CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 2 của 12 Đầu tiênĐầu tiên 1234 ... CuốiCuối
Kết quả 11 đến 20 của 116

Chủ đề: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

  1. #11
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,230
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    [center:2xgn0xeq]Nước cờ “độc” giúp Mỹ khống chế Nhật bản sau thế chiến thứ 2[/center:2xgn0xeq]

    Gần đây, có nhiều nhà sử học của Nhật Bản đã “khơi” lại nguyên nhân vì sao khi đầu hàng Đồng minh, Thiên hoàng Chiêu Hòa với những nghi vấn về trách nhiệm của ông trong vai trò của Nhật Bản trong Thế chiến thứ hai đã bị Mỹ liệt vào danh sách tội phạm chiến tranh. Và theo một số vừa được công bố tại Nhật thì đây là một nước giúp Mỹ khống chế tình hình ở Nhật Bản khi đó.

    Vai trò mờ nhạt

    Thiên hoàng Chiêu Hòa, tên thật là Hirohito là vị Thiên hoàng thứ 124 của Nhật Bản. Ông làm vua từ năm 1926 đến 1989, có thời gian trị vì dài hơn bất cứ một Thiên hoàng nào khác trong lịch sử Nhật Bản, và là vị vua cuối cùng ủng hộ sự thần thánh của Thiên hoàng. Trong cuộc đời ông đã chứng kiến không ít sự kiện quan trọng trong lịch sử nước Nhật.

    Theo Hiến pháp Nhật Bản năm 1889, Thiên hoàng Chiêu Hòa có rất nhiều quyền hạn. Quyền này dựa trên thần thoại rằng dòng dõi của Thiên hoàng xuất thân từ Thiên Chiếu Đại Thần và đã luôn luôn trị vì đất nước. Do dòng dõi thiêng liêng này, nhiều người Nhật xem Thiên hoàng như một hình tượng thiêng liêng. Tuy nhiên, trên thực tế, Thiên hoàng chỉ giữ một số thẩm quyền tượng trưng hơn là thực tế.

    Là một Thiên hoàng trong chế độ quân chủ lập hiến, Hirohito được các cố vấn khuyên hạn chế tham dự vào các quyết định chính trị. Ông vẫn tách rời khỏi chính trị và tránh bàn cãi công luận, không đảm nhận vai trò trực tiếp nào trong hầu hết các vấn đề quốc gia. Hầu như trong tất cả các trường hợp, Thiên hoàng Chiêu Hòa chỉ đơn giản phê chuẩn các chính sách đã được nhóm giật dây gồm các cố vấn và các bộ trưởng soạn ra - các chính sách vào thời đó được áp dụng nhân danh ông.

    Trong những năm 1930, việc quân sự hoá nước Nhật đã dẫn tới việc Nhật Bản xâm lược Trung Quốc, châu Á - Thái Bình Dương và tham gia Chiến tranh thế giới thứ II. Thiên hoàng Chiêu Hòa, với tư cách là người đứng đầu quốc gia và quân đội Nhật, đã tuyên bố nước Nhật đầu hàng vô điều kiện trước quân Đồng Minh vào ngày 15/8/1945.

    Sự kiện gây sốc

    Ngày 6/12/1945, được lệnh của Tổng thống Mỹ khi đó là Harry S. Truman, người đứng đầu tòa án Mỹ khi đó là Joseph Keenan đã cùng 40 luật sư đến thủ đô Tokyo của Nhật Bản. Hai ngày sau đó, Joseph Keenan đã thành lập một cơ quan điều tra và xét xử các tội phạm chiến tranh tại Nhật mang tên là IPS. Ngay sau đó, một loạt những lãnh đạo cao cấp của nước này đã bị bắt và bị khởi tố với tội danh: Tội phạm chiến tranh, trong danh sách này ban đầu có cả tên Thiên hoàng Hirohito.

    Lúc này tại hoàng cung, việc có tên Thiên hoàng trong danh sách tội phạm chiến tranh là một điều không thể tưởng tượng nổi. Tuy nhiên, Thiên hoàng Hirohito cũng tự nhận mình là người phải chịu trách nhiệm trước một loạt các chiến dịch quân sự của quân đội Nhật Bản sau chiến thắng Trân Châu Cảng và đã không ngăn chặn việc quân đội Nhật tiến đánh Trung Quốc năm 1937. Đồng thời việc Thiên hoàng xuất hiện trước công chúng với bộ quân phục, theo dõi diễn tập quân sự hoặc duyệt quân trên con bạch mã của mình đã làm tăng cường sự ủng hộ chiến tranh của người Nhật khi đó.

    Trước tình cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”, Thiên Hoàng Hirohito đã nói với cố vấn thân cận của mình là Koichi Kido về việc thoái vị, coi đó như là hành động tự chịu trách nhiệm trước đại thần và quân đội Nhật. Mặc dù thực chất Thiên Hoàng Hirohito không phải chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với tội ác mà Chính phủ Nhật đã gây ra trong Chiến tranh thế giới thứ 2, tuy nhiên, việc Nhật thất bại trong cuộc chiến đã khiến vị vua này phải đưa ra quyết định thoái vị trong cay đắng.

    Tháng 10/1945, Thủ tướng Nhật Bản Suzuki Kantaro với tư cách cá nhân đã có cuộc hội kiến tại cung điện hoàng gia và khuyên Thiên hoàng nên thoái vị. Ngày 4/1/1946, dưới sức ép của dư luận quốc tế, IPS đã nhanh chóng tiến hành điều tra về trường hợp của Thiên hoàng Hirohito. Tuy nhiên, về việc thoái vị, tư lệnh tối cao của quân đội Nhật khi đó đã phản đối vì cho rằng, trong lịch sử Nhật Bản, chưa có tiền lệ nào tương tự như vậy.

    Thông tin muốn thoái vị của Thiên hoàng đã nhanh chóng được giới truyền thông quốc tế đưa tin. Tháng 10/1945, dẫn theo lời của cố vấn cao cấp Koichi Kido do truyền thông nước này đưa tin: "Nếu như Thiên hoàng thực sự muốn thoái vị thì toàn bộ người trong hoàng thất sẽ ủng hộ quyết định này của ông. Tuy nhiên, thời khắc để thoái vị vẫn chưa tới”. Cũng theo lời của vị cố vấn cao cấp này, tại thời điểm đó, Thiên hoàng sẽ có 3 lựa chọn về thời gian để có thể chính thức thoái vị. Khi đó, thời điểm ký hiệp định đầu hàng quân Đồng minh đã qua, còn hai thời điểm thích hợp để nói lời “từ giã” lại... chưa đến.

    Cũng tại thời điểm đó, người ta đã nhắc tới những người em trai của Thiên hoàng Hirohito, thậm chí cả người con trai còn rất nhỏ tuổi của ông cũng được đưa vào danh sách kế vị ngai vàng. Tuy nhiên, mọi việc đã không xảy ra như thực tế.

    Nước cờ chính trị

    Dưới sức ép của dư luận, tại thời điểm ngay sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng minh, Thiên hoàng Hirohito vẫn không thoái vị. Ông luôn hoài nghi về tư cách của những người được cho là nhân vật kế vị ngai vàng. Trong ba người em trai của ông, người thì ốm đau triền miên, người thì được đánh giá kinh nghiệm còn hạn chế... Mặc dù lúc đó, sau khi việc muốn thoái vị được đông đảo dân chúng Nhật biết đến, rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà tư tưởng, chính trị đã lên tiếng ủng hộ việc thoái vị của Thiên hoàng, nhưng ở hoàng thất người ta vẫn chưa đề cập đến thời điểm “quan trọng” mà cố vấn Koichi Kido đã nói.

    Mặc dù dư luận rất đồng tình việc thoái vị của Thiên hoàng, nhưng Douglas MacArthur, tướng Mỹ đặc trách chỉ huy các lực lượng chiếm đóng của quân Đồng minh nhận thấy rằng: Việc đặt Thiên hoàng vào đúng cương vị sẽ giúp giải quyết ổn thỏa sự dân chủ hóa của Nhật Bản. Vì thế vị tướng này không ủng hộ sự thoái vị của Thiên hoàng Hirohito.

    Trong một bức thư gửi cho Thiên hoàng sau khi khuyên ông nên trở lại thủ đô Tokyo, tướng Douglas MacArthur có nói rõ chủ kiến của mình: "Mỹ và các nước đồng minh luôn coi Thiên hoàng Hirohito như một biểu tượng của quốc gia, và cho sự hoà hợp của dân tộc Nhật Bản”. Nhận được tín hiệu ủng hộ từ phía Mỹ, tháng 3/1946, Thiên hoàng Hirohito đã mời đại sứ Nhật Bản tại Mỹ khi đó là Terasaki Hidenari dự yến tiệc tại hoàng cung. Sau bữa tiệc, Thiên hoàng Hirohito có ý muốn biết ý kiến của tướng Douglas MacArthur đối với việc thoái vị của ông như thế nào. Câu trả lời mà vị vua này nhận được là: "Mỹ và quân Đồng minh luôn coi Thiên hoàng Hirohito như một người bạn thực sự”.

    Theo lời của đại sứ Terasaki Hidenari, tướng Douglas MacArthur cho rằng, “nếu như Thiên hoàng Hirohito thoái vị và bị khởi tố với tội danh tội phạm chiến tranh, chắc chắn Nhật Bản sẽ trở nên hỗn loạn. Mặc dù Thiên Hoàng không phải vô tội trong việc Nhật Bản gây nhiều tội ác trong chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng nếu ông thoái vị thì sẽ nảy sinh sự tranh giành quyền lực tới ngôi hoàng đế, Nhật Bản chắc chắn sẽ trở nên hỗn loạn bởi sự tranh chấp và ganh đua. Vì thế theo ý kiến của đại sứ Terasaki Hidenari, tướng Douglas MacArthur không ủng hộ việc Thiên hoàng Hirohito thoái vị”.

    Cũng theo tiết lộ của đại sứ Terasaki Hidenari, tướng Douglas MacArthur đã gửi một bức điện khẩn cho tổng tham mưu trưởng quân đội đồng minh khi đó là Dwight D.Eisenhower để biện hộ cho những hành động của Thiên hoàng Hirohito khi ông bị buộc tội là tội phạm chiến tranh. Trong bức điện, vị tướng này có nhắc tới những cụm từ như: "Thiên hoàng tượng trưng cho sự đoàn kết của Nhật Bản”, "Nếu như Thiên hoàng thoái vị, sẽ gây ra một cuộc hỗn loạn lớn chưa từng có...”.

    Vì bức điện này của tướng Douglas MacArthur, sau khi Cơ quan điều tra và xét xử các tội phạm chiến tranh IPS và Nhật cùng hợp tác lên danh sách những tội phạm chiến tranh của nước này, không thấy tên nào có ghi chữ Thiên hoàng Hirohito. Khi một số nhân vật “tai to mặt lớn” trong Chính phủ cũ của Nhật lên tiếng kiến nghị thì câu trả lời duy nhất họ nhận được là: "Không có bất kỳ lý do nào để quy tội ác chiến tranh cho Thiên hoàng Hirohito, bởi vì ông không phải là người ra quyết định phát động chiến tranh”.

    BÌNH THỦY

    "Theo Đời sống & Pháp Luật"

  2. #12
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,230
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    [center:1xol2kcz]Điều gì ẩn chứa trong chuyến thăm Liban của Tổng thống Iran?[/center:1xol2kcz]

    Ngày 13/10, Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad tới Liban trong chuyến thăm chính thức đầu tiên kể từ khi nhậm chức năm 2005. Mục đích công khai của chuyến thăm 2 ngày này là củng cố quan hệ đồng minh giữa Tehran và Beirut. Tuy nhiên, quan hệ giữa nước Cộng hòa Hồi giáo Iran với Phong trào Hồi giáo dòng Shiite tại Liban (Hezbollah) mới là tâm điểm chính.


    Chuyến thăm Liban của Tổng thống Iran Ahmadinejad tới Liban theo lời mời của người đồng cấp Michel Suleimane, gây nhiều tranh cãi trong nội bộ Liban. Báo chí Liban ngày 12/10 cho đăng tải một bức thư có chữ ký của hàng trăm trí thức, chính trị gia và báo giới đề nghị ông Ahmadinejad hủy chuyến thăm tới Liban và rằng, ông không nên dùng Liban làm "bàn đạp" để tấn công Mỹ và Israel. Tuy nhiên, số người Liban ủng hộ chuyến thăm này của người đứng đầu Nhà nước Iran lại không hề ít.

    Tổng thống Mahmoud Ahmedinejad của Iran được nhiệt liệt chào đón tại Beirut. Hàng ngàn người dân Liban đứng dọc hai bên đường vẫy chào, tung gạo, kẹo và cánh hoa khi đoàn xe của ông Ahmedinejad đi qua. Hôm 14/10, hàng chục nghìn người ủng hộ reo hò và vẫy cờ, tụ tập tại một sân đá bóng ở vùng ngoại ô Dahiyeh, phía nam thủ đô Beirut, một khu vực hoạt động của Hezbollah khi Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad có bài phát biểu.

    Tại Liban, ông Ahmadinejad có hai hoạt động chính. Trước hết là họp bàn với lãnh đạo Nhà nước Liban về vấn đề tăng cường hợp tác song phương. Iran là nước viện trợ quan trọng cho Liban, và theo trông đợi sẽ đầu tư 450 triệu USD vào ngành năng lượng và nước của Liban. Chả thế mà trong chuyến thăm này, một loạt thỏa thuận hợp tác trên các lĩnh vực thương mại, năng lượng, môi trường và giáo dục đã được hai bên ký kết.

    Kế đến, ông Ahmadinejad đã đến thăm khu vực biên giới đã xảy ra chiến sự giữa Hezbollah và quân đội Israel năm 2006 làm 1.200 người Liban và hơn 160 người Israel thiệt mạng. Tại đây, ông Ahmadinejad đã thăm Bint Jbeil, ngôi làng của Liban đã gánh chịu nhiều thiệt hại nhất khi quân đội Israel tấn công. Ngôi làng này sau đó đã được xây dựng lại bằng tiền viện trợ của Iran. Đây mới là điều gây tranh cãi và lo ngại cho phương Tây, nhất là Israel và Mỹ.

    Báo chí Anh và Mỹ ngày 12/10 nhận định chuyến thăm tới Liban của Tổng thống Iran Ahmadinejad được cho là không chỉ nhằm “lấp chỗ trống” của Mỹ tại Liban mà còn nhằm tăng cường quan hệ với phong trào Hezbollah đồng minh tại nước này. Báo giới đánh giá đây là động thái khiêu khích Mỹ. Mỹ hiện vẫn là nhà cung cấp các loại vũ khí cho quân đội Liban. Nhưng gần đây Mỹ đã lên tiếng đe dọa sẽ không tiếp tục bán vũ khí cho nước này nữa sau khi một khẩu súng của Mỹ đã được sử dụng để bắn một binh sĩ Israel!

    Tuy nhiên, Mohamad Reza Jalili, Giáo sư khoa học chính trị của Pháp, nhận định rằng chuyến thăm Liban lần này của Tổng thống Iran diễn ra trong bối cảnh nội bộ Liban đang căng thẳng giữa phong trào Hezbollah - lực lượng chính trị và quân sự mạnh nhất ở Liban đồng thời là đồng minh chủ chốt của Tehran - và các phe phái được phương Tây hậu thuẫn trong Chính phủ Liban.

    Tòa án đặc biệt về Liban của Liên Hiệp Quốc phụ trách điều tra về nguyên nhân dẫn đến cái chết của cựu Thủ tướng Liban Rafic Hariri tháng 2/2005 đang chuẩn bị đưa ra bản cáo trạng. Phong trào Hezbollah lo sợ rằng bản cáo trạng trên có thể sẽ cáo buộc một số thành viên của mình. Một số nhà quan sát chính trị lo sợ nếu điều đó là sự thật, nguy cơ bùng phát một đợt bạo động mới tại Liban như năm 2008 là rất cao. Khi đó, các cuộc đụng độ diễn ra trong một tuần giữa phong trào Hezbollah và những người chống đối trong Chính phủ Liban đã làm hàng trăm người bị chết.

    Theo Dominique Avon, Giáo sư sử học và là tác giả của cuốn sách viết về phong trào Hezbollah, thì Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad nhắm đến hai mục tiêu trong chuyến thăm này. Thứ nhất là ủng hộ lực lượng Hezbollah, cũng như phong trào kháng chiến của tổ chức này. Thứ hai là nhằm gây tiếng vang trong dư luận phương Tây, rằng ông muốn xoa dịu căng thẳng giữa người Shiite và Sunni tại Liban và bày tỏ quan điểm ủng hộ người Shiite.

    Trong chuyến thăm 2 ngày, Tổng thống Iran đã gặp 2 lãnh đạo cao cấp nhất của Liban là Tổng thống Michel Suleimane và Thủ tướng Saad Hariri. Cả hai nhân vật này thường có những hiềm khích với lực lượng Hezbollah. Do vậy, đây là dấu hiệu cho thấy hai bên đã chính thức bắt đầu muốn xoa dịu mâu thuẫn. Tuy nhiên, đây chỉ là thái độ thận trọng với chính sách khu vực của Iran và tạm thời chấp nhận chứ không muốn mếch lòng Tehran.

    Mục tiêu này có thể hiểu được vì Iran là một đối tác kinh tế quan trọng của Liban. Chỉ riêng trong lĩnh vực thương mại giữa hai nước đã lên đến chục triệu USD mỗi năm. Liban chủ yếu xuất khẩu phân bón sang Iran và mua trái cây khô và thảm từ Iran. Còn trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, hai nước đã có những hợp đồng trị giá lên tới 500 triệu USD. Iran tham gia vào rất nhiều dự án kinh tế của Liban, đặc biệt trong lĩnh vực hiện đại hóa hệ thống cung cấp năng lượng. Iran cũng giúp đỡ Chính phủ Liban khi cung cấp vũ khí cho quân đội nước này. Iran đang cố gắng điều phối giữa Hezbollah và những người chống đối phong trào này trong Chính phủ Liban

    Nguyễn Bảo (tổng hợp)
    Nguồn: Báo CAND

  3. #13
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,230
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    [center:13cgeh77]Bí mật các phi vụ cuối cùng của biệt đội bay CIA tại VN[/center:13cgeh77]

    Một hãng hàng không không có tên chính thức trong bất cứ một chỉ dẫn nào của ngành hàng không thế giới: Air America. Đơn giản bởi vì đó là một hãng hàng không bí mật do CIA lập ra từ sau chiến tranh thế giới thứ hai chỉ để thực hiện những phi vụ đặc biệt.



    Nhưng ít ai có thể ngờ được rằng một trong những phi vụ lớn nhất mà hãng hàng không này thực hiện lại chính là chiến dịch di tản trong những ngày cuối tháng 3 và tháng 4/1975, báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của chính quyền Sài Gòn, chấm dứt sự dính líu của Mỹ tại Việt Nam.

    Vai trò của Air America ở Việt Nam lớn lên cùng chiến tranh, nó đáp ứng tôn chỉ của CIA: bất cứ việc gì, bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào.

    Vào đầu năm 1954, dưới tên gọi Civil Air Transport, hãng hàng không của CIA này đã dính dáng đến một số điệp vụ bí mật. Đại tá tình báo Edward Lansdale và các đồng sự đã chỉ đạo trực tiếp hai nhóm điệp viên ở miền Bắc Việt Nam, bí mật thoát ra theo ngả Hải Phòng vào Sài Gòn học lớp huấn luyện rồi lại được tung trở lại miền Bắc. Hãng Civil Air Transport cũng đã bí mật chuyên chở hơn 8 tấn vũ khí và trang bị kỹ thuật đã vào Hải Phòng cùng những con tàu chuyên chở dân di cư theo hồi 1954, để những nhóm gián điệp này hoạt động.

    Nhưng đến cuối năm 1964, chỉ còn có một nhúm khoảng một chục phi công tiếp tục thực hiện những chuyến bay bí mật được tiến hành một cách thưa thớt. Khi đó CIA cũng không phải trả phụ cấp nguy hiểm cho họ nữa. Trước khi phát triển thành cả một đội quân lớn, nhiệm vụ của Air America chỉ giới hạn trong việc thực hiện các hợp đồng với Cơ quan Viện trợ Mỹ USAID, chuyên chở các cố vấn và nhân viên CIA đi loanh quanh đây đó. Đó chỉ là những phi vụ chuyên chở thương mại, nhẹ nhàng như những chuyến du lịch và xuất phát từ phi trường Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn. Chỉ đến thời cao điểm của chiến tranh, quân số của hãng hàng không CIA này mới lên tới 240 người, chỉ tính riêng tại Sài Gòn. Các máy bay của Air America có mặt ở khắp mọi nơi và thực hiện các phi vụ bí mật suốt cả bảy ngày trong tuần.

    Cuộc sống của những phi công Air America trong giai đoạn đầu chiến tranh khá thoải mái, nếu không nói là rất nhiều bổng lộc. Sài Gòn khi đó vẫn còn là một thành phố châu Á khá hiền lành, chưa bị thối ruỗng bởi những bước chân lính viễn chinh. Thuế má, giá cả sinh hoạt, nhà cửa đều rẻ và các chuyến bay cũng không nguy hiểm lắm. Nhưng đến khi quân đội Sài Gòn được xây dựng và một số lượng lớn các binh sĩ Mỹ đặt chân tới đây thì sự bình yên nhỏ nhoi đó đã biến mất vĩnh viễn.

    "Dường như tất cả mọi người đều đổ xô tới Sài Gòn" - Les Strouse, người quản lý đơn vị Air America tại Sài Gòn giai đoạn đó nói - "Theo quan điểm của tôi, không có một người lính Mỹ nào thuộc về nơi đó cả. Họ tới đó để chiến đấu, chứ không phải để mòn mỏi trong những khách sạn ở trung tâm thành phố. Sài Gòn trở thành một nơi ưu tiên để các GI (lính Mỹ) tới uống say xỉn và hành xử một cách ghê tởm. Dần dà rồi những người Việt cũng thế cho dù trước đấy, họ chưa bao giờ như vậy. Mà lính Mỹ thì đã luôn là như thế".

    Đến cuối năm 1964 thì Air America bắt đầu phát triển với quy mô ghê gớm. Chỉ trong vòng 10 tháng, nó đã tăng gấp đôi số giờ bay và rồi lại tiếp tục tăng gấp đôi nữa trong 8 tháng tiếp theo đó. Các chuyến bay hằng ngày tăng gấp đôi trong 6 tháng, rồi tăng lên gấp ba lần trong 3 tháng sau đó. Các chuyến vận tải hàng hóa tăng với cấp số nhân. Đến năm 1969, Air America đã sử dụng 9 loại máy bay khác nhau để thực hiện các phi vụ, trong đó có 8 loại máy bay cánh phẳng cố định và một loại khác là trực thăng Bell 204B. "Thành công của một chiến dịch kiểu này là tính linh hoạt của nó", CIA tuyên bố như vậy trên tờ tạp chí của cơ quan này. "Linh hoạt, đó là tựa đề câu chuyện của Air America".

    Air America vận chuyển bất cứ thứ gì mà nó được giao. Các máy bay của hãng chở các vị khách VIP, các tù nhân và cả những con bò hiền lành; khách hàng của Air America còn có lính Mũ nồi xanh, một đơn vị tuyệt mật do CIA điều khiển và cả những cố vấn Mỹ trong chiến dịch Phượng Hoàng (cũng là một chiến dịch của CIA nhằm triệt phá những cơ sở của lực lượng giải phóng miền Nam, chỉ trong hai năm rưỡi đầu tiên của chiến dịch này, đã có 20.587 người bị nghi là cộng sản đã bị giết).

    Hàng hóa lạ lùng nhất mà Air America đã từng chuyên chở là một số nhân vật bí hiểm. "Một vài người khá là kỳ cục - Art Kenyon, một phi công từng làm việc cho Air America, lái loại máy bay cánh cố định C-46, nói - Chúng tôi đã đôi lần chở những tài liệu tuyệt mật, có lẽ là người của CIA mang đi. Khi đó, chúng tôi không được phép chở bất kỳ một người nào khác nữa. Một anh chàng mang theo một cái xắc nhỏ chứa tài liệu mật và cũng như hầu hết các hành khách của chúng tôi, anh ta mang theo vũ khí. Họ có đủ các loại vũ khí, chỉ có súng bazoka là tôi chưa thấy mang theo mà thôi. Tôi đã từng chở những người mang theo súng máy, tiểu liên M16, lựu đạn cầm tay và đủ thứ tương tự".

    Một trong những nhân vật quan trọng nhất mà máy bay của Air America đã từng chở chính là Richard Nixon, trước khi ông ta lên làm Tổng thống Mỹ. Ông ta tới đồng bằng sông Cửu Long vào năm 1965 trên một chiếc Beechcraft do Bob Murray cầm lái.

    Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, các máy bay của Air America đã thực hiện rất nhiều phi vụ bí mật, tham gia tiếp ứng cho quân Mỹ trong chiến dịch Khe Sanh, các chiến dịch quân sự ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, đưa tù binh ra Côn Đảo, chuyên chở các nhân viên trong Ủy ban liên hợp 4 bên về Hiệp định Paris...

    Các phi công của Air America nghĩ rằng họ đã thực hiện hầu hết những công việc có thể làm, nhưng họ không thể ngờ được rằng, đến một ngày, sẽ phải tham gia vào một trong những chiến dịch tháo chạy có quy mô lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ.

  4. #14
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,230
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    Khi những thành phố nối tiếp nhau rơi vào tay quân giải phóng, thì các phi công Air America chỉ còn một nhiệm vụ duy nhất là thực hiện các chuyến bay di tản. Đó là những điệp vụ vô cùng căng thẳng.

    Nỗi hoảng loạn và tình trạng vô chính phủ còn đi trước bước chân của đối phương (quân đội giải phóng) và những máy bay trực thăng của Air America trở thành phương tiện duy nhất đối với một số người Việt Nam muốn bỏ chạy. Tại nhiều thành phố, binh lính trong quân đội Nam Việt Nam chạy lung tung, xả súng vào thường dân và vào cả những chiếc máy bay của Air America.

    Việc di tản được thực hiện theo phương châm: di tản những người "nhạy cảm", tức là những người đã từng cộng tác, làm việc với quân đội Mỹ, CIA và các cơ quan tình báo, Cơ quan viện trợ Mỹ USAID hoặc những cơ quan khác tương tự. Những người này được phát những tấm vé đặc biệt cho phép họ ra đi. Các máy bay của Air America chỉ việc bay vào và bốc người đi.

    Mọi việc thoạt tiên có vẻ suôn sẻ. Ngày đầu tiên của cuộc di tản diễn ra tương đối trật tự, nhưng sang đến ngày thứ hai thì đã thể hiện rõ sự vô tổ chức. Số người ở những điểm tập trung để di tản nhiều hơn gấp nhiều lần so với số lượng người có thể chở đi được; xô xát nổ ra và hệ thống phân phối vé đặc biệt bị phá vỡ, dẫn đến tình trạng những người thuộc diện "nhạy cảm" thì không có vé, trong khi những người thuộc diện "nguy cơ thấp" lại có. Sang đến ngày thứ ba thì tình thế đã hoàn toàn trở nên hỗn loạn.

    "Cuộc di tản diễn ra trong sự hoảng loạn" , Art Kenyon kể lại. "Đám đông hoàn toàn hoảng sợ và mất kiểm soát. Chúng tôi phải kéo thang dây lên, đóng cửa những chiếc C-46 lại. Mọi người bên dưới công kênh nhau leo lên cánh máy bay, đập cửa để đòi chúng tôi cho họ vào bên trong".

    "Một lần, chúng tôi kéo cầu thang máy bay lên và cho ngừng hoạt động một động cơ, bởi vì chúng tôi không muốn phí thì giờ. Luôn có nguy cơ một ắc quy cạn kiệt và phải luôn có một động cơ khác sẵn sàng khởi động. Chúng tôi ngừng động cơ bên trái máy bay trong khi những hành khách đang lên.

  5. #15
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,230
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    Khi đó có khoảng 9 người đang treo lủng lẳng dưới cánh của máy bay và một nhóm khác tụm lại ở chỗ động cơ bên trái. Bạn có thể khởi động động cơ của một chiếc C-46 bằng cách xoay cánh quạt phía trước cánh một chút và tôi đã làm vậy. Tôi ló đầu ra khỏi cửa máy bay và quan sát. Tôi hơi đẩy cánh quạt dẫn hướng của máy bay khoảng một hai bộ để nếu nó có quệt vào ai đó thì cũng không khiến cho người ta bị thương. Họ có thể nhìn thấy nó chuyển động và cảm thấy sự nguy hiểm. Tôi tăng sức quay của cánh quạt lên 3 bộ (khoảng hơn 30 cm), rồi 6 bộ. Những người trên cánh máy bay dạt ra. Tôi bắt đầu khởi động động cơ. Rồi chúng tôi đẩy tất cả những người này xuống".

    Các phi công thường chờ cho đến khi máy bay đầy ứ người, nặng đến hết mức rồi mới cất cánh. Theo lý thuyết, một chiếc C-46 có thể chở được 51 người, nhưng một phi công của Air America, trong những ngày ấy khi cất cánh khỏi Pleiku đã mang theo 142 quân nhân trang bị đầy đủ vũ khí và nó cần phải bay tới 90 dặm để có thể lên tới độ cao khoảng 1.000 bộ (khoảng hơn 300 m). Tải trọng tối đa cho một chiếc C-46 vào khoảng 46.000 pound (khoảng 22.000 kg), nhưng sau chuyến bay này, các phi công ước tính rằng họ đã chuyên chở một trọng lượng nặng tới 57.000 pound. Còn những chiếc C-47, thông thường chở khoảng 30 người thì trong những ngày ấy thường xuyên phải chở tới 80 người. Riêng loại máy bay vận tải hạng nặng DC-6 của Air America thì đã ghi nhận được là có chuyến chở tới 340 người.

    "Tôi sẽ không bao giờ quên được cảnh tượng trên con đường dẫn ra khỏi Pleiku", Fred Anderson, một phi công của Air America nhớ lại. "Cả một khối người đen đặc di chuyển trên đường, mang vác theo tất cả những gì mà họ có thể mang vác được".

    Đấy là thời gian mà sự căng thẳng thần kinh luôn chế ngự tất cả. Những người di tản tụ tập tấn công các máy bay, bắn chỉ thiên, trong khi những binh sĩ quân đội Sài Gòn trong tình trạng thất vọng thậm chí còn nguy hiểm hơn cả kẻ thù. "Tất cả những phát súng bắn vào chúng tôi trong những ngày Pleiku sụp đổ đều là do quân đội Việt Nam cộng hoà”, Wayne Lannin, một phi công khác của Air America kể lại. “Tràn ngập một không khí thất vọng và vỡ mộng. Tất cả mọi người đều ở trong tình trạng bị kích động; họ chỉ muốn thoát ra khỏi vùng chiến sự càng nhanh càng tốt và không muốn suy nghĩ bất cứ điều gì. Đó là một tình trạng vô chính phủ hoàn toàn, khi con người bị hạ thấp xuống đến mức thấp nhất về nhân cách".

  6. #16
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,230
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    Cuộc di tản ở Đà Nẵng diễn ra tồi tệ hơn nhiều. "Đó không những là một thất bại mà là một sự tan biến", Lannin nói. "Quân giải phóng đã chiếm được Huế, trên suốt quãng đường 7 giờ đồng hồ từ Huế vào Đà Nẵng, họ không hề gặp phải bất cứ một sự kháng cự nào".

    Và thế là họ đã ở đâu đó bên ngoài Đà Nẵng, thành phố đang sụp đổ bởi chính nó. Lính Việt Nam Cộng hoà trở nên cuồng loạn. Họ chạy trên đường phố với súng máy trong tay, giật nữ trang khỏi các thi thể, hãm hiếp phụ nữ.

    Tại một khu phố ven biển, quân đội Sài Gòn thiết lập một bến đỗ để những chiếc xà lan có thể cập vào di tản dân chúng. Binh lính Việt Nam Cộng hoà lái những chiếc xe tăng, xe tải hai tấn rưỡi hoặc bất cứ thứ gì họ có, nhào ra những ngọn sóng ngoài biển, cởi bỏ quân phục, vứt lại tất cả mọi vũ khí trang bị của họ trên bờ. Trên bờ biển không có gì khác ngoài những bộ phận rải rác các trang bị vũ khí mà lính Sài Gòn vứt lại. Những người lính này ào ra quây lấy chiếc xà lan và bắn vào những dân thường đang leo lên xà lan. Thậm chí, họ đã cướp hai hay ba chiếc thuyền đánh cá để dùng làm phương tiện chạy trốn.

    Lãnh sự quán Mỹ ở Đà Nẵng đã chuẩn bị sẵn một số máy bay để dùng cho tình huống di tản có thể xảy ra, đặc biệt là trong tình trạng nguy ngập và được bảo vệ bởi lính thủy đánh bộ Mỹ. Những người thuộc vào diện "nhạy cảm" phải di tản từ Đà Nẵng có khoảng 50 người làm việc trong Lãnh sự quán Mỹ - một nửa trong số đó là nhân viên CIA - cùng với khoảng một ngàn nhân viên địa phương. Thế nhưng cộng với bạn bè và gia đình của những người này, số người Việt Nam phải di tản khỏi Đà Nẵng lên tới mười ngàn người. Kế hoạch di tản ban đầu đặt ra ở mức độ hạn chế, bằng đường không và đường biển và sẽ kéo dài trong khoảng một tuần hoặc hơn một chút.

    Thế nhưng mọi sự không diễn ra như dự kiến. Khi quân giải phóng bắt tấn công Đà Nẵng vào sáng ngày 25/3 thì ngay lập tức, sự căng thẳng và hoảng sợ đã bao trùm trên toàn thành phố. Trong mười ngày trước đó, hơn nửa triệu người di tản đã đổ về Đà Nẵng từ khắp mọi hướng. Kế hoạch di tản ban đầu của CIA nhanh chóng phá sản bởi vì không đủ máy bay. Khi người lãnh đạo CIA tại Đà Nẵng yêu cầu thêm máy bay của Air America để giúp đẩy nhanh tốc độ di tản người Mỹ, anh ta được trả lời một cách đơn giản rằng không có máy bay dự phòng.

    Vé máy bay được phân phối cho người Việt Nam để di tản trên các chuyến bay của Air America trong chiến dịch mang mật danh Freedom Train, mặc dù rõ ràng là sẽ không có đủ chỗ cho tất cả mọi người. Không quân Mỹ cũng đã bác bỏ một yêu cầu cung cấp thêm máy bay trực thăng sử dụng cho chiến dịch di tản có thể xảy ra ở Phnom Penh.

  7. #17
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,230
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    Cầu hàng không bắt đầu vận hành khá trơn tru. Trong ngày đầu tiên, các máy bay C-47 của Air America và Boeing 727 của hãng World Airways cất, hạ cánh đưa người đi mà không gặp phải rắc rối nào cả. Cứ mỗi khi một chiếc máy bay hạ cánh là hàng trăm người Việt Nam, trên người lỉnh kỉnh những tài sản quý nhất mà họ có cùng với trẻ con và cả những con vật yêu quý của họ nữa, lại tràn vào đường băng để tìm cách leo lên phương tiện giúp họ thoát ra khỏi thành phố đang chìm ngập trong sợ hãi.

    Những nỗ lực của các phi công Air America cố gắng duy trì chiến dịch di tản trong trật tự đã nhanh chóng bị thất bại. "Tôi đã từng chứng kiến những gì xảy ra ở Pleiku, bởi vậy khi bắt đầu chiến dịch di tản mọi người ra khỏi Đà Nẵng, tôi ra khỏi máy bay, lấy vẻ mặt dữ dằn và buộc mọi người xếp thành một hàng dọc", Art Kenyon kể lại. "Một vài đứa bé chạy ra khỏi hàng và chen lên phía trước khoảng sáu hay bảy người gì đó, tôi túm lấy chúng, đưa chúng về tận cuối hàng và bảo: "Các cậu phải đứng ở đây đợi đến khi nào tôi bảo thì các cậu mới được lên máy bay". Tôi đã cố gắng làm tất cả những gì có thể làm và cũng đã kiểm soát được tình hình đôi chút. Thế nhưng chỉ với khoảng một trăm nhân viên, trong khi có tới năm ngàn người xung quanh thì bạn chẳng thể làm gì hơn được".

    Mọi người di tản đều hoảng sợ bởi vì họ luôn nghĩ rằng mỗi một chiếc máy bay hạ cánh xuống đều có thể là chiếc cuối cùng. Không có một ai nói với họ rằng nếu như họ để cho những chiếc máy bay đầy người rời khỏi đó càng nhanh thì nó sẽ lại càng quay lại sớm hơn để đón họ. Đám đông những người di tản tuyệt vọng là một mối nguy hiểm thật sự bởi vì trong trạng thái điên cuồng, họ có thể phá tan tành cả những chiếc máy bay.

    Việc thực hiện những phi vụ di tản khiến cho nhiều phi công cảm thấy nguy hiểm hơn cả những điệp vụ thực hiện trong vùng chiến sự. Ngay cả những người đã có nhiều năm bay cho Air America cũng phải sốc khi nhìn thấy những cánh tay đầm đìa máu của những người di tản không lên được máy bay đập vào cánh cửa của chiếc máy bay sắp rời đi. Nhiều người nhìn thấy chiếc máy bay sắp sửa cất cánh biết rằng không thể nào trèo qua đầu đám đông để lên được máy bay đã ném những đứa con của họ qua cánh cửa vào trong máy bay.

  8. #18
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,230
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    Khi số lượng người di tản bất ngờ phình ra nhanh chóng thì việc thực hiện chiến dịch tại sân bay chính hầu như không thể tiến hành được nữa. Các trực thăng của Air America bắt đầu chở một số người tới một đường băng gần Non Nước để thực hiện di tản có giới hạn.

    Những người di tản hoảng loạn đã chiếm giữ đài kiểm soát không lưu ở sân bay chính của Đà Nẵng. "Chúng tôi luôn phải chạy lòng vòng, bởi vì nếu như cho máy bay đứng yên một chỗ thì ngay lập tức sẽ có khoảng năm nghìn người vây xung quanh trong vòng vài giây", Lannin, người đã lái trực thăng trong những ngày ấy, kể. "Chúng tôi bốc một số người cần được di tản tới một đường băng dùng cho máy bay cánh cố định và sau đó những máy bay C-47 có trách nhiệm đưa số người này đi".

    Đã có một nỗ lực nhằm nối lại việc di tản ở sân bay chính của Đà Nẵng. Một chiếc Boeing 727 của World Airway hạ cánh xuống đó đã bị khoảng năm ngàn người Việt Nam bao vây. Việc các nhân viên an ninh Mỹ bắn chỉ thiên không gây được một hiệu quả đáng kể nào và đám đông cuồng loạn tiếp tục giẫm đạp lên đàn bà, trẻ em. Khi những người di tản bắt đầu leo lên bánh máy bay, viên phi công vội vàng khởi động động cơ và cho máy bay cất cánh ngay lập tức.

    Khi ấy, những chuyến bay trực thăng của Air America đưa người tới sân bay phụ ở Non Nước được duy trì một cách đều đặn, thường xuyên hơn. Hai chiếc trực thăng của Air America bay tới sân bay chính của Đà Nẵng đón các nhân viên của tòa lãnh sự Mỹ cùng với thân nhân trong gia đình họ đang bị kẹt trong số khoảng mười ngàn người tại đây. Việc xuất hiện hai chiếc trực thăng này tại sân bay chính khiến cho đám đông càng trở nên kích động hơn bởi vì họ dường như hiểu rằng đó là phương tiện duy nhất đưa họ đi.

    Hai chiếc trực thăng khác cũng của Air America chuyên chở những nhân viên quân sự Mỹ từ trung tâm Đà Nẵng tới sân bay ở Non Nước trong suốt buổi sáng ngày 28/3. Đến trưa, hai chiếc máy bay này gần hết nhiên liệu và phải bay tới một căn cứ của lính thủy đánh bộ Mỹ nằm ở phía nam Đà Nẵng để tiếp liệu. Tại đây, một nhóm cảnh sát quốc gia của chính quyền Nam Việt Nam yêu cầu phi công cho họ lên máy bay di tản. Khi viên phi công từ chối và cất cánh, những cảnh sát này đã nổ súng nhằm vào máy bay. Máy bay trúng bốn phát đạn, còn viên phi công bị thương vào ngực.

    Trong khi các trực thăng của Air America tiếp tục chiến dịch chuyển những người di tản từ nơi này đến nơi khác thì một nhóm người Việt Nam thuộc diện "nhạy cảm" đã bị bỏ sót. Đến cuối ngày 28/3, Tổng lãnh sự Mỹ tại Đà Nẵng mới phát hiện ra nhóm người này và ngay lập tức ông ta điện yêu cầu một chuyến bay của Air America tới để di tản họ. Nhưng để đảm bảo cho chiếc máy bay C-47 của Air America hạ cánh an toàn, ông Tổng lãnh sự Mỹ đã phải thực hiện một thỏa thuận trao đổi với một số sĩ quan trong quân đội Nam Việt Nam phụ trách đơn vị súng phòng không bảo vệ sân bay: một số sĩ quan và nhân viên quân sự trong đơn vị này sẽ được di tản trên máy bay này để đổi lại việc họ bảo vệ cho sân bay trong khi chiếc máy bay hạ cánh.

    93 người, hơn một nửa trong số đó là các sĩ quan quân đội Nam Việt Nam, đã lên chuyến bay cuối cùng của Air America rời khỏi Đà Nẵng. Khi chiếc máy bay cất cánh, hàng trăm lính Nam Việt Nam đã bao vây, bám vào cánh và thùng nhiên liệu của chiếc máy bay. Viên Tổng lãnh sự Mỹ chạy từ bên này sang bên kia, cố gắng sử dụng nắm đấm để gạt những người lính kia xuống. Nhưng rồi chính ông ta bị kéo ngã xuống đất, bị đám đông lính tráng đấm đá, cuối cùng thiệt mạng và bị bỏ lại ở đó.

    Sáng hôm sau, 29/3, chuyến bay di tản cuối cùng rời khỏi Đà Nẵng diễn ra còn kinh hoàng hơn. Ed Daly, người phụ trách hãng World Airway ra lệnh cho 2 chiếc Boeing 727 của ông ta bay vào thành phố. Ông ta đã không kịp xin phép Sài Gòn nhưng vẫn cố gắng thực hiện phi vụ di tản này và tự mình bay trên chiếc máy bay đầu tiên.

    Khi chiếc máy bay hạ cánh, nó đã lập tức bị cả một biển người bao quanh và chỉ trong vòng có 10 phút, bên trong máy bay đã lèn chặt tới 270 người. Nếu như Ed Daly hy vọng có thể di tản phụ nữ và trẻ em trong chuyến bay cuối cùng này thì quả thật ông ta đã phải hoàn toàn thất vọng. Ngoại trừ hai phụ nữ và một đứa bé, toàn bộ số người còn lại trên máy bay đều là những binh sĩ thuộc một trong những đơn vị được coi là hung hãn nhất trong quân đội Nam Việt Nam có tên là Hắc Báo. Bọn chúng không ngần ngại sử dụng vũ lực để có thể lên được máy bay và một tên trong bọn này đã đạp vào mặt một bà cụ để lọt vào bên trong.

    Khi chiếc máy bay bắt đầu cất cánh, những người lính khác không lên được dạt sang một bên và bắt đầu ném lựu đạn về phía máy bay. Lựu đạn nổ khiến cho cánh gió và bộ hạ cánh máy bay không thể mở ra được hết cỡ. Những người bám dưới hai cánh và bộ hạ cánh sau đấy chỉ còn cách buông tay và chắc chắn thiệt mạng trong khi những người khác bị bánh máy bay nghiền nát. Chỉ có 4 người bám được vào bánh máy bay suốt trên đường bay vào tới Sài Gòn.

    Một đội quay phim truyền hình của Anh đã phạm phải sai lầm lớn lúc chiếc máy bay hạ cánh xuống đón những người di tản. Họ ra quá xa máy bay và không thể nào lên lại được khi nó cất cánh. Người quay phim trong đội chỉ kịp ném chiếc máy quay với những cuốn phim anh ta quay được vào bên trong trước khi cánh cửa của máy bay đóng lại. Sau đấy, một chiếc trực thăng khác của Air America hạ cánh xuống được và đưa họ đi. Chiếc Boeing 727 thứ hai khi đó cũng đã ở trên không trung.

  9. #19
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,230
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    Một máy bay của không lực Mỹ chở khoảng 300 trẻ em mồ côi sang Mỹ để các gia đình nhận làm con nuôi đã lao xuống đất, cách sân bay Tân Sơn Nhất gần một dặm. Chỉ 120 em nhỏ sống sót.

    Cánh cửa khoang chở hàng bị bung ra khi chiếc máy bay này cất cánh, trong khi dây dẫn điều khiển bị kẹt khiến cho viên trưởng cơ không thể nào nghiêng được cánh trong khi bay trừ khi thay đổi công suất. Khoảng năm chục người lớn và trẻ em ở trong khoang dưới đã chết vì thiếu dưỡng khí ngay khi giảm áp, trong khi những người khác bị hút ra phía cánh cửa khoang chứa hàng mở toang. Phi công cố gắng đưa chiếc máy bay quay lại sân bay, nhưng không thể nào nghiêng sang trái để thực hiện điều đó, chiếc phi cơ mất độ cao. Viên phi công cố gắng giảm công suất để hạ cánh, suýt chút nữa thì đâm thẳng xuống một con kênh.

    Khi chiếc trực thăng tiếp đất, một số bộ phận của nó văng tứ tung, trong đó có cả vỏ động cơ và bánh. Nó chồm qua con kênh, đáp xuống một bãi lầy với tốc độ thấp nhất có thể. Hai bên cánh máy bay bị gãy và nó dừng lại được trong khi nước bắt đầu tràn vào trong khoang. Mũi trực thăng văng ra giết chết viên phi công phụ, nhưng phần thân vẫn còn nguyên và bộ phận cửa cấp cứu có thể mở ra được.
    Khi vụ tai nạn xảy ra, một chiếc trực thăng của Air America đang bay ở gần đó và nó ngay lập tức bay tới hiện trường. Những chiếc khác theo sau và Art Kenyon, khi đó không ở trong phiên trực, đang ra bên ngoài sân bay để nhận thư, đã tình nguyện đảm nhiệm vai trò của viên phi công phụ. Khi kể lại sự kiện này, anh ta vẫn không giấu nổi nỗi xúc động.

    "Khi tôi tới nơi thì những người bên trong máy bay đã mở được cửa cấp cứu khẩn cấp. Một thanh niên đang đứng, trên tay bồng một đứa nhỏ. Trực thăng không thể nào hạ cánh xuống được đầm lầy; nó chỉ có thể treo là là, cố giữ khoảng cách đủ để không bị đầm lầy nuốt lấy. Cũng thật khó khăn khi phải đi bên dưới một chiếc trực thăng đang treo trên không như vậy; bạn sẽ di chuyển rất khó khăn trong khi cả một cơn lốc xoáy do những cánh quạt máy bay tạo ra ập vào người bạn. Tôi nhảy ra khỏi chiếc trực thăng của mình, bùn ngập tới đầu gối và bắt đầu cố gắng di chuyển về phía chiếc phi cơ gặp nạn.

    Một lính Mỹ với khuôn mặt đầy máu, tôi nghĩ có lẽ anh ta là thượng sĩ, chuyền hai đứa trẻ cho tôi. Tôi bế mỗi đứa bằng một tay và cố gắng quay trở lại chiếc trực thăng vẫn đang treo lơ lửng trên đầm lầy, thế nhưng sức nặng của bản thân cộng thêm 2 đứa bé khiến chân tôi dần dần bị hút chặt xuống bùn. Bùn dâng dần lên tới nách, tôi bắt đầu chới với. Cuối cùng thì một ai đó đã tới và đỡ giúp tôi một đứa bé, tôi bế đứa còn lại và cố gắng trồi lên, thoát ra khỏi chỗ bùn lầy.

    Tôi vẫn còn nhớ một hình ảnh kinh hoàng sẽ còn ám ảnh tôi mãi mãi. Một bé gái, chừng 4 tuổi, hai chân đều đã bị cắt đứt, bị kẹt giữa thân máy bay, máu tuôn xối xả. Tôi cứ nhìn cái phần còn lại của cơ thể đứa bé ấy đang chết dần... Thật khủng khiếp".

    Những người tới tiếp cứu cố gắng đưa một người Mỹ mặc đồ dân sự, toàn thân đầy máu, ra khỏi chiếc máy bay bị nạn. Cứ mỗi lần nhích ra được một chút, anh ta lại thét lên vì đau đớn. Một ai đó đã kê một chiếc gối bên dưới đầu để anh ta khỏi bị chìm xuống bùn. Lúc ấy, họ cũng đưa ra khỏi máy bay xác một nữ y tá đi theo chăm sóc cho bọn trẻ đã chết trong tai nạn. Trong tiếng gầm đinh tai nhức óc của cánh quạt trực thăng, người đàn ông bắt đầu rống lên.

    - Anh đang làm cái quái gì vậy?

    - Người y tá kia kìa, cô ta chết rồi.

    - Đừng để ý đến cô ta làm gì nữa. Còn cả đống người sống ở đây này. Hãy cố gắng đưa những người còn sống ra khỏi máy bay đã.

    Trong tổng số 300 trẻ em trên chuyến bay này chỉ có khoảng 120 em được cứu sống, mặc dù hầu hết đều bị thương. "Có một phần của chiếc máy bay bị vỡ ra và những em ngồi tại khu vực đó đã sống sót", Kenyon giải thích. "Một số bị xây xát trên mặt, miệng mũi đầy máu, nhưng tôi thấy không có em nào bị thương nặng cả".

    Điều lạ lùng là không một đứa trẻ nào ngay cả những đứa bé sơ sinh bật khóc. "Thật kỳ quặc. Bọn trẻ hoàn toàn yên lặng", Kenyon nói. "Không một đứa nào thút thít hay rên rỉ. Hoàn toàn yên lặng, không một tiếng động. Cứ như có ma vậy".

    Bọn trẻ được máy bay đưa về lại sân bay Tân Sơn Nhất. Một nhân viên CIA có mặt tại đó kể lại: "Khi bọn trẻ được đưa ra khỏi trực thăng vào trong các xe cứu thương, không một ai biết chắc rằng bọn chúng còn sống hay đã chết. Hầu hết bọn chúng đều bê bết bùn từ đầu tới chân và chỉ sau khi chúng được đưa ra khỏi xe cứu thương, chúng tôi mới bắt đầu xác định tình trạng của bọn chúng. Các y tá chỉ việc đưa chúng xuống dưới vòi nước để gột rửa hết bùn đi rồi khi ấy mới nói: Đứa này còn sống; đứa này đã chết.

    Sau một lát, tôi cùng với mấy người Mỹ khác bắt đầu dồn những đứa trẻ không bị thương lên xe Jeep và xe ca để đưa chúng trở lại nhà nuôi dưỡng trẻ mồ côi. Nhiều đứa vẫn còn sợ đến nỗi chúng không thể khóc được. Trên tay chúng tôi, nom chúng như những miếng giẻ bé xíu và mệt lả.
    Không một đứa nào có biển tên mà chỉ có những vòng cổ tay ghi những cái tên đơn giản như New York, New Jersey, đại loại như vậy. Đấy là tên những bang của nước Mỹ nơi chúng đáng lẽ sẽ tới để được nhận làm con nuôi. Vấn đề khó khăn lớn đối với chúng tôi khi đó là xác định chính xác xem những đứa trẻ sống sót có tên là gì. Trong suốt cả buổi chiều hôm ấy, tôi phải đối chiếu những chữ ghi trên vòng đeo tay của bọn trẻ với tên có trong danh sách, sau đấy thảo những bức thư để thông báo cho các gia đình ở Mỹ biết rằng những đứa trẻ mà họ định nhận làm con nuôi đã chết".

  10. #20
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,230
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Nghệ thuật quân sự: Mưu phép và đòn thế

    Chỉ còn Sài Gòn là chưa sụp đổ. Rõ ràng, cuối cùng số phận của nó cũng giống như những thành phố khác ở Nam VN, nhưng Đại sứ Mỹ Graham Anderson Martin vẫn chưa ra lệnh di tản. Phi công của Air America ở Sài Gòn cảm tưởng rằng ông đại sứ biết được điều gì đó mà họ không biết!
    Họ cho là có thể quân đội Sài Gòn cuối cùng đã gượng lại được. Trong các phi công xuất hiện một tâm trạng lạc quan sai lầm bởi vì thực ra ông đại sứ Mỹ chẳng biết gì hết và quân đội Sài Gòn cũng không gượng lại được.

    "Quân giải phóng đã dồn quân đội Sài Gòn vào chân tường và sau Sài Gòn, sẽ chẳng còn nơi nào để binh lính Việt Nam Cộng hòa trốn chạy nữa", Art Kenyon nói. "Tôi đã cho rằng các đơn vị bộ binh của quân đội Sài Gòn có thể gượng dậy và chống cự bởi họ biết rõ rằng họ không thể chạy xa hơn được nữa. Tôi cũng có cảm giác rằng quân giải phóng muốn chiếm được Sài Gòn một cách nguyên vẹn chứ không muốn có trong tay một thành phố đã bị phá hủy. Khi ấy, cũng như những nhận định sai lầm của vô số các sĩ quan tình báo khác, tôi đã tin rằng rồi một liên minh sẽ được tái lập và tôi chẳng hề vội vã chuẩn bị rời khỏi Việt Nam. Nhưng rồi trong hai tuần lễ cuối cùng, tôi mới thấy hóa ra mọi việc chẳng hề giống như tôi đã dự đoán".

    Tâm trạng lạc quan cũng có ở ông đại sứ Mỹ, bất chấp sự suy sụp và thất vọng, vẫn hy vọng rằng cuối cùng sẽ có một giải pháp chính trị và vì vậy, ông ta đã hoãn lệnh di tản chậm đến hết mức có thể bởi sợ rằng nó sẽ gây nên tâm lý hoảng loạn. Phương án IV (Option Four), mật danh của cầu hàng không di tản với sự tham gia của một số lượng lớn trực thăng, chỉ được coi là cách bất đắc dĩ sau cùng.

    Bị ru ngủ bởi cái cảm giác an toàn lan tràn trong hàng ngũ các quan chức cấp cao, nhiều phi công của Air America đã mất tất cả những gì họ có. "Tôi đã hợp đồng với một công ty vận chuyển khoảng một ngàn pound hàng hóa trị giá gần 2.000 USD, nhưng hợp đồng này đã không bao giờ được thực hiện", Art Kenyon nói.

    Anh ta cũng bị mất một ngôi nhà lớn với đồ nội thất đắt tiền, một trang trại trồng cây ăn quả, 2 xe hơi và một chiếc mô tô, giá trị tổng cộng vào khoảng 104.000 USD. Anh ta được Air America bồi thường có 12.000 USD, thêm 9.000 USD nữa bằng tiền mặt do bán đổ bán tháo những đồ vật đã bị hư hại.

    Người chỉ huy chiến dịch di tản của Air America đã thông báo cho 34 phi công vẫn còn ở lại Sài Gòn biết về chiến dịch di tản trên các mái nhà trong Phương án IV. Lính thủy đánh bộ đã thảo một kế hoạch sử dụng các xe buýt và một số ít trực thăng gom những hành khách đặc biệt từ một số điểm phân bố rải rác tại thành phố trong "Ngày E", đưa họ tới các địa điểm chờ ở Tân Cảng và phi trường Tân Sơn Nhất. Trên mái bằng của 13 tòa nhà sứ quán trong thành phố, người ta phá bỏ các ống khói cũng như cột ăng ten để có thể sử dụng trong trường hợp khẩn cấp.

    Đề nghị vạch chữ H trên mái bằng của các tòa nhà để các máy bay trực thăng xác định được chính xác kích thước của mái nhà khi hạ cánh đã bị đại sứ Mỹ bác bỏ với lý do chúng có thể khiến cho những người giúp việc và lao công hoảng sợ khi họ leo lên mái để lau dọn. Cuối cùng thì người ta thay ký hiệu đường thẳng bằng những dấu chấm. Người chỉ huy chiến dịch nói rằng bất cứ phi công nào của Air America cảm thấy chiến dịch này quá nguy hiểm đều có thể từ chối không tham gia. Có ba phi công đã làm như vậy.

    Ngày lại ngày, sự căng thẳng bên trong thành phố cứ tăng dần lên. Đại úy phi công Fred Fine (tên trong khi tác chiến của "Big" Fred Walker) bắt đầu ghi nhật ký từ giữa tháng 4/1975. Đó là một biểu đồ hàng ngày mô tả cuộc sống bấp bênh, đầy rẫy những tin đồn và nguy hiểm ngày càng tăng lên trong thành phố.

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •