CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 3 của 12 Đầu tiênĐầu tiên 12345 ... CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 116

Chủ đề: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

  1. #21
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    "Ngày 15/4: 10 giờ 30 phút đêm. Một tiếng nổ cực lớn làm rung chuyển tòa nhà chúng tôi đang ở. Kho đạn ở Biên Hòa bị nổ rồi. Sau đó là những tiếng nổ lớn khác nữa. Hôm nay, nghe đồn rằng tàu bè di tản ở Vũng Tàu đã rời đi Philippines. Sẽ di tản tất cả những người Mỹ hoạt động công khai trong vòng 7 đến 10 ngày".

    4 ngày tiếp theo đó trong cuốn nhật ký kể về việc quân giải phóng tiến về từ khắp mọi hướng, nhiều sư đoàn áp sát thành phố ở phía bắc, tây và tây nam, Phnom Penh sụp đổ và những sự phân công nhiệm vụ trong tình huống di tản khẩn cấp.

    Sáng 16/4, một nhân viên bán quân sự của CIA có biệt danh Lew James đã bị quân giải phóng bắt giữ khi họ tràn vào thành phố biển Phan Rang. Thoạt tiên, có tin ở Sài Gòn rằng James hoặc đã trốn thoát hoặc đã bị giết chết và vụ bắt giữ anh ta đã không được loan báo trên đài. Khi thông tin về việc biến mất của James tới tai những đồng nghiệp của anh ta, Air America đã sử dụng các máy bay và trực thăng tiến hành một chiến dịch tìm cứu mạo hiểm trong hai ngày sau đó.

    Các máy bay của Air America đã chà xát những tuyến đường dọc theo vùng bờ biển, nơi các đơn vị quân giải phóng đang nhộn nhịp di chuyển. Khi một chiếc máy bay Volpar sà xuống quá thấp trên một khu vực có quân đội đối phương, cánh máy bay đã dính một số phát đạn AK-47 từ dưới bắn lên. Viên phi công đã buộc phải cố gắng hạ cánh xuống một bãi biển cách nơi trúng đạn vài dặm và đội bay cùng với các nhân viên CIA trên máy bay sau đó đã được một máy bay Huey khác của Air America tới cứu thoát. Không có thương vong nhưng sau đấy, chiến dịch tìm cứu đã bị ngừng lại ngay ngay lập tức.
    Lew James được đưa ra Hà Nội, nơi anh ta bị thẩm vấn và xác định rõ là nhân viên của CIA. Hơn sáu tháng sau ngày 30/4, anh ta được trả tự do.

    Điều lạ lùng là trong giai đoạn đầu của chiến dịch di tản, những người đầu tiên được ra đi không phải là nhân viên địa phương làm việc cho sứ quán Mỹ, mà lại là những người làm việc cho các hãng thông tấn Mỹ.

    Điều này rõ ràng nằm trong ý định của viên đại sứ Mỹ muốn lấy lòng giới truyền thông và giữ cho họ im lặng về việc ông ta tiếp tục khước từ ra lệnh tiến hành một chiến dịch di tản toàn diện. Trong mấy ngày sau đó, các chuyến bay của Air America đã di tản trót lọt hơn 600 người mà không hề có thông tin nào bị rò rỉ. Giai đoạn đưa những người làm trong ngành truyền thông khỏi Sài Gòn có lẽ là một trong những giai đoạn thành công nhất trong chiến dịch di tản do sứ quán Mỹ thực hiện.

    Ngoài ra, cũng có một chuyến bay bí mật khác của Air America bay sang Thái Lan, mang theo gia đình của nhân viên kỹ thuật do CIA đào tạo và làm việc cho Bộ Quốc phòng Việt Nam Cộng hoà. 143 người, hầu hết là phụ nữ và trẻ em, đã có mặt trên chuyến bay này. Có vẻ như trong giai đoạn đầu của chiến dịch, những người không thuộc diện "nhạy cảm" ra đi nhiều hơn những người thuộc diện này. Kể từ ngày 20/4, mỗi ngày có từ một đến hai chuyến bay mà hầu hết hành khách đều là bạn bè hoặc người quen của các nhân viên văn phòng tuỳ viên quân sự, những người nôn nóng muốn rời VN. Những chuyến bay đều đặn của Air America được thể hiện trong nhật ký của Fred Fine.

    “Ngày 21/4: Hôm nay, Jim Voyles trên một chiếc Volpar bị bắn ở vùng ngoại ô Phan Rang. Phát tín hiệu cấp cứu. Tôi gọi một chiếc trực thăng nhưng rồi anh ta đã hạ cánh được ở Vũng Tàu. Càng tốt, thế là có cơ hội để đi tắm biển! 10h30’ sáng nay, máy bay C-130 và 7 chiếc Joly Green (loại máy bay lớn của không quân Mỹ) chuyển ra đảo Côn Sơn, hướng về phía đông bắc. Có cảm giác thanh thản. Hạm đội 7 đã có mặt trong vùng”.

    Đêm 21/4, các máy bay C-46 và C-47 của Air America bắt đầu đưa các nhân viên một đài phát thanh tuyên truyền của CIA ra đảo Phú Quốc. Ngay trong nội bộ CIA, đài phát thanh tuyệt mật này cũng chỉ được gọi với mật danh “Nhà số 7” bởi phòng bá âm của nó đặt tại một ngôi nhà cũ nát ở số 7, Hồng Thập Tự, Sài Gòn. Máy bay đưa ra đảo cả thảy 144 nhân viên người Việt làm việc cho đài cùng với gia đình họ. Sau 4 ngày, các máy bay của Air America đã chuyên chở được hơn 1.000 người, sau đó họ được đưa tới Guam. Toàn bộ chiến dịch di tản nhân viên này chỉ là một nỗ lực của một sĩ quan CIA, người đã gạt sang một bên tất cả những trở ngại do thói quan liêu gây nên. Có lẽ anh ta làm vậy bởi rất có cảm tình với hai nữ phát thanh viên rất gợi tình của đài này, những người thường xuất hiện trên sóng phát thanh dưới tên gọi “Mẹ Việt Nam”.

    “Ngày 23/4: Tình hình vô cùng căng thẳng. Một điều gì đó sắp xảy ra”, Fred Fine viết trong nhật ký. Điều đáng ngạc nhiên là các phi công của Air America vẫn tiếp tục ở lại. Quả thật, nhiều người trong số họ không nghĩ rằng Sài Gòn sẽ nhanh chóng sụp đổ và thậm chí còn cho rằng tình thế có thể biến chuyển ngược lại, thế nhưng, cũng có những người muốn chứng kiến mọi việc sẽ diễn ra như thế nào, muốn đi đến cùng của các sự kiện.

    Toàn bộ các căn cứ của Air America ở Đông Nam Á bao gồm Viên Chăn (Lào), Udorn (Thái Lan), thậm chí cả ở Tachinawa (Nhật) đã đóng cửa. Giờ đây, Sài Gòn đang bị vây kín bởi 12 sư đoàn quân giải phóng và các phi công biết rõ điều đó.

    “Điều nặng nề nhất trong những ngày cuối cùng ở Sài Gòn là chúng tôi biết rằng nó đang tan rã”, Wayne Lannin nói. “Bạn muốn rời đi và mặc kệ tất cả những gì đang diễn ra, bạn biết rõ rằng bạn có thể bị giết chết bất cứ lúc nào. Thế nhưng lòng tự ái cá nhân vẫn ngăn cản không cho phép bạn rời khỏi đấy”.

    Chỉ còn các máy bay của lính thuỷ đánh bộ và không quân Mỹ tiếp tục thực hiện những đợt di tản cuối cùng. Những hoạt động này được thực hiện tốt hơn nhờ các phi công của Air America đã tạo lập và sơn sẵn các tín hiệu hạ cánh, hầu hết là trên các nóc nhà khi cần thiết. Những người này được đưa tới các điểm hạ cánh của lực lượng lính thuỷ đánh bộ và không quân, nơi các máy bay lớn hơn sẽ đưa họ đi tiếp.

    Chỉ trong vòng một tuần, tỷ lệ đổi tiền đã từ 200 đồng/USD tăng lên thành 4.500 đồng/USD. Các nhân viên có kinh nghiệm của Air America, những người đã trải qua những hoàn cảnh tương tự, mang tiền USD của họ đổi lấy tiền đồng Nam Việt Nam, sau đó tới khu buôn bán của thành phố mua vàng hoặc nữ trang. Công việc mua bán trong thành phố vẫn diễn ra như thường lệ.

    Nhưng đó lại là thời kỳ khó khăn đối với gái làm tiền. Các đơn vị lính Mỹ rút đi đã để lại một số lượng lớn gái mại dâm. Một phi công của Air America có thể đi chơi đêm và với tỷ giá đổi tiền trên thị trường chợ đen như vậy, anh ta có được một cô gái đẹp chỉ với 66 cent nếu như đi “tàu nhanh” và 1,11 USD nếu qua đêm. “Chỉ với 10 USD, anh ta có thể chết trong hoan lạc!”

    Các phi công của Air America có tiếng đến nỗi họ được coi như có hẳn một được dây để đưa người thoát ra khỏi Việt Nam. “Ngày nào cũng có người tới nhà, hầu hết đều là những người lạ hoắc, nhờ vả đưa họ ra đi”, một phi công kể lại. Một số người Mỹ đã tìm ra cách đưa những người Việt Nam vào diện di tản và một vài viên phi công của Air America đã kiếm bộn tiền.

  2. #22
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    Khi ấy, có rất nhiều người Việt Nam giàu có muốn trả những khoản tiền lớn chỉ để ra đi ngay.
    “Một số phi công của Air America đã đăng ký cho ba chục, bốn chục thậm chí năm chục người ra đi chủ yếu vì tiền”, Mel Cooper, một phi công lái trực thăng cho Air America nói. “Để đảm bảo như vậy, các phi công phải ký vào một bản cam đoan chịu trách nhiệm về mặt phúc lợi xã hội cho những người này ở Mỹ và rằng những người này sẽ không tìm kiếm khoản trợ cấp khi họ đến Mỹ. Các phi công đã ký vào những bản cam đoan để kiếm tiền bởi họ nghĩ rằng sẽ không bao giờ phải chịu trách nhiệm về chuyện đó. Tôi cho rằng những bản cam đoan đó được giữ lại ở sứ quán Mỹ và không bao giờ ra khỏi Việt Nam.

    ***

    Sự sụp đổ của Sài Gòn chỉ còn được tính từng ngày. Một thành viên của ICCS (Ủy ban Kiểm tra và giám sát bốn bên hiệp định Paris) nói rằng cuộc tiến công sẽ diễn ra trong vòng vài giờ nữa.

    "Lúc 9h30, Reed Chase tới, nói anh ta nghe có tin rằng tướng Giáp đã bị ám sát, và rằng các đơn vị quân đội giải phóng nay đã ở Bắc Việt. Nếu đúng như vậy thì đây là tin tức tốt đẹp nhất vào lúc này", Fred Fine viết trong nhật ký. "Trong thành phố, không ai có thể ngủ yên lành, nếu như quả thật có ai đó có thể ngủ. Tốt nhất là hãy ở phi trường, nhưng lại không kiếm được giường nằm... Tàu có mặt khắp nơi ngoài bờ biển Vũng Tàu. Bốn chiếc lớn cùng với các tàu hộ tống".

    "Ngày 24/4: Cứ tưởng quân giải phóng tấn công vào lúc 6 giờ sáng, nhưng điều đó không xảy ra. Lại nghe tin người bị bắn là tướng Trường Chinh (ở đây người viết nhật ký nhầm lẫn về chức vụ) chứ không phải là tướng Giáp", Fred Fine viết. "Người Mỹ bắt đầu vạch các ký hiệu hạ cánh cho máy bay trực thăng tại phi trường. Họ di chuyển rất nhiều công trình xây dựng, ủi đổ nhà, dọn dẹp những khu vực bẩn thỉu, chặt cây cối và các cột điện thoại... Hàng trong PX (cửa hàng của quân đội Mỹ) chỉ bán nửa giá, thậm chí còn rẻ hơn. Không có bia Mỹ để bán, một thảm họa! Cả rượu vang và rượu mạnh cũng vậy".

    "Ngày 25/4: Nghe nói nhiều thành phố ở Nam Việt Nam bị ném bom từ mấy hôm rồi. Sáng nay, hàng trăm dân di tản Việt Nam vây quanh cổng chính sân bay. Từ tuần trước, ở đây đã như vậy. Trong suốt 6 ngày qua, trên sóng FM 99,9 Hz của đài Sài Gòn không hề có tin tức nào. Rất dễ bực tức. Vả lại, không biết liệu chúng tôi có thoát khỏi Nam Việt Nam an toàn hay không. Khi bay, chúng tôi luôn bị đe dọa bởi tên lửa phòng không SA-7 "Strella" và có rất nhiều vị trí mới, không được chỉ dẫn mà phi công của Air America phải bay. Đã thấy xuất hiện cả súng 57 mm ở cách sân bay có 8 dặm. Thật tuyệt! Có thể còn có nhiều đơn vị khác hiện ở quanh Sài Gòn. Trong nhiều tuần, hầu hết chúng tôi đã sống du mục với một cái túi xách của hàng không luôn bên mình. Tất cả mọi tài sản đã được gửi đi, vứt đi hoặc trong chiếc va-li ở sân bay. Nghe nói có tàn sát ở Phnom Penh, chặt đầu công khai. Có thêm cái để mà nghĩ".

    "27/4: Căng thẳng. Rất nhiều tin đồn. Rằng phi trường Tân Sơn Nhất sẽ bị đóng cửa và chúng tôi không thể bay ra ngoài được. Rằng 200 cảnh sát ở Ban Mê Thuột bị bắn...".
    Sau ba năm rưỡi, ba quả rocket đầu tiên đã bắn vào Sài Gòn. Quá nửa đêm, lại thêm bốn quả nữa. Quân giải phóng đã tiến công mạn bắc Sài Gòn, ở khu vực Tân Cảng, ném bom Tân Sơn Nhất và bắt đầu bắn phá các căn cứ không quân, coi đó là dấu hiệu mở đầu cho cuộc tiến công cuối cùng.

    "Sang ngày 28/4, phi trường phải chịu sự không kích nặng nề. 18h00: một phi đội gồm 5 chiếc phản lực A-37 (do quân giải phóng chiếm được của quân Việt Nam Cộng hoà) trang bị loại bom MK 81 đã không kích khu vực đường băng của sân bay Tân Sơn Nhất", báo cáo của cơ quan Bộ Quốc phòng Mỹ DAO sau cuộc tấn công cho biết. "Sáu quả đã rơi trúng khu vực đỗ máy bay của không quân Sài Gòn, phá hủy nhiều chiếc, trong đó có ít nhất 3 chiếc AC-119 và vài chiếc C-41. Hai quả bom khác rơi trúng khu vực nằm giữa Trung tâm Chỉ huy và đài kiểm soát. Không có máy bay nào của không quân Mỹ bị hư hại".

    Fred Fine ghi nhận: "Ngày 28/4, 6 giờ 20 phút chiều, lấy xe của Reed Chase. Bỏ cái túi xách hàng không lại phòng ở rồi lái xe tới phi trường. Khi cách cổng phi trường khoảng 100 yards (khoảng 90 mét), tôi nghe thấy 6 tiếng nổ lớn của loại bom 500 pound. Những chiếc A-37 của không quân Việt Nam Cộng hoà trong tay quân giải phóng. Ba người Mỹ trên chiếc xe chạy đằng trước bỗng nhào ra khỏi xe với vẻ hoảng sợ, bò lổm ngổm trên vỉa hè về phía sau đuôi xe của họ".

    "Tôi lái xe tới gần và hỏi xem chuyện gì đã xảy ra. Họ nói cái gì đó tôi không hiểu được. Tôi hỏi lại và một người trong bọn hét lên: 'Có tiếng súng bộ binh'. Tôi không nghe thấy gì hết. Cả đại úy John Fenburg đi cùng tôi cũng vậy. Những người lính quân cảnh ở Sài Gòn chạy tới và nói bọn tôi nên rời khỏi đấy. Một chỉ dẫn thật thông minh, tôi nói. Tôi lái xe qua thảm cỏ phân cách sang bên đường ngược chiều rồi quay đầu xe về thành phố. Cả hai chúng tôi đều nghi ngờ về chuyện có tiếng súng bộ binh và quân giải phóng đã có mặt tại khu vực này của thành phố. Đến nửa đường về thành phố, xe của tôi sa vào một đám tắc đường. Rất nhiều xe quay đầu 180 độ và phóng ngược ra phi trường. Điều đó cho thấy hoặc là vụ tắc nghẽn giao thông này rất khủng khiếp, hoặc là đã có những hoạt động quân sự trong thành phố".

    "Ngay trước khi sa vào đám tắc đường, có thể nghe thấy hàng loạt tiếng nổ và trông thấy những loạt đạn súng phòng không nhằm vào hai chiếc A-37. Những loạt đạn này không trúng mục tiêu. Không muốn rúc vào đám tắc đường lâu hơn hoặc sa vào những cuộc đụng độ, tôi quay đầu xe một lần nữa và trở lại 249, khu nhà của Cơ quan Viện trợ Mỹ USAID, nơi có khoảng 40 phi công và nhân viên giám sát của Air America. Đó là một tòa nhà 7 tầng nằm cách phi trường khoảng 1 km. Tôi lên sân thượng và có thể quan sát thấy rất nhiều đám cháy cũng như khói đen kịt bốc lên từ phía sân bay".

    "Lệnh giới nghiêm lúc 24 giờ đã khiến cho người dồn cục lại ở 259. Quả là sáng suốt khi để cái túi xách hàng không với hộ chiếu, sổ ghi séc, tiền và các vật dụng giá trị khác ở lại 87 Nguyễn Đình Chiểu. Tìm được một chiếc giường để ngủ chung cùng đại úy Fred Stiklel và các phi công lái trực thăng khác. Gặp tướng Dương Trọng Phương. 7 giờ 30 tối. Một vụ nổ khủng khiếp cách khoảng 10-15 dặm về phía đông bắc. Có thể là khu kho Long Bình. Nổ thế mới là nổ chứ! Đơn vị 112 của chúng tôi di chuyển. Đứng trên sân thượng có thể quan sát thấy khá rõ rất nhiều vụ nổ khác trong đêm. Tất cả các phi công của Air America vẫn bị mắc lại tại chỗ. Một số ở ngoài sân bay".

  3. #23
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    Hầu như không thể biết được điều gì đang diễn ra. Các phi công Air America chỉ còn cách trông chờ vào việc nghe đài BBC để cố gắng hình dung điều gì đang xảy ra ở cái thành phố mà họ bị mắc kẹt lại này.

    "Nếu bạn nghe đài của quân đội, bạn sẽ chẳng bao giờ biết được điều gì đang xảy ra ở Việt Nam bởi toàn tin thời tiết, bầu cử và có cả tin một vụ tai nạn ô tô nữa", Art Kenyon kể. "Trong khi ấy, BBC cung cấp cho chúng tôi những tin tức thời sự. Một vài điều khá nghiệt ngã nghe được trên BBC chúng tôi biết là sự thật bởi chính mắt tôi đã từng chứng kiến, còn những điều khác thì chúng tôi cũng nghĩ là chúng chân thực".

    Kenyon muốn giữ riêng căn hộ của anh ta trong tòa nhà của Cơ quan viện trợ Mỹ USAID, nhưng rồi đêm 28/4, anh ta đột nhiên đổi ý, mời các phi công khác vào ở chung trong căn hộ 3 buồng ngủ có đầy đủ đồ đạc tiện nghi nhưng hầu như không còn được ngó ngàng gì tới nữa. Họ uống vài ly rượu, nghe chương trình hải ngoại của đài BBC trước khi đi ngủ. "Tôi không thể nhớ chính xác là đã nghe tin gì nhưng chắc chắn đó toàn là những tin tồi tệ", Kenyon nói.

    Toàn thành phố bị đánh thức vào lúc 4 giờ sáng hôm sau bởi tiếng gầm rú của hàng loạt tiếng nổ liên tiếp. Wayne Lannin hét lên với người bạn cùng phòng Izzie Freedman: "Izzie, chắc họ sắp tấn công rồi".

    "Không, không, đấy chỉ là tiếng sấm thôi", Freedman trả lời vẻ ngái ngủ. Lannin leo lên sân thượng và trông thấy những vụ nổ ở ngoài phi trường. "Ý nghĩ đầu tiên của tôi là: 'Ôi trời ơi, họ đã đánh trúng các máy bay' và như vậy chúng tôi không thể nào thoát ra khỏi thành phố được nữa", Lannin kể. "Khi ấy, bạn cảm thấy bản thân hụt hẫng và tôi cảm thấy một nỗi khiếp sợ chưa từng thấy. Nếu như có một chiếc trực thăng, bạn luôn có cảm giác là bạn sẽ thoát được ra khỏi đó. Bạn không biết những người khác ra sao nhưng chắc chắn có một cỗ máy sẽ đưa bạn thoát đi. Nếu phá hủy những cỗ máy đó thì tôi hoàn toàn không còn gì để bấu víu vào nữa".

    Trong khi đó, Art Kenyon bị đánh thức bởi người bạn cùng phòng đập cửa với tiếng hét: "Lên sân thượng mau lên".

    Kenyon lên sân thượng tòa nhà Cơ quan viện trợ Mỹ USAID và nhìn thấy những đám cháy ở ngoài phi trường. "Trông giống như một đường chân trời bằng lửa vậy”, Kenyon nói. "Hỏa tiễn vẫn tiếp tục bắn vào, những tiếng nổ liên miên không dứt và chúng tôi có thể trông thấy phần đuôi một chiếc C-46 của Air America chổng ngược lên trời trong ánh sáng bập bùng của một chiếc C-130 cháy gần đó trên đường băng cũ hướng Bắc-Nam".

    "Một chiếc C-119 của không quân Nam Việt Nam trang bị những khẩu súng Gatling đang bay vòng vòng trên khu vực phía bắc của phi trường vãi đạn xuống. Phải tận mắt nhìn thấy cái cảnh tượng ấy trong đêm, bạn mới có thể thấy nó khủng khiếp đến mức nào. Giống như có một cái lưới bằng lửa đang chụp xuống mặt đất, với những đường đạn nối nhau không dứt như cái máy bay đó nối với mặt đất bằng một tấm màn bằng lửa vậy. Tôi đã đứng đó, nhìn thấy chiến tranh diễn ra ngay trước mặt, với một ly bia trong tay. Tôi quay xuống phòng mình để lấy một ly bia khác và khi quay lên thì chiếc C-119 đã bị bắn rơi. Nó đã bị một quả tên lửa đất đối không do Mỹ chế tạo bắn trúng".

    Các phi công của Air America tụ tập trên sân thượng, như thể là họ đang tham dự một bữa tiệc cocktail và họ đã cùng nhau chứng kiến cuộc chiến tranh diễn ra trong suốt buổi sáng hôm ấy.

    Ai đó bê ra một cái bàn và bắt đầu bày lên đó mấy chai rượu. Những người làm việc cho sứ quán Mỹ hoặc CIA đã có tên trong danh sách sắp sửa ra đi rất vui lòng để lại cho các phi công phải ở lại gia tài rượu của họ. Chẳng mấy chốc, cái bàn dài đã oằn mình dưới sức nặng của hàng đống những chai Courvoisier hay Jack Daniel. Một tiệc rượu Thánh cuối cùng.

    "Sau cùng thì mọi việc có vẻ cũng không đến nỗi tồi tệ lắm", Lannin nói. "Tôi đi xuống dưới và cố gắng ngủ nhưng quả thật là khó có thể ngủ được trong tiếng pháo kích như thế".

    Hầu hết các phi công quyết định ở lại trên sân thượng. Kenyon có một máy bộ đàm và thường xuyên liên lạc với phi trường. Một nhân viên kiểm soát không lưu mệt mỏi gặp khó khăn trong việc cho các phi đội máy bay cất cánh. Chỉ có hai phi công Air America trực ở sân bay khi cuộc pháo kích bắt đầu và tình hình ở đó cực kỳ hỗn loạn. Thùng nhiên liệu máy bay, bom chưa lắp, các trang thiết bị la liệt ở khắp nơi, trong khi các trực thăng của không quân Nam Việt Nam hỏng hóc đỗ đầy trên đường băng.

    Một chiếc phản lực F-5 bị để lại trên đường dẫn ngay phía trước một cái cầu thang di động dùng để lên máy bay mà động cơ của nó vẫn còn đang hoạt động. Các phi công bị kẹt lại tại tòa nhà USAID được thông báo rằng cứ ở lại đó chờ cho tới khi có thể tổ chức được các trực thăng tới để bốc họ đi.

    Mãi tới 8 giờ rưỡi sáng 29/4, bộ phận thực hiện chiến dịch mới thực hiện việc đưa các phi công ra khỏi sân thượng của tòa nhà. Kế hoạch sử dụng các máy bay của Air America để di tản ban đầu định chia làm hai phần liên tiếp nhau, với việc các xe ô tô sẽ tới những địa điểm ở trong khu trung tâm thành phố đón người đưa tới phi trường. Song do một số lượng lớn các phi công bị kẹt lại ở trụ sở USAID nên khi các ô tô bắt đầu hành trình thì mới có rất ít trực thăng có thể cất cánh được. Hơn nữa, một số thang di động lên xuống máy bay bị hỏa tiễn bắn trúng, và một nhóm lính dù Nam Việt Nam đã cướp 4 chiếc trực thăng khiến cho công việc bị chậm trễ.

  4. #24
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    Fred Fine, phi công của Air America cũng nằm trong số người bị kẹt lại trên sân thượng của trụ sở USAID. Cũng như những người khác, anh ta bị đánh thức vào lúc 4h sáng bởi hàng loạt tiếng nổ.

    "Có thể thấy sân bay Tân Sơn Nhất đang phải chịu những đợt pháo kích nặng nề bởi đại bác 130 mm, hỏa tiễn 120 mm và súng cối. Cuộc pháo kích kéo dài tới 8h30 rồi giảm dần", Fred Fine viết trong nhật ký. "Khu vực cất cánh của Air America bị trúng đạn nặng nề, ba chiếc hỏng nặng và hai chiếc khác hư hại nhẹ. Sau khi vụ pháo kích bắt đầu, rất nhiều máy bay của không quân Nam Việt Nam đã cất cánh mặc dù nhiệm vụ của chúng là để tấn công quân giải phóng từ trên không nhưng chẳng nghi ngờ gì nữa là chúng sẽ lảng dần rồi chuồn sang căn cứ Utapao bên Thái Lan..."

    "Đến 10h45 thì tôi cũng được báo tín hiệu cất cánh. Nhìn qua cửa kính máy bay, một trong những hình ảnh cuối cùng là đám đông người di tản đang leo lên bức tường xi măng bao quanh khu để máy bay. Tất cả chúng tôi đều trang bị vũ khí và một vài nhân viên hành quân đang đứng canh chừng không để cho một số binh sĩ Nam Việt Nam có vũ trang leo lên những chiếc máy bay của chúng tôi".

    "Cảnh tượng hỗn loạn khủng khiếp trên đường băng xung quanh. Những chiếc máy bay bị trúng đạn nằm khắp nơi, một số trực thăng vẫn còn đang cháy, mảnh văng tứ tung. Tôi phát hiện ra một phần đường băng đã bị một chiếc C-130 khổng lồ cháy trụi chắn ngang. Chỉ có một khe hẹp có thể lách qua ở phía đuôi con quái vật khổng lồ đã bị tử thương này. Tôi vòng qua và ơn Chúa, máy bay không hề gì cho tới khi dễ dàng nhấc mình lên không trung".

    "Chúng tôi biết rằng máy bay chỉ mang theo 500 galons xăng, có nghĩa là không thể đủ nhiên liệu để bay tới địa điểm có trong kế hoạch là Brunei, cách khoảng 700 dặm về phía đông nam. Chúng tôi cũng không thể tới một đường băng dự trữ cách Sài Gòn khoảng 125 dặm về phía nam để tiếp thêm nhiên liệu cất giấu tại đó trong những tình huống khẩn cấp. Khả năng duy nhất có thể lựa chọn là bay sang Thái Lan, mặc dù chúng tôi biết chắc chắn rằng người Thái chẳng muốn bất cứ một chiếc máy bay nào của Sài Gòn hạ cánh xuống lãnh thổ của họ".

    "Khi tôi cất cánh rời khỏi Sài Gòn có 2 chiếc C-46 và một chiếc Volpar bay về hướng lãnh thổ Thái Lan cùng với 4 chiếc C-47 nữa. Những cuộc pháo kích trong đêm 28 đã ngăn cản toàn bộ kế hoạch tiếp nhiên liệu và hầu hết số máy bay của chúng tôi chỉ có thể mang theo rất ít. Chỉ có chiếc C-47 mang số hiệu 083 là có đầy và nó bay đi Brunei".

    "Chúng tôi bay dọc theo bờ biển và do phải tiết kiệm nhiên liệu, chúng tôi nín thở bay ở độ cao 8.500 bộ (khoảng hơn 2.700 m) qua vùng châu thổ quân giải phóng đang kiểm soát và hướng ra biển xa khoảng 80 dặm, bay song song cách bờ biển phía tây nam Campuchia khoảng 15 dặm, sau đấy ngoặt vào bờ biển phía tây Campuchia để vào đất Thái Lan, tới U-Tapao. Không gặp bất cứ một rắc rối nào".
    "Hạ cánh xuống U-Tapao và nhận được sự đón chào nồng nhiệt của các nhân viên không lực Mỹ tại đây. Quả thật dễ chịu khi gặp được người quen", Fred Fine kể.

    Chiếc C-47 mà Fine kể trong nhật ký là có đầy nhiên liệu và bay đi Brunei chính là chiếc mà Art Kenyon cầm lái. Nhưng đó không phải là một chuyến đi bình an vô sự. Kenyon được một trực thăng đón từ nóc trụ sở cơ quan USAID đưa tới phi trường, trong tay khư khư cái mà anh ta gọi là "bộ đồ chạy trốn", bao gồm một khẩu tiểu liên, một cái cặp tài liệu và một va ly nhỏ, được lèn kỹ càng tiền nong và bộ quần áo.

    Những người trên máy bay di tản cùng Kenyon khi đó chủ yếu là những nhân viên mặt đất của Air America. Lúc 11 giờ trưa, họ đưa chiếc máy bay lăn ra đường băng, ngang qua chỗ chiếc C-130 đã cháy trụi. Sau hai giờ rưỡi bay trên Biển Đông, hệ thống dẫn dầu bị bung ra. "Có một tiếng nổ lớn và đường ống dẫn nối vào thùng dầu - nằm ngay phía sau ghế của phi công phụ - bị vỡ", Kenyon kể. "Do áp suất lớn nên dầu lỏng rất nóng, dẫn tới nguy cơ có thể gây cháy trong buồng lái. Khi ấy, trong khoang lái đầy dầu bắn tung tóe, quang cảnh giống như trong một bộ phim về thế chiến thứ nhất mà bạn đã từng xem, khi mặt viên phi công bị phủ đầy dầu".

    Đoàn người di tản được hướng dẫn có thể bay tới đâu họ muốn song tốt nhất là hạ cánh xuống Đài Loan nhưng Kenyon đã quyết định sẽ tới Thái Lan. "Sau 5 tiếng rưỡi bay khỏi Sài Gòn, chúng tôi quay lại U-Tapao và cố gắng hạ càng để máy bay có thể hạ cánh khi hệ thống dẫn dầu không hoạt động. Nhưng tín hiệu đèn đỏ báo hiệu không an toàn vẫn sáng. Vậy là nếu hạ cánh chúng tôi sẽ phải chấp nhận nguy hiểm và có thể sẽ không hạ được. Tôi bèn điều chỉnh van xăng đề phòng khả năng khi hạ cánh sẽ bị nguy hiểm.

    Đèn hiển thị trong buồng lái báo cho chúng tôi biết rằng một bánh máy bay không bật ra được và giữ ở vị trí cố định, nhưng không rõ đó là bánh nào. Nhìn qua cửa sổ buồng lái có thể thấy một phần của cái bánh, thế nhưng không thể xác định được là nó an toàn hay không. Cả tôi lẫn phi công phụ đều không chắc chắn điều gì đã xảy ra".

    Kenyon gọi cho đài kiểm soát và thông báo chuẩn bị hạ cánh khẩn cấp. Như một điềm gở, một chiếc C-47 khác đã bị trượt ra bên ngoài đường băng chạy theo hướng nam và nằm cách vài trăm bộ về phía bên trái. Nếu như bánh bên trái chiếc máy bay của Kenyon không được cố định vào vị trí và bộ phận hãm bị gãy khi hạ cánh thì rất có thể nó sẽ trượt sang phía trái đường băng và đâm vào chiếc C-47 ở đó. Để tránh nguy hiểm, Kenyon lựa chọn phương án hạ cánh xuống sát chiếc C-47 bị nạn, bớt mất một khoảng cách chừng ba ngàn bộ trên đường băng dài mười ngàn bộ.

    Nhưng càng máy bay vẫn hạ được và họ đáp xuống an toàn, trong khi đèn đỏ vẫn báo hiệu nguy hiểm. Chiếc máy bay nhanh chóng ngốn hết quãng đường bảy ngàn bộ còn lại trong khi vẫn ở tốc độ cao. Gió không đủ mạnh để cản chiếc máy bay lại trong khi phía cuối đường băng theo hướng nam là vịnh Thái Lan!

    Họ cố gắng hãm động cơ, đồng thời quay mũi máy bay. "Khi quay mũi ở đó, máy bay chúng tôi lao ngang qua một bãi thải và ngay khi quay đúng 180 độ, chúng tôi nhìn thấy đường băng chạy theo hướng bắc ở rất gần máy bay. Đúng vào thời điểm ấy thì chúng tôi mới nhận ra rằng không thể hãm cố định bánh sau của máy bay được".

    "Chúng tôi tăng công suất của một động cơ và máy bay chạy sang bên phải; tăng công suất động cơ bên kia để bù lại thì máy bay lại chạy sang trái. Tôi ngồi đấy, điều chỉnh hết cái van này đến cái van khác, trong khi máy bay cứ lao ngày càng gần tới đường băng phía trước. Cả hai chúng tôi đều biết rõ là khó có thể làm gì khác để thay đổi tình thế".

    "Cuối cùng chúng tôi quyết định tắt động cơ và để cho máy bay chạy tới đâu thì chạy. Lúc ấy, đường băng nằm cách chúng tôi một bãi cỏ rộng, có khả năng sẽ hãm được máy bay. Ngay lúc ấy, một chiếc B-52 cũng đang cất cánh ở phía đối diện với chúng tôi. Nếu như bãi cỏ không hãm được máy bay của chúng tôi thì rất có thể chiếc B-52 sẽ đâm vào chúng tôi từ phía phải. Rồi chúng tôi quyết định khóa tất cả các van và công tắc, mặc kệ ra thế nào thì ra. Trong điều kiện gió thổi giật khá mạnh giúp cho máy bay hướng về cái rãnh và đâm xuống đấy".

    Cả Kenyon và viên phi công phụ cắm mặt xuống, nhìn thấy cỏ ngay trước mặt, máy bay chổng ngược lên, lắc lư một lúc rồi lại hạ đuôi xuống, lấy lại vị trí thăng bằng. Cuối cùng thì họ cũng đã tới nơi!

  5. #25
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    Tại Sài Gòn, các phi công lái trực thăng của Air America bay từ sân thượng tòa nhà cao tầng này sang sân thượng tòa nhà cao tầng khác, nhặt những ai cần phải thoát ra khỏi Nam Việt Nam. Họ bắt đầu chiến dịch một cách bất thình lình.

    Sau khi chờ nhiều giờ đồng hồ trên nóc trụ sở USAID rồi được đưa tới sân bay Tân Sơn Nhất, họ lại biết có khả năng chiến dịch di tản tiếp tục bị trì hoãn và điều này dẫn tới một cuộc cãi vã giữa các phi công với những người điều hành chiến dịch. Tình hình ở sân bay ngày càng diễn biến theo chiều hướng xấu, các phi công mất hết cả kiên nhẫn.

    "Hãy bình tĩnh nào", người phụ trách điều hành chiến dịch bảo họ. "Ông đại sứ vẫn chưa cho lệnh bắt đầu".

    "Này, hãy để cho người của chúng tôi ra đi", Lannin sửng cồ. "Mẹ kiếp, hãy đưa xe tới đón họ đi".

    Không thể tin nổi là đến giai đoạn này rồi mà đại sứ Mỹ vẫn còn cho rằng có thể sử dụng các máy bay vận tải quân sự cánh cố định loại C-130 cho chiến dịch di tản mà không phải chuyển sang Phương án IV là sử dụng trực thăng.

    Nhưng rồi cuối cùng các phi công cũng nhận được lệnh dùng trực thăng để bắt đầu chiến dịch di tản. Wayne Lannin và Izzie Freedman chuẩn bị leo lên chiếc Huey của họ thì một chiếc xe Jeep chở đầy lính Việt Nam Cộng hoà xịch tới. Một người trong số đó giải thích rằng họ là phi công và sẽ lái chiếc trực thăng.

    "Các anh sẽ không lái chiếc trực thăng của tôi", Lannin nói. Anh ta cố tình để cho những người lính Nam Việt Nam trông thấy khẩu tiểu liên đang cầm ở tay nhưng vẫn cẩn thận không để mũi súng chĩa vào người họ. "Frank", Lannin hét to với người thợ cơ khí máy bay. "Bọn họ định cướp chiếc máy bay này". Sau đấy, những người lính Nam Việt Nam có trang bị vũ khí đó bị lùa ra khỏi khu vực.

    Lannin quay trở lại và leo lên chiếc trực thăng thì cũng là lúc quân giải phóng khởi sự một đợt tấn công khác nhằm vào phi trường. Một loạt tiếng nổ dậy lên chỉ cách chiếc máy bay vài mét. Freedman chạy vội về phía Lannin nhưng anh ta dừng lại ngay lập tức khi những quả đạn bắn tới nơi. Freedman bèn nhảy vội vào ngay chiếc trực thăng đầu tiên anh ta bắt gặp rồi cả hai cùng cho máy bay cất cánh.

    Đài kiểm soát không lưu của phi trường buộc phải rời vào khu nhà tương đối an toàn của Cơ quan Bộ Quốc phòng Mỹ DAO. Khó khăn lớn nhất khi ấy là thiếu các thiết bị tiếp nhiên liệu, do vậy các phi công buộc phải bay ra tận hạm đội ngoài khơi để lấy nhiên liệu. Thoạt tiên, chiến dịch di tản diễn ra có vẻ không hiệu quả lắm, cho đến khi các trực thăng chở đầy người bắt đầu đưa thẳng họ ra ngoài hạm đội chứ không dừng lại để thả họ xuống những trạm trung chuyển như trụ sở Bộ Quốc phòng DAO hay sứ quán Mỹ nữa. Điều đó có nghĩa là các máy bay của Air America đã thực hiện chiến dịch di tản từ rất lâu trước khi quân đội Mỹ tham gia vào chiến dịch này.

    Mãi đến 12h30 ngày 29/4, chiếc trực thăng đầu tiên của lính thủy đánh bộ Mỹ mới rời hạm đội 7 và thực hiện chuyến bay dài 40 phút vào Sài Gòn. Trong đợt đầu tiên có tổng cộng 36 chiếc trực thăng "Hiệp sĩ biển khơi" được các máy bay Cobra hộ tống bay vào, mặc dù việc di tản người của quân đội Mỹ bị trì hoãn tới tận 2 giờ chiều mới bắt đầu.

    Lannin và Freedman đã bay được vài giờ, hạ cánh xuống những điểm chỉ dẫn trên sân thượng các nhà cao tầng và đưa người đi thì bỗng dưng nhận được lệnh ngừng các chuyến bay. Người ta không nói cho họ biết nguyên nhân, chỉ nói hãy tìm một nóc nhà, hạ máy bay xuống đấy và chờ.

    Ngay khi Lannin hạ cánh xuống nóc nhà, một viên đại tá Mỹ tới chỗ máy bay và bảo anh ta chở một số người và hàng hóa ra một chiếc tàu của hạm đội 7. Lannin xin lệnh và được những người điều hành chiến dịch di tản cho phép. "Máy vô tuyến điện của tôi hỏng nên tôi phải tự tìm lấy chiếc tàu mà viên đại tá nọ muốn tôi tới. Cuối cùng thì tôi cũng tìm thấy nó, trên boong có 5 chiếc trực thăng của không quân Nam Việt Nam đã đỗ sẵn ở đấy. Tôi không muốn phí nhiên liệu nên cho máy bay của mình hạ cánh xuống phía sau của tàu. Tôi cho người và hàng hóa xuống, yêu cầu họ sửa giúp máy vô tuyến điện nhưng họ từ chối; tôi bảo họ tiếp thêm nhiên liệu. Khi vừa mới bắt đầu tiếp nhiên liệu cho máy bay của tôi thì một tiếng nổ cực lớn vang lên từ phía mũi tàu. Những người Việt Nam đang đẩy những chiếc trực thăng của họ xuống biển. Tôi nhìn thấy một chiếc lộn nhào qua thành tàu rồi chìm dần xuống dưới mặt nước".

    Cái cánh quạt của một chiếc máy bay bị nổ bay trên không trung khoảng năm trăm bộ như một lưỡi dao và chặt đứt đường ống đang dẫn nhiên liệu vào chiếc máy bay của Lannin, đánh bật cả máy bơm đi. Tay xách chiếc cặp, Lannin nhảy vội ra khỏi buồng chỉ huy chạy về hướng chiếc máy bay của mình, hy vọng sẽ cứu được một số thiết bị trên máy bay. Trong khi cánh quạt chiếc máy bay của anh ta vẫn còn đang quay thì đúng lúc ấy, một chiếc trực thăng của Nam Việt Nam, chở khoảng 20 người, tìm cách hạ cánh xuống boong tàu, ngay cạnh chiếc máy bay của Lannin. Khoảng trống chỗ đó quá hẹp nên cuối cùng Lannin bèn chạy thục mạng để thoát hiểm.

    Cánh quạt của hai chiếc trực thăng đậu quá gần móc vào nhau, khiến cho chiếc trực thăng Nam Việt Nam gần như bị quăng ra phía sau của boong tàu. Những người trên chiếc trực thăng Nam Việt Nam liều mạng nhảy ra khỏi máy bay để tìm đường sống, còn cả hai chiếc trực thăng đều bị đẩy xuống biển.

    Tom Grady, người đã lái chiếc trực thăng Huey 204 trong suốt những ngày cuối cùng của chiến dịch di tản, nói rằng khi chiến dịch bắt đầu vận hành thì các điều kiện có vẻ khả quan hơn. Trong chuyến bay đầu tiên, anh ta đã phải bay cực thấp ngay phía trên khu vực trung tâm của thành phố, trông ra phía mặt sông Sài Gòn. "Lý do khiến chúng tôi phải bay cực thấp là vì tôi thấy hai chiếc máy bay của chúng tôi khi cất cánh đã bị chính những người lính Việt Nam Cộng hoà bắn rơi. Họ bắn vào chúng tôi từ mọi hướng. Đó là điều mà chúng tôi đã chờ đợi ở phía những người lính Nam Việt Nam và suy cho cùng thì chưa bao giờ chúng tôi tin tưởng nhiều ở họ cả. Trong những tuần lễ cuối cùng, chúng tôi luôn ở trong tình trạng căng thẳng tại bất cứ đâu, bởi vì chúng tôi bị chính đồng minh của mình bắn, dù trên không hay trên mặt đất".

    Đến khoảng 11h30 phút ngày 29/4 thì Tom Grady cũng nhận được lệnh tạm dừng công việc. Anh ta tìm một mái nhà, đỗ chiếc Huey xuống và chờ ở đó khoảng nửa giờ đồng hồ. "Rồi tôi nghĩ, thế là đủ rồi", Tom nói. Anh ta cho lên máy bay của mình một số người, trong đó có cả một cô bạn gái của anh ta, rồi đưa họ ra hạm đội 7. Anh ta tiếp tục các phi vụ của mình cho tới tận tối, sau đấy bay chuyến cuối cùng và đậu chiếc máy bay xuống boong một chiếc tàu chiến.

  6. #26
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    [JUSTIFY]Air America có ba chiếc trực thăng trên nóc nhà trụ sở Cơ quan viện trợ Mỹ USAID, nơi một đám đông đang gào thét. Đạn pháo của quân giải phóng đã bắt đầu bắn tới phi trường Tân Sơn Nhất, cách đó khoảng nửa dặm.

    Trên con đường phía trước tòa nhà trụ sở USAID có một đám đông hàng ngàn người, được trang bị vũ khí và trong tâm trạng tuyệt vọng cùng cực, cố gắng đột nhập vào bên trong tòa nhà.

    Trưởng trạm CIA Sài Gòn Thomas Polgar rất lo lắng về việc di tản một nhóm khoảng ba chục người Việt Nam, bao gồm bạn bè và những người mà ông ta đã hứa sẽ giúp đỡ. Polgar đã dặn nhóm người này, gồm các chính trị gia, cảnh sát và một số bạn bè tới tập trung tại nhà riêng của ông ta vào lúc 11 giờ trưa ngày 29/4. Polgar dự tính sẽ tự bố trí cho nhóm người này di tản, thế nhưng, khi thời gian ngày càng trở nên gấp gáp, ông ta lại bị mắc kẹt ở sứ quán Mỹ.
    [/JUSTIFY] Polgar từng làm việc với những người đó nên cảm thấy hết sức thất vọng bởi vì không tìm ra cách nào để cứu giúp họ cả. Tình trạng hỗn loạn khi đó, với những tay súng bắn tỉa có mặt ở khắp nơi khiến cho việc đưa đám người bị kẹt ra khỏi khu vực đó là điều gần như không thể được. Một đồng nghiệp của Polgar gợi ý rằng có lẽ nên liên lạc với đám người đó, bảo họ leo lên sân thượng một tòa nhà cao tầng gần đấy rồi đưa trực thăng tới đón. Thành bại của chiến dịch giải cứu này, viên chỉ huy trạm CIA Sài Gòn đều trông chờ vào một viên phi công dày dạn kinh nghiệm của Air American có biệt danh là T.D.Latz.

    Latz là một cựu phi công lái máy bay U-2, chân đi cà nhắc, chột một mắt và rất can đảm. Polgar dùng máy vô tuyến gọi anh ta và sau 20 phút, Latz đã đậu chiếc máy bay của mình xuống nóc sứ quán Mỹ. Anh ta vừa đi vào buồng khách của viên trưởng trạm CIA, vừa lầu bầu gì đó về chuyện nhiên liệu của máy bay.

    "Này, tôi muốn anh tới số 6 Quảng Trường Chiến Sĩ và đón ba chục người của tôi ở đó”, Polgar nói. "Được chứ?" Polgar vừa hỏi, vừa nắm chặt tay viên phi công.

    Viên phi công biết rằng đậu máy bay xuống nóc nhà ở đó rất nguy hiểm vì diện tích của nó rất nhỏ, đồng thời rất có thể dính đạn từ dưới đất bắn lên. "Được thôi, ông Polgar", Latz đáp. "Nhưng tôi phải mang theo vũ khí cá nhân để đảm bảo an toàn".

    Latz leo lên máy bay, bay lòng vòng phía trên khu vực rồi đáp xuống nóc nhà.

    Thế nhưng ba chục người Việt đó không thể nào tới được bởi đám đông xung quanh sẵn sàng phá tan ngôi nhà nếu như cổng của nó mở ra. Latz ở lại đó khoảng một giờ đồng hồ, nhưng những người mà anh ta muốn đón vẫn bị kẹt trong đám đông và anh ta buộc phải quay về sứ quán mà không có họ.

    "Không có cách nào để đưa được ba chục người này ra", Latz nói với viên chỉ huy trạm CIA Sài Gòn vẻ có lỗi. "Đám lính người Nùng canh gác khóa chặt cổng trước, không chịu mở ra ngay cả khi tôi chĩa cái này vào họ". Latz chỉ khẩu súng anh ta mang theo. "Mà cũng không trách họ được. Có tới 500 người ở bên ngoài đang tìm mọi cách xông vào bên trong. Họ sẽ bị giẫm bẹp ngay trước khi có thể rút được lên sân thượng".

    Một nhân viên CIA có mặt hỏi có tiếng súng bộ binh ở đấy không. "Lác đác thôi", Latz trả lời. "Nhưng hầu hết những người Việt đang cố sống cố chết thoát khỏi cái thành phố này sẽ không cho phép chúng ta làm được cái gì hết".

    Polgar cố gắng làm giảm căng thẳng bằng một ngụm lớn rượu cognac rồi tiếp tục vạch ra một kế hoạch giải cứu mới. Ba chục người Việt Nam đó sẽ được chỉ dẫn tới một khoảnh sân thượng nhỏ trên nóc một tòa nhà khác gần đó. "Chỗ đấy không đủ rộng để dễ dàng hạ máy bay xuống được đâu, nhưng nếu khéo léo thì có thể đủ để đón Út (tài xế riêng của Polgar) và nhóm của anh ta", một phi công giải thích.

    Latz quay lại máy bay của anh ta và bay đến điểm hẹn mới. Sau đấy, anh ta quay lại sứ quán với cánh tay phải đầy máu: "Mẹ kiếp cái bọn di tản", anh ta lầm bầm chửi rủa. "Bọn chúng ép tôi ở trên cái sân thượng đằng đó. Tôi đã phải đấm vào mặt mấy người để buộc họ xếp hàng có trật tự. Đông khủng khiếp. Một số bị trượt chân ngã cả xuống dưới. Tôi thậm chí còn suýt nữa không chui được vào trong máy bay. Nó đậu chênh vênh trên cái mảnh sân bé xíu".

    Trong khi Latz thực hiện phi vụ này, một phóng viên đã chụp được ảnh Latz cùng với chiếc máy bay của anh ta đậu chênh vênh trên nóc nhà trong khi hàng người đi di tản đang nối đuôi nhau leo lên sân thượng để tìm cách lên chiếc máy bay cứu tinh. Bức ảnh này đã được đăng trên báo chí khắp thế giới và trở thành một hình ảnh đáng nhớ về những ngày cuối cùng đầy lo âu về sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam. Trong lúc bối rối, Latz cũng không dám chắc là đã đón đúng được những thành viên thuộc nhóm người mà Polgar muốn hay không.

    "Không thấy những người phiên dịch đâu cả", một nhân viên CIA nói. "Có lẽ chúng ta lại phải cố gắng thực hiện một chiến dịch đón người nữa mất".

    Polgar không nói gì.

    "Tôi không thể nào quay lại đó một lần nữa", Latz nói. "Ngay cả vào ban ngày cũng không dễ hạ cánh xuống một cái sân thượng lạ. Còn khi đêm xuống rồi thì đó là hành động tự sát".

  7. #27
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    Do ít nhiên liệu nên các máy bay của Air America phải bay cực thấp, rất nguy hiểm trong điều kiện quân giải phóng đã áp sát xung quanh. Đến khi đêm xuống thì chiến dịch di tản đã trở thành một điệp vụ bất khả thi.

    Hàng nghìn người thuộc diện “nhạy cảm” đã bị bỏ lại. Quân giải phóng cuối cùng đã chiếm toà sứ quán Mỹ, thu giữ toàn bộ những tài liệu chi tiết về các điệp viên cũng như những người từng cộng tác với Mỹ.

    Trong số cuối cùng rời thành phố có những người Mỹ đã tổ chức chiến dịch di tản bằng trực thăng trên các mái nhà. Một trong số đó là Walt Martindale, lúc đó ở trên sân thượng một toà nhà cao tầng gần sân bay Tân Sơn Nhất. Ngay khi chiếc trực thăng đáp một trong những chuyến cuối cùng trước khi bóng đêm sập xuống, hàng trăm người Việt trong tâm trạng tuyệt vọng đã phá vỡ được cánh cổng và tràn tới lối dẫn vào toà nhà. Hai viên sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng hoà đề nghị sử dụng vũ khí để ngăn đám đông nếu như Martindale đảm bảo sẽ cho họ cùng thoát thân.

    Đám đông người Việt đã vây lấy cầu thang trong khi chiếc máy bay hạ cánh xuống sân thượng. “Nhanh lên, nhanh lên”, phi công hét to thúc giục Martindale nhưng anh ta lắc đầu. Anh ta gọi những người lính Nam Việt Nam đang ghìm đám đông ở lại bên ngoài trạm gác để tổ chức đưa người lên máy bay. Cuối cùng, với số người gấp đôi khả năng cho phép, chiếc máy bay đã bay đi mà không có Martindale.

    Khi chiếc máy bay đã bay được một quãng thì làn sóng người đánh bật những người lính đang ghìm giữ họ và tràn lên sân thượng. Martindale bị dồn một cách nguy hiểm ra bên rìa sân thượng. Anh ta bị đánh vào đầu nhưng cố gắng đánh trả. Ngay khi trước trời tối, một chiếc trực thăng khác hạ cánh xuống giữa đám đông hỗn loạn. Một người thợ máy sử dụng khẩu M-16 dồn đám người Việt cuồng loạn sang một phía trong khi phi công thúc giục Martindale: “Mau lên, mau lên”. Cả ba rút vào bên trong máy bay và họ cất cánh trong tiếng gào thét tuyệt vọng của đám người cầu xin sự giúp đỡ.

    Trước khi bay ra Hạm đội 7 ngoài biển Đông, do lo không có đủ nhiên liệu nên họ hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn Nhất đang bốc cháy bởi những đợt pháo kích dữ dội để tiếp thêm nhiên liệu. Việc hạ cánh xuống đây còn có một lý do khác nữa: những người quản lý Air America đã lơ đễnh để quên 50.000 USD trong một căn phòng an toàn tại phi trường. Khi chiếc máy bay hạ cánh, không hề có một ai ở gần đó cả và trong khi viên phi công phụ tiếp nhiên liệu cho máy bay, tay thợ cơ khí người Philippines chạy thật nhanh lại phía căn phòng an toàn và cố gắng mở cửa căn phòng này. Một nhóm binh lính Nam Việt Nam bất thần xuất hiện từ phía xa và bắt đầu bắn bừa bãi về phía chiếc máy bay. Chưa kịp lấy được tiền nhưng tình thế buộc tất cả phải leo vội trở lại máy bay, cất cánh và thực hiện chuyến bay cuối cùng trong ngày ra hạm đội 7.

    Như vậy là chiến dịch di tản người trên các mái nhà ở khu trung tâm Sài Gòn của Air American chấm dứt lúc 6h30 tối. Các phi công được lệnh bay ra hạm đội 7. Một chiếc trực thăng chở đầy rượu ra tới nơi nhưng viên thuyền trưởng nhìn rồi hét: “vứt, vứt, vứt”. Thế là chiếc máy bay với đầy rượu quý đã bị hất ra bên ngoài mạn tàu xuống nước. Hầu hết các máy bay khác cũng chịu chung số phận. Các phi công treo máy bay sát trên mặt nước rồi nhảy ra bên ngoài, một phương pháp đầy may rủi và liều lĩnh. “Ngay khi các máy bay rơi xuống nước, những cánh quạt của chúng vẫn còn quay tít và nhiều phi công có thể bị cuốn vào đấy”, Bob Murray, một phi công của Air America, nhớ lại. Một phi công Nam Việt Nam khi đó đã treo máy bay trên mặt nước ở độ cao gần 20m rồi nhảy ra ngoài.

    Khi đã lên đến những tàu chiến khác nhau của hạm đội 7, các phi công của Air America chợt nhận ra rằng họ bị đối xử một cách tồi tệ. “Chúng tôi bị lính thuỷ đánh bộ trên tàu đối xử một cách thô bạo như thể chúng tôi là những tên tội phạm”, Wayne Lannin nhớ lại. “Có thể họ đã nghe được câu chuyện về những tên lính đánh thuê được trả lương hậu hĩnh để chuyên chở ma tuý. Họ lục soát thân thể chúng tôi kỹ lưỡng, tịch thu vũ khí cá nhân của chúng tôi. Chúng tôi không bao giờ còn thấy được vũ khí của mình nữa. Một người trong chúng tôi bị mất 500 USD, hộ chiếu của anh ta bị một lính thuỷ đánh bộ lấy mất. Chỉ trong một đêm ở trên tàu của Hạm đội 7, chúng tôi mất nhiều hơn toàn bộ những gì đã mất trong suốt những năm hoạt động ở Việt Nam”.

    Đến 8h sáng hôm sau, những người tham gia chiến dịch di tản của Air America đã ngồi trong một căn phòng nóng tới 37 độ C và không có máy điều hoà nhiệt độ. Người của sứ quán Mỹ đã cố can thiệp nhưng các phi công vẫn phải ở đó cho tới 6h chiều. Lính thuỷ đánh bộ gác ngoài cửa và bất cứ ai muốn rời khỏi phòng đều bị ngăn cản thô bạo. “Trong đời tôi chưa bao giờ lại cảm thấy tồi tệ như khi ấy”, Lannin nói. “Nó làm tôi bị tổn thương nặng nề. Tôi không muốn mình rời Việt Nam theo cách này”.
    Phương án IV, chiến dịch di tản trong những ngày cuối cùng của Mỹ ở việt Nam, là chiến dịch di tản bằng máy bay lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Trong 18 giờ cuối cùng, 70 máy bay cùng 865 lính thuỷ đánh bộ đã thực hiện hơn 630 phi vụ, di tản 1.373 người Mỹ, 5.595 người Việt và 85 người có quốc tịch khác nhau. Một cuộc chiến tranh của Mỹ được ghi dấu bằng những vụ thảm sát, ném bom, cướp đi sinh mạng của bao người đã chấm dứt với chiến dịch tháo chạy trên quy mô lớn như thế.


    (Theo Thanh niên)

  8. #28
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    Những thành công và thất bại của tình báo Israel


    Tình báo Israel là lực lượng có tuổi đời non trẻ so với các bậc đàn anh ở Anh, Liên Xô, Pháp... nhưng tiến bộ rất nhanh và được coi là ngành tình báo thuộc loại hiệu quả nhất thế giới. Chính nhờ hoạt động có tính nhà nghề cao của tình báo mà quân đội Israel luôn có khả năng sẵn sàng chiến đấu cao và là một trong những yếu tố then chốt giúp Israel luôn giành được thắng lợi trong các cuộc chiến tranh với các nước Arập kể từ năm 1948 khi nhà nước Do Thái ra đời.


    [justify:1yhe03ba]Tình báo Israel là lực lượng có tuổi đời non trẻ so với các bậc đàn anh ở Anh, Liên Xô, Pháp... nhưng tiến bộ rất nhanh và được coi là ngành tình báo thuộc loại hiệu quả nhất thế giới. Chính nhờ hoạt động có tính nhà nghề cao của tình báo mà quân đội Israel luôn có khả năng sẵn sàng chiến đấu cao và là một trong những yếu tố then chốt giúp Israel luôn giành được thắng lợi trong các cuộc chiến tranh với các nước Arập kể từ năm 1948 khi nhà nước Do Thái ra đời. Hiện nay, đối tượng chủ yếu của tình báo Israel là chủ nghĩa khủng bố. Dưới đây xin khái quát vài nét về cộng đồng tình báo Israel.

    VARASH - Đây là chữ viết tắt của cụm từ “Vaadat rashet ha-Sherutim” trong tiếng Do Thái nghĩa là “Uỷ ban các chỉ huy tình báo”. VARASH về bản chất là cơ quan điều phối duy nhất của các cơ quan tình báo Israel, còn những người đứng đầu các cơ quan này là thành viên thường trực của Uỷ ban.
    Nhiệm vụ chủ yếu của Uỷ ban kể từ khi được thành lập vào năm 1949 là bảo đảm hiệu quả cho các chiến dịch của các cơ quan tình báo, khống chế, khoanh vùng sai sót, đổ vỡ và loại trừ, khắc phục những hậu quả tiêu cực khi xảy ra những sai sót, đổ vỡ. Nghị trình và thời gian các phiên họp của VARASH cho đến nay vẫn được giữ tuyệt đối bí mật. Theo truyền thống, Giám đốc Mossad đồng thời là Chủ tịch Uỷ ban.

    1. MOSSAD - “Ha-Mossad le teum” - Viện Điều phối Trung ương[/justify:1yhe03ba] [justify:1yhe03ba][/justify:1yhe03ba] [justify:1yhe03ba]Đây là tên chính thức của cơ quan tình báo quan trọng nhất, nổi tiếng nhất của nhà nước Do Thái, đồng thời cũng là cơ quan “trẻ tuổi” nhất so với các cơ quan còn lại vì nó được thành lập vào tháng 4/1951. Bởi vậy, mỗi khi nói về các “hiệp sĩ áo choàng và dao găm” của Israel thì trước tiên người ta nghĩ ngay đến các chiến dịch của Mossad mà gần như không bao giờ nhắc đến các cơ quan tình báo khác của nhà nước Do Thái mặc dù xét về số lượng cơ quan tình báo, Israel chỉ đứng thứ hai thế giới sau nước Mỹ.

    Tên đầy đủ của nó là Mossad Merkazi Le-modiin U-letafkidim Meyuhadim, tiếng Do Thái nghĩa là: “Viện Tình báo và An ninh Trung ương”.

    Mossad là một trong 5 cơ quan tình báo chủ chốt của Israel, đảm trách tình báo đối ngoại và các chiến dịch chính trị, bán quân sự ngầm ở nước ngoài, bao gồm cả ám sát những người Palestine bị cho là khủng bố và các đối tượng khác.

    Chỉ huy Mossad báo cáo trực tiếp cho Thủ tướng Israel. Giám đốc đầu tiên của Mossad là cán bộ tình báo chuyên nghiệp Reuven Shiloy. Chính ông là tác giả của chiến lược hành động của Mossad, theo đó, do quân số cán bộ tình báo biên chế ít nên Mossad chủ yếu dựa vào việc sử dụng cộng đồng người Do Thái ở nước ngoài. Mạng lưới của những người gọi là Sayanim (trợ thủ) được hình thành từ những người chủng tộc Do Thái, một mặt họ trung thành vô điều kiện với nước trú ngụ, đồng thời cũng có sự hậu thuẫn, giúp đỡ nhất định cho lực lượng điệp viên bất hợp pháp của Mossad.

    Liên quan đến các cán bộ tình báo trong biên chế thì người ta tập trung tuyển chọn họ trước hết trong số những người Israel đã hết hạn phục vụ trong quân đội, ưu tiên người có trình độ đại học. Nhưng việc tuyển chọn không chỉ dựa vào điều này, người ta còn nghiên cứu lai lịch xuất thân, các phẩm chất cá nhân, cá tính của các ứng viên. Sau đó, họ trải qua một giai đoạn thử thách. Những người vượt qua giai đoạn này được nhận vào Học viện Midhrash của Mossad. Các học viên ngay từ đầu được đặt bí danh và có câu chuyện nguỵ trang riêng mà họ phải tuân thủ trong quá trình học tập.

    Chương trình của Midhrash có mục đích đào tạo lực lượng điệp viên nhà nghề trình độ cao có khả năng hoạt động hiệu quả ở bất kỳ khu vực nào trên thế giới, trong những tình huống gay go, ác liệt nhất để tiến hành những chiến dịch đôi khi tưởng chừng như không tưởng.

    Một trong những chiến dịch đó là việc chuyển 21 tấn nước nặng từ Nauy thực hiện theo chỉ thị của vị giám đốc thứ hai, nhưng có lẽ là lỗi lạc nhất của Mossad là Isser Harel. Ông được bổ nhiệm giữ chức vụ này vào năm 1952 và trong 11 năm dưới quyền lãnh đạo của ông, Mossad đã thực hiện được không ít những điệp vụ chấn động.

    Mossad duy trì một số lượng lớn điệp viên mật ở các nước Arập và các nước khác, các nhân viên hoạt động của Mossad đã tiến hành các chiến dịch ngầm chống các kẻ thù của Israel và các cựu tội phạm chiến tranh quốc xã sống ở nước ngoài.

    Điệp vụ nổi tiếng nhất và do Isser Harel đích thân chỉ huy là vụ bắt cóc tên tội phạm chiến tranh Đức quốc xã Adolf Eichmann tại Argentina năm 1960 và đưa ra toà xét xử ở Israel về tội ác chiến tranh. Isser Harel cũng đã tiến hành chiến dịch “đánh vào” Ai Cập và Syria 3 tình báo viên: Ben Jair, Leon Tomas và Elia Cohen. Những người này đã thu thập được các kế hoạch tác chiến của người Arập, các sơ đồ và ảnh chụp nhiều mục tiêu chiến lược. Và tuy Elia Cohen và Leon Tomas cuối cùng cũng bị lộ và bị tử hình nhưng hoạt động của họ đã thể hiện tích cực ở kết quả tác chiến của quân đội Israel trong cuộc chiến 6 ngày năm vào tháng 6/1967.

    Người kế nhiệm Isser Harel vào năm 1963 là Thiếu tướng Meyr Amit, người đã tiến hành hàng loại cải cách cơ bản trong cơ cấu và chiến lược hoạt động của Mossad. Chính dưới thời ông, Học viện Midhrash và phòng máy tính được thành lập, biên chế của tổ chức lên tới 1.000 nhân viên và hoạt động của họ đã bảo đảm cho thắng lợi của các lực lượng vũ trang Israel. Ví dụ, họ đã tổ chức cướp những chiếc máy bay tiên tiến nhất của Liên Xô có trong trang bị của không quân các nước Arập.[/justify:1yhe03ba] [justify:1yhe03ba]Năm 1964, điệp viên của Mossad đã tuyển mộ được viên đại uý không quân Ai Cập Abbas Khilmy để anh ta lái chiếc Yak-T bay sang Israel. Mùa hè năm 1966, viên sĩ quan Iraq Mounir Redfa đã cho chiếc MiG-21 của mình hạ cánh xuống một sân bay trong sa mạc Negev, Israel. Viên thiếu tá Ai Cập Bassam Alel lái chiếc MiG-23 cũng đã làm như thế.

    Trọng trách triển khai cuộc đấu tranh chống khủng bố Palestine, mà trước hết là với tổ chức “Tháng chín đen”, các phần tử vũ trang của tổ chức này đã giết hại các vận động viên Israel trong thời gian Thế vận hội Olympic 1972 ở Munich, Đức, được giao cho vị giám đốc thứ tư của Mossad - Thiếu tướng Zvi Zamir. Nhóm sát thủ Mitzwa Elohim (Cơn lôi đình của thần thánh) được thành lập theo lệnh của Thủ tướng Golda Meyer đã truy lùng và ám sát 11 tên tổ chức cuộc tàn sát ở Munich năm 1972, kể cả thủ lĩnh “Tháng chín đen” Hassan Salameh cũng đã bị giết chết. Năm 1976, các điệp viên Mossad đã giải cứu các con tin là các hành khách một máy bay hành khách Israel bị bắt cóc và bị giam giữ tại sân bay Entebbe, Uganda. Mossad còn dính líu đến một số vụ ám sát các thủ lĩnh Palestine ở châu Âu, Trung Đông và Bắc Phi.

    Đồng thời, Mossad cũng mắc không ít sai sót nghiêm trọng, trong đó lớn nhất là việc Giám đốc Mossad Zvi Zamir vào mùa thu năm 1973 đã không thể thuyết phục được ban lãnh đạo Israel tin rằng, quân đội Ai Cập và Syria đang sẵn sàng tấn công nhà nước Do Thái, nhất là khi đã có trong tay những tin tức không thể bác bỏ. Zvi Zamir đã biết chính xác đến cả ngày tháng và thời gian bắt đầu cuộc tấn công của người Arập, nhưng người ta đã không tin các báo cáo của Giám đốc Mossad.

    Năm 1974, Zvi Zamir được thay thế bằng Thiếu tướng Yitzhak Hofi. Chính dưới thời ông này, các cán bộ hoạt động của Mossad đã bảo đảm cho thắng lợi của chiến dịch có một không hai giải thoát những con tin của chiếc máy bay hành khách Pháp bị bọn khủng bố ở cách xa Israel 2.500 km - tại sân bay thủ đô Uganda.

    Một việc làm còn quan trọng hơn của Mossad có lẽ là việc tham gia phá hoại chương trình hạt nhân của Saddam Hussein. Ngày 5/4/1979, tại một kho ở Pháp, các nhân viên Mossad đã nổ phá 2 tổ máy năng lượng đã sẵn sàng gửi sang Iraq cho lò phản ứng hạt nhân đang được xây dựng ở đó. Tháng 7/1981, dựa trên tin tức tình báo của Mossad, các phi công Israel đã tiến hành thành công chiến dịch Sphinx, phá huỷ lò phản ứng Osirak của Iraq.

    Tuy nhiên, vấn đề chủ yếu đối với Mossad đã và vẫn là chủ nghĩa khủng bố Palestine mà tình trạng thắng bại luôn giằng co kéo dài. Một trong những thất bại là việc điệp viên Amina al-Moufti của Israel đã hoạt động trót lọt trong ban lãnh đạo tổ chức PLO gần 3 năm bị phát giác ở Beirut.

    Tháng 6/1982, tại thủ đô Li-băng, một người Palestine bắn chết tướng Cotiel Adam, người sắp thay Yitzak Hofi làm giám đốc Mossad. Do đó, cán bộ tình báo chuyên nghiệp Naum Admoni đã trở thành giám đốc Mossad.[/justify:1yhe03ba]

  9. #29
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    Trong số các chiến dịch thành công trong 7 năm Naum Admoni lãnh đạo Mossad có vụ gây nổ chiếc phà Palestine Al Avaz mà người Palestine định sử dụng để đổ bộ quân xuống Gaza, thủ tiêu đại tá PLO Mohammed Tamami, ám sát Abu Jihad, vị phó của Yasir Arafat chuyên trách các chiến dịch khủng bố ngay trong ngôi nhà của ông ta ở Tunis, giết nhà sáng chế Canada Gerald Bull, người đã thiết kế khẩu pháo tầm siêu xa cho Saddam Hussein...

    Đồng thời, họ cũng vấp phải những thất bại rất đau đớn. Vụ mưu sát bất thành thủ lĩnh HAMAS Khaled Mashaal ở Jordanie vào năm 1997 đã dẫn đến những hậu quả nặng nề. Kết quả là Israel đã buộc phải thả tự do vị giáo sĩ Palestine Ahmed Yassin và 70 người ủng hộ ông ra khỏi nhà tù.

    Tháng 2/1998, cảnh sát Thuỵ Sĩ đã bắt giữ 5 điệp viên Mossad trong khi đang mưu toan máy nghe trộm tại cơ quan đại diện Iran. Trong 2 năm cuối thế kỷ ХХ, ở Li-băng, đã bắt giữ và xét xử hơn 100 điệp viên người Arập địa phương của Mossad.

    2. AMAN

    Cơ quan tình báo quân sự (TBQS) Aman là cơ quan tình báo lâu đời nhất của Israel, ra đời từ năm 1934 để ngăn chặn những cuộc tiến công liên tục của người Arập địa phương vào các làng Do Thái. Sau khi thành lập nhà nước Israel, TBQS được mang tên Sherut modiin và do Isser Beeri, sau đó là Haim Hertzog lãnh đạo. Haim Hertzog đã cải cách cơ quan này và trong một thời gian ngắn đã biến nó thành một cơ quan tình báo thực thụ có các trung tâm tình báo bình phong công khai ở nhiều nước châu Âu.

    Tháng 12/1953, cơ quan TBQS Israel đã được đổi tên thành AMAN (chữ viết tắt của Agaf modiin) và trở thành một cục của Bộ Tổng tham mưu. Trực thuộc cơ quan này có trinh sát bộ đội và tình báo lục quân. Đại tá Benjamin Jibly được bổ nhiệm làm Cục trưởng AMAN.
    Ông chủ yếu tập trung chú ý vào Ai Cập vì nước này rõ ràng đang chuẩn bị chiến tranh với Israel. AMAN gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ này bởi vì lực lượng điệp viên trước đây của AMAN ở Ai Cập chủ yếu là người Do Thái mà người Do Thái thì đang ồ ạt rời khỏi nước này. Jibly quyết định triển khai trên nước láng giềng phía Tây một lưới điệp báo-phá hoại mới.

    Chiến dịch Susanna bắt đầu vào tháng 5/1951 khi tình báo viên chuyên nghiệp Avraham Dar tới Cai-rô và ông đã xây 2 nhóm điệp báo gồm những thanh niên Do Thái. Nhưng không lâu sau, Dar đã bị một cán bộ điệp báo bất hợp pháp khác là Thiếu tá Meyer Bennet thay thế. Cuối năm 1953, ông này cũng bị gọi về và Đại uý Avri El-Ad được phái đến Cai-rô.

    Sự thay đổi xoành xoạch như thế và những sai sót của các nhân viên phá hoại đã làm cho chiến dịch Susanna thất bại hoàn toàn. Bản thân tổ trưởng điệp báo và toàn bộ các điệp viên đều đã bị phản gián Ai Cập tóm gọn và khi bị tra tấn đã khai ra chi tiết hoạt động của mình. Vụ đổ vỡ này đã gây thiệt hại to lớn cho Israel cả về quan hệ với các nước Arập, lẫn ở Tây Âu. Cả cục trưởng AMAN lẫn bộ trưởng quốc phòng đều bị mất chức.

    Tướng Jegoshafat Harkabi lên đứng đầu AMAN. Dưới quyền ông, TBQS Israel hoạt động thành công hơn, chẳng hạn đã bảo đảm hiệu quả cho cuộc hành quân đường trường chớp nhoáng của quân đội Israel qua bán đảo Sinai vào mùa thu năm 1956. Các điệp viên AMAN đã thực hiện hàng loạt vụ phá hoại tiêu diệt hàng loạt yếu nhân trong bộ chỉ huy quân sự Ai Cập.

    Năm 1959, Haim Hertzog lại lên cầm đầu TBQS, ông đã soạn thảo và thực hiện một kế hoạch quy mô triển khai mạng lưới điệp báo. Một trong những chiến dịch nổi tiếng nhất và hiệu quả nhất là việc cài điệp viên Wolfgang Lotz vào giới thượng lưu Cai-rô vào năm 1960. Lotz đã mở các quan hệ trong giới tướng lĩnh, trở thành nhân vật tin cậy, thân tín trong giới quan chức Ai Cập. Điều đó đã cho phép ông ta thu thập tin tức về biên chế và trang bị, về các kế hoạch tác chiến, tình hình bố trí các căn cứ không quân của quân đội Ai Cập và nhiều tin mật quan trọng khác. Mặc dù bị bắt vào năm 1965 nhưng những tài liệu, tin tức mà Lotz cung cấp đã đóng vai trò không nhỏ trong cuộc chiến 6 ngày.

    Trước cuộc chiến tranh này, Thiếu tướng Aaron Jarev được cử làm Cục trưởng TBQS và ông cũng đặc biệt chú trọng nhiệm vụ thu thập tin điệp báo về lực lượng vũ trang Ai Cập, Syria, Jordanie và Li-băng. Kết quả là đến năm 1967, AMAN đã có trong tay những thông tin chân tơ kẽ tóc về quân đội các nước này, đã cung cấp được cho Bộ Tổng tham mưu quân đội Israel những danh sách mục tiêu chi tiết trên lãnh thổ các nước này và dự báo được những vấn đề chính có thể nảy sinh trong quá trình chiến sự.

    Tuy vậy, các nhà lãnh đạo Ai Cập và Syria không cam tâm thất bại và nhờ sự giúp đỡ của Liên Xô họ đã ráo riết chuẩn bị báo thù. Bộ chỉ huy AMAN cũng đã nắm được tin này, song lại nghĩ rằng, người Arập sẽ không dám khai diễn cuộc chiến mới vì biết là một thất bại mới đang chờ đón họ. Ủng hộ quan điểm đó có cả Thiếu tướng Eliahu Zeira, Cục trưởng AMAN từ tháng 11/1972. Bất chấp vô số báo cáo tin tình báo của các điệp viên, không ảnh do thám và tin chặn thu kỹ thuật, Zeira đã thuyết phục được ban lãnh đạo quốc gia và Thủ tướng Golda Meyer tin rằng, Israel không bị đe doạ bởi một cuộc tấn công bất ngờ. Sự trả giá cho sự tự tin đó bắt đầu vào thứ bảy, ngày 6/10/1973... Dĩ nhiên, sau đó là sự trừng phạt, nhiều người ở AMAN, kể cả Zeira đã mất chức.

    Trong thập niên 1970, khi một thứ thể chế nhà nước Palestine xuất hiện ở Nam Li-băng, tình báo quân sự Israel do Tướng Shlom Gazit đứng đầu đã xác định được rất chính xác lực lượng và các kế hoạch hành động của lực lượng cực đoan. Tướng Yeoshua Sagui thay thế Tướng Gazit vào năm 1979 về cơ bản đã tổ chức hoạt động một cách đúng đắn cho các nhân viên của mình và các điệp viên trong hàng ngũ PLO nên trong thời kỳ gay cấn năm 1982, khi quân Israel tiến vào Li-băng, họ đã có đầy đủ thông tin về đối phương - không chỉ về người Palestine mà cả về các đội quân Syria trên lãnh thổ Li-băng.

    Trong 12 năm gần đây sau khi các thoả thuận Oslo dự định thành lập Nhà nước Palestine được ký kết, tình hình ở Israel đã thay đổi đột biến và cuộc đấu tranh với khủng bố Arập đã cuốn hút những lực lượng và phương tiện chủ yếu của TBQS Israel. Tuy vậy, chất lượng và số lượng tin tình báo về các đối thủ tiềm tàng của Israel không suy giảm, thậm chí còn hơi tăng nhờ việc tích cực áp dụng các phương tiện kỹ thuật. Trong số các phương tiện đó có mạng lưới các trạm quan sát ở cao nguyên Golan được trang bị các khí tài quang-điện tử tiên tiến nhất. Một giai đoạn mới trên hướng này việc phóng các vệ tinh do thám Ofeq bằng tên lửa đẩy vũ trụ.

    Hiện nay, AMAN là cơ quan tình báo hàng đầu của nhà nước Do Thái (Cục trưởng từ năm 2003 là Thiếu tướng Aaron Zeavi-Farkash) và đã đẩy Mossad xuống vị trí thứ hai. Quân số nhân viên TBQS Israel hiện là gần 7.000 người. Một số nhà quan sát coi Aman là đối thủ kình địch của Mossad và đã có tin về những xung đột giữa 2 cơ quan này. Chỉ huy Aman là cố vấn tình báo quân sự của bộ trưởng quốc phòng.

  10. #30
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    3. SHIN BET

    Tổng cục An ninh Chung Shin Bet phụ trách phản gián nội địa, tập trung vào các hoạt động phá hoại tiềm tàng, khủng bố và các vấn đề an ninh có tính chất chính trị cao.

    Shin Bet được chia thành 3 cục phụ trách các vấn đề Arập, các vấn đề phi Arập và bảo vệ an ninh (bảo vệ các sứ quán Israel, hạ tầng quốc phòng và hãng hàng không quốc gia El Al).
    Trong những năm 1980, thanh danh của Shin Bet bị hoen ố khi các điệp viên Shin Bet bị phát hiện đã đánh đến chết 2 người Palestine bị bắt do tham gia vụ bắt cóc 1 xe buýt.

    Trong thập kỷ 1990, Shin Bet bị công luận quốc tế theo dõi chặt chẽ vì họ sử dụng tra tấn đối với các tù nhân Palestine và vai trò của nó trong các vụ ám sát những người được cho là phần tử vũ trang Palestine. Shin Bet cũng bị chỉ trích do thất bại trong việc bảo vệ Thủ tướng Yitzhak Rabin vào tháng 11/1995. Sau vụ tai tiếng này, chỉ huy Shin Bet đã buộc phải từ chức.

    4. CÁC ĐƠN VỊ TRINH SÁT/BIỆT KÍCH

    Trước năm 1974, nhiệm vụ thủ tiêu những phần tử khủng bố do các nhóm lính tinh thuệ của các lữ dù do Mossad chỉ huy và các điệp viên của Mossad thực hiện. Nhưng sau chiến dịch chống bọn tội phạm đánh chiếm một trường học làm thiệt mạng cả bọn khủng bố và nhiều con tin, trong đó có 21 trẻ em, Israel đã quyết định thành lập các đơn vị đặc nhiệm chống khủng bố chuyên trách.

    Ngay từ đầu, các đơn vị này trực thuộc trực tiếp và hoạt động chủ yếu theo chỉ đạo của Tổng tham mưu trưởng quân đội Israel.Đơn vị đầu tiên là nhóm chiến đấu Yamam. Sau đó, bổ sung cho nhóm này còn có 6 toán đặc biệt nữa. Tất cả các đơn vị này đều đóng tại trường chống khủng bố ở căn cứ quân sự Matkal Adam và qua khoá huấn luyện cường độ cao. Một năm sau, lính đặc nhiệm đã thể hiện tính nhà nghề cao trên thực tiễn. Cộng thêm là các phương pháp hành động được chuẩn bị tuyệt vời cho trường hợp đánh bắt, tiêu diệt bọn cực đoan và giai thoát con tin.

    Hiện nay, có 3 đơn vị đặc nhiệm chính: Yamam, Sayeret Matkal S-13. Yamam chủ yếu chịu trách nhiệm tiến hành các chiến dịch trên lãnh thổ Israel, Sayeret Matkal phụ trách địa bàn ngoài nước, còn S-13 trên biển (ven bờ biển Israel cũng như ngoài hải phận nước này). Các đơn vị đặc nhiệm được chia theo khu vực tương ứng với các quân khu: miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Ở quân khu miền Bắc có 2 đơn vị, quân khu miền Trung có 3 đơn vị, quân khu miền Nam có 4 đơn vị.

    Nếu chiến dịch được tiến hành ở ngoài nước, thì người ta chọn đơn vị nào phù hợp nhất với nhiệm vụ đặt ra bất kể khu vực trách nhiệm. Được ưu tiên đặc biệt là đơn vị 7149 (tiểu đoàn Kalbia) đóng tại căn cứ không quân Sirkin. Vũ khí của đơn vị này là chó huấn luyện đặc biệt (gần 120 con). Số chó này được chia thành 4 đại đội: tìm-cứu, truy tìm, dò mìn và chiến đấu.

    Cần lưu ý rằng, gần như tất cả các đơn vị đặc nhiệm Israel đều nằm trong biên chế quân đội bởi vậy binh sĩ đều là lính nghĩa vụ (công dân Israel có nghĩa vụ quân sự 3 năm). Trường hợp ngoại lệ là đơn vị Yamam với nhân viên gồm hoàn toàn là binh sĩ chuyên nghiệp.

    Thuộc về lực lượng đặc nhiệm còn có đơn vị siêu mật Metzada chuyên tuyển mộ và phái điệp viên vào các quốc gia Arập. Các binh sĩ đơn vị này được tuyển chọn hoàn toàn từ người Do Thái đến Israel từ xứ Maghrib của người Arập. Họ rất giỏi ngôn ngữ của những nước mà họ đã từng sinh sống trước khi di cư về Israel và am hiểu về văn hoá Arập, tâm tính của những nơi cư ngụ trước kia bởi vậy họ không có gì khác biệt với những người bản xứ.

    Một trong những đơn vị đặc nhiệm hiệu quả nhất là Mistaravim (“trở thành người Arập”) được thành lập năm 1987. Đơn vị này được biên chế không chỉ những người xuất thân từ các nước Arập mà cả người Do Thái châu Âu. Mistaravim hoạt động trên lãnh thổ nhà nước Palestine với nhiệm vụ truy tìm và tiêu diệt những người bị cho là khủng bố.

    5. NATIV

    NATIV, tên viết tắt của “Văn phòng liên lạc với người Do Thái”, được thành lập năm 1951 với nhiệm vụ kêu gọi người Do Thái di cư ồ ạt từ các nước thuộc khối XHCN. Từ những ngày đầu tiên, NATIV đã là một trong những cơ quan bí mật nhất trong cộng đồng tình báo Israel, chẳng hạn ở Tel Aviv chỉ có 6 người biết về sự tồn tại của nó.
    Trụ sở của NATIV đặt tại thôn Saron, không xa Tel Aviv, biên chế nhân viên không bao giờ vượt quá 200 người. Tuy quân số ít, nhưng bù lại nhân viên của Nativ có tính nhà nghề cực kỳ cao và được tuyển chọn rất khắt khe. Họ phải là những người trẻ, cực kỳ khoẻ mạnh về thể chất, bắt buộc đã phải có gia đình để tránh các vấn đề tình dục.

    Tất cả các nhân viên NATIV đều rất giỏi tiếng Nga và ít nhất một thứ tiếng Đông Âu nữa. Họ phải nắm vững kiến thức căn bản của đạo Do thái và những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Zion. Tất cả những phẩm chất của họ đều phục vụ cho nhiệm vụ thúc đẩy người Do Thái di cư về Israel.

    Tuy vậy, việc thu thập tin tức chính trị, kinh tế và kỹ thuật quân sự ở những nước mà nhân viên NATIV hoạt động cũng không kém phần quan trọng. Thông thường, họ hoạt động dưới bình phong nhân viên các phái bộ ngoại giao, nhưng hoàn toàn ẩn danh và độc lập với các đại sứ.

    Sau khi Liên Xô sụp đổ, hoạt động của NATIV được đẩy mạnh và hiện đang được tiến hành hầu như ở tất cả các nước SNG, đồng thời vai trò của nó như một cơ quan tình báo tăng mạnh. Việc thu thập tin tức được thực hiện bằng các phương pháp mà các cơ quan tình báo Israel khác không sử dụng. Chẳng hạn, NATIV không tuyển điệp viên, không áp dụng hình thức hoạt động mật mà chủ yếu sử dụng các liên hệ công khai hợp pháp. Một ví dụ là phương pháp “đọc báo/nghe đài” khi mà những nhân viên hợp pháp của NATIV thu thập từ các nguồn công khai những tin tức mà họ quan tâm và gửi về cho cán bộ chỉ đạo họ. Phương pháp này cực kỳ ít tốn kém và chỉ tốn không quá 15.000 USD/năm.

    Nhưng vào cuối thế kỷ ХХ đã diễn ra một loạt những vụ tai tiếng do các tổ trưởng địa bàn của NATIV thiếu thận trọng đã bắt đầu chỉ đạo nhân viên dưới quyền thu thập tin tức quân sự và lập tức bị các cơ quan an ninh Nga và các nước SNG khác phát hiện. Tuy nhiên, NATIV cho đến nay vẫn tiếp tục tồn tại và vẫn là một trong những nguồn cung cấp thông tin chính từ lãnh thổ Liên Xô trước đây.

    6. LEKEM

    Văn phòng Quan hệ Khoa học LEKEM là cơ quan tình báo nhỏ và bí mật, tuyển điệp viên ở các nước phương Tây cho đến khi bị giải tán vào năm 1986 sau khi Jonathan Pollard, một nhà phân tích của tình báo Hải quân Mỹ, người đã bán những tài liệu tình báo tuyệt mật của Mỹ cho Israel, bị bắt. (Ngay sau khi Pollard bị bắt, Israel đã xin lỗi chính phủ Mỹ và khẳng định, những tiếp xúc với Pollard đã chưa được các quan chức tình báo cao cấp Israel cho phép).

    Sự ra đời của cơ quan tình báo siêu mật này vào năm 1957 có liên hệ trực tiếp với chương trình chế tạo vũ khí hạt nhân của Israel. LEKEM là từ viết tắt của Lishka le kishrei mada trong tiếng Do Thái nghĩa là “Văn phòng Quan hệ Khoa học” chuyên trách tình báo KHKT.

    Chỉ huy đầu tiên của cơ quan LEKEM, nhà tình báo dày dạn kinh nghiệm Benjamin Blumberg trước hết đã soạn thảo một kế hoạch tung tin giả toàn cầu nhằm che giấu việc xây dựng cơ sở nguyên tử Kamag ở gần khu dân cư Dimona trong sa mạc Negev.

    Sau đó, LEKEM tiến hành tìm kiếm ở nước ngoài uranium được làm giàu, các nhân viên của cơ quan này triển khai một cuộc săn tìm thực sự các vật liệu liên quan đến lĩnh vực hạt nhân trên khắp hành tinh và rất thành công. LEKEM đã bí mật đưa được khỏi Mỹ hơn 100 cryotron có thể dùng làm ngòi nổ cho bom đạt hạt nhân.

    Tháng 11/1968, các nhân viên LEKEM cùng với Mossad đã tiến hành chiến dịch Plumbat, đưa một cách bất hợp pháp 200 tấn oxit uranium Israel. Nói một cách ngắn gọn là LEKEM đã có công lao không nhỏ trong việc chế tạo quả bom nguyên tử của Israel (năm 1969).

    Nhưng các đầu đạn hạt nhân cần phải có phương tiện mang phóng và LEKEM cũng đã phải đảm nhiệm việc này. Kết quả là các công trình sư Israel đã nhận được những thông tin cặn kẽ và tài liệu, cũng như một số tên lửa DM-660 của Pháp. Chỉ vài năm sau, Israel đã thử nghiệm các tên lửa đất-đối-đất Luz và Jericho.

    Đỉnh cao sáng tạo và táo bạo của các nhân viên LEKEM là việc đánh cướp 5 tàu tên lửa lớp Jaguar từ cảng Cherbour ngay trước lễ Giáng sinh năm 1969 trong chiến dịch “Con thuyền Nô-ê” do Mordechai Limon chỉ huy. Một chiến dịch thành công khác liên quan đến nhiệm vụ bảo đảm phụ tùng cho các máy bay tiêm kích Mirage của Israel. Vấn đề đã được giải quyết bằng việc tuyển mộ được kỹ sư Thuỵ Sĩ Fraunknecht và điệp viên này đã lấy được hết cả bộ bản vẽ của chiếc máy bay Pháp. Những thành công này đã nâng cao đáng kể uy tín của Benjamin Blumberg. Tuy nhiên, năm 1981, ông dã bị cáo buộc lợi dụng chức vụ để tư lợi và bị cách chức.

    Chỉ huy mới của LEKEM là Rafael Eithan và dưới thời ông, số lượng tài liệu thu được đã tăng lên gấp 10 lần - tới 2.000 đầu/năm. Nhưng toàn bộ công lao của cơ quan này đã bị xoá sạch bởi một vụ tai tiếng om xòm khi công dân Mỹ Jonathan Pollard bị phát hiện là điệp viên Israel.
    Người tuyển Pollard là Đại tá Аvien Sella, khoản thù lao không nhỏ được trả qua LEKEM. Năm 1985, khi Pollard bị các cơ quan tình báo Mỹ phát giác, Israel đã từ chối đưa Pollard ra khỏi nước Mỹ và cũng không điệp viên này ẩn náu trong sứ quán Israel tại Washington.

    Vụ đổ vỡ này đã dẫn LEKEM đến bị giải tán vào năm 1986 và hiện nay không có thông tin chắc chắn về việc cơ quan nào ở Israel hiện nay chịu trách nhiệm cung cấp tin tức tình báo KHKT. Theo một số nguồn tin thì trách nhiệm của Lekem được giao lại cho Bộ Ngoại giao Israel.

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •