CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 1 của 13 12311 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 124

Chủ đề: Khối đa diện quan hệ Việt-Hán

  1. #1
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết

    Khối đa diện quan hệ Việt-Hán

    Đôi lời thỏ thẻ

    Đã hơn 30 năm kể từ ngày cuộc chiến vệ quốc trước chủ nghĩa bành trướng TQ chính thức bắt đầu nhưng hình như tầm mức, qui mô, tính chất cuộc chiến nầy chưa được đề cập đủ như chính nó. Phải chăng cuộc chiến nầy chỉ giới hạn trên một chính diện hơn ngàn cây số và chiều sâu đôi mươi cầy số? Phải chăn cuộc chiến chỉ kéo dài vài ba mươi ngày? Hay ta cần có một cái nhìn rộng lớn hơn, sâu xa hơn, khác hơn và đặt nó trong một bối cảnh không chỉ các trận đánh của quân đội hai nước có lịch sử hơn hai ngàn năm nô dịch-chống nô dịch mà còn trong bối cảnh quốc tế dưới sức nặng của cuộc chiến tranh lạnh và những mưu mô thủ lợi bỉ ổi?


    Nếu Cấu trúc luận quan niệm thế giới nầy, nói chung, cũng như từng sự vật, sự việc không gì khác hơn là những cấu trúc, ngoài cấu trúc thì không có gì hết. Rằng thế giới nầy là những cấy trúc mà trong có các cấu phần quan hệ tương quan, hổn hệ và chỉ cần mối quan hệ một cấu phần nào đó với toàn bộ cấu trúc bị gẫy đổ thì thế giới, sự vật, sự việc cũng gẫy đổ. Tiếp tới Hiện tượng học đưa ra hình ảnh khối đa diện về thế giới nầy. Rằng toàn bộ thế giới nầy cũng nhưng mọi sự vật, sự việc đều là những khối đa diện mà mội diện mang một bản chất. Để hiểu đúng thế giới, sự vật, sự việc ta cần lần ra sau các hiện tượng để tìm bản chất của từng diện cho đến toàn bộ các diện thuộc khối. Rằng bản chất là cái mà ta không bao giờ nắm được nó trực tiếp mà phải thông qua các hiện tượng, không nghiên cứ hiện tượng đầy đủ thì không hiểu được bản chất. Với quan niệm như vậy Hiện tượng học dường như đề ra một phương pháp nhận thức khác hẳn, nếu không muốn nói là trái ngược với quan niệm lâu nay của nhiều người: bản chất chỉ có một, bản chất mới là chính còn hiện tượng là “vứt đi”, không cần quan tâm. Thế nhưng, ta cần hiểu thế nào về người hàng xóm của tôi? Anh ta ra đường thì khá lịch thiệp với mọi người nhưng trong nhà thì ... “oánh vợ như oánh con”! Ở con người nầy, cái gì là hiện tượng, cái gì là bản chất? Lịch thiệp hay vũ phu là bản chất con người nầy? Anh ta ra đường thì đội một cái lốt nào đó lừa mị thiên hạ? Với cái nhìn Hiện tượng học thì anh chàng nầy có hai bản chất: lịch thiệp và gia trưởng! À, ra vậy. Mà nếu vậy thì nó, tức phương pháp hiện tượng học, có gì trái với câu kinh cửa miệng “bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”(1)? Vậy thì, phương pháp hiện tượng học có phải là một bước nối tiếp cụ thể hóa quan điểm maxít về bản chất? Nếu vậy thì có phải những cấu trúc luận, hiện tượng học đơn giản chỉ là thứ triết học suy đồi của gia cấp tư sản?


    Từ điểm gợi nhìn về hình ảnh “khối đa diện đa bản chất” bên trên tôi xin mời diễn đàn đọc lại một số bài sưu tầm trên internet về “khối đa diện” mối quan hệ Việt-Hán mà trong đó đa số bàn về cuộc chiến Biên giới 1979 do ông Ngô Bắc dịch, trích dịch. Tác giả các bài viết là những cây viết, học giả có điều kiện tìm hiểu tài liệu, có trình độ và phương pháp tốt, thậm chí một vài vị còn vận dụng các lý thuyết chính trị mới nhất (vào thời điểm công bố) nhằm tìm hiểu và đánh giá cái mà họ gọi là cuộc chiến tranh Đông dương lần thứ ba. Rõ ràng cuộc chiến nầy vượt quá tầm một sự xung đột bên giới và hệ lụy của nó vẫn tiếp diễn. Một không gian, thời gian chiến sự nhỏ mang một ý nghĩa quốc tế, thời đại (2). Có một thú vị khi đọc loạt bài sưu tầm nầy ta thấy hình như nó vô tình phản biện lại tất cả những gì mà đại tá Lưu Minh Phúc viết trong cuốn “Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và tư thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa kỳ” ra đời sau cuộc chiến gần ba mươi năm, sau các bài viết nầy đôi mươi năm là ít.
    Có một đáng tiếc nhỏ của loại bài là, có lẽ xa quê đã lâu nên đôi khi ta thấy ông Ngô Bắc mắc một số lỗi tiếng Việt, văn Việt. Như ông dùng không chính các một số từ rất thông dụng Các/Những/Mấy hay Cuộc/Sự/Việc, v.v. Hay ông bê nguyên xi cú pháp tiếng Anh vào bản dịch tiếng Việt của mình. Nhưng cái đáng quý là ông bằng trình độ chuyên môn và ngoại ngữ của mình đã giúp độc giả (3) có một sự tiếp cận lý thú, hũu ích đối với vấn đề lịch sử dân tộc (tôi nhấn mạnh hai tiếng lịch sử ở đây là không theo nghĩa thông thường, tức lịch sử là cái thuộc về quá khứ, mà lịch sử là cuộc sống của dân tộc trải từ quá khứ tới tận tương lai, cái viễn tượng dân tộc đang hướng tới).

    ...

    (1) Nhưng điều nầy không làm ta tự hào chút nào vì nó mang lại sự đau khổ và chết chóc.
    (2) Không biết nguyên văn Marx dùng từ nào nhưng bản tiếng Pháp của nhà xuất bản Tiến bộ (Moscow) dùng từ ensemble, triết gia Trần Đức Thảo dùng từ “toàn bộ”, sách ta thì dùng từ “tổng hòa”. Ông Thảo chắc là dịch từ ensemble trong các bản tiếng Pháp mà từ ensemble có nghĩa là “toàn bộ, toàn thể, tập hợp, sự hài hòa” (cả tự điển Pháp Việt của Viện KHXH lẫn của giáo sư Đào Duy Anh hồi giữa tk 20 đều chú giải như vậy). Tôi thấy hơi phân vân, dịch “tổng hòa” dễ gây cảm giác bản chất có thể từ nhiều cái tạo nên nhưng tất cả “nhập cục” lại làm một, là duy nhất? Còn giải thích “tổng hòa-ensemble = toàn bộ + hài hòa” thì có kiên cưỡng về mặt từ vựng học?
    (3) Lâu nay dười ngọn cờ “thuần Vệt” người ta dùng sai từ “bạn đọc”, “người đọc” thay cho từ “độc giả”. Độc giả là người đọc một văn bản mà người đó là chính là đối tượng tiếp thu nội dung, tinh thần, thông tin văn bản đó. Còn người đọc hay bạn đọc chưa chắc là đối tượng tiếp thu nội dung, thông tin, tinh thần văn bản đó, vd xướng ngôn viên, phát thanh viên đài phát thanh, đài truyền hình, v.v.

  2. #2
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Bài 1: Chủ nghĩa duy tâm của một quan niệm về lãnh thổ
    Trần Ngọc Vương

    Bản thảo bài viết sau đây được hoàn thành vào cuối năm 1979, ngay sau sự kiện Trung Quốc tiến hành cuộc chiến tranh biên giới chống Việt Nam và lúc tôi mới 24 tuổi. Bài viết được thực hiện trước hết như là một sự tự lý giải, một cố gắng để khách quan và rốt ráo trong việc truy cứu đến cùng lý do đích thực cho câu hỏi: Ngoài sự o bế đối với Khmer Đỏ, Trung Quốc còn có lý do và lý lẽ gì khi tiến hành cuộc chiến chống Việt Nam? Lời giải đáp, theo tôi, chỉ có thể tìm thấy từ một cái nhìn bao quát toàn bộ lịch sử của đế chế Trung Hoa. Không định viết bài "chống bành trướng" theo thời vụ chính trị, nhưng trong không khí sục sôi lúc bấy giờ, tôi cho rằng nếu công bố được thì tốt. Tôi đã đưa bài viết cho ông Phạm Như Cương, lúc đó là Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội kiêm Viện trưởng Viện Triết học. Tạp chí Triết học là tờ tạp chí của Viện đó, đồng thời cũng là xuất bản phẩm chính thức chuyên về triết học duy nhất ở Việt Nam lúc bấy giờ. Bài viết được "đọc duyệt" hơi lâu, vì thế mãi đến số 4/1980 mới được công bố. Tôi không còn bản gốc, vì hồi đó không có tiền đánh máy, chưa có photocopy ở Việt Nam... nhưng theo tôi thì bài viết có bị cắt bớt, chừng 1/3, chủ yếu liên quan đến những kiến giải từ góc độ lịch sử tư tưởng, lịch sử chính trị. Dù sao thì những ý tưởng cơ bản còn được giữ lại hầu như đầy đủ, cho nên tôi vẫn cảm thấy được in ra là một thắng lợi cá nhân.


    Ngày nay, thiết nghĩ việc "tái bản" bài viết này cũng vẫn còn nguyên vẹn ý nghĩa thời sự. Nếu vào thời điểm hiện tại viết về vấn đề này, thì trừ một số thuật ngữ (chẳng hạn tất cả các từ "phong kiến" đều sẽ được thay bằng "quân chủ chuyên chế") và việc đào sâu hơn những nội dung "di truyền xã hội của hệ tư tưởng truyền thống", chắc tôi cũng không viết gì thật mới hơn so với những điều mà bài viết này đã hàm chứa. Bởi bài đã được viết ra vào thời điểm đó, tôi không có quyền thay đổi nó nữa, nay xin được đăng lại nguyên văn theo bản đã in trên Tạp chí Triết học.


    Hiện thời những bản đồ được đề cập đến trong bài, cá nhân tôi không còn giữ được và cũng khó tìm thấy ở Việt Nam. Hy vọng ban biên tập hoặc độc giả nào đó có điều kiện sẽ tìm được những bản đồ như vậy để cho mọi độc giả đều được "đích mục sở thị". Tôi xin bày tỏ sự tri ân trước.
    Tác giả
    ...

    Người ta thường rất hay nhắc đến những tấm bản đồ, những “chiến dịch bản đồ” không những được vẽ ra dưới thời Quốc dân Đảng, mà là cả từ khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời, và được tiến hành phân phát nhiều lần ra nhiều nước trên thế giới, cả châu Phi và châu Mĩ Latinh, trong đó nổi rõ một sự vô lý nếu đem đối chiếu đường biên giới trên bản đồ với đường biên giới Trung Quốc trên thực tế, và từ đó, có thể thấy rất rõ tính chất bành trướng trong ý đồ của những kẻ chỉ đạo để vẽ ra nó [1] . Nhưng có thể và cần thiết đi sâu thêm vào những câu hỏi tiếp theo như: trên cơ sở nào mà những người nắm giữ linh hồn của những “chiến dịch bản đồ” kia lại tự phong cho mình một sự “bảo hộ” trên một lãnh thổ lớn như vậy? Thực tế nào cùng với những tiêu chí lý luận nào đã cho họ phóng bút vẽ ra những đường biên giới kì lạ, mà trong mắt mọi người nó vừa đáng ghê tởm, vừa nực cười lại cũng vừa đáng lo ngại như thế?


    Nếu “lý lẽ” của Israel trong vấn đề lãnh thổ là hoàn toàn trắng trợn vô lý hiển nhiên (đòi đất sống trên lãnh thổ các nước Ảrập), nếu chủ nghĩa bành trướng của đế quốc Mĩ, bằng chủ nghĩa thực dân mới mà xâm chiếm đất đai “theo các hiệp định”, thì đó là vì cả hai tên bành trướng này không có “truyền thống” về lãnh thổ. Trái lại, chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc nêu khẩu hiệu “thu hồi những đất đã mất” làm một trong những lí do tồn tại chủ yếu. Phải chăng Trung Quốc trừ những vùng họ “không tiện đòi” - và trên thực tế là họ có lí do đầy đủ để đòi - hiện nay như Đài Loan, Hồng Kông v.v., vẫn còn những vùng đất nào đó, vốn thuộc quyền sở hữu của họ, được công pháp quốc tế chấp nhận, mà lại ở trong tay các nước láng giềng và không láng giềng? Họ có chút lí do nào chăng trong việc đòi Liên Xô trả lại một vùng rất lớn ở Trung Á, có lí do chút nào chăng trong việc “thu hồi lại Đông Nam Á”? Và giá như - dù điều này không đời nào xảy ra - họ “thu hồi” được những đất mà họ công khai công bố là của họ, thì liệu họ đã thôi không đòi đất khác nữa hay không? Giấc mơ “mục tiêu của chúng ta là toàn thế giới” như “người cầm lái vĩ đại và anh minh” của họ từng công bố, nghĩa là gì v.v… Bài viết này cố gắng thử làm rõ hơn những vấn đề đó.


    I. Lãnh thổ thực của Trung Quốc hình thành như thế nào?

    Nền văn minh cổ đại của Trung Quốc xuất hiện sớm nhất và ổn định lâu dài trên lưu vực sông Hoàng Hà. Vào thời khuyết sử, các bộ tộc, bộ lạc và liên minh bộ lạc trong quá trình gặp gỡ, đồng tồn tại, tiêu diệt và thôn tính lẫn nhau, thì chưa thể xác định lãnh thổ cụ thể được. Trên cơ sở cư trú hoàn toàn tự nhiên thì lãnh thổ của nền văn minh đó là lưu vực sông Hoàng Hà.


    Qua hết Tam Hoàng, Ngũ Đế, trải qua nhà Hạ, nhà Thương, cho đến Tây Chu, lãnh thổ của quốc gia cổ đại này chưa mở rộng khỏi lưu vực sông Hoàng Hà.


    Trong thời Chu, ở lưu vực sông Trường Giang, nhiều bộ tộc cư trú ở đó độc lập phát triển đã hình thành nên các quốc gia của họ, tiêu biểu là các nước Sở, Ngô và Việt. Sử kí của Tư Mã Thiên còn ghi rõ rằng giai đoạn đầu nước Sở ở phương Nam vì không phải là đất phong của nhà Chu nên không tôn Chu, đã “tiếm hiệu” xưng vương và sai người đến hỏi đỉnh nhà Chu nặng nhẹ ra sao. Chi tiết này rất quan trọng vì nó chỉ ra tính chất độc lập rõ rệt của các nước vùng lưu vực sông Trường Giang mà nước Sở là đại diện trong dấu hiệu tranh giành thiên hạ với nhà Chu.


    Trải qua thời Xuân Thu - Chiến Quốc, khi nước Ngô, nước Việt dần dần lớn lên, thay nhau làm bá chủ chư hầu, đến Việt Vương Câu Tiễn sau khi đánh bại Ngô Vương Phù Sai và thôn tính nước Ngô thì có thể nói đến một khu vực ổn định thứ hai trong quá trình hình thành lãnh thổ Trung Quốc. Tuy nhiên câu chuyện Khuất Nguyên và lòng yêu nước của ông đã chỉ ra một cách hiển nhiên tính chất độc lập trong ý thức của cư dân vùng thứ hai đó.


    Phải tới Tần Thuỷ Hoàng, lần đầu tiên Trung Quốc mới đạt tới một sự thống nhất thực sự về lãnh thổ. Đương nhiên những vùng đất phía Nam, Tây Nam, Bắc, Tây Bắc và Đông Nam Trung Quốc ngày nay đều nằm ngoài phạm vi kiểm soát của Thuỷ Hoàng đế. Cũng trong đời Tần Thuỷ Hoàng, xuất hiện một lời tâu của Vương Quán, Phùng Kiếp và Lý Tư: “Ngũ đế ngày xưa, đất chỉ vuông ngàn dặm, ngoài ra là đất đai của chư hầu và của Man Di, họ vào chầu hay không thiên tử cũng không sao cai quản được. Nay bệ hạ dấy nghĩa binh… bình định được thiên hạ, bốn biển thành quận huyện, pháp luật và mệnh lệnh đều thống nhất ở một nơi, từ thượng cổ tới nay chưa hề có, Ngũ đế đều không bằng” [2] . Cả việc lấy hiệu là “Thuỷ Hoàng đế” cũng chứng tỏ rằng đó là vị vua đầu tiên thực sự có sự chi phối đối với toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc cổ đại.


    Bắt đầu từ thời kỳ này trở đi, các vua chúa Trung Quốc có ý thức tự giác mở rộng quyền kiểm soát của vương triều ra các vùng đất mới khác. Về mặt hành chính, từ Tần-Hán, diễn ra một quá trình quận huyện hoá đối với các vùng đất ổn định và quá trình thần thuộc hoá đối với các vùng đất xa lạ không kiểm soát trực tiếp được. Đối với các vùng đất “xa ngoài Ngũ Lĩnh”, tứ di, nghĩa là các vùng đất mà cư dân không phải là người Hoa và chế độ hành chính không thể quận huyện hoá được, các hoàng đế Trung Quốc đặt ra lệ triều cống, buộc chính quyền ở các vùng đó xưng thần, chấp nhận uy quyền của “thiên triều”. Để làm được điều đó, họ sử dụng cả hai phương thức: gia ân và thị uy, hai thủ đoạn muôn thuở, kinh điển của “nghệ thuật thống trị”. Có thể nói đây là hình thái không hoàn chỉnh, tuy nhiên, lại sớm nhất trên thế giới của chủ nghĩa thực dân của các đế chế Trung Hoa phong kiến. Tuy nhiên, các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và khẳng định chủ quyền quốc gia của các bộ tộc, các vùng cư dân xung quanh đã nổ ra quyết liệt và dần dần thu được thắng lợi triệt để. Các vùng đó hình thành các quốc gia hoàn chỉnh và được chính hoàng đế Trung Quốc thừa nhận (các sắc phong cho vua Việt Nam, vua Triều Tiên v.v. đều có chữ “quốc vương”). Để có thể sống yên ổn bên cạnh một nước lớn như Trung Quốc nên tất cả các nước này đều buộc phải triều cống, phải xưng thần, tuy không bao giờ nhà nước và cư dân các vùng đó coi đất mình là đất Trung Quốc, cư dân mình là cư dân Trung Quốc cả.


    Nhưng lịch sử đã không diễn ra chỉ một chiều: sự “đe nẹt” một chiều của các vua chúa Trung Quốc, mà ngược lại, lục địa Trung Hoa liên tiếp là bãi chiến trường của các quốc gia kế cận: các bộ tộc bị coi là di, địch liên tiếp tổ chức nhiều đợt tấn công vào lãnh thổ Trung Quốc nhất là các bộ tộc, các quốc gia phía Bắc, và rất nhiều trường hợp, các vua chúa Trung Quốc đành “buông xuôi xã tắc”. Điển hình nhất là sự thống trị của nhà Nguyên và nhà Mãn Thanh. Về phương diện lãnh thổ, chính sự thống trị của hai triều đại này đã đưa lại một sự mở rộng thêm và củng cố sự ổn định của lãnh thổ Trung Quốc, và hai vị hoàng đế có công nhất trong lịch sử Trung Quốc về phương diện này chính là hai ông vua ngoại tộc: Hốt Tất Liệt (triều Nguyên) và Khang Hi (triều Mãn Thanh).


    Trải qua gần ba chục thế kỷ thịnh suy trị loạn đắp đổi về lãnh thổ, Trung Quốc có một số đặc điểm:


    1. Có một vùng là cái nhân ổn định, đó là lưu vực hai con sông nói trên. Trong vùng này, tình trạng cát cứ là thường trực. Tuy có sự thống nhất về danh nghĩa, mà trên thực tế là không thể giải quyết được mâu thuẫn nội tại. Cơ cấu hành chính Trung Quốc mặc dù có chấn chỉnh thay đổi một số lần đã không có cách gỡ khắc phục tình trạng đó. Lịch sử Trung Quốc có vô số những cuộc bạo loạn, cuộc khởi nghĩa ở bất kì vùng nào trong cái nhân đó, nhằm chống lại chính quyền trung ương, và tình trạng giằng co níu kéo nhau đó, cái trạng thái cân bằng kì quặc và mong manh đó chưa hề được giải quyết một lần nào đáng kể. Do kết cấu đặc thù của một xã hội nông nghiệp ở một khu vực rộng lớn mà không có một cuộc xáo động dân cư nào đáng kể, do trình độ phát triển hết sức hạn chế và què quặt của chính quyền chuyên chế, nên hiện thời ở Trung Quốc còn tồn tại 49 phương ngữ trong một dân tộc Hán, mà những người sử dụng các phương ngữ khác nhau lại phải thông qua dịch thuật mới hiểu nhau, nên đã có nhiều người cho rằng đó là các ngôn ngữ khác nhau. Tiếng Bắc Kinh (tiếng phổ thông) không trở thành tiếng nói của đa số cư dân Trung Quốc. Cả 4 tiêu chuẩn kinh điển để khảo sát sự hình thành quốc gia dân tộc (L’ Etat- national) đều khiếm khuyết, dang dở, vị thành niên và vị thành niên một cách nghiêm trọng.


    2. Chưa bao giờ có đường biên giới xét trên toàn cục. Chỉ có ở một số vùng, đường biên giới được hoạch định bằng các văn kiện nhà nước, trong đó các đoạn biên giới vì nhiều lí do mà được tạo ra sớm nhất, có sự ổn định tương đối và lâu dài nhất ấy có biên giới Trung Quốc - Việt Nam. Chính sử Trung Quốc cũng như chính sử Việt Nam đều ghi lại nhiều lần ở các triều đại khác nhau từ Lý, Trần cho đến nhà Nguyễn về sự kiện sứ bộ của hai nước đàm phán để hoạch định rõ ràng cương vực giữa hai nước và sự khẳng định về tính chất độc lập, rõ ràng về phương diện lãnh thổ đã thấm nhuần vào thơ văn, vào sử sách từ thời Lý Thường Kiệt cho tới Nguyễn Trãi, từ Trần Quốc Tuấn tới Ngô Thì Nhậm, tới tận ngày nay. Trong thời kì phong kiến, văn bản pháp lí cuối cùng có giá trị lịch sử là hiệp định biên giới kí kết giữa thực dân Pháp và triều đình Mãn Thanh. Mặc dù từ xưa đến nay, các chính thể ở Trung Hoa không muốn có biên giới - mà lý do chúng tôi sẽ trình bày kỹ ở phần sau - thì trên thực tế đường biên giới lịch sử đã được tạo ra và dần dần ổn định ở từng giai đoạn một. Nhưng cho đến tận thời kì Thanh Mạt, Trung Quốc vẫn chưa ổn định lãnh thổ của mình và giữ nguyên tình trạng đó, Trung Quốc bước vào thời kì cận hiện đại, bị các nước đế quốc thực dân phương Tây xâu xé, bị các nhóm quân phiệt khác nhau tranh hùng, cát cứ. Từ thời nhà nước Quốc dân Đảng trở đi, đã xuất hiện nhiều tấm bản đồ như ta đã biết.


    3. Từ năm 1949 trở đi, khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời, có hai nhu cầu khách quan về lãnh thổ, đó là việc thống nhất quốc gia (giải phóng Đài Loan cùng những thành phố nhượng địa như Ma Cao, Hương Cảng và tổ chức hành chính lại ở bên trong nội địa Trung Quốc), và việc hoạch định biên giới với tất cả các nước láng giềng. Rất nhiều hiệp định biên giới được kí kết và nhiều tuyên ngôn về lãnh thổ được công bố, trong đó có thể nêu lên những tuyên bố long trọng của Chu Ân Lai tại hội nghị Băng Đung năm 1955 và nhiều cuộc tiếp xúc quan trọng khác giữa chính phủ Trung Quốc với các nước kế cận, trong đó nổi bật một nguyên tắc là chấp nhận đường biên giới lịch sử. Thế nhưng, sau ba mươi năm, cả hai vấn đề đã không được giải quyết: những phát ngôn về lãnh thổ của Trung Quốc rất thất thường, mâu thuẫn, và trong hoạt động thực tiễn, Trung Quốc đã gây xung đột với hầu khắp các nước, trong đó đã gây chiến tranh biên giới với Ấn Độ, Miến Điện, Afghanistan, Liên Xô, Mông Cổ, Việt Nam, nghiêm trọng nhất là chiến tranh Trung - Ấn 1962, Trung - Xô 1969 và Trung - Việt 1979. Không nghi ngờ gì nữa, tình trạng “vị thành niên” về mặt lãnh thổ của Trung Quốc vẫn còn tồn tại, cả bên trong lẫn bên ngoài, và trong tình hình thế giới hiện đại, Trung Quốc vẫn là nước phải gấp rút hoàn thành nhiều công việc về lãnh thổ phức tạp, vấn đề là họ sẽ hoàn thành theo hướng nào. Phải nói rằng trong thời kì Trung Hoa Dân quốc và thời kì Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tồn tại, người cầm quyền của các nhà nước này đã, vì nhiều nguyên nhân, mở rộng địa bàn kiểm soát ra một số vùng đất không thuộc lãnh thổ Trung Quốc trước kia, và trong cuộc chiến tranh Trung - Ấn, Trung Quốc đã chiếm một vùng đất khá lớn vốn trong truyền thống thuộc quyền kiểm soát của Ấn Độ. Ai cũng biết Trung Quốc vẫn còn nan giải trong việc hợp pháp hoá những vùng họ chiếm đóng trái phép đó. Có thể nói nhiều vùng khác trên đất Trung Quốc hiện thời không cùng lịch sử với vùng đất ổn định. Trong lịch sử, các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc bị áp bức, bị chà đạp, bị bóc lột và bị coi rẻ, bị làm nhục. Số phận các dân tộc ít người ở Trung Quốc hiện nay cũng đang chưa thoát khỏi tình trạng nạn nhân của tệ phân biệt chủng tộc đó và cuộc đấu tranh cho sự hoà hợp bình đẳng giữa các dân tộc vẫn còn là vấn đề thời sự Trung Quốc hiện nay.


    II. Chủ nghĩa duy tâm của một quan niệm về lãnh thổ

    Như phần trên đã trình bày, lãnh thổ thực của Trung Quốc rõ ràng là mâu thuẫn gay gắt với quan niệm của những kẻ đã vẽ ra những tấm bản đồ kỳ dị bao gồm cả Đông Dương, cả Triều Tiên, quần đảo Riukiu của Nhật Bản, Mông Cổ, những vùng đất của Thái Lan, Miến Điện v.v. như nhiều tài liệu cho thấy, một vùng đất gấp một lần rưỡi lãnh thổ thực của Trung Quốc. Mà không chỉ bản đồ, những tuyên bố trắng trợn của người cầm lái vĩ đại và nhiều người cầm lái khác ở Bắc Kinh như “mục tiêu của chúng ta là toàn thế giới”, “mục tiêu gần nhất” là Đông Nam Á v.v. Cũng như những hoạt động của nhà nước Trung Hoa ba mươi năm vừa qua mà nổi bật là chiến tranh biên giới và việc sử dụng đội quân thứ năm - Hoa kiều - đã không thể khiến ai còn nghi ngờ về chủ đích bành trướng và sự sốt sắng của một kẻ đến muộn đầy cuồng vọng. Những tấm bản đồ được in ra hàng triệu bản, in nhiều lần, hẳn không phải được vẽ ra một cách tuỳ hứng, thiếu sự kiểm tra của nhà nước, nhưng lý trí lành mạnh của thế giới hiện đại lại không tin được rằng nó được vẽ ra một cách tỉnh táo. Và người Việt Nam chân chính nào lại không căm giận khi thấy đất nước mình bị khuôn vào trong cái thiên hạ tưởng tượng kia? Thế nhưng, có điều trong phát ngôn, những tham vọng lãnh thổ lại được nêu lên quá “chân thành” khiến cho ta phải nghĩ rằng những cái loa ấy tự nó không cảm thấy vô lý. Quan niệm đó là gì vậy?


    1. Sự phát triển của một quan niệm về lãnh thổ


    Ở Trung Quốc mặc dù có biên giới rất muộn, song ý thức về lãnh thổ lại có từ rất sớm. Quan niệm về lãnh thổ ở đây xuất hiện từ nhu cầu ruộng đất, từ nhu cầu định canh, định cư của dòng họ, và dần dần theo thời gian nó được mở rộng không gian sang cả cộng đồng, tức sang các “hầu quốc” và cuối cùng sang cả “thiên hạ”. Từ thời tiền sử, trên lưu vực hai sông Hoàng Hà và Trường Giang đã có mật độ cư dân lớn nên việc tiến hành thôn tính đất đai, nô dịch các lãnh thổ xa lạ đã manh nha khá sớm. Nhưng muốn làm được điều đó thì cần phải có một nhà nước thống nhất, một chính quyền tập quyền mạnh. Về mặt lãnh thổ, sự thống nhất ấy bao gồm hai vùng đất dân cư cơ bản là lưu vực hai con sông Hoàng Hà và Trường Giang ở Trung Quốc, thống nhất và tập quyền được tạo ra kèm theo sự thừa nhận uy quyền của một người đứng đầu kiểu Nghiêu, Thuấn. Người đứng đầu phải là “bậc hiền đức” có khả năng thoả mãn được yêu cầu giữ yên trật tự xã hội để cho “muôn dân trăm họ theo nghề nông tang”. Đến lúc cả hai lưu vực Hoàng Hà và Trường Giang đã được thống nhất, một nhà nước chuyên chế ra đời, trải qua các triều đại Hạ, Thương, Chu, một khái niệm cơ bản phản ánh sự tập trung quyền lực tuyệt đối vào trong một dòng họ với người đứng đầu của nó xuất hiện là khái niệm “thiên tử” (“Thiên tử trị thiên hạ”).


    Sự tuyệt đối hoá quyền lực của người đứng đầu, “thiên tử”, đã tha hoá ý thức cộng đồng thành ý thức độc quyền mang nặng màu sắc thần quyền: vua là chúa tể của tất cả.


    Tập quyền tất yếu gắn với bạo lực. Bạo lực đối nội và đối ngoại. Trên thực tế, hầu hết các ông vua sáng nghiệp của các triều đại ở Trung Quốc đều là các tướng lĩnh, có sức mạnh quân sự vô địch. Khi thanh toán được các thế lực đối lập, lên ngôi hoàng đế, tự cho mình là “thiên tử” và áp đặt ý chí của mình cho quần dân của mình và cho cả “thiên hạ”.


    Trong quan hệ đối ngoại, Trung Quốc cổ đại biệt lập với các vùng văn minh lớn khác. Khi xung quanh là các bộ tộc chưa ngang bằng về mặt văn hoá, trong giai cấp thống trị Trung Quốc sớm nảy sinh một tâm lý dân tộc chủ nghĩa, xuyên tạc, bóp méo ý nghĩa tích cực của văn hoá Trung Quốc cổ đại bằng những đối lập Hoa Hạ - Man Di. Tâm lý kì thị dân tộc ở Trung Quốc xuất hiện sớm nhất thế giới, có tuổi thọ lâu dài nhất, có ảnh hưởng dai dẳng, đa tạp nhất thế giới. Chưa bao giờ có quan hệ bình đẳng giữa các đế chế Trung Hoa với nhà nước của các quốc gia láng giềng, vì thế, không có một công ước lãnh thổ nào - theo đúng ý nghĩa khách quan, bình đẳng của từ này - được tạo ra, nói cách khác, ý thức pháp quyền về lãnh thổ đã không tồn tại ở khu vực này trong lịch sử. Điều này khác hẳn tình hình đã xảy ra ở châu Âu hay châu Mỹ, cũng khác tình hình ở châu Phi.


    Vì tất cả những lý do đó, trong cách hình dung chủ quyền lãnh thổ trong giai cấp thống trị Trung Quốc xuất hiện một khái niệm sở hữu đặc biệt: Khái niệm “thiên hạ”.


    Chữ “quốc” trong ngôn ngữ Trung Quốc vừa là khái niệm “quốc gia” (nước), lại vừa không phải theo cách hiểu ngày nay, và chữ “thiên hạ” cũng không phải là “toàn thế giới”. Giữa các cặp đó có những nét tương đồng mà cũng có những nét dị biệt - những nét dị biệt này giúp ta hiểu Trung Quốc. Đã có nhiều người nhận xét rằng người Trung Quốc không xác định rõ đâu là nước của mình, và cái tên “Trung Quốc” không phải là tên nước. Vậy “thiên hạ” là gì? Của ai?


    Trước hết “thiên hạ” là Hoa + Di. “Hoa” là phần đất, phần người người ổn định như đã nói trên. “Di” là các dân tộc, bộ tộc, quốc gia không nằm trong sự kiểm soát trực tiếp theo chế độ quận huyện của Trung Quốc. Được thiết lập trên cở sở một trung tâm văn minh (Hoa Hạ) nhà nước chuyên chế Trung Hoa coi thần dân của mình là Hoa, Hạ, khiến những con người vốn không ngạo nghễ, kiêu căng - thậm chí hiền lành, có lúc tưởng như nhu nhược nữa - nhiễm phải cái bã tự tôn dân tộc đến lố bịch, đáng nguyền rủa. Đề cao văn hoá Hoa Hạ là phương thức lợi dụng uy tín dân tộc để khẳng định thế lực và uy tín của nhà nước chuyên chế. Chính sự bóp méo, xuyên tạc, lăng nhục nền văn minh Trung Quốc theo cách đó đã trở thành tâm lý thường trực, - và vì đã trở thành tâm lý thường trực nên lý luận sẽ rất khó thanh toán - ở trong con người của những kẻ ngoi lên địa vị cầm quyền ở Trung Quốc, và đến lượt nó, làm một cơ sở tâm lý dân tộc cho chủ nghĩa sô vanh Trung Quốc. “Bình thiên hạ” là nguyện vọng muôn thuở của các Hoàng đế Trung Hoa.


    Thiên hạ, theo cách hình dung đó, trước hết là, và chủ yếu chỉ là, vùng lưu vực hai con sông Hoàng Hà, Trường Giang. Coi văn minh Trung Quốc là nền văn minh cao nhất, thậm chí là duy nhất, coi vai trò của thiên tử không phải là trị vì ở một khu vực nào mà là trị vì “bốn biển”, vô định hoá liệt quốc thành tất cả, coi mình là trung tâm, là Bắc thần ở yên một chỗ mà các sao khác - tức các quốc gia khác - tự họ có trách nhiệm phải chầu về, không biết đến sự tồn tại “đáng kể” nào khác so với sự tồn tại của ngôi “chí tôn”, khái niệm thiên hạ vì vậy đúng như nghĩa đen của nó - dưới trời - có tham vọng bao gồm toàn thế giới. Nhưng do tầm nhìn bị giới hạn bởi chính sách nội hạ ngoại di, bế quan toả cảng, không biết đến sự phóng khoáng cao nguyên hay sự nhộn nhịp của thành thị tư bản chủ nghĩa, nên “thiên hạ” một cách tự phát đã bị khuôn theo ý muốn cùng sự hiểu biết của vua chuyên chế và tầng lớp thống trị chứ không phải là “toàn thế giới” trong thực tế. Chính tư tưởng “thiên mệnh” thống trị trong học thuyết chính trị xã hội, thói quen tôn quân thân thượng đề cao và tuyệt đối hoá vai trò của một người đã trở thành tâm lý phổ biến, lưu cữu, kết hợp với cách quan niệm về một “thiên hạ” như vậy, cho nên cái kết cấu thiên hạ là của Trung Quốc, và Trung Quốc là của một người hình thành từ thời nhà Chu đã có lịch sử 3000 năm tồn tại.


    Bộ ba khái niệm Thiên hạ - Thiên mệnh - Thiên tử (thiên chức) là linh hồn của quan niệm về lãnh thổ Trung Quốc phong kiến. Đó không phải là ý thức cộng đồng, cũng không phải là ý thức pháp quyền về lãnh thổ, mà là ý thức thần quyền tồn tại dưới dạng vương quyền. Đó là chủ nghĩa duy tâm tôn giáo, ngu muội, mang đậm dấu ấn nguyên thuỷ, phản tiến hoá của một quan niệm về lãnh thổ. Trung Quốc phong kiến đã vậy, Trung Quốc của những kẻ khoác áo “cách mạng, mác-xit” hiện thời thì sao?


    2. Sự tiếp tục của một quan niệm lỗi thời


    Nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài nhận xét rằng những vùng bị khuôn vào trong lãnh thổ Trung Quốc thường là những vùng trong lịch sử có thời kì đã bị phong kiến Trung Hoa thống trị, khuất phục buộc phải triều cống. Không hoàn toàn như vậy: Nhật Bản cũng đã có thời xưng thần, sao chỉ có một quần đảo Riukiu bị vẽ vào bản đồ Trung Quốc, và những vùng đất rộng lớn thuộc lãnh thổ Mông Cổ, Liên Xô, rồi khu vực Đông Nam Á thì sao? Chưa nói đến sự mơ hồ trong tri thức địa lí, thì ngay quan niệm đã chi phối để vẽ nên những tấm bản đồ đó, cùng với nhiều phát ngôn của “người cầm lái” và những “người cầm chèo” khác của tập đoàn lãnh đạo Bắc Kinh cũng cho thấy rằng họ không những không xoá đi cái “thiên hạ” lỗi thời kia, ngược lại, họ còn tìm mọi phương tiện hiện đại để mở rộng nó. Khi Mao Trạch Đông nói “lẽ dĩ nhiên, tôi là người kế thừa sự nghiệp của các hoàng đế Trung Hoa trước kia”, người ta không nghi ngờ gì về sự hiện diện của giấc mơ ba ngàn năm ấy.


    Các tác giả của những tấm bản đồ kia đã không chọn một thời điểm lịch sử cụ thể nào cả, dù là thời điểm huy hoàng nhất của đế chế Trung Hoa, để tạo dựng nên chúng, mà chúng được vẽ ra theo lối phiếm sử, bởi một lẽ theo từng triều đại, Trung Quốc phong kiến có thể buộc thần phục được những vùng khác nhau, nói khác đi, nếu chiếu lên màn ảnh theo lối lược sử các tấm bản đồ kia - cũng vẽ theo cách nghĩ của các tác giả nọ nhưng lại theo lối lịch đại - thì người ta nhận thấy một con biến hình trùng có cái nhân không đổi, nhưng bốn bên co duỗi lồi lõm liên tục. Các tác giả của cái lãnh thổ tưởng tượng kia đã đóng đinh lịch sử lại theo cách như vậy.


    Như đã nói, nhìn toàn cục, chưa lúc nào các hoàng đế, các triều đại Trung Quốc có ý thức định ra biên giới để phân biệt lãnh thổ họ với các nước khác. Vạn lý Trường thành là một phòng tuyến chứ không phải đường biên giới. Trừ những chỗ phải luôn luôn tạo ra những điểm phòng thủ, những quan ải đồn thú v.v. thì còn có thể coi là những “mốc” biên giới, còn nói chung Trung Quốc thời phong kiến không tự cắm mốc cho mình. Hiện tượng bỏ ngỏ toàn tuyến biên giới như vậy phù hợp với quan niệm của họ về lãnh thổ mà chúng tôi đã chỉ ra ở trên. Tuy nhiên biên giới được tạo ra đâu phải vì họ muốn.


    Thực ra có một sự ổn định tương đối nhưng tự phát trong lịch sử về các đường biên giới này. Với các nước phụ thuộc, khi đã tiến hành đấu tranh giải phóng hay do hoàn cảnh thuận tiện mà giành được độc lập dân tộc, việc xác định biên giới rạch ròi với Trung Quốc thời đó có ý nghĩa sống còn, và chúng ta đều biết tuyên ngôn độc lập của Lý Thường Kiệt là một tuyên ngôn về lãnh thổ. Đối với những vùng không hình thành những quốc gia hoàn chỉnh như vùng các dân tộc thiểu số trên đất Trung Qốc ngày nay, hay đối với những vùng vì điều kiện tự nhiên và khả năng không phải lo đối phó thì việc vạch ra một đường biên giới lại trở nên không cần thiết và thậm chí, là không thể chấp nhận. Còn trên thực tế những thực trạng địa lý tự nhiên đã trở thành đường biên giới tự phát. Quan niệm về một giới hạn địa lý đối với các vua chúa vì vậy lại càng không tồn tại.


    Mệnh đề trơ trẽn “thiên tử có trách nhiệm thống trị thiên hạ” đã trở thành nguyên lý ổn định đồng thời còn có lý do tồn tại do sự thiếu hiểu biết đối với thế giới bên ngoài như đã nói qua ở trên. Cho đến đầu thế kỉ XIX, giữa Ấn Độ và Trung Quốc không có sự hiểu biết xác đáng về nhau. Cả vùng Đông Nam Á, rồi tất cả các vùng khác đều bị liệt chung vào hàng “Nam Man, Bắc Địch, Đông Di, Tây Nhung”. Sự ngăn cách thông tin với bên ngoài khiến cho sự hiểu biết của các nhà nho và giới thống trị ở Trung Quốc về sự tồn tại của một Trung Á Hồi giáo, một nước Nga Sa hoàng, một châu Âu trung cổ rồi châu Âu tư bản chủ nghĩa cũng như sự hiểu biết của họ đối với các nước kế cận đều quá ít ỏi, lệch lạc, sặc mùi dân tộc chủ nghĩa. Khi vua nhà Thanh gửi thư cho Tổng thống Pháp chẳng hạn, đã viết là “Hoàng đế nhà Thanh gửi tổng đốc nước Pháp” (!) và khi các nước phương Tây tư bản chủ nghĩa ồ ạt xông vào xâu xé đất nước, các đại thần Trung Quốc của vua Quang Tự còn bĩu môi chê bai sự kém cỏi của rợ Tây Dương, vì đối với họ, rợ Tây Dương chẳng qua cũng là “Di, Địch” đã biết.


    Từ xa xưa, các vua chuyên chế Trung Quốc tâm niệm thiên hạ là của mình, cho nên “Lễ nhạc, chinh phạt tự thiên tử xuất”. Vua Trung Quốc đã tự cho mình độc quyền về văn hoá và bạo lực. Lịch sử nhan nhản những câu chuyện “điếu phạt”, “chinh tru” của các vua chúa Trung Quốc, mà những lý lẽ chủ yếu nếu xét theo tiêu chuẩn hiện thời là can thiệp thô bạo, trắng trợn, vô lý vào công việc nội bộ của các nước khác thì thời đó được coi là hợp lý, hiển nhiên. Tuy nhiên sức mạnh của một thiết chế chuyên chế Trung Quốc bị giới hạn nhiều mặt không thể liên tiếp phát động chiến tranh cũng như không thể tiến hành triệt để cuộc chiến tranh đã phát động. Vì vậy họ tạo ra một thứ “uy đức”, một thứ “ân huệ” làm hai cây cà kheo chủ yếu để đứng cao hơn thiên hạ, khiến các nước ngoài thần phục, triều cống lệ thuộc, chứ không thể kiểm soát, quản lý như đối với vùng “Hoa Hạ” được. Cũng vì vậy mà gây tâm lý thần phục Trung Quốc lại là thủ đoạn kỳ thị nhằm mục đích khiến các dân tộc láng giềng, quốc gia láng giềng thấy mình yếu kém hơn, “man rợ” hơn, phải thần phục thiên tử. Tâm lý này không phải không nặng nề: cứ xét thái độ vua tôi nhà Nguyễn thì rõ. Thế nhưng ngay cả thời kỳ phong kiến, dù ngạo nghễ coi mình là “thiên triều”, các triều đại Trung Quốc cũng buộc phải chấp nhận sự tồn tại của các quốc gia khác và lệ triều cống ba năm một lần không phải thường xuyên giữ được. Cho nên, cách vẽ bản đồ kia cùng với những lời tuyên bố đã cho thấy nhà cầm quyền Trung Quốc còn khẳng định tham vọng của họ mạnh mẽ hơn cả các hoàng đế cũ.


    Khi bị lôi cuốn vào quỹ đạo của thế giới hiện đại, bắt buộc phải nhận thức sự tồn tại “đáng kể” của các cường quốc tư bản chủ nghĩa, và sau này là Liên Xô mà họ coi là “đế quốc xã hội” cũng như hệ thống xã hội chủ nghĩa mà họ bảo là chư hầu của Liên Xô, chấp nhận một cách uất ức tính chất thấp kém của sự phát triển lịch sử của mình, các giới cầm quyền thời kỳ cận đại ở Trung Quốc buộc phải quan niệm lại về lãnh thổ. Rõ ràng thiên hạ không phải là của một thiên tử, trị vì theo một thiên chức nào hết, nhưng “mệnh đề đau khổ” này được tiếp thu quá chậm chạp. Một khi “mệnh trời” không còn nữa, tính chất ý chí luận đã kịp thời chen vào, và tham vọng truyền kiếp của các đế chế Trung Hoa xưa được sống lại trong những bộ xống áo mới, ngôn từ mới, được nuôi dưỡng bằng những món ăn mới. Từ “mệnh” đã diễn ra một quá trình phiếm thần hoá mà thành ý chí luận. Cái lõi của vấn đề trước sau không đổi, nó tồn tại dai dẳng, lưu cữu và được mạ lên bằng rất nhiều bùa chú hiện đại nên khó nắm bắt hơn, mà cũng khó tin hơn. Nhưng cứ đọc lại những tuyên bố về vai trò Trung Quốc và cách mạng Trung Quốc, do chính người Trung Quốc phát ngôn, sẽ không thể nào coi cái “thiên chức” đáng kinh tởm kia đã tuyệt nọc.


    Tuy nhiên, mâu thuẫn truyền đời giữa tham vọng và thực lực ngày càng hành hạ giày vò những kẻ phản động đang nắm quyền ở Bắc Kinh một cách dữ dội hơn, và trong phát ngôn cũng như trong hoạt động thực tiễn, họ bày ra lắm điều oái oăm, mâu thuẫn khiến cho nhiều người đã không thể hiểu đúng họ, từ đó coi họ như quái trạng của thế giới hiện đại. Sẽ không có gì đáng ngạc nhiên nếu nói rằng họ không vẽ vào bản đồ của mình toàn thế giới là do thực lực,vì lý trí tối thiểu, nhưng tham vọng họ không vẽ ra thì chưa hề “phôi pha”. Thí dụ trong trong quan hệ với Nhật Bản, trong thực tế quân xâm lược Trung Quốc chưa bao giờ đặt chân lên được đất nước này. Ngược lại từ thế kỷ XIX trở đi, Nhật Bản đã nhanh chóng bước vào quỹ đạo của thế giới hiện đại, trở thành cường quốc tư bản chủ nghĩa, một đế quốc duy nhất ở châu Á. Sự thực lịch sử đó cùng với những nỗi nhục quân sự khi Nhật Bản tiến công chiếm đóng một phần lớn lãnh thổ Trung Hoa vào thời gian chiến tranh thế giới thứ hai khiến cho những người cầm bút “thẹn thò” không dám khuôn Nhật Bản vào lãnh thổ giả định kia của họ, mặc dù họ vẫn thèm thuồng, “xâm lược bằng bản đồ” quần đảo Riukiu. Cả Nội, Ngoại Mông, cả vùng Trung Á Liên Xô đều bị coi là Di, Địch cũ và vì thế với họ không có chỗ nào “vô lý” khi vẽ tấm bản đồ kia.


    Đến đây có thể coi là chúng ta đã cắt nghĩa được “câu chuyện về những tấm bản đồ Trung Quốc” cùng những tuyên ngôn lãnh thổ của họ. Tính chất duy tâm, lạc lõng, phản động của quan niệm đó thật rõ ràng nếu như chúng ta có một cái nhìn biện chứng đối với sự vận động của lịch sử xã hội nói chung, của vấn đề lãnh thổ nói riêng.


    Lịch sử phát triển của nhân loại nói chung đã đi từ ý thức cộng đồng về lãnh thổ đến ý thức pháp quyền, trong đó ý thức thần quyền chỉ là yếu tố đèo bòng gắn với quyền lợi của giai cấp thống trị. Đường biên giới của các quốc gia hình thành trong lịch sử là kết quả của rất nhiều những nguyên nhân phức tạp, nhưng càng ngày càng có xu thế ổn định. Sự chấp nhận của hai quốc gia tiếp cận nhau về đường biên giới giữa họ và được xác lập thành văn bản chính là ý thức pháp quyền đó là sự kiện có tính phổ biến toàn thế giới, nói cách khác, đó là tất yếu của lịch sử. Kết hợp giữa quyền lợi các quốc gia với thực trạng biên giới trong lịch sử là nguyên tắc chung để hoạch định biên giới và đã trở thành tiêu chuẩn, luật pháp quốc tế. Tôn trọng nguyên tắc này chính là sự đảm bảo đối với hoà bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc của thế giới hiện đại. Chính những người có trách nhiệm trong giới cầm quyền nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã rất nhiều lần hứa cam kết tôn trọng nguyên tắc này.


    Chủ nghĩa Lenin lần đầu tiên trong lịch sử đã đề xuất và vận dụng thành công nguyên lý quyền dân tộc tự quyết. Tất cả các đảng và các nhà nước tự coi mình được tổ chức theo nguyên tắc Mac-xit Lê-nin-nit không được quên điều đó. Những xung đột, tranh chấp hay quyền lợi lịch sử giữa các quốc gia trong hoàn cảnh thế giới hiện đại đều phải được giải quyết trên nguyên tắc thương lượng hoà bình.


    Thế nhưng, thật mỉa mai, những kẻ tự xưng là cộng sản, là cách mạng, lại ôm ấp một quan niệm lạc hậu - lạc hậu hơn cả thời trung cổ châu Âu - về lãnh thổ như vậy. Theo gót của nghĩa đế quốc nhưng lại muộn mằn, những kẻ cầm quyền phản động ở Bắc Kinh đã hành động điên khùng, phiêu lưu. Họ lần lượt thay bạn đổi thù, chĩa mũi nhọn về bất cứ ai nếu đối tượng đó ngăn chặn cuồng vọng của họ, bằng một cái mũ chụp là “phản cách mạng” là “xét lại” trong khi họ hợp tác với tất cả các lực lượng phản động nhất, phát xít nhất, bị cả loài người tiến bộ phỉ nhổ. Khi đã tự lột truồng mình ra như vậy, những kẻ ngông cuồng ấy đã làm cho thế giới thấy rõ rằng “mục tiêu của chúng ta là toàn thế giới” (Mao Trạch Đông) - dù là thế giới bị hoang tàn vì chiến tranh hạt nhân, toàn bộ văn minh vật chất và tinh thần của nhân loại thành tro trong ngọn lửa chiến tranh do họ châm ngòi và mượn tay kẻ khác châm ngòi trên thế giới. Sau đó thế giới sẽ được làm chủ bởi một lũ ngợm chui lên từ địa đạo! Đó là lôgich khắc nghiệt nếu họ thực hiên được lời họ phát ngôn. Đủ hiểu vì sao họ mù quáng và trở nên bí hiểm trước thế giới hiện đại.


    Để kết thúc, cần phải nói rằng, nếu theo cái lôgich đòi đất kia thì các hoàng đế La Mã - nếu có người thừa kế như các hoàng đế Trung Hoa - sẽ đòi lại cả châu Âu và đế quốc Thổ Nhĩ Kì cũng không phải là một nước bé như hiện nay. Mông Cổ lại phải cử người sang “làm quan” tận Đa-nuýp, tận Vũ Hán, các nước Nga Sa hoàng, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… đều vẽ lại bản đồ lãnh thổ của mình, trong đó nước Anh, nước Pháp sẽ “hời” hơn cả. Nếu thế, thì còn đâu sự tồn tại cuả cái “Trung Hoa huy hoàng” vì nó phải lần hồi là ‘thuộc quốc” của Mông Cổ xưa kia, của bộ tộc Mãn Thanh, của Anh, của Nhật Bản… và cũng nếu thế, cần có chiến tranh liên miên, cần “cách mạng không ngừng” như cách họ hiểu khái niệm này của Mác, cần quay lại thời Trung cổ, thời cận đại để chịu nhục và tiến hành chiến tranh giải phóng? Phải chăng đó là viễn cảnh đáng mừng của “thế giới đại loạn”? Nếu thế Trung Quốc làm sao có thể “an”, làm sao ung dung “toạ sơn quan hổ đấu” và “bốn hiện đại hoá”?


    Tác giả: Phó giáo sư Tiến sĩ Trần Ngọc Vương (1955), Đại học Quốc gia Hà Nội
    Nguồn: tạp chí văn hóa Nghệ An
    ...

    [1]Xem, chẳng hạn Philippe Richer, La Chine et le tiers monde, Payots. Paris. 1971
    [2]Sử ký Tư Mã Thiên, tập I, Nxb Văn học, tr. 45
    Nguồn: Tạp chí Triết học, Viện Triết học, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội, Số 4/1980, tr. 99 - 118.

  3. #3
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Bài 2: VIỆT NAM DƯỚI BÓNG CỦA TRUNG HOA

    M. COUGHLIN


    Mặc dù nhiều sách vở đã được viết về các quan hệ của Trung Hoa đối với các láng giềng của nó tại phía bắc, tây và đông, tương đối có it tài liệu nói về các quan hệ với phương nam. Các cuộc nghiên cứu như thế có thể mang lại nhiều sự tương phản và so sánh quý giá và sẽ là sự trợ giúp quan trọng trong việc xác định vai trò lịch sử của Trung Hoa cũng nhu các ý định hiện thời của nó tại Đông Nam Á.


    Chính sách truyền thống của Trung Hoa đối với các láng giềng phương bắc nằm ngoài Vạn Lý Trường Thành nói chung là một chính sách be bờ ngăn chặn (containment), chính sách của nó đối với các láng giềng phương nam là một chính sách chinh phục và sáp nhập. Việt Nam mang lại một trường hợp đáng chú ý một cách đặc biệt. Về mặt địa lý và văn hóa Việt Nam cống hiến một con đường hợp lý cho sự tiến bước liên tục của Trung Hoa xuống miền nhiệt đới và sự chinh phục của nó đối với toàn bộ phía đông bán đảo Đông Dương. Có một lúc điều này xem ra như thể sẽ xảy ra. Nhưng sự việc đã không diễn ra như thế, và biên giới phía nam của Trung Hoa sau rốt đã được ấn định ở phía bắc Thung Lũng Sông Hồng. Như thế nào và tại sao mà Trung Hoa đã bị chặn đứng trên đường nam tiến của nó?


    Khi đó, một lần nữa, Việt Nam đã phải chịu nằm trong một thời kỳ kéo dài, dưới ảnh hưởng của Ấn Độ. Mặc dù phần còn lại của Đông Nam Á đã bị khuất phục trước ảnh hưởng đó, Việt Nam lại không bị; nó còn đóng vai trò nới dài văn hóa Đông Á xuống tận dưới mũi tận cùng của bán đảo, sáp nhập Vương Quốc Chàm vốn chịu ảnh hưởng của Ấn Độ Giáo trong tiến trình này. Tại sao Việt Nam vẫn ở trong khu vực ảnh hưởng của Trung Hoa trong khi phần còn lại của Đông Nam Á lại bị Ấn Độ hóa


    Và sau hết, đường lối quan hệ của Trung Hoa đối với Việt Nam trong quá khứ giúp chúng ta suy nghĩ như thế nào về tương lai của hai quốc gia này?


    Các quan hệ của Trung Hoa với Việt Nam có thể được chia gần như thành ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất, trước thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên, khi mà các sự tiếp xúc có tính cách ngẫu nhiên và không có các sự quy định của chính quyền; giai đoạn thứ nhì là từ thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên đến thế kỷ thứ mười sau Công Nguyên khi mà khu vực dần dà bị thôn tính và được xem là một phần của miền nam Trung Hoa; và giai đoạn thứ ba, từ thế kỷ thứ mười đến thế kỷ thứ mười chín là thời kỳ độc lập của Việt Nam, bị cắt ngắn trong thập niên 1880 vì có sự sáp nhập khu vực bởi người Pháp, là thời kỳ kết thúc việc khảo sát bởi của cuộc nghiên cứu này.


    Trước thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên, sự tiếp xúc chính yếu của Trung Hoa với khu vực là xuyên qua các nhà mậu dịch và các nghệ nhân là các kẻ đã chế tạo ra các kỹ thuật và sản phẩm tân tiến hơn của Trung Hoa cho dân chúng địa phương. Bằng chứng của sự tiếp xúc như thế được rút ra từ các khám phá hồi gần đây tại khu vực Đông Sơn ở Bắc Việt. Sự tiếp xúc như thế sâu xa đến đâu là điều chưa xác quyết được.


    Sau năm 200 trước Công Nguyên, các cuộc chinh phục của nhà Tần và tiền Hán vào miền nam Trung Hoa bao gồm cả bắc Việt Nam đã dẫn tới chính sách thuộc địa hóa bằng quân sự, sự khuyến khích các cuộc hôn phối dị chủng giữa binh sĩ Trung Hoa và phụ nữ bản xứ, và một sự kiểm soát được trì thủ một cách lỏng lẻo trên khu vực xuyên qua một hệ thống thổ tù (to ssu) cai trị với sự hợp tác của các tù trưởng bản địa. Văn hóa Trung Hoa bắt đầu thẩm thấu qua nhiều mức độ.


    Trong thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên với sự lật đổ vương quốc Nam Việt độc lập của viên tướng Trung Hoa, tên Triệu Đà (Chao To), khu vực này được nhập vào Trung Hoa và một chính quyền cứng rắn hơn đã được thành lập với sự cai trị trực tiếp của các tổng đốc Trung Hoa, tương tự nbư chế độ đương thịnh hành tại khắp miền nam Trung Hoa. Chính vào thời điểm này mà tiến trình Trung Hóa hóa lần đầu tiên được theo đuổi một cách chủ ý. Sau này nhà Đường tái thiết lập chế độ thực dân nông binh [vừa là binh sĩ, vừa canh tác nông nghiệp, chú của người dịch], một hình thức thực dân hóa đã đóng góp lớn lao vào sự truyền bá văn hóa cho dân chúng địa phương. Xuyên qua thời kỳ này một số lượng lớn các học giả đã đến tỵ nạn tại đây để tránh các xáo trộn chính trị thời nhà Hán và nhà Đường. Sau năm 180 sau Công Nguyên, nhiều người trong dân chúng địa phương thi đỗ các kỳ thi tuyển làm quan đã được phép phục vụ trong chính quyền và một lớp các nhà hành chánh quan lại bản xứ đã sớm được phát triển, không những chỉ phục vụ tại miền nam mà còn ở khắp nơi trong Trung Hoa.


    Sau đó dưới sự cai trị trực tiếp của Trung Hoa, tiến trình Trung Hoa hóa tác động mạnh mẽ nhất ở mức độ chính quyền và bắt rễ trước tiên vào các tầng lớp thượng lưu. Tuy nhiên, một vài yếu tố đã góp phần vào sự thẩm thấu xuống lớp nông dân:


    1. Sự áp đặt cố ý bởi các nhà cai trị Trung Hoa các tiêu chuẩn Trung Hoa về y phục, kiểu để tóc, sự tôn trọng các nghi thức tôn giáo, v.v…

    2. Sự thịnh hành của hôn nhân dị chủng, và chính sách thực dân bởi người Trung Hoa trong thời kỳ ban đầu.

    3. Sự kiện rằng các tầng lớp cai trị tại Việt Nam luôn luôn gần gũi dân chúng bởi vì đã không có các thị trấn quan trọng ngoài kinh đô hoàng triều và do đó họ đã phục vụ như các người hướng dẫn và cố vấn trong sinh hoạt thôn xã.

    4. Các sự tương đồng căn bản trong nền tảng văn hóa của Trung Hoa và Việt Nam có khuynh hướng thúc đẩy giới nông dân này tiếp nhận các khuôn mẫu văn hóa Trung Hoa. Cả hai đều là các nền văn hóa vùng đồng bằng sông ngòi trồng lúa nước với các bằng cớ lâu đời của tục thờ cúng tổ tiên và tín ngưỡng nơi linh hồn.

    5. Sự kiện rằng hệ thống chính quyền Trung Hoa như Conrad Bekker (1) đã nêu y kiến, không thể được du nhập từng phần nhỏ nhặt mà, để có hiệu quả, đòi hỏi sự chấp nhận toàn bộ cơ cấu văn hóa phức tạp của Khổng học: nền thư lại của công vụ, hệ thống giáo dục, hệ cấp xã hội, văn tự Trung Hoa v.v…

    Trong suốt thời kỳ này, đã có nhiều nỗ lực để lật nhào sự cai trị của Trung Hoa. Một cách đáng kể, đã có các cuộc nổi dậy của tầng lớp thượng lưu, được hướng dẫn bởi các địa chủ hay thành viên của hệ cấp cai trị -- có nghĩa, từ nhóm được Trung Hoa hóa nhiều nhất. Nhưng các cuộc nổi dậy này chỉ thành công trong giai đoạn ngắn, như trong năm 939 sau Công Nguyên, khi người yêu nước Ngô Quyền đã thành công trong việc đánh đuổi Trung Hoa và thiết lập triều đình nhà Ngô.

    Bởi thế, vào lúc người Việt Nam đủ mạnh để lật đổ Trung Hoa, họ đã trở nên Trung-Hoa -hóa một cách toàn triệt, và theo ý kiến của học giả Pháp, Henri Maspéro, một cách mỉa mai, người Việt Nam theo đó đã học hỏi được những gì họ cần biết để bảo vệ sự tự do của mình từ nước láng giềng và cố vấn văn hóa phương bắc. Mặc dù ý định của Trung Hoa là tháp nhập vào khuôn khổ của nó một tỉnh hạt khác, tương tự như các tỉnh tại miền Nam Trung Hoa, nó đã làm phát sinh một cách trái lại một dân tộc mới, đã thành công trong việc thích ứng hệ thống Trung Hoa hầu thiết lập sự độc lập riêng cho chính nó.

    Tuy nhiên, sự mất mát này không lớn lao như có thể nhìn thấy ở ngoài mặt, bởi vì Trung Hoa vẫn tiếp tục hành xử sự kiểm soát lớn lao về mặt chính trị và văn hóa trong khu vực. Trong năm 972, người sáng lập nhà Đinh đã nhìn ra sự khôn ngoan để gửi con trai mình [tức Đinh Liễn, chú của người dịch] hướng dẫn một phái bộ sang Trung Hoa mang theo tặng phẩm, đổi lại Trung Hoa đã thừa nhận họ Đinh [tức Đinh Bộ Lĩnh, chú của người dịch] làm Quận Vương của Giao Chỉ (tên Trung Hoa gọi Nam Việt), và con trai ông làm Tiết Độ Sứ An Nam Đô Hộ Phủ. Từ ngày đó trở đi, tập quán triều cống Trung Hoa theo định kỳ đã được xác định chắc chắn và Trung Hoa ở vào vị thế xây dựng hay phá bỏ một triều đại hay hoàng đế bằng việc tấn phong hay rút lại sự thừa nhận chính thức. Như tác giả Wein đã vạch ra, công cụ chính trị về tước phong và thứ bậc chuẩn cấp cho một chư hầu đổi lấy sự thừa nhận quyền chủ tể tượng trưng đã là một công cụ quý báu cho sự mổ rộng đế quốc mà không cần đến sức mạnh của vũ khí, đã được áp dụng bởi tất cả mọi triều đại Trung Hoa, và sự thành công của nó nhờ dựa vào văn hóa và văn minh Hán-Hoa nhiều hơn là vào bất kỳ uy lực quân sự nào. Ước muốn được bao gồm trong “vương quốc văn minh” trái với “lãnh địa man rợ” đã là một yếu tố có sức thuyết phục trong nền chính trị đế quốc Hán-Hoa.

    Các lợi điểm hiển nhiên của văn hóa Trung Hoa tiếp tục được thừa nhận và còn được nhấn mạnh hơn nữa. Nếu thời kỳ trước độc lập đã là một thời kỳ truyền bá văn hóa và tiến hóa đến mô thức Trung Hoa, thời kỳ từ thế kỷ thứ mười trở đi đã là môt giai đoạn tăng cường và bắt chước một cách kỹ lưỡng mô thức đó. Trong thời kỳ này, các triều đại về sau của Việt Nam đã không khác gì các triều đại của nhà Minh và nhà Thanh, đã có những nỗ lực được tập trung vào việc bắt chước và vĩnh cửu hóa các truyền thống quá khứ của Trung Hoa mà chỉ có rất ít tính nguyên chất và canh cải.

    Có thể nói khá yên tâm rằng Việt Nam đã trở nên Trung Hoa sau khi có sự ra đi của chính quyền Trung Hoa nhiều hơn trước nữa. Chính trong thời kỳ này mà đạo Lão và đạo Phật cũng như Khổng học đã được chính thức phát huy, mỗi tư tưởng đã được nhấn mạnh ở các thời kỳ khác nhau bởi các hoàng đế khác nhau, và bắt đầu thẩm thấu xuống mức làng xã. Tác giả L. Cadière (4) cho hay rằng không phải đợi mãi đến thế kỷ thứ mười bảy mới có sự lưu tâm đặc biệt đến việc bắt chước một cách chính xác các nghi thức và lễ tiết Trung Hoa tại triều đình. Giáo dục được cải thiện và khuyến khích, và hệ thống thi cử được khai triển. Hoàng Đế Lê Thánh Tông trong thế kỷ thứ mười lăm đã ban hành bộ luật Hồng Đức nổi tiếng, được soạn thảo sát với khuôn mẫu của Trung Hoa, nhấn mạnh đến các sự giáo huấn về đạo đức Khổng học và làm thối chí các tập tục thờ cúng thần linh của giới nông dân. Hoàng đế đã tán dương hệ thống thi cử và thiết lập phong tục cử hành lễ “vinh quy” của các sĩ tử ứng thí thành đạt quay về làng quê của họ.


    J. Przyluski (5), một học giả người Pháp, đưa ra sự mô tả về Việt Nam trong các thế kỷ thứ mười bẩy và mười tám như sau:


    Xã hội An Nam truyền thống được tượng trưng bởi sự đồng hiện hữu các định chế Trung Hoa và Việt Nam. An Nam đã vay mượn từ Trung Hoa hình thức chính quyền, nền thư lại hành chánh, các luật lệ về các quan chức, và danh xưng các quận hạt hành chánh của nó. Chỉ ở làng xã một sự tổ chức bản gốc đã được phát triển và duy trì. Hơn nữa, ảnh hưởng của Trung Hoa đã không dừng ở làng xã, nó đã thâm nhập vào mọi nơi: nó là một trong những yếu tố chính yếu để xác định sự tổ chức gia đình và chức nghiệp của một cá nhân.


    Ông kế đó đã tiến tới việc mô tả chính quyền như một chế độ quân chủ theo khuôn mẫu Việt Nam với hoàng đế như vị chủ tể chính trị và lễ nghi, cai trị xuyên qua một hội đồng các thượng thư và một hệ cấp thư lại được tuyển chọn bởi các kỳ thi chữ nghĩa như bên Trung Hoa và gồm cả một viện giám sát (ngự sử đài). Tầm quan trọng đặc biệt được gắn cho tiến trình giáo dục và hệ thống thi cử nhằm cung cấp một bậc thang cho các sĩ tử có tham vọng và khả năng, từ trường học ở làng xã lên đến quốc tử giám tại kinh đô.


    Làng xã Việt Nam được nhìn bởi các học giả Pháp là có tính chất độc đáo. Tuy nó có vẻ có khác biệt trong chi tiết, nhưng không cách biệt quá lớn về tinh thần so với khuôn mẫu của đối nhân Trung Hoa. Nó luôn luôn được hưởng một sự tự trị rộng rãi, có quyền tự quản theo các truyền thống đã được phát triển trong nhiều thế kỷ và thường có thể khác biệt với các truyền thống của ngay cả các làng xã gần cận. Nó có tính cách thống nhất không chỉ về địa bàn mà cả về thành phần của nó bao gồm cả các tổ tiên của các thế hệ đã qua và những vị thần linh khác bảo hộ cho làng xã. Tác giả Nguyễn Văn Thái (6) có nói rằng khi một người đề cập đến nguyên quán của mình tại Việt Nam, ông ta không nhất thiết nói đến nơi sinh ra của ông ta, mà là sinh quán của ông cố nội ông ta.


    Gia đình Việt Nam có vẻ trong phần lớn khía cạnh giống như gia đình Trung Hoa. Nó được tổ chức theo chế độ tộc trưởng và phụ hệ với nam nhân lớn tuổi nhất đứng đầu hệ cấp. Tuổi tác có tầm quan trọng lớn lao, cũng như lòng hiếu thảo và sự thờ cúng tổ tiên, được tin đã khai sinh trước khi người Trung Hoa đến. Hôn nhân được sắp xếp, chế độ thê thiếp được chấp nhận và tài sản được phân chia đồng đều giữa các con trai. Nguyên tắc của Khổng học về lòng hiếu thảo mạnh đến nỗi ngay trong thế kỷ thứ mười chín Hoàng Đế Tự Đức đã vâng lời mẹ ngài trong mọi điều nhỏ nhặt và không bao giờ dám nói cho mẹ biết về việc thua mất xứ Nam Kỳ.


    Nghệ thuật truyền thống của Việt Nam có nguồn gốc, sự hứng khởi và thường cả sự thực hành từ Trung Hoa. Các hoàng đế thường dùng các nghệ nhân từ Trung Hoa để sản xuất các công trình cho triều đình nếu các nghệ nhân địa phương bị xem là không đủ tinh thông trong các kỹ thuật của Trung Hoa. Những người khác được mang sang để dạy các kỹ thuật như thế cho nghệ nhân Việt Nam. Các nghệ nhân này đã trung thành với các kiểu mẫu Trung Hoa của họ, đến nỗi người ta nhìn trông thấy cây cỏ Trung Hoa, không được hay biết là có tại Việt Nam, đã được trình bày một cách kỹ lưỡng trong các tranh vẽ của Việt Nam. Đồ sứ men xanh da trời của Huế nổi tiếng ở triều đình không phải phát sinh từ Huế mà là từ Trung Hoa -- loại men được gọi là Men Xanh thời Nhà Minh. Tác giả Maspero (7) có viết: Không giống như Khmer, chúng ta không tìm thấy tại Việt Nam đền đài đáng gọi là thực sự cổ xưa, và việc vay mượn từ Trung Hoa quá nhiều đến nỗi gần như không thể xác định được đâu là nguồn cảm hứng nguyên thủy.” Nghệ thuật trung-hoa-hóa này vươn tới đỉnh cao nơi các lăng tẩm của các vị hoàng đế thế kỷ thứ mười tám và mười chín tại Huế, đã sao chép một cách tuyệt vời các kiểu mẫu Trung Hoa. Tuy nhiên, tính nguyên thủy của Việt Nam, theo lời tác giả Maspero, tự nó được biểu lộ nơi khung cảnh và sự sắp đặt các lăng tẩm này, đã mang lại cho chúng một bàu không khí khó tả của sự huyền bí, cái đẹp và sự tĩnh lặng.


    Kịch nghệ dân gian cũng được dập khuôn một cách mật thiết theo Trung Hoa với các đề tài Trung Hoa cổ truyền cùng sự đối xử với ngành hát tuồng. Giống như bên Trung Hoa, nghề diễn tuồng kịch bị khinh khi và khó có thể tuyển mộ các người đóng tuồng từ các gia đình lương hảo.


    Trong lãnh vực tôn giáo, Việt Nam đã noi theo chủ nghĩa chiết trung trong tôn giáo của Trung Hoa, với Khổng học, Phật Giáo, Lão (Đạo) Giáo và các sự thờ cúng thần linh đều chia sẻ sự tôn trọng ở các mức độ biến đổi. Không có cuộc nghiên cứu toàn diện nào được thực hiện về các sự hành đạo và các bài viết gần đây nhất dựa trên các bài viết của các học giả ban đầu của Pháp vốn có khuynh hướng nhấn mạnh đến các khía cạnh thờ thần linh của tôn giáo dân gian và đánh giá thấp ảnh hưởng của Trung Hoa. Nhưng các tục lệ thờ cúng thần linh bản xứ hiện hữu có chia sẻ nhiều đặc tính chung với các tục thờ cúng khắp miền Hoa Nam. Khổng học, cũng như ở Trung Hoa, thấm nhập mọi mối quan hệ xã hội, và cung cấp một khuôn khổ cho tục thờ cúng tổ tiên. Nội dung triết lý và ý nghĩa sâu xa hơn của nó đều được hiểu rõ bởi giới văn nhân trí thức (literati) Việt Nam, nhiều người trong họ đã là các triết gia quan trọng của Trung Hoa. Như tại Trung Hoa, Phật Giáo và Lão (Đạo) Giáo được nẩy nở và được chính thức cổ vũ ở các thời kỳ khác nhau, phần lớn đã thoái hóa thành ma thuật và phép phù thủy với các tăng, đạo sĩ ít được kính trọng trong cộng đồng.


    Về y khoa, Việt Nam cũng bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi Trung Hoa. Ngày nay, y thuật của Trung Hoa và bản xứ lẫn lộn vào nhau đến nỗi không thể nào tách biệt được chúng, và từ ngữ y dược Hoa Việt được dung để chỉ tất cả các y dược thuật trước thời tây phương du nhập. Một bác sĩ Việt Nam hàng đầu tại Hà Nội có mô tả hồi gần đây sự huấn luyện y khoa của ông như sau: “Giống như phần lớn các đồng nghiệp của tôi, tôi sinh ra từ một gia đình học thức thuộc văn hóa cổ điển. Gia đình chúng tôi đã hành nghề đông y qua tám đời. Đó là một trong những nét đặc thù trong nghề nghiệp chúng tôi. Đông y bao gồm các công thức được truyền từ cha đến con … trong 12 năm tôi đã học chữ Trung Hoa, sau đó trong tám năm cha tôi đã dạy cho tôi về y học cổ truyền … Chúng tôi đã bổ sung vào kiến thức thực nghiệm được để lại bởi tiền nhân bằng sự học hỏi các tài liệu khảo luận y học cổ xưa được viết bằng Hoa ngữ.” (8)


    Chỉ ỏ trong ngôn ngữ, tài năng bản xứ của Việt Nam mới tự chứng thực. Ảnh hưởng của Trung Hoa chế ngự trong chữ viết và tiếng nói ở bình diện chính thức, kéo dài cho mãi đến khi độc lập, tiếng Việt mới dần dà chiếm ngôi vị chủ yếu. Tác giả Paul Benedict đã gọi một cách hợp lý rằng Hoa ngữ là tiếng La Tinh và Hy Lạp của Viễn Đông, nơi mà tiếng Nhật, tiếng Hàn quốc, và tiếng An Nam đã trở nên trung-hoa-hóa y như các ngôn ngữ Âu Châu được la tinh hóa. Chính vì thế, mặc dù được tin là một giọng Á-Úc (Austro-Asiatic) và không thuộc gia đình ngữ hệ Hoa-Tạng (sino-Tibetan) , ngôn ngữ Việt Nam bao gồm nhiều từ được vay mượn từ Hoa ngữ. Cho đến thế kỷ thứ mười ba, mọi văn bản đều được viết bằng Hoa ngữ, nhưng vào thời điểm này một loại chữ viết mới, chữ nôm [bằng Việt ngữ trong nguyên bản, chú của người dịch], đã xuất hiện với sự kết hợp tài tình các chữ viết trong Hoa ngữ, gồm một thành tố tượng trưng cho ý nghĩa và thành tố kia cho sự phát âm theo cách thức mà phần lớn các chữ trong Hoa ngữ đã được chế tác, để viết thành các từ trong tiếng Viết. Một nền văn học bản xứ bằng ngôn ngữ này đã dần dà được phát triển, thí dụ nổi tiếng nhất là quyển Kim Vân Kiều, một thi phẩm được dựa trên một câu chuyện của Trung Hoa mà tác giả, Nguyễn Du, đã mang trở về từ Trung Hoa năm 1812 khi vói tư cách một vị quan cao cấp, ông được hoàng đế phái mang cống vật truyền thống đến triều đình Trung Hoa.


    Trong thế kỷ thứ mười bẩy, các giáo sĩ truyền đạo Âu Châu đã phát triển một văn tự dùng mẫu tự La Mã gọi là quốc ngữ [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch], đã mau chóng nhận được sự hưởng ứng và được dùng hầu như độc quyền ngày nay, mặc dù các người thuộc thế hệ lớn tuổi hơn hãy có thể còn viết bằng hán tự.


    Tuy nhiên, Hoa ngữ vẫn tiếp tục là ngôn ngữ viết của triều đình cho mãi đến khi có sự chinh phục của Pháp, và các tác phẩm được viết cả bằng chữ nôm và quốc ngữ đều hoàn toàn không được đếm xỉa tới, đến mức bản tiểu sử chính thức của Nguyễn Du chỉ đề cập phớt qua tác phẩmKim Vân Kiều của ông.


    Mặc dù Việt Nam trong nhiều cung cách là một mô hình sao chép thu nhỏ của Trung Hoa và vẫn tiếp tục bị ảnh hưởng bởi Trung Hoa hơn là Nhật Bản và Hàn quốc, nó không có cách nào là một bản sao nguyên văn Vương Quốc Trung Tâm [tức Trung Hoa, chú của người dịch]. Mỗi một hạng mục hay tập hợp các mục khoản được chấp nhận, đã được sửa đổi hay tái giải thích theo các nhu cầu hiện tại và quá khứ độc đáo của Việt Nam. Chính vì thế, mặc dù Việt Nam có vẻ đã vay mượn trong luật pháp hệ thống gia đình theo Khổng học của Trung Hoa, tôn trọng nghiêm ngặt hệ thống theo đẳng cấp về lòng trung thành, địa vị của phụ nữ Việt Nam thì rõ ràng cao hơn địa vị của người phụ nữ trong truyền thống Trung Hoa đối chiếu. Về vấn đề y phục, người Việt Nam đã đưa ra một số sự thích nghi. Mũ giống như băng quấn đầu của người miền bắc hất về phía sau, có lẽ là khăn đóng mà Maspero cho hay đã được mang sớm nhất bởi các cư dân trong khu vực, khi có sự tiếp xúc đầu tiên với Trung Hoa. Áo dài hay áo ngắn của quan lại trông rất giống như của Trung Hoa, nhưng váy xẻ vạt dài tung bay của phụ nữ với chiếc quần bên trong có lẽ cho thấy một số ảnh hưởng của Ấn Độ hay Hồi Quốc.


    Mặc dù các thang thuốc chữa trị của Việt Nam phần lớn có nguồn gốc từ Trung Hoa, người Việt Nam có khuynh hướng chuyên dùng thảo mộc trong khi người Trung Hoa dùng nhiều vật liệu pha chế động vật và khoáng sản. Trong lãnh vực nấu nướng cũng thế, mặc dù người Việt Nam ăn bằng đũa và thức ăn của họ thì khó phân biệt được với đồ ăn của Trung Hoa đối với một người tây phương bình thường, đã có nhiều sự khác biệt và các sự biến cải theo khẩu vị địa phương. Nước chấm căn bản – nước mắm [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch] món gia vị trong mọi bữa ăn thì đặc biệt của Việt Nam và hoàn toàn khác với nước tương, nước chấm gia vị tiêu chuẩn của Trung Hoa.


    Bất hạnh thay, không cuộc nghiên cứu được tổ chức nào để tìm hiểu về bản chất và sự xuất hiện của nhiều phần tử Trung Hoa khác nhau trong văn hóa Việt Nam và vì thế hầu như không thể truy tìm lịch sử các sự phát triển này như các học giả đã từng làm đối với Nhật Bản và Hàn Quốc. Tuy nhiên, điều rõ rệt từ bằng cớ được cung cấp rằng lịch sử Việt Nam trong khía cạnh này thì hoàn toàn khác biệt với Nhật Bản, nơi mà văn hóa nhà Đường đã được chấp nhận thực sự trong toàn thể [in toto, tiếng La Tinh trong nguyên bản, chú của người dịch], và được uốn nắn bởi kinh nghiệm phong kiến của nó và từ đó trở đi đã tiến hóa thành một cái gì độc đáo và riêng biệt của Nhật Bản. Ảnh hưởng kế tiếp của Trung Hoa trên Nhật Bản thì rời rạc và sự chấp nhận của Nhật Bản các yếu tố văn hóa Trung Hoa sau thời nhà Đường thì có tính chất tuyển chọn cao độ và không có cách nào làm thay đổi được nền văn hóa đã tiến hóa.


    Sự tiếp xúc của Việt Nam với Trung Hoa tuy thế có tính cách liên tục. Chính vì thế, sự tiến hóa văn hóa của nó song hành một cách chặt chẽ với văn hóa của chính Trung Hoa với các sự thay đổi trong chi tiết giấy tờ hành chánh, sự giải thích tôn giáo, phương pháp đánh thuế, và với một khuynh hướng tiệm tiến đến chủ nghĩa bảo thủ và truyền thống mạnh như, nếu không phải còn mạnh hơn, của Trung Hoa. Điều này được tiêu biểu một cách mạnh mẽ trong phản ứng của Hoàng Đế Minh Mạng đối với phương Tây hồi cuối thế kỷ thứ mười chín. Là một đệ tử nghiêm nghị của Khổng học và một kẻ ngưỡng mộ văn hóa Trung Hoa, ông đã ngược đãi các giáo sĩ truyền đạo tây phương và các tín đồ Thiên Chúa Giáo một cách tàn nhẫn và đã từ chối ký kết một hiệp ước thương mại với Pháp. Trong nhiều khía cạnh, ông còn mang vẻ Mãn Châu hơn người Mãn Châu và chắc chắn sự đáp ứng của hai đế quốc này trước sự tiếp xúc với Tây phương thì tương đồng một cách nổi bật.


    Giáo Sư Mus (10) đã tổng kết về vai trò của nhà nước Việt Nam trong sự mô tả như sau:


    Nhà nước là kẻ phối hợp. Mục tiêu của nó là ngăn cản không cho các cộng đồng nhỏ hơn lạc hướng, và các “đại thần thượng thư ” (từ này không mang nghĩa nó có ở Âu Châu, chỉ các bộ trưởng) chính yếu là một loại pháp đình cao cấp ngồi phán xử về các sự xa rời mô thức Khổng học. Do đó nhà nước tuyển mộ tất cả nhân viên của nó trừ các chức vụ thấp nhất từ giới văn nhân trí thức, là những người có sự học tập hoàn toàn theo Khổng học, theo kinh thư và các lời bình giảng của chúng.


    Trung Hoa cung cấp một sự mô tả loại hệ thống này trong một sưu tập phong phú các văn phẩm và lời chú thích. Xã hội là nội dung của văn học của chính nó và đó là những gì được kỳ vọng của chính nó.


    Nói rằng sự giáo dục các quan chức có tính cách văn chương tức là nói rằng nó có tính cách xã hội trong một số ý nghĩa, nhưng nó không được hướng vào tương lai, như các khoa học xã hôi Tây phương đã làm. Đã có sự quan tâm trong việc cải thiện hiện tại, chắc chắn là như thế, nhưng lý tưởng sẽ đạt được lại nằm trong quá khứ. Bởi vì các sự xấu xa hiện tại phát sinh do sự lơ là khỏi mô thức Khổng học, sự chữa trị của chúng không nằm ở sự canh cải mà là ở sự quay về. Kiến thức như một kỹ thuật xã hội hoàn toàn là chủ nghĩa thủ cựu.


    Tình trạng và lịch sử Hàn Quốc mang lại nhiều sự tương đồng với Việt Nam hơn là với Nhật Bản. Cả hai đều là những khu vực nằm giáp ranh mà trong nhiều thời kỳ nằm dưới sự đô hộ về chính trị của Trung Hoa và mãi đến thế kỷ mười chín vẫn chấp nhận quyền chủ tể tượng trưng của Trung Hoa. Cả hai nước đều bị ảnh hưởng nặng nề về mặt văn hóa từ thời tiền sử cho đến hiện tại bởi văn hóa và các định chế Trung Hoa và các chính quyền của chúng đều hoạt động trong khuôn khổ thư lại Khổng học. Tuy nhiên, đã có các sự khác biệt nổi bật trong diễn tiến của sự tiến hóa này: Hàn Quốc không có vẻ tiến sát gần khuôn mẫu Trung Hoa là vì có một vài yếu tố: sự tản quyền nhiều hơn trong các thời kỳ kéo dài, một số xu hướng phong kiến nào đó trong quyền sở hữu của giới địa chủ, một cơ cấu giai cấp thế tập, một ý niệm khác biệt của người nông dân và sự quan hệ của giới này với đất đai, cũng như các sự khác biệt về tôn giáo.


    Các tác giả Fairbank và Reischauer (11) phát biểu rằng mặc dù Hàn Quốc tuân hành nghiêm ngặt các hình thức nghi lễ của Khổng học, cùng lúc nó vẫn duy trì sự phân cách xã hội chặt chẽ vốn là những phản đề của học thuyết Khổng học. Họ bổ túc rằng sự nhấn mạnh trên truyền thống gắn liền với sức mạnh chính trị tại Trung Hoa không được tìm thấy ở Hàn Quốc, nơi mà sự trì trệ kinh tế, sự tham nhũng về chính trị, và sự khô cằn về văn hóa đã nảy sinh. Khuyết điểm này có lẽ là hậu quả của một sự liên hợp không toàn diện của các đặc tính [ethos, tiếng Hy Lạp trong nguyên bản, chú của người dịch] Khổng học với văn hóa Hàn Quốc. Sự giải thích về sức linh hoạt liên tục của Việt Nam là nằm ở sự liên hợp toàn triệt Khổng học với phức hợp văn hóa nơi mà, như Paul Mus (12) đã nói, sự cân bằng Khổng học giữa nhà nước trên hình thức và làng xã tự trị đã được duy trì một cách thành công cho đến khi có sự xuất hiện của người Pháp.


    Rồi thì tại sao sự việc lại xẩy ra như thế, khi mà những gì diễn ra tại Việt Nam đã không xảy ra tại Hàn Quốc, là nước có lịch sử tiếp xúc có thể được xem là diễn ra liên tục giống nhau? Một phần của sự giải thích có thể nằm nơi các chủ định lịch sử của Trung Hoa đối với hai khu vực này. Với sự quấy rối liên tục của các bộ lạc ưa can thiệp và rào cản vật thể và tâm lý của bức Vạn Lý Trường Thành với phương bắc của nó, điều khó tin rằng Trung Hoa, có một thời kỳ kéo dài nào đó lại xem Hàn Quốc như một phần của Trung Hoa và đã hài lòng để chấp nhận nó như một chư hầu và nước lệ thuộc về văn hóa. Nhưng Việt Nam, ít nhất cho đến thế kỷ thứ mười, đã là một phần liên hợp của Trung Hoa, nước có chiều hướng nhắm đến khu vực này tương tự như chiều hướng của nó đối với Quảng Đông, Vân Nam hay Phúc Kiến. Ở nơi đây các bộ lạc xa lạ phải được lôi cuốn, khích lệ hay cưỡng bách chấp nhận sự sáp nhập, và phương pháp quan trọng nhất để đạt được điều này, như Trung Hoa nhìn nó, là làm cho họ trở thành người Trung Hoa. Điều này họ đã làm với sự thành công vĩ đại tại Hoa Nam, nhưng tại sao lại không thành công tại Việt Nam?


    Câu trả lời phải được tìm trong nguồn gốc của dân tộc Việt Nam. Người Việt Nam phát sinh từ một giống dân vùng đồng bằng sông ngòi có sức sống cực kỳ mãnh liệt mà môi trường địa lý rất tương tự như các điều kiện tại Thung Lũng Sông Hoàng Hà. Họ có một ngôn ngữ riêng của họ, không liên hệ với các ngôn ngữ Trung Hoa. Họ mau chóng xác định với một khu vực – Nam Việt hay Nan Yueh – phát triển một khuôn mẫu xã thôn tự. trị và một nền văn minh đầy sinh khí. Các sự khám phá về khảo cổ học cho thấy bằng cớ về tục thờ cúng tổ tiên, bao hàm các quan hệ gia đình và ngay cả thị tộc mạnh mẽ và một hệ cấp xã hội tương tự như các đặc tính đó của Trung Hoa, và đã cung cấp một vùng đất phì nhiêu cho sự tăng trưởng của hệ thống Khổng học Trung Hoa. Căn bản văn hóa của Việt Nam thì thích hợp cho một khuôn khổ truyền bá văn hóa của chính loại văn hóa mà Trung Hoa phải mang đến. Hệ thống hành chính Khổng học và triết lý Khổng học đã được dùng để hợp thức hóa và khởi thảo các khuôn mẫu và các định chế Việt Nam. Điều này sẽ giải thích lý do tại sao văn hóa Trung Hoa đã được thừa nhận trong toàn thể của nó chứ không bất toàn như ở Hàn Quốc hay Nhật Bản, nơi nó mâu thuẫn với các yếu tố bất khả tương thích trong căn bản văn hóa hiện hữu .


    Mặc dù người Việt Nam đã trở nên Trung Hoa hóa triệt để, liên hợp thành công tổng thể phức tạp của Khổng học và xác định với văn hóa siêu đẳng của Trung Hoa, nhưng họ đã giữ lại cảm quan về tính độc đáo của họ và phát triển thành một sự thúc dục mãnh liệt cho sự độc lập và một lý lịch chính trị của riêng họ.


    Cảm thức về dân tộc chủ nghĩa này vẫn còn tiếp tục tác động một ảnh hưởng sâu xa cho đến ngay thời điểm hiện tại. Việt Nam trong quá khứ đã tìm kiếm sự trợ giúp của Trung Hoa trong sự theo đuổi các mục tiêu quốc gia của nó như trong cuộc chiến tranh với xứ Chàm, nhưng nó đã kháng cự mọi mưu toan của Trung Hoa nhằm lợi dụng các vị thế như thế và không có điều gì khiến chúng ta tin rằng nó lại sẽ không kháng cự một lần nữa các mưu toan như thế. Lịch sử kháng chiến của Việt Nam chống lại người Pháp rất nổi danh và và có vẻ là các bằng chứng gần đây về sự bất mãn ở địa phương đối với sự kiểm soát của Hoa Kỳ là một phần của một khuôn mẫu tuơng tự.


    Nếu có bất kỳ một chủ điểm nào trội bật hơn cả nơi dân tộc nhỏ bé nằm ở chóp mũi của tiểu lục địa Á Châu này, đó chính là các nỗ lực của nó để duy trì sự toàn vẹn quốc gia khi đối diện với sự chênh lệch gần như áp đảo. Lịch sử phát sinh được đọc một cách hào hứng và các học giả cho đến nay mới chỉ đào bới một cách hời hợt ngoài mặt./-


    -----
    CHÚ THÍCH:
    1. Conrad Bekker, “Historical patterns of cultural contact in Southeast Asia,” Far Eastern Quarterly, XI, (November 1951), trang 9.
    2. Harold C. Hinton, China’s relations with Burma and Vietnam, a brief survey, New York, 1958, trang 2.
    3. Harold J. Wiens, China’s march into the tropics, Washington D.C., 1962 [?], các trang 75-76.
    4. L. Cadière, “Religion annamite et non-annamite,” trong quyển Un empire colonial francaise, l’Indochine, do Georges Maspero làm chủ biên, Paris, 1929, trang 279.
    5. Cùng nơi dẫn trên, trang 205 (bản dịch từ tiếng Pháp của tác giả).
    6. Nguyễn Văn Thái, A short history of Vietnam, 1958, trang 218.
    7. Georges Maspero, chủ biên, Un empire colonial francaise, l’Indochine, Paris, 1929, trang 291.
    8. Trích theo Mai Hoa, “Meet a practitioner of eastern medicine”, trong Vietnam Advance, 8 August 1963, trang 25.
    9. Paul E. Benedict, “Languages and literature of Indochina”, Far Eastern Quarterly, VI, trang 383.
    10. Paul Mus, “Vietnam: a nation off balance”, Yale Review, XLI, 1952, các trang 526-527.
    11. John E. Fairbank and Edwin O. Reischauer, East Asia: the great tradition, Boston, 1958, trang 449.
    12. Mus, đã dẫn trên, trang 531.
    ____
    Nguồn: M. Coughlin, Vietnam: In China’s Shadow, Journal of Southeast Asian Histories, Volume 8, No. 2, September 1967.

    Ngô Bắc dịch và chú giải

  4. #4
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Bài 3: SỰ BÀNH TRƯỚNG CỦA TRUNG HOA TRÊN ĐẤT LIỀN: TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM

    C. P. FITZGERALD


    Việt Nam là xứ sở mở rộng cửa nhất cho sự bành trướng và chiếm đóng trên đất liền bởi người Trung Hoa. Biên cương, mặc dù chạy dọc theo một rặng núi, lại cung cấp nhiều hơn một cửa ải khả dĩ tiếp cận đuợc, và bờ biển chỉ là một sự nối dài của bờ biển thuộc tỉnh Quảng Đông, miền nam nước Trung Hoa. Châu thổ sông Hồng, trung tâm của Bắc Việt, cũng là đồng bằng phì nhiêu to lớn nhất và tốt nhất ở phía nam cửa sông Dương Tử. Mọi tình huống xem ra đã phán định rằng xứ sở lân cận này sẽ trở nên, và tồn tại, như một phần của thế giới Trung Hoa, và một phần liên hợp của quốc gia Trung Hoa. Trong nhiều thế kỷ điều này được xem như sẽ là số phận của nó, và đã là một chuyện có thực. Việt Nam đã là một tỉnh của Trung Hoa từ năm 111 trước Công Nguyên cho đến năm 939, trong hơn một nghìn năm. Trong nghìn năm kế tiếp, từ năm 939 cho đến ngày nay, người Việt Nam, đã dành đạt được nền độc lập của họ, đã có thể duy trì sự tự chủ này với các sự gián đoạn ngắn ngủi – một cuộc tái chinh phục của Trung Hoa từ 1407 đến 1427, và sự cai trị của Pháp từ cuối thế kỷ thứ mười chin cho đến năm 1946. Các nguyên do tại sao một diễn tiến lịch sử hiển nhiên đã bị đảo ngược đáng được khảo sát một cách kỹ lưỡng, bởi chúng soi sáng vào bản chất thực sự của sự tiếp xúc và bành trướng của Trung Hoa vào vùng đất biên cương phía nam.

    Trước tiên cần phải nhận định rằng phần của Việt Nam trước đây lệ thuộc sự cai trị của Trung hoa chỉ vào khoảng một phần ba xứ sở hiện nay, đồng bằng châu thổ sông Hồng và bình nguyên duyên hải chạy dọc theo bờ biển của vịnh Bắc Việt [hay vịnh Đông Kinh: Gulf of Tongking trong nguyên bản, chú của người dịch]. Phần giờ đây là Trung Việt, và trước ngày độc lập được gọi bởi chính quyền thực dân Pháp như xứ bảo hộ An Nam, chưa có một thời kỳ lâu dài nào nằm dưới sự cai trị của Trung Hoa, và khi đó là phần đất phía bắc của vương quốc Chàm. Miền nam Việt Nam đã là một phần của lãnh thổ Chàm, và xa hơn về phía nam, là đất của Căm Bốt. Các tên gọi ngày nay phần lớn phát sinh từ thuật ngữ được dùng dưới chế độ Pháp và không tương ứng hoặc là với các danh xưng trong tiếng Việt hay gần sát với các khu vực lịch sử. “Đông-Kinh: Tongking” là cách gọi của người Pháp, rút ra từ danh xưng một cố đô, ngày nay là thành phố Hà Nôi, được biết trong cách nói thông dụng là Tong King: Đông Kinh (Hoa ngữ viết là Tung Ching), có nghĩa Kinh Đô Phía Đông. An Nam, từ Hoa ngữ là An Nan, là một danh xưng được đặt cho miền bắc dưới sự cai trị của Trung Hoa thời nhà Đường, và có nghĩa “Phía Nam đã được bình định: Pacified Sooth.” Cochinchina, được dùng để chỉ phía nam của phần ngày nay là Nam Việt Nam, là một từ ngữ do ngoại quốc đặt ra, có lẽ là có nguồn gốc từ ngôn ngữ Bồ Đào Nha. Nó không phải là tiếng Việt. Chính danh xưng “Việt Nam” là cách phát âm theo tiếng Việt các từ ngữ Trung Hoa Yueh Nan có nghĩa “Việt phương nam: Yeuh South,” đất Việt phía nam, đê” phân biệt nó với các vương quốc và khu vực Việt khác nằm dọc theo bở biển phía đông nam của Trung Hoa. Những phần đất này đã được bao gồm trong thời cổ vào nước Việt (Yueh Quốc) nay thuộc tỉnh Triết Giang, nằm sát phía nam của châu thổ song Dương Tử; Mân Việt (Min Yueh), nay là tỉnh Phúc Kiến, và Nam Việt (Nan Yueh hay Việt phương Nam), bao gồm tỉnh Quảng Đông và một phần tỉnh Quảng Tây với vùng châu thổ sông Hồng thuộc Bắc Việt ngày nay. Khu vực sau cùng này, là phần cực nam của Nam Việt, được goi là Việt Nam (Yueh Nan), “Việt phương Nam.”

    Dân Việt chính vì thế từ thủa xa xưa đã dàn trải sâu rộng, dọc theo bờ biển phía đông của Á Châu, và có thể một trong những nhánh của họ đã là một thành phần cấu thành dân Nhật Bản sau này. Sự chinh phục của Trung Hoa, từ thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên trở về sau này, đã dần dà thu hút dân Việt phương bắc, cho tới năm 111 trước Công Nguyên, Hán Vũ Đế đã chính phục vương quốc Nam Việt (Nan Yueh) to lớn ở phía nam, và từ đó, chiếm giữ vùng châu thổ sông Hồng. Trước đó, Tần Thủy Hoàng Đế , kẻ thống nhất nước Trung Hoa, đã tấn công Nam Việt và cưỡng bách Nam Việt nhìn nhận quyền chủ tể của ông ta. Nhưng vào lúc có sự sụp đổ của đế quốc nhà Tần ngắn ngủi trong năm 203, Nam Việt đã khôi phục nền độc lập của mình cho đến khi sau rốt bị chinh phục bởi Hán Vũ Đế một thế kỷ sau đó. Ngay từ trong thời tiếp xúc đầu tiên này, một sự kiện đã xuất hiện: khi Trung Hoa ở dưới một chế độ cai trị thống nhất và hùng mạnh, sự độc lập của bất kỳ phần đất nào trong lãnh thổ nước Việt cũ sẽ bị nguy hiểm, hay mất đi. Khi Trung Hoa bị chia trí bởi các khó khăn nội bộ, người Việt đã khôi phục sự độc lập, và duy trì nó cho đến khi lại bị chinh phục một lần nữa bởi vũ lực. Không giống như các tỉnh nội vi của Trung Hoa, vùng đất Việt đã chiến đấu chống lại sự sáp nhập vào các đế quốc mới và không sẵn lòng khuất phục trước quyền lực trung ương mới, như các tỉnh của Trung Hoa vẫn thường làm.

    Là một dân tộc đi biển, người Việt cổ xưa luôn luôn tạo dựng các khu định cư của họ trên các mảnh đất phì nhiêu nơi các châu thổ và cửa sông mang lại các khu vực khả dĩ canh tác duy nhất tại các tỉnh đồi núi phía đông nam sát biển của Trung Hoa. Chính vì thế, vương quốc Việt đầu tiên đã tập trung tại cửa sông Tiền Đường, quanh vịnh Hàng Châu trong tỉnh Triết Giang ngày nay; Mân Việt, tại Phúc Kiến, đặt nền móng trên vùng đất phì nhiêu ở cửa sông Mân, tại Phúc Châu; Nam Việt chiếm cứ châu thổ sông Tây Giang, tại Quảng Đông, và sau đó tràn xuống phía nam để sáp nhập và định cư tại châu thổ sông Hồng, miền Bắc Việt Nam ngày nay. Bốn vùng cửa sông và châu thổ này là phần đất canh tác tốt nhất và là các khu vực rộng lớn nhất thích hợp với việc trồng lúa tại bờ biển đông nam. Đồng bằng thứ năm, châu thổ sông Cửu Long, sau hết sẽ là khu định cư to lớn cuối cùng của dân Việt, và tạo thành vùng đất trọng tâm ngày nay của Nam Việt Nam. Các vùng đất phì nhiêu có nghĩa có sự định cư mau lẹ và tương đối đông đúc: trong khi nam tiến tại nội địa Trung Hoa, các di dân Trung Hoa phương bắc chỉ tìm thấy một dân số nhỏ dọc theo các thung lũng khá chật hẹp của các phụ lưu sông Dương Tử, một dân số dễ dàng bị nuốt chửng hơn bởi các di dân, dọc theo bờ biển, họ gặp phải các khu định cư của dân Việt đông đảo và chiếm giữ các phần đất cô đọng có khả năng cho một sự kháng cự có tổ chức. Nước Việt cổ thời tại Triết Giang hầu như tự mình hủy diệt, và làm dân tộc của mình yếu đi bởi các cuộc xâm lăng không ngừng vào các nước láng giềng, cho đến khi dân số của nó thực sự bị tiêu hao đi. Hán Vũ Đế đã áp dụng thủ đoạn di chuyển cưỡng bách trên quy mô rất lớn sô dân bị chinh phục khi ông ta chiếm cứ Mân Việt tại Phúc Kiến, cho họ tái định cư tại miền trung Trung Hoa. Nam Việt, tại Quảng Đông, quê hương của “các người nói tiếng Quảng Đông” duy trì cho đến ngày nay tính chất khác biệt và thái độ không nguôi ngoai đối với sự cai trị của phương bắc, lúc nào cũng tạo thành một vùng gây nhiều khó khăn cho chính quyền trung ương tại Trung Hoa, bất kể đến hình thức hay tính chất nào đi nữa.

    Tiếng Quảng Đông, và cũng như thổ ngữ của Phúc Châu (Hokkiu) hay các thổ ngữ khác dọc duyên hải đông nam thì khác biệt một cách rõ rệt với lối nói Trung Hoa tiêu chuẩn ở bất kỳ biến thể nào tìm thấy trong Hoa ngữ. Một phần, sự khác biệt này tượng trưng cho các hình thức cổ xưa hơn của Hoa ngữ tiêu chuẩn, được áp đặt trên một sắc dân không nói tiếng Trung Hoa trong quá khứ, và như thường xảy ra, giữ lại trong các tình huống này một đặc tính nguyên thủy mà mạch chính của ngôn ngữ đã để lại phía sau. Điều có thể nhận thấy là tiếng Quảng Đông ngày nay gần gụi với ngôn ngữ nói Trung Hoa tiêu chuẩn của thời nhà Đường (thế kỷ 7 đến 10, sau Công Nguyên) là thời kỳ trong đó có xảy ra cuộc nhập cư lớn lao của người Trung Hoa phương bắc đến Quảng Đông. Thổ ngữ Phúc Châu được nghĩ là gần với tiếng nói tiêu chuẩn của thời nhà Hán, khi theo sau chính sách di cư của Hán Vũ Đế, nhiều người Trung Hoa phương bắc đã di chuyển vào khu vực sông Mân. Người ta có thể so sánh với âm sắc Anh ngữ thế kỷ thứ mười tám như được phát ngôn bởi dân da đen tại vùng West Indies, các sự khác biệt chỉ là thời khoảng trải qua dài hơn nhiều đối với các khu định cư của người Trung Hoa tại miền đông nam. Nằm dưới đặc thù ngữ học này là yếu tố chủng tộc; thành phần chính của dân chúng tại Quảng Đông, và cũng như ở Phúc Kiến, là một chủng tộc nguyên thủy không phải là người Trung Hoa, mà phần lớn là người Việt. Ngay trong các biên cương của đế quốc như được ấn định trên các ranh giới tồn tại lâu dài bởi Hán Vũ Đế hồi cuối thế kỷ thứ nhì trược Công Nguyên, sự xâm nhập của Trung Hoa phần rất lớn chỉ là sự áp đặt một nền văn hóa và một văn minh đã phát tirển hơn trên người dân không phải là Trung Hoa.

    Chính sự kiện này đã giúp giải thích đặc điểm và cá tính cách biệt liên tục của người Việt Nam. Việt Nam, và từ ngữ này khi đó chỉ có nghĩa chỉ vùng châu thổ sông Hồng, là giới hạn cùng cực của đế quốc Trung Hoa, “Việt ở phương Nam: Yueh South”, nơi mà sự cai trị của Trung Hoa không có nghĩa là sự nhập cư của người Trung Hoa từ phương bắc, mà mang ý nghĩa một chính quyền của ngoại nhân gồm các quan chức Trung Hoa từ phương bắc. Đã sẵn có hàng nghìn nông dân canh tác trên đất đai, và cung cấp khỏan thuế thâu cho chính quyền Trung Hoa. Không có nhu cầu phải mang các số lượng lớn các nông dân di cư Trung Hoa, và đã có đầy đất đai gần nơi ở của các nông dân như thế hơn, đang chờ đợi để được định cư tại thung lũng sông Dương Tử và các phụ lưu của nó. Người Trung Hoa tìm thấy nơi dân Việt một dân tộc gồm các nông dân trồng lúa gao, giống như các nông dân của chính Trung Hoa; tương đối cũng dễ dàng áp đặt sự cai trị của Trung Hoa trên họ, và sau đó thiết lập các định chế tương tự trong hầu hết các khía cạnh như các định chế của Trung Hoa. Điều này đã xảy ra; văn hóa Việt Nam mang đậm màu sắc Trung Hoa, nhưng đặc tính chủng tộc của người dân vẫn tiếp tục là “Yueh”, tức là “Việt”, và họ đã kế thừa và ấp ủ ý thức về sự khác biệt chủng tộc đó cùng khát khao một quốc gia riêng biệt trong đó một hình thức biến cải đã luôn luôn biểu thị đặc tính cho các người anh em bị đồng hóa hơn của họ, các người nói tiếng Quảng Đông.

    Ngay tầng lớp cai tri Trung Hoa vẫn còn ít về số lương; điều được nhận thấy rằng sẽ có lợi hơn cho quyền lực đế quốc khi cho phép các thủ lĩnh bản xứ của các thị tộc và các quận huyện [Việt] trở thành các địa chủ theo cung cách nhà Hán và thiết lập tại tỉnh xa xôi mối quan hệ điền chủ - tá điền và hệ thống chiếm hữu đất đai thay thế cho chế đố phong kiến thực thụ trước đây của Trung Hoa thời tiền đế quốc. Được giáo dục, và được khuyến khích để chấp nhận các phong tục và các cách suy nghi của Trung Hoa, tầng lớp này có thể được tưởng thưởng bằng việc làm trong ngạch chức dịch của triều đình, và đổi lại sự cai trị của Trung Hoa đạt được sự sở hữu của mình trên phần đã từng là các vùng đất công của các thị tộc. Một đặc điểm của lịch sử ban đầu của Việt Nam là các cuộc nổi dậy chống lại sự cai trị của Trung Hoa đã được lãnh đạo không phải bởi tầng lớp quý tộc tiểu địa chủ [sic], mà là bởi các nông dân. Một đặc điểm khác không có mang tính chất Trung Hoa, nhưng phù hợp với phong tục Việt Nam, rằng một số trong các nhà lãnh đạo này phải là phụ nữ. Các sự kiện này làm liên tưởng đến một sự cách biệt kéo dài giữa tầng lớp quý tộc tiểu địa chủ bị Hán hóa với giới nông dân là các kẻ, bị thất học, nên ít thụ nhận ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa hơn. Nếu sự áp đặt sự cai trị và văn hóa Trung Hoa trên người dân Quảng Đông, sau hơn hai nghìn năm, vẫn còn để lại trên sắc dân này nhiều tính chất đặc biệt và một sự khó chịu dai dẳng đối với sự thống trị của phương bắc, không mấy khó khăn để nhận thấy rằng cá tính dân tộc của người Việt Nam lại còn nổi bật một cách mạnh mẽ hơn nữa. “Quảng Đông là của người Quảng Đông” đã là một khẩu hiệu phổ biến trong thời kỳ đầu của nền Cộng Hòa [Trung Hoa]; các người phương bắc đôi khi đã kinh ngạc tự hỏi là liệu nó đã không thực sự có nghĩa rằng “Trung Hoa là của người Quảng Đông hay sao”. Tại Việt Nam một nghìn năm thống trị của người Trung Hoa cũng không thể xóa bỏ cảm thức “Việt Nam là của người Việt Nam” như thế -- mặc dù ở vị thế xa xôi của một tỉnh cũ, trong khi điều này giúp cho khát vọng này trở nên khả thi hơn, không cách nào có thể khơi dậy bất kỳ kỳ vọng nào về sự chế ngự của Việt Nam đối với chính quyền trung ương của chính đế quốc.

    Thế kỷ đầu tiên của sự cai trị của Trung Hoa không ghi nhận bất kỳ cuộc nổi dậy quan trọng nào bởi dân chúng Việt Nam; Trung Hoa vẫn ở dưới một chế độ cai tri mạnh của nhà Tiền Hán, và mãi cho đến các năm đầu tiên của thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên, các khó khăn nội bộ mới làm rung chuyển quyền lực đó. Giữa năm thứ 9 và 23, ngôi vua bị tiếm đoạt bởi Vương Mãng (Wang Mang), và sau khi ông ta sụp đổ, Trung Hoa trong nhiều năm đã bị xáo trộn bởi cuộc nổi loạn của phong trào nông dân Hồng Mi (Red Eyebrows) và các cuộc nội chiến giữa các kẻ khát khao ngai vàng. Nhà Hậu Hán, được thành lập bởi vị hoàng tử bàng hệ có vương hiêu trị vì là Hoàng Đế Quang Vũ (Kuang Wu), đã không củng cố được quyền lực trong một thập niên, và chính ở thời điểm này mà người Việt Nam đã vươn lên trong cuộc nổi dậy quan trọng đầu tiên của ho/. Trong năm 39, hai chị em, bà Trưng Trắc và Trưng Nhị, là thành viên của một gia đình lạc tướng, đã nổi dậy trong một cuộc khởi nghĩa và duy trì sự kháng cự của họ trong mười năm. Sự đàn áp cuộc nổi dậy này trùng hợp rất khắng khít với sự củng cố quyền lực của triều đại Hậu Hán vừa mới được phục hưng và được thi hành bởi một trong các viên tướng hàng đầu của tân Hoàng Đế Quang Vũ. Chị em bà Trưng, cho dù bị thất bại, vẫn là các nữ anh hùng đối với người dân Việt Nam. Họ có dựng đền thờ Hai Bà ở Hà Nội, và hãy còn được tôn kính như các nhà ái quốc. Chu Ân Lai, Thủ Tướng Cộng Sản Trung Hoa, đà làm một cử chỉ khéo léo khi quỳ gôi trước bàn thờ Hai Bà lúc ông ta mở một cuộc thăm viếng cấp quốc gia ở Bắc Việt. Ký ức được lưu giữ lâu đời tại Á Châu.
    (còn tiếp)

  5. #5
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Bài 3 (tiếp theo)

    Sự trùng hợp giữa các thời kỳ suy yếu của Trung Hoa và các cuộc nổi dậy của Việt Nam chống lại sự thống trị của Trung Hoa có thể được quan sát liên tục tiếp diễn cho đến lúc có sự chấm dứt sự cai trị trực tiếp của Trung Hoa. Trong năm 192, một cuộc nổi dậy với tầm mức rộng lớn khác đã làm rung động thẩm quyền của Trung Hoa, và chỉ ba năm trước đó, trong năm 189, đế quốc nhà Hán, với sự băng hà của Hoàng Đế Ling [?], đã bước vào thời kỳ xáo trộn chung cuộc của nó với nội chiến và tình trạng rối loạn căng thẳng còn gia tăng bởi một cuộc nổi dậy lớn lao khác của nông dân, phong trào Khăn Vàng (Yellow Turbans). Cuộc nổi dậy năm 192 có vẻ không mang tính chất chủ yếu là Việt Nam, mà đúng hơn là một đợt bộc phát đầu tiên của người Chàm, các kẻ đã thiết lập vương quốc mới của họ tại vùng đã là khụ vực vươn xa xuống cực nam của tỉnh hạt thuộc Trung Hoa, bộ chỉ huy ở Nhật Nam (Jihnan) (Phía Nam của Mặt Trời), tương ứng với đồng bằng duyên hải nằm giữa Đà Năng và “Cửa Ải An Nam: Annam Gate” (Porte d’Annam) ngày nay, gần đường giới tuyến hiện tại giữa Bắc và Nam Việt Nam. Khu vực này đã bị mất về tay Trung Hoa. Đến năm 222, Trung Hoa bị chia cắt thành Tam Quốc, và chính nước Ngô (Wu), quốc gia phía đông nam, đã thừa kế thẩm quyền Trung Hoa tại châu thổ sông Hồng. Mặc dù Trung Hoa vẫn xác lập chủ quyền trên Nhật Nam, không có bằng có cho thấy bất kỳ thẩm quyền thực sự nào đã được tái lập sâu vê phía nam đến thế. Xứ Chàm trong thực tế có gửi các sứ đoàn đến triều đình nhà Ngô trong năm 230, nhưng trong năm 248 một lần nữa đã tấn công tỉnh của Trung Hoa ở phía bắc và sau khi dành đạt một chiến thắng đáng kể, đã giữ lại khu vực ở sông Gianh [ghi là sông Giang (sic) trong nguyên bản, ND], phía nam châu thổ sông Hồng. Sự suy yếu và phân hóa của Trung Hoa đã là các nguyên do chính của các cuộc xâm lăng này của người Chàm. Trong năm 277, Tam Quốc được thống nhất ngắn ngủi bởi một triều đại mới, nhà Tấn (Tsin), thế nhưng chế độ này đã làm mất miền bắc Trung Hoa trước các cuộc xâm nhập của người Thát Đát (Tatar)vào năm 316, và từ đó chỉ cai trị miền nam không thôi.

    Trong hai trăm năm kế đó, dưới thời nhà Nam Tấn và các triều kế thừa ở miền nam Trung Hoa, người Việt Nam đã không nổi dậy. Có thể rằng mối đe dọa mới đặt ra bởi quyền lực của nước Chàm là một lý do tại sao người Việt Nam lựa chọn sự cai trị của Trung Hoa hơn là các sự mạo hiểm của cuộc nổi dậy, sẽ mang đến cho người Chàm một cơ hội để xâm lăng hơn nữa. Mãi đến năm 543, cuộc nổi dậy của gia tộc họ Lý, với nhà lãnh đạo Lý Bôn, đã thành lập triều đại Việt Nam độc lập đầu tiên, nhà Tiền Lý, đã tạm thời mang sự cai trị của Trung Hoa tại Việt Nam đến chỗ kết thúc. Vào lúc đó, nhà Lương (Liang) bên Trung Hoa đã tiến tới hồi chung cuộc của mình, và sự rối loạn và suy yếu đã sớm lật đổ chế độ và thay thế bằng nhà Ch’en (557-89), một triều đại ngắn ngủi và yếu ớt, không có khả năng kiểm soát phần lớn miền nam Trung Hoa, và chính vì thế, không thể tái thiết lập quyền lực của Trung Hoa tại Việt Nam. Khi vào năm 589, nhà Tùy (Sui) tái thống nhất đế quốc và chấm dứt sự phân chia kéo dài giữa các triều đại người Thát Đát ở phương bắc và các triều đại Trung Hoa ở phương nam, không lâu sau đó họ đã xâm lăng Việt Nam và tái áp đặt sự thống trị của Trung Hoa. Sớm bị thay thế (618) bởi triều đại nhà Đường (Tang) vĩ đại, cuộc tái chinh phục của nhà Tùy này đã được duy trì. Các cuộc nổi dậy, trong đó có một cuộc khởi nghĩa quan trọng vào năm 722, đã bị trấn áp, và nhu cầu đối với nhà Đường nhằm duy trì một quân đội lớn lao trong nước để phòng thủ biên cương sát vương quốc Vân Nam đang vươn lên tại Nam Chiếu, đã khiến cho nền độc lập của Việt Nam không đạt tới được. Nhà Đường, sau cuộc chinh phục, đã đổi tên nước là An Nan (có nghĩa An Nam), “Miền Nam đã được bình định: Pacified South”.

    Trong hai trăm năm mươi năm sự cai trị của nhà Đường tại An nam không bị thách đố, và thời kỳ dài này trong đó xứ sở nằm dưới chính quyền Trung Hoa, một chính quyền được tổ chức chặt chẽ đến mức chưa hề có trước đây, và triều đại trị vì này lại được hỗ trợ bởi điều có lẽ là thời đại tuyệt diệu nhất của văn hóa Trung Hoa, đã tạo ra một ấn tượng sâu đậm trên người dân Việt Nam. Nó đã không, như các biến cố diễn ra cho thấy, khuyến dụ họ bỏ qua khát vọng của mình là độc lập với Trung Hoa trong các vấn đề chính trị, nhưng nó đã tạo ra văn hóa Việt Nam trong khuôn mẫu Trung Hoa và vẫn còn ở trong khuôn mẫu đó kể từ lúc ấy. Giới thẩm quyền Trung Hoa trước đó đã khởi sự công việc này, thời đại nhà Đường đã hoàn tất nó. Khi Việt Nam trở thành độc lập, Việt Nam cho thấy không có y muốn phủ nhận di sản văn hóa mà nước này đã thụ đắc từ nhà Đường.

    Trong năm 868 quân đội Trung Hoa tại Việt Nam, trú đóng nơi biên giới với vương quốc Nam Chiếu (giờ đây là biên giới bị đổi ngược giữa Trung Hoa và Bắc Việt Nam) nổi loạn. Đội quân này đã không được trả lương từ lâu, và triều đình xa xôi bị đắm chìm vào tình trạng vô khả năng và lệ thuộc vào các viên chỉ huy quân sự cấp tỉnh. Các kẻ nổi loạn đã quay về quê tại Trung Hoa và khởi động một chuỗi nội chiến và nổi dậy đi đến việc kết liễu triều đại nhà Đường trong vòng chưa đến bốn mươi năm. Trung Hoa khi đó bị tan vỡ thành một số các quốc gia tranh liệt và riêng biệt, tất cả đều tuyên bố nắm trọn đế quốc, nhưng phần lớn chỉ kiểm soát một hay hai tỉnh, hay ngay khi chỉ có một tỉnh. Chính trong tình trạng hỗn mang của sự xáo trộn này mà dân Việt Nam, noi theo khuôn mầu chung, đã nổi dậy và thành lập vương quốc riêng biệt của chính họ, vào năm 934.

    Nhà Đinh, giờ đây đã nắm giữ quyền bính tại Việt Nam, đã là triều đại đầu tiên trong một chuỗi các triều đại duy trì nền độc lập của xứ sở cho đến khi có sự chinh phục của người Pháp trong thế kỷ thứ mười chín, với một khoảng đứt đọan ngắn hồi đầu thế kỷ thứ mười lăm. Từ sự chấm dứt sự cai trị của Trung Hoa trong thế kỷ thứ mười, Việt Nam trong thực tế đã tự mình điều hành đất nước, cho dù một sự thừa nhận cẩn trọng quyền chủ tể của Trung Hoa có được đưa ra bởi tất cả các triều đại Việt Nam. Trong thực tế, điều này có ý nghĩa rất ít; các tặng phẩm quý giá được trao như các cống phẩm, và các sứ giả đã nhận lại được các tặng phẩm còn xa hoa hơn để phô bày quyền lực và sự hào phóng của Hoàng Đế Trung Hoa. Các nhà vua Việt Nam đã tìm kiếm và nhận được sự phê chuẩn sự lên ngôi của họ từ vị chủ tể của họ. Người Việt Nam chấp nhận dùng lịch theo triều đại Trung Hoa trị vì, một hành vi có vài ý nghĩa tôn giáo, và trong một vài cung cách có thể so sánh với việc treo cờ Anh Quốc (Union Jack) trong một số dịp bởi các thành viên tự cai trị và độc lập thực sự trong Khối Thịnh Vượng Chung Anh Quốc. Trung Hoa đã không đảm nhận trách vụ bảo vệ Việt Nam, dù là để chống lại các kẻ thù ngoại lai, hay để giúp cho triều đại trị vì đập tan sự nổi dậy trong nội bộ. Việt Nam cũng không có nghĩa vụ phải trợ giúp quân sự cho các cuộc chiến tranh của Trung Hoa. Điều được thông hiểu là quốc gia triều cống không được xúc tiến các ý đồ hay cung cấp sự trợ giúp cho một kẻ thù của vị Hoàng Đế, và điều này cũng áp dụng cho các cá nhân riêng tư cũng như cho các nước ngoài.

    Thỏa ước (Modus Vivendi) này đã không được đạt tới một cách tức thì: khi các sự xáo trộn tiếp diễn theo sau sự sụp đổ của triều đình nhà Đường bị kết thúc bởi sự đăng quang của triều đại mới, nhà Tống, năm 960, một ít năm đã trôi qua trước khi tân đế quốc được hoàn toàn củng cố bởi chính sách khéo léo của kẻ sáng lập triều đại. Các quốc gia phương nam nơi mà đế quốc bị giải tán đã lần lượt được khuyến dụ quay về “trung thành thực sự” hay sẽ bị trấn áp, thường với sự kháng cự rất yếu, nếu chúng còn ngoan cố. Cho đến mức công tác này đã được hoàn tất, không có gì thắc mắc về sự can thiệp của nhà Tống tại Việt Nam. Vào năm 981 nhà Tống đã trở nên hoàn toàn được chấp nhận và thiết định. Một cuộc viễn chinh khi đó được phóng ra để giải trừ “vương quốc chống đối” phương nam duy nhất còn lại, Việt Nam. Có thể là hoàng đế nhà Tống và các cận thần cố vấn của ông đã không nhìn thấy sự khác biệt cụ thể nào giữa tỉnh huyện cũ ở An Nam với các vương quốc khác – hay “đế quốc” khác như họ vẫn tự xưng – khởi lên tại các tỉnh phía nam. Tất cả đều là một phần của đế quốc nhà Đường và chính vì thế tất cả phải quay về thần phục nhà Tống. Nhưng Việt Nam thì khác; chỉ mình Việt Nam mới có cá tính dân tộc thực sự của mình mạnh hơn các sự ràng buộc của nó với Trung Hoa, đặc biệt trong khía cạnh chính trị của mối quan hệ đó. Việt Nam đã kháng cự, và với sự thành công. Cuộc xâm lăng của nhà Tống bị đẩy lui. Nó không bao giờ mưu toan xâm lăng nữa. Việt Nam thừa nhận quyền chủ tể của Trung Hoa, và các hoàng đế nhà Tống đã chấp nhận phương thuật giữ thể diện này. Đây vẫn còn là chính sách của Trung Hoa từ thời điểm đó trở về sau, chỉ bị đảo ngược một lần duy nhất. Nhà Tống trong thực tế đã gặp các vấn đề khác gây khó khăn cho họ. Biên cương phía bắc, bất an kể từ khi có sự mất mát các phần đất kiểm soát các cửa ải xuyên qua Trường Thành, mà họ đã thất bại không tái chinh phục được, là khó khăn thường xuyên của họ. Việt Nam là vấn đề nặng về uy tín hơn là an ninh quốc gia, nó có thể để yên thân một mình.

    Các sự thay đổi triều đại ở Việt Nam, diễn ra bởi các cuộc nổi dậy hay đảo chính cung đình, đã không cám dỗ nhà Tống nắm giữ lấy bất kỳ cơ hội nào như thế. Năm 1010, chỉ hai mươi năm sau sự đẩy lui cuộc xâm lăng của nhà Tống, một triều đại mới, nhà Lý, đã lên nắm quyền bính ở Việt Nam. Nó tức thời tái tục mối quan hệ chủ tể - cống nạp hiên hữu với đế quốc nhà Tống, và được chấp nhận. Kế đó khi bị di chuyển trong năm 1225, đế quốc nhà Tống đã mất miền bắc Trung Hoa vào tay người Kim Thát Đát xâm lăng và đã được thiết lập tại miền nam, ở Hàng Châu, kiểm soát thung lũng sông Dương Tử và mọi lãnh thổ phía nam con sông đó. Trong những thời kỳ trước, sự di chuyển quyền lực trung ương của Trung Hoa xuống miền nam đồng nghĩa với một khuynh hướng mở rộng đất biên giới phía nam. Điều được nghĩ trong thực tế rằng đã có một phong trào đáng kể của dân chúng miền bắc xuống vùng Nam Hoa lúc bấy giờ, nhưng được hòa nhập trong vòng các biên cương hiện hữu của đế quốc nhà Tống. Miên nam Trung Hoa đã phát triển mau chóng trong thời kỳ này, nhưng áp lực không đủ mạnh để đẩy nhà Tống vào các cuộc chiến tranh chinh phục ra ngoàì lãnh địa của nó. Hơn nữa, Trung Hoa đã phải phòng vệ một biên cương miền bắc mở ngỏ dọc theo bờ ranh không xác định của dải đất viền phía bắc lưu vực sông Dương Tử, một vùng không có biên cương tự nhiên, đặc biệt tại phần phía đông.

    Triều đại mới của Việt Nam, nhà Trần [ghi sai là Tranh trong nguyên bản, chú của người dịch], được để yên bởi nhà Nam Tống, nhưng không quá lâu, đã phải đối diện với nỗi nguy hiểm khổng lồ của các cuộc xâm lăng của Mông Cổ. Khi nhà Trần lên nắm quyền bính, nhà Tống đã sẵn bị tấn công bởi các chủ nhân mới của miền bắc Trung Hoa, và của một đế quốc trải ngang qua Á Châu cho đến trung tâm nước Nga. Sự chính phục nhà Nam Tống bởi người Mông Cổ là một tiến trình chậm rãi, lâu dài, bị kháng cự mãnh liệt trong bốn mươi năm. Phải đợi mãi đến năm 1278 ham đội nhà Tống cuối cùng mới bị triệt hạ ngoài khơi Hồng Kông và triều đại sau rốt bị hủy diệt. Năm năm sau đó, trong năm 1284, Kubilai Khan, Hoàng Đế người Mông Cổ của Trung Hoa là người mà người Trung Hoa nhìn nhận như nhà cai trị chính thống đầu tiên của đế quốc (mặc dù các tiền nhân của ông ta, trở lùi lại từ Genghiz, trong thực tế đã đô hộ miền bắc Trung Hoa trong bảy mươi năm), đã xâm lăng Việt Nam. Người Việt Nam, đối diện với uy thế của quyền lực quân sự lớn nhất trên thế giới vào lúc bấy giờ, đã dựa vào phương sách chiến tranh du kích; các thành phố bị bỏ hoang cho quân xâm lược, cuộc kháng chiến tập trung tại vùng rừng núi. Các đội quân Mông Cổ chủ yếu là kỵ binh, và khí hậu cũng như địa thế của Việt Nam thì bất lợi cho các lực lượng của họ. Các cuộc xâm lăng đã tái diễn trong ba hay bốn năm, nhưng các sự tổn thất vì bệnh tật và tính chất bất quyết của cuộc chiến tranh cuối cùng khiến Kubilai quyết định rằng Việt Nam không đáng để khổ công và gánh chịu sự tổn thất; ông ta đã chấp nhận cống phẩm của các nhà lãnh đạo triều Trần và triệt thoái các đội quân bị hao hụt của mình. Ở thời điểm này, điều cần phải được nhấn mạnh, “Việt Nam”, hay An Nam như được gọi bởi người Trung Hoa, hãy còn chỉ bao gồm châu thổ sông Hồng và dải duyên hải xuôi nam cho đến vùng thuộc vĩ tuyến thứ 17. Cuộc “Nam Tiến: March to the South” vĩ đại mới chỉ bắt đầu. Triều đại nhà Trần chỉ cai trị phần giờ đây là Bắc Việt Nam.

    Triều đại đó kéo dài hơn chính triều đại nhà Nguyên Mông Cổ của Trung Hoa. Trong năm 1400, khi nó bị sụp đổ, nhà Minh, tượng trưng cho sự phản công của Trung Hoa, đã đánh đuổi quân Mông Cổ ra khỏi Trung Hoa và dưới Hoàng Đế Vĩnh Lạc dũng mãnh đã thúc đẩy sự xác quyết lòng trung thành với nó vào thế giới các vương quốc phương nam, bằng cả đường biển lẫn đường bộ. Một ít năm sau khi có sự sụp đổ của nhà Trần, năm 1407, Hoàng Đế Vĩnh Lạc, được nghĩ đã quyết định rằng ông không cần nhìn nhận các kẻ kế ngôi nhà Trần, đã xâm lăng và chinh phục xứ sở. Như sẽ được nhận thấy, vương quốc này đã sẵn mở rộng về phía nam đến tận Đà Nẵng, nhưng xem ra sự cai trị của Trung Hoa chưa hề được thiết lập một cách thực vững chắc tại các vùng đất mới phía nam này. Dù sao đi nữa, sự thống trị đã không kéo dài. Chính Vĩnh Lạc đã mất đi năm 1425, và đã có một sự kế vị mau lẹ của các vị hoàng đế vắn số tại Trung Hoa, làm suy yếu chính quyền. Trong năm 1427, một cuộc nổi dậy đã sẵn bị phá tan chin năm trước vào năm 1418 dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, đã đánh bại quân Trung Hoa gần thành phố biến giới, Lạng Sơn, thu đoạt được thắng lợi quyết định và tái chiếm kinh đô, Hà Nội. Các hoàng đế nhà Minh, giống như các kẻ tiền nhiệm nhà Tống, sau đó đã chấp nhận cống phẩm dâng tặng bởi Lê Lợi, người đã thành lập triều đại Việt Nam mới. Cuộc xâm lăng của Vĩnh Lạc đã là nỗ lực sau cùng bởi các nhà lãnh đạo Trung Hoa nhằm sáp nhập Việt Nam thành một tỉnh thuộc đế quốc Trung Hoa. Khi các người Mãn Châu thừa kế ngai vàng trong thế kỷ thứ mười bảy, họ đã thực hiện một vài sự biểu dương quân sự với Việt Nam, nhưng đã mau chóng chấp nhận mối quan hệ chính trị hiện hữu được thiết lập trước tiên dưới thời nhà Tống. Chính vì thế, trong hơn một nghìn năm, kể từ khi thâu đạt được nền độc lập năm 939 cho đến cuộc chinh phục của Pháp hồi cuối thế kỷ thứ mười tám, Việt Nam trong thực tế là một quốc gia độc lập, ngay dù nó vẫn là một nước nằm dưới ảnh hưởng văn hóa mạnh mẽ và liên tục của Trung Hoa.
    (còn tiếp)

  6. #6
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Bài 3 (tiếp theo)

    Sự cai trị của Trung Hoa đã từng được áp dụng trên một khu vực nhỏ hơn nhiều của vương quốc phát sinh sau khi nền độc lập đã đạt được. Điều đó có lẽ là một lý do tại sao nhà Đường và trước đó, các đế quốc yếu hơn chẳng hạn như các đế quốc miền nam Trung Hoa giữa thời nhà Hán và nhà Đường, đã có thể duy trì thẩm quyền của chúng tại tỉnh hạt xa xôi này. Về phía người Việt Nam trong các thế kỷ này đã bị ngăn trở khỏi cuộc mở rộng về phía nam bởi có sự hiện diện của vương quốc Chàm hiếu chiến mở các cuộc tấn công cướp bóc bằng đường biển trên vùng duyên hải. Sự bảo hộ của đế quốc Trung Hoa là cần thiết và đã phải trả giá với sự cai trị trực tiếp của Trung Hoa. Gần như tức thời sau khi nền độc lập đã đạt được vào đầu thế kỷ thứ mười sau Công Nguyên, tình trạng này đã thay đổi. Một nguyên do chính là sự gia tăng dân số tại châu thổ sông Hồng phì nhiêu dưới sự cai trị lâu dài và yên ổn của nhà Đường. Áp lực đòi hỏi các vùng đất mới để định cư, và trong bản chất là một dân tộc trồng lúa gạo, người Việt Nam đã tìm thấy các mảnh đất này dọc theo dải duyên hải phì nhiêu, chứ không phải tại miền núi phía tây giáp ranh với Vân Nam. Vùng đồi núi khi đó, như bây giờ, phần lớn được cư trú bởi các bộ tộc không thuộc sắc dân Việt Nam [sic], thường thù nghịch với dân ở đồng bằng; điều đáng làm hơn nhiều là chiếm giữ khu đất tốt dọc duyên hải hơn là mở các cuộc chinh phục khó khăn dành giựt đất xấu hơn tại miền núi.

    Trong năm 982 triều đại mới nhà Đinh, mới chỉ lên nắm quyền bính khoảng bốn mươi năm trước đó, đã đủ mạnh để xâm lăng xứ Chàm và lục soát kinh đô của nó, khi đó nằm ở phía bắc của xứ đó. Việt Nam có giữ lại một vài lãnh thổ đã chinh phục, nhưng cuộc nam tiến được tái tục bởi triều đại Việt Nam kế tiếp, nhà Lý (1010-1225), vào năm 1069, đã sáp nhập tất cả vùng đất của Chàm sâu đến vĩ tuyến thứ 17, có nghĩa, là phần thuộc Bắc Việt Nam bây giờ. Rõ ràng là các cư dân Chàm đã không chỉ bị chinh phục – hay hạ sát – các kẻ sống sót bị xua đuổi, đi tìm nơi ẩn náu tại các phần đất phía nam quê hương của họ. Cuộc chinh phục của Việt Nam không chỉ là một cuộc xâm lược để áp đặt quyền thống trị và thu thuế, nó được trù hoạch với chủ ý dành đạt lãnh địa mới cho sự định cư của người Việt Nam. Mục tiêu này được chứng tỏ là động lực thống nhất và khát vọng của chế độ mới độc lập. Các nông dân, chen chúc tại các khu đất thiếu hụt của châu thổ sông Hồng, muốn có các vùng đất mới để chạy trốn nạn nghèo đói gia tăng tại các làng xã quá đông đúc. Tầng lớp địa chủ -- giới mà chế độ Cộng Sản ngày nay gọi là “phong kiến”, chỉ là giới trung nông có sở hữu đất đai trong thực tế phần lớn được tuyển dụng bởi chính quyền làm các viên chức giống như ở Trung Hoa – đã muốn có điền sản mới; cả hai tầng lớp vì thế hậu thuẫn cho các cuộc chiến tranh chinh phục và định cư. Đặc tính cuộc di dân nam tiến của Việt Nam chính vì thế rất giống với tính chất của cuộc nam tiến của Trung Hoa trong vùng ngày nay là các tỉnh phía nam Trung Hoa. Nhưng tại Việt Nam đã không có chỗ hay mong muốn sự có mặt của dân định cư Trung Hoa: người Việt Nam tự họ đã quá đông đảo. Họ mang văn hóa và phong tục Trung Hoa cùng với họ xuống miền nam, nhưng cuộc bành trướng vĩ đại đã không mang tính chất Trung Hoa về mặt nhân lực hay trong sự chỉ đạo. Sự thống trị của Trung Hoa tại Việt Nam đã kết liễu trước khi nó khởi sự.

    Khi triều đại nhà Lý sụp đổ, triều đại mới nhà Trần, 1225-1400, đã đảm nhận nhiệm vụ và theo đuổi cùng chính sách. Vào khoảng năm 1306, họ đã vươn tới Đà Nẵng, giờ đây thuộc Nam Việt Nam. Sự trì hoãn tương đối trong việc đạt tới mục tiêu này có thể là một hậu quả của các cuộc xâm lăng ồ ạt của Mông Cổ vào năm 1284 và sự tàn phá mà chúng đã gây ra. Việt Nam đã không thể đáp ứng được các cuộc mạo hiểm phía nam trong khi mối đe dọa này còn tồn tại. Vào năm 1306, Kubilai Khan từ trần, và các người thừa kế ông ta, các vị vua trị vị ngắn ngủi và chết sớm, đã từ bỏ giấc mộng chinh phục toàn thế giới của mình. Trong triều đại nhà Nguyên (Mông Cô) sau này, Trung Hoa đã im lặng về đối sách với phương nam. Các vua nhà Trần của Việt Nam do đó đã có thể tái tục cuộc “Nam Tiến”, đến mãi tận Đà nẵng, nhưng có lẽ rằng bước tiến dài này đòi hỏi nhiều hơn những gì mà một triều đại đã sẵn vượt quá thời cực thịnh của mình có thể đáp ứng một cách an toàn. Trong năm 1371, người Chàm, trong một cuộc quật khởi hữu hiệu sau cùng, đã càn quét miền bắc và thực sự chiếm giữ và lục soát chính Hà Nôi. Tai họa này đã đẩy triều đại nhà Trần vào một tình trạng rối loạn từ đó nó không bao giờ hồi phục. Ba mươi năm sau đó nó đã bị thay thế vào năm 1400 và trong sự rối loạn tiếp theo sau, hoàng đế Vĩnh Lạc của Trung Hoa đã đạt được sự tái chính phục ngắn ngủi của ông ta tại Việt Nam (1407-27). Kế đó, tình trạng này đã được kết thúc với cuộc kháng chiến thành công của triều đại mới, nhà Lê, nhưng đã phải mất năm mươi năm trước khi cuộc Nam Tiến có thể tại tục trên một quy mô rộng lớn. Cuộc phản công của người Chàm trong năm 1371, được hỗ trợ bởi các tình huống trùng hợp với cuộc tấn kích, đã mang lại cho người Chàm một ân hạn trong một trăm năm.

    Trong năm 1471, nhà vua Việrt Nam đã xâm lăng xứ Chàm với thế mạnh và đã chiến thắng toàn diện. Kinh đô bị chiếm cứ, một cuộc tàn sát quy mô các cư dân đã được thực hiện, và vương quốc Chàm đã thực sự bị hủy diệt. Số người Chàm còn sót lại ở mãi xa phía nam, vùng châu thổ sông Cửu Long, miền đất đã bị phân chia thành nhiều lãnh địa nhỏ, tất cả đều dưới quyền chủ tể củaViệt Nam. Người Việt đã đạt được phần lớn mục tiêu của họ, sự chinh phục miền nam, nhưng sự kiện này chứng tỏ sẽ tự nó trở thành một vấn nạn. Sự bành trướng vào các vùng đất mới, nơi ít dân hơn, có nghĩa là các di dân có khuynh hướng thụ đắc các đặc tính khác luôn luôn làm cho các di dân trở nên khác biệt. Họ trở nên ít phục tùng hơn đối với chính quyền trung ương xa xôi, độc lập hơn trong cách nghĩ và lối sống của họ. Họ đã khám phá rằng bởi việc di chuyển về phía nam người ta có thể để lại phần lớn một chính quyền đàn áp phía sau; nếu nó truy đuổi, người ta chỉ còn cách di chuyển đến vùng đất mới hơn, song lại phì nhiêu hơn. Không bao lâu chính quyền ở Hà Nội nhận thấy miền nam xa xôi khó kiểm soát được. Triều đại nhà Lê đã đi qua thời cực thịnh của nó hồi giữa thế kỷ thứ mười sáu. Hai gia tộc quan chức lớn đã chế ngự triều đình, và các âm mưu và sự thù nghịch lẫn nhau của họ đã đe dọa đến chế độ. Trong hai gia tộc, họ Trịnh có quyền lực lớn hơn tại Hà Nội, và trong năm 1558 họ đã âm mưu để tự loại bỏ đối thủ của mình, họ Nguyễn, bằng cách đẩy trưởng tộc họ Nguyễn được cử đi làm tổng trấn miền nam, với tổng hành dinh tại Huế. Việc này vừa dành cho họ Trịnh một thẩm quyền không bị đụng chạm tới trên các vua Lê yếu ớt, vừa để các khó khăn của miền nam cho đối thủ của họ giải quyết sao cho tốt nhất với khả năng của họ Nguyễn.

    Nhà Nguyễn đã chứng tỏ rất có khả năng để đối phó với các vấn đề này. Giờ đây đã có điều tuơng đương, và được phát triển vững chắc, như một chính quyền trung ương mới tọa lạc tại chính miền nam, ở Huế. Chính nhà Nguyễn quan tâm đến việc mở rộng thêm nữa, để gia tăng lãnh địa của họ và tự mình củng cố để chống lại nhà Trịnh ở phương bắc. Sự bành trướng sẽ mang các kẻ định cư mới từ phương bắc vào, và miền nam vẫn còn thưa dân hơn nhiều. Chỉ trong vòng hơn một thế kỷ, vào khoảng 1692, các nhà lãnh đạo nhà Nguyễn tại Huế đã hoàn toàn trấn áp các lãnh địa Chàm còn lại và thực sự làm quốc gia đó tan biến đi. Một số cộng đồng người Chàm hãy còn hiện diện dọc bờ biển sâu phía nam của Việt Nam, và tại các quận huyện lân cận ở Căm Bốt, nhưng nếu kể như một dân tộc, người Chàm đã biến mất trong lịch sử. Nhà Nguyễn đã chiếm cứ Sàigòn trong năm 1691. Biến cố này chỉ xảy ra vài năm sau khi triều đại mới của Trung Hoa, Mãn Châu, dưới thời Hoàng Đế Khang Hi trẻ tuổi, mạnh bạo, sau hết đã trấn áp tất cả các đối thủ gốc Trung Hoa của ông ở miền nam Trung Hoa và chinh phục toàn thể đế quốc (1688). Sự kiện rằng nhà Nguyễn nhận thấy có thể tiến hành cuộc chinh phục lớn lao sau cùng ở miền nam, tức vùng châu thổ sông Cửu Long, vào một thời điểm khi mà đối thủ của họ tại Hà Nội, nhà Trịnh, phải dò chừng tham vọng và sự thù nghịch khả hữu của vị Hoàng Đế Trung Hoa hiếu chiến và say men chiến thắng chắc chắn có ý nghĩa quan trọng. Sự lúng túng của nhà Trịnh đã là cơ hội cho nhà Nguyễn.

    Nhà Nguyễn đã không mấy lo sợ về Khang Hi; họ thu nhận vào các vùng đất mới chinh phục không chi dân di cư gốc Việt mà còn cả các người tỵ nạn Trung Hoa trốn tránh sự chinh phục của Mãn Châu thuộc miền Nam Trung Hoa; một số trong các người này đã thành lập ra Chợ Lớn, thành phố chị em của Sàigòn vẫn còn được cư trú bởi người Trung Hoa. Các người khác định cư tại châu thổ sông Cửu Long. Trong các thời đại sớm hơn, không chế độ Việt Nam nào dám chứa chấp các kẻ địch của Hoàng Đế Trung Hoa. Nhà Trịnh ở Hà Nội vẫn còn ở trong vị thế này, nhưng nhà Nguyễn miền nam có thể coi thường sự cấm đoán cổ xưa này và không cần biết đến Trung Hoa; họ có nhà Trịnh nằm ở giữa. Sự kiện này soi sáng sự thay đổi lớn lao mà cuộc Nam Tiến đã mang lại trong các quan hệ giữa vương quốc Trung Hoa và nước “triều cống” của nó, An Nam. Nước triều cống giờ đây là một vương quốc to lớn, và nửa miền nam của nó ha6`u như không tiếp cận với quyền lực Trung Hoa trực tiếp. Người Mãn Châu, một dân tộc đại lục, không bao giờ đi đường biển, cũng không duy trì các lực lượng hải quân lớn và hữu hiệu. Đế quốc Mãn Châu vào chính thời gian này đang sẵn sang dấn thân vào các chiến dịch xa xăm để chinh phục xứ Mông Cổ, vùng trung Á Châu và Tây Tạng. Một thế kỷ sau đó nó đã thực hiện một kỳ công đáng kể của việc vượt qua Hy Mã Lạp Sơn và chinh phục Nepal, nhưng nó không mưu toan tái chinh phục Việt Nam, bắc hay nam, nhà Trịnh hay nhà Nguyễn. Hệ thống, giờ đây đã được thử nghiệm trong nhiều thế kỷ, theo đó Việt Nam đã sẵn nhìn nhận quyền chủ tể của Hoàng Đế và tham gia trọn vẹn vào văn minh Trung Hoa đủ để thỏa mãn lòng kiêu hãnh và ít gây tốn kém cho hầu bao của các nhà cầm quyền Trung Hoa.

    Sự loại trừ xứ Chàm, và sự sống sót lâu dài đến thế của nó, có liên hệ mật thiết với các sự may mắn của một đất nước mà Việt Nam đã có ít sự tiếp xúc trực tiếp trước đây, Căm Bốt. Sự ngừng nghỉ lâu dài trong cuộc Nam Tiến theo sau sự tiến bước tới vùng vĩ tuyến thứ 17 năm 1609, trước bước tiến lớn lao đến Đà Nẵng năm 1306, là một phần trong cùng thời kỳ mà nhà vua vĩ đại của Căm Bốt, Jayavarman VII đang theo đuổi cuộc chinh phục của ông ta tại miền nam xứ Chàm. Ông ta đã chiếm giữ nước đó cho đến khi từ trần, vào năm 1218, tuy thế Chàm đã dành lại được nền độc lập sau đó. Ngay trước thời trị vì của ông, Việt Nam đã phải dè chừng về quyền lực Căm Bốt như là một kẻ tranh dành sự thừa kế di sản Chàm. Trong suốt thế kỷ thứ mười hai, từ 1123 trở về sau khi Nhà Vua Suryavarman II tấn công chính An Nam (như sẽ được lập lại một lần nữa vào năm 1150), quyền lực Căm Bốt tích cực hoạt động tại phía nam của đất nước giờ đây là Việt Nam, cả hai bên đều chống lại người Chàm, và đôi khi liên minh với họ [người Chàm]. Sự thụ động tương đối của nhà Tống ở Trung Hoa, đúng ra nên khuyến khích người Việt đẩy mạnh cuộc Nam Tiến, đã được cân đối bởi sự tích cực của Căm Bốt trong vùng mà một cuộc Nam Tiến như thế sẽ nhắm tới. Vua Jayavarman VII đã là nhà chinh phục Căm Bốt vĩ đại cuối cùng; các chiến dịch của ông, và các kiến trúc của ông, đã làm khô cạn các tài nguyên của vương quốc, và trong thế kỷ thứ mười ba, Căm Bốt bước vào trước tiên một thời kỳ yên tĩnh kéo dài sang thế kỷ sau thành sự suy sụp. Sự giảm bớt áp lực của Căm Bốt này cho phép người Chàm phóng ra cuộc phản công vĩ đại sau cùng của họ vào Việt Nam trong năm 1371 tương tự như thế, sau khi cuộc chinh phục của nhà Minh vào Việt Nam bởi Hoàng Đế Vĩnh Lạc bị kết thúc trong năm 1427, việc này đã mang lại cho Việt Nam quyên tự do hành động cần thiết để chinh phục nước Chàm năm 1471.

    Vào thời gian mà người Việt Nam tiến vào châu thổ sông Cửu Long, Căm Bốt, dưới áp lực thường trực của người Thái, các kẻ triều cống trước đây nay trở thành các kẻ địch hùng mạnh, đã bị bắt buộc từ bò Angkor; và các vị vua của nó đã được tạo lập một cách khá bấp bênh nơi hạ lưu sông Cửu Long, bao gồm phần lớn vùng ngày nay là châu thổ phía trên. Chính vì thế, người Việt Nam sau khi hủy diệt các lãnh địa Chàm đã lập ra một biên giới chung với một nước Căm Bốt suy yếu và bị quấy rối. Áp lực trước đây được đặt trên người Chàm đã được chuyển sang người Khmer, những kẻ dần dà bị buộc rời khỏi vùng châu thổ. Sự đối đầu giữa một Căm Bốt suy yếu và một Việt Nam đang bành trướng dưới các chúa nhà Nguyễn mang lại sự thù nghịch lâu dài giữa hai dân tộc. Người Khmer lo sợ cùng số phận của người Chàm, và nhìn thấy xứ sở lưu vực sông Cửu Long màu mỡ của chính họ như là khu vực kế tiếp cho sự bành trướng của Việt Nam; người Việt Nam không ngừng cuộc Nam Tiến, và dưới thời Pháp thuộc, vẫn tiếp tục trong thực tế cho xâm nhập các người định cư vào Căm Bốt.

    Cuộc Nam Tiến, đặc biệt các giai đoạn về sau của nó khi một số tỷ lệ dân số bị trị bị đồng hóa vào dân Việt Nam chiến thắng, đã có ảnh hưởng làm loãng đi và thay đổi một cách tế vi tính chất văn hóa Trung Hoa mà người bắc Việt Nam đã chấp nhận quá lâu. Dân chúng của các tỉnh miền nam ít bị xâm nhập và kiểm soát nặng nề bởi tầng lớp học thức – học tập Khổng Học Trung Hoa – so với miền bắc. Các điền sản thì lớn hơn, tỷ lệ các nông dân cao hơn tỷ lệ các điền chủ. Hậu quả, văn hóa Khổng học miền bắc bị thách đố bởi một phần các giáo phái và khuynh hướng tiền-Việt Nam, một phần bởi các giáo phái và khuynh hướng mới tự phát ở miền nam. Đạo Phật nở rộ, và mang tính chất một tín ngưỡng bình dân như đối kháng lại một tín ngưỡng chính thức. Chắc chắn nó đã thu hút sức mạnh từ tính chất Phật Giáo của các phần tử Chàm và Căm Bốt trong dân chúng. Về sau các giáo pháo bản xứ đã phát sinh, một số hãy còn tiếp tục. Sau sự du nhập Ki-tô-giáo, đạo Công Giáo đã có sự tiến triển mau lẹ. Các chuyển động này có thể được nhìn một phần là vì sự suy giảm tác động của nền văn minh Trung Hoa thuần túy ở một khoảng cách xa xăm hơn với nguồn cội, và một phần vì các nguyên do xã hội, tính chất độc lập của một dân số nông dân mở đường khai phá đối lập với các sự cao ngạo của tầng lớp địa chủ.

    (còn tiếp)

  7. #7
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Bài 3 (tiếp theo)

    Sự kiện rằng chính miền nam đã là nơi mà các du khách và các nhà mậu dịch Âu Châu đến đầu tiên, mang theo họ các tư tưởng mới và một tôn giáo mới, đã bổ túc cho sự khác biệt cấp miền đang phát triển này. Nó diễn ra vào khoảng hai mươi năm trước khi chức phó vương kinh lược (hay tổng trấn: viceroyalty) miền nam được thiết lập dưới sự lãnh đạo của họ Nguyễn (1558), rằng chiếc tàu Bồ Đào Nha đầu tiên đã cập bến duyên hải Việt Nam (1535). Các nhà truyền giáo đã sớm theo bước các kẻ hải hành ban đầu và tìm thấy vùng đất xa xôi phía nam, châu thổ sông Cửu Long, một cánh đồng tương đối phì nhiêu cho sự nỗ lực của họ. Các yếu tố phác họa ở trên làm suy yếu sự chống đối phổ thông đối với một tôn giáo mới, và sự dễ dàng và tiến bộ của các việc cải đạo Công Giáo tại miền nam chắc chắn phản ảnh một khía cạnh trong tính chất người dân miền nam Việt Nam, trong thực tế, đến tính chất của mọi người Việt Nam, đánh dấu một sự khác biệt rõ ràng giữa họ và chính dân tộc Trung Hoa. Có thể là một dân tộc sẽ luôn luôn ý thức một cách khó chịu về sự kiện rằng nền văn hóa của họ mang tính chất ngoại lai và nguyên thủy bị áp đặt bởi sự chinh phục. Các truyền thống tương tự của sự chống đôi, che dấu và bình dân hơn là công khai và quý tộc, đối với các nền văn hóa ngoại quốc bị áp đặt xuất hiện tại nhiều nơi trên thế giới (Ái Nhĩ lan (Ireland) là một thí dụ tốt). Một sự biểu lộ của thái độ này, có tầm quan trọng lớn lao đến văn hóa tương lai của Việt Nam và mối quan hệ của nó với Trung Hoa, đã là một hậu quả gián tiếp của nỗ lực truyền giáo.

    Đối diện với sự khó khăn gấp đôi của sự phức tạp và phạm vi của văn tự biểu ý (ideographic) của Trung Hoa và sự kiện rằng phần lớn dân chúng mù chữ, các nhà truyền giáo đã quyết định tạo ra một cách ký âm bằng mẫu tự la mã cho tiếng Việt (là một ngôn ngữ cho phép làm việc này) và sáng chế ra Quốc Ngữ [tiếng Việt trong nguyên bản, ND], bản ký âm bằng mẫu tự la mã cho ngôn ngữ nói của Việt Nam. Sau đó họ đã phiên dịch các tài liệu tôn giáo thành tiếng Việt với sự sử dụng loại hệ thống chữ viết này. Một sự phát triển như thế sẽ không bao giờ khả thi tại Trung Hoa: trước tiên bản chất của một ngôn ngữ phần lớn là từ đồng âm (homophonic) tự nó không thích nghi với sự ký âm bằng mẫu tự [la tinh]; thứ nhì, sự kính trọng của người Trung Hoa và sự hãnh diện về hệ thống văn tự biểu ý của chính họ sẽ tức thời sỉ nhục bất kỳ sự ký âm mới nào là “man rợ”. Các nhà truyền đạo Công Giáo ban đầu tại Trung Hoa, đã đi theo một con đuờng đúng là đối nghịch với các đồng sự của họ ở Việt Nam, đã học tiếng Trung Hoa và trở thành các học giả tinh thông về văn chương và ngôn ngữ cổ điển. Quốc Ngữ đã được loan truyền một cách mau lẹ, và vượt quá phạm vi các khối người cải đạo Thiên Chúa. Nó đương nhiên khơi lên sự báo động của giới quan chức học theo Khổng Học và địa chủ, bởi nó đâm thọc vào các nền tảng thẩm quyền và uy tín của họ. Ngoài ra, nó không phải là một hệ thống được chấp nhận để ký âm ngôn ngữ Trung Hoa cổ điển, và vì thế không giúp ích gì cho các nhà giáo dục cổ truyền. Giống như bên Trung Hoa, ảnh hưởng quan trọng tối hậu của sự rao giảng đạo Ki-tô, hiện diện ngay từ các giáo sĩ Dòng Tên đầu tiên được tuyển dụng bởi Triều Đình như các nhà thiên văn và toán học, chính là việc gieo những hạt mầm quan tâm đến khoa học tự nhiên, tại Việt Nam cũng thế, ảnh hưởng quan trọng tối hậu là sự tạo lập (cũng từ các giáo sĩ đầu tiên) một công cụ thích hợp để phổ biến và tăng cường văn hóa dân tộc đối lập với văn minh ngoại lai có nguồn gốc Trung Hoa.

    Ảnh hưởng đạo Thiên Chúa không lâu cũng đã được du nhập vào phần phía bắc của Việt Nam, nhưng không có vẻ hoàn toàn thật mạnh mẽ như là tại miền nam. Nó cũng gắn liền với sự tăng trưởng mậu dịch và sự xuất hiện của một tầng lớp thương nhân tại các hải cảng và các thành phố. Sự phân chia giữa các vị chúa Nguyễn ở phương nam với các quan nhiếp chính họ Trịnh chế ngự triều đình miền bắc làm mệt mỏi và gây cản trở cho các nhà mậu dịch, và xúc phạm đến cảm thức thống nhất của toàn thể người dân. Nó tiếp tục tạo khó khăn cho xứ sở với các cuộc nội chiến và phân tranh trong suốt thế kỷ thứ mười bảy cũng như phần đầu của thế kỷ thứ mười tám. Truyền thống Khổng học khinh miệt thương mại và chính quyền chỉ làm ít điều để hỗ trợ thương mại và nhiều điều gây phiền nhiễu và bóc lột tầng lớp thương nhân. Các du khách ngoại quốc ghi nhận về sự nghèo khổ của giới nông dân và nhận xét rằng các thương nhân, mặc dù thường giàu có, đã cố gắng tối đa để che dấu tình trạng của mình trước một chính quyền thù nghịch. Nơi đây, một lần nữa, sự nhấn mạnh thái quá trên một nét của nền văn hóa nhập cảng có thể được nhìn thấy ở Việt Nam. Tại Trung Hoa, tầng lớp quan chức có miệt thị về mặt tri thức các thương nhân, nhưng trong thực tế thường cộng tác với họ trong các cuộc kinh doanh béo bở và nhắm mắt làm ngơ trước các sự né tránh luật lệ chống lại việc tạo mãi đất đai và mua chức tước.

    Các sự căng thẳng của xã hội Việt Nam, xảy ra một phần vì sự đình chỉ thực sự Cuộc Nam Tiến sau khi sáp nhập châu thổ sông Cửu Long hồi cuối thế kỷ thứ mười bảy (1622) đã bùng nổ khoảng tám mươi năm sau đó trong cuộc nổi dậy rộng lớn của Tây Sơn (1771-1802), lãnh đạo bởi ba anh em họ Nguyễn, các kẻ xem ra đã có một căn bản thương nhân. Cuộc nổi dậy của họ phát khởi tại miền nam và một phần dựa vào vùng núi rừng che phủ phía tây bắc châu thổ sông Cửu Long, từ đó phong trào mang tên là Tây Sơn, có nghĩa là núi phía tây]. Cuộc nổi dậy cực kỳ thành công trong nhiều năm. Sàigòn được chiếm giữ trong năm 1776, và mười năm sau đó quân nổi dậy, đã thực sự lật đổ các chúa Nguyễn ở miền nam, đã tấn công miền bắc và thu doạt kinh thành nhà vua ở Hà Nội vào năm 1786. Các quan nhiếp chính họ Trịnh quẫn trí và các kẻ ủng hộ họ sau đó đã cầu cứu Trung Hoa sang giúp đỡ họ. Hoàng Đế Càn Long của triều đại Mãn Châu, vị vua thứ ba trong bộ ba lãnh đạo vĩ đại của triều đại Mãn Châu, khi đó đang trên ngai vàng, vị thế ông đã chiếm ngự trong bốn mươi năm. Ông ta quyết định rằng cuộc nổi dậy của Tây Sơn và sự sụp đổ của tất cả quyền thế đã được thừa nhận mở ra một cơ hội khác cho sự can thiệp của Trung Hoa. Các đội quân trong thời trị vì của ông đã hoàn tất cuộc chinh phục Mông Cổ, Trung Á thuộc Trung Hoa, và Tây Tạng. Trong năm 1789, ông đã phái một đội quân to lớn sang bắc Việt Nam, nhưng đã đụng độ và bị đánh bại bởi các lực lượng Tây Sơn gần biên giới. Vua Càn Long đã từ bỏ bất kỳ sự can thiệp nào khác nữa.

    Chỉ một hay hai năm sau đó các lượng sẽ đánh bại phong trào Tây Sơn đã khởi sự hành động. Một người Pháp phiêu lưu và là người xuất ngoại[émigré, tiếng Pháp trong nguyên bản, ND] trốn tránh cuộc Cách mạng Pháp, Pigneau de Behaine, đã thu gom ở lãnh địa chiếm hữu phía đông của Pháp tại Ấn Độ, vùng đất vẫn chưa chấp nhận cuộc Cách mạng, một lực lượng hỗn hợp các kẻ phiêu lưu Âu Châu dưới danh nghĩa phục vụ quân đội của Nguyễn Ánh, người tuyên nhận nối ngôi cuối cùng của các vị Chúa Nguyền ở miền nam đã bị sụp đổ, đã chạy trốn ra nước ngoài. Các cuộc đột kích hải quân và các cuộc xâm nhập quy mô nhỏ đã được tổ chức bởi Pigneau de Behaine và đồng minh người Việt của ông trên bờ biển phía nam. Họ nhận được vài sự hỗ trợ phần lớn từ các người cải sang đạo Thiên Chúa. Trong năm 1791, họ đã tái chiếm Sàigòn, và từ căn cứ then chốt này đã liên tục theo đuổi mục đích của họ, đột kích và xâm nhập vùng bờ biển trong mọi kỳ có gió mùa đông nam (mùa hè). Huế được chiếm giữ trong năm 1801; và chính Hà Nội trong năm kế tiếp, 1802, một biến cố đánh dấu sự kết thúc của nổi dây của Tây Sơn. Cuộc nổi dậy đó đã được tượng trưng bởi một khía cạnh chống Khổng học và mang tính dân tộc rõ rệt. Quốc Ngữ trở thành ngôn ngữ chính thức của nó thay cho tiếng Hán cổ truyền; một trong các anh em nguyên thủy đã phát động cuộc nổi dậy là một nhà sư Phật Giáo, và sự hậu thuẫn của các kẻ cải đạo theo Thiên Chúa cho cuộc phản cách mạng báo trước một sự sắp xếp hàng ngũ vẫn còn tồn tại cho đến thời điểm hiện tại.

    Các sự kiện nổi bật khác về phong trào Tây Sơn là, trước tiên, tính chất toàn Việt Nam (pan-Vietnamese) đã được ý thức và thắng lợi. Nó tái thống nhất xứ sở, từ chối việc lưu giữ sự chia cắt của các chúa miền nam, và thiết lập kinh đô của nó tại Hà Nôi., trung tâm chính quyền cũ. Trong cung cách này, nó chắc chắn tiượng trưng cho một cảm nghĩ thống nhất rất sâu đậm trong dân chúng Việt Nam mà các sự chia cắt áp đặt liên tiếp đã không xóa nhòa được. Thứ nhì, phong trào bị đánh bại bởi sự can thiệp bên ngoài, và không phải bởi sự can thiệp của Trung Hoa, vốn đã bị đẩy lui. Các hoạt động của các lực lượng trên biển của Pigneau de Behaine chính vì thế đã báo trước cho sự chinh phục sắp đến của người Pháp, và sự chiến thắng bề ngoài của Nguyễn Ánh là khúc dạo mở màn cho sự thống trị của các đồng minh của ông. Sự kiện rằng nhà Trịnh thua trận đã nghiêng về việc đánh liều với các hậu quả của cuộc xâm lăng của Trung Hoa hơn là chấp nhận tính chất dân tộc của phong trào Tây Sơn cũng minh họa cho một khuynh hướng mới trong sự phát triển của lịch sử Việt Nam. Các phong trào dân tộc chủ nghĩa ngày càng trở nên đối nghịch với sự cai trị của các quan chức Hán hóa và một văn hóa hướng về Trung Hoa; khi trong thế kỷ thứ mười chin quyền lực của Trung Hoa thôi không còn là một vấn đề cấp bách, và sự xâm nhập của Pháp đã xảy ra, các phong trào dân tộc nổi dậy và phản kháng quay ra chống lại mối nguy hiểm ngoại lai mới.

    Có các sự tương đồng giữa cuộc nổi dậy của Tây Sơn tại Việt Nam và cuộc nổi loạn Thái Bình Thiên Quốc tại Trung Hoa khoảng năm mươi năm sau đó. Cả hai đều là các phong trào bình dân dựa trên giới nông dân và đối nghịch với ý thức hệ Khổng học đang thống trị, cả hai đều tiến sát tới sự chiến thắng toàn vẹn và sự tái định hướng có hậu quả sâu đậm trên văn hóa đất nước họ. Cả hai đều phần lớn bị đánh bại bởi sự can thiệp của ngoại quốc dựa trên hải lực. Sàigòn nằm trong tay Pigneau de Behaine báo trước vai trò của Thượng Hải như căn cứ quân sự cho “Quân Đội Mãi Mãi Chiến Thắng” của Tướng Gordon” và cơ sở tài chính cho đội quân triều đình ở An Huy khá hùng mạnh và hữu hiệu tối đa của Lý Hồng Chương. Cả hai phong trào cũng hướng tới một thái độ mới, trong khi dấu mình trong các hình thức cổ xưa, từ đó các phong trào dân tộc và bình dân sau này đã lấy làm cảm hứng. Tây Sơn bao hàm lý tưởng của một Việt Nam thống nhất, có tính cách dân tộc về văn hóa và bình dân trong sự ủng hộ. Phong trào Thái Bình Thiên Quốc được nhìn nhận bởi Cộng Sản Trung Hoa ngày nay như các tiền thân, ngay dù thường đi sai đường, cho cuộc cách mạng thắng lợi của chính họ [cộng sản].

    Nguyễn Ánh, người lên ngai vàng của một nước Việt Nam thống nhất, trong thực tế là công trình của các đối thủ của ông ta, đã trị vì với vương hiệu Hoàng Đế Gia Long của triều đại mới nhà Nguyễn. Các tổ tiên của ông đã là các vị chúa miền nam, ông đích thân dựng Huế làm kinh đô của mình, và bỏ rơi Hà Nội. Gia Long đã lập ra chính sách của mình để tăng cường tính chất Trung Hoa trong sự cai trị của ông trong mọi phương cách khả dĩ. Tước hiệu mới của ông là Hoàng Đế, điều có thể hơi tự phụ trong mắt nhìn của Trung Hoa, đã không gây ra sự giận dữ tích cực của các kẻ kế ngôi bị quấy nhiễu của vua Càn Long, cũng không ngăn cản một sự thừa nhận chính thức quyền chủ tể của Trung Hoa. Chính quyền được tập trung hóa một cách cứng ngắc; Nguyễn Ánh, hậu duệ của các vị chúa miền nam, đã không chủ định rằng các kẻ khác nên tranh dành lịch sử với gia tộc của chính ông. Hệ thống khảo thí Trung Hoa tuyển chọn quan lại trong Công Quyền được tái củng cố và tái dập khuôn theo các đường nét gần gủi với cách thức của Trung Hoa. Việc học tập Khổng học được nhấn mạnh, Phật giáo bị hạn chế và thường bị ngược đãi, chế độ, bất kể đến món nợ của nó với các kẻ đánh thuê người Pháp, trở nên chống lại Công giáo một cách rõ rệt. Tại miền nam, chính sách thực dân vùng châu thổ được gia tăng bởi việc thành lập các khu khẩn hoang với binh sĩ là nông dân dọc theo biên giới Căm Bốt và tại các vùng đất mới thưa dân dọc theo hạ lưu sông Cửu Long. Sự kháng cự tích cực chống lại cuộc chinh phục của Pháp mà các khu đồn điền đã chứng tỏ sau này cho thấy rằng Hoàng Đế Gia Long có thể đã sẵn hay biết là các tỉnh miền nam của ông bị mở ngỏ nhiều nhất trước hiểm họa ngoại bang, chứ không phải biên cương miền bắc với Trung Hoa dưới triều Mãn Châu.

    Bốn hoàng đế kế tiếp nhau của Việt Nam đã trị vì và cai trị từ 1802 đến 1883, năm mà trong đó cuộc chinh phục của người Pháp hay chế độ bảo hộ cưỡng đặt, đã chấm dứt nền độc lập thực sự của Việt Nam. Vua Gia Long (1802-20) đã không liên hệ trực tiếp vào sự tranh chấp với Pháp, và theo đuổi chính sách độc đoán và cổ truyền nghiêm ngặt của mình, kể cả các biện pháp chống lại Công giáo, đã không bị quấy nhiễu. Hai người kế ngôi ngay sau ông, Minh Mạng, băng hà năm 1841, và Thiệu Trị, băng hà năm 1847, đã có thể kiềm chế các áp lực gia tăng một phần được phóng ra bởi các giáo sỉ và các kẻ cải đạo theo họ, phần khác phát sinh từ trạng thái lớn mạnh của chủ nghĩa đế quốc Âu Châu trong thế kỷ thứ mười chin, đang dâng cao quanh hai ông. Cho đến khi chấm dứt sự trị vì của vua Gia Long các cuộc Chiến Tranh Napoleon và sự kiệt quệ của nước Pháp bởi sự giao tranh lâu dài này khiến cho sự xâm lăng nước ngoài từ vùng đất đó [Pháp] trở nên bất khả thi. Cho đến khi Anh Quốc phát lộ nhược điểm nội tại của triều đình Mãn Châu tại Trung Hoa qua các chiến thắng dễ dàng của Anh trong Cuộc Chiến Tranh Nha Phiến (1840-2), các dân tộc Âu Châu hãy còn có sự kính trọng đối với sức mạnh của các đế quốc phương đông vốn có thể được chứng minh trong thế kỷ thứ mười tám, nhưng giờ đây đã trở nên lỗi thời. Điều quan trọng là sự khởi động quân sự đầu tiên của Pháp, một cuộc tấn công vào thành phố hải cảng Đà Nẵng, xảy ra trong năm 1847, chỉ năm năm sau sự bại trận của Trung Hoa trong cuộc Chiến Tranh Nha Phiến. Đó là một biến cố biệt lập, không có các hậu quả lâu dài, nhưng nó đã diễn ra vào năm mà Hoàng Đế Thiệu Tri bị mất, người kế ngôi ông, vua Tự Đức, vị quân vương độc lập cuối cùng của Việt Nam, sắp phải chiến đấu suốt cuộc đời mình chống lại sự xâm lấn gia tăng.

    (còn tiếp)

  8. #8
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Bài 3 (tiếp theo)

    Trong năm 1858, Đô Đốc Rigault de Genouilly lại tấn công Đà Nẵng lần nữa, và trong năm kế tiếp chiếm giữ Sàigòn. Từ biến cố đó đã khởi sự một chuỗi các sự xâm lấn và sáp nhập mang vài nét tương đồng với sự nghiệp của Pigneau de behaine và chính vua Gia Long trong cuộc chiến của họ chống lại quân Tây Sơn mới sáu mươi ông. Năm 1864 sứ giả Pháp tại chỗ đã bị khuyến dụ để đồng ý một sự hoàn trả các năm trước đó. Sàigòn trên nên căn cứ địa; khu vực chinh phục được mở rộng chung quanh nó, và các vùng nội địa bị cắt rời khỏi quyền cai trị của chính quyền ở Huế. Năm 1862, miền đông của phần được gọi là Nam Kỳ, Sàigòn, Mỹ Tho và Biên Hòa, đã bị nhường cho Pháp bởi Hoàng Đế Tự Đức, người e sợ các sự xâm chiếm hơn nữa nếu ông kháng cự, và các hậu quả của chúng trên sự ổn định nội bộ của chế độ của khu vực này, và đã ký kết một văn kiện như thế. Hành vi của ông ta bị bác bỏ tại Paris, nơi mà một cuộc vận động chính trị của phe thực dân nhiều quyền thế đang thành hình. Ba năm sau đó, 1867 thống đốc Pháp tại Sàigòn với đề xuất của mình đã xâm lăng và chiếm đóng, sau đó, sáp nhập phần còn lại của vung châu thổ của Nam Việt Nam đến tận biến giới Căm Bốt. Cùng lúc một chế độ bảo hộ đã được áp đặt lên trên vương quốc yếu kém Căm Bốt, xứ trong thực tế gần như chào đón sự bảo hộ này, thoát ra khỏi các cuộc xâm lăng của Việt Nam và Thái Lan.

    Điều có thể nhận thấy rằng các sự tiến bước quan trọng này của người Pháp đã diễn ra đồng thời với sự suy giảm của quyền lực chính trị của Trung Hoa bởi trước tiên cuộc nổi dậy của Thái Bình Thiên Quốc trong thập niên 50 và những năm đầu của thập niên 60 của thế kỷ và sau đó bởi Cuộc Chiến Tranh Anh - Pháp chống lại Trung Hoa từ 1858 đến 1860, đã áp đặt các hạn chế mới và rộng rãi hơn trên đế quốc đang suy yếu này. Vua Tự Đức không thể hy vọng sự trợ giúp của Trung Hoa trong thời kỳ khó klhăn này. Mặt khác, thảm họa chủa chính nước Pháp trong năm 1870 [thất trận trước Đức, chú của người dịch] chỉ đòi hỏi một sự đình chỉ rất tạm thời tiến trình chinh phục và thống trị tại Việt Nam. Vào năm 1873 chính quyền tại Sàigòn đã đủ mạnh để loại bỏ mọi tàn tích của chính quyền Việt Nam và mang lại chế độ cai trị thực dân trực tiếp của người Pháp. Các viên chức (“các quan lại”) của Tự Đức đã từ chối hợp tác, và trong nhiều trường hợp, đã rút lui khỏi khu vực; vì thế người Pháp tuyên bố rằng sự kiện này đã tạo ra một khoảng trống chính quyền mà họ phải tự đảm nhận việc lấp đầy. Họ đã làm; thuế khóa đã tăng gấp mười lần trong hai mươi năm kế đó. Kỷ nguyên bóc lột của thực dân đã khởi đầu.

    Trong cùng năm, 1873, người Pháp lần đầu tiên đã tiến hành chống lại miền bắc Việt Nam, nơi mà một sĩ quan hành động gần như độc lập với chính phủ quê nhà, nhưng không phải là không có sự hậu thuẫn chính trị tại Pháp, đã chiếm đóng Hà Nội. Anh ta đã bị hạ sát ở đó trong năm sau, và người Pháp đã di tản khỏi thành phố để đổi lấy một hiệp ước mới được ký kết bởi vua Tự Đức chấp thuận mậu dịch mở ngỏ và sư lưu hành tự do trên sông Hồng. Trong khi đó tại Trung Hoa đã có điều mà các sử gia Trung Hoa mệnh danh là Cuộc Phục Hồi vua Đồng Trị (Phục Hưng là một danh từ đúng hơn) theo sau sự trấn áp cuộc nổi dậy của Thái Bình Thiên Quốc năm 1862 và sự trấn áp kế tiếp các cuộc nổi loạn nhỏ hơn của người Niệm (Nien Fei) tại miền trung Trung Hoa và của người Hồi Giáo tại các tỉnh phía tây và tại Vân Nam. Triều đình một lần nữa đã nắm được sự kiểm soát tình hình, và các phó vương kinh lược phục hồi chế độ đã thực hiện các nỗ lực thận trọng để hiện đại hóa quân đội và thiết lập ở mức tối thiểu công nghiệp tân tiến, chính yếu cho các sự trang bị vũ khí. Vua Tự Đức bị khuyến dụ để tin rằng Trung Hoa có thể, sau hết, một lần nữa đưa ra một đối lực trước các sự xâm lược của Pháp. Trong năm 1880, ông đã phái đi một sứ bộ triều cống, không phải chỉ đến biên giới, như tập quán lâu nay, mà còn đến tận Bắc Kinh. Điều này hiển nhiên là một sự biểu lộ về mặt chính trị lòng tin tưởng nơi Trung Hoa và một sự thỉnh cầu gián tiếp cho sự bảo hộ của Trung Hoa. Sự việc này làm tức giận phe thực dân chủ nghĩa của Pháp.

    Trong vòng hai năm người Pháp, tố cáo chính quyền Việt Nam đã vi phạm Hiệp Ước (một duyên cớ tiêu chuẩn cho hành động vũ lực tại khắp vùng Viễn Đông trong thời kỳ này), đã chiếm giữ Hà Nội (1882), lần này với ý định ở lại đó; và mặc dù viên chỉ huy cuộc viễn chinh, Rivière, đã bị hạ sát trong năm kế tiếp, người Pháp đã không triệt thoái. Chiến tranh tại châu thổ Sông Hồng đã tiếp diễn trong gần hai mươi năm, người Pháp đã đụng độ với cuộc kháng chiến du kích được mô tả bởi các người đương thời bằng các từ ngữ có thể được dùng bởi người Hoa Kỳ ngày nay. Kẻ địch vô hình, biến dạng khi có sự xuất hiện của các lực lượng hùng mạnh, nhưng tái hiện khi các lực lượng này ra đi, những kẻ không thể bị phân biệt khỏi giới nông dân trên các cánh đồng, bởi vì chính anh ta là một người trong họ. Vua Tự Đức mất năm 1883 và các khó khăn của triều đại trong sự kế vị ông đã mở đường cho người Pháp chiếm đóng Huế và dựng lên một vị hoàng đế bù nhìn. Một vị tuyên nhận ngôi vị khác đã chạy trốn để lãnh đạo cuộc kháng chiến du kích cho đến khi từ trần [sic, để chỉ vua Hàm Nghi, sau bị bắt và bị đày sang Phi Châu, ND]. Trong khi đó, Trung Hoa đã can thiệp, bằng cả hoạt động của quân du kích phi chính quy được gọi là quân Cờ Đen (tự họ là thối thân của các nhóm Thái Bình Thiên Quốc tỵ nạn chạy trốn vào các vùng đồi núi ở biên giới) lẫn các lực lượng chính quy. Các lực lượng này đạt được một chiến thắng trên người Pháp tại Lạng Sơn, nhưng bộ chỉ huy của Pháp ở ngoài biển, giúp cho họ có thể pháo kích hải cảng Trung Hoa tại Phúc Châu và tấn công các khu vực duyên hải khác, cộng với các sự bận tâm của Trung Hoa tại Hàn Quốc để đối phó với Nhật Bản, khiến cho Triều Đình Trung Hoa sẵn lòng hòa giải, từ bỏ sự tuyên nhận của nó, kéo dài hàng nghìn năm, về quyền chủ tể trên Việt Nam. Biến cố này đã chính thức chấm dứt bất kỳ loại thẩm quyền nào tại xứ sở; sự áp đặt chế độ thống trị thực dân trực tiếp của người Pháp tại Bắc Kỳ năm 1887 và quyền lực bảo hộ gia tăng trên đế quốc An Nam thu nhỏ đặt tại Huế đã kết liễu, trong hơn năm mươi năm, nền độc lập của chính Việt Nam./-

    -----

    Nguồn: C.P. FitzGerald, Chapter Two: Chinese Expansion By Land: Vietnam, các trang 19-38, The Southern Expansion of Chinese People, New York, Washington: Praeger Publishers, 1972

    ***


    PHỤ CHÚ CỦA NGÔ BẮC

    Trên đây là bản dịch của một công trình nghiên cứu quan trọng, trình bày một cách xúc tích tiến trình hình thành của Việt Nam với các ý nghĩa lịch sử then chốt theo nhịp biến thiên trong tác động của áp lực bành trướng thường trực xuống phía nam của Trung Hoa. Tác giả, C.P. FitzGerald là một giáo sư người Anh, được nhìn nhận như học giả hàng đầu và đã xuất bản nhiều tác phẩm kinh điển về văn hóa và địa lịch sử Trung Hoa trong thế kỷ thứ 20. Với sự hiểu biết uyên bác, tác giả đã ghi lại một cái nhìn thấu triệt khi đối chiếu các sự tương tác, các điểm tương đồng và dị biệt trong văn hóa và lịch sử tư tưởng của Trung Hoa và Việt Nam, nước thụ nhận gần như trọn vẹn văn hóa mà người Trung Hoa đã áp đặt lên họ. Bản dịch hai Chương khác trong cùng tác phẩm của tác giả có liên hệ nhiều đến Việt Nam, Sự Bành Trướng Của Trung Hoa Trên Đất Liền: Trường Hợp Vân Nam và Các Viễn Ảnh Về Sự Bành Trướng Xuống Phía Nam Của Trung Hoa, sẽ lần lượt được đăng tải nơi đây.

    Về bản địa nguyên thủy, đặc biệt về biên giới phía bắc của chủng tộc Việt, người dịch xin ghi lại các nhận xét và khám phá mới của khoa học hiện đại, đặc biệt trong nhân chủng học, đã được công bố gần đây như sau:

    1. Tác giả Trần Đai Sỹ, trong bài Thử Tìm Lại Biên Giới Cổ Của Việt Nam: Bằng Cổ Sử, Bằng Triết Học Và Hệ Thống ADN (hay DNA trong Anh ngữ) (đã phổ biến và có thể truy cập dễ dàng trên mạng internet), cho rằng:

    [bắt đầu trích] “… Còn trong vòng 5000 năm trước Tây lịch cho đến nay, thì tộc Việt bao gồm trăm giống Việt sống rải rác từ phía nam sông Trường Giang, Đông tới biển, Tây tới Tứ Xuyên, Nam tới vịnh Thái Lan. Người Việt từ Ngô-Việt di cư xuống phương Nam. Người Mân Việt đi xuống Giao Chỉ. Người Việt di cư từ nam sông Trường Giang tránh lạnh xuông Bắc Việt đều đúng. Đó là những cuộc di cư của tộc Việt trong lãnh thổ của họ, như cuộc di cư từ bắc vào nam năm 1954; chứ không phải họ là người Trung quốc di cư xuông Nam, lập ra nước Việt.” [hết trích]

    Tác giả cũng có trưng dẫn các di tích còn lại đến ngày nay như đền có các câu đối thờ Hai bà Trưng tại Bồ Lăng (Fuling) thuộc thành phố Trùng Khánh, tỉnh Tứ Xuyên, ở Trường sa, ở Động Đình Hồ, tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa ngày nay, v.v… Chúng ta cũng còn các bài thơ của Lê Quý Đôn, Phan Huy Ích viết về các đên thờ Hai bà Trưng ở nam Trung Hoa khi các vị này biết đến trong dịp đi sứ sang Trung Hoa. Các bằng chứng này cho thấy nhiều phần địa bàn tranh đấu của Hai Bà Trưng nằm ở vùng Hoa Nam ngày nay hơn là ở vùng châu thổ sông Hồng như được lưu truyền.

    Tác giả đã đề cập đến các cuộc nghiên cứu hệ thông DNA và đã đưa ra các kết luận như sau:

    - (bắt đầu trích) “Theo sự nghiên cứu bằng hệ thống AND, từ cổ, giống người Trung Hoa, do giống người từ Đông Nam Á đi lên. Những người Đông nam Á lại đến từ châu Phi qua ngả nam Á vào thời gian hơn 20,000 năm trước.

    - Người châu Phi đến Bắc Trung Hoa do ngả Âu Châu rồi vào Trung Á, khoảng 15,000 năm. Rồi hai giống người này tạo thành tộc Hoa.”(hết trích)

    Rất tiếc là các kết quả nghiên cứu hệ thống DNA đã không được trinh bày giống như trong các cuộc nghiên cưu khoa học khác, vì đây là những bằng chứng khả tỉn nhất, có sức thuyết phục vũng chắc nhất.

    2. Tác giả W. W. Howells, trong bài Origins of the Chinese People: Interpretations of the Recent Evidence, đăng tải trong quyển The Origins of Chinese Civilizations, University of California Press: Berkeley, California & London, 1983, đã áp dụng các phương pháp nhân chủng học như đo sọ người thu thập được từ nhiều nơi trên đất Trung Hoa, để lấy số đo của chiều dài, chiều ngang và chiều cao của vòm sọ, chiều dài từ xương chẩm đên đầu mũi; chiều dài từ xương chẩm đến kẽ giữa răng cửa; chiều ngang và chiều dọc của khuôn mặt; chiều dài và chiều ngang của mũi, ổ mắt) (Xem Bảng 11.1 và 11.2 dưới đây).


    Bảng 11.1: Các Số Đo Trung Bình Của Các Loạt Sọ Người Trung Hoa

    (xin lỗi vì không dán vào được)
    ***

    Bảng 11.2: Các Độ Sai Trệch Tiêu Chuẩn của Chuỗi Số Đo Sọ Người Tại Đảo Hải Nam và An Dương, Trung Hoa, So Sánh Với Các Độ Sai Trệch Tiêu Chuẩn Trung Bình Trên Thế Giới Đã Được Tổng Quát Hóa

    (xin lỗi vì không dán vào được)


    ***

    Tác giả cũng đã áp dụng các sự phân tích phân biệt của các hàm số biện biệt trên các số đo các sọ người từ các vùng quan trọng trên thế giới để đối chiêu với sọ người tại vùng An Dương (đời nhà Thương) và đảo Hải Nam, Trung Hoa, cũng như so sánh với các chi số của các người đang sống từ nhiều nơi tại Á Châu, dựa vào công trình nghiên cứu của tác giả Bowles (1977), nhằm tính các khoảng cách tổng quát hóa và áp dụng các kỹ thuật quy tụ, hầu xác định tính khả tín và ổn định của cuộc thí nghiệm.

    Tác giả Howells đã tóm tắt như sau:

    [bắt đầu trích]”Theo các kết quả, được đơn giản hóa ở đây, các dân sống ở vùng Đông Á Châu thuộc vào một loạt các khu vực theo trục bắc nam tổng quát sau đây:

    1. Siberia (Tây Bá Lợi Á) và miền đất rừng phía đông (thí dụ, người Ainu; Ostyak, Yakut, Tungus,và v.v…; Koryak, Chukchi, Eskimo)

    2. Biển Caspian Sea đến Mãn Châu (thí dụ, người Kalmuks, Uyghurs, Kazakhs, Mongols, Buriats)

    3. Bắc Trung Hoa, Hàn Quốc, Nhật Bản. Được gọi là “Các Dân Vùng Ở Giữa, Trung Gian: Intermediate Populations”)

    4. Miền đông, tây, và nam Trung Hoa (giáp ranh với các dân thuộc vùng 3, nằm giữa các lưu vực của các con sông Hoàng Hà và Dương Tử

    5. Vân Nam, Quý Châu, Việt nam (kẻ cả 3 phân chủng khác nhau trong các thổ dân Đài Loan) [in đậm để làm nổi bật bởi người dịch]

    6. Đông Dương (trừ Việt Nam), Thái Lan, Mã Lai.

    … Và tác giả Bowles nhìn nhận người Bắc Trung Hoa như “dân trung gian, ở giữa”: da họ trắng hơn các người phương nam, với mắt sáng hơn; về các số đo, ông nhận thấy số đo tương đương gần nhất là với người Uyghurs và Tây Tạng. Người Hàn quốc, ông nhận thấy, là trung gian giữa người Bắc Trung Hoa và dân Tungus. Mặt khác, người Nam Trung Hoa gần cận với các láng giềng không thuộc chủng Trung Hoa của họ (người Mèo và Thái-Shan) hơn là với người phương bắc.” [hết trích]


    Điểm quan tâm chính yếu của chúng ta là theo các kết quả nghiên cứu trên, chủng tộc Trung Hoa được phân biệt thành hai nhánh, Bắc Trung Hoa và Nam Trung Hoa, và khác biệt với chủng tộc Việt cùng các người bản xứ ở Vân Nam và Quý Châu. Trong khôi dân thuộc tộc Việt ở miền số 5 này, phải cộng thêm các sắc dân bản địa thuộc phần lớn tỉnh Tứ Xuyên, các tỉnh Hồ Nam, Quảng Tây và Quảng Đông mà chính người Trung Hoa ngày nay vẫn còn xem là Việt nhân, khi gọi là Việt Tây và Việt Đông, như nhiều cuộc khảo sát đã nêu ra nhiều bằng chứng khả tín. Tuy nhiên, cần phải có các cuộc nghiên cứu khoa học sâu xa hơn nữa để có được một kết luận quyết đoán.

    3. Sách giáo khoa về lịch sử văn minh thế giới tại Hoa Kỳ trong các thập niên gân đây cũng đã chấp nhận các khám phá mới này, và có ấn hành bản đồ cổ xưa của Trung Hoa với sắc dân Hán hay Hoa (Trung Hoa) ở phía bắc sông Hoàng Hà, còn từ phía nam sông Dương Tử là lãnh địa của sắc dân Việt. Xin tham khảo, thí dụ, quyển World Civilizations của Peter Sterns, Chapter 13, The Spread of Chinese Civilization: Japan, Korea, and Vietnam, các trang 286-309.

    Bản đồ Nam Việt cổ thời dưới đây được trích từ quyển Shadow of the Dragon: Vietnam‘s Continuing Struggle with China and the Implications for U.S. Foreign Policy của Henry J. Kenny, Washington: Brassey‘s, 2002 là một thí dụ khác./-


    Bản Đồ 1: Bản Đồ Nam Việt Cổ Xưa, 111 trước Công Nguyên,trước khi bị chinh phục bởi Trung Hoa
    (xin lỗi vì không dán vào được)

    Hết bài 3

  9. #9
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Bài 4: CÁC VIỄN ẢNH VỀ SỰ BÀNH TRƯỚNG XUỐNG PHƯƠNG NAM CỦA TRUNG HOA

    Điều đã được biểu thị là không có mối tương quan chắc chắn giữa quyền lực của một chính quyền trung ương Trung Hoa mạnh với tỷ lệ hay ta6`m mức của sự bành trướng của Trung Hoa xuống phương nam; dưới một vài triều đại, khi Trung Hoa mạnh và thống nhất, chẳng hạn như nhà Hán, sự bành trướng thì mãnh liệt, nhưng dưới các triều đại khác, cũng mạnh không kém trong phạm vi đế quốc Trung Hoa, chẳng hạn như nhà Đường, sự bành trướng đã ngưng lại và sau cùng là một sự triệt thoái. Nhà Bắc Tống tương đối mạnh, đã kiềm chế sự bành trướng về phương nam, nhà Nam Tống ít mạnh hơn nhiều đã phát triển các sự tiếp xúc ngoại giao và thương mại tại hải ngoại, đặt nền móng cho hải lực của nhà Nguyên Mông Cổ và nhà Minh sau này. Nhà Minh đã khởi sự với một sự can dự lớn lao tại vùng Biển (Phía) Nam [Nanyang: dịch âm là Nam Dương, từ ngữ mà người Việt hay dùng để chỉ nước Indonesia ngày nay; để tránh sự lẫn lộn, người dịch vẫn giữ nguyên danh xưng Indonesia, và dịch Nanyang là vung Biển Phía Nam trong bài này, chú của người dịch]; sau đó đã từ bỏ đường hướng đó, và với nó, hải lực của Trung Hoa. Triều đại Mãn Châu, một trong những nước mạnh nhất trên đất liền, không bao giờ tham gia vào chính trị hải lực, và trong thời kỳ suy yếu và hoàn toàn bị coi thường của nó, dù thế đã chứng kiến sự bành trướng rộng lớn nhất sự định cư và quyền lực kinh tế của Trung Hoa tại Biển Phía Nam trong suốt lịch sử. Mặt khác, có bằng cớ rằng sự xáo trộn tại Trung Hoa đã thúc đẩy sự di trú, và rằng vì thế các thời kỳ dưới sự cai trị của triều đình suy yếu đôi khi cũng là các thời kỳ bành trướng tích cực xuống miền nam. Một yếu tố đã từng chi phối mọi thời đại, và có lẽ hiện vẫn còn tác động, rằng các chính quyền trung ương mạnh cai trị toàn xứ sở luôn luôn bận tâm với nỗi nguy hiểm của biên cương phương bắc, ít bận tâm hơn về các kẻ địch ở phương nam. Do đó, có vẻ rằng bất kỳ nỗ lực nào để đánh đồng sự bành trướng xuống phương nam của Trung Hoa với các mục tiêu dài hạn và các chính sách có tính toán sẽ không đứng vững; các động lực hướng đến sự bành trướng phát sinh từ phía người dân, không phải từ các nhà cai trị họ. Giờ đây bởi chính phủ Trung Hoa xác định sẽ diễn giải các ý nguyện của dân chúng là tối thượng, chính sách của chính phủ có thể được sắm sửa lại theo áp lực quần chúng muốn bành trướng hơn nữa về phương nam.

    Điều rõ ràng là bất kỳ sự bành trướng nào như thế phải dính líu với một sự di chuyển ra hải ngoại; các khu vực cũ của sự bành trướng trên đất liền của Trung Hoa đã không còn ý nghĩa. Trung Hoa từ lâu đã nhìn nhận rằng chính sách thực dân hay thống trị Việt Nam không được đền bù, và rằng một loại quan hệ khác với thuộc địa văn hóa thủa xa xưa có tính chất khả tồn hơn. Vân Nam đã được sáp nhập; Miến Điện đông dân và cũmg không dễ dàng tiếp cận bằng đường bộ. Chính ở hải ngoại mà các khu định cư người Trung Hoa to lớn đã được thành hình, và chính các vùng đất hải ngoại ở vùng Biển Phía Nam (Nanyang) đã thu hút di dân Trung Hoa trong thời hiện đại. Tình trạng của các cộng đồng di dân đó ngày này không còn được hưởng đặc quyền, hay tại phần lớn các nước, đà đến mức, sau hết, không thể chịu đựng được; họ hoặc bị ngược đãi, kỳ thị, hay bị đe dọa gặp sự đối xử như thế. Trong một vài khía cạnh, vị thế của họ có thể so sánh với vị thế của các số lượng đông đảo người Trung Hoa hoặc đã bị đẩy sang Nam Chiếu trong các cuộc chiến tranh hay bị chinh phục và sáp nhập vào vương quốc đó. Dĩ nhiên, có các sự khác biệt rộng lớn, nhưng cũng có các nét tương đồng đáng kể, và Vân Nam cùng lịch sử của nó trong nhiều phương diện là một trường hợp trắc nghiệm để thẩm định tính chất và sự phát triển của sự bành trướng của Trung Hoa. Người Trung Hoa bị bắt giữ hay bị chinh phục tại Nam Chiếu trong thế kỷ thứ chin không có quyền lực chính trị, cũng như họ đã không có khả năng lúc ban đầu để phát triển nhiều sức mạnh kinh tế. Nhưng dân dần, nhờ ở tính đoàn kết, văn hóa tiên tiến và thành viên của một chủng tộc to lớn thuộc một quốc gia hùng mạnh lân cận, họ đã dành đaạt được cả sự thăng tiến chính trị lẫn sự thống trị kinh tế. Các nhà lãnh đạo sau này của vương quốc Đại Lý, thừa kế của Nam Chiếu, là các con cháu người Trung Hoa, mặc dù họ không nghiêng về việc thần phục sự cai trị của Trung Hoa. Đời sống kinh tế của xứ sở dần bị kiểm soát bởi dân định cư Trung Hoa, thủ lợi từ các liên quan rộng rãi của họ với Trung Hoa và với nhau, và từ tính chất thay đổi và vô khả năng về kinh tế của các sắc dân phi-Trung Hoa (non-Chinese), ngay cả với các kẻ hành xử thẩm quyền chính trị.. Văn hóa văn chương trở nên Trung Hoa.

    Có các khía cạnh trong câu chuyện này được lập lại tại vùng Biển Phía Nam. Ở đó cũng thế, các di dân Trung Hoa ban đầu không có quyền lực kinh tế cụ thể hay chính trị; họ là các công nhân lao động phần lớn thất học, khi đên nơi rất nghèo. Họ trước tiên trở nên giàu có, sau đó có học thức, và sau này tại một số xứ sở có các điều kiện thuận lợi, họ cũng thụ đắc phần chia sẻ quyền hành chính trị. Nhưng ở Nam Chiếu cũng như ở Nam Dương, không quyền lực hay hoạt động nào của chính quyền Trung Hoa đã đóng giữ bất kỳ vai trò nào trong các sự phát triển này. Nhà Tống đã kiềm chế việc có bất kỳ sự quan tâm nào đến Vân Nam; nhà Mãn Châu từ bỏ bất kỳ sự liên can nào với các di dân sang vùng Biển Phía Nam. Sau chót, quân Mông Cổ đã chinh phục Vân Nam, nhà Minh thừa kế nhà Nguyên, và nhận thấy rằng ảnh hưởng, sự định cư và văn hóa Trung Hoa đã cung cấp một nền tảng an toàn cho sự sáp nhập vĩnh viễn tỉnh mới này. Đó là nỗi lo sợ của một vài lãnh tụ tại Đông Nam Á – bất luận họ có thông hiểu lịch sử của Vân Nam hay không – rằng diễn tiến của các biến cố tương lai sẽ đi theo cùng các chiều hướng tương tự tại chính xứ sở của họ. Bởi vì sự lo sợ này nằm ở tận gốc rễ của phần lớn chính sách của các nước này đối với cư dân Trung Hoa của họ cũng như đối với chính Trung Hoa, điều cần làm là khảo sát xem đâu là những viễn ảnh cụ thể, cho đến mức mà chúng có thể lượng định được giờ đây, của sự bành trướng hơn nữa của Trung Hoa vào vùng phía nam của Cộng Hòa Nhân Dân.

    Bởi vì bất kỳ sự bành trướng nào như thế chỉ có thể được cưỡng hành chống lại ước muốn của các dân tộc tự trị phương nam, Trung Hoa phải phát triển trước tiên sức mạnh, có nghĩa hải lực, giờ đây hầu như hoàn toàn thiếu vắng. Sự dễ dàng và dứt khoát mà với chúng tất cả cuộc nhập cảnh của Trung Hoa vào vùng Biển Phía Nam đã bị đình chỉ trong gần bốn mươi năm cho rằng không có hải lực Trung Hoa để bảo đảm cho sự tiến triển và liên tục của nó, sẽ không thể có sự bành trướng thực sự của Trung Hoa, và chắc chắn sẽ không có sự thống trị về chính trị. Chính quyền Trung Hoa ngày nay thừa nhận một cách rõ ràng rằng bởi nỗ lực riêng của chính mình, nó không làm được điều gì để bảo đảm rằng công cuộc di trú tái tục, rằng các di dân hiện thời phải được đối xử công bằng, hay cần sửa đổi các sự ngược đãi mà di dân phải gánh chịu.

    Tuy nhiên, điều này là một tình trạng chuyển tiếp, hay ít nhất một tình trạng tùy ngẫu (contingent). Không có lý do tại sao Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa lại không nên dành một vài phần trong các tài nguyên của nó để tạo lập sức mạnh hải quân hay cho các hình thức liên kết với không lực hiện đại trở nên có tính cách bổ túc và không thể thiếu đối với chính hải lực. Tất cả các điều này có thể được hoàn thành trong nhiều nhất vài thập niên, có thể nhanh hơn nhiều. Còn có cả các lý do tại sao, nếu hình thức mới của mối đe dọa ở phương bắc được nhìn là Sô Viết Nga, một chính quyền Trung Hoa mạnh, hiện đại quan ngại về sự nguy hiểm này, lại không thể nhận ra rằng điều cần thiết không kém, để phát triển hải quân cũng như để duy trì sức mạnh quân sự. Người Nga đang trở nên quan tâm và can dự vào quyền lực trên biển tại Ấn Độ Dương. Các lý do này sẽ được tăng cường bởi một sự triệt thoái liên tục của Hoa Kỳ ra khỏi Á Châu. Viễn ảnh của việc tạo lập một đối lực đáng kể với sức mạnh hải quân Hoa Kỳ là điều còn xa xôi; nhu cầu để xây dựng một sức mạnh như thế để thách đố bất kỳ khát vọng nào của Nga nhằm thế vào chỗ của Hoa Kỳ lại là một vấn đề hoàn toàn khác biệt, giống như nguy cơ rằng nếu Hoa Kỳ rời đi, Nhật Bản có thể thay vào vị thế của Hoa Kỳ. Điều không thể giả định rằng vào cuối thế kỷ Trung Hoa sẽ vẫn còn là một sức mạnh không đáng kể trên biển cả.

    Cũng có câu hỏi, tương tự như câu hỏi đã đặt ra trong các thời khoảng trước đây bởi việc định cư người Trung Hoa bên ngoài các biên cương, là liệu Trung Hoa trong dài hạn có thể né tránh khỏi bị lôi kéo vào các vấn đề của các thân nhân đồng chủng di trú của họ và cách đối xử mà họ nhận được từ các xứ sở đón nhận. Các câu hỏi như thế chứa đầy các xúc cảm dữ dội, và không phải lúc nào chính quyền cũng có thể phớt lờ cảm tính của dân chúng. Sự kiện rằng sự thiếu sót bị cáo giác trong việc chăm sóc Hoa Kiều hải ngoại đã là áp lực chính của các sự tố cáo được đưa ra bởi Vệ Binh Đỏ chống lại cựu Giám Đốc Ủy Ban Hoa Kiều Hải Ngoại, Liao Ch’eng-chih, và dẫn tới sự loại bỏ ông ra khỏi sinh hoạt chính trị, là một dấu hiệu cho thấy rằng, ngay dù có các lý do khác khiến sự bãi chức ông ta có thể được mong muốn bởi các nhân vật quyền thế, cảm tính nhân danh các Hoa Kiều Hải Ngoại là một yếu tố chính trị có thể được sử dụng, chứ không thể phớt lờ nó. Hiện nay, như trong thí dụ này, Trung Hoa đã tố cáo chính sách im lặng bất động mà không loan báo bất kỳ điều gì khác trước đây; điều này cũng vậy, có thể chỉ là một sự ngừng nghỉ rất tạm thời. Có thể là Trung Hoa đang cứu xét các bất trắc và phí tổn của một chính sách “tiến tới” tại Đông Nam Á là quá lớn, hay phần thu hồi không đáng, hay còn quá sớm, và rằng chúng ta giờ đây nhìn thấy một thí dụ của sự kiềm chế đời nhà Tống hơn là sự yếu kém cuối thời nhà Đường. Cũng có thể rằng bởi mọi chính sách hiện tại vẫn còn quá lỏng lẻo, bất nhất cho một sự lượng định chính xác. Chíung ta đang ở trong thời điểm của một “triều đại mới” như nó sẽ được nhìn trong quá khứ; những gì mà các nhà lãnh đạo mới có thể làm, bất luận là họ sẽ đi theo chính sách của các kẻ tiền nhiệm, hay thảo lập một chính sách khác, thường mập mờ trong những năm đầu khi quyền lực đang được củng cố.
    Chính sách của các nhà cầm quyền mới dù thế phải cứu xét đến các sự kiện, và sự kiện to lớn nhất thiết chi phối các quan hệ của Trung Hoa với vùng Biển Phía Nam là hiện đang có một nhóm đông đảo các cộng đồng người Hoa đã được thiết lập tại các nước này, đã hiện diện qua hơn một thế kỷ tại hầu hết các xứ sở đó, và rằng các dân số này sẽ không biến mất đi, và hẳn phải thao diễn một ảnh hưởng liên tục trên tư duy của mọi người Trung Hoa trong chính quyền tại Trung Hoa. Trung Hoa có thể từ bỏ chính sách của [Trung Hoa] Quốc Dân Đảng xem mọi Hoa Kiều Hải Ngoại như các công dân trọn vẹn bất kể họ được sinh ra ở đâu, hay bất luận họ có bao giờ đặt chân lên chính đất Trung Hoa hay không. Nhưng đây là một khảo hướng bên ngoài; tự căn bản nó không ảnh hưởng đến sự hiện hữu hay tính chất của tự thân các cộng đồng người Hoa. Họ không còn là các nhóm các người lao động di dân nghèo đói nữa, mà rõ ràng khá giả hơn về mặt kinh tế và tích cực về mặt trí thức; họ phô bày một hình ảnh để lựa chọn cho người Trung Hoa hiện đại, không phải chân dung theo sự lựa chọn của Mao. Trong đường hướng này, họ có tiềm năng trở thành, không quá mức như một đội quân thứ năm tại Đông Nam Á, mà như một trung tâm cho sự khuynh đảo khả dĩ tại chính Trung Hoa, giống y như họ từng làm trong chuỗi ngày của triều đại Mãn Châu. Trong khi người Trung Hoa tại Singapore tiếp tục và tiến bộ trong mục đích của họ nhằm thành lập một quốc gia khả tồn, giàu có, công bằng xã hội và tất nhiên do người Trung Hoa nắm ưu thế, họ đã không chỉ đặt ra một tiền lệ khó chịu trước mắt của một số láng giềng Đông Nam Á, mà họ còn thách đố, một cách vô tình hay cố ý, các học thuyết của Mao Trạch Đông. Trung Hoa có thể tìm thấy đúng lúc các lý do khác hơn sự giải cứu các Hoa Kiều vùng Biển Phía Nam để tìm cách xác quyết ảnh hưởng của nó trên các nước này. Các nhà cầm quyền Trung Hoa tại Nam Chiếu và Đại Lý có thể mang tính chất Trung Hoa trong văn hóa và trong dòng tộc kế truyền, nhưng họ không có khuynh hướng chịu quy phục trước sự cai trị của các vị hoàng đế xa xôi ở miền bắc Trung Hoa.

    Các sự khảo sát này giờ đây có vẻ xa vời, nhưng cũng mới chỉ trải qua một thời khoảng ngắn hơn một đời người rất nhiều, kể từ khi bất kỳ ý tưởng nào về Hoa Kiều tại vùng Biển Phía Nam hành xử bất kỳ quyền lực chính trị nào tại tất cả các nước mà họ cư ngụ đã bị nhìn như một sự tưởng tượng hoàn toàn hoang đường. Điều cũng còn đáng ngờ rằng bất luận chính sách kiêng cử không can thiệp hay ngay cả không bảo vệ mà Trung Hoa đã áp dụng trọng thời cận đại, sự chấp nhận các chính sách được thiết lập nhằm truất bỏ quốc tịch Hoa kiều, và sự sẵn lòng hiển nhiên để phủ nhận bất kỳ lời thề trung thành nào từ họ, tự chúng lại có vẻ có hiệu quả trong việc gỡ bỏ vấn đề ra khỏi lãnh vực chính trị. Nhiều bằng cớ từ mọi phần trên thế giới cho thấy rằng sự kỳ thị và ngược đãi chỉ tăng cường thêm chứ không làm yếu đi cá tính chủng tộc. Cự tuyệt một sắc dân quyền để sử dụng ngôn ngữ của họ, và nếu họ bị cưỡng bách phải sử dụng ngôn ngữ của bạn, họ sẽ trở thành các kẻ phản kháng hùng hồn trong ngôn ngữ mới. Dậy người ta về một chủ nghĩa dân tộc trong đó họ chi được ban cấp cho một vị thế hạ cấp chính là việc bảo đảm rằng họ sẽ phát triển ý thức ngoan cố hơn nữa của chính họ. Không có sự chắc chắn, trong thực tế, không có xác xuất, rằng việc khiến cho Hoa Kiều hải ngoại đi học một ngoại ngữ và quên đi tiếng mẹ đẻ của mình, trong khi đối xử với họ như các công dân cấp thấp, mà cá tính chủng tộc Trung Hoa sẽ bị suy yếu đi; ngược lại điều đó chỉ biến hóa vào trong một sự biểu lộ theo cách địa phương.

    Kể từ khi chấm dứt các đế quốc thực dân đã có phát triển tại Đông Nam Á một tình trạng bất ổn định, dưới hình thái một khoảng trống về quyền lực. Không một nước sở tại lại có thể áp đặt sự lãnh đạo lên trên các nước khác được, và như kinh nghiệm của Indonesia dưới thời Sukarno cho thấy, bất kỳ nỗ lực nào để đảm nhận một thái độ như thế sẽ gặp phải sự chống đối tức thời và kiên quyết. Quyền lực Hoa Kỳ đã được bầy trận chỉ ở một phần trong vùng, và xem ra có vẻ như nó sẽ triệt thoái vào trước khi kết thúc thế kỷ này [thứ 20]. Mặt khác, cũng chưa có sự chắc chắn rằng một vài nước ở phía nam, có tính chất đa chủng tộc, có thể tồn tại như các quốc gia dân tộc (national states). Các ranh giới hiện đang xác định các lãnh thổ của họ thường là kết quả của cán cân quyền lực thực dân hơn là các đường biên lịch sử hay chủng tộc. Bán đảo Mã Lai luôn luôn nối kết về mặt lịch sử với đảo Sumatra, và một tỷ lệ cao dân Mã Lai tại bán đảo là hậu duệ của các di dân từ đảo Sumatra. Nhật Bản đã đề nghị để kết hợp hai nước lại với nhau sau chiến tranh, một khi Nhật thắng trận; các nhà lãnh đạo Mã Lai có vẻ không nhận thấy kế hoạch này đối kháng với các tư tưởng của chính họ. Sự hợp nhất tất cả các hòn đảo của Indonesia thành một quốc gia là một hậu quả của một thời kỳ tương đối ngắn trong đó người Hòa Lan đã bình định và quản trị toàn thể quần đảo; nó không có nền tảng lịch sử nào khác và sự hợp nhất về chủng tộc tại các đảo vành ngoài. Thái Lan nắm giữ các tỉnh phía nam của nó có đa số dân cư là người Mã Lai theo đạo Hồi, các kẻ không luôn luôn thật hài lòng với sự cai trị của Bangkok. Sự cân bằng giữa người Trung Hoa, Mã Lai và Ấn Độ tại Bán Đảo Mã Lai rất đồng cân lượng; tại các tiểu bang Bắc Borneo của Liên Bang Mã Lai có một tình trạng đa chủng tộc quân bình, không có sắc dân nào có số lượng áp đảo. Miến Điện có các sắc dân ít người của nó, người Karens, người Kachins và người Shan, các nhóm dân đôi khi kháng cự chính sách tập quyền hóa của Rangoon [thủ đô Miến Điện. ND], và là các sắc dân khác biệt về ngôn ngữ với người Miến Điện. Căm Bốt (có một dân số người Việt đông đảo) và ngay chính Việt Nam, bắc hay nam, là những nước đồng chủng nhất, cho dù cả hai miền đều có các nhóm dân bộ lạc miền núi ít người, theo truyền thống đối nghịch với các nông dân ở các thung lũng.

    Miền mà khuôn mẫu chủng tộc này trông giống nhất, và miền mà tình hình chính trị của nó, là vùng với nhiều dân tộc cỡ trung đến cỡ nhỏ mới được tự do hồi gần đây thoát khỏi sự thống trị lâu dài của ngoại bang, làm liên tưởng nhiều nhất, là vùng Balkans trong thời kỳ ngay trước khi có Thế Chiến Thứ Nhất. Một điềm báo trước không vui; sự ganh tỵ và chủ nghĩa dân tộc của các vương quốc mới đó đã khơi dẫn các cuộc chiến tranh địa phương và đã tác động sau hết như chất xúc tác cho sự đôi đầu chết người của các cuờng quốc chính tại Âu Châu. Khó có thể không lưu tâm rằng tình trạng này là một tình trạng có thể dễ dàng xảy ra tại khu Biển Phía Nam. Trong thực tế sự khác biệt chính là, một lần nữa, sự kiện có sự định cư người Trung Hoa đông đảo tại một số trong các nước này. Đã không có sự nhập cảnh ồ ạt như thế dân chúng của bất kỳ cường lực Âu Châu chính yếu nào, Nga, Áo hay Đức, xảy ra tại vùng Balkans; các sự tranh dành địa phương có thể được theo đuổi một cách nồng nhiệt với hy vọng chiêu dụ được sự hậu thuẫn của đại cường quốc, mà không có rủi ro kèm theo của việc xúc phạm một cường quốc như thế với việc ngược đãi di dân của nó; nhưng bắt trắc này đích thị là một rủi ro có thể dẫn đến một cuộc tranh chấp lớn tại Đông Nam Á. Người Hoa tại vùng Biển Phía Nam thì quá nhiều để bị trục xuất, cùng quá thông minh và mạnh về kinh tế để bị lôi xuống làm nô lệ; họ phải được chấp nhận và dẫn đến sự cộng tác và kết hợp với các sắc dân khác của các nước này. Đó là một công tác cực kỳ khó khăn, một công việc chỉ rất hiếm khi mới được thực hiện tại nơi khác – Thụy Sĩ là thí dụ tuyệt hảo của sự thành công, và đế quốc Áo-Hung trước đây là thí dụ hiển nhiên cho sự thất bại bi thảm. Song người Đức lai Thụy Sĩ và người Áo, dân chiếm đa số tại cả hai quốc gia này, thuộc cùng một chủng tộc, sử dụng cùng một ngôn ngữ và chia sẻ một văn hóa chung.

    (còn tiếp)

  10. #10
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Bài 4 tiếp theo

    Viễn ảnh cho sự ổn định vì thế bị vẫn đục; khả tính của Trung Hoa, ngay dù nó tiếp tục mong ước không bị dính líu, có thể lẩn trốn các hậu quả của kích thước, vị trí địa dư, quyền lực tiềm ẩn, và sự bành trướng nhân số của nó vào vùng Biển Phía Nam, và mãi mãi né tránh sự vướng mắc; hay rằng chính quyền của nó có thể kháng cự áp lực quần chúng một khi các Hoa Kiều hải ngoại gặp phải sự ngược đãi liên tục và gia tăng cường độ, thì mong manh. Tuy nhiên, hiện tại, Trung Hoa chỉ có thể can thiệp một cách hữu hiệu trên đất liền và xuyên qua các biên cương có thể tiếp cận được với lãnh thổ của chính nó. Ngoài Việt Nam và Lào, tình trạng này cũng đúng với Miến Điện, và với sự vươn tay can thiệp không xa tới các lãnh thổ khác, đến Căm Bốt và đên Thái Lan. Như xảy ra, đây không phải là các nước trong đó các cộng đồng cư dân Trung Hoa phải chịu áp lực lớn lao, ngoại trừ có thể có Thái Lan. Các nước như Indonesia và Phi Luật Tân, nơi mà người Trung Hoa bị đàn áp, bên kia các đại dương, và hơn nữa, thiểu số Trung Hoa, mặc dù đông đảo, chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng số dân cư. Tại Mã Lai, cả vùng lục địa lẫn tại đảo Borneo, khoảng cách đến một nơi và hành lang trên biển đến nơi kia khiến cho bất kỳ sự can thiệp trực tiếp nào cũng rất khó khăn nếu không phải là bất khả, và hiện nay, không có tình hình chính trị địa phương có thể khơi dậy hay biện minh cho một chiến dịch quan trọng.


    Từ quan điểm của Trung Hoa, mối nguy hiểm đúng ra nằm ở nơi mà nó chưa có thể đi đến, ngay dù nó mong ước như thế, các nước khác có thể ngăn chặn nó, và các hậu quả của sự can thiệp của họ có thể trái ngược với các quyền lợi dân tộc của Trung Hoa. Trung Hoa nhìn sự hiện diện hải quân và quân sự Hoa Kỳ tại vùng đông nam cũng như đông Á Châu dưới ánh sáng này. Nếu Hoa Kỳ rút lui, và hoặc Nga hay Nhật Bản, hay cả hai, có lẽ nhiều phần sẽ lấp kín khoảng trống này, các sự lo sợ của Trung Hoa sẽ còn nhiều hơn nữa. Chính vì thế, Nhật Bản một lần nữa có thể trở thành kẻ thù; Ngạ cũng như Hoa Kỳ, thì xa xôi; sự hiện diện của họ có tính cách chuyển tiếp. Nhật Bản nằm ở đó, và sẽ ở lại, sẵn là một quyền lực quân sự tiềm ẩn hàng đầu, với một nền kinh tế đã phát triển hơn nhiều so với Trung Hoa, mà nói chung, có thể hy vọng đạt tới có lẽ trong vòng hơn nửa thế kỷ. Nhật Bản đã học được bài học đáng giá, như Anh Quốc đã học từ Joan d’Arc năm thế kỷ trước đây, rằng đế quốc lục địa là một sự mạo hiểm thiếu khôn ngoan cho các quốc gia hải đảo. Người Anh, bị tống xuất khỏi nước Pháp, đã hướng ra biển, và tìm thấy số phận của mình. Nhật Bản có thể đã làm y như vậy, trong thực tế đã gắng sức làm như thế, nhưng đã phạm sai lầm khi theo đuổi hai mục tiêu, đế quốc lục địa và hải quân, cùng một lúc, mà không nhận thức được rằng hai mục tiêu đó mâu thuẫn với nhau. Nếu Nhật Bản trở thành quyền lực hải quân, để bảo vệ hay khống chế các nước hải đảo ở Biển Phía Nam và các phần trên đất liền dễ chiếm cứ nhất bằng một hải lực trên một quy mô giới hạn – các hải cảng và các căn cứ, chứ không phải các vùng nội địa – sự vắng mặt hải lực của Trung Hoa sẽ là một hàng rào hoàn chỉnh, ngăn cản bất kỳ sự can thiệp nào của Trung Hoa, và là một sự giới hạn nghiêm trọng trên mọi ảnh hưởng chính trị của Trung Hoa.


    Song một tinhù hình như thế, trong đó người Trung Hoa đã dần lo sợ rằng một quyền lực hải quân mới được thiết lập trên đất liền có tầm quan trọng chiến lược cho sự an toàn của quốc gia Trung Hoa, là một hình thái song hành với chính nguyên do đã mang người Mông Cổ tiến vào Vân Nam, để đánh vào bên sườn đế quốc Nam Tống và đã buộc nhà Minh tự mình nhận lấy Vân Nam từ tay người Mông Cổ khi nhà Minh tái chinh phục Trung Hoa. Vân Nam trong tay kẻ lạ có thể là một mối đe dọa; nếu độc lập, nó quá yếu để kháng cự một kẻ chinh phục. Trên một phạm vi rộng lớn hơn của thế giới hiện đại, tính chất này có thể áp dụng đối với nhiều quốc gia tại Đông Nam Á. Điều được nhận thấy rằng khi Trung Hoa can thiệp để áp đặt sự cai trị trực tiếp của mình, đó là vì các quyền lợi về an ninh của đế quốc Trung Hoa, chứ không phải vì các quyền lợi của bất kỳ nhóm di dân Trung Hoa nào. Không can thiệp vào công việc của họ, và không quan tâm đến tình trạng hiện tại của họ, sẽ không mở rộng thành một tình thế trong đó một trong các xứ sở mà họ cư ngụ trở thành một căn cứ tiềm tàng cho một cường lực đối nghịch chính yêu. Một sự hiểu biết rõ ràng sự thật này đã là nền tảng cho lập trường trung lập và sự vun trồng cẩn thận của Miến Điện các quan hệ đứng đắn, nếu không phải là luôn luôn thân mật., với Trung Hoa. Đó cũng là cảm hứng cho chính sách của ông Hoàng Sihanouk khi ông ta cai trị Căm Bốt.


    Nếu các tiền lệ đặt ra bởi lịch sử của Vân Nam và Việt Nam được xem như có bất kỳ giá trị nào cho việc tiên đoán tương lai của các nước vùng Biển Phía Nam, điều phải nhận thức rằng ngoài các sự cứu xét về an ninh quốc gia và các khía cạnh chiến lược, có một tiến trình khác đang vận chuyển tại cả các nước đó, mặc dù nó đã không có cùng một kết quả. Người Trung Hoa chưa bao giờ định cư với số lượng lớn tại Việt Nam, bởi xứ sở đã bị chiếm ngụ đông đúc ngay từ thời kỳ ban đầu bởi người Việt Nam; nhưng văn hóa Trung Hoa và loại chính quyền, các tôn giáo và văn chương, ngay cả ngôn ngữ, đã được du nhập và vẫn còn là các ảnh hưởng rất mạnh, kéo dài lâu sau khi sự kiểm soát chính trị bị kết thúc. Có lẽ như một hậu quả của sự chinh phục văn hóa này, khi Việt Nam vứt bỏ sự thống trị Trung Hoa, các nhà lãnh đạo mới độc lập chưa bao giờ thực hiện bất kỳ nỗ lực nào để xâm nhập, chiếm đóng hay tranh chấp quyền lực tại chính Trung Hoa [sic, xem lại việc đánh Tống của Lý Thường Kiệt và ý định đòi lại các tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây của vua Quang Trung, chú của người dịch]. Chắc chắn có các yếu tố khác, nhưng sự tương ứng văn hóa xem ra đã tác động như một lực làm tê liệt trên bất kỳ nhà lãnh đạo Việt Nam nào có thể bị cám dỗ để thủ lợi bởi sự suy yếu định kỳ của sự kiểm soát của triều đình tại phía nam xa xôi của Trung Hoa, hầu mở rộng lãnh địa của mình bằng cách sáp nhập đất đai của đế quốc. Mặt khác, các nhà lãnh đạo Nam Chiếu ngay sau khi bác bỏ quyền chủ tể của Trung Hoa, họ đã phát động một cuộc chiến tranh, kéo dài hơn một thế kỷ, trong đó họ đã tái diễn nhiều cuộc xâm lăng Trung Hoa, chiếm cứ và sáp nhập các khu vực rộng lớn được cư trú bởi người Hán Hoa, và đã nắm giữ các khu vực này trong nhiều thập niên. Các vị vua của Nam Chiếu đã tìm cách tăng cường quyền lực của họ bằng cách chiếm giữ các phần đất của đế quốc; các vị vua của Việt Nam lại hướng đến các láng giềng phi-Việt Nam ở phía nam và tước đoạt các phần đất sở hữu của họ. Kết quả của chính sách của Nam Chiếu, sau hết, là việc hủy diệt tính chất cá biệt của một quốc gia như một xứ sở phi-Trung Hoa, và dọn đường cho một thẩm quyền Trung Hoa trọn vẹn; kết quả của chính sách của Việt Nam là mở rộng các biên cương của Việt Nam, mang theo văn hóa Trung Hoa khi tiến hành, và nhằm tạo lập một tình trạng nơi mà người Việt Nam dành đạt được một cá tính dân tộc khiến cho sự xâm nhập hơn nữa của Trung Hoa trở nên bấp bênh, hiếm có, và sau hết, hoàn toàn bị gián đoạn. Sự xâm nhập văn hóa vì thế đã tạo ra các kết quả chính trị đối nghịch nhau tại hai nước.


    Tiến trình đồng hóa cũng khác nhau. Người Trung Hoa ở Vân Nam ở mức độ rộng lớn, đã đồng hóa dân số phi-Trung Hoa. Các ngôn ngữ cổ đã ngã gục trước vị thế của các thổ ngữ, chưa bao giờ được dùng trong văn chương. Họ [tên gia đình, dòng họ] Trung Hoa thì phổ thông, chỉ có người theo đạo Hồi là giữ lại bất kỳ hình thức danh tính cá nhân không có nguồn gốc Trung Hoa. Người dân Vân Nam, mặc dù ý thức về các nét đặc thù địa phương, chắc chắn mang tính chất Trung Hoa trong tư tưởng, và sẽ không chấp nhận bất kỳ ý kiến nào cho rằng họ không hoàn toàn Trung Hoa như bất kỳ dân chúng địa phương nào khác. Nhưng tại Việt Nam, người Việt Nam không nghĩ về mình như một vài loại dân Trung Hoa, mà bám chặt lấy cá tính riêng của họ; họ đã thường chỉ đọc văn chương Trung Hoa và chỉ viết bằng Hán tự biểu ý; chính quyền cũ của họ, lối sống của họ, và tôn giáo của họ đều gần gũi với các kiểu mẫu Trung Hoa. Nhưng họ không bao giờ chấp nhận sự cai trị trực tiếp của Trung Hoa với sự tự nguyện, và sau rốt, đã kết thúc nó bằng sự phản kháng vũ trang. Nếu binh sĩ Trung Hoa, đồn trú trong nước, ở lại đó sau khi có sự thay đổi chính trị, họ trở nên bị hấp thụ và hòa nhập vào sắc dân bản xứ.


    Làm sao mà các tiền lệ mâu thuẫn này lại áp dụng được cho bất kỳ phần đất nào của vùng Biển Phía Nam nơi mà người Trung Hoa đủ đông để xoay chuyển cán cân chủng tộc, hay đủ ảnh hưởng để định hình văn hóa của dân tộc tương lai? Có lẽ chỉ có ba nước nơi mà các khả tính như thế là có thực; Thái Lan, Bán Đảo Mã Lai, và Borneo thuộc Mã Lai. Thiểu số người Trung Hoa tại Indonesia không có số lượng lớn: tình trạng cũng như thế tại Phi Luật Tân. Tại Miến Điện, thiểu số Trung Hoa thì hoàn toàn nhỏ bé: nhưng tại Thái Lan, không có rào cản tôn giáo mạnh, như đối với người Hồi Giáo tại Mã Lai và Indonesia, để ngăn trở sự đồng hóa, và trong thực tế, sự đồng hóa đã xảy ra trên một quy mô rộng lớn trong quá khứ. Con số thực sự các người Thái có tổ tiên Trung Hoa, ít nhất về phía người cha, vẫn chưa được biết, nhưng chắc chăn là rất lớn. Mặt khác, số người giờ đây tự xem mình là Trung Hoa tại Thái Lan, nhưng trong thực tế là thuộc dòng dõi Thái Lan, hoặc là cực kỳ ít, hay không hiện hữu. Mô hình đồng hóa tại Thái Lan tiến theo các đường hướng của Việt Nam hơn là theo chiều hướng của Nam Chiếu, với sự khác biệt rằng người dân Thái đã không có các số lượng áp đảo nặng nề, đánh dấu tình hình người Việt đối diện với các kẻ nhập cư Trung Hoa. Các quan hệ văn hóa cho thấy một khuôn mẫu ít chắc chắn hơn. Cho tới khi có pháp chề gần đây ngăn cản sự sử dụng tiếng Hán trong các hoạt động thương mại, Bangkok thường có dáng vẻ của một thành phố Trung Hoa. Mọi nơi, mọi thứ đều được viết bằng tiếng Hán, ngoại trừ các thông cáo chính thức và các văn bia. Các cửa hiệu, rạp hát, nhà hàng ăn, văn phòng công ty, ngân hàng – mọi định chế và hoạt động thương mại và tài chính có vẻ là – và trong thực tế, phần lớn – đã được giao dịch bằng tiếng Trung Hoa, cả chữ viết và tiếng nói. Gần giống như thế từng có lúc là trường hợp tại Jakarta và ngay cả ở Manila. Điều này cũng đúng tại phần lớn các hải cảng của Mã Lai và thực sự như thế tại Singapore. Như thế, ở đây hoạt động của mô hình Vân Nam xuất hiện rõ nét hơn; sự sử dụng tiếng Trung Hoa như ngôn ngữ của thương mại và doanh nghiệp thay thế cho ngôn ngữ, hay nhiều ngôn ngữ, của các dân bản xứ.


    Tại bán đảo Mã Lai, người Mã Lai, mặc dù chỉ có vào khoảng phân nửa dân số, đã chế ngự về mặt chính trị. Người Trung Hoa cũng nổi bật không kém trong mọi hoạt động không phải là chính trị từ thương mại và doanh nghiêp cho đến các nghề nghiệp đòi hỏi học thức. Vì thế, một vài khả tính có hiện diện về một khuôn mẫu Vân Nam đang phát triển trong thế kỷ sắp tới. Vương quốc Đại Lý, bị Hán hóa hơn bao giờ hết trong các định chế và văn hóa của nó, song kéo dài được nền độc lập, nhờ ở sự kiềm chế của nhà Tống, trong ba thế kỷ nữa. Có thể lập luận rằng Singapore đã sẵn phô bày khuôn mẫu thời cuối triều đại Đại Lý Nam Chiếu, một quốc gia thực sự Trung Hoa, cai trị bởi người Trung Hoa, nhưng không sẵn lòng chịu khuất phục trước thẩm quyền đế quốc Trung Hoa, và cho đên lúc đó, đã hưởng lợi của một chính sách kiềm chế của Nhà Tống bên phía Trung Hoa. Tại các tiểu bang ở Borneo, cũng có các sự tương đồng với khuôn mẫu Vân Nam hơn là mô thức Việt Nam. Ở đây không có chủng tốc chế ngự nắm giữ quyền lực chính trị ưu thắng, như tại Bán Đảo Mã Lai và Thái Lan. Các dân định cư gốc Trung Hoa chiếm xấp xỉ một phần ba tổng số dân cư, có tỷ số cao hơn nhiều số người Trung Hoa tại Vân Nam so với dân bản xứ trong thời kỳ có sự chinh phục của nhà Minh. Người phi-Trung Hoa, với ngoại lệ thiểu số nhỏ người Mã Lai, đã, và vẫn còn, chậm tiến về văn hóa, phần lớn sống dưới các hệ thống bộ lạc. Các sắc dân phi-Trung Hoa tại Vân Nam là như thế hồi đầu thế kỷ thứ mười lăm, và hàng nghìn người trong họ hãy còn sống theo lối này ngày nay. Họ không lập thành một dân tộc tại Borneo, họ bị phân tán thành nhiều bộ lạc và dân chúng nói các ngôn ngữ khác nhau. Các dân phi-Trung Hoa ở Vân Nam đã và còn là như thế. Người Trung Hoa không chỉ chiếm ưu thế trong đời sống kinh tế và còn cả trong sinh hoạt văn hóa và nghề nghiệp nữa. Họ đã và đang làm như thế, tại Vân Nam. Giờ đây người Trung Hoa tại Borneo đã có phần hiện diện trong chính quyền chính trị tại hai tiểu bang Sarawak và Sabah, mặc dù có lẽ chưa đến tỷ lệ mà một số người trong họ cho là đúng mức. Trong hồi cuối kỷ nguyên Nam Chiếu, các học giả Trung Hoa đã nắm giữ quyền lực và ảnh hưởng tại triều đình nhà vua; sau hết, một người trong họ đã chiếm đoạt ngôi vua, và các triều đại cuối cùng của Vân Nam, Đại Lý và Tuan [?], đều thuộc chủng tộc Trung Hoa. Nói chung tình hình tại các tiểu bang ở Borneo thuộc Mã Lai có vẻ phơi bày các tính chất mạnh mẽ và rõ rệt của Vân Nam hơn là mô hình Việt Nam.


    Từ các sự cứu xét này về các sự phát triển tương lai khả dĩ trong các quan hệ của quốc gia Trung Hoa với các nước vùng Biển Phía Nam, và với các cộng đồng di dân Trung Hoa đã được thiết lập trong vùng đó, kết luận hiện ra là trong khi tình hình hiện tại có vẻ như được đặc trưng bởi sự bất động – một sự tạm ngừng nghỉ -- có rất ít lý do để tin rằng nó đã đạt tới một điểm bế tắc đánh đấu sự kết thúc sự bành trướng của Trung Hoa về phương nam. Một kết luận như thế sẽ hết sức cẩu thả dựa trên bằng cớ yếu ớt như thế và trên một giai đọan quá ngắn ngủi của kinh nghiệm. Các sự di chuyển về phương nam của Trung Hoa vẫn tiếp tục, với các sự tạm ngừng nghỉ và những lúc chạy nước rút, theo hướng tiến của hai nghìn năm trăm năm kể từ khi nó có được nhận thức lần đầu trong sự phổ biến văn hóa Trung Hoa, và sau đó sự kiểm soát chính trị đến vùng thung lũng sông Dương Tử hiện nay tại phần ngày nay là trái tim của Trung Hoa hiện đại. Các lúc ngừng nghỉ ngắn hơn các thời kỳ bành trướng, ngay dù phong trào này thường không ngọan mục, có tính chất cá nhân, và không chính thức. Nó đã đạt tới điều có thể là hồi kết cuộc của giai đọan bành trướng trực tiếp trên đất liền trong thế kỷ thứ mười lăm với sự sáp nhập chung cuộc Vân Nam và chấp nhận nền độc lập của Việt Nam. Sau đó phòng trào đã hướng ra biển, tích cực hồi đầu nhà Minh, bước vào một sự suy giảm lâu dài, khi nhà Minh từ bỏ hải lực, nhưng đã sống lại trên một quy mô rất rộng lớn khi nhu cầu lao động của các quyền lực thực dân đã mang sự xuất cảnh ồ ạt sang vùng Biển Phía Nam, bất kể sự lãnh đạm và ngay cả sự chống đối công khai của chính quyền Mãn Châu. Sự di dân này đã chấm dứt ngay trước và cùng với cuộc Thế Chiến II.
    Sự di chuyển về phương nam đã là một sự di chuyển cả con người như các kẻ định cư cũng như cả các tín ngưỡng, cách hành đạo và các tư tưởng – một sự di trú văn hóa. Tại một số vùng như Việt Nam, tính chất thứ nhì vượt xa vô tận tính chất thứ nhì về tầm quan trọng; ở các nơi khác chẳng hạn như Vân Nam lực lượng di trú con người và chính sách thực dân văn hóa có tầm quan trọng khoảng ngang nhau. Tại các phần đất của vùng Biển Phía Nam đã xây dựng các cộng đồng to lớn nhưng chỉ tthao diễn ảnh hưởng nhẹ nhàng trên cách nghĩ hay phong tục bản xứ, và không có ảnh hưởng nào trong đời sống chính trị. Phi Luật Tân và Indonesia phơi bày khía cạnh này. Tại các nước khác các người Trung Hoa thiểu số có tỷ lệ lớn là một yếu tố đủ lớn làm xoay chuyển cán cân chủng tộc, và cùng lúc, ảnh hưởng của nền văn hóa và văn minh Trung Hoa thấm nhập vào nhiều khía cạnh của đời sống; chẳng hạn như tình trạng tại bán đảo và vùng Borneo thuộc Mã Lai. Người di dân Trung Hoa đã vừa đồng hóa dân bản xứ, khi sắc dân này chậm tiến về văn hóa hay ít hơn về số lượng, và chính người di dân cũng vừa trở nên bị đồng hóa với nơi mà tình hình địa phương giúp cho điều này dễ dàng xảy ra và không có chướng ngại vật tôn giáo hay chủng tộc hiển hiện. Miền Nam Trung Hoa và Vân Nam là các thí dụ của sự đồng hóa của Trung Hoa đối với người phi-Trung Hoa; Thái Lan và Căm Bốt, và ở mức độ nhẹ hơn, Việt Nam, phơi bày sự đồng hóa người Trung Hoa bởi dân tộc đón nhận là các kẻ -- như ở Căm Bốt – không phải lúc nào cũng liên hệ gần gụi về chủng tộc.


    Sự di chuyển của Trung Hoa xuống phương nam, trong mọi thời kỳ, đã là một sự di chuyển con người và các tư tưởng hơn là chính sách chính quyền và sự chinh phục. Khi chính quyền và lực lượng quân sự được sử dụng, điều đó hoặc đã trễ, như trong sự sáp nhập cuối cùng vùng Vân Nam, hay bị bóp chết non như trong các quan hệ ban đầu với Nam Chiếu và với Việt Nam. Sự bành trướng đáng kể nhất của người Trung Hoa xuống phương nam xảy ra trong một thời kỳ khi mà chính quyền nội địa không quan tâm gì hết đên bất kỳ sự di chuyển nào như thế, và khi Trung Hoa quá yếu cả trên đất liền và trên biển đến nỗi ngay chính quyền quan ngại nhất cũng đã không thể làm điều gì để thúc đẩy sự tiến bộ của cuộc di trú.
    Một tiến trình quá dài đến như thế, quá khác biệt trong hoạt động của nó và biến đổi trong các kết quả và hậu quả địa phương của nó, đã cho thấy nó là một hiện tượng chính trị, tự bản thân nó, độc lập với sự vươn lên và sụp đổ của các đế quốc, các chính sách của chủ nghĩa đế quốc bành trướng hay sự kiềm chế cẩn trọng. Nó cũng độc lập với sự chỉ đạo của chính quyền, lãnh đạm trước chính sách của các hoàng đế có đầu óc lo lắng về phương bắc, và vượt quá sự kiểm soát của các vị chúa tể địa phương. Một vài số trong các yếu tố này có thể thay đổi, một cách tạm thời, hay một cách vĩnh viễn, hay cho một thời kỳ lâu dài; nhưng điều xem ra bấp bênh rằng tình hình chính trị bất ổn và thay đổi thất thường của chính thời đại chúng ta lại có thể đảo ngược hay đình chỉ một hoạt động đã tiếp diễn trong hơn hai nghìn năm và chưa bao giớ thụ ứng với sự chỉ đạo, kiểm soát hay hạn chế chính trị./-
    _____
    Nguồn: C. P. FitzGerald, The Southern Expansion of the Chinese People, New York & Washington: Praeger Publishers, 1972, Chapter 11: The Prospects For China‘s Southern Expansion, các trang 206-216.
    Ngô Bắc dịch

    Hết bài 4

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •