lấy được tài liệu mật mà Liên Xô đang nắm giữ? Một thông tin tình báo của Mỹ cho biết: Tài liệu của bản báo cáo đã được gửi đến chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa. Lập tức, người đứng đầu Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) đã đề cử lên ngoại trưởng John Foster Dulles hai đặc vụ trẻ tuổi - Robert Emmerich và Vesna. Hai nhà tình báo này khi đó vẫn đang công tác tại CIA, tuy tuổi đời còn trẻ nhưng đã có những thành tích xuất sắc.

    Khi đó, cấp dưới của ngoại trưởng John Foster Dulles tiết lộ cho ông một thông tin: "Robert Emmerich có quan hệ khá mật thiết với người Nam Tư... Sau khi nhận được thông tin quý báu này, ngoại trưởng Mỹ đã lập tức mời Robert Emmerich đến văn phòng và hỏi: "Nếu như tôi giao nhiệm vụ quan trọng này cho anh, anh sẽ làm thế nào để mang thông tin tình báo về? Lúc này, Robert Emmerich đã tự tin trả lời: "Tôi sẽ thông qua mối quan hệ thân thiết với Bộ Ngoại giao Nam Tư để lấy thông tin". Sau câu trả lời này, công việc đã chính thức được giao cho đặc phái viên Robert Emmerich.

    Sau khi nhận nhiệm vụ, tháng 3/1956, Robert Emmerich đã lên máy bay nhận công tác tại đại sứ quán Mỹ ở thủ đô Sarajevo - Nam Tư với thân phận là đặc phái viên.

    Thất bại vì đánh bài ngửa

    Tại Nam Tư, đặc vụ Robert Emmerich âm thầm thực hiện kế hoạch của mình. Khi vừa đặt chân đến đất nước Nam Tư, Robert Emmerich đã sắp xếp ngay một cuộc gặp và hội đàm với Phó chủ tịch kiêm Bộ trưởng ngoại giao nước này khi đó là ông Edward Qadir. Trong cuộc hội đàm kín kéo dài hai tiếng, Robert Emmerich không hề nhắc đến vịêc báo cáo của Liên Xô. Trong thời gian đầu của buổi họp, vị đặc phái viên này chỉ ra sức ca ngợi những thành tựu kinh tế mà Nam Tư đã đạt được trong thời gian vừa qua. Đồng thời thay mặt chính phủ, Robert Emmerich cũng tràn đầy niềm tin vào sự hợp tác đầy tiềm năng và khoản tiền mà Chính phủ Mỹ sẽ cân nhắc cho Nam Tư vay trong thời gian sắp tới.

    Sau khi ca ngợi về thành tựu đã đạt được của Nam Tư cũng như hy vọng vào sự hợp tác tốt đẹp giữa hai nước trong tương lai, Robert Emmerich đã nói rõ mục đích của mình: "Theo thông tin đáng tin cậy mà chúng tôi nhận được, trong Đại hội Đảng lần thứ XX của Liên Xô vừa qua, Tổng bí thư Nikita Sergeyevich Khrushchyov đã làm một bản báo cáo. Cũng theo chúng tôi được biết, trong bản báo cáo đó có đề cập đến chính sách đối ngoại của Liên Xô với các nước phương Tây. Khi tham dự Đại hội Đảng Liên Xô vừa rồi, chắc chính phủ của các ngài cũng nhận được một bản in chứ? " Không tìm ra dã ý trong câu hỏi của viên đặc phái viên Mọ, bộ trưởng ngoại giao Nam Tư khi đó đã xác nhận: Thông tin các ông nhận được là chính xác.

    Nắm được thóp của người đối diện, đặc phái viên Robert Emmerich tiếp tục: “Liên Xô là một nước lớn, vì thế báo cáo của người đứng đầu Đảng khiến chúng tôi rất quan tâm. Tổng thống chúng tôi chuyển tới ngài một đề nghị: Chúng tôi muốn xem qua bản báo cáo đó, có được không? Chúng tôi sẽ bảo mật thông tin này". Đưa tổng thống Mỹ vào câu chuyện đã là một bước đi khá táo bạo của Robert Emmerich, tuy nhiên lúc này hiểu rõ được dụng ý từ phía Mỹ, bộ trưởng ngoại giao Nam Tư Edward Qadir đã khôn khéo trả lời: “Về việc này, tôi còn phải xin ý kiến của đồng chí Josip Broz Tito - Chủ tịch của Đảng Cộng sản Nam Tư rồi sẽ trả lời ngài sau”. Lúc này, Robert Emmerich cũng hiểu rằng: Đó là một lời từ chối khéo.

    Ngày thứ hai khi bước chân vào Bộ Ngoại giao, gặp lại Edward Qadir, đặc phái viên Robert Emmerich đã không còn giữ được bình tĩnh: "Thế nào rồi?” Lúc này Bộ trưởng Ngoại giao Edward Qadir đã không trả lời mà đưa cho Robert Emmerich một cốc rượu Utsky. Vị đặc phái viên Mỹ đón lấy cốc rượu nhưng không uống, chỉ nhìn chằm chằm vào Bộ trưởng Edward Qadir như chờ đợi một điều gì đó. "Thưa ngài, đồng chí Josip Broz Tito đã nói: Chúng tôi phải tôn trọng nước bạn - Bộ trưởng Edward Qadir bình thản nói”. Lúc này, đặc phái viên Robert Emmerich đã hiểu: “Chính phủ Nam Tư đã không nịnh bợ Mỹ để tiết lộ bí mật của Liên Xô. Điều vị đặc phái viên này không ngờ tới nhất chính là sự từ chối rất thẳng thắn từ phía Chính phủ Nam Tư”.

    Cuối cùng phải đi mua

    Song song với những hoạt động của đồng nghiệp Robert Emmerich tại Nam Tư, đặc vụ Vesna của CIA cũng bắt tay vào thực hiện kế hoạch của mình.

    Ngày 12/3/1956, nhận được thông tin Bí thư thứ nhất Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan - Beirut từ trần do lâm bệnh nặng, Vesna đã đánh giá rằng đây là cơ hội ngàn năm có một để triển khai kế hoạch. Đúng như dự đoán của Vesna, sau khi nhận được hung tin này, Chính phủ Ba Lan đã trở nên hỗn loạn. Để tìm người thay thế cho chức vụ của Beirut, nhiều phe cánh trong nội bộ Đảng của Ba Lan khi đó đã tìm mọi cách tranh giành quyền lực nhằm đẩy người của mình lên. Nắm chắc được cơ hội này, Vesna đã nhanh chóng triển khai kế hoạch tình báo của mình.

    Bước đầu tiên trong kế hoạch của đặc vụ Vesna chính là bỏ tiền mua chuộc một số nhân vật nằm trong bộ máy quyền lực của chính quyền Ba Lan. Rất nhanh sau đó, do nội bộ còn mải tranh giành quyền lực, không chú ý đến bảo mật thông tin quốc gia, Vesna đã có được bản báo cáo dày 35 trang của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô - Nikita Sergeyevich Khrushchyov. Điều trớ trêu là trong bản báo cáo này, mục liên quan đến chính sách đối ngoại của Liên Xô với các nước phương Tây lại... không có. Khi tìm hiểu, Vesna mới ngã ngửa ra rằng, Liên Xô đã không gửi mục này cho các nước cùng theo con đường xã hội chủ nghĩa khi đó.

    Cực chẳng đã, đặc vụ Vesna đã nhóm họp khẩn cấp những tình báo cùng hoạt động với mình tại Ba Lan. Lúc này những đồng nghiệp của Vesna mới đưa ra một đề xuất: Để lấy được toàn bộ tài liệu từ phía Liên Xô, cần nhờ tới sự giúp đỡ của Tổ chức tình báo Mossad của Israel. ở Israel, Mossad có một vị trí hết sức đặc biệt. Tổ chức tình báo này được đánh giá như là một người bảo vệ, phòng tuyến quốc phòng cuối cùng nhằm vào những kẻ rắp tâm phá hoại đất nước Israel.

    Nghe theo lời của những đặc vụ đồng cấp, Vesna đã chính thức thỉnh cầu người đứng đầu Tổ chức tình báo Mossad khi đó. Tuy nhiên, cái gì cũng có giá của nó, sau khi nhận được yêu cầu từ đặc vụ Vesna, Mossad đã đưa ra một cái giá trên trời nhằm đổi lại toàn văn bản báo cáo của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô - Nikita Sergeyevich Khrushchyov. Sau hai tuần thương lượng, Vesna đã chính thức phải mua lại Bản báo cáo này với mức giá khoảng vài trăm nghìn USD. Khi nhận được toàn bộ bản báo cáo, mặc dù chưa chứng minh được tính chân thực của nó, đặc vụ Vesna đã nhanh chóng trở về Mỹ trong niềm vui hân hoan của kẻ chiến thắng.

    Và một tuần sau, ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles đã vui mừng thông báo: "Chúng tôi đã có trong tay toàn bộ bản báo cáo của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô - Nikita Sergeyevich Khrushchyov phát biểu trong Đại hội Đảng lần thứ XX. Đây là bản báo cáo hoàn chỉnh và chân thực".

    http://www.doisongphapluat.com.vn/Story ... =9&ID=6530

  8. #8
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    [center:dsm5d5v0]Trưởng Chi nhánh CIA trong mối quan hệ giữa Mỹ và Afghanistan[/center:dsm5d5v0]

    Chính quyền Obama đã hướng đến Trưởng Chi nhánh CIA ở Afghanistan để khắc phục những sự cố không hay trong mối quan hệ không ổn định của Washington với Tổng thống Hamid Karzai, giao cho điệp viên ngầm cao cấp này vai trò then chốt mà bình thường chỉ dành cho giới ngoại giao và những chỉ huy quân đội.


    Do đó, Trưởng Chi nhánh CIA - hay Spider - đã trở thành nhân vật trung gian quyền lực nòng cốt ở hậu trường tại thành phố Kabul, theo tiết lộ của các quan chức Mỹ đương chức cũng như những nhà ngoại giao và nhân vật quân sự hiện đã rời chức vụ.

    Trong tháng 4/2010, khi Tổng thống Karzai đột ngột chỉ trích những đồng minh phương Tây của ông, lúc đó Nhà Trắng lập tức liên lạc với Trưởng Chi nhánh CIA ở Kabul để xoa dịu tình hình. Kênh ngoại giao bất thường này một phần là biện pháp của Washington trong mối quan hệ mong manh của Mỹ với tổng thống không kiên định của Afghanistan.

    "Karzai cần được dỗ dành thường xuyên", như một cựu đồng nghiệp của Trưởng Chi nhánh CIA nói. CIA có vai trò nổi bật ở Afghanistan và đôi lúc phải cáng đáng những sứ mạng ngoại giao chính thức. Và điều đó đã làm phức tạp thêm tình hình.

    Những bước thăng trầm trong quan hệ Mỹ và Afghanistan có thể kể như sau. Tháng 12/2001, trong một cuộc tấn công vào Kandahar, quân đội Mỹ đánh bom nhầm vào điểm gặp gỡ giữa Spider, Hamid Karzai và các lãnh đạo phe đối lập khác của Afghanistan. Hậu quả là 3 người Mỹ bị thương và 5 người Afghanistan bị giết chết. Không lâu sau, Karzai biết tin ông được chọn làm lãnh đạo chính quyền lâm thời mới của Afghanistan.

    Tháng 3/2002, các lực lượng bán quân sự của CIA, trong đó bao gồm Spider, và quân đội Mỹ tiến hành chiến dịch Anaconda chống Al-Qaeda và Taliban. Tháng 12/2009, một người Jordan của CIA đưa tin rằng điệp viên hai mang đã đánh bom liều chết tại một căn cứ CIA hẻo lánh gần Khost, Afghanistan, giết chết 7 nhân viên CIA và nhân viên cộng tác tư nhân - đây được coi là vụ tấn công chết nhiều người nhất nhằm vào CIA trong nhiều thập niên qua.

    Tháng 4/2010, Tổng thống Karzai liên tục công kích chống phương Tây, cho rằng họ can thiệp vào những cuộc bầu cử ở Afghanistan trong tháng 8/2009. Tháng 5/2010, Tổng thống Karzai viếng thăm Washington và yêu cầu hai người cùng đi với ông là Spider và tướng Stanley McChrystal. Karzai nói về "quan hệ đối tác thẳng thắn" với Mỹ. Tháng 8/2010, Tổng thống Karzai đòi kiểm soát 2 nhóm độc lập chống tham nhũng sau vụ bắt giữ một sĩ quan quân đội hàng đầu và mới đây, Karzai lại đề cập đến yêu cầu này gây căng thẳng trở lại với Mỹ và phương Tây.

    Đặc biệt, vai trò của Spider đã dẫn đến những sự căng thẳng với Đại sứ Mỹ Karl Eikenberry ở Afghanistan. Các quan chức nói, đại sứ đã phản đối sự quay trở lại Kabul của Trưởng Chi nhánh CIA, người trước đó từng giữ chức vụ tương tự trong chiến tranh. Ngoài Spider, những người khác bao gồm Đại sứ Eikenberry và Chỉ huy liên quân mới là tướng David Petraeus cũng như số quan chức cao cấp của NATO cũng cố gắng xây dựng mối quan hệ thân thiết với Tổng thống Karzai.

    Một số quan chức lo ngại rằng, sự lệ thuộc của Mỹ vào những quan hệ cá nhân để đối phó với Kabul là chưa đủ. Nhưng chính quyền Obama nói, Nhà Trắng không dựa dẫm thái quá vào những quan hệ cá nhân và tuyên bố Mỹ chỉ là tập trung vào việc thiết lập những mục tiêu chính sách được chia sẻ rộng rãi. Trong khi đó George Little, người phát ngôn của CIA, nói:

    "Những lãnh đạo của chúng tôi được chọn do khả năng hành động, lãnh đạo và kiến thức của họ về khu vực". Trưởng Chi nhánh CIA ở Afghanistan, cựu lính thủy đánh bộ ở tuổi 50, được đồng nghiệp gọi là "Spider" và CIA không muốn tiết lộ danh tính của nhân vật này. Ngoài mối quan hệ đặc biệt với Tổng thống Karzai, Spider còn là người có vai trò điều hành những chiến dịch của CIA ở Afghanistan.

    CIA đã mở rộng sự hiện diện của họ ở Afghanistan từ 20% đến 25% - một sự hiện diện lớn nhất ở hải ngoại kể từ sau chiến tranh Việt Nam. Khoảng vài trăm sĩ quan CIA được điều đến Afghanistan và con số này còn đông hơn ở Iraq tại cao trào chiến tranh.

    Theo các đồng nghiệp của Spider, Trưởng Chi nhánh CIA và tướng McChrystal đã củng cố những mối quan hệ ở Iraq và Afghanistan. Spider gặp Karzai trước khi xảy ra chiến tranh Afghanistan, khi mà người Mỹ cùng làm việc với Karzai và những thủ lĩnh bộ tộc khác chống Taliban. Lúc đó Kazai ở Pakistan, nơi Spider và đồng nghiệp tình báo đang cố gắng săn lùng Osama bin Laden và Al-Qaeda. Sau ngày 11/9/2001, khi CIA chuẩn bị cho cuộc xâm lược của Mỹ vào Afghanistan, Spider được chỉ định làm việc với ông Karzai. "Ông (Spider) luôn ở bên cạnh Karzai nhiều hơn những người khác", một cựu sĩ quan tình báo nói.

    Trong tình hình hỗn loạn của tháng 12/2001, một sĩ quan quân đội Mỹ đã tình cờ ra lệnh thả một quả bom xuống địa điểm gặp mặt giữa Karzai và một số thủ lĩnh bộ tộc khác. Lúc đó Spider đã lấy thân mình che chắn cho ông Karzai, do đó ông càng được vị Tổng thống Afghansitan tương lai tin tưởng hơn và từ đó mối quan hệ giữa hai người càng thêm gắn bó.

    Một quan chức Afghansitan nói, ông Karzai và ban tham mưu của tổng thống đánh giá cao con người thẳng thắn của Spider. Quan chức này kể lại những cuộc bàn luận thẳng thắn giữa Afghanistan và các quan chức CIA về một số vấn đề phức tạp như là sự cần thiết tiếp xúc với các thủ lĩnh quân phiến loạn.

    Trong chiến dịch Anaconda năm 2002 chống Al-Qaeda, nhân viên CIA cùng phối hợp hành động với lực lượng đặc nhiệm Mỹ và chiến binh Afghanistan. Khi lực lượng Afghanistan bị tấn công nguy hiểm, chính Spider đã dẫn họ đến một nơi an toàn hơn. Chiến dịch Anaconda đã củng cố thêm cho mối quan hệ giữa ông Spider với ông Karzai. Spider rời Hải quân Mỹ trong thập niên 70 của thế kỷ trước và sau đó gia nhập đơn vị tiến hành các chiến dịch bán quân sự của CIA, được gọi là "Nhánh cơ sở của Ban phụ trách các hoạt động đặc biệt".

    Theo lời của một số cựu nhân viên CIA, đơn vị này hoạt động mạnh trong thập niên 80 ở khu vực Trung Mỹ và giúp huấn luyện người Afghanistan chiến đấu chống lại quân đội Liên Xô. Spider từng giữ vai trò chỉ huy ở Bosnia và trải qua một phần thời gian ở Iraq. Năm 2004, Spider bắt đầu nhận trách nhiệm đầu tiên ở Kabul trong vị trí Trưởng Chi nhánh CIA. Nhiệm vụ của Spider là săn lùng những mục tiêu có giá trị cao. Spider cũng bắt đầu giữ vai trò xoa dịu những quan hệ căng thẳng giữa Mỹ và phương Tây với Tổng thống Afghanistan.

    CIA thường xuyên thay đổi trưởng chi nhánh tình báo của họ ở hải ngoại. Khi đến kỳ phải thay người mới vào vị trí trưởng chi nhánh CIA ở Kabul, ứng viên được chọn không làm vừa lòng Bộ Ngoại giao Mỹ và cả Tổng thống Karzai. Lúc đó ông Karzai đã yêu cầu phục hồi chức vụ cho Spider, lúc đó người này đang ở Mỹ và tính đến chuyện về hưu. Và cuối cùng yêu cầu của ông Karzai được CIA chấp nhận, bất chấp sự chỉ định trở lại Spider gây sự chống đối từ Đại sứ Mỹ Eikenberry ở Afghanistan.

    Spider quay trở lại Afghanistan lần thứ hai vào cuối năm 2009 ngay khi xảy ra thảm họa của CIA - một người đưa tin người Jordan là điệp viên hai mang đã đánh bom liều chết nhằm vào một cơ sở của CIA giết chết 7 người. Tuy nhiên, Spider không bị truy cứu trách nhiệm phạm sai sót trong tuyển mộ điệp viên.

    Giành được sự hợp tác chặt chẽ của Tổng thống Karzai là điều trọng tâm trong chiến lược của Mỹ, nhất là khi mà những cuộc tranh luận nổ ra ngày càng nhiều về những vấn đề nhạy cảm ở Afghanistan như là tham nhũng và hòa giải với Taliban. Tổng thống Karzai không tin tưởng nhiều quan chức được Mỹ chỉ định đến Afghanistan.

    Đại sứ Eikenberry cố gắng chia cắt Spider với Tổng thống Karzai. Nhưng mối quan hệ đặc biệt giữa hai người này đã gây chú ý cho Nhà Trắng nên từ đó họ đã gạt bỏ đề nghị của Đại sứ Eikenberry và mong muốn sử dụng ông Spider để xoa dịu ông Karzai. Nhà Trắng cũng muốn Spider đóng thêm vai trò cố vấn cho tướng Petraeus. Vị tướng này chưa từng phục vụ ở Afghansitan trước đây nhưng từng làm việc với Spider khi cả hai hoạt động ở Iraq


    Theo ANTG

  9. #9
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    [center:1gk3rr7x]Vevak – Cơ quan Tình báo của Iran[/center:1gk3rr7x]

    Vevak, Bộ Tình báo và An ninh quốc gia của Iran, chính thức thành lập ngày 18/8/1984, lúc đó Mir Hossein Moussavi giữ chức thủ tướng. Với ngân sách dồi dào, được tổ chức chặt chẽ và được trang bị tốt nhất, Vevak rất giỏi trong lĩnh vực ám sát và bắt cóc và là địch thủ đáng gờm của Cơ quan Tình báo nổi tiếng thế giới Mossad của Israel ở Trung Đông.


    Lãnh đạo đầu tiên của Vevak là thủ lĩnh Hồi giáo Mohammad Mohammed Reychari. Tiền thân của Vevak là Savak - Cơ quan Tình báo đặc biệt dưới thời Vua Shah.

    Lúc đầu Chính phủ Hồi giáo Iran muốn loại bỏ hết nhân viên của Savak, nhưng sau đó chủ trương sử dụng lại một số sĩ quan nòng cốt của cơ quan tình báo này, những người hiểu rất rõ về các phe phái cánh tả và nhất là đảng Baath của Iraq.

    Nổi tiếng nhất trong số đó là tướng tình báo Hossen Fardoust, nhân vật số 2 của Savak, vốn là cố vấn trong phòng tình báo của thủ tướng lúc đó là Medhi Bazargan. Tuy nhiên, sau đó Fardoust bị bắt giam và chết trong tù ngày 18/5/1987.

    Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Vevak là cung cấp cho Iran những nguyên vật liệu bị áp đặt cấm vận, đứng đầu trong số đó là các thiết bị chiến tranh, vũ khí cũng như tất cả những gì cần thiết cho sự phát triển chương trình hạt nhân của quốc gia Hồi giáo này.

    Vevak còn có thêm một nhiệm vụ mới hiện nay nữa là soạn thảo những kế hoạch trả đũa trong trường hợp Israel hay Mỹ (hoặc cả hai quốc gia này phối hợp) tấn công quân sự nhằm mục đích phá hủy chương trình hạt nhân của Iran. Bộ trưởng hiện nay của Vevak là Heydar Moslehi. Một trong những ông trùm nổi tiếng nhất của Vevak là Ali Fallahian, giữ chức từ năm 1989 đến 1997.

    Về lý thuyết, Vevak đặt dưới quyền của Hội đồng An ninh Quốc gia tối cao (CSSN), tổ chức cao nhất của Bộ Quốc phòng Iran. Trên thực tế, Vevak hành động trực tiếp theo lệnh của lãnh tụ tối cao của cách mạng, Ayatollah Ali Khamenei. Tổng hành dinh của Vevak đặt tại Teheran, trong khu trụ sở của Savak cũ.

    Vevak có khoảng 15.000 nhân viên, tất cả đều là dân sự, khác với Savak gồm toàn quân nhân. Và khoảng từ 2.000 đến 8.000 nhân viên Vevak hoạt động ở nước ngoài. Tuy nhiên con số này không chính xác vì khó mà thống kê được số nhân viên hiện diện ở nước ngoài với sứ mạng ngắn ngày hay dài ngày.

    Vevak bao gồm 5 cục (Phân tích và Chiến lược, An ninh nội địa, An ninh quốc gia, Phản gián, Tình báo đối ngoại) và tất cả nằm dưới sự quản lý của một Tổng cục. Những thành viên của Vevak bị giám sát chặt chẽ và có thể bị trừng phạt nặng nề khi mắc sai phạm về an ninh.

    Trong quá khứ, một số quan chức cao cấp và cả những người quan trọng nhất của Vevak là mục tiêu của những cuộc thanh trừng đẫm máu. Ví dụ như Thứ trưởng phụ trách An ninh (nhân vật số 2 của Vevak) Said Emami bị tống giam và sau đó tự sát trong tù.

    Đặc vụ Vevak hoạt động ở nước ngoài với vỏ bọc là nhà ngoại giao. Hơn nữa, Vevak khi hành động đều hợp tác chặt chẽ với Bộ Ngoại giao của Iran. Thậm chí một số đại sứ của Iran cũng làm việc cho Vevak. Những điệp viên ngầm Vevak thường là nhân viên của các tổ chức hay cơ quan như là Hãng Hàng không Iran, Cơ quan Thông tấn IRNA, các tổ chức văn hóa và từ thiện, sinh viên, doanh nhân, nhân viên ngân hàng, bác sĩ, y tá v.v... Thậm chí Hội Chữ thập đỏ Iran cũng có người của Vevak.

    Một số điệp viên ngầm của Vevak đã lọt được vào những phong trào khác nhau của người Iran ở nước ngoài chống đối chế độ. Sứ mạng của những điệp viên này không chỉ là theo dõi nội tình những phong trào bị chính quyền Iran coi là thù địch này mà còn thực hiện những chiến dịch đầu độc hay tung tin giả. Các ngân hàng Iran, như Ngân hàng Melli, cũng có nhiệm vụ bí mật cung cấp tài chính cần thiết cho số điệp viên ngầm hoạt động ở hải ngoại.

    Theo truyền thống, Iraq, Arập Xêút, các nước vùng Vịnh và Trung Á là những mục tiêu quan trọng đối với các tổ chức an ninh của Iran. Một trong những cơ sở quan trọng nhất của Vevak ở hải ngoại nằm ở thủ đô Amman của Jordan.

    Vevak thường xuyên trao đổi thông tin với người Syria, Sudan, Libya, Nga và Tadjik. Arập Xêút và Các tiểu vương quốc Arập thống nhất, đặc biệt Dubai và Bahrain, là những nơi trung chuyển tài chính từ Iran đến cho tổ chức Hezbollah ở Liban.

    Ở châu Âu, Vevak đặt các cơ sở quan trọng của mình ở Paris, Brussels, Berlin, Viena, Geneva, Ankara và Istanbul. Những chiến dịch nổi tiếng nhất của Vevak là: Vụ tấn công các cơ sở quân sự Pháp và Mỹ ở Liban năm 1983 làm 299 người chết; một loạt vụ đánh bom ở Paris năm 1989 (12 người chết); những vụ tấn công Tòa đại sứ Israel và cộng đồng người Do Thái ở Buenos Aires năm 1992 và 1994 (125 người bị giết chết); vụ tấn công người Mỹ ở Arập Xêút ngày 26-6-1996 (19 người Mỹ bị giết chết và 372 người khác bị thương). Các phong trào người Kurd và phái Sunni cũng là một trong những mục tiêu chính của Vevak.

    Hiện nay, Iraq là khu vực hoạt động ưu tiên của Vevak. Những mạng lưới tình báo của người Iran đã giăng bủa khắp Iraq từ thời Vua Shah. Một số nhân viên của Savak là chuyên gia về Iraq nên được Vevak sử dụng lại để phục vụ cho mục đích của họ.

    Khi quân đội Mỹ xâm lược Iraq năm 2003, Vevak - luôn hợp tác chặt chẽ với lực lượng Vệ binh cách mạng Hồi giáo Iran - đã nhanh chóng thành lập những cơ sở tình báo của mình ở Baghdad, Nadjaf, Kut, Bassora và Kirkuk.

    Ở Afghanistan, người của Vevak đã thâm nhập vào các bộ tộc của nước này từ nhiều năm qua. Thậm chí Vevak cũng mua chuộc được người trong quân đội Anh và NATO và thu thập được nhiều thông tin nhạy cảm. Israel là kẻ thù số 1 của Iran. Vevak hiện nay đang mở cuộc chiến không khoan nhượng với Israel

    Diên San (tổng hợp)

    Theo ANTG

  10. #10
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    [center:3he8uaep]Cuộc chiến tình báo Mỹ - Trung[/center:3he8uaep]

    Một băng video của FBI tiết lộ, việc chuyển giao các tài liệu quân sự mật cho một điệp viên Trung Quốc trong tháng 2 năm nay đã cho thấy nước Mỹ đang phải chống chọi với thế giới ngầm của mạng lưới gián điệp nước ngoài. Băng video cho thấy Gregg Bergersen, quan chức ở Cơ quan Hợp tác an ninh quốc phòng Mỹ (DSCA), đã nhận tiền để trao thông tin quân sự mật của Mỹ cho gián điệp Trung Quốc Tai Shen Kuo.


    Trong vụ án gián điệp này, Bergersen lĩnh án 5 năm tù, còn Kuo 15 năm tù. Cũng trong tháng 2/2010, một gián điệp Trung Quốc khác bị tuyên án 15 năm tù vì tội đánh cắp những bí mật nhạy cảm từ những cựu nhân viên của mình - làm việc cho hai tập đoàn hàng không lớn của Mỹ là Boeing và Rockwell International - và chuyển giao về.

    Kỹ sư Dongfan "Greg" Chung, 73 tuổi, người Mỹ gốc Hoa, bị kết tội cung cấp những bí mật thương mại về tàu con thoi, máy bay quân sự và cả dự án tên lửa Delta IV của Mỹ cho phía Trung Quốc.

    Chi Mak, cựu kỹ sư hợp đồng làm việc trong một cơ quan quốc phòng và người giúp trao tài liệu mật cho Chung, cũng bị tuyên án 15 năm tù giam vì tội chuyển giao công nghệ quân sự nhạy cảm cho Trung Quốc, trong đó bao gồm thông tin về tàu chiến, tàu ngầm hạt nhân v.v... của Mỹ.

    Những vụ án trên cho thấy ngày càng có thêm nhiều điệp viên Trung Quốc đang hoạt động ngầm trên đất Mỹ. FBI đã bắt giữ hàng chục người Hoa ở Mỹ trong những năm gần đây vì liên quan đến những hoạt động gián điệp có lợi cho Trung Quốc. Theo nhiều báo cáo khác nhau, có gần 500 vụ án tương tự đang trong quá trình điều tra.

    Dĩ nhiên, chính quyền Trung Quốc luôn khăng khăng phủ nhận sự dính líu đến những vụ án gián điệp này và thậm chí còn cho rằng, những vụ án trên được Mỹ "thiết kế" nhằm bôi nhọ nước họ. Trung Quốc cũng phủ nhận sự dính líu đến những cuộc tấn công hệ thống mạng của Mỹ xảy ra trong thời gian gần đây.

    Roger Faligot, tác giả người Pháp của hàng chục cuốn sách về đề tài gián điệp, tuyên bố có nhiều điệp viên Trung Quốc làm việc ở nước này. Trung Quốc có nhiều cơ quan tham gia thu thập thông tin tình báo - trong đó bao gồm nhiều cơ quan tình báo quân sự, nhiều cơ quan gián điệp kinh tế, chính trị, công nghiệp v.v...

    Trong báo cáo năm 2007 gửi đến Quốc hội Mỹ về sức mạnh quân sự của Trung Quốc, Bộ Quốc phòng nhấn mạnh mạng lưới gián điệp của nước này là mối đe dọa rất lớn cho nước Mỹ.

    Báo cáo giải thích: Một vài vụ án đã cho thấy những nỗ lực của Trung Quốc nhằm sở hữu những công nghệ nhạy cảm của Mỹ một cách bất hợp pháp bằng việc tuyển dụng những doanh nhân và nhà khoa học làm việc trong những vị trí nhạy cảm làm gián điệp. Cơ quan Phụ trách hải quan và di trú Mỹ (ICE) đánh giá mạng lưới gián điệp Trung Quốc là mối đe dọa hàng đầu cho công nghệ của Mỹ.

    Từ năm 2000, ICE tiến hành hơn 400 cuộc điều tra liên quan đến xuất khẩu bất hợp pháp vũ khí và công nghệ Mỹ đến Trung Quốc. Gián điệp Trung Quốc chống Mỹ đã có từ lâu. Vào cuối thập niên 90 thế kỷ trước, Trung Quốc đã sở hữu được một số lượng lớn thông tin nhạy cảm nhất của Mỹ, bao gồm những thiết kế vũ khí nhiệt hạch của Mỹ.

    Nhưng Trung Quốc không chỉ tìm kiếm những bí mật chính quyền và quân sự. Gián điệp kinh tế đã trở thành một yếu tố gây bất lợi rất nhiều cho nền kinh tế Mỹ. Hiện nay khó đánh giá được chính xác mức độ tổn thất của kinh tế Mỹ trước sự xâm lăng của gián điệp kinh tế nước ngoài, nhưng Giám đốc FBI Robert Mueller cho biết, trong năm 2003 "bọn ăn cắp bí mật thương mại và những công nghệ mang tính đột phá - những gì mà chúng ta gọi là gián điệp kinh tế - gây tổn thất cho Mỹ đến 250 tỉ USD/năm".

    Và Trung Quốc là vấn đề hàng đầu. Những ví dụ về gián điệp kinh tế của Trung Quốc cũng không là mới. Từ xâm nhập những công ty Mỹ ở thung lũng Silicon cho đến ăn cắp phần mềm độc quyền từ các công ty nước ngoài đóng ở Trung Quốc.

    Một số nhà phân tích, như là chuyên gia an ninh mạng Alan Paller của Viện SANS (SysAdmin, Audit, Network, Security), tuyên bố mỗi công ty nước ngoài ở Trung Quốc đều có hệ thống máy tính bị nước này gây tổn hại. Vào đầu năm nay, Công ty phần mềm tư nhân Mỹ Cybersitter đã tiến hành một vụ kiện cấp liên bang chống Trung Quốc về việc nước này ăn cắp phần mềm chống khiêu dâm độc quyền của công ty. Trung Quốc đã sử dụng phần mềm độc quyền của Cybersitter một cách bất hợp pháp để kiểm duyệt Internet ở quốc gia này. "Tôi không ngờ lại có một vụ ăn cắp trắng trợn đến như thế", một luật sư của công ty nói. Thiệt hại ước tính cho Cybersitter là trên 2 tỉ USD!

    Vậy thì mục đích của các hoạt động gián điệp của Trung Quốc là gì? Mỗi chuyên gia đều có ý kiến khác nhau. Charles Viar, cựu quan chức phản gián và Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu tình báo (CIS), giải thích: "Người Trung Quốc thu thập một “bản đồ” toàn diện về kinh tế và chính quyền Mỹ đồng thời ăn cắp công nghệ cao của chúng ta phục vụ cho những mục đích kinh tế và kỹ nghệ của nước họ". Mục đích là, Charles Viar nói, "giành quyền bá chủ toàn cầu - trong hòa bình, nếu có thể. Nếu không nói là với cái giá quân sự ở mức tối thiểu".

    Roger Canfield, tác giả vài cuốn sách về Trung Quốc và các hoạt động gián điệp của nước này, nói: "Người Trung Quốc đang hướng đến việc xây dựng một tàu sân bay, thiết lập các cảng ở khắp mọi nơi và lập những hệ thống tên lửa và vệ tinh tiên tiến. Canfield cho biết mục tiêu lâu dài của Trung Quốc là hiện đại hóa quân sự đến mức có thể thách thức với sức mạnh quân sự của Mỹ. Không ít chuyên gia đã đề cập đến khả năng nguy hiểm này".

    Cựu Thứ trưởng phụ trách khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Canada nói: "Tuyệt đối chắc chắn mục đích lâu dài của họ (Trung Quốc) là thống trị thế giới và đặt nước Mỹ - càng nhiều càng tốt - ra khỏi thương trường, và trở thành một siêu cường duy nhất trên thế giới. Họ muốn cai quản cả hành tinh!".
    Nên nhớ là năm 2005, mạng lưới gián điệp kinh tế Trung Quốc đã gây thiệt hại cho Canada khoảng 1 tỉ USD mỗi ngày. Các quan chức quân sự hàng đầu của Trung Quốc đã công khai bàn luận về khả năng hủy diệt những thành phố nước Mỹ bằng vũ khí hạt nhân, nhất là nếu Mỹ can thiệp quân sự bảo vệ Đài Loan.

    Phần đông các chuyên gia phân tích cho rằng chính quyền Mỹ hành động chưa đủ mức để đối phó với mối đe dọa từ phía Trung Quốc. Charles Viar nói: "Phản gián Mỹ - FBI - chống lại Trung Quốc không hiệu quả, trong khi Trung Quốc đã mua chuộc rất nhiều nhân viên FBI được triển khai để chống lại họ".

    FBI đánh giá có tới 3.200 công ty bình phong của người Trung Quốc đang hoạt động trên đất Mỹ và âm thầm thu thập thông tin mật về chính quyền và các công ty của Mỹ. Và chỉ một số nhỏ gián điệp trong số này bị phát hiện. Bộ Tư pháp Mỹ đã buộc tội 44 cá nhân trong 26 vụ án kể từ tháng 3/2008 và số người này hiện bị giam giữ trong các nhà tù liên bang Mỹ, theo tờ Washington Post.

    Vụ án gián điệp nổi tiếng nhất và gây ấn tượng nhất có lẽ là vụ liên quan đến Larry Wu Tai Chin - người từng phục vụ cho CIA trong 30 năm, từ năm 1985. Tai Chin bị buộc tội bán các tài liệu mật cho Trung Quốc từ năm 1952. Trong khi đang chờ tuyên án, Chin kêu gọi Trung Quốc giúp giải cứu ông. Nhưng Bắc Kinh lên tiếng phủ nhận mọi sự liên quan đến Tai Chin.

    Và không lâu sau khi nhận án tù chung thân vào ngày 22/2/1986, Chin - một trong những gián điệp nổi tiếng nhất của Trung Quốc - được phát hiện đã tự sát chết. Nguyên do thật sự về cái chết của điệp viên Trung Quốc Tai Chin hiện vẫn còn trong vòng bàn cãi.

    Từ sau vụ này, FBI cảm thấy bất an về sự xuất hiện ngày càng nhiều của điệp viên Trung Quốc. Ví dụ, nữ nhân viên FBI Katrina Leung bị phát hiện là điệp viên hai mang vào năm 2003 và từng quan hệ tình dục với ít nhất 2 đặc vụ FBI! Bắc Kinh luôn phủ nhận sự liên quan đến bất cứ vụ án gián điệp nào hay bất cứ mối quan hệ nào với những cá nhân bị buộc tội, do đó hậu quả là tất cả những gián điệp Trung Quốc này phải ngồi tù mọt gông hoặc chết trong những hoàn cảnh khó hiểu.

    Điều này hoàn toàn tương phản với những nỗ lực khó nhọc của tất cả các quốc gia khác nhằm giải cứu điệp viên của mình, bao gồm cả Liên Xô và nước Nga hiện nay. Mỹ không là quốc gia duy nhất gánh chịu mạng lưới gián điệp khổng lồ của Trung Quốc với mục đích moi những thông tin bí mật về chính trị, quân sự và kỹ nghệ.

    Ví dụ, có hơn 1.000 điệp viên và người đưa tin Trung Quốc hoạt động ở Canada, trong khi Ủy ban An ninh công cộng quốc gia của Nhật Bản phát hiện một nữ điệp viên người Trung Quốc kiểm soát 30.000 điệp viên Trung Quốc khác ở Nhật Bản - theo tạp chí Shukan Post của nước này. Sự phát hiện các mạng lưới gián điệp Trung Quốc lan tràn đang tiếp tục được tiết lộ trên thế giới và chính quyền nhiều quốc gia hiện nay đang hết sức cảnh giác đề phòng trước mối đe dọa bí mật chưa từng có này


    Theo ANTG.

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •