CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 2 của 35 Đầu tiênĐầu tiên 123412 ... CuốiCuối
Kết quả 11 đến 20 của 342

Chủ đề: Tâm tình người lính Tây Nguyên!

  1. #11
    Ngày tham gia
    02-04-2013
    Bài viết
    279
    Thích
    121
    Đã được thích 729 lần trong 225 bài viết

    Kí ức tháng Tư

    Kí ức Tháng Tư (tiếp theo)


    Nhưng chuyện lạ của ngày hôm nay lại chưa phải là đôi giầy mà là chuyện tôi bỗng nhận được một lá thư. Không thể hiểu vì sao cánh quân bưu lại vẫn nghĩ tới chuyện đưa những lá thư thế này đuổi theo bọn lính ra trận? Dĩ nhiên là lá thư cũng đến khá chậm. Đó là lá thư của một cô bạn từ miền Bắc. Bạn thôi, không phải người yêu người iếc gì. Cô ấy kể về nỗi vất vả của những ngày đi thực tập kĩ sư. Bạn bè cùng lớp họ đã ra trường và đi nhận công việc. Bất giác tôi thấy tủi thân. Bao giờ thì được về, liệu có sống sót mà về hay không, nếu có về thì học hành ra sao... Đang miên man nghĩ ngợi thì chúng nó gọi sang giảng bản đồ địa hình cho mấy thằng lính mới. Tiểu đội trinh sát vừa được bổ xung hai chú lính Lào cai và cũng chia tay hai thằng “Hoà chọi“, “Nết răng vàng“ xuống bộ binh làm cán bộ trung đội tăng cường cho mũi chủ công c7. Ngày 19/4 có lệnh nhận bản đồ mới. Mấy thằng tranh nhau tìm đường ngắn nhất vào Sài gòn. Sao có vẻ ngon lành quá vậy? Nhưng dẫu sao thì cũng chuẩn bị vào trận rồi. Lần này thì Sài gòn sẽ là hướng chính diện. Tối hành quân. Mang khá nặng vì mới được phát thêm bộ quần áo mới. Ai thiếu dép nhận dép, ai thiếu khăn nhận khăn. Thậm chí lại còn cả mũ cối mới bổ xung cho cán bộ. Súng đạn, vũ khí nhiều, có vẻ còn thừa thãi chẳng bù cho các chiến dịch trước đây? Hôm ấy trăng sáng lắm. Hành quân chừng 4 tiếng thì tới sông Sài gòn. Đội hình ùn lại tới 3 giờ sáng mới sang sông. Thuỷ triều đã rút ra xa, cầu phao tụt ra ngoài mép nước khiến bộ đội phải ì ạch lội bùn một đoạn khá dài mới có cầu. Người mệt lử, áo đẫm sương và mồ hôi. Mải miết đi tới sáng thì tới Củ Chi. Lúc sang sông chúng tôi thấy nhiều đơn vị ngủ la liệt ven đường. Họ ngủ ngay trên bùn ướt, thế mà cứ ngáy như sấm, hay thật. Trời sáng dần. Một vùng đồi hoang sỏi đá lau sậy cằn cỗi. Củ Chi đây ư? Nhìn xuống dưới chân chỉ toàn là mảnh đạn và cát tút. Khắp vùng là hố bom và xác xe tăng hoen rỉ. Tịnh không một bóng người, không một tiếng chim. Chao ôi ! vùng đất đất này không còn gì để gọi là làng mạc được nữa mà là tử địa. Ngày còn ở ngoài Bắc, tôi đã đọc nhiều bài viết về đất thép Củ Chi, được nghe nhiều bài hát ca ngợi con người nơi đây và cả những bài báo người nước ngoài viết về vùng tam giác sắt. Nhưng hôm nay, một sáng tháng tư đẹp trời, đứng trên đất Hố Bò Nhuận Đức tôi mới hiểu thế nào là mảnh đất sắt gang của những con người thép. Họ đã giữ mảnh đất đầu cầu này để cho những sư đoàn chủ lực đứng chân chuẩn bị cho trận quyết chiến cuối cùng. Cái giá trị của hàng ngàn ngày bám trụ mảnh đất này chính là ở chỗ đó.


    Mười giờ sáng cả sư đoàn phải ổn định xong chỗ trú quân. Ở đây không có rừng, chỉ còn những chòm cao su xót lại. Đồi đất trọc lúp xúp những vạt cỏ lau. Đơn vị nằm dọc sông Sài gòn. Khoét hầm vào những bờ cỏ ven sông. Những vạt rừng thưa thớt đông nghịt người, ngồn ngộn vũ khí. Nhiều trung đội chui vào trong cỏ, dẹp ra từng cái ổ nằm xuống mà sinh hoạt họp hành. Quân đông như kiến, xen lẫn chủ lực là những đơn vị biệt động. Tưởng biệt động thành ra sao hoá ra toàn các cô cậu học sinh trẻ măng, mười tám đôi mươi. Họ hăm hở và nhiệt tình đến khó tin. Trong số ấy nhiều người từ bỏ cuộc sống vật chất sung sướng nơi phồn hoa đô thị mà dấn thân vào kháng chiến.

    Trong lúc nằm lại khu vực Hố Bò, họp hành, đợi chờ giờ nổ súng thì các đơn vị pháo binh lại nhiều việc. Đào hầm pháo, tải đạn, trinh sát và bắn thăm dò. Từ ngày 24/4 pháo binh bắt đầu bắn cầm chừng vào Đồng Dù, Hóc Môn và Tân Sơn Nhất. Cứ sau mỗi loạt đạn của ta chừng 5 phút sau thì địch lại phản pháo. Suốt ngày đêm đại bác rít qua đầu buốt óc, thỉnh thoảng có loạt rơi gần chỗ trú quân mảnh văng sèo sèo trên đầu. Nhưng mệnh lệnh là tuyệt đối bí mật. Cấm khói lửa, nổ súng, đi lại và bơi ra sông. Dù lệnh trên là như vậy, nhưng 4 năm không được đằm nước bây giờ nằm ngay bờ sông Sài gòn, mấy thằng trinh sát đội lục bình trên đầu bơi ra sông tắm.

    Trời ở đây thật kì lạ. Ngày nắng và nhiều gió nhưng chập tối là đổ mưa. Mưa ngắn mà to. Những cơn mưa không thèm doạ dẫm sấm chớp cũng chẳng cần dây dưa lâu la. Ngạc nhiên nhiều nhất khi thấy phụ nữ không thèm trú mưa. Kệ cho ướt, áo bà ba bó chặt thân người cong ỏng, ướt rồi lại khô, thật đơn giản. Gái Củ Chi cô nào cô nấy chắc như củ khoai sọ. Nước da nâu thật là duyên, tóc gọn gàng bằng cặp ba lá. Hỏi các cô có cần gì không thì các cô nói chỉ thích lựu đạn và dép đúc Trung Quốc. Cô nào cũng khoái dép đúc của chủ lực, vì dép của du kích thường bằng vỏ ô tô đi đau chân lắm. Còn lựu đạn dùng làm gì thì mấy anh rành quá rồi còn gì?


    Sáng 27/4 có lệnh: Tất cả cán bộ chiến sĩ đều phải khâu một miếng vải trắng trên ngực ghi vào đó phiên hiệu đơn vị. Mỗi chú một mảnh vải đỏ đeo vào tay áo như băng đội trưởng trong đấu bóng đá. Có một yêu cầu khá thú vị đặt ra: trận này tất cả phải mặc quần áo mới, phải quán triệt thái độ đối xử với đồng bào trong thành phố giải phóng. Chiều ấy trong cái nóng nực Củ Chi chúng tôi từng người đăng kí danh hiệu “Dũng sĩ thành đô trên đất thành đồng“. Trong phương án tác chiến mà trung đoàn phổ biến thì hướng của đơn vị tôi sẽ nhằm tới tận bộ chỉ huy đầu não của nguỵ quyền Sài Gòn. Cán bộ từ trung đội trở lên phải chuẩn bị cờ đỏ sao vàng để sẵn sàng cắm lên các cơ quan đầu não các công sở nguỵ quyền. Cả sáng hôm ấy chộn rộn, hối hả, tôi có cảm giác cứ ngứa râm ran cả người. Trưa, tôi quyết định xuống thăm lại đại đội 7. Đại đội cũ của tôi nay quá nửa là lính mới. Số lính cũ sứt mẻ sau hơn một tháng trời chiến đấu nhiều quá. Thằng Luật B trưởng lên C trưởng thay Kế lên làm tiểu đoàn trưởng. Thằng Chấn lên chính trị viên phó, chiến sĩ cũ hầu hết trở thành cán bộ cả. Trung đội của tôi nằm quanh mấy bụi tre cụt. Chúng nó đang cắt tóc cho nhau. Thấy tôi đến chúng nó reo lên: nhờ anh Luân giải quyết mấy cái đầu của bọn Cao bằng đi. Thì ra khi vào Chơn Thành có đợt tân binh Cao bằng bổ xung về trung đoàn. Tiểu đội trinh sát cũng có hai chú đó thôi. Cả hai đều là người dân tộc, rất ngoan, dễ thương, nhưng chậm lắm. Tôi rất lo khi vào trận mấy chú này sẽ lớ ngớ hỏng việc hoặc lại phơi ngực hứng đạn thì khổ. Linh cảm ấy có phần đúng. Ba đứa người Cao Bằng được tôi cắt tóc cho hôm ấy chẳng có đứa nào trở về trong trận đánh hôm sau.

    Chiều xuống, tôi và Sỹ kêu anh Thuỷ chụp ảnh. Tuy không dám nói ra nhưng trong bụng đứa nào cũng nghĩ thầm: Nói dại nếu có chết ngày mai thì còn cái ảnh mà thờ.

    Tôi chợt nhìn lên tường. Bức ảnh tôi chụp chung với Sỹ hôm đó thì vẫn còn, hiện hai đứa đều đem đi mông má, rồi treo lên tường như một thứ “hàng truyền thống“ của gia đình. Nhưng, tôi không dám nhìn lên những bức ảnh chụp chung với bạn bè chiều hôm ấy. Vì, trong số đó có nhiều đứa không về. Nụ cười trên môi họ còn nguyên vẹn đến hôm nay

    ... Đêm qua và cả sáng nay pháo binh ta bắn dữ dội. Hầu như các đơn vị pháo đều đã vượt sang phía nam sông Sài gòn, để sẵn sàng cơ động vào sâu hơn. Kể từ ngày váo chiến trường, đây là lần đầu tiên chúng tôi thấy pháo ta có vẻ dư dả đạn. Từng loạt đại bác rít soàn soạt qua đầu bộ binh, tiếng nổ trái phá ầm ầm từ phía Đồng Dù vọng lại. Pháo địch cũng bắn trả nhưng không mấy hiệu quả. Trung đoàn đã lệnh bộ binh gói buộc ba lô đợi giờ xuất kích. Suốt ngày 27/4 chú nào cũng chỉ chừa cái võng bên ngoài, còn thì nai nịt gọn gàng. Đêm 27/4 qua đi nặng nề. Vẫn chưa hành quân...

    Ngày 28/4, qua làn sóng đài BBC thấy quân ta đã chọc thủng Xuân Lộc đang tiến đánh Biên Hoà, Nước Trong. Cả trung đoàn bồn chồn sôi sục. 5 giờ chiều, vào đúng lúc trung đoàn được lệnh lên đường thì phía Đồng Dù nổ dữ dội. Khói đen bốc lên ngùn ngụt, rồi những tiếng nổ liên hoàn kéo theo. Cách xa 12 cây số mà vẫn thấy ngọn lửa vàng rực một góc trời. Sau này mới biết kho xăng Đồng Dù bị pháo ta thiêu cháy. Bốn năm qua những cuộc hành quân xuất kích đối với chúng tôi không còn mới mẻ gì. Nhưng chiều nay bước chân bồi hồi đến lạ. Đội hình đi xít lại nhau, mặt đứa đi sau gối vào ba lô đứa đi trước.

    Bám sát vào nhau, hàng ngàn chiến sĩ lầm lũi tiến về phía Sài Gòn, nơi quầng sáng lung linh một góc trời. Trong lồng ngực có cái gì nghèn nghẹn. Cái cảm giác không giống bất kì một trận đánh nào mà tôi đã trải qua. Mũi tiểu đoàn 8 do tiểu đội tôi dẫn đường vòng phía đông quận lị Củ Chi, vượt qua đường 15 rồi men theo tỉnh lộ 8 vào chiếm lĩnh trận địa Tân Phú Trung. Nhiệm vụ được giao rất nặng nề. Phải đột kích tiêu diệt một tiểu đoàn ở ấp Chợ Tân phú Trung và Cầu Bông (Bây giờ gọi là cầu An Hạ). Lô cốt ấp Chợ cách cầu Bông gần km. Cây cầu dài ba chục mét có 2 đại đội cảnh sát và lính dù chiếm giữ. Điều cốt tử là đánh tan địch nhưng lại phải giữ được cầu , không cho địch nổ khối bộc phá 200kg để huỷ cầu. Nếu cầu Bông bị phá huỷ thì hướng tấn công tây bắc vào Sài gòn coi như thất bại. Đi cùng tiểu đội trinh sát chúng tôi là một cô biệt động còn rất trẻ, có cái tên khá đẹp - Mỹ Hạnh. Sở dĩ cô này được đi với chúng tôi vì cô ta quê Tân Phú Trung. Hạnh chừng 20 tuổi. Vóc người đậm, rắn chắc, da ngăm đen. Nghe gới thiệu cô ta rất giỏi võ. Võ thì chưa biết nhưng bơi lội thì tài. Lúc 9 giờ đêm khi đơn vị lội qua một con mương rộng chừng 15 mét nước quá đầu. Mấy chú tân binh vùng cao không biết bơi nhưng lại không dám kêu vì sợ lộ nên cứ giã gạo giữa dòng. Một mình Mỹ Hạnh lôi hai chú vào bờ lại còn mắng cho một trận làm bộ đội Bắc Việt vừa ngượng vừa khoái. Trung đoàn đã đi vượt qua căn cứ Đồng Dù rồi tiến sâu về phía Sài Gòn. Cả trung đoàn lội trên cánh đồng lúa đang kì trổ đòng. Bờ ruộng rất nhỏ. Lính ta ngã ì ụp, vì vậy tốt hơn cả là cứ giữa ruộng mà lội. Mỹ Hạnh luôn mồm than thở thương ruộng lúa nát nhừ vì hàng ngàn bàn chân dẫm đạp. Đêm ấy, những làng mạc vùng ven này không giống như mọi đêm khác. Tiếng lao xao í ới, tiếng chó sủa, tiếng động cơ xe máy xe ô tô chộn rộn. Mọi người đang hồi hộp chờ đợi một điều gì thật lớn lao xảy ra.


    Vào lúc 2 giờ sáng, trăng bỗng sáng hẳn lên. Chúng tôi dẫn bộ binh tới giữa cánh đồng cách chợ Tân phú Trung chừng 2 cây số. Bộ đội nằm lại ngoài đồng chờ trinh sát lên bám địch lại lần nữa... Trời đã bàng bạc đằng đông, đúng lúc ấy, phía Đồng Dù tấn công thì đồng loạt DKZ, cối 82, cối 120 ở đồng Tân Phú phát hoả. Ngay loạt DK đầu tiên, 8 khẩu cùng bắn, đồn cảnh sát cầu Bông sập hoàn toàn. Bộ binh D9 và đặc công 198 vận động dưới tầm pháo xông lên đánh cầu. Cho tới bẩy giờ sáng thì cầu Bông đã về tay quân giải phóng. Phía ấp Chợ các lô cốt kiên cố bắn trả dữ dội. Quân ta không tiến lên được. Bộ binh nằm trên đồng trống bị thương vong hơn hai mươi người. Tình hình trở nên căng thẳng. Tiểu đoàn lệnh trinh sát và thông tin xuất kích. Từ phía chợ thằng Thuận (người Đông Lao, Hoài Đức) bị đạn thẳng vào cổ đang bò ra cánh đồng. Tôi châm điếu thuốc Rubi cài vào mồm cho nó rồi bò ra trận địa. Đạn từ ba lô cốt táng dữ dội vào trận địa 12,7 của C16. Mấy thằng C16 dạt ra. Thằng Khuất Duy Hoan C7 chồm lên, ôm 12,7 li vừa bắn vừa chửi. Được củng cố tinh thần, thằng Hoà người Cao Bang thị xã phú thọ bật dậy bắn liền 2 phát B41 rồi ôm khẩu trung liên từ tay một liệt sĩ bắn xối xả. Đúng lúc ấy nó trúng đạn, gục xuống bên khẩu trung liên còn nóng bỏng. Đại dội 7 xung phong ra phía chợ, chui vào ngóc ngách nhà dân ném lựu đạn ra đường. Trận đánh giằng dai tới 11 giờ trưa thì có tiếng xe tăng chạy ầm ầm từ phía Củ Chi về Sài Gòn. Bộ binh quay ra bắn xe tăng, ba chiếc bốc cháy đâm sầm vào trường tiểu học Tân Phú. Đúng lúc ấy xe tăng quân ta đuổi tới nơi. Bộ binh ta thấy xe tăng cờ đỏ sướng quá rối rít chỉ lô cốt cho họ bắn. Thế là hàng chục thằng Nguỵ cố thủ trong ba lô cốt trở thành đống thịt nướng. Ngót trăm thằng từ trận địa bên kia đường bấy giờ mới kéo ra hàng. Lúc ấy là 12 giờ trưa ngày 29/4.

    Không còn đường nào chạy thoát, tàn quân địch chừng ba chục xe tăng thiết giáp không dám lên cầu Bông, bổ nhào xuống đồng lúa Tân phú Trung ngay phía sở chỉ huy tiểu đoàn tôi. Lập tức tiểu đoàn cho c9 đánh thẳng vào cụm xe tăng địch (c9 hôm ấy đi phối thuộc với D8). Trên đường số 1, pháo ta hạ nòng bắn thẳng. Cả đồng lúa biến thành biển lửa. Sau này vào năm 1988 tôi có quay trở lại đi trên bờ ruộng lúa năm xưa lòng bồi hồi nhớ về vùng lửa khói ngày ấy, cái ngưỡng cửa bình minh của những người sống sót như tôi. Cứ điểm án ngữ cuối cùng của thành phố đã mở thông. Xe tăng, pháo binh, bộ binh của cả sư đoàn 10, E593, E232, E234 và rất nhiều đơn vị ào ào xông vào thành phố. Trời oi nồng vì nắng, vì bom, vì lửa. Tiểu đoàn phải để lại hơn ba chục tử sĩ và năm chục thương binh. Các mẹ các chị trong làng đổ ra lo khâm liệm và chôn cất những người hi sinh ngay phía trong chợ Tân Phú Trung. Cho tới đầu những năm 90 họ đã được quy tập về An Nhơn Tây. Trong số những người hi sinh có một người trúng đạn vào phút cuối cùng của trận đánh là trợ lí tham mưu tên Măng người Thái bình. Măng chết lúc đang giương khẩu chống tăng của địch để bắn xe tăng địch. Cũng ở trận địa này, trong Mậu Thân 1968 sư đoàn 9 đã hi sinh hàng chục người mà hồi đó người dân Củ chi đã lập miếu thờ ven đường. Trong miếu thờ đó, ba chiến sĩ C6 của chúng tôi hôm nay cũng nằm lại.

    Mười hai giờ khuya chúng tôi tạt vào làng Tân sơn nhì ngủ lại. Năm giờ sáng đang nấu cơm chưa kịp ăn thì có lệnh: Tất cả mọi đơn vị, bằng mọi giá, bằng mọi phương tiện, xốc thẳng vào Dinh Độc lập. Thế là lao ra đường, chặn xe của dân, huy động cả máy cầy, xe lam, xe đò mạnh đại đội nào đại đội nấy tìm đường đánh vào dinh.






    Kí ức Tháng Tư (tiếp theo và hết)




    Vào giờ phút ấy, khắp các ngả đường làng mạc quanh Sài gòn đâu cũng thấy quân giải phóng. Gương mặt người lính đi đánh trận mà dãn ra tươi như đi hội. Quân phục đã được thay mới, cờ giải phóng, phù hiệu giải phóng, băng tay xanh đỏ trùng trùng điệp điệp. Con đường vào thành phố đầy dẫy lô cốt ụ súng bằng bao cát, thùng phuy cửa kẽm gai ngăn ra từng đoạn. Tiểu dội tôi 5 thằng leo lên một cái xe lam. Tôi giở bản đồ nhè đường tắt mà chạy. Xe nhỏ luồn lách tốt nên vượt xa đội hình tiểu đoàn. Tới Bẩy Hiền, trong khói đạn đơn vị bạn đang thu thập tử sĩ, chúng tôi rẽ ra Lăng Cha cả. Ở đây một trận đánh dữ dội đang diễn ra. Lữ đoàn xe tăng của ta cháy mất 4 chiếc. Chúng tôi len lỏi trong xe cháy xe hỏng vượt cầu Trương Minh Giảng tiến tới dường Phan Đình Phùng thì bị chặn lại bằng hàng loạt đạn đại liên từ trên tháp nước bắn xuống. Cả tiểu đội lăn ào xuống đường dùng AK bắn tới tấp về cái tháp nước có khẩu đại liên (chỗ đó bây giờ là khách sạn Võ Văn Tần). Mười giờ trưa tiểu đoàn dải quân dọc Bộ Dân vận Chiêu hồi. Bộ đội hạ cối 82 ngay trên đường phố bắn về phía có vườn cây Dinh Độc lập. Một chiếc xe dép kính vỡ toe toét chạy lên. Nhìn ra thì là anh Thuỷ. Cậu liên lạc từ trên xe hét lên rối rít: “Đừng bắn nữa, đấm đít D9 rồi“ quãng hơn 11 giờ nghe qua radio tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, cả khung trời vỡ oà tiếng reo hò. Hàng chục ngàn người nhẩy lên, ôm nhau trong nước mắt. Đường phố Sài Gòn dồn nén bao lâu bỗng nhiên ùa ra toàn những cờ đỏ sao vàng. Bỗng chốc thành phố là một bức tranh xanh đỏ. Những hàng phượng vĩ trổ hoa đầu mùa đỏ thắm, cờ đỏ thắm, dưới nền trời quân phục xanh. Một biển người mừng đến ngơ ngác. Bỗng chốc con người lơ mơ hụt hẫng giữa không gian mới lạ, mới lạ ngay cả với người đã sống ở đây từ bao năm. Vào giờ phút ấy, lính nguỵ trong thành phố còn đông hơn cả dân ngoài đường. Họ trút bỏ hết quần áo lính mặc quần cụt ngồi la liệt vỉa hè, vườn hoa, bến cảng. Những cặp mắt thất thần nhìn quân giải phóng chiến thắng. Chẳng ai để ý đến họ, đội quân đã hết sức chiến đấu, không còn phiên hiệu tơi tả khắp đô thành. Đường phố ngổn ngang quân trang quân dụng mang nhãn hiệu Mỹ, xe pháo của Mỹ đứng bất động, chỉ có quân giải phóng là hân hoan, mắt nói miệng nói. Tự nhiên người tôi rũ ra mệt nhoài, không muốn cầm súng nữa.


    Thời gian như ngừng trôi và không gian trở nên chật hẹp. Tôi có cảm giác mình đang sống trong mơ, một giấc mơ huy hoàng và kì vĩ. Bao ngày chiến đấu trên rừng núi cao nguyên, trong tâm trí chưa bao giờ dám nghĩ rằng có ngày mình nhìn thấy sài Gòn. Vậy mà hôm nay tôi đã đứng giữa thành phố với tư thế của một người chiến thắng, thật cám ơn số phận...


    Chiều 30 tháng tư năm 2002
    Thế là tôi lỡ một cuộc hẹn lớn với anh em đồng ngũ trung đoàn 64. Mà để làm gì cơ chứ? để đi kí kết một cái hợp đồng bán ngót trăm tấn sắt gì đó. Nhưng biết làm sao được “thương trường là chiến trường“ phải lấy chữ tín làm đầu, không thể để lỡ hẹn với thượng đế của mình được. Rất mong anh em đồng đội lượng thứ. Nhưng buôn gì thì buôn, bán gì thì bán, tôi sẽ không bao giờ quên được những kỉ niệm một đời mới có của những ngày tháng tư năm ấy.



    .... Buổi chiều, dân Sài Gòn kéo ra đường, vây kín khu vực Dinh Độc Lập. Họ đi xem quân giải phóng, họ đi tìm chồng, tìm con ở cả hai phía. Cái sự tìm người thân ấy còn kéo dài cho tới vài chục năm sau, nhưng nó bắt đầu từ chiều hôm nay. Tôi cũng không hiểu nổi làm sao dân Sài Gòn chuẩn bị cờ đỏ sao vàng nhanh và nhiều đến thế. Cờ ở trên ban công, trên cánh cửa, nơi công sở và cả trên tay trai gái trên đường. Đêm đầu tiên giải phóng Sài Gòn điện vẫn lung linh sáng và người ta vẫn đi dạo phía vườn hoa.

    Mười một giờ đêm, tôi đứng trên sân thượng nhà cố vấn Mỹ góc đường Phan Đình Phùng nhìn ra phía cảng. Tiếng còi tàu tu tu. Bình yên quá. Trời đầy sao, gió từ cửa sông thổi vào mát rượi, thành phố tinh khôi trong màn đêm lung linh như chưa hề có chiến tranh. Trong tôi kí ức về ngày hôm qua còn nóng hổi, nhưng bàn chân thì vẫn râm ran ngứa vì những vết nứt nẻ hành quân. Chúng tôi về thành phố để lại sau lưng bao đồng đội đang lạnh lẽo nơi rừng sâu, nơi đồng vắng. Để lại hàng ngàn ngày đói cơm thiếu thuốc trên cao nguyên. Bỏ lại những cơn sốt rừng tê tái gặm nhấm đời trẻ trai. Để lại những cánh rừng nương rẫy mình đã chai tay vun trồng nên khoai nên sắn. Phút giây huy hoàng này có ai nhớ không những bản làng xa xăm chốn Sa Thầy Pô Cô có những già làng đóng khố nhịn cơm đưa đường năm trước. Ai còn nhớ tới lời hò hẹn quay về nơi đã cưu mang mình, đã vực dậy trong lòng chiến sĩ niềm tin?

    Ngày mai, một ngày mới của tháng 5 năm 1975. Và dĩ nhiên đêm nay lại thêm một trong hàng ngàn đêm chúng tôi không ngủ. Nhưng là một đêm không ngủ hạnh phúc nhất trong cuộc đời.



    THáng 4- 2002. N.T.L
    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 03-05-2013 lúc 01:28 PM. Lý do: Sửa lỗi chính tả và định dạng

  2. Có 4 người thích bài viết này


  3. #12
    Ngày tham gia
    02-04-2013
    Bài viết
    279
    Thích
    121
    Đã được thích 729 lần trong 225 bài viết

    Nhớ về một người bạn hồi ở lính

    Thuận


    Bây giờ tôi vẫn không gặp lại Thuận. Ngần ấy năm trời chỉ nghe được một thông tin là Thuận đi buôn chuyến đường dài Nam Bắc. Ấy là tôi nghe anh Hỏa ở C17 công binh nói gặp nó trên đường, anh ấy bảo nó khỏe và phong trần lắm nó đưa cho anh mấy bao thuốc SaMit rồi biến mất như lúc xuất hiện trên chuyến tàu chợ HN- SG những năm cuối 80.

    … Thuận vào bộ đội 17 tuổi học vừa hết cấp 2. Nó khỏe và nhanh như sóc. Nhưng trông rõ là thư sinh, da trắng mắt sáng và cái cười thì rõ tươi. Tôi về C7 D8 E64 Thuận là A trưởng rồi. Đại trưởng xuống B tôi nó chả thèm chào, nó thản nhiên gọi ông này ông nọ khiến tôi thấy lạ, hỏi sao dám coi thường cán bộ thế ? Nó lườm lườm nhìn tôi, mày mới vào biết gì. Nhưng thấy cán bộ C trưởng, Chính trị viên cứ thân tình như không với Thuận mặc dù thấy nó nói nhiều lúc khó nghe bỏ mẹ mà các ông ấy không giận gì nó. Thật khó hiểu. Thế thì tìm hiểu.

    Chuyện này lại là chính từ C trưởng kể cho tôi nghe.

    Nhập ngũ tháng 3/67 từ Hà Tây. Đợt quân này về sau rất nhiều người trở thành cán bộ chỉ huy của sư đoàn tôi. Thuận nói trơn tru: quê tao Đông Lao Đông La Hoài Đức Hà Tây. Cái câu này về sau tụi tôi cả trung đội đều thuộc. Đông La Đông Lao Hoài Đức Hà Tây. Cứ đọc ngược dọc xuôi nó bảo được tất, đúng tất. Tháng 1/68 F320A hành quân vào đánh Quảng trị. E 64 được phân công cắt đường 9 đoạn Đông Hà Cam lộ cho chiến dịch Khe sanh. Đánh cầu Thiện Xuân nó diệt 8 thằng Mỹ. Lúc ấy nó làm liên lạc, rồi rất nhanh nó làm A trưởng đánh Ba Thưng rồi đánh Hồ Khê, Thuận trở thành B trưởng. Sau chiến dịch đường 9 Khe Sanh Mậu Thân Thuận ra bắc đi báo cáo thành tích chiến đấu ở các trường Đại học. Nó đi mấy tháng trời mới về đơn vị. 18 tuổi đẹp trai, vài cái bằng dũng sĩ diệt Mĩ khiến các nữ sinh thi nhau tặng khăn musoa và sổ lưu niệm. Về đơn vị nó chia cho mỗi thằng trong B đủ một cái khăn và một quyển sổ còn các tấm ảnh của các cô thì nó giữ lại. Nó cũng hí hoáy viết nhật kí. Nhưng cứ vài mươi trang nó lại bỏ dở, kêu mệt đầu bỏ mẹ. Nó tâm sự chữ mình xấu quá, chữ mấy đứa sinh viên đẹp ghê. Những năm 72, 73 ở Tây nguyên thỉnh thoảng nó lẩm bẩm cô này bây giờ chắc làm kĩ sư rồi, còn cô này thì làm cô giáo…

    Lúc ở cùng B với nhau sau này tôi hỏi sao mày khôn thế? rắn đẻ giờ nào mày cũng biết. Nó bảo khôn cái chó gì, lê la ở quê nghe chúng nó cứ bảo ra Hà nội không cẩn thận là bị bắt nạt. Tao thấy hay hay, rủ nhau đi Hà nội… chúng tao cuốc bộ vài cây số bám tàu điện Hà Đông lên Ngã tư sở rồi lại về. Đi miết thành quen, truyền toa này sang toa khác bên ngoài thành toa nhoay nhoáy, thích lấy cái bánh mì nào là tao lấy được, oánh nhau với bọn Ngã Tư sở chạy bỏ cha bỏ mẹ về tới làng Vạn Phúc vẫn tức. Tức quá vạch quần đái về phía Hà nội rồi hôm sau lại ra nữa… Nó cười hàm răng thật trắng đều tăm tắp. Trông nó trẻ hơn cái tuổi Canh Dần nên dù tôi kém tuổi cũng cứ mày tao với Thuận. Nó thích tôi nên nó bảo ừ tao với mày cứ mày tao còn thằng Phụng Bê phó mày mày tao tao là tao đấm cho.

    Tôi vào sau nên chuyện nó bị kỉ luật tôi băn khoăn quá mà chưa dám hỏi. Một hôm kiếm được nhúm thuốc rê hai thằng rúc vào hầm nằm hút. Hút ở ngoài lính tráng túm lại lấy đâu cho xuể. Tôi mạnh dạn hỏi sao lại bị xuống A trưởng? Nó quay sang tôi, ấy là còn may đấy các ông ấy định đuổi tao về bắc đấy, tao bảo đuổi đi tao ra luôn… Đếch dám đuổi. Thu dung mãi trên D bộ lại đưa tao về đây. Kệ mẹ đời , sao tao ghét cái thằng chính trị thế chứ, cái thằng Chinh móm ấy mày biết không? À Chinh móm thì tao biết phó CN chính trị trung đoàn rồi đấy. Thuận trầm ngâm, mẹ kiếp đánh Nam Lào C mình thương vong nhiều chỉ còn tao và hai thằng nữa với vài thương binh trong khi đó tử sĩ hơn chục ca không mang ra được, cho liên lạc về lấy dự bị lên lão Chinh móm bảo phải tự thân giải quyết, địch thì cứ nửa tiếng lên một lần tao cho hết thương binh tử sĩ gom vào hầm ngụy trang kín rồi tập trung toàn bộ lựu đạn, tao đánh tất bằng lựu đạn, may mà C6 bên Kiều Thế đưa một B lên giúp. Hôm sau được lệnh đưa tử sĩ về phía sau tao xộc đến thẳng Tiểu đoàn chỉ vào Chinh móm tao chửi. Thằng cha sợ vãi đái, may mấy thằng ở truyền đạt D bộ can ngăn tao thôi. Thế là tao bị Kỉ luật. Họ bảo tao định giết cán bộ, rằng tao định bỏ trận địa tao nghe ù cả tai và thấy mình tội to quá. Thực ra tao chỉ cú lão Chinh móm thôi, lúc trước hắn làm chính trị viên đại đội lão ấy ghét tao rồi. Ông Đinh Thế Mỹ gọi tao lên chửi một trận, ừ tao ngấm nhưng kệ nó sự đã thế rồi… nóng mất khôn, chức tước gì đâu tao chỉ buồn chuyện khai trừ đảng… Nó trầm ngâm còn tôi thì chả biết nói gì vì tôi là thế hệ sau.

    Tôi may mắn được gặp Thuận. Trận nổ súng đầu tiên nó bảo, mày cứ đi với tao đ. sợ. Hôm đó đánh địch ngoài công sự nó bảo tôi địch đi giải tỏa lập chốt luôn có nhiều tầng mày đừng tin là đánh hết một vòng ngoài là xong đâu đấy, nó có nhiều lớp bố trí nữa nghe chưa. Xong một loạt là di chuyển thật bí mật đợi nó bộc lộ hỏa lực mà đánh tiếp. Nhớ là di chuyển theo tao. Quả thật trận đầu đi với nó vững dạ thế. Nó ít bắn lắm cứ US mà ném. Nó thấy tôi bắn 4, 5 viên AK liền nó gằn giọng bắn cái đ. gì thế ? 1, 2 viên thôi. Tôi hiểu ra và chạy theo nó cung cúc.

    Tối ấy, vớ được mấy gói gạo sấy của địch đổ nước vào bóp bóp một hồi nhai với nhau nó bảo mày cũng được đấy dần dần sẽ khôn lên, rồi nó đề nghị đại đội tôi được bằng khen… vì trói được hộ nó một tù binh.

    Tháng 8/1973 tôi được gọi lên ban tuyên huấn trung đoàn 2 tháng viết lách giúp ban chính trị. Ở đó tôi lại biết một chuyện về Thuận. Anh Kiều Thế phụ trách tôi người thành phố Thái Nguyên nói với tôi: mày ở C7 chỗ thằng Thuận hả. Tôi vâng. Anh ấy kéo quần rồi vạch bụng lên chỉ vào những vết sẹo cháy nham nhở mà bảo: không có thằng Thuận tao “củ“ rồi. Trông vết cháy lân tinh thịt da sùi lên đến khiếp... tháng 4/72 đánh 1015 anh Thế là c viên phó c6, suốt ngày 14/4 gần dứt điểm thì máy bay hủy diệt trận địa bằng cả bom na pan. Kiều Thế bị thương nằm trên mỏm 3. Vân tải khiêng tử sĩ và thương binh nườm nượp. Bộ đội ta hi sinh nhiều quá, vận tải vào lấy tử sĩ cũng thương vong nên phải lấy cả bộ binh, trợ chiến và hậu cần E bộ vào vận tải. Tối ấy, thương binh và tử sĩ mang ra gần hết đại đội phó Thuận đang bị thu dung ở E bộ hỏi: Kiều Thế C6 đâu? nghe nói Thế bị thương cơ mà? Vận tải bảo không thấy. Nó bảo không được không được rồi nó vác súng quay vào, dọc đường nó kéo thêm hai vệ binh nữa. Kiều Thế nằm rên hừ hừ những vết cháy loe loét. Thế nặng lắm dễ đến hơn sáu chục kí, bọn vận tải cứ chọn thằng nào thấp bé nhẹ cân khiêng trước. Thế bị đùn lại sau. Và bây giờ nằm mê mết trong đêm. Kiều Thế được cứu sống . Vài tháng sau ra viện về trung đoàn bộ làm trợ lí tuyên huấn còn Thuận làm A trưởng vệ binh . Chuẩn úy Thuận bây giờ là thượng sĩ. Kiều Thế lên trung úy. Cũng nhiều lần Thuận vác súng đi công tác cùng Thế. Kiều Thế nể Thuận lắm nhưng Thuận thì coi như không có chuyện gì xảy ra trước đây, một điều thủ trưởng hai điều vâng thủ trưởng. Đầu năm 73 nó xin về đơn vị chiến đấu. Tôi ở với thuận từ lúc ấy.

    Lúc đầu tôi lấy làm lạ sau thì thấy C trưởng nể Thuận là phải. Nhũng lần hành quân chiếm lĩnh Thuận trở nên lầm lì và rất già. Nó bảo không nên thế này, không nên thế kia. B trưởng và C trưởng đều phải cân nhắc lại. Thì ra bao nhiêu lần dẫn quân đi đánh kinh nghiệm rút ra từ bom từ pháo từ kẻ thù nó ngấm dần làm thành bản năng chiến đấu. Nó bông phèng nói văng nói vít ở đâu chứ còn khi chiến đấu thì nó rất kiệm lời và hành động thật quyết liệt. Lúc đánh nhau mà thấy nó nói ấy là lúc nó chửi. Đi với nó thật vững dạ.

    Chiến dịch Tây nguyên 75. Thuận làm bê phó, tôi lên trinh sát tiểu đoàn. Hôm giải phóng Phú Yên quay về đường 7 gặp nhau nó thấy tôi hút toàn Ru bi nó cười khẩy rồi đưa cho tôi mấy bao Capstan. Nó bảo, hút là phải hút cái loại này, mày tẩm thế. Tôi cười bảo vớ được cái gì dùng cái nấy. Nó bảo bọn mày vào kho chi khu Củng Sơn sớm thế mà ngu.

    29/4/75 là trận cuối cùng với nó. Phát hỏa từ 5 giờ sáng thì khoảng 10 giờ sáng thấy nó bò từ đường số 1 ra đồng. Tôi và nó nằm nép vào bờ ruộng dưa. Cái cổ nó ngoẹo về một phía. Cái băng quấn như thằng quấn khăn phula máu loang lổ. Nó bảo đạn thẳng đấy. May quá đ. đứt họng tôi cười bảo đứt họng thì mày mờ đời rồi còn gì nữa. Nó bảo cắm cho nó điếu thuốc vào mồm nó rít tê mê rồi đột nhiên nó bảo thằng Hòa chọi bắn dính dân. Rồi nó chửi đ. mẹ thằng chó chết. Tôi chỉ đường cho nó bò về mấy ruộng dưa nơi phẫu C24 đóng ở đó. Thế là chia tay nhau từ lúc ấy. Tôi cuốn theo đơn vị vào Tân Thới Nhì ngay đêm đó. Đầu tháng 5 chúng tôi ra Củ Chi nó đi viện chưa về. Chả hiểu vết thương kiểu gì mà mãi cuối tháng 7 nó mới về đại đội. Thì ra đêm 29/4 số bị thương đưa về bệnh viện công binh ở Hóc Môn rồi tiếp sau đó là về Viện Cộng Hòa. Thuận gặp may từ ấy. Đêm ở Hóc môn những thằng què thì nằm rên còn nó hai tay hai chân lành lặn nó lần mò khắp xó xỉnh và… nó lấy được rất nhiều tiền. Chúng nó nói lại rằng. Nó không lấy tiền Trần Hưng Đạo mà lấy toàn tiền tây. Nó bảo, cứ cái anh này mà lấy tiền kẻ thù thế nào mà chả phải hủy? Sao mà nó khôn thế nhỉ! Hồi ấy đô la chỉ nghe nói thôi chứ mấy anh nào biết mà lấy. Thế mà nó lại tìm kiếm đô la. Nó bảo sưu tầm cho vui. Thật không tin nổi. Những ngày đầu tiên giải phóng các thầy thuốc 108, 103 ào ào vào các quân y viện miền nam để phục vụ thương binh. Thuận về Cộng Hòa nằm và gặp cô đồng hương Hà Đông là một y tá trẻ măng của viện 103. Chỉ mấy tháng thôi họ đã kịp yêu nhau và Thuận với cô y tá đã kịp nghĩ tới hôn nhân và mua nào là tủ lạnh, ti vi, máy khâu xe máy và cô y tá là người vận chuyển ra bắc theo con đường xe quân y.

    Thuận về đơn vị chu toàn công việc của một B phó. Tôi thấy nó quấn cái mùi soa vào vết thương ở cổ liền hỏi vết thương còn làm sao nữa mà quấn khăn thế. Nó bảo quấn cho nó đỡ ngứa. Thằng Khuất Duy Hoan bảo, nó quấn để nhớ con y tá đấy mà. À thì ra cái mùi soa là của người yêu nó. Tháng 10 tôi ra bắc về học lại. Nó tặng tôi cái SEIKO 5. Chao ôi là sướng. Nó bảo mang về mà đi học không thích thì bán lấy tiền mà tiêu. Tao cũng ra thôi, tao về là lấy vợ ngay đấy.

    Ngày tôi ra bắc, Thuận dẫn trung đội đi đắp trường bắn bên ngoài Đồng Dù không gặp nhau. Thế là xa nhau. Tôi nghe nó cũng ra quân ngay năm 76 và cưới cô y tá viện 103. Rồi lại nghe nó đi buôn đường dài. Thời gian trôi vùn vụt nhớ lại nhau giở cái ảnh cũ xưa ra thấy nó cười thật tươi và hàm răng đều tăm tắp. Lại nhớ chuyện nó bị bọn Ngã Tư Sở đuổi chạy về đến Hà Đông quay lại đái một bãi về phía Hà nội cho bõ tức. Tôi tin Thuận đi buôn cũng sẽ giỏi. Có thể trong cuộc sống bầm dập này Thuận không hỏng, mặc dù có thể nó cũng… hư.

    NTL
    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 03-05-2013 lúc 01:46 PM.

  4. Có 4 người thích bài viết này


  5. #13
    Xin tu xoa Guest
    Em chen ngang một chút: Bản đồ khu vực Củ Chi - Tân Phú Trung - Ấp Chợ - Tân Sơn Nhì

    Trích dẫn Gửi bởi litangu Xem bài viết
    Kí ức Tháng Tư ( tiếp theo )


    Bám sát vào nhau , hàng ngàn chiến sĩ lầm lũi tiến về phía Sài Gòn , nơi quầng sáng lung linh một góc trời . Trong lồng ngực có cái gì nghèn nghẹn . Cái cảm giác không giống bất kì một trận đánh nào mà tôi đã trải qua . Mũi tiểu đoàn 8 do tiểu đội tôi dẫn đường vòng phía đông quận lị Củ Chi , vượt qua đường 15 rồi men theo tỉnh lộ 8 vào chiếm lĩnh trận địa Tân Phú Trung . Nhiệm vụ được giao rất nặng nề . Phải đột kích tiêu diệt một tiểu đoàn ở ấp Chợ Tân phú Trung và Cầu Bông ( Bây giờ gọi là cầu An Hạ ) . Lô cốt ấp Chợ cách cầu Bông gần km . Cây cầu dài ba chục mét có 2 đại đội cảnh sát và lính dù chiếm giữ . Điều cốt tử là đánh tan địch nhưng lại phải giữ được cầu , không cho địch nổ khối bộc phá 200kg để huỷ cầu . Nếu cầu Bông bị phá huỷ thì hướng tấn công tây bắc vào Sài gòn coi như thất bại . Đi cùng tiểu đội trinh sát chúng tôi là một cô biệt động còn rất trẻ , có cái tên khá đẹp - Mỹ Hạnh . Sở dĩ cô này được đi với chúng tôi vì cô ta quê Tân Phú Trung . Hạnh chừng 20 tuổi . Vóc người đậm , rắn chắc , da ngăm đen . Nghe gới thiệu cô ta rất giỏi võ . Võ thì chưa biết nhưng bơi lội thì tài . Lúc 9 giờ đêm khi đơn vị lội qua một con mương rộng chừng 15 mét nước quá đầu . Mấy chú tân binh vùng cao không biết bơi nhưng lại không dám kêu vì sợ lộ nên cứ giã gạo giữa dòng . Một mình Mỹ hạnh lôi hai chú vào bờ lại còn mắng cho một trận làm bộ đội Bắc Việt vừa ngượng vừa khoái . Trung đoàn đã đi vượt qua căn cứ Đồng Dù rồi tiến sâu về phía Sài Gòn . Cả trung đoàn lội trên cánh đồng lúa đang kì trổ đòng . Bờ ruộng rất nhỏ . Lính ta ngã ì ụp , vì vậy tốt hơn cả là cứ giữa ruộng mà lội . Mỹ Hạnh luôn mồm than thở thương ruộng lúa nát nhừ vì hàng ngàn bàn chân dẫm đạp . Đêm ấy , những làng mạc vùng ven này không giống như mọi đêm khác . Tiếng lao xao í ới , tiếng chó sủa , tiếng động cơ xe máy xe ô tô chộn rộn . Mọi người đang hồi hộp chờ đợi một điều gì thật lớn lao xảy ra .


    Vào lúc 2 giờ sáng , trăng bỗng sáng hẳn lên . Chúng tôi dẫn bộ binh tới giữa cánh đồng cách chợ Tân phú Trung chừng 2 cây số . Bộ đội nằm lại ngoài đồng chờ trinh sát lên bám địch lại lần nữa ... Trời đã bàng bạc đằng đông , đúng lúc ấy, phía Đồng Dù tấn công thì đồng loạt DKZ, cối 82 , cối 120 ở đồng Tân Phú phát hoả . Ngay loạt DK đầu tiên , 8 khẩu cùng bắn , đồn cảnh sát cầu Bông sập hoàn toàn . Bộ binh D9 và đặc công 198 vận động dưới tầm pháo xông lên đánh cầu . Cho tới bẩy giờ sáng thì cầu Bông đã về tay quân giải phóng . Phía ấp Chợ các lô cốt kiên cố bắn trả dữ dội . Quân ta không tiến lên được . Bộ binh nằm trên đồng trống bị thương vong hơn hai mươi người . Tình hình trở nên căng thẳng . Tiểu đoàn lệnh trinh sát và thông tin xuất kích .Từ phía chợ thằng Thuận ( người Đông Lao ,Hoài Đức ) bị đạn thẳng vào cổ đang bò ra cánh đồng . Tôi châm điếu thuốc Rubi cài vào mồm cho nó rồi bò ra trận địa .Đạn từ ba lô cốt táng dữ dội vào trận địa 12,7 của C16 . Mấy thằng C16 dạt ra . Thằng Khuất Duy Hoan C7 chồm lên , ôm 12, 7 li vừa bắn vừa chửi . Được củng cố tinh thần , thằng Hoà người Cao Bang thị xã phú thọ bật dậy bắn liền 2 phát B41 rồi ôm khẩu trung liên từ tay một liệt sĩ bắn xối xả . Đúng lúc ấy nó trúng đạn , gục xuống bên khẩu trung liên còn nóng bỏng . Đại dội 7 xung phong ra phía chợ , chui vào ngóc ngách nhà dân ném lựu đạn ra đường . Trận đánh giằng dai tới 11 giờ trưa thì có tiếng xe tăng chạy ầm ầm từ phía Củ Chi về Sài Gòn . Bộ binh quay ra bắn xe tăng , ba chiếc bốc cháy đâm sầm vào trường tiểu học Tân Phú . Đúng lúc ấy xe tăng quân ta đuổi tới nơi . Bộ binh ta thấy xe tăng cờ đỏ sướng quá rối rít chỉ lô cốt cho họ bắn . Thế là hàng chục thằng Nguỵ cố thủ trong ba lô cốt trở thành đống thịt nướng . Ngót trăm thằng từ trận địa bên kia đường bấy giờ mới kéo ra hàng . Lúc ấy là 12 giờ trưa ngày 29/4.
    ...

    Mười hai giờ khuya chúng tôi tạt vào làng Tân sơn nhì ngủ lại . Năm giờ sáng đang nấu cơm chưa kịp ăn thì có lệnh : Tất cả mọi đơn vị , bằng mọi giá , bằng mọi phương tiện , xốc thẳng vào Dinh Độc lập . Thế là lao ra đường , chặn xe của dân, huy động cả máy cầy , xe lam,xe đò mạnh đại đội nào đại đội nấy tìm đường đánh vào dinh.
    link nguyên size (Do Kqh tự động thu nhỏ ảnh) : http://direct2.anhso.net/original/2/...3232410853.jpg


    No Avatar

     10:40, 20th Apr 2013 #17477 

    Vâng, bản đồ nawm 1965 đó anh, cách đánh số của phía VNCH

    No Avatar

    dongdoi_f2

     10:33, 20th Apr 2013 #17476 

    RX: ngày trước là QL1, bây giờ là QL22 rồi!



  6. Có 1 người thích bài viết này


  7. #14
    Ngày tham gia
    02-04-2013
    Bài viết
    279
    Thích
    121
    Đã được thích 729 lần trong 225 bài viết

    cám ơn

    Bác @Rongxanh đã đưa cái tấm bản đồ mà một vùng đấy với tôi thân thuộc . Một lộ trình của những ngày tháng tư quí giá cuộc đời tôi / cám ơn bác

  8. #15
    Xin tu xoa Guest
    Trích dẫn Gửi bởi litangu Xem bài viết
    Kí ức Tháng Tư ( tiếp theo )


    Tiểu dội tôi 5 thằng leo lên một cái xe lam . Tôi giở bản đồ nhè đường tắt mà chạy . Xe nhỏ luồn lách tốt nên vượt xa đội hình tiểu đoàn . Tới Bẩy Hiền , trong khói đạn đơn vị bạn đang thu thập tử sĩ , chúng tôi rẽ ra Lăng Cha cả . Ở đây một trận đánh dữ dội đang diễn ra . Lữ đoàn xe tăng của ta cháy mất 4 chiếc . Chúng tôi len lỏi trong xe cháy xe hỏng vượt cầu Trương Minh Giảng tiến tới dường Phan Đình Phùng thì bị chặn lại bằng hàng loạt đạn đại liên từ trên tháp nước bắn xuống .
    Hình ảnh mấy chiếc xe tăng của Lữ đoàn 273 bị bắn cháy mà bác LTN nhìn thấy sáng ngày 30/4/1975 tại khu vực Lăng cha cả là đây:






    No Avatar

     15:39, 20th Apr 2013 #17483 

    Năm 2006, các anh em ở TTVNOL thắc mắc mãi về chữ T mà chưa có câu trả lời

    No Avatar

    dongdoi_f2

     10:52, 20th Apr 2013 #17478 

    Chiếc T54, sao lại có chữ T (kiểu chữ có chân) ở mũi xe?



  9. Có 1 người thích bài viết này


  10. #16
    Ngày tham gia
    02-04-2013
    Bài viết
    279
    Thích
    121
    Đã được thích 729 lần trong 225 bài viết

    Ôi hình ảnh cũ

    Cảm ơn @Rongxanh , tôi mở máy đến chủ đề và dê chuột thật nhanh nên khi hình ảnh mấy chiếc xe tăng cháy hiện ra chưa đọc chữ nào mà thấy gai hết người . Sáng ấy lúc chúng tôi qua xe cháy ngột ngạt và đạn địch vẫn bắn . DKZ nó cứ ở các ngã tư , mình ló ra nó băn phát rồi bỏ chạy luôn .../ năm 2003 tôi và bạn tôi ở đài TH TP đi dọc các nghĩa trang ở Hóc Môn thì thấy hầu hết lính xe tăng 273 hi sinh 30/4 được mai táng ở nghĩa trang Tân Xuân

    No Avatar

    dongdoi_f2

     16:55, 20th Apr 2013 #17485 

    Từ cổng trại phía đường Cộng hòa, có thể tụi nó dùng TOW bắn cháy xe tăng



  11. #17
    Ngày tham gia
    02-04-2013
    Bài viết
    279
    Thích
    121
    Đã được thích 729 lần trong 225 bài viết

    Chuyện ở lính bốn mươi năm mới kể

    Chuyện ở lính bốn mươi năm mới kể lại


    Chuyện đã 40 năm nhưng tôi tin ai đã là lính C2 D76 F304B Quân khu Việt Bắc đều nhớ. Quãng đời tân binh giai đoạn bản lề của một đời sống không bình thường của một đời người. Ai qua bộ đội dù chỉ một đôi ba năm nhưng ấn tượng ấy thì đeo đẳng mãi mãi. Với tôi, tuổi quân thì ít nhưng đời lính thì dài. Chuyện lính trong tôi cứ là mãi mãi.



    Chuyện thứ nhất:


    Kinh “Còi”

    Tên là Kinh nhưng lại là người dân tộc Tầy Lạng sơn. Tiểu đội trưởng khung ở B1. Hắn có cái còi phải nói là kêu. Tiếng còi của Kinh vang hơn còi trọng tài bóng đá bây giờ, nó kéo dài, nó vừa thống thiết vừa thúc dục vừa răn đe, lại vừa kêu gọi. Những ngày đầu vào lính, Ngô Thịnh và anh Đỗ Kim Long giáo viên khoa điện choáng váng vì tiếng còi này. 5 giờ sáng còi: thức dậy. 5 rưỡi còi: ăn cơm sáng (ăn ngô xay). 6 rưỡi còi: ra thao trường. 11 giờ trưa còi: đi đều về. 1 giờ còi: báo thức. 1 rưỡi còi: lại thao trường... v.v, ấy là chưa kể còi báo động tiểu đội, còi báo động trung đội, còi báo động đại đội, còi đi văn nghệ, còi sinh hoạt hàng tối, còi nghỉ đêm... Thôi thì một ngày một đêm Kinh thổi còi số lần còn hơn trọng tài “Vi lít“. Bọn lính sinh viên mãi rồi cũng quen, bảo nhau: thôi thì sống chung với “Còi”
    Lính không sợ Kinh mà sợ còi. Vì nghe còi là mất ngủ, mất chơi thậm chí đang ăn thì mất ăn. Kinh rất nguyên tắc khi huấn luyện tân binh mới. Kinh bảo “Tó là tôi rất thưng yiu các tồng chí” (đó là tôi rất thương yêu các đồng chí ). Ra thao trường Kinh gióng xé tai một hồi còi rồi dõng dạc:
    “Các toòng chí lên hểu lò thao trờng tổ mồ hoi coòng hon chín trờng tổ máo”
    (các đồng chí nên hiểu là thao trường đổ mồ hôi còn hơn chiến trường đổ máu)

    Đúng quá. Kinh nói đúng. Hắn rèn quân khiếp lên được. Sáng sáng hành quân ra thao trường mỗi người mang trong ba lô mười viên gạch. Một lần, Thịnh tồ mang không đủ số gạch trong ba lô Kinh phát hiện ra “mẹc” cho. Thịnh cãi lại - Sao tiểu trưởng không mang viên nào? Không trả lời mà Kinh rút còi thổi đánh choe một phát, cả tiểu đội ngay đơ không ai cãi câu nào chỉ còn hưng hức tiếng cười tắc trong những cái cổ họng đang xếp hàng dọc.

    Tối ấy Kinh còi gặp Thịnh tồ: Tồng chí hút thuúc (đồng chí hút thuốc) Thịnh xoè tay đón điếu Tam đảo của cấp trên. Thịnh tồ cảm động. Đi ăn cơm, Kinh chỉ cho tiểu đội xếp hàng ở bờ ao. Cái bờ ao ở trước nhà đóng quân của Kinh chỉ to hơn cái bờ ruộng quê tôi một tý. Kinh bảo: Các toòng chí xếp hàng mà lo mơ là xướng ao lớ! (các đồng chí xếp hàng lơ mơ là ngã xuống ao lớ) Rồi Kinh thổi đánh “choe“, khiến cá rô phi đang ăn nổi mặt ao giật mình lặn rào rào. Tiểu đội hàng dọc của Kinh tăm tắp đi đều ra tận bếp. Mấy cô gái làng bịt miệng cười nhìn Kinh nhưng vẫn đầy sự thán phục. Còn Kinh thì lơ đi như không hề biết.

    Hồi ấy bọn Ngô Thịnh và Triệu Bình khoa điện hay có bạn gái ở mấy trường sư phạm và Y khoa xuống thăm. Hai thằng này Sợ Kinh lắm. Chỉ sợ đang tâm sự ngoài bờ mương Kinh phát hiện ra gióng cho một hồi còi thì có mà chạy bỏ cả dép. Quái lạ, những trường hợp ấy Kinh không bao giờ thổi còi. Hoá ra tiếng còi của Kinh cũng rất nhân văn.

    Nhưng không phải còi đều làm oai cho Kinh cả đâu. Một hôm đội sản xuất họp buổi tối ở sân nhà Ngô Thịnh. Trên thì đội trưởng chúi mũi vào ngọn đèn tù mù mà nhắc nhở phân gio giống má . Cuối sân mấy thôn nữ rúc rích với bọn thằng Ngô Thịnh. Kinh đi qua, tức quá không nhẽ lại lôi chiến sĩ của mình ra khỏi cơn giao lưu kết nghĩa đang hồi tưng bừng ấy. Bèn rút còi thổi một phát thật mạnh. Tiếng còi như chưa bao giờ to đến thế. Choét choét. Ông già bà lão đổ nghiêng trên sân, rồi sau đó là tiếng la ó của bà con. Sáng hôm sau Kinh bị lãnh đạo phê bình vì thổi còi không đúng chỗ, thổi vào tai cuộc họp đội sản xuất. Ngô Thịnh và Triệu Bình bấm nhau cười rúc rích trong khi Kinh bần thần đứng bên bờ ao.

    Ngày chúng tôi đi chiến đấu Kinh còi đi học tiếp lên Bê phó. Đi trên Trường sơn bọn B1 khen, hồi huấn luyện không có Kinh còi nó rèn bọn mình thì bây giờ theo dược an hem cũng “khướt “




    Chuyện thứ hai:


    Giang “xẻng”

    Giang học k4 khoa chế tạo máy Đại học Cơ điện. Vào C2D76 Hắn ở B2 cùng thằng Cảnh khoa điện, thằng Định k5B khoa máy. Tiếng là cùng trường nhưng Giang cứ lầm lì đi thao trường một mình ở cuối hàng còn hai thằng Cảnh và Định vác hai khẩu CKC vênh vang đi trước.

    Phải nói là Giang là con người chỉn chu kỉ luật của đơn vị, cũng như nếp sống văn hoá quân đội. Thật là một tấm gương cho trung đội noi theo. Mỗi ngày đi thao trường Giang đeo cái xẻng chéo qua vai nằm ra đằng sau lưng. Lúc nào cũng thấy Giang nghiêm chỉnh đi đúng hàng và đặc biệt bọn Cơ điện không bao giờ thấy Giang ngồi quán nước chợ Hanh. Giang có răng khểnh hay cười nhưng kiệm lời. Bọn mình thấy hắn nghiêm chỉnh nên nhiều khi cũng ngại. Tuy thế chẳng bao giờ Giang phê bình ai. Cứ cặm cụi, cứ cung cúc tập luyện và hầu như Giang không mắc một khuyết điểm nào suốt 3 tháng rưỡi huấn luyện. Một hôm sinh hoạt đại đội, chủ đề: lí tưởng của người chiến sĩ thể hiện cụ thể trong đời sống tân binh. Thôi thì nhiều ý kiến lắm. Đại đội toàn người có học, không là sinh viên thì cũng là cán bộ công nhân nhà máy nên phát biểu không mấy khó khăn. Nào là: tôi gác tình riêng để lên đường đi chống Mĩ. Nào là dù vợ dại con thơ tôi cũng không hề nao núng. Nào là: biết là bố tôi ốm nặng tôi vẫn hướng về... phía chiến trường. Có chú trẻ măng ở quê nhập ngũ thì thật thà nói: bộ đội khổ thì khổ thật nhưng còn sướng hơn ở nhà nên tôi thấy bình thường... Mọi người nói vãn rồi thì thấy Giang giơ tay xin ý kiến

    Giang bước lên, nhìn bình thản hơn 100 anh em trật tự phía dưới rồi nói thật ngắn gọn:
    - Tôi vào bộ đội đã 3 tuần nay, tôi vẫn không có súng. Tôi chỉ được phát một cái xẻng. Tôi biết Đảng giao vũ khí gì tôi dùng vũ khí đó mà đánh giặc, gắn bó yêu thương nó coi nó như vợ mình, cho dù tôi chưa có vợ. Cái xẻng tôi mang từ sáng đến chiều trên lưng và ngay cả ban đêm khi báo động nó vẫn trên lưng tôi. Đã 3 tuần nay tôi chỉ tháo ra khi đi ngủ, còn ngày chủ nhật tôi vẫn... cầm ở tay.

    Cả đại đội cười rinh rích. Cười hinh hích rồi cười toé lên. Bê trưởng B2 thì đỏ mặt. C phó quay sang hỏi:

    - Sao thiếu súng mà không báo lên C bộ.

    Ngay lúc ấy Chính trị viên bước lên. Ông làm động tác cho hơn trăm con người yên lặng. Vị trung uý nói trong xúc động:

    - Thưa các đồng chí. Đây là tấm gương sáng chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Quân đội phải cám ơn mái trường XHCN đã rèn luyện giáo dục các đồng chí tốt như thế. Tôi mong từ nay về sau đồng chí Giang phát huy không xa rời lí tưởng và không xa rời cái xẻng. Coi cái xẻng là vũ khí chiến đấu để làm gương cho toàn đơn vị.

    Đại đội vỗ tay rào rào. Giang nghiêng bên này cũng thấy rào rào, nghiêng đằng trước, đằng sau cũng thấy rào rào. Hoan hô, hoan hô.

    Ngày hôm sau Giang được phát súng CKC nhưng cái xẻng thì nó không thể xa rời lưng Giang được nữa. Chót phát biểu trước thiên hạ rồi, lại được thủ trưởng khen rồi, thôi gắng mà đeo. Cái xẻng nó mặc định vào Giang mất rồi. Bây giờ cả đại đội hễ ai gặp Giang cũng chú ý nhòm sau lưng xem có còn cái xẻng không. Suốt cho tới ngày đi chiến đấu Giang vẫn đeo cái xẻng sau lưng một ngày dễ đến 14 tiếng và Giang đương nhiên được gọi là Giang xẻng. Vào chiến trường Tây Nguyên Giang cũng vẫn là Giang xẻng.
    Bây giờ Kĩ sư Giang ở đâu, nếu đọc được chuyện này gọi điện cho mình nhé: Số máy của mình: 0976582742. Cứ gọi rồi khắc nhận ra tên nhau.
    * * *


    Chuyện về cán bộ


    Ấy là chuyện về lính, chứ còn chuyện về chỉ huy thì cũng nhiều không kém. Tất nhiên chuyện về chỉ huy cũng dễ hay và dễ nhớ như chuyện lính tráng mà thôi.

    Người lính tân binh ngày đầu vào bộ đội gặp thủ trưởng nào thì thủ trưởng ấy sẽ trở thành người thầy đầu tiên.
    Chuyện về hai người “thầy lính“ đầu tiên ấy xa lắc lơ rồi mà vẫn nhớ. Buồn thì ít mà vui thì nhiều, vì có 4 tháng chưa kịp buồn thì đã đi chiến trường. Suốt đường hành quân cứ nguyên chuyện đại trưởng và chính trị viên cũng đủ vui, đỡ nhọc.

    Kể về Đại đội trưởng.

    Hồi ấy, gọi theo mấy “đồng chí chị nuôi” là Đại trưởng. Đại trưởng ơi, em xin về. Đại trưởng ơi y tá bảo lên uống thuốc, rồi ăn cơm mấy cô ẽo ợt bê cơm lên xê bộ ** ** gọi Đại trưởng ơi... cơm. Vui thế.

    Đại trưởng cười, nói giọng thổ Cao bằng thân thiện:
    - “mấy tứa này gần chù gọi pụt pằng anh” (mấy đứa này gần chùa gọi bụt bằng anh). Rồi cười he he nheo mắt nhìn cái Tĩnh đánh hai quả mông tanh tách chạy về bếp. Bê trưởng Đinh văn Bệ ở B1, hàm chuẩn uý người tày Lạng sơn thì chê:
    - Cái láo ây loái tiếng kinh chưư... sói à (cái lão ấy nói tiếng kinh chưa sõi à)

    Đại trưởng biết, đại trưởng mắng: pậy nào, tồng chí pệ pậy nào (bậy nào, đồng chí Bệ bậy nào) Rồi cả thầy trò cười ngất ngả. Ngày đầu tiên về đơn vị, tập hợp ở sân kho hợp tác. Cán bộ trực ban chạy ra: báo cáo đại trưỏng, đại đội có mặt đầy đủ xin chỉ thị đồng chí. Đại trưởng lừ lừ: Tủ cái gì mà tủ, tôi lếm nhanh tược có trăm hai, lói dối thế thì ti chín tấu làm sao tựơc, trung đội trưởng trực ban ứ ứ rồi im thít.

    Một hôm, ngoài thao trường 209 (thao trường 209 là khu doanh trại của E209 sư 312 cũ ở đầu dốc Vai có mấy cái nhà 2 tầng để học đánh vào thành phố).

    Lính tập hợp thành vòng tròn, đại trưởng hạ khoa mục. Nào là khi vào thành phố, đừơng xá nhằng nhịt, người đông, dễ lộ, nhiều dây điện nhùng nhằng... v.v, đại trưởng nói:
    - ... Các tồng chí đừng có tởng, vào thành phố ló khó lắm chớ, chết nhơ chơi à. Xe cộ ló ti tối mắt à, dây địn ló nhiều như... (các đồng chí đừng có tưởng vào thành phố nó khó lắm chứ, chết như chơi à, xe cộ nó đi tối mắt à, dây điện nó nhiều như...) đại trưởng ngó quanh đang tìm cái gì để ví cái sự nhiều của dây điện, chợt ông nhìn ra mấy bụi tre mắt sáng lên:
    - ... dây địn nhiều như lá tre à.

    Thế là cả đại đội cười phá lên, tưởng đại trưởng cáu. Nhưng không, ông ấy đỏ mặt lên rồi cũng cười phá lên. Cười ngặt nghẽo, và thế là chiến sĩ nào cũng nhớ dây điện trong thành phố là... Rất Nhiều.


    Chuyện về chính trị viên
    (khó kể hơn)


    Trung úy Đoàn Văn Mấu quê Phủ lí. Năm ấy cũng đã 28 tuổi. Đã từng đánh nhau ở Lào vì thế ông rất hay kể chuyện về Lào, và theo ông ấy thì Lào cũng giống như người Tày nên cứ ai người Tày ở đại đội là ông ấy yêu quí (trừ đại trưởng ra)

    Tuần có 2 ngày sinh hoạt đại đội thì cả hai ngày Chính trị viên cầm chịch. Tư tưởng mà lị. Ông rất thận trọng với đám lính ngộ chữ này nên không mấy thiện cảm. Ông ấy lệnh mỗi trung đội tháng ra một tờ báo tường. Thôi thì 4 Bê báo tường đẹp ơi là đẹp, đủ cả văn, thơ , nhạc, hoạ, chuyện tranh truyện cười xanh đỏ vui mắt lắm. Nhưng ông chỉ dò tìm những cái tên của mấy chú tân binh Phú Lương người Tầy bổ xung (số là trong đại đội tôi có 7 người là dân tộc Phú luơng bổ xung về sau). Còn như Ngô Thịnh, Trọng Luân, Triệu Bình, Mạnh Tiêu, thầy Kim Long, Thầy Huấn, cả anh Thiệp Hải Phòng là cây văn hoá cũng đừng hòng nhé. Thơ á, vẽ đẹp á, chả là gì. Một lần, ông dò ra bài thơ “đào hầm“ của binh nhì Ma văn Mát.

    "Đào hầm mỗi ngày một lần / đào hầm mệt lắm/ nhưng căm thù giặc sài lang / mồ hôi ướt áo chẳng cần


    Các bạn đừng cho là tôi bịa nhé, chính tôi làm tờ báo ấy đấy. Trong cuộc sinh hoạt tiếp theo, chính trị viên gọi Ma Văn Mát lên. Ông bắt tay, khen ngợi rồi hỏi:
    - Đồng chí đào hầm bằng gì?
    Mát trả lời:
    - bằng cuốc chim. Vì hắn có cái cuốc chim.

    Chính trị viên khen tốt lắm, thế chứ! cuốc chim là vũ khí diệt mĩ đấy. Cái cuốc chim của đồng chí không kém gì cái xẻng của đồng chí Giang. Đồng chí viết như thế là toát ra từ đáy lòng căm thù giặc, đồng chí phải báo tin về cho gia đình thành tích của mình và phải căm thù giặc hơn nữa rồi động viên bố mẹ cũng căm thù giặc trồng nhiều khoai sắn.

    Tối hôm ấy tôi thấy Ma Văn Mát hí hoáy viết thư tới khuya lắm.
    Hôm sau mình hỏi: sao mày viết là giặc sài lang. Nó bảo thằng nào đểu cũng là sài lang tất. Tôi chịu nó. Mà tôi cũng chẳng hiểu sài lang là gì.

    Trung uý Mấu chọn liên lạc riêng cho mình là binh nhì Lí Trọng Nghẻ. không phải là Nghé đâu nhá. Nhưng ông ấy cứ gọi nó là Nghé. Ông ấy bảo gọi thế cho nó hiền lành gần gũi nông dân mình hơn. Lí do nó là người dân tộc. Công nhận nó hiền, khoẻ, thật thà. Ông ấy thích lắm. Hiền, thật thà, khoẻ là tiêu chuẩn trước tiên để chọn liên lạc và công vụ của các thủ trưởng. Có điều thằng này nghiện thuốc lào dã man, mà chính trị viên thì không hút thuốc. Suốt ngày kè kè bên thủ trưởng, đến giờ nghỉ nó nhào ngay xuống bếp anh nuôi hút một điếu phê quá ngã ngửa ở sân gần bụi chuối đúng lúc trung uý Mấu đi xuống. Chính trị viên há hốc mồm nhìn chú liên lạc của mình nằm ti hí mắt, hiền từ nhìn thủ trưởng. Nó cứ nhìn trung uý Mấu mà không dậy nổi, ở đôi mắt đang nhìn thủ trưởng với một phần hai con ngươi lăn ra hai giọt nước.

    Sau lần ấy ông Mấu cho phép nó được hút thuốc lào tại C bộ, nhưng mỗi ngày 4 lần chia đều ra hai buổi.

    Chúng tôi vào lính thì đã có sẵn 4 cô Chị Nuôi rồi. Hai tháng sau lại bổ xung 2 cô nữa. Mỗi khi mấy cô chị nuôi mặc cái áo lót đông xuân nữ màu trắng đi giặt về là tụi mình khoái lắm. Em nào cũng binh nhất nhá, bọn mình thì binh nhì. Nhưng các binh nhì cứ dán mắt vào mấy bộ ngực hiên ngang của cấp trên. Cấp trên cũng tạo điều kiện cho cấp dưới bổ túc mắt và tỏ ra thông cảm với những cái cổ họng đang chạy lên chạy xuống. Chính trị viên cáu lắm, còn đại trưởng thì cười hi hí:
    - chúng mày coi chừng à mấy tằng sin viên là nó tĩ lắm lố (chúng mày coi chừng à mấy thằng sinh viên là nó đĩ lắm lố ). Cả tiểu đội nữ gọi đại đội trưởng là “đại trưởng” nhưng tịnh không cô nào dám gọi chính trị viên là “Chính viên” hay “trị viên” bao giờ cả.

    Rồi chúng tôi đi B. Cả đại trưởng và chính trị viên dẫn quân vào đến trạm 5 Trường sơn thì chia tay chúng tôi để quay ra bắc. Hôm ấy đúng vào 30 tết. Cả hai ông xuống từng võng bắt tay và ôm từng người chiến sĩ của mình. Bốn tháng ở bên nhau, biết bao chuyện lặt vặt vui buồn mà chỉ có đời bộ đội mới nhớ được nhiều về nhau đến thế. Trong bóng đêm Trường sơn, tôi vẫn cảm nhận ra hai ông ấy trào nước mắt.



    Chuyện về tiểu đội anh nuôi

    Trong đại đội đầu tiên của tôi ở Bắc thái có một tiểu đội tôi thích nhất. Từ A trưởng đến chiến sĩ đều rất đẹp, ai nhìn cũng thích. Họ lại trẻ, lại ngoan, hơn một trăm con người đều thích chẳng cứ tôi. Đó là tiểu đội nữ anh nuôi.

    Hôm đầu tiên về đến đơn vị đã thấy một thím ra đón mặt tươi như hoa, cười nói rộn ràng. Xe vừa dừng dưới luỹ tre (lối đi vào Cbộ sau này) thím ào lại đưa đây em xách hộ, nào đưa tay em đỡ mà nhẩy xuống. Thật ngỡ ngàng có cô gái xinh mà thân tình đến thế. Cánh cựu Sinh Viên đang chộn rộn tâm hồn vì mới mặc quân phục có vài tiếng đồng hồ cũng dịu lại và cái thằng đàn ông trong con người mình đánh thức mình nhìn chằm chằm vào bộ ngực nở nang của thím.

    Sáng hôm sau. Bữa cơm đầu tiên của chúng tôi. Thôi thì khỏi phải nói có bao nhiêu nụ cười của các thím đều mang ra dùng hết. Một sào đất người rặt những người có học, mặt mũi tinh khôi, tâm thần mộng mị đứng xếp hàng ở sân nhà ăn để các thím điểm tâm. Không giống như đợt quân trước đó đi từ làng quê mười bẩy mười tám tuổi mặt bấm là ra sữa. Cánh lính này nó cao to, thư sinh mà chú nào cũng ngoài 20. Vừa cứng cáp, vừa e lệ kiểu cáo già vừa ngây thơ như con sói cô đơn. Các thím thích lắm. Phải nói là các thím thích thật.

    Chỉ ba ngày sau, lí lịch nữ quân nhân nhà bếp này chúng tôi ai cũng thuộc. Thuộc nhất là Mạnh Tiêu khoá 4 và Ngô Thịnh khoá 6. Không hiểu sao chúng nó lấy thông tin ở kênh nào mà Thịnh tồ ghé tai tôi nói nhỏ: “A trưởng Tĩnh máu lắm đấy“
    Gọi là tiểu đội nhưng ngoài hai nam giới luống tuổi có 4 cô thôi. Tĩnh, Hà, Xuân, Phiến. chỉ có Phiến là người Cao bằng, còn ba cô đều dân Đất tổ Vua Hùng. Máu là phải.

    Vào đơn vị 15/9 ngày 21/9 đã phải phục vụ địa phương chương trình văn nghệ tết Trung thu. Tối hôm ấy, trăng lên vượt qúa luỹ tre, cả đại đội ngồi kín sân kho hợp tác xã với độ trăm người vừa trẻ con vừa người lớn nghe các chú tân binh hát múa. Đã lại sức sau một tuần thay đổi trạng thái lại đang bừng bừng nhiệt huyết, tối ấy các chú hát hay mê man. Các nam phụ lão ấu vỗ tay cũng dã man. Cả tiểu đội chị nuôi long lanh ánh mắt. Từ ngạc nhiên chuyển sang thích thú rồi đến thẫn thờ nhìn các chú lính SV đại học cơ điện. Thằng Tiêu rỉ tai mình: tấn công đi, thằng Thịnh vỗ nhẹ vào vai mình: được đấy. Tôi nghe mà ù cả tai, chưa kịp phản ứng gì đã thấy thằng Ngô Thịnh sán vào em Tĩnh hai đứa tình tang mỗi đứa túm một đầu cái thang khiêng đi trả. Sớm hôm sau khi ra nhà bếp thấy Mạnh Tiêu rười rượi đăm chiêu trong khi Ngô Thịnh vừa xếp hàng lấy cơm vừa hát “Rà pô ta u nát sờ nái ia... ” (bài ca Thanh niên sôi nổi của Nga)

    Sau này cùng tiểu đội trinh sát D8 E64 ở chiến trường hai thằng vẫn cãi nhau cái vụ đêm hôm ấy. Cho tới bây giờ không ngã ngũ, dù cả hai đã già cóc kẹ.

    Tiểu đội nữ này họ đặt câu hỏi: Sao đợt lính này không ăn bánh mì? sao họ chỉ thích chè đặc cà phê? sao họ ăn uống không hộc tốc như các đợt quân khác? sao họ hay đi sửa quần áo thế?... Vân vân và vân vân . Nhưng chỉ có mỗi câu mà họ không hỏi. “Sao họ hay rủ bọn mình ra bờ ruộng lúa tâm sự thế?“

    Hai tháng sau bổ xung thêm hai cô người Tầy Cao bằng. Trong hai cô có Hoàng Thị Làn người Cao bằng tuổi 18 trắng phau phau. Làn nói tiếng kinh chưa sõi. Nhưng yêu thì cần gì phải nói. Mình thích cô ấy thật. Nhưng chưa bao giờ dám rủ Làn ra ruộng lúa như bọn thằng Thịnh, thằng Cảnh khoá 5 khoa Chế tạo Máy. Những tối đi sinh hoạt về, Làn đi theo mình tới cổng. Hai đứa cấu nhau cái rồi Làn chạy đường Làn mình chạy đường mình.

    Một hôm. Trời mùa đông nhá nhem. Làn rửa xoong nồi ngoài giếng. Tôi xoay xoay cái bát B52 giả vờ đứng bên hỏi han. Thấy Làn ngẩng lên:
    - Em puồn lắm.
    - Sao Làn buồn
    - Anh Thì B1 anh ấy pảo: Làn ơi sao mày iu cái thằng ten như cột nhà chái? (sao mày yêu cái thằng đen như cột nhà cháy)

    Trong nhá nhem mùa đông mà mặt mình cũng nóng ran lên, vừa buồn cười vừa tức, mà lại thương Làn. Hôm sau đi thao trường gặp thằng Thì thấy nó nheo nheo nhìn mình. Vào chiến trường đến Kon tum thì nó đi đơn vị Kĩ thuật xe trên B3. Chẳng biết cái thằng “tình địch“ của mình bây giờ còn sống hay chết.

    Trước khi đi B độ một tuần. Một hôm chừng chín giờ tối tôi nghe Làn gọi ngoài cổng. Chạy ra, Làn nấp vào hàng dứa tây ngõ nhà chủ dúi vào tay tôi một gói lá chuối mềm mềm, kéo vội tay tôi cắn một cái rồi vùng chạy. Tôi đứng nghe chó trong xóm sủa râm ran kéo dài về phía C bộ. Tôi trở vào giở gói lá chuối hơ lửa thì ra một đùm thịt lợn luộc. Nấp sau cánh cửa dưới bếp nhà chủ, tôi nhìn ra trời sương lạnh đầu đông Bắc thái. Làn thương lính đói, thương chúng tôi sắp ra trận, hay... tình yêu của trai gái thời chiến tranh đơn giản vậy thôi? Hay tôi ngộ nhận. Và, mãi mãi về sau tôi không bao giờ có cảm giác giống như thế này nữa.

    Ngày đi chiến đấu. Từ sáng tinh mơ, bếp đại đội bộn bề xoong chậu nồi niêu chồng đống không ai rửa. Tất cả tiểu đội nữ anh nuôi ôm nhau nép vào nhau đứng ngoài bờ ruộng nhìn vào sân kho nơi chúng tôi xếp hàng nhận mệnh lệnh hành quân đi vào Nam. Họ khóc. Họ khóc nhiều như những người thân của lính. Gọi nhau, chạy ra chạy vô, dúi vào tay lính những cái khăn Musoa, vài viên thuốc cảm, lọ dầu. Rồi chúng tôi hành quân ra đồi thông gần ga Lương sơn. Cả tiểu đội nữ anh nuôi đi theo. Các cô đi bên cạnh, lúc đầu hàng lúc xuống cuối, vừa cười vừa khóc. Hôm ấy trời lạnh. Má Làn đỏ rực, cái màu má đỏ của cô gái vùng cao ám vào trong tôi từ ấy. Họ không được tới chỗ chúng tôi. Đứng bên kia đồi thông Làn gọi: Anh ơi tặng em tấm ảnh anh ơi. Bấy giờ tôi mới nhớ là chưa tặng em cái gì. Tôi lội bờ ruộng rạ chạy sang đưa cho em tấm ảnh bé như con tem chụp ngày đầu vào lính. Làn buông tay đồng đội đang léo xẹo vào nhau ùa lại: anh đi rồi về anh nhé. Tôi chạy quay trở về, đàng sau là tiếng cô Tĩnh, cô Hà, Xuân... và tiếng Làn ngọng líu lo gọi tên mình.

    Bốn năm chiến chinh, chúng tôi không có một kiềng đóng quân cố định. Lê từ hầm này sang hầm kia từ vùng núi này qua vùng núi nọ. Thư từ chả có điều kiện mà gửi, nhận thư vào lại càng khó. Trong cái đại đội tôi hàng mấy chục người không còn trở về. Mấy chục người mang mảnh đạn trên thân thể. Tôi may mắn qua nhiều chiến dịch mà vẫn còn lành lặn. Ngày trở về, Bắc Thái nghèo xơ xác, bộ đội không còn đông như ngày xưa, khiến xóm làng đìu hiu hơn. Sư đoàn 304B cũng chuyển đi đằng nào, chẳng còn phiên hiệu nữa. Tiểu đội anh nuôi gái của tôi trôi dạt phương nào? Một thời các em hiến tuổi trẻ của mình vào lính, một thời các em yêu thương người lính bằng tình yêu nguời em gái, tình yêu người chị lo anh trai em trai bát cơm miếng nước.

    Trở về đâu? thân gái cứng tuổi giữa vùng quê khốn khó? Có đủ sức vượt qua cái thời đói kém những năm 80 của đất nước mình hay không? hả các em.

    Bây giờ ai ở thị thành? ai về thôn dã? ai thành bà già áo chàm ở miền núi đồi nào tít Cao bằng, Lạng sơn, Phú thọ? Tôi cứ hình dung ra ở một nơi xa lắm một bà già ngồi bần thần giở hộp huân chương cũ trong chiêù mưa buồn trên nhà sàn xa ngái, mắt long lanh trẻ lại, nhớ một thời đã từng là bộ đội chống Mỹ ở Bắc thái xa lắc lơ. Trong mớ huân chương cũ ấy có tấm ảnh tôi ngày xưa... nhỏ xíu, ố vàng./.


    Hoàng Cầu mùa hè 2011
    Nguyễn Trọng Luân

    No Avatar

    huuthanh

     08:17, 21st Apr 2013 #17516 

    Anh bạn TQTrung qua Ngọc Lặc dò hỏi cô Dâm cô Chanh dân công năm xưa. Các cháu quán nước chu đáo nói bác có gì (sâu nặng) không chứ giờ trông... chán lắm :-)


    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 03-05-2013 lúc 05:10 PM.

  12. Có 5 người thích bài viết này


  13. #18
    Ngày tham gia
    02-04-2013
    Bài viết
    279
    Thích
    121
    Đã được thích 729 lần trong 225 bài viết

    Nhớ về tháng Tư 1975

    Đêm chiếm lĩnh cuối cùng


    Chúng tôi đã nằm ở bờ sông Sài gòn 7 ngày rồi. Nói là nằm thật là đúng nghĩa. Bởi những ngày cuối tháng Tư 1975 này quân ta áp sát Sài gòn thật khủng khiếp về cả số lượng và binh khí. Vùng đất Củ Chi đã trơ trọi bao lâu rồi, ven sông là những vạt cây lúp xúp, cỏ lau phơ phất. Trong khi mấy trung đoàn dải quân từ bến Dược trở xuôi. Chúng tôi đào hầm qua loa, vén lá lau sậy ra làm ổ, chui vào gầm tán những cây ổi ven nước mà nằm mà họp mà chuẩn bị cho trận đánh sắp tới. D bộ ở sát ngay một cái chòi lấn ra sông dưới tán những cây găng rậm rịt. Một tổ giao thông bưu điện Củ Chi. Ở đó luôn thấy một người Phụ nữ còn trẻ mắt cứ nhìn đăm đắm ra sông. Mặt sông lốm đốm những đám lục bình trôi, mấy chùm hoa tím chĩa lên trời. Sóng sông lòm tom như cá quẫy. Chưa bao giờ tôi thấy chị nói, chị nhìn đoàn quân ào ã trẻ trung mà cứ như kẻ mộng du, rồi lại nhìn ra sông. Cứ thế người đàn bà ở bến Đình Củ Chi như một hòn Vọng phu búi tóc.

    Hết họp rồi hạ quyết tâm tiểu đoàn, đại đội, quyết tâm trung đội, quyết tâm tiểu đội. Từ đầu chiến dịch tới giờ đây là những ngày nhàn nhã nhất. Không phải đi lấy gạo, vác đạn, ngoại trừ nhóm chúng tôi hai ngày bò Tân Phú trung rồi trở về vẽ sơ đồ với cán bộ tiểu đoàn. Sa bàn cũng không đắp, chỉ theo bản vẽ tay, rồi bản đồ địa hình mà họp mà hạ quyết tâm. Rõ là thế của kẻ mạnh.

    Nắng cả ngày rồi chiều thì mưa. Cơn mưa chiều nào ở đây cũng to và thật nhanh. Một tuần nay chúng tôi đã quen như thế. Ba lô cứ gói buộc sẵn sàng chỉ để tấm ni long lên trên cùng. Súng cứ lau đi lau lại, dép cứ nắn đi nắn lại từng quai, vuốt ve cái dây ba lô mòn bóng nhem nhẻm mồ hôi. Tựa lưng vào ba lô mà trò chuyện. Có anh đọc đi đọc lại lá thư nhà mà giao liên đưa đuổi theo ở Chơn thành. Ngắm nhìn những khuôn mặt đồng đội trước lúc vào trận sao mà thấy ai cũng trẻ, khuôn mặt nào cũng bâng khuâng, cũng hiền đến lạ.

    Đã bao lần trước lúc vào tiếp cận tôi đâu có để ý như bây giờ. Có lẽ bởi những trận đánh ở Tây nguyên bất thình lình và rừng rú, đêm tối hay những lúc mùa mưa thâm xám trời đất chả có thời gian đâu mà để ý. Chỉ biết gập mình dò dẫm, bò trườn trong đêm. Còn bây giờ, giữa vùng bình địa gần sát Đô Thành này mọi khuôn mặt vào trận nó mới sáng trưng ra dưới hàng ngàn đồng đội. Suốt cả mấy ngày nay pháo ta và địch bắn đối nhau ầm ầm. Cái thứ tiếng xèo xèo bay ngược chiều nhau. Pháo từ Đồng Dù bắn ra, từ thành Quan năm, từ Ngã ba Tân Qui đồng loạt nã về. Trái phá nổ trên ngọn đồi có cửa hầm địa đạo, nổ dưới sông, nổ phía bên kia sông. Cột nước tóe trắng hắt ngược những cụm lục bình lên trời, hoa lục bình tím bay lả tả hòa vào mặt sông.

    Chiều nay 28/4. Mặt trời thật vàng, trôi thật chậm. Tiểu đoàn ắng lặng. Chúng tôi ngồi ôm cái ba lô đã mấy tiếng đồng hồ. Lính cũ thì gà gật, lính mới thì phấp phỏng cứ nhìn các đàn anh như dò hỏi: thế nào là thế nào rồi hở anh?

    4 giờ, thấy đơn vị biệt động thành hành quân qua. Trẻ quá, nhiều con gái quá. Lại xinh nữa, lại lung liếng mắt nhìn các anh chủ lực đang há mồm nhìn theo những bắp chân trắng cứa đỏ bởi dây dép cao su.

    Mặt trời khuất hẳn, lệnh hành quân.

    Cả ngàn người bám vào nhau. Chưa có cuộc chiếm lĩnh nào chúng tôi bám xít nhau như thế. Một cuộc hành quân chiếm lĩnh rộn rực trong lòng đến vậy. Hơi thở người đằng sau phả vào gáy người đi trước. Tôi vượt lên đầu tiểu đoàn để nhận một nữ biệt động dẫn đường. Chúng tôi trao đổi ngắn gọn về hướng hành quân và chỉ kịp nhận ra cô còn trẻ nhưng chắc lẳn với cái tên Mỹ Hạnh.

    Phía đông nam là một quầng sáng lung linh. Phía tây cột lửa đỏ bốc cao ngùn ngụt. Kho xăng Đồng dù bị pháo kích lúc chập chiều đang ù ù cháy. Nóng, ngột ngạt những mồ hôi và thì thầm của lính. Pháo bất thần nổ. Đội hình phía sau tôi ùn lại, một chiến sĩ trinh sát quay lại rồi chạy lên. D7 hi sinh 3 bị thương 4. Trung đoàn lệnh hành quân khẩn trương. Một con mương sâu rộng chừng 15 mét. Bộ đội ào xuống, phì phò ì ọp khúc khích cười. Rồi có tiếng: chết đuối rồi! chết thằng Dìn rồi. Mỹ Hạnh quay ngoắt lại trong mập mờ đêm, nhoáng cái lôi chàng Dìn vào bờ. Chúng nó hỏi mày không biết bơi à? em không biết. Hinh hích hinh hích lính ta cười. Mỹ Hạnh càu nhàu, đồng đội chết ỉm đến cổ còn húm vào cười. Lính ta chả ai nói gì.

    Vượt qua đường 8 đoạn Phước Vĩnh An. Cái đồn địch bắn đạn 12,8 đỏ lừ lừ cành cành cành. Chó sủa râm ran. Mặc, chúng tôi cứ nhắm Cầu Bông mà lội tới. Mùi bùn, mùi lúa con gái ngai ngái trong đêm. Lính hỏa lực ì ọp ngã lên ngã xuống. Bờ ruộng thì nhỏ bùn lại trơn. Tôi bảo Mỹ Hạnh, tôi chiếu bản đồ Hạnh dẫn bộ đội lội trên lúa. Hạnh cự, nát lúa uổng lắm. Tôi gắt, không thể để chậm giờ vào chiếm lĩnh. Truyền lại: lội ruộng theo trinh sát. Thế là hàng mấy trăm người bì bõm dưới ruộng, rồi leo lên ruộng cạn rồi lại xuống nước. Cứ thế chúng tôi vòng qua cánh đồng rìa làng Tân Thông Hội, xuống Tân Phú Trung. Một giờ sáng, trăng bất thần nhú ra. Cả đội hình đến cánh đồng trồng dưa của dân Tân Phú. Bàn nhau, làm mấy quả đi. Lập tức bị Mỹ Hạnh phản ứng: đi làm cách mạng mà ăn trộm của dân à?

    Tôi đưa cho Hạnh gói lương khô. Mỹ Hạnh mừng quá ăn ngay, vừa ăn vừa nói Lương khô chủ lực ngon quá trời. Tôi bảo mối trận đánh chỉ được một gói thôi. Hạnh ăn rồi anh phải ăn dưa thôi. Cô biệt động kêu trời, rằng bộ đội lừa nhân dân. Chúng tôi cười khoái trá và bổ dưa ăn.

    Đội hình lên đủ cán bộ để bộ đội tập hợp lực lượng ngoài đồng, chúng tôi bò vào trận địa với tham mưu trưởng trung đoàn lần nữa. Trăng sáng mới chết chứ. Cánh đồng gần ấp Chợ đầy rau mùi và hành. Nhắc nhau cẩn thận đừng dẵm lên luống mùi và hành sực mùi lên bọn lính gác nó phát hiện. Lúc bò qua một vườn cam và chanh, sờ thấy có quả nhưng không dám ngắt định bụng quay ra vặt mấy quả. Đêm đầu tiên chiếm lĩnh một trận địa ven đô, bồi hồi lạ lắm. Mùi của cánh đồng lúa đang kì trổ đòng, mùi bùn ruộng lẫn trong mùi phân của trâu bò. Mùi mồ hôi của lính và lại là lần đầu tiên đi cùng một cô gái, rất gần rất nhẹ nhàng là hương tóc con gái cứ phảng phất đâu đây. Đêm chiếm lĩnh, lội đồng rồi chui lên vườn tược ngửi thấy, cảm nhận thấy những mùi vị có tên chung, nhưng cũng có mùi mang cái tên riêng chỉ người cảm nhận nó đặt tên được. Chúng tôi nhìn về Tân Sơn nhất đèn đỏ nhấp nháy trên cao, chịu chả biết là gì.

    Những cái máy bay bay đêm lên xuống, đại bác 130 của ta vẫn cầm canh bắn vào phía ấy. Ra sát đường thấy có cái gì to và lóa lóa trắng, mò lại gần thấy thằng tây đen nhe răng trắng ởn vẽ trên tấm bảng to như cái sân phơi lúa, bảo nhau lùi thôi ẹ biết là gì, lát nữa bảo DK phang vào đấy. Thằng Minh thì thầm qué phải hỏa điểm gì đâu, thuốc đánh răng đấy. Đưa các đại đội vào chiếm lĩnh xong xuôi, không gian nén lại, thời gian trôi thật chậm. Sở chỉ huy ở ngoài đồng trên một con mương ken dầy những cây bằng lăng. Nhìn lên đường số một từ hướng Tây Ninh về Sài gòn thỉnh thoáng có vệt đèn xe hon da. Trong đêm tiếng động cơ xèn xẹt thành vệt dài rồi chìm vào đêm. Trận địa im lặng. Nghe thấy cả tiếng ếch nhái. Mắt đăm đăm dõi về hướng mấy cái lô cốt ngoài ấp Chợ, rồi lại lom lom ngó cái đồn và lô cốt đầu cầu Bông. Quay lại về hướng bắc, Đồng Dù vẫn sáng, vẫn hồng hồng cái thứ ánh sáng của trận đốt kho xăng lúc chiều qua. Một vùng phía Bắc Sài gòn nín thở trước giờ phút bùng nổ một trận công phá cuối cùng. Mấy thằng lính thông tin dải dây vào các đại đội trở về ngồi trên bờ ruộng thay nhau dúi đầu xuống mương hút thuốc. Trung đoàn trưởng lừ lừ đi tới. Tiểu đoàn trưởng đứng lên.

    Tôi biết cái giờ nổ súng bắt đầu.

    …. Vậy là đêm 28/4/75 trở thành cái đêm cuối cùng của đời tôi hành quân chiếm lĩnh, cũng là cái đêm lần đầu tiên tôi được bì bõm trên đồng ruộng vùng ven Sài gòn. Từ hôm đó cho tới nay đã về già không bao giờ mình bước xuống cánh đồng thơm ngái hương bùn và bâng lâng phóng đãng như tình người Nam bộ vậy. Có ai đó nhớ về trận chiến có thể quên những mùi hương của không gian trận địa, chứ tôi thì tôi nhớ, nhớ mãi màu sắc hương vị trước giờ nổ súng. Trận đánh cuối cùng, đêm chiếm lĩnh cuối cùng có mùi hương rất quyến rũ của cánh đồng Nam bộ.


    NTL

    muctau's Avatar

    muctau

     23:48, 21st Apr 2013 #17562 

    Nữa đi anh !


    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 03-05-2013 lúc 05:25 PM.

  14. Có 6 người thích bài viết này


  15. #19
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    740
    Thích
    845
    Đã được thích 186 lần trong 115 bài viết
    Trước khi đi B độ một tuần . Một hôm chừng chín giờ tối tôi nghe Làn gọi ngoài cổng . Chạy ra , Làn nấp vào hàng dứa tây ngõ nhà chủ dúi vào tay tôi một gói lá chuối mềm mềm , kéo vội tay tôi cắn một cái rồi vùng chạy . Tôi đứng nghe chó trong xóm sủa râm ran kéo dài về phía C bộ . Tôi trở vào giở gói lá chuối hơ lửa thì ra một đùm thịt lợn luộc

    Đấy ngày xưa tình yêu nó đơn giản như vậy! Bây giờ cứ phải hoa Hồng, hoa hiếc....rất mất thời giờ và rõ phí của giời.....
    Nhận bọc thịt luộc là vừa nhận được cái tình cảm của người yêu, lại vừa ...no bụng!=))
    Dĩ hòa vi quý!

  16. #20
    Ngày tham gia
    02-04-2013
    Bài viết
    279
    Thích
    121
    Đã được thích 729 lần trong 225 bài viết
    Bác Khốt ta bít thân mến: Cho đến giờ tôi vẫn không quên cái buổi tối sương lạnh ấy trên xứ Thái. Sau này đơì phức tạp hơn nhưng ấn tượng như ngày ấy thì không có. Cái màu đỏ má con gái vùng cao ám vào tôi từ ấy bác ạ.

    No Avatar

    linh7983

     06:33, 23rd Apr 2013 #17620 

    Em lại nghị gấu biết nhưng ....cuời hì hì ví đấy là chuyện ngày xưa ( từ khi chưa có gấu.)

    No Avatar

     22:22, 22nd Apr 2013 #17609 

    đêm chiếm lĩnh cuối cùng có mùi hương rất quyến rũ của cánh đồng Nam bộ ==> vẫn còn thiếu mùi hương ... :D

    No Avatar

     22:22, 22nd Apr 2013 #17608 

    Em cũng nghĩ thế.

    No Avatar

    lixeta

     14:30, 22nd Apr 2013 #17597 

    Chắc gấu nhà lão LTN chưa biết trang này.


    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 03-05-2013 lúc 05:12 PM.

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •