CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 1 của 34 12311 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 342

Chủ đề: Tâm tình người lính Tây Nguyên!

Xem kiểu ghép

  1. #1
    Ngày tham gia
    02-04-2013
    Bài viết
    279
    Thích
    121
    Đã được thích 729 lần trong 225 bài viết

    Tâm tình người lính Tây Nguyên!

    Viết ở đền Bến Dược

    “Bến Dược miết rồi nghe cũng thành quen“


    Giời ơi vui quá thể
    Nghe em gọi bến Vượt giống thủa nào
    anh chợt nhớ đêm theo cô du kích
    Qua sông soi thủy triều lóng lánh sao

    Lính nghe tên bến cần chi sai đúng
    Chỉ nương theo giọng thiếu nữ vùng ven
    Phía Sài gòn đèn đêm như trời ửng
    Bến Dược miết rồi nghe cũng thành quen

    Quân nườm nượp đêm này qua đêm khác
    Bến từng in vạn dấu dép bết bùn
    Em lén soi gương trong lùm đậu đũa
    Sót vết bùn trên bến vượt nhà em

    Đêm tiến về Đô thành trong tầm pháo nổ
    dép còn in bùn nước bến ban chiều
    Ngày Giải phóng em về xóm cũ
    Bao Nấm mồ chưa mọc cỏ liêu xiêu

    Những binh đoàn chỉ một đêm qua bến
    Hương cỏ cứ đằm trong hương tóc hương bùn
    Củ chi ươm anh một đời nỗi nhớ
    Mấy chục ngàn người nằm ủ đất để mầm lên

    Những linh hồn hai đầu bến sao quên ?
    Vong bến Vượt xin gọi là "Bến Dược"
    Chẳng thể mất tiếng của hồn dân nước
    Như giữ máu xương mồ mả tổ tiên mình

    Nay ghé ngôi đền trầm mặc uy linh
    Sóng và gió tựa với sông với nước
    Anh ngả mũ ban trưa nhớ một đêm bến Vượt
    Em cũng hoa râm trước Bến “Dược“ quê mình

    Củ chi ơi, ngan ngát mộ chiến binh
    Một thế kỉ Củ chi hoang mạc
    Nay trở lại xanh ngẩn ngơ sóng nước
    Trưa nay sông tím thế Lục bình ?

    Củ Chi 2012 LITANGU (ăn theo bác LIXETA)

    No Avatar

    linh7983

     19:28, 2nd Apr 2013 #16807 

    Đọc bài thơ em đã ngờ ngợ ( vì thấy vần thơ rất quen ) . Bây giờ thì rõ rồi.Rất mong được đọc những bài viết của Bác NTL .


    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 03-05-2013 lúc 12:03 PM.

  2. Có 6 người thích bài viết này


  3. #2
    Ngày tham gia
    02-04-2013
    Bài viết
    279
    Thích
    121
    Đã được thích 729 lần trong 225 bài viết

    hoa râm bụt

    Hoa râm bụt



    Tôi đi bộ đội về thấy làng quê sau mấy năm hầu như không thay đổi. Chỉ duy thấy ngỡ ngàng là gặp những đứa con gái phổng phao mười bẩy mười tám mà lúc mình ra đi nó còn loe hoe tóc đuôi gà sém nắng.
    Đi trên đường, các bà làm dưới ruộng gọi ơi ới. Mày về đấy hả cu? mày về đấy hả cháu? rồi mày khỏe không con, có bị thương không? mình đi dọc cánh đồng mà trả lời cứ oang oang như gọi đò.
    Mới về nhà hôm trước, hôm sau phải đi chào họ hàng trong làng ngoài xã. Cái tin anh Luân con ông Dụng trong B về cả làng ai cũng biết từ sáng tinh mơ. Mấy đứa bạn gái chăn trâu cắt cỏ cùng thì cứ ơ ớ: thế đằng ấy không có quần áo bộ đội à? chả là tôi về tới nhà là mặc ngay quần áo cũ của mình. Rõ dại, ngượng quá nên đánh trống lảng bảo tớ bán hết rồi. Chúng nó cười phá lên. Có một cô không cười bẽn lẽn quay đi. Con nhà ai thế nhỉ? mà mặt nó giống cái Thụ bạn mình xưa quá. Hỏi một đứa, nó bảo đúng đấy nó em cái Thụ đấy.
    Em tên gì? nó bảo em là Thanh. rồi cầm cái nón quạt phây phẩy. Hồi anh chơi với chị thụ em em bé nhưng biết anh rồi, anh đi đại học chị Thụ hay viết thư cho anh em toàn mang bỏ thùng thư hộ chị ấy. Lúc chị ấy mất anh cũng viết thư về em cũng nhớ. Nó cúi mặt buồn rười rượi. Tôi chợt nhoi nhói buồn, nhớ năm 72 đang ở đơn vị trên Thái Nguyên nghe tin Thụ mất vì chó dại cắn. Chúng tôi thân nhau từ bé mày tao chí tớ cho tới lúc đi học ĐH vẫn thế. Lũ bạn đi xa rồi còn cô em của Thụ vẫn đứng lại dưới dặng râm bụt. Mùa đông, hoa râm bụt lưa thưa đỏ rừng rực. Cái màu đỏ của hoa râm bụt tươi hơn hớn. Người sành hoa bảo loài hoa này không thuộc loại hoa quân tử. Tôi chịu chả hiểu và cũng chả cần hiểu bởi từ bé con đường làng tôi dăng dăng hoa này và dẫu đi xa tôi vẫn yêu vẫn nhớ. Thanh ngắt một bông hoa đỏ cài lên nón rồi đội lên đầu: Thôi em đi làm đây rỗi anh xuống chơi với bố bầm em. Cô chạy ào đi theo chúng bạn, cái nón trắng có bông hoa râm bụt phấp phới.
    Mấy ngày ở nhà trước khi trở về trường cũ tôi sửa lại hàng rào vườn nhà... Ở quê tôi, người ta hay cắm cây ô rô hoặc râm bụt làm hàng rào. Cái giống cây rất dễ sống và đan ken vào nhau xanh mươn mướt. Vừa cắm những cành cây phất cụt ngọn xuống đất vừa nghĩ cái bông hoa trên nón cái Thanh. Đứng cạnh mình mà cô ấy cài bông hoa lên nón mà cặp má thì cũng ửng lên. Gái quê mình hay thế nhỉ.

    Rồi hàng rào râm bụt vườn nhà tôi ngun ngút xanh. Những kì nghỉ hè về quê nhìn cả một hàng dài hoa phấp phối đỏ. Cái dặng rào thật thích mắt. Lá râm bụt thì xang ngắt còn hoa thì đỏ chói. Thứ hoa rất nhiều mật nên đầy kiến và ong đậu trong cái loa kèn đỏ rực ấy. Nhìn ra vườn, ngắm bông hoa đung đưa lại nhớ đến cái cô Thanh ngày nào. Em gái tôi bảo nó lấy chồng tận Vĩnh yên lâu rồi anh ạ. Vài chục năm sau Tôi gặp Thanh ở Hà nội. Cô ấy đưa con xuống nhập trường đại học Tài chính. Nói chuyện ngày xửa ngày xưa, chuyện chị Thụ, chuyện quê cũ với nhau tôi cứ thấy hiện ra bông hoa râm bụt khiêm nhường giản dị như gái quê. Nó đỏ rực và má gái quê tôi rất hay ửng đỏ.

    NTL

    No Avatar

    litangu

     23:54, 15th Apr 2013 #17257 

    Cám ơn các bác đọc bài LITANGU . đúng là tôi ở chỗ " cho em xin tí xà phòng " đó

    BinhBet's Avatar

    BinhBet

     12:28, 12th Apr 2013 #17102 

    hình như bác ấy quê ở chỗ "cho tớ mượn cục xà phòng" thì phải ?

    Ha si Gia's Avatar

    Ha si Gia

     12:01, 12th Apr 2013 #17100 

    Đọc thơ đọc văn của bác Li Ta Ngu này miềng cũng thấy quen quen , Hình như miềng cũng đc hầu Rượu nghe bác ý đọc thơ mấy lần rồi thì phải.

    No Avatar

    linh7983

     10:22, 12th Apr 2013 #17096 

    Em còn nhớ là sau chiến thắng ( 1975 ) các Bác bộ đội là "có giá " lắm . hì hì

    No Avatar

    huuthanh

     07:35, 12th Apr 2013 #17094 

    Bác mải đi học lại, chuyện nó mới ra thế


    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 03-05-2013 lúc 12:08 PM.

  4. Có 5 người thích bài viết này


  5. #3
    Ngày tham gia
    02-04-2013
    Bài viết
    279
    Thích
    121
    Đã được thích 729 lần trong 225 bài viết

    Một con đường đi không trở lại

    Trích dẫn Gửi bởi litangu Xem bài viết
    Hoa râm bụt



    Tôi đi bộ đội về thấy làng quê sau mấy năm hầu như không thay đổi . Chỉ duy thấy ngỡ ngàng là gặp những đứa con gái phổng phao mười bẩy mười tám mà lúc mình ra đi nó còn loe hoe tóc đuôi gà sém nắng .
    Đi trên đường , các bà làm dưới ruộng gọi ơi ới . Mày về đấy hả cu ? mày về đấy hả cháu ? rồi mày khỏe không con, có bị thương không ? mình đi dọc cánh đồng mà trả lời cứ oang oang như gọi đò .
    Mới về nhà hôm trước , hôm sau phải đi chào họ hàng trong làng ngoài xã . Cai tin anh Luân con ông Dụng trong B về cả làng ai cũng biết từ sáng tinh mơ . Mấy đứa bạn gái chăn trâu cắt cỏ cùng thì cứ ơ ớ : thế đằng ấy không có quần áo bộ đội à ? chả là tôi về tới nhà là mặc ngay quần áo cũ của mình . Rõ dại , ngượng quá nên đánh trống lảng bảo tớ bán hết rồi . Chúng nó cười phá lên . Có một cô không cười bẽn lẽn quay đi . Con nhà ai thế nhỉ ? mà mặt nó giống cái Thụ bạn mình xưa quá . Hỏi một đứa , nó bảo đúng đấy nó em cái Thụ đấy .
    Em tên gì ? nó bảo em là Thanh . rồi cầm cái nón quạt phây phẩy . Hồi anh chơi với chị thụ em em bé nhưng biết anh rồi , anh đi đại học chị Thụ hay viết thư cho anh em toàn mang bỏ thùng thư hộ chị ấy . Lúc chị ấy mất anh cũng viết thư về em cũng nhớ . Nó cúi mặt buồn rười rượi . Tôi chợt nhoi nhói buồn , nhớ năm 72 đang ở đơn vị trên Thái Nguyên nghe tin Thụ mất vì chó dại cắn . Chúng tôi thân nhau từ bé mày tao chí tớ cho tới lúc đi học ĐH vẫn thế . Lũ bạn đi xa rồi còn cô em của Thụ vẫn đứng lại dưới dặng râm bụt . Mùa đông , hoa râm bụt lưa thưa đỏ rừng rực . Cái màu đỏ của hoa râm bụt tươi hơn hớn . Người sành hoa bảo loài hoa này không thuộc loại hoa quân tử . Tôi chịu chả hiểu và cũng chả cần hiểu bởi từ bé con đường làng tôi dăng dăng hoa này và dẫu đi xa tôi vẫn yêu vẫn nhớ . Thanh ngắt một bông hoa đỏ cài lên nón rồi đội lên đầu : Thôi em đi làm đây rỗi anh xuống chơi với bố bầm em . Cô chạy ào đi theo chúng bạn , cái nón trắng có bông hoa râm bụt phấp phới .
    Mấy ngày ở nhà trước khi trở về trường cũ tôi sửa lại hàng rào vườn nhà . . Ở quê tôi , người ta hay cắm cây ô rô hoặc râm bụt làm hàng rào . Cái giống cây rất dễ sống và đan ken vào nhau xanh mươn mướt . Vừa cắm những cành cây phất cụt ngọn xuống đất vừa nghĩ cái bông hoa trên nón cái Thanh . Đứng cạnh mình mà cô ấy cài bông hoa lên nón mà cặp má thì cũng ửng lên . Gái quê mình hay thế nhỉ .

    Rồi hàng rào râm bụt vườn nhà tôi ngun ngút xanh . Những kì nghỉ hè về quê nhìn cả một hàng dài hoa phấp phối đỏ . Cái dặng rào thật thích mắt . Lá râm bụt thì xang ngắt còn hoa thì đỏ chói . Thứ hoa rất nhiều mật nên đầy kiến và ong đậu trong cái loa kèn đỏ rực ấy . Nhìn ra vườn , ngắm bông hoa đung đưa lại nhớ đến cái cô Thanh ngày nào . Em gái tôi bảo nó lấy chồng tận vĩnh yên lâu rồi anh ạ . Vài chục năm sau Tôi gặp Thanh ở Hà nội . Cô ấy đưa con xuống nhập trường đại học Tài chính . Nói chuyện ngày xửa ngày xưa , chuyện chị Thụ , chuyện quê cũ với nhau tôi cứ thấy hiện ra bông hoa râm bụt khiêm nhường giản dị như gái quê . Nó đỏ rực và má gái quê tôi rất hay ửng đỏ

    NTL
    Một con đường đi không trở lại
    Nguyễn Trọng Luân -


    Con đường chúng ta hành quân
    Chỉ một lần rồi chẳng bao giờ trở lại
    Suốt Trường Sơn có bao nhiêu đồng đội
    Vùi xác mình vào con đường lãng quên

    Nơi con suối khô khói thở rát đá lèn
    Nơi cánh rừng muỗi bu thân sốt rét
    Nơi trở giấc trong hầm khuya pháo kích
    Chạm má mình nước mắt bạn sang tôi

    Một con đường cơn đói quặn như sôi
    Thèm đến khóc bát canh chua của mẹ
    Một con đường âm u thư không tem gửi vội
    Người vào người ra ôm nhau giữa cổng trời

    Một con đường đi chỉ một lần thôi
    Người về cứ bâng khuâng đêm nhớ
    Người nằm xuống nát hồn mơ quê cũ
    Con đường xưa thăm thẳm nhói tim mình

    Có một thời con đường ấy lung linh
    Mắt trong mắt, những bài ca ra trận
    Anh gặp em tóc xanh trùm súng đạn
    Áo ngực em dăng hôi hổi cả cánh rừng

    Một con đường leo núi vượt sông
    Cột mốc là những nấm mồ chết trẻ
    Tên những cánh rừng mang tên người không về nữa
    Một con đường nước mắt tưới rưng rưng

    Thôi kể làm chi những tên đất tên sông
    Bởi ứa máu nhớ mà không trở lại
    Truờng Sơn ơi, xin hương hồn đồng đội
    Trở dậy dựng bia cho một con đường

    Trở dậy đặt tên cho ngọn núi dòng sông
    Hoa rừng trắng tận đời sau vẫn trắng
    Cánh rừng cũ lá khô buông tĩnh lặng
    Lá rơi buồn tiếng nấc thả vào đêm


    Chẳng thể trở về nên buốt nhói trong tim
    Nối tim bạn với tim mình bằng đường hành quân trong trí nhớ
    Lá vàng rơi chiều nao bên suối nhỏ
    Chiều nay...
    ...lại rơi trên tóc bạc chúng mình

    Sáng 27/7/2011

  6. Có 5 người thích bài viết này


  7. #4
    Ngày tham gia
    02-04-2013
    Bài viết
    279
    Thích
    121
    Đã được thích 729 lần trong 225 bài viết

    Nỗi nhớ hoa cỏ may

    Ở bờ sông Sài gòn trên phần đất Củ chi. Cuối tháng 4/75 chúng tôi có mười ngày từ 19/4 đến đêm 28/4 náu quân, làm mọi chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng. Mười ngày ấy mà thật nhiều nỗi nhớ ,thật nhiều háo hức bồi hồi, thật nhiều kỉ niệm để đến bây giờ nghĩ về Củ chi lại vẫn cứ bồi hồi.
    Bài thơ Nỗi nhớ hoa Cỏ may là thế. Đầu đề bài thơ nghe nhàm chán quen quen. Nhưng tôi không biết đặt tên nào khác bởi vì tôi nhớ thật.




    Nỗi nhớ hoa Cỏ May

    Tặng một người con gái Củ Chi


    Biết bao giờ về lại với dòng sông
    Để anh lặn ngụp vào tuổi trẻ
    Lục bình xanh mê mải
    Hoa tím chiều Củ chi

    Bao giờ về để có ngày xưa
    Nhặt hoa cỏ may trên gấu quần con gái
    Ngày mai vào trận mới
    Bồi hồi nắm phải tay em

    Hoa cỏ may bịn rịn đêm
    Bìm bịp kêu nhuộm màu sông tím ướt
    Em bảo đưa anh về Nhuận Đức
    Má khêu đèn chờ... em ngồi gỡ cỏ may


    Sông thổn thức, lục bình trôi thổn thức
    Hương cỏ đêm như cất thành men
    Mai đánh Đồng Dù rồi trở lại tìm em
    Hoa cỏ phía bờ sông em ủ kĩ

    Anh biền biệt mấy chục năm lúc quên lúc nhớ
    Chỉ cỏ may bờ sông chẳng vô tình
    Hoa găm ngược vào tiếng sóng
    Đêm Bến Đình em gỡ nhớ ngày xưa


    NTL

    No Avatar

    songchau

     14:38, 31st May 2014 #24213 

    tiếp commemt bác nhé. Lính Tây Nguyên vốn đa tình/ Đa sầu đa cảm lại thông minh/ Cỏ hoa cây lá miền quê ấy/ Đừng buồn và cũng đừng tự rối lên/ Lính Tây Nguyên thường! Họ hay đùa vui.

    No Avatar

    songchau

     14:27, 31st May 2014 #24212 

    Nhân đọc bài hoa cỏ May và Comment của bác. songchau thành viên mới tặng bác câu .

    No Avatar

    litangu

     15:22, 16th Apr 2013 #17284 

    hi hi , không gỡ được mà nó còn rối tinh lên

    No Avatar

    linh7983

     03:05, 16th Apr 2013 #17259 

    Thế năm ngoái Bác litangu vào Củ chi có gặp Hoa cỏ may để gỡ không ạ.


    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 03-05-2013 lúc 12:10 PM.

  8. Có 4 người thích bài viết này


  9. #5
    Ngày tham gia
    02-04-2013
    Bài viết
    279
    Thích
    121
    Đã được thích 729 lần trong 225 bài viết

    Chuyện về bông hoa Pơ Lang


    Chuyện về bông hoa Pơ lang


    Chuyện thì buồn. Nhưng chuyện buồn đâu phải không nên kể. Có khi kể ra rồi lòng thấy thảnh thơi hoá vui hơn. Chuyện tôi kể về hoa Pơ lang này như thế.
    Bà bác sĩ ấy về hưu rồi. Cùng tổ dân phố lại sinh hoạt hội CCB phường với tôi. Mấy đứa con công tác và cư ngụ tít trời nam. Bà bảo hai vợ chồng son ngủ ít nên đi bộ ngoài hồ Hoàng cầu thì nhiều. Mấy ngày nay nắng nóng quá. Mấy gốc phượng vĩ ngoài hồ chật người ngồi trà đá, râm ran chuyện hội nghị Campuchia không ra được thông cáo. Bà nói với tôi anh cũng là lính B3 nên tôi kể, chuyện một thời của lính của tuổi trẻ của B3 mà thôi. Nhìn bà, mái tóc bạc nhuộm lại và rất nét na. Hiểu ra người bác sĩ ở trong rừng thời xưa xinh phải biết.
    ..... “Đánh Kon tum ác liệt quá, tháng tư ta thắng, tháng 5 thấy chững lại rồi cuối tháng... mình yếu... rồi rút. Chúng tôi đón thương binh về toàn là anh em bị thương mấy ngày rồi. Mùa mưa Tây nguyên lại bắt đầu... các vết thương có ròi đến nhanh. Thương binh chết trên tay chúng tôi, thương binh đưa đến đội điều trị đã chết, thương binh nằm chờ đến lượt phẫu của mình thì chết. Con gái chân yếu tay mềm chúng tôi chỉ biết khóc, chỉ biết vuốt ve nắm chân tay các anh muốn truyền hơi ấm yêu thương của đồng đội tới nhau để thêm chút hi vọng sống. Các anh cũng biết, có người tắt thở rồi vẫn nhìn chúng tôi như muốn chào tạm biệt, muốn nhắn gửi một nhời gì đó về quê với mẹ với người thân.
    Đầu mùa mưa, cuối mùa khô hoa Pơ lang xót lại lốm đốm đỏ. Đội điều trị ở một cánh rừng có mấy cây gạo to. Nó cao vượt lên hẳn những ngọn lồ ô xanh mướt mát. Lá thì ít mà hoa thì nhiều. Sao cái loài cây này nó không sống cho nó, nó cứ sống cho thiên nhiên nhiều hơn. Ngay cả vào mùa mưa lá nó cũng ít, dường như nó hút tinh tuý cao nguyên chỉ để vắt kiệt máu mình vào màu đỏ của hoa, vào những cánh hoa mỡ màng dầy dạn như những cánh diều hồng như máu? Còn chính thân nó thì khẳng khiu khô khốc những gai mốc thếch giữa nắng và gió.
    Đội điều trị có một thương binh ở đoàn Đồng Bằng. Anh ấy quê xứ Đoài. Trung đội trưởng bắn DKZ. Mấy ngày đầu anh ấy nặng tai lắm. Cái vết thương thì xoàng thôi nên rất nhanh bình phục. Anh ấy nhao xuống giúp y tá chúng tôi đủ việc, mà việc nào anh ấy cũng tỏ vẻ như rất biết nghề. Anh cười hì hì, rằng bố anh là y tá ở trạm xá quê nhà. Mấy việc đun nước, tiêm chọc anh ấy biết cả, anh ấy còn khuyên chúng tôi nên trồng thuốc nam nữa.
    Anh ấy đi cải thiện thức ăn cho thương binh, chui vào các lán bón cơm đút cháo cho đồng đội. Tối anh ấy dậy bọn tôi hát. Mà anh ấy hát hay lăm cơ. Con trai xứ Đoài tốt nghiệp cấp 3, không nhận giấy đi học nước ngoài mà nhận giấy nhập ngũ. Đã bốn năm theo đơn vị từ Quảng Trị, đường chín Nam Lào nay lại vào Tây nguyên... Tôi không thể nhớ hết chúng tôi đã nói chuyện gì với nhau ngày ấy. Nhưng mỗi chiều anh ấy đợi tôi xuống tiêm, thay băng cho thương binh để tặng tôi một cái cố giã gạo làm bằng ống lồ ô xinh xắn, anh ấy làm cái tượng cô gái TN đeo gùi bằng gốc nứa sao mà đẹp thế...
    Một chiều, tôi đến sau lưng anh mà anh không biết. Anh nhặt ở đâu về rất nhiều bông Pơ lang. Anh lấy từng cánh hoa đỏ như máu xếp thành một cái tên, không! mà là hai cái tên Hà - Hồng. Tôi sững lại, anh xếp tên anh và tên tôi với nhau. Anh cười, anh có vẻ vui lắm và bỗng giật mình khi thấy có người đến gần anh xoá vội dòng chữ đỏ hồng đi nhưng chỉ mất chữ Hà còn lại nguyên chữ Hồng. Anh như đứa trẻ biết lỗi, tôi cũng đứng bên anh im lặng như mình có lỗi. Mùa mưa Tây Nguyên năm 1972 thật nhiều bom đạn, nhiều mất mát và cũng thật nhiều kỉ niệm với tôi.
    Anh về đơn vị chiến đấu. Tôi và anh nhìn nhau chia tay tận ngoài bờ suối. Anh đi như chạy , anh nói xin lỗi tôi. Mà anh làm gì có lỗi. Hoa Pơ lang cứ đỏ, cứ là cái màu máu vốn có của nó. Chúng tôi rất trẻ và chúng tôi khao khát yêu, khao khát thịt da như cuộc sống vốn có của nó. Chúng tôi nuốt nước mắt vào lòng mà ao ước yêu.
    .... Chua xót lắm anh ạ. Năm 1974 tôi lại gặp anh nhưng anh chả nhận ra tôi nữa. Anh bị thương sọ não ở đường 19 gần đoạn Thánh Giáo. Sau gần hai tháng mổ điều trị anh tỉnh và không nhận ra mình nữa. Anh cười ngô nghê, bắt tay đồng chí. Đồng chí có chồng chưa? đồng chí có hay về Sơn tây không? rồi à à... ờ ờ quê tôi ở gần sông Hồng đồng chí ạ.

    Chiều, tôi xuống lán anh. Nhiều ngày nay tôi nhìn anh từ xa, tôi nhìn người bạn tôi hai năm trước bừng bừng khí thế. Bây giờ anh là một Đại đội trưởng nhưng không còn nhận ra tôi. Thật bất ngờ anh ấy ngồi bên một đống hoa Pơ lang xé từng cánh hoa xếp chữ HỒNG ngay ngắn. Thấy tôi anh cười nhỏn nhoẻn, chào đồng chí đồng chí thấy tôi sếp chữ đẹp không? tôi sếp chữ Đờ rát s vui che đấy. Chào đồng chí!
    Tôi vụt chạy, tới gốc cây Pơ Lang tôi ôm mặt khóc, khóc như ngày tôi đi tòng quân nhớ mẹ. Một bông pơ lang rơi ngay dưới chân tôi. Tôi nhặt lên giữ chặt nó trong tay, tôi giữ mãi... giữ mãi...”
    .... Bà bác sĩ ngồi nhìn ra hồ Hoàng Cầu. Mấy cái trụ đường sắt trên cao xây dở đứng chòi lòi giữa mặt hồ. Mấy ngọn sắt nhô lên trên trụ cầu có mấy con chim sẻ đậu im lìm như mấy nốt mụn ruồi... Bà kể tiếp
    ...... ”Rồi vài ngày sau anh ấy đi, người ta đưa anh ấy về hậu phương. Anh ấy lại chào các đồng chí. Trong cóc ba lô của anh ấy có vài bông hoa đỏ chói lói lấp ló. Anh ấy ngoái lại vừa cười thật hiền với tôi và những người ở đội điều trị. Tây nguyên lùi lại sau với anh. Còn tôi từ lúc ấy Tây nguyên nặng nề và day dứt.

    Cách nay vài năm, một lần đoàn cán bộ sở Y tế thành phố về chống dịch một xã ven sông Hồng sau trận lụt. Chợt nhớ ra cái tên xã rất quen. Tôi mò mẫm vào làng. Bãi sông sau đận lũ, nước và phù sa ong óng vàng trên cây trên cỏ trên vườn. Gặp lũ trẻ chăn trâu tôi hỏi: Cháu biết nhà bác Hà thương binh không?
    Lũ nhóc nhao nhao có có. Tôi mừng quá. Thở dồn dập. Ở đâu hả cháu?
    Chúng nó chững lại, bác ơi ông “Hà Hồng” ấy chết rồi, chết hơn năm rồi. Thế bác biết ông Hà Hồng à? ông ấy hay lấy hoa gạo ngoài bờ sông về ngồi xếp chữ Hồng rồi khóc rồi lại cười ngộ lắm bác ạ. Tôi cứ im lặng, tôi quên mất lũ trẻ đang bu quanh tôi, tôi khóc, tôi không nhận ra, không lí giải được thế nào là tình yêu nữa. Tôi không nhận ra tôi một chiến sĩ Tây nguyên nữa... tôi cố hình dung ra anh, ngồi trên bãi sông Hồng nhặt từng cánh hoa Pơ lang (hoa gạo) lặng lẽ kết hình tên tôi. Có phải tên tôi không?

    Bà bác sĩ quay sang tôi:
    - Không biết anh có nghĩ như tôi không? Tôi lúc nào cũng thấy hoa Pơ lang là lửa. Còn những cánh hoa Pơ lang màu máu.

    16/7/2012 Hoàng Cầu NTL

    khottabit59's Avatar

    khottabit59

     15:04, 21st Apr 2013 #17536 

    Rất xúc động!

    No Avatar

    ONGBOM-K5

     13:31, 16th Apr 2013 #17280 

    mùa hè đỏ lửa Tây Nguyên 1972 , cả f320A và f2 cùng mừng vui chiến thắng lúc đầu và cùng nhau rút lui "chiến thuật" vào đầu tháng 6-1972. Thiệt hại của 2 f này vô cùng lớn

    baoleo's Avatar

    baoleo

     08:57, 16th Apr 2013 #17265 

    Bác Litangu-chờ đọc bài của bác.


    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 03-05-2013 lúc 12:23 PM.

  10. Có 4 người thích bài viết này


  11. #6
    Ngày tham gia
    02-04-2013
    Bài viết
    279
    Thích
    121
    Đã được thích 729 lần trong 225 bài viết

    Trung úy Thúng

    Trung úy Thúng




    Một hôm, bạn tôi làm biên tập ở một tờ báo thủ đô rủ tôi đi uống bia. Lạ là cái tay này gọi tôi đi uống bia vào buổi trưa. Hắn bảo, tao kể cho mày nghe chuyện sáng nay, sáng nay tao gặp lão Thúng. Tôi hỏi Thúng nào? bạn tôi xoe tròn mắt nhìn tôi. Thằng này mày quên nhanh thế? Cái lão trợ lí chính sách hồi xưa đã suýt cho tao với mày ăn đòn kỉ luật về tội tán tỉnh con gái Tây nguyên để xin thuốc rê đó. À, Thúng trung úy. Ông ấy gặp có chuyện gì vậy? hay ngày xưa ở trong rừng mày còn gì khuất tất. Hắn cãi ngay. Khuất lấp cái con khỉ. Ông ấy muốn đăng thơ, thơ trào phúng B3. Tốt quá, bây giờ sân khấu hài đang ăn khách. Hắn gãi đầu khổ lắm ông ấy nói liên hồi tù tì không để tao nói chen vào câu nào. Tai đeo cái nút nghe máy khiếm thính nhùng nhằng chả bù ngày xưa lão ấy oách thế. Tôi bảo ngày ấy oách bất thường, hình như ông ấy leng keng từ hồi trong rừng. Ai thì còn có thể chóng quên chứ ông Thúng thì bọn tôi nhớ đến cả những bài thơ của ông ấy đến bây giờ vẫn nhớ.
    Hồi mới vào đơn vị. Có hôm nằm dưới hầm nghe mấy lính cũ ngâm thơ: Đế quốc Mĩ vô cùng chối tỉ / đem đạn bom dội giữa đường đi. Nhìn mấy cựu binh quần thủng đít ngồi bệt trong hầm lau súng đạn mặt lạnh tanh ngâm thơ mà thấy lạ. Tôi khen thơ hay thế? anh lính cũ ngẩng lên, chưa ăn thua còn nhiều bài hay hơn. Này nhé anh ta cất giọng: trông lên có ảnh có cờ/ hai ông tây với bác Hồ ngồi bên. Tôi bảo thơ trìu tượng. Anh lính cũ gườm: mày học hành mà chán quá, đấy là quang cảnh đại hội đấy ảnh Mác Lê nin bên cạnh bác Hồ hiểu chưa. Trung úy Thúng làm thơ tả thực, ông ấy cứ hồn nhiên thả vào thơ thậm chí cả chuyện tiêu hóa bài tiết. Ấy thế mà thơ của ông Thúng ai cũng nhớ và rất nhớ lâu. Trước khi đi bộ đội anh Thúng đã làm chủ nhiệm Hợp tác xã. Vào lính sẵn có thâm niên công tác anh Thúng tiến bộ rồi làm trợ lí chính sách trung đoàn. Một hồi lên làm lính tăng gia với E bộ thấy anh có cuốn sổ ghi toàn những kí hiệu tên tuổi cấp bậc mộ chí. Một hôm anh ngó vào mặt tôi rồi bảo đừng bao giờ có cái tên mày trong quyển sổ này nhé. Tôi lạnh toát cả người. Cũng dịp ấy chúng tôi ở gần bản đồng bào Tây nguyên tôi và anh bạn Biên tập bây giờ vào bản xin thuốc rê của đồng bào. Mấy cô thanh nữ mồm ngậm thuốc mà cứ: ”bồ đồi thông cảm mình không có thuốc. Nhìn cái gấu váy to như quả ổi tôi biết ngay là cục thuốc cô gái vẳn vào đấy tôi túm lấy vặn ngược ra cục thuốc rê rơi ra thì cái váy cũng tuột xuống. Cô gái túm được váy kéo lên thì hai thằng chúng tôi tóm ngay lấy cục thuốc đồng bào rồi rút thật nhanh. Chuyện ấy đồng bào vào tận sở chỉ huy để kiện. Cô gái nọ bị ông Thúng hỏi: Bộ đội có ngửi mồm đồng bào không? cô ta trả lời: Không chứ. Ông Thúng lại hỏi: Không ai đổ nác chứ? đồng bào lại trả lời nó lấy hót (thuốc lá) rồi nó đi luôn chứ, mình không kịp đổ nác chứ. Ông Thúng thở hắt ra. May quá. Đồng bào về đi, cán bộ sẽ quán triệt cái bộ đội. Cô gái về rồi ông gọi hai thằng tôi lên ông nói rất lâu về quan hệ quân dân cá nước về đạo đức cách mạng. Rồi ông véo cho tôi nhúm thuốc lào Vĩnh bảo quí hơn vàng. Lúc tôi ra về ông Thúng nói với theo mày nghiện ngập quá đấy!
    Giải phóng Sài gòn, lại một lần nữa trung úy Thúng đì tôi. Sáng 1/5/75 tiểu đội tôi chạy xe đi gom xăng lại vô tình gặp ông Thúng. Ông ấy hỏi: Lệnh ai? Mấy thằng lính mới nói luôn anh Luân bảo đi gom xăng về để hành quân. Trung úy Thúng lại có dịp để quán triệt tôi lần nữa. Nhưng trong lúc cờ hoa rợp trời ông ấy nói rất văn vẻ nào là niềm vui chiến thắng sẽ không trọn vẹn nếu các đồng chí vi phạm kỉ luật khi vào thành phố. Tôi nhận lỗi rối rít trong khi ngoài đường người dân hô vang khẩu hiệu chào mừng quân giải phóng.
    Vài tháng sau về đóng quân trên Củ Chi. Căn cứ sư đoàn 25 Tia chớp nhiệt đới to như một khu công nghiệp. Nhà cửa kho tàng san sát lính tráng nhìn hoa mắt chả hiểu đâu là điện ba pha đâu là một pha... v.v. Do bất cẩn và cũng lại còn đang ngây thơ với thành phố với cuộc sống hiện đại lính ta gây cháy nhà. Sự hỏa hoạn rồi cũng bị kỉ luật khiển trách tới cấp tiểu đoàn. Người ta có thể quên chuyện cháy nhà nhưng thơ của ông Thúng thì nhớ tới bây giờ:
    Thơ rằng:
    Trời vừa tang tảng rạng đông
    Khói lên nghi ngút Hưng công cháy nhà
    Cối, Đác hốt hoảng chạy ra
    Tuýt còi báo động tưởng là chiến tranh …
    Hai ông Cối (trung đoàn trưởng) và ông Đác (chính ủy) cười mà méo cả miệng, chép mồm... cái lão Thúng chỉ xiên tạc.
    Ông Thúng vẫn làm trợ lí chính sách. Cuốn sổ của ông dày cộp nay rất nhiều việc. Hậu chiến bao nỗi buồn nỗi thương nó nặng chình chịch trong cái túi mìn cờ lê mo ông đeo. Ông thì làm chính sách ở đơn vị còn ở quê cán bộ xa lo làm chính sách cho ông. Ông về phép đợt đầu, hai mươi ngày sau ông vào mặt héo như dưa. Vợ ông có con hai tuổi với thằng cha thủy lợi huyện và đã đi theo nó. Ông đóng cửa nhà rào vườn vặng chu đáo rồi quay vào đơn vị. Sài gòn cuối năm 75 biết bao việc cuốn hút người lính nó chộn rộn khiến đơn vị như nhà có đám cưới. Họ vừa vui vừa buồn vừa hi vọng đợi chờ sau chiến tranh đằng đẵng. Hòa bình rồi nhưng trung đoàn vẫn lập một trại tăng gia rau cỏ gà lợn ngoài Tân Phú Trung. Sự việc bắt đầu từ đây. Một buổi chiều chuẩn úy Chanh phụ trách tăng gia D8 cuốc vào quả phóng lựu. Chanh chết ngay còn hai thằng khác bị thương. Tội nghiệp quá, anh Chanh chưa về phép lần nào vợ ở quê đã có đứa con đẻ năm 72 đang hi vọng bố Chanh về. Trung đoàn cử trung úy Thúng đưa di vật về quê anh Chanh làm lễ truy điệu. Ông Thúng lại trở ra bắc lần nữa. Ông tìm đến nhà chị Một vợ anh Chanh. Ông thương chị Một quá. Xong việc ông vào đơn vị như người mất hồn. Năm sau trước khi đơn vị đi chiến đấu ở BGTN ông về Hà bắc cưới chị Một.

    Anh Bạn tôi bảo mày biết vì sao tao gặp ông Thúng không? tôi bảo mày làm to nên người ta biết. Nó bảo không đâu, không phải thế. Một lần tao đi Hải Phòng nghe mấy tay cán bộ sở Văn hóa nói ở Vĩnh Bảo có nhà thơ lính tên là Một Thúng Chanh, thơ vui lắm mà lại là lính 320. Nghe tới 320 tao mò về liền trời ơi ra là ông Thúng. Tao hỏi sao lại là Một Thúng Chanh? Ông Thúng bảo vợ tao tên là Một, lại là vợ Chanh, tao là Thúng nên lấy luôn tên ba người cho nó có kiềng. Rồi cười cười ông ấy bảo giá mà là Một Thúng Gạo thì hay hơn Một Thúng Chanh. Ông ấy điếc lòi tói. Ông khoe điếc là sản phẩm hồi đánh Miên. Nói rồi ông ấy đọc thơ cho tao nghe, nói sẽ lên Tạp chí đưa bài. Tao toát mồ hôi với tập thơ của ông ấy, ai mà in được ra tạp chí… nhưng… mày ạ có bài thơ này hôm nay tao gọi mày ra cùng đọc.

    Kính gửi anh Chanh


    Tôi xin gửi tới anh Chanh
    Tôi về tôi lấy vợ anh năm nào
    Tuổi vợ anh cũng cao cao
    Còn tôi lúc ấy xắp vào ba ba
    Con tôi cộng con chúng ta
    Bây giờ cả thảy đã là bốn tên
    Phục viên đầu xuống đít lên
    Bây giờ khấm khá tôi bèn lên ông
    Vợ tôi giỗ bố giỗ chồng
    Tai tôi tuy điếc tôi gồng tôi lo
    Nhớ anh hồi ở làng Bò
    Hay ăn mít luộc tôi kho một nồi
    Anh Chanh là anh Chanh ơi
    Anh về chứng giám vợ tôi lên bà
    Con anh là con chúng ta
    Nghĩa tình đồng chí cả nhà cùng vui
    Năm nay hơn bẩy mươi rồi
    Làm thơ tôi gửi tới người chồng vợ tôi …

    Hai đứa tôi để nguyên cốc bia dở nhìn ra đường. Nắng thì vàng người Hà nội thì đẹp. Tôi thấy hiện về anh Chanh mặt rỗ huê cao lộc ngộc một thời làm trung đội trưởng rất dũng cảm, thấy ông Thúng khắc khổ mà tốt tính tốt tình. Chiến tranh đi qua từ lâu mà chuyện về chiến tranh cứ hiện hữu hàng ngày ngay trên cả bia cả rượu nơi thị thành.

    Lại sắp đến 30/4
    NTL

    No Avatar

    linh7983

     05:49, 17th Apr 2013 #17293 

    Câu chuyện đơn giản nhưng thật cảm động.Giá mà Bác Litangu là phóng viên thì người đọc sẽ ít phải đọc những bài cướp, hiếp, giết ...trên mặt báo .


    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 03-05-2013 lúc 12:33 PM.

  12. Có 6 người thích bài viết này


  13. #7
    Ngày tham gia
    07-10-2010
    Bài viết
    350
    Thích
    1,581
    Đã được thích 371 lần trong 206 bài viết
    “ Nói gì thì nói những thằng này vẫn sướng hơn những đứa chết trên rừng Tây Nguyên cả ngàn lần ! nằm đây coi như nghỉ mát muôn thuở rồi còn gì !”
    Lại nhớ chuyện của một người lính kể bên DN-GN. Đoạn văn nói về tâm trạng người lính nhìn dãy mồ đào sẵn trước khi vào trận.
    Vậy đấy ! Lính cụ Hồ coi cái chết còn nhẹ hơn ý thơ Đồ Chiểu.
    Đêm qua đi câu bị mưa. Lúc tránh mưa trong nhà chủ hồ tán chuyện. Loanh quanh lại về chủ đề chiến tranh với thời thế. Một cậu chừng ba mươi tuổi nói với một bác già ( có lẽ là CCB ) :
    -Nếu chú nuôi một thằng con. Vì ước vọng cho nó thành người tử tế chú không từ đói khổ vất vả thậm chí là chết. Lúc lớn lên nó lại chửi lại chú thì chú ức không ?
    Bác già nói :
    - Loại con mất dạy thì để nó sống làm gì. Loại ấy coi như kẻ phản bội. Đòm phát cho xong!


    muctau's Avatar

    muctau

     15:24, 18th Apr 2013 #17359 

    Ko phải cậu 30t. Mà bác già kia nói một câu đại khái là cha phải có lỗi con mới như vậy. E ko nói nguyên văn sợ mọi người suy diễn tung tung.

    No Avatar

    linh7983

     14:55, 18th Apr 2013 #17356 

    Nhưng cậu chừng " Ba mươi tuổi" đó cũng phần nào có lỗi vì đã không dạy được con chứ Bác Mực tàu



  14. Có 2 người thích bài viết này


  15. #8
    Ngày tham gia
    27-07-2011
    Bài viết
    244
    Thích
    72
    Đã được thích 273 lần trong 151 bài viết
    "Vì ước vọng cho nó thành người tử tế chú không từ đói khổ vất vả thậm chí là chết. Lúc lớn lên nó lại chửi lại chú thì chú ức không ?"

    Hề hề hề ! Nó bẩu là suy thoái , biến chất !
    "
    - Loại con mất dạy thì để nó sống làm gì. Loại ấy coi như kẻ phản bội. Đòm phát cho xong!"
    Đúng là Muctau@ !

  16. Có 1 người thích bài viết này


  17. #9
    Ngày tham gia
    02-04-2013
    Bài viết
    279
    Thích
    121
    Đã được thích 729 lần trong 225 bài viết

    Kí ức tháng Tư

    Kí ức Tháng Tư (tiếp theo)


    Nhưng chuyện lạ của ngày hôm nay lại chưa phải là đôi giầy mà là chuyện tôi bỗng nhận được một lá thư. Không thể hiểu vì sao cánh quân bưu lại vẫn nghĩ tới chuyện đưa những lá thư thế này đuổi theo bọn lính ra trận? Dĩ nhiên là lá thư cũng đến khá chậm. Đó là lá thư của một cô bạn từ miền Bắc. Bạn thôi, không phải người yêu người iếc gì. Cô ấy kể về nỗi vất vả của những ngày đi thực tập kĩ sư. Bạn bè cùng lớp họ đã ra trường và đi nhận công việc. Bất giác tôi thấy tủi thân. Bao giờ thì được về, liệu có sống sót mà về hay không, nếu có về thì học hành ra sao... Đang miên man nghĩ ngợi thì chúng nó gọi sang giảng bản đồ địa hình cho mấy thằng lính mới. Tiểu đội trinh sát vừa được bổ xung hai chú lính Lào cai và cũng chia tay hai thằng “Hoà chọi“, “Nết răng vàng“ xuống bộ binh làm cán bộ trung đội tăng cường cho mũi chủ công c7. Ngày 19/4 có lệnh nhận bản đồ mới. Mấy thằng tranh nhau tìm đường ngắn nhất vào Sài gòn. Sao có vẻ ngon lành quá vậy? Nhưng dẫu sao thì cũng chuẩn bị vào trận rồi. Lần này thì Sài gòn sẽ là hướng chính diện. Tối hành quân. Mang khá nặng vì mới được phát thêm bộ quần áo mới. Ai thiếu dép nhận dép, ai thiếu khăn nhận khăn. Thậm chí lại còn cả mũ cối mới bổ xung cho cán bộ. Súng đạn, vũ khí nhiều, có vẻ còn thừa thãi chẳng bù cho các chiến dịch trước đây? Hôm ấy trăng sáng lắm. Hành quân chừng 4 tiếng thì tới sông Sài gòn. Đội hình ùn lại tới 3 giờ sáng mới sang sông. Thuỷ triều đã rút ra xa, cầu phao tụt ra ngoài mép nước khiến bộ đội phải ì ạch lội bùn một đoạn khá dài mới có cầu. Người mệt lử, áo đẫm sương và mồ hôi. Mải miết đi tới sáng thì tới Củ Chi. Lúc sang sông chúng tôi thấy nhiều đơn vị ngủ la liệt ven đường. Họ ngủ ngay trên bùn ướt, thế mà cứ ngáy như sấm, hay thật. Trời sáng dần. Một vùng đồi hoang sỏi đá lau sậy cằn cỗi. Củ Chi đây ư? Nhìn xuống dưới chân chỉ toàn là mảnh đạn và cát tút. Khắp vùng là hố bom và xác xe tăng hoen rỉ. Tịnh không một bóng người, không một tiếng chim. Chao ôi ! vùng đất đất này không còn gì để gọi là làng mạc được nữa mà là tử địa. Ngày còn ở ngoài Bắc, tôi đã đọc nhiều bài viết về đất thép Củ Chi, được nghe nhiều bài hát ca ngợi con người nơi đây và cả những bài báo người nước ngoài viết về vùng tam giác sắt. Nhưng hôm nay, một sáng tháng tư đẹp trời, đứng trên đất Hố Bò Nhuận Đức tôi mới hiểu thế nào là mảnh đất sắt gang của những con người thép. Họ đã giữ mảnh đất đầu cầu này để cho những sư đoàn chủ lực đứng chân chuẩn bị cho trận quyết chiến cuối cùng. Cái giá trị của hàng ngàn ngày bám trụ mảnh đất này chính là ở chỗ đó.


    Mười giờ sáng cả sư đoàn phải ổn định xong chỗ trú quân. Ở đây không có rừng, chỉ còn những chòm cao su xót lại. Đồi đất trọc lúp xúp những vạt cỏ lau. Đơn vị nằm dọc sông Sài gòn. Khoét hầm vào những bờ cỏ ven sông. Những vạt rừng thưa thớt đông nghịt người, ngồn ngộn vũ khí. Nhiều trung đội chui vào trong cỏ, dẹp ra từng cái ổ nằm xuống mà sinh hoạt họp hành. Quân đông như kiến, xen lẫn chủ lực là những đơn vị biệt động. Tưởng biệt động thành ra sao hoá ra toàn các cô cậu học sinh trẻ măng, mười tám đôi mươi. Họ hăm hở và nhiệt tình đến khó tin. Trong số ấy nhiều người từ bỏ cuộc sống vật chất sung sướng nơi phồn hoa đô thị mà dấn thân vào kháng chiến.

    Trong lúc nằm lại khu vực Hố Bò, họp hành, đợi chờ giờ nổ súng thì các đơn vị pháo binh lại nhiều việc. Đào hầm pháo, tải đạn, trinh sát và bắn thăm dò. Từ ngày 24/4 pháo binh bắt đầu bắn cầm chừng vào Đồng Dù, Hóc Môn và Tân Sơn Nhất. Cứ sau mỗi loạt đạn của ta chừng 5 phút sau thì địch lại phản pháo. Suốt ngày đêm đại bác rít qua đầu buốt óc, thỉnh thoảng có loạt rơi gần chỗ trú quân mảnh văng sèo sèo trên đầu. Nhưng mệnh lệnh là tuyệt đối bí mật. Cấm khói lửa, nổ súng, đi lại và bơi ra sông. Dù lệnh trên là như vậy, nhưng 4 năm không được đằm nước bây giờ nằm ngay bờ sông Sài gòn, mấy thằng trinh sát đội lục bình trên đầu bơi ra sông tắm.

    Trời ở đây thật kì lạ. Ngày nắng và nhiều gió nhưng chập tối là đổ mưa. Mưa ngắn mà to. Những cơn mưa không thèm doạ dẫm sấm chớp cũng chẳng cần dây dưa lâu la. Ngạc nhiên nhiều nhất khi thấy phụ nữ không thèm trú mưa. Kệ cho ướt, áo bà ba bó chặt thân người cong ỏng, ướt rồi lại khô, thật đơn giản. Gái Củ Chi cô nào cô nấy chắc như củ khoai sọ. Nước da nâu thật là duyên, tóc gọn gàng bằng cặp ba lá. Hỏi các cô có cần gì không thì các cô nói chỉ thích lựu đạn và dép đúc Trung Quốc. Cô nào cũng khoái dép đúc của chủ lực, vì dép của du kích thường bằng vỏ ô tô đi đau chân lắm. Còn lựu đạn dùng làm gì thì mấy anh rành quá rồi còn gì?


    Sáng 27/4 có lệnh: Tất cả cán bộ chiến sĩ đều phải khâu một miếng vải trắng trên ngực ghi vào đó phiên hiệu đơn vị. Mỗi chú một mảnh vải đỏ đeo vào tay áo như băng đội trưởng trong đấu bóng đá. Có một yêu cầu khá thú vị đặt ra: trận này tất cả phải mặc quần áo mới, phải quán triệt thái độ đối xử với đồng bào trong thành phố giải phóng. Chiều ấy trong cái nóng nực Củ Chi chúng tôi từng người đăng kí danh hiệu “Dũng sĩ thành đô trên đất thành đồng“. Trong phương án tác chiến mà trung đoàn phổ biến thì hướng của đơn vị tôi sẽ nhằm tới tận bộ chỉ huy đầu não của nguỵ quyền Sài Gòn. Cán bộ từ trung đội trở lên phải chuẩn bị cờ đỏ sao vàng để sẵn sàng cắm lên các cơ quan đầu não các công sở nguỵ quyền. Cả sáng hôm ấy chộn rộn, hối hả, tôi có cảm giác cứ ngứa râm ran cả người. Trưa, tôi quyết định xuống thăm lại đại đội 7. Đại đội cũ của tôi nay quá nửa là lính mới. Số lính cũ sứt mẻ sau hơn một tháng trời chiến đấu nhiều quá. Thằng Luật B trưởng lên C trưởng thay Kế lên làm tiểu đoàn trưởng. Thằng Chấn lên chính trị viên phó, chiến sĩ cũ hầu hết trở thành cán bộ cả. Trung đội của tôi nằm quanh mấy bụi tre cụt. Chúng nó đang cắt tóc cho nhau. Thấy tôi đến chúng nó reo lên: nhờ anh Luân giải quyết mấy cái đầu của bọn Cao bằng đi. Thì ra khi vào Chơn Thành có đợt tân binh Cao bằng bổ xung về trung đoàn. Tiểu đội trinh sát cũng có hai chú đó thôi. Cả hai đều là người dân tộc, rất ngoan, dễ thương, nhưng chậm lắm. Tôi rất lo khi vào trận mấy chú này sẽ lớ ngớ hỏng việc hoặc lại phơi ngực hứng đạn thì khổ. Linh cảm ấy có phần đúng. Ba đứa người Cao Bằng được tôi cắt tóc cho hôm ấy chẳng có đứa nào trở về trong trận đánh hôm sau.

    Chiều xuống, tôi và Sỹ kêu anh Thuỷ chụp ảnh. Tuy không dám nói ra nhưng trong bụng đứa nào cũng nghĩ thầm: Nói dại nếu có chết ngày mai thì còn cái ảnh mà thờ.

    Tôi chợt nhìn lên tường. Bức ảnh tôi chụp chung với Sỹ hôm đó thì vẫn còn, hiện hai đứa đều đem đi mông má, rồi treo lên tường như một thứ “hàng truyền thống“ của gia đình. Nhưng, tôi không dám nhìn lên những bức ảnh chụp chung với bạn bè chiều hôm ấy. Vì, trong số đó có nhiều đứa không về. Nụ cười trên môi họ còn nguyên vẹn đến hôm nay

    ... Đêm qua và cả sáng nay pháo binh ta bắn dữ dội. Hầu như các đơn vị pháo đều đã vượt sang phía nam sông Sài gòn, để sẵn sàng cơ động vào sâu hơn. Kể từ ngày váo chiến trường, đây là lần đầu tiên chúng tôi thấy pháo ta có vẻ dư dả đạn. Từng loạt đại bác rít soàn soạt qua đầu bộ binh, tiếng nổ trái phá ầm ầm từ phía Đồng Dù vọng lại. Pháo địch cũng bắn trả nhưng không mấy hiệu quả. Trung đoàn đã lệnh bộ binh gói buộc ba lô đợi giờ xuất kích. Suốt ngày 27/4 chú nào cũng chỉ chừa cái võng bên ngoài, còn thì nai nịt gọn gàng. Đêm 27/4 qua đi nặng nề. Vẫn chưa hành quân...

    Ngày 28/4, qua làn sóng đài BBC thấy quân ta đã chọc thủng Xuân Lộc đang tiến đánh Biên Hoà, Nước Trong. Cả trung đoàn bồn chồn sôi sục. 5 giờ chiều, vào đúng lúc trung đoàn được lệnh lên đường thì phía Đồng Dù nổ dữ dội. Khói đen bốc lên ngùn ngụt, rồi những tiếng nổ liên hoàn kéo theo. Cách xa 12 cây số mà vẫn thấy ngọn lửa vàng rực một góc trời. Sau này mới biết kho xăng Đồng Dù bị pháo ta thiêu cháy. Bốn năm qua những cuộc hành quân xuất kích đối với chúng tôi không còn mới mẻ gì. Nhưng chiều nay bước chân bồi hồi đến lạ. Đội hình đi xít lại nhau, mặt đứa đi sau gối vào ba lô đứa đi trước.

    Bám sát vào nhau, hàng ngàn chiến sĩ lầm lũi tiến về phía Sài Gòn, nơi quầng sáng lung linh một góc trời. Trong lồng ngực có cái gì nghèn nghẹn. Cái cảm giác không giống bất kì một trận đánh nào mà tôi đã trải qua. Mũi tiểu đoàn 8 do tiểu đội tôi dẫn đường vòng phía đông quận lị Củ Chi, vượt qua đường 15 rồi men theo tỉnh lộ 8 vào chiếm lĩnh trận địa Tân Phú Trung. Nhiệm vụ được giao rất nặng nề. Phải đột kích tiêu diệt một tiểu đoàn ở ấp Chợ Tân phú Trung và Cầu Bông (Bây giờ gọi là cầu An Hạ). Lô cốt ấp Chợ cách cầu Bông gần km. Cây cầu dài ba chục mét có 2 đại đội cảnh sát và lính dù chiếm giữ. Điều cốt tử là đánh tan địch nhưng lại phải giữ được cầu , không cho địch nổ khối bộc phá 200kg để huỷ cầu. Nếu cầu Bông bị phá huỷ thì hướng tấn công tây bắc vào Sài gòn coi như thất bại. Đi cùng tiểu đội trinh sát chúng tôi là một cô biệt động còn rất trẻ, có cái tên khá đẹp - Mỹ Hạnh. Sở dĩ cô này được đi với chúng tôi vì cô ta quê Tân Phú Trung. Hạnh chừng 20 tuổi. Vóc người đậm, rắn chắc, da ngăm đen. Nghe gới thiệu cô ta rất giỏi võ. Võ thì chưa biết nhưng bơi lội thì tài. Lúc 9 giờ đêm khi đơn vị lội qua một con mương rộng chừng 15 mét nước quá đầu. Mấy chú tân binh vùng cao không biết bơi nhưng lại không dám kêu vì sợ lộ nên cứ giã gạo giữa dòng. Một mình Mỹ Hạnh lôi hai chú vào bờ lại còn mắng cho một trận làm bộ đội Bắc Việt vừa ngượng vừa khoái. Trung đoàn đã đi vượt qua căn cứ Đồng Dù rồi tiến sâu về phía Sài Gòn. Cả trung đoàn lội trên cánh đồng lúa đang kì trổ đòng. Bờ ruộng rất nhỏ. Lính ta ngã ì ụp, vì vậy tốt hơn cả là cứ giữa ruộng mà lội. Mỹ Hạnh luôn mồm than thở thương ruộng lúa nát nhừ vì hàng ngàn bàn chân dẫm đạp. Đêm ấy, những làng mạc vùng ven này không giống như mọi đêm khác. Tiếng lao xao í ới, tiếng chó sủa, tiếng động cơ xe máy xe ô tô chộn rộn. Mọi người đang hồi hộp chờ đợi một điều gì thật lớn lao xảy ra.


    Vào lúc 2 giờ sáng, trăng bỗng sáng hẳn lên. Chúng tôi dẫn bộ binh tới giữa cánh đồng cách chợ Tân phú Trung chừng 2 cây số. Bộ đội nằm lại ngoài đồng chờ trinh sát lên bám địch lại lần nữa... Trời đã bàng bạc đằng đông, đúng lúc ấy, phía Đồng Dù tấn công thì đồng loạt DKZ, cối 82, cối 120 ở đồng Tân Phú phát hoả. Ngay loạt DK đầu tiên, 8 khẩu cùng bắn, đồn cảnh sát cầu Bông sập hoàn toàn. Bộ binh D9 và đặc công 198 vận động dưới tầm pháo xông lên đánh cầu. Cho tới bẩy giờ sáng thì cầu Bông đã về tay quân giải phóng. Phía ấp Chợ các lô cốt kiên cố bắn trả dữ dội. Quân ta không tiến lên được. Bộ binh nằm trên đồng trống bị thương vong hơn hai mươi người. Tình hình trở nên căng thẳng. Tiểu đoàn lệnh trinh sát và thông tin xuất kích. Từ phía chợ thằng Thuận (người Đông Lao, Hoài Đức) bị đạn thẳng vào cổ đang bò ra cánh đồng. Tôi châm điếu thuốc Rubi cài vào mồm cho nó rồi bò ra trận địa. Đạn từ ba lô cốt táng dữ dội vào trận địa 12,7 của C16. Mấy thằng C16 dạt ra. Thằng Khuất Duy Hoan C7 chồm lên, ôm 12,7 li vừa bắn vừa chửi. Được củng cố tinh thần, thằng Hoà người Cao Bang thị xã phú thọ bật dậy bắn liền 2 phát B41 rồi ôm khẩu trung liên từ tay một liệt sĩ bắn xối xả. Đúng lúc ấy nó trúng đạn, gục xuống bên khẩu trung liên còn nóng bỏng. Đại dội 7 xung phong ra phía chợ, chui vào ngóc ngách nhà dân ném lựu đạn ra đường. Trận đánh giằng dai tới 11 giờ trưa thì có tiếng xe tăng chạy ầm ầm từ phía Củ Chi về Sài Gòn. Bộ binh quay ra bắn xe tăng, ba chiếc bốc cháy đâm sầm vào trường tiểu học Tân Phú. Đúng lúc ấy xe tăng quân ta đuổi tới nơi. Bộ binh ta thấy xe tăng cờ đỏ sướng quá rối rít chỉ lô cốt cho họ bắn. Thế là hàng chục thằng Nguỵ cố thủ trong ba lô cốt trở thành đống thịt nướng. Ngót trăm thằng từ trận địa bên kia đường bấy giờ mới kéo ra hàng. Lúc ấy là 12 giờ trưa ngày 29/4.

    Không còn đường nào chạy thoát, tàn quân địch chừng ba chục xe tăng thiết giáp không dám lên cầu Bông, bổ nhào xuống đồng lúa Tân phú Trung ngay phía sở chỉ huy tiểu đoàn tôi. Lập tức tiểu đoàn cho c9 đánh thẳng vào cụm xe tăng địch (c9 hôm ấy đi phối thuộc với D8). Trên đường số 1, pháo ta hạ nòng bắn thẳng. Cả đồng lúa biến thành biển lửa. Sau này vào năm 1988 tôi có quay trở lại đi trên bờ ruộng lúa năm xưa lòng bồi hồi nhớ về vùng lửa khói ngày ấy, cái ngưỡng cửa bình minh của những người sống sót như tôi. Cứ điểm án ngữ cuối cùng của thành phố đã mở thông. Xe tăng, pháo binh, bộ binh của cả sư đoàn 10, E593, E232, E234 và rất nhiều đơn vị ào ào xông vào thành phố. Trời oi nồng vì nắng, vì bom, vì lửa. Tiểu đoàn phải để lại hơn ba chục tử sĩ và năm chục thương binh. Các mẹ các chị trong làng đổ ra lo khâm liệm và chôn cất những người hi sinh ngay phía trong chợ Tân Phú Trung. Cho tới đầu những năm 90 họ đã được quy tập về An Nhơn Tây. Trong số những người hi sinh có một người trúng đạn vào phút cuối cùng của trận đánh là trợ lí tham mưu tên Măng người Thái bình. Măng chết lúc đang giương khẩu chống tăng của địch để bắn xe tăng địch. Cũng ở trận địa này, trong Mậu Thân 1968 sư đoàn 9 đã hi sinh hàng chục người mà hồi đó người dân Củ chi đã lập miếu thờ ven đường. Trong miếu thờ đó, ba chiến sĩ C6 của chúng tôi hôm nay cũng nằm lại.

    Mười hai giờ khuya chúng tôi tạt vào làng Tân sơn nhì ngủ lại. Năm giờ sáng đang nấu cơm chưa kịp ăn thì có lệnh: Tất cả mọi đơn vị, bằng mọi giá, bằng mọi phương tiện, xốc thẳng vào Dinh Độc lập. Thế là lao ra đường, chặn xe của dân, huy động cả máy cầy, xe lam, xe đò mạnh đại đội nào đại đội nấy tìm đường đánh vào dinh.






    Kí ức Tháng Tư (tiếp theo và hết)




    Vào giờ phút ấy, khắp các ngả đường làng mạc quanh Sài gòn đâu cũng thấy quân giải phóng. Gương mặt người lính đi đánh trận mà dãn ra tươi như đi hội. Quân phục đã được thay mới, cờ giải phóng, phù hiệu giải phóng, băng tay xanh đỏ trùng trùng điệp điệp. Con đường vào thành phố đầy dẫy lô cốt ụ súng bằng bao cát, thùng phuy cửa kẽm gai ngăn ra từng đoạn. Tiểu dội tôi 5 thằng leo lên một cái xe lam. Tôi giở bản đồ nhè đường tắt mà chạy. Xe nhỏ luồn lách tốt nên vượt xa đội hình tiểu đoàn. Tới Bẩy Hiền, trong khói đạn đơn vị bạn đang thu thập tử sĩ, chúng tôi rẽ ra Lăng Cha cả. Ở đây một trận đánh dữ dội đang diễn ra. Lữ đoàn xe tăng của ta cháy mất 4 chiếc. Chúng tôi len lỏi trong xe cháy xe hỏng vượt cầu Trương Minh Giảng tiến tới dường Phan Đình Phùng thì bị chặn lại bằng hàng loạt đạn đại liên từ trên tháp nước bắn xuống. Cả tiểu đội lăn ào xuống đường dùng AK bắn tới tấp về cái tháp nước có khẩu đại liên (chỗ đó bây giờ là khách sạn Võ Văn Tần). Mười giờ trưa tiểu đoàn dải quân dọc Bộ Dân vận Chiêu hồi. Bộ đội hạ cối 82 ngay trên đường phố bắn về phía có vườn cây Dinh Độc lập. Một chiếc xe dép kính vỡ toe toét chạy lên. Nhìn ra thì là anh Thuỷ. Cậu liên lạc từ trên xe hét lên rối rít: “Đừng bắn nữa, đấm đít D9 rồi“ quãng hơn 11 giờ nghe qua radio tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, cả khung trời vỡ oà tiếng reo hò. Hàng chục ngàn người nhẩy lên, ôm nhau trong nước mắt. Đường phố Sài Gòn dồn nén bao lâu bỗng nhiên ùa ra toàn những cờ đỏ sao vàng. Bỗng chốc thành phố là một bức tranh xanh đỏ. Những hàng phượng vĩ trổ hoa đầu mùa đỏ thắm, cờ đỏ thắm, dưới nền trời quân phục xanh. Một biển người mừng đến ngơ ngác. Bỗng chốc con người lơ mơ hụt hẫng giữa không gian mới lạ, mới lạ ngay cả với người đã sống ở đây từ bao năm. Vào giờ phút ấy, lính nguỵ trong thành phố còn đông hơn cả dân ngoài đường. Họ trút bỏ hết quần áo lính mặc quần cụt ngồi la liệt vỉa hè, vườn hoa, bến cảng. Những cặp mắt thất thần nhìn quân giải phóng chiến thắng. Chẳng ai để ý đến họ, đội quân đã hết sức chiến đấu, không còn phiên hiệu tơi tả khắp đô thành. Đường phố ngổn ngang quân trang quân dụng mang nhãn hiệu Mỹ, xe pháo của Mỹ đứng bất động, chỉ có quân giải phóng là hân hoan, mắt nói miệng nói. Tự nhiên người tôi rũ ra mệt nhoài, không muốn cầm súng nữa.


    Thời gian như ngừng trôi và không gian trở nên chật hẹp. Tôi có cảm giác mình đang sống trong mơ, một giấc mơ huy hoàng và kì vĩ. Bao ngày chiến đấu trên rừng núi cao nguyên, trong tâm trí chưa bao giờ dám nghĩ rằng có ngày mình nhìn thấy sài Gòn. Vậy mà hôm nay tôi đã đứng giữa thành phố với tư thế của một người chiến thắng, thật cám ơn số phận...


    Chiều 30 tháng tư năm 2002
    Thế là tôi lỡ một cuộc hẹn lớn với anh em đồng ngũ trung đoàn 64. Mà để làm gì cơ chứ? để đi kí kết một cái hợp đồng bán ngót trăm tấn sắt gì đó. Nhưng biết làm sao được “thương trường là chiến trường“ phải lấy chữ tín làm đầu, không thể để lỡ hẹn với thượng đế của mình được. Rất mong anh em đồng đội lượng thứ. Nhưng buôn gì thì buôn, bán gì thì bán, tôi sẽ không bao giờ quên được những kỉ niệm một đời mới có của những ngày tháng tư năm ấy.



    .... Buổi chiều, dân Sài Gòn kéo ra đường, vây kín khu vực Dinh Độc Lập. Họ đi xem quân giải phóng, họ đi tìm chồng, tìm con ở cả hai phía. Cái sự tìm người thân ấy còn kéo dài cho tới vài chục năm sau, nhưng nó bắt đầu từ chiều hôm nay. Tôi cũng không hiểu nổi làm sao dân Sài Gòn chuẩn bị cờ đỏ sao vàng nhanh và nhiều đến thế. Cờ ở trên ban công, trên cánh cửa, nơi công sở và cả trên tay trai gái trên đường. Đêm đầu tiên giải phóng Sài Gòn điện vẫn lung linh sáng và người ta vẫn đi dạo phía vườn hoa.

    Mười một giờ đêm, tôi đứng trên sân thượng nhà cố vấn Mỹ góc đường Phan Đình Phùng nhìn ra phía cảng. Tiếng còi tàu tu tu. Bình yên quá. Trời đầy sao, gió từ cửa sông thổi vào mát rượi, thành phố tinh khôi trong màn đêm lung linh như chưa hề có chiến tranh. Trong tôi kí ức về ngày hôm qua còn nóng hổi, nhưng bàn chân thì vẫn râm ran ngứa vì những vết nứt nẻ hành quân. Chúng tôi về thành phố để lại sau lưng bao đồng đội đang lạnh lẽo nơi rừng sâu, nơi đồng vắng. Để lại hàng ngàn ngày đói cơm thiếu thuốc trên cao nguyên. Bỏ lại những cơn sốt rừng tê tái gặm nhấm đời trẻ trai. Để lại những cánh rừng nương rẫy mình đã chai tay vun trồng nên khoai nên sắn. Phút giây huy hoàng này có ai nhớ không những bản làng xa xăm chốn Sa Thầy Pô Cô có những già làng đóng khố nhịn cơm đưa đường năm trước. Ai còn nhớ tới lời hò hẹn quay về nơi đã cưu mang mình, đã vực dậy trong lòng chiến sĩ niềm tin?

    Ngày mai, một ngày mới của tháng 5 năm 1975. Và dĩ nhiên đêm nay lại thêm một trong hàng ngàn đêm chúng tôi không ngủ. Nhưng là một đêm không ngủ hạnh phúc nhất trong cuộc đời.



    THáng 4- 2002. N.T.L
    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 03-05-2013 lúc 01:28 PM. Lý do: Sửa lỗi chính tả và định dạng

  18. Có 4 người thích bài viết này


  19. #10
    Ngày tham gia
    02-04-2013
    Bài viết
    279
    Thích
    121
    Đã được thích 729 lần trong 225 bài viết

    Nhớ về một người bạn hồi ở lính

    Thuận


    Bây giờ tôi vẫn không gặp lại Thuận. Ngần ấy năm trời chỉ nghe được một thông tin là Thuận đi buôn chuyến đường dài Nam Bắc. Ấy là tôi nghe anh Hỏa ở C17 công binh nói gặp nó trên đường, anh ấy bảo nó khỏe và phong trần lắm nó đưa cho anh mấy bao thuốc SaMit rồi biến mất như lúc xuất hiện trên chuyến tàu chợ HN- SG những năm cuối 80.

    … Thuận vào bộ đội 17 tuổi học vừa hết cấp 2. Nó khỏe và nhanh như sóc. Nhưng trông rõ là thư sinh, da trắng mắt sáng và cái cười thì rõ tươi. Tôi về C7 D8 E64 Thuận là A trưởng rồi. Đại trưởng xuống B tôi nó chả thèm chào, nó thản nhiên gọi ông này ông nọ khiến tôi thấy lạ, hỏi sao dám coi thường cán bộ thế ? Nó lườm lườm nhìn tôi, mày mới vào biết gì. Nhưng thấy cán bộ C trưởng, Chính trị viên cứ thân tình như không với Thuận mặc dù thấy nó nói nhiều lúc khó nghe bỏ mẹ mà các ông ấy không giận gì nó. Thật khó hiểu. Thế thì tìm hiểu.

    Chuyện này lại là chính từ C trưởng kể cho tôi nghe.

    Nhập ngũ tháng 3/67 từ Hà Tây. Đợt quân này về sau rất nhiều người trở thành cán bộ chỉ huy của sư đoàn tôi. Thuận nói trơn tru: quê tao Đông Lao Đông La Hoài Đức Hà Tây. Cái câu này về sau tụi tôi cả trung đội đều thuộc. Đông La Đông Lao Hoài Đức Hà Tây. Cứ đọc ngược dọc xuôi nó bảo được tất, đúng tất. Tháng 1/68 F320A hành quân vào đánh Quảng trị. E 64 được phân công cắt đường 9 đoạn Đông Hà Cam lộ cho chiến dịch Khe sanh. Đánh cầu Thiện Xuân nó diệt 8 thằng Mỹ. Lúc ấy nó làm liên lạc, rồi rất nhanh nó làm A trưởng đánh Ba Thưng rồi đánh Hồ Khê, Thuận trở thành B trưởng. Sau chiến dịch đường 9 Khe Sanh Mậu Thân Thuận ra bắc đi báo cáo thành tích chiến đấu ở các trường Đại học. Nó đi mấy tháng trời mới về đơn vị. 18 tuổi đẹp trai, vài cái bằng dũng sĩ diệt Mĩ khiến các nữ sinh thi nhau tặng khăn musoa và sổ lưu niệm. Về đơn vị nó chia cho mỗi thằng trong B đủ một cái khăn và một quyển sổ còn các tấm ảnh của các cô thì nó giữ lại. Nó cũng hí hoáy viết nhật kí. Nhưng cứ vài mươi trang nó lại bỏ dở, kêu mệt đầu bỏ mẹ. Nó tâm sự chữ mình xấu quá, chữ mấy đứa sinh viên đẹp ghê. Những năm 72, 73 ở Tây nguyên thỉnh thoảng nó lẩm bẩm cô này bây giờ chắc làm kĩ sư rồi, còn cô này thì làm cô giáo…

    Lúc ở cùng B với nhau sau này tôi hỏi sao mày khôn thế? rắn đẻ giờ nào mày cũng biết. Nó bảo khôn cái chó gì, lê la ở quê nghe chúng nó cứ bảo ra Hà nội không cẩn thận là bị bắt nạt. Tao thấy hay hay, rủ nhau đi Hà nội… chúng tao cuốc bộ vài cây số bám tàu điện Hà Đông lên Ngã tư sở rồi lại về. Đi miết thành quen, truyền toa này sang toa khác bên ngoài thành toa nhoay nhoáy, thích lấy cái bánh mì nào là tao lấy được, oánh nhau với bọn Ngã Tư sở chạy bỏ cha bỏ mẹ về tới làng Vạn Phúc vẫn tức. Tức quá vạch quần đái về phía Hà nội rồi hôm sau lại ra nữa… Nó cười hàm răng thật trắng đều tăm tắp. Trông nó trẻ hơn cái tuổi Canh Dần nên dù tôi kém tuổi cũng cứ mày tao với Thuận. Nó thích tôi nên nó bảo ừ tao với mày cứ mày tao còn thằng Phụng Bê phó mày mày tao tao là tao đấm cho.

    Tôi vào sau nên chuyện nó bị kỉ luật tôi băn khoăn quá mà chưa dám hỏi. Một hôm kiếm được nhúm thuốc rê hai thằng rúc vào hầm nằm hút. Hút ở ngoài lính tráng túm lại lấy đâu cho xuể. Tôi mạnh dạn hỏi sao lại bị xuống A trưởng? Nó quay sang tôi, ấy là còn may đấy các ông ấy định đuổi tao về bắc đấy, tao bảo đuổi đi tao ra luôn… Đếch dám đuổi. Thu dung mãi trên D bộ lại đưa tao về đây. Kệ mẹ đời , sao tao ghét cái thằng chính trị thế chứ, cái thằng Chinh móm ấy mày biết không? À Chinh móm thì tao biết phó CN chính trị trung đoàn rồi đấy. Thuận trầm ngâm, mẹ kiếp đánh Nam Lào C mình thương vong nhiều chỉ còn tao và hai thằng nữa với vài thương binh trong khi đó tử sĩ hơn chục ca không mang ra được, cho liên lạc về lấy dự bị lên lão Chinh móm bảo phải tự thân giải quyết, địch thì cứ nửa tiếng lên một lần tao cho hết thương binh tử sĩ gom vào hầm ngụy trang kín rồi tập trung toàn bộ lựu đạn, tao đánh tất bằng lựu đạn, may mà C6 bên Kiều Thế đưa một B lên giúp. Hôm sau được lệnh đưa tử sĩ về phía sau tao xộc đến thẳng Tiểu đoàn chỉ vào Chinh móm tao chửi. Thằng cha sợ vãi đái, may mấy thằng ở truyền đạt D bộ can ngăn tao thôi. Thế là tao bị Kỉ luật. Họ bảo tao định giết cán bộ, rằng tao định bỏ trận địa tao nghe ù cả tai và thấy mình tội to quá. Thực ra tao chỉ cú lão Chinh móm thôi, lúc trước hắn làm chính trị viên đại đội lão ấy ghét tao rồi. Ông Đinh Thế Mỹ gọi tao lên chửi một trận, ừ tao ngấm nhưng kệ nó sự đã thế rồi… nóng mất khôn, chức tước gì đâu tao chỉ buồn chuyện khai trừ đảng… Nó trầm ngâm còn tôi thì chả biết nói gì vì tôi là thế hệ sau.

    Tôi may mắn được gặp Thuận. Trận nổ súng đầu tiên nó bảo, mày cứ đi với tao đ. sợ. Hôm đó đánh địch ngoài công sự nó bảo tôi địch đi giải tỏa lập chốt luôn có nhiều tầng mày đừng tin là đánh hết một vòng ngoài là xong đâu đấy, nó có nhiều lớp bố trí nữa nghe chưa. Xong một loạt là di chuyển thật bí mật đợi nó bộc lộ hỏa lực mà đánh tiếp. Nhớ là di chuyển theo tao. Quả thật trận đầu đi với nó vững dạ thế. Nó ít bắn lắm cứ US mà ném. Nó thấy tôi bắn 4, 5 viên AK liền nó gằn giọng bắn cái đ. gì thế ? 1, 2 viên thôi. Tôi hiểu ra và chạy theo nó cung cúc.

    Tối ấy, vớ được mấy gói gạo sấy của địch đổ nước vào bóp bóp một hồi nhai với nhau nó bảo mày cũng được đấy dần dần sẽ khôn lên, rồi nó đề nghị đại đội tôi được bằng khen… vì trói được hộ nó một tù binh.

    Tháng 8/1973 tôi được gọi lên ban tuyên huấn trung đoàn 2 tháng viết lách giúp ban chính trị. Ở đó tôi lại biết một chuyện về Thuận. Anh Kiều Thế phụ trách tôi người thành phố Thái Nguyên nói với tôi: mày ở C7 chỗ thằng Thuận hả. Tôi vâng. Anh ấy kéo quần rồi vạch bụng lên chỉ vào những vết sẹo cháy nham nhở mà bảo: không có thằng Thuận tao “củ“ rồi. Trông vết cháy lân tinh thịt da sùi lên đến khiếp... tháng 4/72 đánh 1015 anh Thế là c viên phó c6, suốt ngày 14/4 gần dứt điểm thì máy bay hủy diệt trận địa bằng cả bom na pan. Kiều Thế bị thương nằm trên mỏm 3. Vân tải khiêng tử sĩ và thương binh nườm nượp. Bộ đội ta hi sinh nhiều quá, vận tải vào lấy tử sĩ cũng thương vong nên phải lấy cả bộ binh, trợ chiến và hậu cần E bộ vào vận tải. Tối ấy, thương binh và tử sĩ mang ra gần hết đại đội phó Thuận đang bị thu dung ở E bộ hỏi: Kiều Thế C6 đâu? nghe nói Thế bị thương cơ mà? Vận tải bảo không thấy. Nó bảo không được không được rồi nó vác súng quay vào, dọc đường nó kéo thêm hai vệ binh nữa. Kiều Thế nằm rên hừ hừ những vết cháy loe loét. Thế nặng lắm dễ đến hơn sáu chục kí, bọn vận tải cứ chọn thằng nào thấp bé nhẹ cân khiêng trước. Thế bị đùn lại sau. Và bây giờ nằm mê mết trong đêm. Kiều Thế được cứu sống . Vài tháng sau ra viện về trung đoàn bộ làm trợ lí tuyên huấn còn Thuận làm A trưởng vệ binh . Chuẩn úy Thuận bây giờ là thượng sĩ. Kiều Thế lên trung úy. Cũng nhiều lần Thuận vác súng đi công tác cùng Thế. Kiều Thế nể Thuận lắm nhưng Thuận thì coi như không có chuyện gì xảy ra trước đây, một điều thủ trưởng hai điều vâng thủ trưởng. Đầu năm 73 nó xin về đơn vị chiến đấu. Tôi ở với thuận từ lúc ấy.

    Lúc đầu tôi lấy làm lạ sau thì thấy C trưởng nể Thuận là phải. Nhũng lần hành quân chiếm lĩnh Thuận trở nên lầm lì và rất già. Nó bảo không nên thế này, không nên thế kia. B trưởng và C trưởng đều phải cân nhắc lại. Thì ra bao nhiêu lần dẫn quân đi đánh kinh nghiệm rút ra từ bom từ pháo từ kẻ thù nó ngấm dần làm thành bản năng chiến đấu. Nó bông phèng nói văng nói vít ở đâu chứ còn khi chiến đấu thì nó rất kiệm lời và hành động thật quyết liệt. Lúc đánh nhau mà thấy nó nói ấy là lúc nó chửi. Đi với nó thật vững dạ.

    Chiến dịch Tây nguyên 75. Thuận làm bê phó, tôi lên trinh sát tiểu đoàn. Hôm giải phóng Phú Yên quay về đường 7 gặp nhau nó thấy tôi hút toàn Ru bi nó cười khẩy rồi đưa cho tôi mấy bao Capstan. Nó bảo, hút là phải hút cái loại này, mày tẩm thế. Tôi cười bảo vớ được cái gì dùng cái nấy. Nó bảo bọn mày vào kho chi khu Củng Sơn sớm thế mà ngu.

    29/4/75 là trận cuối cùng với nó. Phát hỏa từ 5 giờ sáng thì khoảng 10 giờ sáng thấy nó bò từ đường số 1 ra đồng. Tôi và nó nằm nép vào bờ ruộng dưa. Cái cổ nó ngoẹo về một phía. Cái băng quấn như thằng quấn khăn phula máu loang lổ. Nó bảo đạn thẳng đấy. May quá đ. đứt họng tôi cười bảo đứt họng thì mày mờ đời rồi còn gì nữa. Nó bảo cắm cho nó điếu thuốc vào mồm nó rít tê mê rồi đột nhiên nó bảo thằng Hòa chọi bắn dính dân. Rồi nó chửi đ. mẹ thằng chó chết. Tôi chỉ đường cho nó bò về mấy ruộng dưa nơi phẫu C24 đóng ở đó. Thế là chia tay nhau từ lúc ấy. Tôi cuốn theo đơn vị vào Tân Thới Nhì ngay đêm đó. Đầu tháng 5 chúng tôi ra Củ Chi nó đi viện chưa về. Chả hiểu vết thương kiểu gì mà mãi cuối tháng 7 nó mới về đại đội. Thì ra đêm 29/4 số bị thương đưa về bệnh viện công binh ở Hóc Môn rồi tiếp sau đó là về Viện Cộng Hòa. Thuận gặp may từ ấy. Đêm ở Hóc môn những thằng què thì nằm rên còn nó hai tay hai chân lành lặn nó lần mò khắp xó xỉnh và… nó lấy được rất nhiều tiền. Chúng nó nói lại rằng. Nó không lấy tiền Trần Hưng Đạo mà lấy toàn tiền tây. Nó bảo, cứ cái anh này mà lấy tiền kẻ thù thế nào mà chả phải hủy? Sao mà nó khôn thế nhỉ! Hồi ấy đô la chỉ nghe nói thôi chứ mấy anh nào biết mà lấy. Thế mà nó lại tìm kiếm đô la. Nó bảo sưu tầm cho vui. Thật không tin nổi. Những ngày đầu tiên giải phóng các thầy thuốc 108, 103 ào ào vào các quân y viện miền nam để phục vụ thương binh. Thuận về Cộng Hòa nằm và gặp cô đồng hương Hà Đông là một y tá trẻ măng của viện 103. Chỉ mấy tháng thôi họ đã kịp yêu nhau và Thuận với cô y tá đã kịp nghĩ tới hôn nhân và mua nào là tủ lạnh, ti vi, máy khâu xe máy và cô y tá là người vận chuyển ra bắc theo con đường xe quân y.

    Thuận về đơn vị chu toàn công việc của một B phó. Tôi thấy nó quấn cái mùi soa vào vết thương ở cổ liền hỏi vết thương còn làm sao nữa mà quấn khăn thế. Nó bảo quấn cho nó đỡ ngứa. Thằng Khuất Duy Hoan bảo, nó quấn để nhớ con y tá đấy mà. À thì ra cái mùi soa là của người yêu nó. Tháng 10 tôi ra bắc về học lại. Nó tặng tôi cái SEIKO 5. Chao ôi là sướng. Nó bảo mang về mà đi học không thích thì bán lấy tiền mà tiêu. Tao cũng ra thôi, tao về là lấy vợ ngay đấy.

    Ngày tôi ra bắc, Thuận dẫn trung đội đi đắp trường bắn bên ngoài Đồng Dù không gặp nhau. Thế là xa nhau. Tôi nghe nó cũng ra quân ngay năm 76 và cưới cô y tá viện 103. Rồi lại nghe nó đi buôn đường dài. Thời gian trôi vùn vụt nhớ lại nhau giở cái ảnh cũ xưa ra thấy nó cười thật tươi và hàm răng đều tăm tắp. Lại nhớ chuyện nó bị bọn Ngã Tư Sở đuổi chạy về đến Hà Đông quay lại đái một bãi về phía Hà nội cho bõ tức. Tôi tin Thuận đi buôn cũng sẽ giỏi. Có thể trong cuộc sống bầm dập này Thuận không hỏng, mặc dù có thể nó cũng… hư.

    NTL
    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 03-05-2013 lúc 01:46 PM.

  20. Có 4 người thích bài viết này


Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •