CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 9 của 9 Đầu tiênĐầu tiên ... 789
Kết quả 81 đến 83 của 83

Chủ đề: Hồi ký Nguyễn Chuông

  1. #81
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết
    Thêm mấy dòng về ông của lính:

    Bữa cơm trưa 30 tháng Tư vắng tướng Nguyễn Chuông

    TPCN - Được mấy năm rồi, tôi cũng chả nhớ, nhưng cứ vào khoảng trưa 30 tháng 4 hằng năm thì thường ở nhà ông Nguyễn Hoắc, giám ngục Hỏa Lò (trước đây) có một cuộc liên hoan nho nhỏ.

    Tất thảy ngồi xệp trên ba chiếc chiếu đôi thì mới đủ chỗ...

    Tôi nhận ra những cánh tay giơ cốc bia hơi về phía một người vóc dáng manh mảnh, trán hói thường ngồi ở chiếu giữa, ngoài chủ nhà ra là nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, nhà báo Nguyễn Phúc Ấm cùng những người lính một thời chiến trường Nam Lào...

    Tất thảy râm ran trong âm thanh những ly bia chạm với nhau xin chúc thủ trưởng khỏe...

    Tôi không là người lính một trời trận mạc ấy nhưng là người quen chung với họ. Người thường ngồi chiếu giữa và nhận được rất nhiều sự chúc tụng ấy là tướng Nguyễn Chuông!

    ...Trừ tôi, tất thảy là cựu binh, là lính của tướng Nguyễn Chuông hồi đánh Mỹ.
    Khởi đầu là ông chủ nhà Nguyễn Hoắc, mới có tí men bia mà mặt mũi đã đỏ khốn đỏ khổ! Thủ trưởng có lần gọi em là thằng Um, thủ trưởng còn nhớ không?

    Bằng chất giọng oang oang cố hữu, đại tá giám ngục Nguyễn Hoắc vừa hê hê cười vừa kể lại cái lần đánh chác sao đó ở Cánh đồng Chum, thủ trưởng Nguyễn Chuông bực quá xạc lính mày gọi là Hoắc nhưng là thằng Um thì có.Đánh chác như thế thì thối hoắc, thối um lên!

    Trong trận cười đổ ra như giông bão ấy, cái đầu hói của ông cứ gật gù ra chiều thú vị lắm!

    Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, chiến sĩ trong mũi chủ công trận Phu Tâng năm 1971 dưới quyền chỉ huy của trung đoàn trưởng Nguyễn Chuông ( năm rồi vừa ẵm Giải thưởng văn chương ASEAN) trán cũng hói gần ngang người thủ trưởng cũ, đứng lên cắt ngang Em xin đọc lại bài thơ mừng thủ trưởng: Thôi đã dứt đường binh nghiệp/ Tuổi hưu rồi bác ở quê/ Chạnh nhớ bạn bè thuở ấy/ Cùng đi có đứa không về...

    Chất giọng trầm rè cùng với vẻ bẽn lẽn thoạt đầu của nhà thơ chừng như có ma lực khiến đám đông đâm trật tự hẳn Người vợ tuổi già như bác/ Miếng trầu nhai dập chiều mưa/ Thời son trẻ xa nhau mãi/ Giờ thương biết mấy cho vừa/ Huân chương xếp vào góc tủ/ Nay hàm tướng tá mà chi/ Tuổi già công danh coi nhẹ/ Cuộc đời như nước qua đi...
    Những vại bia hơi đầy tràn đặt trên ba vuông chiếu dường cũng rung rung khi Nguyễn Đức Mậu giọng như rưng rưng bật lên đoạn cuối Về hưu giờ thôi quyền chức/ Ai người nhớ bác lại chơi/ Ai kẻ xa lòng tránh mặt/ Niềm riêng một mảnh trăng trời!
    Chao ôi là âm thanh gõ bát cốc và tiếng vỗ tay của các cựu binh! Chừng như nắng tháng Tư ngoài kia ắt hẳn cũng rung rinh thì phải? Mà bữa ấy, tôi mới hay bài thơ này, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu viết từ năm 1989!

    Cái dáng hơi bệ vệ của đại tá nhà báo Nguyễn Phúc Ấm vụt thẳng lên nhưng giọng thì nhỏ nhẹ không ngờ. Đại tá hỏi ông dạo này còn có nhiều thân nhân các liệt sĩ đến hỏi phần mộ không? Ông thì dính dáng chi đến việc âm phần này nhỉ?

    Khi nghe Phúc ấm hỏi vậy tôi chợt thấy sắc diện ông như sầm xuống không được tươi tắn như hồi nãy! Giọng ông chợt thoảng như xa xăm ờ, cũng lắm...

    Cuối buổi cơm ấy, tôi mới được biết và được nối thêm câu chuyện của đại tá Nguyễn Phúc Ấm là thế này: Trong trận mạc ở Cánh đồng Chum- Xiêng Khoảng, nội sư 312 đã có 1.600 cán bộ chiến sĩ nằm lại.

    Rồi trong Chiến dịch Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972 ở Quảng Trị, Binh đoàn Quyết Thắng trong đó có cả sư 312 hơn 4.600 người đã ngã xuống! Chưa hết, trong đội hình hành tiến vào giải phóng Sài Gòn lại có biết bao chàng trai ưu tú trong sư đoàn nằm lại.
    Nguyễn Chuông là một trong vài người được giao trọng trách ký các giấy báo tử. Những tờ giấy gấp vuông đau đớn ấy, theo đường bưu điện cứ len lỏi về hàng ngàn làng như thế...

    Hàng ngàn nỗi đau không biết có nguôi ngoai đi chút nào. Nhưng hòa bình thống nhất rồi, yên hàn rồi, thân nhân của hàng ngàn liệt sĩ ấy chợt nhớ đến người ký giấy. Họ biết ông đang hưu ở Hà Nội. Người gần lẫn xa đã tìm đến...
    Nội chỉ vài phần trăm trong con số hàng ngàn ấy thì hàng tuần hàng tháng nhà ông đã có hàng chục lẫn hàng trăm lượt khách. Thôi thì đủ vùng miền. Đủ mọi cung bậc tình cảm. Lo âu. Băn khoăn. Thắc thỏm. Thất vọng. Mừng vui...

    Xin hỏi đây có phải nhà ông Nguyễn Chuông không ạ? Thôi đúng bác ký cái giấy này rồi. Bác ơi, ông ơi, con tôi, nhà em bây giờ đang nằm đâu? vv... và vv...

    Nội động thái hỏi han hăm hở vồ vập đại loại như vậy cũng đủ gieo, đủ thoắt để trút sang ông cái đau mà người thân các liệt sĩ bao năm nay đang đeo, đang gánh!

    Ông chợt như thấy mình là người có lỗi! Đa phần, những giấy báo tử như thế, thời ấy theo quy định chỉ ghi chung chung Hy sinh ở Mặt trận phía Nam hoặc ở tại chiến trường K. hay đã an nghỉ ( hoặc mai táng) ở khu vực nghĩa trang đơn vị !

    Chung chung quá, mơ hồ quá nhưng mà hỡi ơi thời ấy, hỏi biết làm sao? Chao ôi, đơn vị quân thì đông. Mặt trận thì rộng. Biết bao chiến sĩ thuộc quyền trung đoàn, vị thế trung đoàn trưởng như ông còn chưa biết tên huống hồ nắm sao hết những trường hợp, những trạng huống hy sinh lẫn nơi mai táng anh em?
    Nhưng rồi nằm đấy mà dằn vặt mà giằng xé cũng chả giải quyết vấn đề gì....
    Nghĩ mãi, rồi ông cũng có cách, có kênh của mình, mặc dầu không ít những mơ hồ mong manh như dò tìm kim ngoài sông bể...

    May cái sư đoàn cũ cũng ở gần Hà Nội. Ông dẫn họ đến. Tìm kỳ được người có trách nhiệm đang quản sơ đồ mộ chí. Hoặc tụ họp, nối mạng thử lục tìm trong trí nhớ của nhiều người...

    Còn với những dạng thắc mắc chế độ chính sách? Giấy báo tử ghi rõ đến từng đại đội tiểu đoàn, nếu không nhớ mặt các liệt sĩ thì cứ lần theo số hiệu đơn vị, ông cố nhớ ra người chỉ huy, lần tìm xem họ đang ở đâu.
    May mà trí nhớ ông còn tốt và ông biết khá nhiều người, chả là bạn đồng ngũ vẫn thường liên lạc với nhau, vẫn thường họp mặt truyền thống.... Ông gọi điện viết thư cho họ hoặc trực tiếp đưa các thân nhân liệt sĩ tới gặp họ hoặc để xác nhận lại trường hợp hy sinh cho chồng cho con họ hoặc hỏi họ xem có biết tung tích manh mối phần mộ liệt sĩ đâu không? vv... và vv...

    Tôi chưa tường có bao nhiêu và cụ thể những việc nghĩa tình ấy nhưng đại tá Phúc ấm cho hay, nhiều thân nhân của liệt sĩ qua những vụ việc như vậy đã nhận ông là bố mẹ nuôi hoặc đi lại thân thiết như người nhà... Chao ôi, giá thử vài trăm người tâm ấy việc ấy như ông, chắc chương trình Nhắn tìm đồng đội sẽ có hiệu quả hơn.

    Có mấy bận, tôi theo đại tá Hoắc đại tá Ấm hoặc đi một mình vào chơi nhà ông chỗ khu tập thể quân đội Mai Dịch. Hóa ra cái huyền thoại ở Hà Thành có một vị tướng xây hẳn một khu điện thờ để chiêm bái vong linh đồng đội mấy năm nay chính là ông!
    Gọi điện thì quá mà chỉ là một gian thờ khiêm tốn. Chả có pháp sư thầy thợ nào hết mà hàng đêm ông đều trực tiếp hương khói, chiêm bái cẩn trọng ...

    Một chiều chỗ phòng khách đang phảng phất thứ hương khói hồi trưa chưa tan hết, tôi ngồi ngắm ngó bức thư pháp đang trang trọng buông xuống chùm thơ chữ Hán của Tào Mạt tả tướng Nguyễn Chuông Thập lục dĩ tòng ngũ/ Lục thập vị hoàn hương/ Bắc phong xuy bạch phát/Lục diệp tố thanh trang... ( Mười sáu tuổi đã nhập ngũ/ Sáu mươi chửa về làng/ Gió bấc thổi tung mái tóc bạc/ Lá xanh che chở bộ quân phục xanh...).

    Bên kia là câu đối Hồ Khải Đại tặng Võ lược bạch đinh đăng võ tướng/ Văn chương đơn tự đáo văn nhân ( Võ lược binh nhì lên tướng võ/ Văn chương ít chữ hóa nhà văn) chừng như vận vào ông cũng phải!
    Không kể thời gian khi nghỉ hưu, không biết những năm trận mạc tất tả xuôi Nam ngược Bắc như thế, ông giành được mấy hột thời giờ mà tranh thủ ghi lại được quá trình theo cách mạng từ năm 16 tuổi đến khi thành tiểu đoàn trưởng rồi sư đoàn trưởng...

    Đó chính là cuốn Đường tới chân trời do NXB Quân đội nhân dân ấn hành và đã đoạt giải Nhì trong cuộc thi viết của Bộ Quốc phòng. Rồi sau này những cuốn Dặm dài trên đất Triệu Voi, Trận đầu và trận cuối, Tim tôi thắp lửa cũng của NXB Quân đội nhân dân với kiểu viết sinh động trung thực về chiến tranh rất có tiếng vang trong bạn đọc.
    Có lẽ ông phải là chất liệu quý cho những cuốn sách lẫn những bộ phim dày dặn của những đạo diễn hay người viết có tài? Hậu trận đại thắng Điện Biên thiên hạ ai chả mừng nhưng có lẽ mỗi ông hận?

    Hận cái nỗi là tiểu đoàn trưởng một đơn vị chủ công của Đại đoàn 312 đánh vào sân bay Mường Thanh nhưng không may ông bị thương ngất đi rồi sa vào tay giặc.
    May mà mấy đồng đội đã khéo léo giấu tung tích cho người tiểu đoàn trưởng của họ. Gần tháng trời lay lắt vì vết thương và bao nỗi ngổn ngang khác trong cái trại giam ở trung tâm Mường Thanh mà các cỡ đạn của quân ta cứ thế châu vào, ông đã được giải thoát vào buổi chiều mồng 7 tháng 5 ấy! Đấy là tù Tây.

    Còn một lần suýt tù ta cũng do bản tính ngang nhưng thẳng thắn bộc trực của ông.
    Rồi trận Bản Na giai đoạn liên quân Việt Lào mở chiến dịch giải phóng Cánh đồng Chum và đánh vào căn cứ Vàng Pao ở Xảm Thông- Long Chẹng, chuyện ông dám chống lại lệnh cấp trên trước giờ nổ súng bây giờ vẫn còn nhiều người, kể cả các tướng lĩnh nhớ.

    Người ta nhớ ông lâu như vậy chẳng phải vì ông gàn quải vì ngang ngạnh mà vì tính độc lập sáng tạo, am hiểu chiến trường đã thắng lối tư duy máy móc quan liêu mà ông gọi là nướng quân.

    Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân 1975, bằng lối đánh độc đáo, sư đoàn trưởng sư đoàn 312 Nguyễn Chuông trong đội hình hành tiến của Quân đoàn I đã đánh tan tác Sư 5 thiện chiến của Ngụy khiến tướng chỉ huy Lê Nguyên Vỹ phải tự vẫn tại trận Bình Dương.

    Rồi trong không khí say sưa chiến thắng không ít những kiêu binh lẫn chuệch choạc tư túi này khác nảy sinh ở một bộ phận cán bộ cao cấp của quân đội, ông đã thẳng thắn vạch ra trong một Hội nghị Quân chính.

    Mặc dù cấp trên đã kín đáo ra hiệu lẫn nhắc nhở nhưng ông đã nói hết đã vạch ra một cách thẳng thắn. Sau cú đó ông đã phải rời chức sư đoàn trưởng chuyển sang bộ khung huấn luyện tân binh nhiều năm trời ở một đơn vị có hàng ngàn chiến sĩ gái! Nhưng ông vẫn thanh thản chấp hành.

    Thú vị là những lần trục trặc như vậy có một người hiểu chia xẻ với ông. Đó là tướng Lê Trọng Tấn. Chính tướng Tấn đã khéo léo tế nhị đưa ông khỏi khung huấn luyện tân binh tuyền con gái ấy lên thẳng mặt trận phía Bắc rồi sau này ông chững chạc ở cương vị sư đoàn trưởng sư 345 rồi sau đó là tư lệnh Quân khu II hàm tướng...

    ... Cứ rền dứ nấn ná mãi định bữa nào tướng Nguyễn Chuông kể cho nghe cái đoạn trường chuyện ông đi tìm mộ đồng đội lẫn đi thanh minh cho một số anh em bị nghi kỵ này khác khi về địa phương, nhất là chuyện ông cùng trung tướng Hoàng Phương đi thanh minh cho một người...

    Thì thôi rồi, mọi sự đã không kịp. Thanh minh năm Tuất này, tướng Nguyễn Chuông đã lặng lẽ ra đi... Từ bấy đến nay cũng chả thấy ông cựu giám ngục Hỏa Lò đại tá về hưu Nguyễn Hoắc nhắn nhe chi đến buổi họp mặt Tháng Tư sắp tới này cả.

    Từ buổi ông lặng lẽ ra đi, sự họp ấy cơ hồ tan tác cả! Hỏi ra thì được biết đại tá Hoắc đã vào Đà Nẵng định cư hẳn trong đó với người nhà. Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu thì đang ở trại sáng tác Đại Lải.

    Phúc Ấm lui về quê nghỉ. Tôi bần thần nghĩ đến những trưa 30 tháng Tư có tướng Nguyễn Chuông ngồi chiếu giữa. Bận nào Nguyễn Đức Mậu cũng đọc thơ và ngoài kia là nắng chớm hạ rung rinh ...
    Ngày Cốc Vũ
    Xuân Ba
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  2. #82
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết



    Tướng Nguyễn Chuông

    Thiếu tướng Nguyễn Chuông sinh ngày 23/8/1926 tại Phú Thọ, mất 23/3/2006. Tư lệnh Sư đoàn 312 Anh hùng, Sư đoàn 411, Sư đoàn 345, Phó Tư lệnh Quân đoàn 29, Phó Tư lệnh Quân khu II. Tác phẩm chính: Đường tới chân trời, Tim tôi thắp lửa, Dặm dài trên đất nước Triệu Voi, Đường binh nghiệp của tôi.

    Tháng 3 năm 1979
    Đám lính mới nhốn nháo xếp hàng trước nhà ăn. Sáu người một. Nhìn hàng ngang mà đếm. Chính lúc ấy có tiếng ôtô gầm gừ cuối hàng quân. Ai đó khẽ thốt lên: "A, Đại tá Nguyễn Chuông...!".
    Ngực tôi rung lên. Hơn một tháng nhập ngũ, tôi mới mục kích quân hàm cao nhất của viên Thượng uý Tiểu đoàn trưởng. Tôi bị cái tên Nguyễn Chuông chinh phục. Bởi xung quanh cái tên Nguyễn Chuông có quá nhiều giai thoại.
    Một vị đại tá làm thơ, viết văn, yêu thương lính, thẳng thắn hay cãi cấp trên và hay dùng những hình dung từ người không quen nghe dễ đỏ mặt. Ngoài quân hàm đại tá, Nguyễn Chuông được quê hương, được những người lính nhắc đến như là một trong những niềm tự hào đặc sắc.
    Chiếc xe U-oát lầm bụi đỏ.
    Trên xe bước xuống hai quân nhân. Một viên sĩ quan cắp cặp da bóng, trán hói, cao lớn, quân phục nghiêm chỉnh, cặp kính đen lớn che gần kín khuôn mặt. Chậc, Đại tá Nguyễn Chuông oai vệ sao.
    Quên bữa ăn, tôi tụt lại ngắm cái người mà tôi cho là đại tá kia. Tôi đã đọc thơ của Đại tá Nguyễn Chuông, in trên tạp chí Sáng tác mới của HVHNT Vĩnh Phú và trên Báo Quân đội nhân dân.
    Chậm rãi bước xuống sau là một người đàn ông ngoài năm mươi tuổi, nhỏ quắt, mặt trái xoan, chót mũi ửng đỏ, tóc nâu thưa, quần ống thấp ống cao, dép cao su đúc không cài quai. Một tay kẹp điếu thuốc lá ngun ngút khói. Những ngón tay dài, khô quắt thâm đen ám khói thuốc lá sao mà ám ảnh.
    Một tay người đó ôm bụng, mặt hơi nhăn lại, nấc lên ợ hơi. Mỗi bước đi gần như phải cần gắng sức hơn bình thường, lệch sang trái. Cánh tay trái không linh hoạt. Tôi thầm đoán, hẳn đây là một "Thượng sỹ Đông Dương" làm chân quản lý hay bếp trưởng mới được tổng động viên trở lại trong năm 1979.
    "Thượng sỹ" bỗng hất hàm.
    - Sao cậu không vào mà ăn cơm. Đứng đực ra đấy làm gì?...
    - Dạ, cháu ăn sau. Cháu xem mặt Đại tá Nguyễn Chuông đã…Tôi vẫn hướng cái nhìn thành kính tôn sùng về phía viên sĩ quan cao lớn.
    "Thượng sỹ" thở dài, búng tàn thuốc.
    - Cậu biết ông Chuông à?
    - Dạ, cháu biết…
    - Chắc không?
    Giọng vang rè, (sau này tôi mới biết đó là di chứng viên đạn xuyên qua phổi trái) viên "Thượng sỹ" nheo nheo mắt hóm hỉnh, chiếu cái nhìn như xuyên thủng người tôi. Trong tôi bỗng lạnh toát. Trót lỡ lời, may như có ai xui, tôi vội tiếp:
    - Dạ, cháu biết Đại tá Nguyễn Chuông là do cháu đã đọc thơ của ông ấy thôi ạ…
    - Thì ra thế… cậu cũng khá nhỉ…
    Chiến sĩ lái xe mở bạt lăn xuống một bao tải bồ kết. Viên sĩ quan trán hói, đã kịp dẫn ra mấy chị nuôi quân. Vừa trông thấy "Thượng sỹ", họ đã nhảy lên reo gọi nhau:
    - Bố Chuông cho quà chúng mày ơi!…
    Mấy chị nuôi quân mồm năm miệng mười quây lấy ông. Không lẽ tôi nghe nhầm, họ vừa gọi "Thượng sỹ" là bố Chuông. Tôi hoảng hồn, lỉnh vội vào cuối nhà ăn.
    Ngắm trộm vị đại tá thần tượng của mình, tôi bộn rộn vừa tự hào vừa thất vọng. Giá như ông giông giống sĩ quan phụ tá một chút nhỉ. Tôi tưởng tượng, nếu một ngày chiến trận nào, tôi chiến đấu trực tiếp dưới sự chỉ huy của ông. Giữa hai trận đánh, tôi sẽ mạn phép Đại tá bàn văn chương.
    Tôi liếc xuống vai mình. Ôi, cái khoảng cách binh nhì thò lò mũi đến đại tá 30 năm trận mạc thì cũng tương tự như trái đất đến mặt trăng.
    Như một sự kỳ lạ, gần năm sau, tôi có dịp gặp và gần gũi ông hơn một tuần, tại Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 29.
    Năm đó, Sư đoàn 411, từ một đơn vị huấn luyện chiến sĩ gái phục vụ hậu cần chuyển thành Trung tâm huấn luyện chiến sĩ mới. Rèn luyện chiến sĩ mới chiến thuật, kỹ thuật tác chiến, song song bồi dưỡng phẩm chất chính trị, được quan tâm hơn bao giờ.
    Một trại viết kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội được Trung tâm tổ chức. May, tôi có tên đi dự trại. Dăm tháng sau, tập sách của phong trào chiến sĩ viết văn, được các nhà văn nổi tiếng trong quân đội, nhuận sắc, chờ ngày ấn bản. Trên đà thắng lợi, Trung tâm quyết định xuất bản tiếp tập thơ. Tập thơ có tên là Ngưỡng cửa màu xanh.
    Phần đọc bản thảo, biên tập được nhà thơ Hữu Thỉnh trông nom. Nhà thơ Hữu Thỉnh, cho rằng tập thơ mà có thơ của Đại tá Nguyễn Chuông thì càng chững chạc, trọng lượng. Vì Đại tá Nguyễn Chuông là vị Tư lệnh sư đoàn lừng lẫy nhất trong truyền thống của đơn vị.
    Thế rồi, chẳng hiểu sao, tôi được nhận trọng trách đi gặp cựu Tư lệnh Sư đoàn 411 Nguyễn Chuông xin thơ. Trong ba lô của tôi ngoài công văn do Tư lệnh sư đoàn ký, còn kèm theo lá thư tay của Trung tá Trưởng phòng Chính trị gửi Đại tá.
    Ấn tượng về những chuyến tàu hồi đó, khó mà diễn tả. Nó là những cái cũi sắt lèn nhốt người, thiếu nước, thiếu ánh sáng, thiếu chỗ vệ sinh. Những thân người nhợt nhạt vì lo nghĩ, thiếu ăn, thiếu ngủ, thiếu cả không khí thở. Người áp sát vào người ba bốn ngày trên con đường sắt.
    Tôi mất ba ngày rưỡi vạ vật từ Hà Nội lên đến ga Phố Lu. Đêm tháng 10, vùng biên viễn giá lạnh quánh đặc sương mù. Đó đây trên sân ga, bóng áo quân phục vải bùng nhùng xanh nhợt trải ni lông túm tụm vào nhau, ngồi, nằm đợi sáng. Tôi hỏi vu vơ đường vào Hồng Thắng, nơi có BTL Quân đoàn 29.
    Ai đó đã nói rằng: Cứ yên tâm ngủ đi. Đây toàn là lính quân ông Chuông cả. Gì mà ngại. Sáng mai ối người vào đó. Tin là đồng đội với nhau, tôi yên tâm nhập vào đám người trên cái hè nhà ga đổ nát. Trước khi thiếp ngủ, linh tính mách thế nào, tôi ém kỹ giấy tờ và mấy chục đồng vào cái túi ngực. Đầu gối lên ba lô nằm ngủ.
    Mãi đến khi còi tàu rúc lúc gần sáng, tôi mới hay rằng mình đang gối lên viên gạch. Chiếc ba lô không cánh mà bay. Những người nằm ngủ cùng chẳng còn một ai.
    Trưa gắt nắng. Bộ dạng như lính đào nhiệm, tôi thất thểu tìm đến được BTL Quân đoàn 29. Đọc các giấy tờ của tôi, viên sĩ quan trực ban còn vặn vẹo, vạch vòi mãi mới điện thoại vào bên trong báo cáo.
    Tôi nhấp nhổm như ngồi trên lửa. Toàn bộ giấy tờ thư tay, viên sĩ quan đeo băng đỏ đã cầm giữ. Ngộ nhỡ người ta không tin và giam tôi lại chờ điều tra thì sao nhỉ. Tôi sẽ không hoàn thành nhiệm vụ mất.
    Nhưng rồi có tiếng nói quen quen, hơi rè, hơi ngân nga của vùng Thượng Nung. Tôi ngó vội qua cửa sổ. Đích thân Nguyễn Chuông ra đón. Tôi không thể tưởng tượng được. Người đàn ông tầm thước, quân phục phẳng phiu, dép nhựa nâu, không đeo quân hàm, nghiêm lạnh, tóc chải ngôi lệch kiểu chính khách. Ông có dáng đi hơi chúi về phía trước. Nhưng vẫn toát ra vẻ hiên ngang, thách thức và đồ sộ. Ông dừng bước chống nẹ, tay búng tàn thuốc. Cái cười ngậm, tủm tỉm hồn hậu, đủ hình dung thời trẻ ông là chàng trai có duyên cỡ nào.
    Tôi được dẫn ra đến trước ông. Tôi cảm giác được ánh mắt ngạc nhiên, thông cảm, bao dung từ ông chiếu rọi từ trên cao xuống khắp người. Có lẽ ông thất vọng hình ảnh của tôi.
    - Đồng chí lên biên giới mà đi nhõn người không à?
    Chẳng hiểu sao, tôi to gan độp luôn:
    - Tại lính của bác đã ăn cắp ba lô của cháu đấy chứ…
    Thế là tôi kể lể lại sự tình. Càng nói càng tủi thân. Tự dưng bao nhiêu cực nhọc mấy ngày đường lại nỗi ấm ức bị mất cắp ba lô khiến tôi cứ nghẹn ngào lắp bắp. Nước mắt tôi ứa ra. Thật xấu hổ, nhưng dù sao thời điểm đó, tôi mới chỉ 18 tuổi chưa bao giờ xa gấu quần mẹ.
    Huấn luyện qua loa, chưa biết tháo lắp súng, thì đã được gọi vào Trại sáng tác. Mà giờ tôi cách nhà mấy trăm cây số, lại đang đứng truớc một ông đại tá. Nhưng lạ, tôi không thấy mảy may sợ hãi gì từ ông nữa. Thì ra bản năng sâu thẳm trong tôi đã hướng tới ông để chia sẻ giọt nước mắt một giây trót yếu lòng.
    - Ồ, không sao. Không sao…
    Bàn tay mềm ấm, thoảng mùi khói thuốc quệt đi giọt nước mắt trên má tôi. Có vẻ như là ông đã nhớ ra tôi hoặc cũng có thể không nhớ ra tôi. Suốt ba mươi năm trận mạc, dưới quyền ông, đã bao nhiêu là lượt người đến làm lính của ông rồi không thể làm lính của ông.
    Thở dài, ông vê nát điếu thuốc đang hút giữa những ngón tay ám khói thuốc.
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  3. #83
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết
    Căn nhà nhỏ, dựa lưng vào núi, trần căng một lượt nilon, một lượt vải dù. Nhìn xuống thung lũng. Ngay sau vách nhà là có lối vào hầm chạy sâu vào ruột núi. Một phòng ngủ, phòng làm việc. Tủ sắt, bộ ghế đơn sơ, nhưng có cái bàn là dài rộng lạ thường. Tôi được bố trí xếp ở phòng khách liền kề phòng ông ở. Giường khung sắt, lò xo trải đệm mút. Sạch sẽ tinh khiết chỉ thấy nhuần nhị mùi vải mới ở chăn màn. Phích nước, hộp chè, tủ áo…

    Ông nói với viên hạ sỹ phục vụ.

    - Cậu này là khách riêng của tôi.

    Anh ta gật đầu, liếc xéo qua mặt tôi vẻ coi thường. Nhưng ông đã kịp bồi thêm câu nữa:

    - Đây là bạn văn chương với tôi. Hơn nữa lại là chiến sỹ ở đơn vị cũ…

    Chỉ thiếu nước ngất xỉu vì sung sướng. Ông quay đi hồi lâu mà tôi còn ngân nga, râm ran mãi. Nhưng thực lòng, tôi thấy mình không xứng tị ti với sự trân trọng của ông. Tự tin và phổng mũi. Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy rằng được trọng thị quá giá trị thực của mình còn khổ hơn là nỗi khổ không được trọng thị.

    Viên hạ sỹ lặng lẽ hướng dẫn tôi chỗ tắm, giặt. Quan trọng hơn cả, là tôi được mượn một bộ quân phục mới tinh, vừa đúng cỡ. Thơm sạch như khẩu súng mới chưa bắn lần nào.

    Bữa ăn cùng ông lúc ấy đã ngả sang chiều. Bày trên cái bàn quá khổ. Khẩu phần của tôi từ nhà ăn. Cơm bo bo. Rau sắn muối chua xào mỡ hoá học. Mấy miếng thịt lợn thái mỏng như giấy dó. Bát canh khoai nương hầm xương lõng bõng. Lát sau người công vụ mang thêm niêu cơm nếp lạc và hũ mắm tép rói ướp thính lẫn bột củ riềng thơm nưng nức.

    Ông đã thay bộ quân phục bằng bộ pijama sáng màu. Trông như ông giáo làng thôi dạy học đã lâu. Ngồi xổm trên ghế, quần quá gối. Ôi, chân của vị đại tá mới gầy gò và lắm sẹo làm sao. Ông nhìn mâm cơm, mời tôi mà như đang độc thoại:

    - Đấy, khẩu phần tiểu táo của tôi đấy. Nhưng tôi bị đau dạ dày, nên thường ăn vặt. Gạo nếp, tép thính đều nhờ bà vợ ở quê gửi lên cho…

    Thôi gắng mà ăn đi, cậu… Xa vợ con bao năm. Không giúp gì được, nay vẫn phải nhờ vợ…

    Ông tiếp cho tôi lưng bát sắt cơm nếp, ba con cá thính.

    - Đây là thứ nếp hoa vàng, cấy ở đồng làng Thượng Nung giữa những đầm sen. Tép rói, là thứ đặc sản chỉ có ở trong đầm sen, đầm súng. Hũ tép này vợ tôi làm đã ba năm. Lạc cũng vậy, nó được trồng ở những gò cao quanh làng. Lạc rang chín, tách vỏ, cơm nếp nấu cạn thì mới cho lạc vào…

    Tôi nhìn sang bát ông, chỏng chơ mấy nhón cơm vê tròn như quả nhót. Và cũng ba con tép thính nhưng đã được bẻ đôi. Nồi cơm nếp hình như chỉ còn lớp cháy.

    Sực nhớ, ông hỏi tôi về trại viết, về tập thơ sẽ xuất bản này của Trung tâm huấn luyện chiến sĩ mới. Và, tất nhiên hỏi tôi về những cái đã viết và cả dự định sáng tác. Tôi không nhớ mình đã trả lời ông ra sao.

    Ông chăm chú nghe tôi. Nhưng tôi vẫn cảm thấy mình chỉ là cái cớ thoả đáng trong buổi chiều biên giới phấp phỏng tiếng nổ mồ côi vọng vang qua từng sóng núi, để ông giãi bày với chính ông thì phải.

    - Ít hơn cậu hai tuổi, tôi đã rời làng theo Cách mạng. Bập bõm biết chữ, đứng nơi đầu làng trước mặt là đầm sen, nhìn đường chân trời, tôi băn khoăn tự hỏi, đằng sau đường chân trời là cái gì nhỉ? Tôi từ lính trơn trở thành Tư lệnh sư đoàn khi kết thúc chiến tranh chống Mỹ. Giờ lại chiến cuộc giữa đất này. Văn, thơ là chỗ tôi được bộc lộ mình trọn vẹn những điều không thể nói nơi hội nghị.

    Ánh mắt nâu trong của ông nhìn ra bộn bề núi vây quanh. Bỏ lửng bữa ăn, ông đứng dậy mở tủ tài liệu ôm ra chồng bản thảo, đánh máy, viết tay. Chữ ông sắc nét, thoáng rộng. Tập bản thảo tự truyện Đường tới chân trời và một số bài thơ lẻ. Về sau những Tim tôi thắp lửa, Dặm dài trên đất nước Triệu Voi, Trận đánh cuối cùng đã hấp dẫn tôi cũng như bao chiến sĩ khác. Dù thơ hay văn, thì người đọc đều bị cuốn hút bởi sự chân thành, sinh động của Tướng Nguyễn Chuông nhiều trải nghiệm đời binh nghiệp.


    Trong xấp bản thảo, tôi thấy hai cái tên cây đa cây đề trong làng báo làng văn quân đội trên phong bì thư người gửi là Nguyễn Phúc Ấm và Nguyễn Đức Mậu. Cười rạng, ông như người nông nhìn cánh đồng bời bời mùa vụ, xởi lởi nói:

    - Tất cả đấy. Tuỳ cậu muốn chọn bao nhiêu bài mang về cũng được…

    Mấy năm sau tôi ra quân xin chuyển ngành về Sở Văn hoá Phú Thọ. Họa sỹ Ngô Quang Nam - Giám đốc Sở đồng ý tiếp nhận, nhưng ngặt cơ quan đang thừa 20 biên chế. Và họa sỹ nói luôn, nếu kiếm được thư tay của Tướng Nguyễn Chuông giới thiệu tôi với tỉnh thì tốt nhất. Thế là tôi lại tìm đến ông, lúc bấy giờ đang là Phó Tư lệnh Quân khu II, phụ trách xây dựng kinh tế. Lúc viết thư giới thiệu tôi với Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Vĩnh Phú, ông lẩm bẩm:

    - Gay. Bây giờ thời bình, thanh niên vào quân đội phục vụ mươi năm ra là trắng tay không nghề ngỗng. Chúng ta không nghĩ cách đào tạo lại thì nguy quá. Có phải ai vào lính cũng làm thơ viết văn như cậu được đâu mà tôi viết thư tay giới thiệu…

    Chắc muốn tôi thuận việc, Tướng Nguyễn Chuông đã giới thiệu tôi như là một tài năng hiếm hoi!!! Nếu mà Vĩnh Phú không nhận thì e rằng sẽ thiệt thòi cho phong trào!!! Dĩ nhiên lúc đó tôi thấy hơi ngượng. Nhưng đến bây giờ ngẫm lại, tôi vẫn không khỏi xấu hổ vì cái tài của mình được ông nhân lên nhiều quá…

    Trong căn hộ ông ở cuối đời ở Hà Nội, ông lập một bàn thờ lính có gắn hình con chim đại bàng tung rộng cánh, dưới bàn thờ để cuốn sổ ghi tên các đồng đội đã hy sinh mà vẫn chưa tìm thấy mộ. Ông bảo "Con đại bàng sẽ chở linh hồn họ luôn về cùng ở bên tôi". Có lẽ ông là vị tướng Việt Nam hiện đại duy nhất thờ lính. Ông thắp nhang, cầu khấn cho họ mỗi khi xuân, mỗi dịp đất nước lễ trọng.

    Ngay khi còn khoẻ, ông đã về quê làm đơn xin được cắm đất mộ phần. Ông nói với các con:


    - Đất nước Việt thì tấc đất nào cũng là nước Việt. Nhưng Thượng Nung là nơi bố đã ra đi thì cũng là nơi bố phải trở về. Bố phải trở về nguồn cội, để lại được sống tiếp những gì mình chưa sống trọn với quê hương.

    Ý nguyện của tướng Nguyễn Chuông là được an nghỉ tại Thượng Nung cùng bàn thờ lính. Bàn thờ lính ấy, nay đã được con trai ông mang về đặt tại ngôi nhà cũ, theo di huấn.

    Bữa cơm trưa thời bình với Tướng Nguyễn Chuông ấy, tôi bỗng nhận ra trong ông đạn vẫn nổ, bom vẫn rơi chưa dứt trong những giấc ngủ và cả những ban mai với nỗi ám ảnh trách nhiệm lương tâm của người làm tướng. Tôi không nghi ngờ gánh nặng đó chưa một ngày buột khỏi vầng trán ưu tư, ánh mắt mang nhiều câu hỏi và đôi vai đang còn trĩu xuống mâm cơm của ông.

    Lúc từ biệt, tôi chưa chịp chào, thì ông đã nói:

    -Tôi phải trốn bệnh viện về nhà mươi ngày. Muốn quên đi cái đau đớn của con người mà không được. Chiến tranh thì sống chết. Hoà bình thì bạo bệnh nan y. Gạo tiền…

    Nhìn ông rưng rưng, tôi những muốn một lần nữa nép dưới mái đầu bạc của ông. Muốn vòi ông một cơ số quân trang lính mới. Tại sao tôi vẫn có cảm giác ấy nhỉ. Có lẽ Tướng Nguyễn Chuông là một trong những người chỉ đem cho những thứ mình có. Người không biết nhận. Tôi thầm với mình: Nếu như những vết thương và cả hạnh phúc của ông hiện có mà đem cho được và khiến người khác bình an thì chắc ông cũng chẳng chối từ.

    Rồi như nổi hứng, Tướng Nguyễn Chuông chỉ vào vườn cây nhà mình, khẽ nói:

    - Các cậu biết không. Vườn nhà tôi trồng đủ loại hỗn tạp. Tại sao các cậu hôm nay được mổ gà không? Tôi có một quy định, nếu có khách đến thấy tôi giới thiệu với khách thứ cây trồng gì thì người nhà sẽ tiếp theo phẩm cấp của cây trồng ấy. Hôm nay tôi giới thiệu cây cam mà.

    Bỗng tôi lại không biết mình là ai

    - Dạ thật may là hôm nay… thủ trưởng không giới thiệu nhầm vào cây ớt…

    Bóng nắng đã nghiêng nghiêng, Tướng Nguyễn Chuông bật cười hồn hậu. Ông giơ cái quạt lá cọ dư dứ về phía chúng tôi. Nhưng tay kia ông còn kịp ngoắc vào tay lái chiếc xe máy một túi những trái roi chín hồng.

    - Các cậu mang về cho lũ trẻ ở nhà.

    Ông lòng khòng đứng như cái dấu chấm than trong chiều nhiều gió. Và bây giờ mỗi khi nhớ lại khoảnh khắc ấy, hình ảnh ông vẫn còn gieo vào tôi bao nhiêu là câu hỏi không hồi đáp.

    Nguyễn Tham Thiện Kế
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •