CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 3 của 9 Đầu tiênĐầu tiên 12345 ... CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 83

Chủ đề: Hồi ký Nguyễn Chuông

  1. #21
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết
    Những ngày này chúng tôi thường ăn cơm nắm với muối vừng lạc và mắm kem khu bốn, nhưng ít bữa no. Có hôm anh nuôi nấu kém, vớ phải nắm cơm nửa sống nửa chín, ăn trệu trạo trong miệng mà cứ phải nhai, phải nuốt. Thèm rau, thèm thịt, thèm đủ mọi thứ kể cả điếu thuốc lào mà không kiếm đâu ra. Nhưng suy cho cùng ở đây đối với chúng tôi lúc này, mắm kem khu bốn là ngon thượng hạng, nó đậm ngọt và thơm, ăn rồi nhớ mãi. Sau này ta đánh sâu vào trong địch phải thả dù lung tung, chúng tôi lấy được các loại dù thực phẩm đủ cả thịt hộp, xúc xích, bơ sữa, pho mát ăn đến chán chê bỏ cả cơm nắm mà vẫn không quên cái vị đậm ngọt thơm ngon của mắm kem khu bốn.

    Lại nói việc đào hào ở ngoài đã khó, vào gần hàng rào sân bay và đồn giặc càng khó hơn . Khi vào gần hàng rào là thế trận vây lấn đã như phải giáp mặt quân địch hoàn toàn phải tiến hành vào ban đêm. Cán bộ chiến sĩ đi thẳng vào chân hàng rào ra lệnh nằm xuống, người nọ nối người kia thành một hàng dọc, lặng lẽ bỏ các sọt đất, bùi nhùi rơm, cỏ ra che chắn phía trên đầu, đề phòng đạn địch bắn thẳng rồi bắt đầu đào. Trước hết đào nằm sau đó đào ngồi, đào quỳ, đào nối lại với nhau thành chiến hào. Trường hợp lộ, địch bắn sẽ có lực lượng kiềm chế đánh địch, bộ phận đào càng phải đào khẩn trương hơn. Có thương binh tử sĩ thì đã có bộ phận tải thương lo liệu. Làm sao bốn giờ sáng phải xong thế trận vây lấn sâu hơn đêm trước để kịp triển khai bộ phận đánh giữ ban ngày cho bộ phần đào hào về phía sau nghỉ ngơi.

    Bây giờ đến giai đoạn đào qua hang rào vào trong sân bay thì không thể đào lộ thiên mà phải đào sâu vào lòng đất như đào địa đạo. Hàng rào dây thép gai của địch rộng tới bốn năm chục mét, mà đào mỗi ngày đêm liên tục chỉ được khoảng mười lăm mét.

    Thế rồi một buổi sáng tám giờ, trời âm u, sương buông mù mịt máy bay địch vẫn ầm ì trên đầu thả đèn dù pháo sáng, đạn pháo từ đồn Mường Thanh vẫn bắn ra ùng oàng, chiến sĩ ta đã vào được trong sân bay và lại tiếp tục đào nhanh hơn, khẩn trương thiết lập trận địa. Lúc này địch chưa biết gì. Trăng lên. Sân bay mênh mông gió lộng. Không ai nói ra song hình như có một niềm vui hay là sự hồi hộp chộn rộn trong lòng khi tận mắt đã nhìn rõ cái sân bay lát những tấm sắt dã chiến trải dài qua bốn phía loang loáng dưới ánh trăng. Sau khi các công sự đã được nối với nhau cùng với các trận địa hỏa lực, các vị trí bắn tỉa thì đã mười một giờ khuya. Mãi lúc này địch mới phát hiện quân ta đã vào trong sân bay. Thế là súng cối trong đồn 105 phía bắc, đồn 206 phía tây và pháo từ Mường Thanh thay nhau bắn ra. Chúng tôi vẫn tiếp tục đào. Thời gian càng khẩn trương buộc chúng tôi phải nhanh chóng làm chủ được trận địa đã chiếm lĩnh một cách vững chắc, Địch bắn. Chúng tôi đào hối hả hơn. Địch bắn đến gần sáng thì chúng tôi đã đào thành hai nhánh, một nhánh sát đồn 105, một nhánh ngoằn ngoèo cả góc sân bay gần ba trăm mét. Đến lúc này, ở gần địch, chúng tôi ít bị ảnh hưởng của đạn pháo. Sáng ra tôi quan sát thấy trận địa của ta đã lấn vào trong hàng rào sân bay khoảng ba trăm mét cạnh sườn đồi 105 về phía đông bắc, chưa có thể gọi là đã cắt được sân bay. Địch trong đồn 105 bắn ra rất ít. Hẳn là chúng không dám lên khỏi mặt đất, sợ bị bắn tỉa. Chỉ thỉnh thoảng bắn cối ra. Đồn 206 cũng vậy.

    Nhưng đến tám giờ sáng thì pháo từ Mường Thanh bắt đầu bắn mạnh ra trận địa ta. Tiếp đến máy bay quần đảo trút bom bắn phá. Pháo cao xạ của ta buộc chúng phải nâng độ cao hạn chế kết quả oanh tạc.

    Tôi đoán chừng bộ binh địch có thể mò ra nên nhắc anh em phải hết sức chú ý. Đã có hiện tượng thập thò lên khỏi mặt đất khi pháo Mường Thanh hoạt động và máy bay oanh tạc.

    Quả nhiên. Lúc đó đúng mười giờ. Đánh nhau giằng co đến tận hai giờ chiều, chúng phải quay về đồn nằm im. Một giờ sau, máy bay địch đến thả dù tiếp tế cho đồn phía đông nam sân bay và đồn 105, 206. Dù rơi lung tung, cái vào đồn, cái ra ngoài, cái rơi vào cả trận địa của quân ta. Không có tên địch nào dám mò ra lấy. Tối đến, anh em ta mới tổ chức đi lấy dù, cứ gọi là vui như hội. Có những tổ lấy được dù bánh mì hoặc thịt hộp, đường sữa hoặc rượu, kẹo, hoa quả, thuốc lá. Có tổ vớ được dù toàn đạn hoặc nước, bông băng, thuốc quân y. Lại có tổ chỉ thấy những cuộn dây thép gai, nghĩ mà tiếc công. Song tất cả đều rất vui vì từ đây nhiều cậu không còn thiết đến cơm nắm nữa, cứ bỏ lăn lóc trên bờ công sự, bữa bữa chén bánh mì thịt hộp đến no thì thôi. Ăn xong lại có kẹo tráng miệng rồi nhâm nhi cà phê, thuốc lá đàng hoàng…

    Nhưng từ thời gian này, chiến đấu càng thêm quyết liệt. Bị cắt cái dạ dày của hơn một vạn quân, tướng Đờ Cát đâu có chịu ngồi yên.

    Đúng vậy. Sau mỗi đợt máy bay và pháo địch bắn phá dọn đường, chúng lại đẩy bộ binh ra. Lần này tới một tiểu đoàn có cả xe tăng yểm trợ, chúng quyết đẩy quân ta ra khỏi sân bay chăng? Nhưng trung đoàn tôi đã được tăng cường lực lượng. Cấp trên lại điều cả Trung đoàn 141 và Đại đoàn 308 đánh lấn vào sân bay Mường Thanh. Có thể nói cắt sân bay và giữ sân bay là chuyện sinh tử của cả hai bên. Vì thế cuộc chiến ở đây tất yếu phải quyết liệt. Địch chết rất nhiều. Quân ta hy sinh cũng không ít. Cũng có thể nói ban ngày địch thắng nhưng ban đêm lại thua và ngược lại, ban ngày quân ta tạm co lại, ban đêm lại tràn ra khôi phục công sự và đào lấn thêm. Thế trận diễn ra như thế hàng tuần lễ, có khi địch ta giành giật nhau từng đoạn chiến hào. Chiến sĩ ta có đồng chí bị thương, cánh tay băng trắng vẫn bắn trúng địch. Có đồng chí trước bọn địch ào đến định bắt sống đã kịp thời tung trái lựu đạn cuối cùng diệt địch. Có hôm tôi phải cho lui về chiến hào hai đánh giữ vì phía trước địch ồ ạt tiến lên đã chiếm được nhiều đoạn chiến hào và anh em đã bị thương vong nhiều. Từ chiến hào hai, chúng tôi phát huy hỏa lực mạnh hơn diệt nhiều tên buộc chúng phải dừng lại. Một hôm, tôi đến gặp Đại đội trưởng Minh Lanh trao đổi công việc lại gặp đồng chí bị thương chưa biết tôi là cán bộ tiểu đoàn cứ níu áo nói:

    - Bảo anh ấy, thà chết cũng không rời trận địa.

    - Đồng chí tên là gì?

    - Bài, mới bổ sung về đây. Tiếc quá!

    - Sao?

    - Em bị thương khéo chết mất, chưa bắn được nhiều địch. Anh nhắn hộ anh Phú Đại đội 1 khi nào về quê báo cho mẹ em biết.

    - Quê Phú Thọ à?

    - Em ở xóm Tây Cốc gần ngã ba Đoàn Hùng.

    - Được rồi!

    Tôi nhận lời, vừa định về vị trí chỉ huy thì địch lại bắn mạnh, nhưng để lôi thằng chết và khiêng thằng bị thương về Mường Thanh.
    Chiều hôm đó quân ta lại lên củng cố trận địa và đến bảy giờ tối lại tổ chức lực lượng đào lấn thêm tuyến nữa. Một hôm, địch ào ạt tiến lên có cả xe tăng đi cùng đã chiếm hết tuyến chiến hào vừa đào đêm qua, anh em phải lui về chiến hào hai, gấp quá không kịp chuyển thương binh nặng và có đồng chí đã hy sinh. Nghĩ mà xót xa. Đúng lúc đang ở chiến hào chuẩn bị đánh trả địch bỗng thấy quân địch ở phía trước chững lại và tiếng súng của đơn vị bạn dội lên phía đông nam và phía tây sân bay.

    - Các đồng chí có nghe thấy gì không?

    - Có ạ! Đơn vị nào không biết?

    - Trung đoàn 141 và Đại đoàn 308 đấy.

    Chúng tôi thừa cơ nổ súng tấn công. Bốn giờ chiều, quân địch phải rút hết về Mường Thanh.

    Những đường hào tiếp tục được đào dũi từ cả ba hướng cho đến ngày 16 tháng 4 thì gặp nhau, nối được với nhau ở nơi không biết ai đặt cho cái tên là ngã ba Đầm Hà. Cũng đến lúc này, trên thực địa ta mới cắt và chiếm được sân bay Mường Thanh. Song thực tế thì từ khi chúng tôi lọt vào trong sân bay, cái dạ dày khổng lồ của hơn một vạn quân địch đã mất hiệu lực rồi. Bởi từ hôm đó không một chiếc Đacôta nào dám cả gan hạ cánh xuống nữa. Mà thả dù thì gần bằng "kính biếu” lính Cụ Hồ thôi. Quân ta thu được cả lon tướng của gã Đờ Cát kia mà.

    Đúng ngày 16 tháng 4, chúng tôi vây sát đồn 105, triển khai kế hoạch diệt đồn. Đại đoàn 308 đánh đồn 206. Ngày 18 tháng 4, bọn địch ở 105 tháo chạy khi chúng tôi chỉ mới bắn phá được mười ụ súng và mở xong ba cửa mở. Nhưng toàn bộ quân địch ở đồn 105 không một tên nào thoát, bị chết và bị bắt sống hết.

    Cũng ở đồn 105, tôi đã bị thương nặng không tiếp tục tham gia đợt ba của chiến dịch. Thật là tiếc.

    Thấm thoắt đã 50 năm. Bây giờ ngẫm lại mới hay, đã trải qua nhiều chiến dịch, tôi vẫn chẳng thấy lần nào chiến sĩ ta phải đào chiến hào nhiều đến thế. Dám đào chiến hào cắt đôi cắt ba cả một cái sân bay dưới tầm bom dạn của quân thù. Hẳn rằng lòng tin và quyết tâm của mọi người từ vị chỉ huy tối cao đến người chiến sĩ đã quyện trong nhau như thép được tôi trong nghìn độ lửa mới làm nên chiến công tuyệt vời thực hiện trọn vẹn ý đồ chiến dịch như thế.
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  2. #22
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết
    ĐIỆN BIÊN TRONG TÔI

    Điện Biên trong lòng nhân dân và quân đội ta là trang sử hào hùng sánh ngang với Đống Đa, Chi Lăng, Bạch Đằng. . . trong bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Điện Biên trong hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là tất cả trí tuệ và mưu lược của chiến tranh nhân dân chiến thắng tên đế quốc cáo già, đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật quân sự và cũng là đỉnh cao của vinh quanh cho đất nước.

    Điện Biên trong tôi, phía sau của niềm tự hào chung như tất cả mọi người, tôi có nỗi đau, nỗi đau của một tên tù binh mà trước khi bị bắt tôi đang là người chiến thắng. Viết lại nỗi đau này, tôi không có ý làm khác đi vẻ hoành tráng của Điện Biên anh hùng mà chỉ muốn nói, con đường dẫn đến chiến công có muôn vàn ghềnh thác, điều quan trọng là những ghềnh thác ấy có làm cho ta nhụt chí hay ngược lại chính nó là những thử thách vô cùng khắc nghiệt đã làm sáng tỏ trong ta khí phách của một con người chân chính.

    Hồi ấy, tôi phụ trách Tiểu đoàn 155 thuộc Trung đoàn 165 do anh Khánh là Chính ủy, anh Lê Thùy là Trung đoàn trưởng. Vào cuối đợt hai của chiến dịch, tiểu đoàn tôi có nhiệm vụ đánh đồn 105. Trận đánh diễn biến nửa thắng, nửa thua này khiến cho tôi thấy cay đắng trong lòng. Tức là chúng tôi nổ súng chỉ sau ba mươi phút, toàn đơn vị đã thực hành xung phong đánh chiếm và làm chủ ba phần tư đồn, bắt sống ba mươi tên trong đó có tên quan ba chỉ huy. Địch phải dồn lại một góc lợi dụng hầm ngầm ngoan cố chống cự. Trong khi chúng tôi đang tìm cách diệt hầm ngầm thì từ trung tâm Mường Thanh, các tiểu đoàn bộ binh địch có xe tăng pháo binh yểm trợ đánh ra nhằm phản kích giải vây cho đồn 105. Trận chiến diễn ra vô cùng quyết liệt và phức tạp giữa ta và địch xen kẽ nhau trong đồn, ngoài đồn đều nổ súng. Tiểu đoàn trưởng Bế Phiên chỉ huy Tiểu đoàn 564 đánh chặn viện ngoài đồn không hoàn thành nhiệm vụ. Cấp trên phải điều thêm Đại đội 243 (Trung đoàn 141) đánh mở đường tăng cường cho tiểu đoàn tôi chiến đấu trong đồn. Nhưng bọn địch trong trung tâm Mường Thanh vẫn tiếp tục điều thêm quân ra ngăn chặn bằng được các lực lượng chi viện của quân ta. Đến lúc này, đơn vị tôi phải chiến đấu trong thế bị bao vây thực sự. Một cuộc đọ sức ác liệt song cũng tỏ rõ phẩm chất người chiến sĩ cách mạng uy vũ bất khuất, chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, bị thương vẫn không rời tay súng.

    Hầu như anh em chỉ bị bắt sau khi đã bị thương và không một ai chịu đầu hàng địch.

    Trận đánh từ 8 giờ tối ngày hôm trước đến 10 giờ sáng hôm sau, quân địch mới chiếm lại được 105. Lúc này tôi đã bị thương khá nặng, ở cả đùi, tay và ngực phải nằm bẹp không thể cử động được nhưng đầu óc vẫn còn tỉnh táo. Chính vì còn tỉnh táo nên nỗi đau càng như xé ruột gan khi nhìn anh em hy sinh và bị thương nằm la liệt khắp nơi, chồng chất lên nhau nối hàng ở chỗ cửa mở như hai bờ ruộng, tiếng kêu rên nghe cháy bỏng trong lòng. Cho đến bây giờ tôi vẫn không quên hình ảnh hy sinh của các chiến sĩ tiểu đoàn tôi. Có người nằm vắt mình qua hàng rào, tay buông thõng. Có đồng chí nằm nghiêng, tay vẫn ôm súng, ngón tay đặt trong vòng cò. Có người gục xuống chiến hào, tôi chỉ nhìn thấy hai cẳng chân dang lên trên nền trời. Nhiều anh em bị thương khe khẽ gọi tên ai đó nghe thật xót xa . . .

    Quân địch tràn vào đồn rất đông, đứa nào cũng lăm lăm khẩu súng chĩa vào đầu anh em ta, dẫu cho chỉ còn là những cái xác không hồn. Có tiếng rên của một đồng chí cách chỗ tôi không xa bị thương. Lập tức ba tên địch quay mũi súng về phía đó xả đạn. Tôi nhắm nghiền mắt lại vừa như không muốn chứng kiến lại vừa như sẵn sàng chờ đợi ba họng súng kia sẽ xả đạn vào chỗ mình. Tự nhiên tôi nghĩ: Ôi? Cái tuổi hai mươi lăm nằm lại Điện Biên rồi. Hình ảnh mẹ tôi, các anh chị, các em, cả ông chú bà bác cứ hiện lên trong đầu. Tôi tưởng tượng cái lúc mọi người nghe tin tôi chết ở Điện Biên òa lên khóc. Rồi hình ảnh xóm làng đình chùa, các ngày hội cứ hiện lên như in. Nhớ cái tuổi chăn bò dong duổi khắp đồng trên bãi dưới, qua rặng vải cây si, rủ nhau trèo lên cây gạo đình làng bẻ hoa bắt chim rồi ào ào chạy ra sông tắm, na.y tắm sông Hồng, mai tắm sông Đà, ngày kia lại về tắm đầm làng, nhớ buổi cắt cỏ bên núi Mươi, Đình Bằng, đồi Bông, xóm Thuê, những khi trồng sắn trên nương với mẹ, đánh cá dưới ao với cha. . . nỗi nhớ tràn về cứ nối tiếp hiện lên chẳng khác nào một cuốn phim. Hết nghĩ về nhà, tôi lại nghĩ về cấp trên, đơn vị, bạn bè. Tôi không về được, bây giờ chắc cấp trên đang lo lắm, và anh em thì đang nhắc tới tôi, hai cậu Tùy và Bãi thể nào cũng khóc . . .

    Đang suy nghĩ miên man thì bỗng nghe "bịch" bên tai phải sát ngay sau gáy thấy ran rát, liền theo đó là mấy tiếng súng nổi "bọp, bọp". Lại "bịch" nữa sát đầu vai bên trái. . . Tôi thoáng nghĩ thế là hết, mình sẽ chết ở đây mà không làm gì được chúng cũng như không thể nhắn lại đồng đội được nửa lời. Nhưng sao mình vẫn còn tỉnh táo. Lại nghĩ có chết cũng phải đàng hoàng. Tôi xoay về hướng bắc cố ghếch đầu lên đôi vai đồng chí đã tắt thở rồi nói thầm: Cho mình gối nhờ để có chết vẫn nhìn về phía quê hương. Chỉ ít phút nữa thì anh em ta gặp nhau. Tôi ghé mắt nhìn và nhận ra Trung đội trưởng Tác Đại đội 501, đôi lông mày xếch lúc này như xếch hơn lộ rõ vẻ căm uất. Con người dáng cao to nặng nề tháo vát... Vậy mà! May sao đã có một thằng con trai. Ở Vĩnh Yên, vợ con cậu mà biết tin lại khóc hết nước mắt thôi.

    Bỗng nghe tiếng "bịch" động mạnh dưới đùi tiếp theo là tiếng súng nổ "bọp". Lại “bịch" sát vành tai rát rạt như bị búng mạnh vào mang tai, mắt hoa lên. Đến đây thì tôi ngất đi không hay biết gì nữa. Khi tỉnh lại, trời đã xế chiều, tôi đoán rằng khi tôi tìm cách gối đầu lên thi hài Trung đội trưởng Tác, tên địch nào đó thấy tôi còn sống đã bắn tôi. May sao viên đạn chỉ sát vành tai và vào đầu làm cho tôi ngất đi thôi.

    Nắng buổi chiều vẫn phả ra nóng hừng hực. Tôi thấy khát nước quá, môi như khô cứng ra, nuốt thấy đau rát ở cổ họng. Tôi muốn ngồi lên như gắng gượng mãi không được, cảm thấy người mình nặng hẳn ra như có đá đè, tay phải thì đau không tài nào cử động được. Tôi dùng tay trái quờ quạng quanh người sờ soạng tìm nước nhưng không có chỉ thấy cái vỏ đạn tiểu liên. Sờ xuống dưới thắt lưng chỗ gần đũng quần thấy đất mát, ươn ướt, tôi moi lấy một miếng bỏ vào mồm nhấm nháp. Xem ra cũng dìu dịu cơn khát nhưng sao có vẻ như vừa mặn vừa khai, tôi đoán chừng nước đái hoặc máu. Cũng đành nhúm tiếp rồi nuốt thử cho qua cơn khát song không nuốt nổi. Cơn khát càng cồn cào như sắp phát điên lên, tôi kêu, muốn hét thật to nhưng không thành tiếng. Ngay lúc ấy có một chiếc ô tô từ trong Mường Thanh ra dồn để lượm xác và đón lính bị thương. Chúng tìm đến gần chỗ tôi. Thương binh của ta và lính của chúng bị thương nằm lẫn lộn cạnh nhau. Tôi khẽ kêu lên. Hai thằng Tây chạy lại, một thằng cúi xuống nhìn, nó nói:

    - Xava!

    Hai người phu theo sau cũng chạy đến. Một người hỏi:

    - Anh là cán bộ hay chiến sĩ?

    Tôi không trả lời chỉ kêu:

    - Nước? Cho tôi xin nước?

    Hai thằng Tây xì xồ nói gì không rõ. Một thằng lấy bi đông mở nắp đưa cho tôi. Tôi nghiêng đầu uống ừng ực. Nước vào đến đâu tôi biết đến đấy. Lúc ấy tôi cảm thấy nước như là thứ thuốc tiên khiến đầu óc tỉnh táo hẳn ra, ruột gan mát mẻ. Chiếc bi đông không rời khỏi mồm, tiếng nước kêu ọc. Thằng Tây ngăn lại không cho uống nữa. Nó ra hiệu uống nhiều chết. Tôi vẫn cứ uống và nói lại:

    - Tôi không chết được.

    Thằng Tây khác giật lấy bi đông rồi xem qua vết thương, lấy băng ra băng bó lại, vừa làm nó vừa hỏi tôi, người phu dịch lại:

    - Anh là sĩ quan hay là lính, tên là gì, đơn vị nào?

    Tôi nói một mạch:

    - Tên tôi là Vi Hải, chức vụ chiến sĩ, Đại đội 501, Tiểu đoàn 15 .

    Hình như hai thằng Tây này là bác sĩ hay y tá gì đó, chúng chỉ hỏi qua loa rồi sai người phu đưa tôi lên ôtô để nằm chung với thương binh của chúng. Xe chạy. Tôi đoán chừng chúng chuyển thương binh vào khu trung tâm Mường Thanh. Đường rất xóc mà xe thì chạy như điên.

    Chắc là tên lái xe sợ ăn đạn pháo của ta nên không hề nghĩ đến những người nằm trên xe đều là thương binh. Người tôi nẩy lên như bị quăng quật, đến đoạn nào đó thì ngất lịm đi không biết gì nữa.

    Khi tỉnh dậy thấy trời tối đen, nhìn lên bầu trời loáng thoáng một vài ngôi sao, nghe không xa, tiếng súng ta súng địch vẫn nổ, tiếng pháo sáng lập lòe như ma trơi. Đạn pháo cao xạ 37 ly của ta nối nhau vút theo về phía tiếng máy bay nổ như hoa lửa giữa trời. Tôi không sao đoán ra mình đang ở đâu mà tại sao không có gác. Tôi lại thấy khát nước và cả đói nữa, bây giờ làm sao kiếm được cái gì cho vào mồm. Tôi thử nhúc nhích cánh tay phải. Không được. Nó đã gãy rồi. Chân phải cũng bị hai phát đạn như lìa, đứng không được, ngồi cũng không được thì làm sao tìm được nước trong đêm tối mênh mông như thế này. Tôi dùng khuỷu tay trái, mông trái cố lê lết đi. Phải tìm ra nước và xem có ai ở xung quanh mình không. Lết được một đoạn không xa, tôi thấy có ánh sáng le lói, cố lết nhanh đến đó thì thấy cái cửa hào xuyên vào hầm. Tôi tiếp tục lết vào mới hay bên trong hầm có hai dãy giường nằm toàn là lính Tây bị thương, thằng nào cũng quấn băng trắng toát, thằng băng trên đầu, thằng băng kín ngực, thằng bó trắng cả chân cả tay. Chúng kêu rên khiếp lắm. Tôi lết qua trước mặt chúng mà chẳng thằng nào nói gì cả. Tôi nhìn quanh thấy có một cái giường bỏ không, trải đệm trắng tinh bên cạnh có một cái bàn,cái ghế, trên bàn có chai nước và nhiều thứ bánh cùng hoa quả. Tôi rất mừng, lết nhanh đến bên bàn, mặc cho đau đớn, cố rướn người lên lấy chai nước tu uống ồng ộc rồi vớ lấy ít bánh quy ăn, còn hoa quả thì dắt quanh vành quần để phòng khi khát nước. Ăn uống xong, tôi chống tay ngồi lên ghế, lấy thuốc lá hút, lúc này thấy trong người thoải mái, hết khát, bụng đã no nhưng mệt. Tôi lê đến giường từ từ nằm xuống, cảm thấy gân cốt dãn ra, ngửa mặt nhìn lên nắp hầm suy nghĩ mông lung. Chẳng hiểu số phận mình rồi ra sao. Rất có thể lát nữa một tên nào về thấy mình, nó sẽ nện mình cũng nên. Nhưng mặc mẹ nó, không sợ gì hết, miễn là được nằm cho dãn gân dãn cốt đã.
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  3. #23
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết
    Quả nhiên khoảng nửa đêm, tên quan ba thầy thuốc về nhìn thấy tôi trên giường, nó ngỡ ngàng trố mắt rồi la hét một cách giận dữ. Tôi nghĩ bụng, mặc mẹ mày, tao không biết tiếng tha hồ cho mày chửi. Nó nhìn thẳng vào tôi. Tôi cũng nhìn thẳng vào nó bình thản cứ nằm hút thuốc. Thằng Tây vẫn quát tháo, khi thấy người lính Bảo Hoàng(l) và hai bác phu, nó nói xì xồ như trách mắng.

    Người lính Bảo Hoàng bảo tôi:

    - Anh dậy mà đi ra đi.

    - Tôi không dậy và không đi được.

    Hai bác phu và người lính đỡ tôi xuống rồi dìu tôi trở về nơi ban đầu. Nằm một mình, nghĩ lại những việc vừa xảy ra thấy cũng buồn cười. Mới biết con người ta, chết không phải dễ. Thế rồi sau đó, tôi ngủ lúc nào không biết. Khi tỉnh dậy thì trời đã sáng, nhìn ra xung quanh thấy nhiều người đi lại quét dọn. Đây là những người phu, địch bắt vào để phục vụ bệnh viện. Thấy tôi nằm còng queo trên đất, họ đến hỏi han tỏ vẻ thông cảm. Người thì hỏi bị thương ở đâu, người lại hỏi cán bộ hay chiến sĩ, có người lấy súp cho thương binh của chúng đi qua hỏi nhỏ xem đã ăn uống gì chưa. Tôi chỉ nhìn họ không trả lời và suy nghĩ, chẳng lẽ những con người này đều là những kẻ đi theo giặc? Khoảng 8 giờ, một bác sĩ cùng một nữ y tá đều là người Pháp đến, có hai bác phu đi theo. Người bác sĩ biết tiếng Việt nói:

    - Anh nằm yên, chúng tôi sẽ khám và kiểm tra vết thương cho anh.

    Người nữ y tá cởi băng ở đầu tôi, xem các vết thương ở gáy và hai tai, sau đó hai người nói với nhau xì xồ. Hai bác phu cởi áo chấn thủ dài tay cho tôi không được, phải là dao kéo cắt từng mảnh rồi lột ra. Người bác sĩ xem và thương ở ngực và tay phải rồi lại trao đổi ý kiến gì đó và người nữ y tá. Tôi nghe hai bác phu nói là vết thương ở vai làm cho tay phải tôi gãy rời. Họ tiếp tục kiểm tra vết thương ở đùi, ở mông. Tôi bị lột nốt cái quần. Thế là lúc này tôi nằm trần truồng, cứ tênh hênh ra đấy. Cũng hơi ngượng nhưng lại nghĩ, thôi mặc, chúng mày muốn làm gì thì làm. Họ rửa rồi thay băng từng vết thương. Riêng tay phải họ bó bột rồi băng chặt vào ngực, vào lưng. Người tôi lúc này gần như được phủ lên một lớp băng trắng toát. Tự nhiên tôi lại nghĩ đến gia đình, nếu mọi người, nhất là mẹ tôi biết tôi như thế này thì sẽ khóc nhiều đến sinh ốm đau ra mất. Vậy mà bọn họ băng cho tôi xong lại cười cợt như không. Một tên sĩ quan Pháp biết tiếng Việt đi cùng tên lính Bảo Hoàng đến hỏi tôi. Nó cũng hỏi tên, ở đơn vị nào, là sĩ quan hay là lính? Tôi khai thật đơn vị vì hiểu rằng chúng đã biết rõ nhưng tôi không nói tên thật mà bịa ra cái tên Vi Hải và chỉ là lính thôi.

    Tôi bị bắt nhưng tôi hiểu quân địch đang ở thế thua cho nên không sợ gì cả. Chúng chỉ hỏi qua loa thế rồi quay ra bảo tôi ngồi yên để chụp ảnh. Tôi không cho chụp nhưng chúng cứ chụp. Tôi biết rằng chúng chụp ảnh tôi là để nói với thế giới rằng người Pháp đối xử nhân đạo với tù binh. Thấy tiếng máy xè xè, tôi nhăn mặt vờ kêu đau rồi nghiêng đầu ngoảnh mặt đi. Nếu chúng có chụp được chỉ là chụp được bức ảnh như thế mà thôi. Chúng xì xồ với nhau không chụp nữa rồi tản đi, chỉ còn thằng Tây đứng lại nói với tên lính Bảo Hoàng bằng tiếng Việt:

    Cho nó xuống căng?

    Tôi không biết căng là gì lại tưởng nó bảo đem giết liền tỏ vẻ phẫn nộ. Tên lính Bảo Hoàng vui vẻ bảo tôi:

    - Anh chuẩn bị xuống căng.

    - Tao không đi đâu hết. Tao chết ở đây.

    Tôi nói như hét lên rồi mắng tên lính Bảo Hoàng một cách thậm tệ, mắng nó là tên bán nước. Chúng gọi thêm hai tên lính da đen tới. Hai tên này cầm hai khẩu súng chĩa thẳng vào đầu tôi. Tôi nhìn và chỉ tay vào mặt nó như thách thức. Hai tên lính da đen cười khoác súng vào vai rồi cúi xuống túm chân tôi lại để cho hai tên lính Bảo Hoàng giữ vai và đầu nhấc tôi lên cáng.

    Chỗ gọi là căng cách độ bốn trăm mét, đó chính là trại tù binh. ở đây toàn bộ anh em bộ đội ta phần đông đã bị thương. Vừa thấy khiêng tôi tới, mọi người xúm lại xem với vẻ tò mò. Anh thì hỏi:

    - Tên cậu là gì?

    Anh khác lại hỏi:

    - Là cán bộ hay chiến sĩ đấy?

    - Đánh trận nào đấy?

    Tôi chỉ trả lời tên tôi là Vi Hải và giả vờ mệt không nói gì thêm nữa, chú ý quan sát và nghe xem họ bàn tán gì cũng như tỏ thái độ như thế nào về mình. Lúc ấy khoảng 5 giờ chiều. Có lẽ anh em cảm thông với sự mệt mỏi của tôi, tất cả lại tản ra và trở về hầm của họ. Một anh sau này tôi biết tên là Hải đến gần nói nhỏ với tôi:

    - Anh ở đây gần cậu Đình, cậu Điệp, các cậu ấy sẽ giúp đỡ. - Nói rồi anh cũng lẳng lặng đi.

    Trời tối dần. Mưa phùn nhè nhẹ. Anh Đình, anh Điệp đem cho tôi ca nước rồi cũng chui vào hầm ngủ. Tôi nằm tựa vào vách hào, quấn tấm chăn dù che lên cả mặt. Lúc này mới cảm thấy đau nhức khắp người. Càng về khuya mưa càng nặng hạt, gió thổi càng mạnh khiến tôi không sao ngủ được. Nằm nghe tiếng ngáy của những người bên cạnh, lòng thao thức khôn nguôi, tôi thoáng nghĩ, sao màhọ vô tư thế. Gần nửa đêm, anh Đình mò ra đi giải thấy tôi nằm co ro khẽ hỏi:

    - Cậu có lạnh không, mưa có hắt vào chỗ cậu không?

    - Lạnh và đau quá.

    Anh Đình liền gọi anh Điệp dậy bàn nhau đưa tôi vào nằm trong hầm của anh Đình. Anh Điệp lại đem sang một cái bao tải xếp gọn trong hầm anh Đình rồi dìu tôi vào. Sau ít phút, người ấm hẳn lên, tôi ngủ thiếp đi một cách ngon lành. Sáng ra hai anh dậy trước. Khi thức dậy, tôi đã thấy các anh đang đun nước. Anh Điệp hỏi:

    - Anh có đi đại tiểu tiện, tôi cõng đi?

    Không còn cách nào khác, tôi phải nhờ anh Đình cõng lên miệng chiến hào giải quyết cái việc cần thiết, sau đó ba anh em chúng tôi ngồi uống nước ăn bánh mì cùng vài cái kẹo, hút thuốc lá. Các anh cho biết đây là mấy thứ hôm qua anh em phu cho mới ăn một nửa. Tôi cảm động nhìn hai anh Đình và Điệp rồi thủng thẳng hỏi:

    - Các anh có biết những ai trong số anh em bị bắt vào đây là cán bộ không?

    - Có - Anh Đình vội vã trả lời - Đến năm sáu ông ấy. Tôi biết có ông Trụ, ông Phòng, ông Hải, ông Minh, nghe như là cán bộ trung đội và đại đội. To nhất trại này chỉ có ông Trụ.

    Trụ? Tôi thoáng nghĩ không biết có phải anh Trụ, Chính trị viên 564 không. Tôi còn đang phân vân, đột nhiên anh Đình nói:

    - Anh Vi Hải là cán bộ phải không?

    - Sao đồng chí nói thế, đồng chí không tin tôi ư?

    Anh cười khì khì. Cả Điệp cũng cười theo làm tôi hơi chột dạ cứ nghĩ mông lung. Tôi cố tình hỏi lại:

    - Căn cứ vào đâu mà hai anh khẳng định vậy?

    Anh Đình tủm tỉm cười nói:

    - Dấu đầu hở đuôi nhé! Đêm qua ngủ chung, em thấy anh nói mê gọi điện thoại cứ "Alô! Alô! Anh Lê Thùy đâu?” Anh Lê Thùy đâu Rồi anh gọi cả tên anh Bế Thiên ở đơn vị 564 chặn viện không vào đúng vị trí thả lỏng cho quân địch tiến đến sát đồn 105 mà không thấy tiếng súng của Tiểu đoàn 564. Rồi anh quát to lắm. Lúc ấy em đánh thức anh Điệp dậy cùng nghe, chắc chắn anh là cán bộ cỡ ấy chứ. Chúng em mừng lắm.

    Tôi nghe mà lạnh toát cả người. Đúng là dấu đầu hở đuôi thật. Đến lúc đó tôi đành phải nhận. Tôi nói:

    - Có điều lúc này chúng ta đều là tù cả và là đồng đội của nhau. không nên phân biệt cán bộ chiến sĩ làm gì. Tôi mong các đồng chí giúp đỡ tôi giữ bí mật. Như thế chỉ có lợi cho quân đội chúng ta thôi.

    Anh Đình chân thật nói:

    - Chúng em hứa sẽ bảo vệ và giúp đỡ anh.

    - Thế bây giờ tôi nhờ hai anh làm thế nào mời được anh Trụ tới đây.

    - Việc đó dễ quá. - Anh Đình nói ngay - Em cùng đại đội với anh Trụ, cùng bị thương cùng bị bắt. Có ngày nào anh ấy và em không gặp nhau.

    Lát sau anh Đình tìm được anh Trụ đến. Chúng tôi xúc động chào nhau. Anh Trụ nắm chặt tay tôi:

    - Anh cũng vào đây ư?

    - Vâng. Bị bắt ở trận đánh 105.

    Tôi ngắm nhìn Trụ vẫn dáng cao gầy, da đen nhưng bây giờ người khô đét, tóc bù xù, tay trái vẫn băng không co duỗi được, trông có vẻ tiều tụy. Tôi hỏi:

    - Tình hình anh em ta trong này thế nào?

    - Ở đây tất cả có hơn một trăm anh em bị chúng nhốt trong cái trại chỉ có gần hai trăm mét vuông, ăn, nghỉ, ỉa cả ở đấy, cho nên ruồi bọ nhiều, bệnh tật phát sinh, vết thương không chịu lành, cứ khỏi rồi lại tái phát và thuốc men băng bông cũng chẳng có. Thỉnh thoảng có xin được ít băng bông hay thuốc tím để rửa vết thương thì chỉ có anh em ta tự lo cho nhau thôi. Ăn thì ta tự nấu. Mỗi ngày chúng chia cho bốn lạng gạo với ít muối trắng, thỉnh thoảng mới có ít tép khô. Những hôm quân ta bắn mạnh như mấy ngày hôm nay thì chỉ còn có hơn ba lạng. Có ngày không, vì thế ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe và vết thương rất lâu bình phục.

    - Trong này có mấy cán bộ, các anh đã gặp nhau chưa?

    - Rồi. Chúng tôi đã thành lập ban lãnh đạo tù, chọn các đồng chí biết tiếng Anh, tiếng Pháp giao nhiệm vụ trực tiếp quan hệ với chúng, trong đó có anh Phòng, anh Hải. Về lãnh đạo chúng tôi đã thành lập chi bộ, anh em cử tôi làm Bí thư. Nói chung việc tổ chức lãnh đạo khá chặt chẽ, mỗi khu vực có một tổ Đảng. Nhờ vậy anh em ta luôn luôn giữ vững được tinh thần và ý chí, có khó khăn giúp nhau tự khắc phục và đoàn kết đỡ đần nhau.

    Nghe anh Trụ kể tôi rất mừng. Trong tình hình anh em đều bị thương mà hoàn cảnh thì vô cùng khó khăn vẫn làm được những việc như thế thật là đáng khâm phục. Tôi đề nghị cho được gặp các đồng chí lãnh đạo. Anh Trụ phấn khởi đồng ý ngay.

    Sau khi anh Trụ về, anh Đình dìu tôi vào hầm nghỉ nhưng tôi đề nghị để tôi ở ngoài cho thoáng, khi nào nắng to hay có mưa thì sẽ vào. Gọi là hầm nhưng thực ra nó chỉ được khoét vào vách hào như cái hầm ếch, vừa chật, vừa có mùi rất khó chịu. Anh Đình và anh Điệp đều cười như là đã hiểu được những gì tôi đang nghĩ trong đầu. Anh Điệp vỗ nhẹ vào đùi tôi nói.

    - Anh yên tâm, ngay hôm nay chúng em sẽ khoét cho anh cái hầm tất và xin cho anh cái chăn, cái khăn mặt. Lúc nào đó sẽ xin anh em phu cho anh cái ca.

    Đúng lúc này tôi thấy có một số lính địch đi qua, tiếp đến là anh em phu đi lại nói cười. Một số anh em ta cũng lên nói chuyện với phu, hỏi thăm quê quán họ mạc rất là ồn ào, tự nhiên. Tôi đề nghị anh Đình cõng lên mặt hào để có thể hiểu và có thể hòa nhập được cảnh sống trong tù. Lên mặt hào, tôi tận mắt nhìn thấy cảnh sống trong tù. Hầu hết anh em bị thương nhẹ đều lên khỏi mặt hào. Từng tốp phu, từng tốp lính đi làm qua đến trại tù dừng lại có người cho gói thuốc, có người cho bánh kẹo, cứ đứng ngoài ném vào. Anh em ta xúm vào nhặt. Tốp này đi qua, tốp khác lại đến, có thể tới cả nghìn người. Tôi rất khó chịu khi thấy bọn lính Âu Phi dẫn phu đi qua, bắt chước anh em phu cũng cho thuốc và bánh kẹo nhưng chúng lại nhử nhử hai ba lần rồi mới ném vào và cười khinh bỉ khi thấy anh em tù binh ta chen nhau nhặt lượm và cãi nhau. Như thế này thì không ổn. Dù bị bắt làm tù binh, nhưng người chiến sĩ quán đội nhân dân không thể có
    hành vi tồi như thế được, trái lại, cần tỏ rõ tư thế làm cho anh em phu phải tôn trọng và kẻ thù phải nể nang. Chẳng biết có phải chỗ bánh kẹo và thuốc lá của anh Đình và anh Điệp cho tôi thưởng thức sáng nay là kết quả của cách ăn xin kiểu này không? Nghĩ thế nhưng tôi lại hỏi Đình sang chuyện khác:

    - Chung quanh ta có những đồn nào nhỉ?

    Đình chỉ cho tôi biết ở đây là ngã ba đường lên phía bắc sân bay, đường về Hồng Cúm, con đường đi qua cầu Mường Thanh. Phía tây bắc là khu tập trung phu phen có đến bốn năm nghìn người, cứ sáng đem đạn gạo đến các đồn kết hợp lấy thương binh về bệnh viện ở ngay cạnh khu phu này. Còn khu phía đông nam là khu lính Angiêri, Ma rốc không hoàn thành nhiệm vụ chạy trốn bị bắt về tập trung. Bọn này tuy có súng nhưng thực chất là tù giam lỏng rất có cảm tình và hay nói chuyện với ta.

    Sáng hôm sau, anh Trụ và các lãnh đạo đến chỗ tôi họp. Nội dung thứ nhất là bàn bạc về việc giữ vững ý chí củng cố đoàn kết, biết bảo vệ thương yêu nhau, các đồng chí khỏe giúp đỡ các đồng chí bị thương ốm nặng. Việc nhận bánh kẹo thuốc lá của địch và anh em phu đi qua cho phải tiến hành có tổ chức, sau đó tập trung phân phối đều, ưu tiên cho người yếu. Trừ ai có người nhà quen thân mới được sử dụng riêng. Về tổ chức phải tăng cường thêm các đồng chí biết tiếng Anh, tiếng Pháp đưa những kiến nghị của anh em xin cấp thuốc và ăn no. Đó là bộ phận anh Phòng. Bộ phận thứ hai do anh Hải là đại diện phải tăng cường công tác tuyên truyền trong lính Âu Phi nhất là lính người Angiêri và Ma rốc thường có cảm tình với cuộc chiến đấu của ta. Cuộc họp còn bàn về việc điều chỉnh cán bộ đảng viên để sự lãnh đạo được chặt chẽ, các tối có sinh hoạt nhóm bàn bạc cách khắc phục các khó khăn thiếu thốn, giữ vững ý chí và bản chất Bộ đội Cụ Hồ làm cho anh em phu phải kính trọng và cả kẻ thù cũng phải kính nể. Với bộ phận dân phu cũng phải thêm người cùng anh Trụ làm công tác tuyên truyền.
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  4. #24
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết
    Sau khi bàn bạc xong, các anh trong ban lãnh đạo đề nghị với tôi nói chuyện với toàn thể anh em. Tôi nhận lời. Tối hôm đó, khi trời vừa tối hẳn, anh em đã đến tập trung gần đủ, các đồng chí bị thương nặng cũng được cõng đến. Tôi vô cùng xúc động nhìn anh em một lượt rồi thong thả nói:

    - Thưa tất cả các đồng chí? Tôi là Vi Hải đánh trận 105 bị thương và bị bắt vào đây mới được ba ngày. Tình hình ở bên ngoài về quân ta, tôi vẫn còn nắm được ít nhiều, xin trình bày để các đồng chí biết. Thứ nhất là ý chí và quyết tâm của bộ đội ta rất cao, lực lượng ta hiện nay rất mạnh. Toàn Đảng toàn dân ta đang tập trung toàn lực để đánh thắng quân thù. Phải đánh thắng giặc Pháp, phải giải phóng Điện Biên, quyết tâm này không có sức mạnh nào lay chuyển được. Ngày thua của quân Pháp đã rõ ràng, bình thường chúng ta ở đây cũng thấy rõ. Him Lam, Độc Lập mất Đ1, Đ2, E2, E3, A1 ta đã chiếm được một phần. Sân bay bị cắt, ta đã áp sát đến gần trung tâm chỉ huy của Đờ Cát. Ngày chiến thắng giải phóng Điện Biên chưa rõ ngày nào, nhưng đến gần rồi. Thất bại của giặc Pháp không thể tránh khỏi. Chúng ta phải chuẩn bị ý chí tinh thần tổ chức sẵn sàng khi thời cơ đến, ngoài bộ đội ta tấn công vào trong, ta kết hợp với phu đánh ra phối hợp. Đây cũng là nhiệm vụ và trách nhiệm của chúng ta.

    Tôi rất mừng rằng vào đây mới ba ngày đã được nghe được thấy tình hình anh em ta bị thương bị bắt ốm đau khó khăn là thế mà vẫn chịu đựng được. Lại còn giúp nhau thể hiện bản chất quân đội, những chiến sĩ trung kiên của cách mạng. Ta tuy đang gặp vô vàn khó khi
    song ta cũng có những thuận lợi là Pháp đang ở thế thua. Hơn bốn nghìn phu có cảm tình muốn giúp đỡ ta, lính Âu Phi cũng có cảm tình với ta. Các đồng chí phải tỏ ra là người chiến thắng, giữ tư thế Bộ đội Cụ Hồ. Lời nói và hành động của chúng ta phải là chỗ dựa cho họ đấu tranh để giúp đỡ chúng ta khắc phục được một phần nào khó khăn trong tình huống bị giặc bắt này.

    Tôi tiếp tục nói cho anh em biết về tội ác của giặc Pháp mà chính mắt tôi đã nhìn thấy rõ, chúng vô cùng dã man tàn bạo như ở trận 105, các chiến sĩ ta bị thương đã bị chúng bắn chết sau khi chúng tiến vào đồn. May có tôi có đồng chí bị thương nằm bên, chúng bắn một loại tưởng chúng tôi đã chết hết mới quay đi. Tôi kể tiếp về chuyện hai người phu đến chuyển thương binh của chúng về phía sau thấy tôi còn sống đã đưa tôi về đây. Tôi nói:

    - Hành động tàn ác của quân giặc thế nào, đến lúc này chắc chúng ta đã rõ. Có khi chẳng cần súng đạn mà chúng cũng có thể giết được ta bằng cách không cho thuốc, để đói ăn nên bệnh tật phát triển, vết thương nặng thêm mà chết. Cho nên trong chúng ta ai trở về được với quân đội, với nhân dân, phải kiên quyết tố cáo tội ác của giặc Pháp cho mọi người biết, cho đời đời con cháu ta không bao giờ quên.

    Tối ấy tôi nói chuyện với anh em từ 7 giờ đến 9 giờ. Tôi rất xúc động thấy anh em nghe một cách chăm chú, đến lúc đó vẫn còn muốn nghe. Nhưng tôi rất mệt, phải hẹn anh em vào một buổi khác.

    Ngày hôm sau, khí thế anh em rất phấn khởi. Mọi quy định đề ra để giữ gìn phẩm chất người chiến sĩ nhân dân anh em đều chấp hành. Mọi người tỏ ra chan hòa thương yêu nhau hơn. Nhiều anh em đến thăm tôi trao đổi tiếp những điều rất có ý nghĩa về những ngày bị tù phải sống như thế nào để khỏi phải xấu hổ. Tôi bị thương không đi được nhưng nhờ thế cũng quen biết được nhiều anh em. Sự chuyển biến trong trại tù chúng tôi khiến các bác phu cũng phải ngạc nhiên xin đòi gặp đại diện tù. Các đồng chí lãnh đạo cử tôi tiếp xúc với anh em. Té ra đến lúc đó mới biết trong số anh em phu này có tổ chức của ta do một đồng chí đại đội phó của Sư đoàn 320 cùng 20 chiến sĩ được cử vào trà trộn trong số hơn bốn nghìn người dân Thái Bình, Nam Định bị địch bắt lên đây làm phu tải đạn, gạo cho các đồn và tải thương. Anh em này biết rất rõ tình hình địch, đã đề nghị với tôi từng ngày tìm cách gặp nhau để trao đổi. Tôi thật không ngờ trong hoàn cảnh như thế mà chúng ta vẫn tổ chức được một lực lượng trung kiên để lãnh đạo và nắm bắt tình hình. Thiết nghĩ đây cũng là một yếu tố tạo nên thắng lợi cho chiến dịch. Hẳn ràng có những anh em đã phải hy sinh mà không chắc đã có ai biết đến công lao của họ.

    Tình hình chiến thắng của quân ta ngày càng đến gần thì anh em chúng tôi lại càng gặp khó khăn. Ta đánh mạnh, đạn pháo bắn vào, sân bay bị cắt, địch lúng túng đối phó không chỉ súng với súng đạn mà cả với cái ăn hàng ngày. Lính địch cũng đói thì tất nhiên tù chúng tôi càng đói hơn. Tuy đói, nhưng nhìn thấy lính địch đào ngũ bị bắt về ở quanh chỗ chúng tôi ngày càng đông thì chúng tôi lại rất khoái.
    Bọn địch cũng nhận ra sự chuyển biến khác thường trong trại tù chúng tôi, chúng đoán rằng đã có một sự lãnh đạo ngầm nào đó. Một hôm chúng hỏi xem trong tù binh ai là sĩ quan. Anh em đều trả lời chỉ có lính bị bắt chứ cán bộ của chúng tôi không ai bị bắt. Chúng liền cử lão cố đạo Tây xuống hai ba lần. Tôi biết nhưng không gặp. Anh em tìm cách bảo vệ tôi. Mỗi khi lão xuống, tôi vẫn cứ nằm dưới hầm không lên. Đồng chí Đình khẽ nói nhỏ với tôi:

    - Anh cứ yên chí. Em đã khai anh ốm nặng. Em bảo anh bị ma bắt (ốm).

    Một hôm, khoảng 9 giờ, anh Phòng dìu tôi ra cửa hầm để thay băng. Anh cho biết là lão cố đạo đã xuống nhưng đang la cà hỏi han người này người khác, còn lâu mới đến đây. Không ngờ anh vừa nói xong thì lão cố đạo cùng một tên lính Bảo Hoàng đột nhiên xuất hiện ngay trước mặt, tỏ thái độ cởi mở hỏi tôi ngay bằng tiếng Việt:

    - Anh bị thương vào những đâu?

    Tôi bị bất ngờ nên trả lời lúng búng, không dám nhìn mặt "cha", chỉ nhìn từ ngực xuống:

    - Thưa cha con bị thương ở chỗ này, chỗ này và chỗ này… Tôi vừa nói vừa chỉ vào những vết thương.

    Lúc này tôi mới đảo mắt nhìn rõ mặt "cha" thấy lão cố đạo gật đầu tỏ ra cảm thông, thương hại. Nhưng tôi hết sức ngạc nhiên thấy ông cố đạo này lại mặc quần áo nhà binh, đầu đội mũ sắt. Đột nhiên tôi hỏi vừa có ý tò mò, vừa có ý khiêu khích:

    - Thưa cha, sao cha lại mặc áo nhà binh?

    Lão cố đạo tỏ ra lúng túng nói như phân bua:

    - Ở đây là chiến trận mà.

    Tôi được thể giãi bày một cách lễ phép:

    - Chúng con ở đây sống đói khát như thế này rồi cũng đến chết mất, chắc gì lần sau cha lại gặp lại được. Nhất là những anh em bị thương nặng không có ăn, không có thuốc làm sao mà qua khỏi. Rất mong cha cho chúng con ít thuốc, ít bông băng.

    - Ồ! Tôi sẽ đề nghị, nếu được tôi sẽ cho người đem xuống.

    - Con thay mặt anh em mong cha xuống kiểm tra luôn, chúng con được nhờ.

    - Không! Không phải tôi xuống kiểm tra mà tôi xuống thăm các anh.

    Tôi càng ngạc nhiên hơn khi nghe thấy lúc về, lão cố đạo lại chào tôi bằng ông. Như thế là có vấn đề rồi. Tiếng ông ở đây chắc để chỉ ông cán bộ.

    Tối hôm đó các anh lãnh đạo lại đến gặp tôi bàn bạc quanh chuyện lão cố đạo. Các anh đều nhận định rằng phải có người chỉ điểm lão ta mới đến như thế. Cần phải xem xét lại các bộ phận xem có ai đáng nghi ngờ không. Một số anh em cho rằng người thường hay quan hệ với Pháp chỉ có anh Phòng hay lên xin thuốc. Trước đây anh đã khai với chúng là trung đội phó ngành y. Có đồng chí cho rằng cần phải tăng cường kiểm tra theo dõi, nếu tôi bị bắt thì theo quy định phải thủ tiêu ngay anh Phòng bằng phương pháp dùng chăn trùm đến chết vứt xuống hố tiêu. Nhưng có ý kiến lại cho rằng vấn đề chưa rõ ràng, chúng ta chỉ cần bảo vệ anh Vi Hải không cho chúng bắt. Trường hợp không bảo vệ được, anh Vi Hải bị chúng bắt đi thì chúng ta đi theo hết. Nhưng cuối cùng thì chuyện đó không diễn ra.

    Hôm đó còn bàn về tình hình phải đối phó với bệnh tật và đói khát, đã thống nhất được với nhau là càng khó khăn thì cán bộ đảng viên càng phải gương mẫu, tổ chức phân phối phải hết sức công bằng. Cuối cùng anh Trụ đề nghị tôi làm Bí thư thay anh. Mọi người đều đồng ý nhưng tôi không nhận vì vết thương vẫn còn nặng không đi lại được Anh Trụ nói:

    - Việc gì anh phải đi đâu. Mọi vấn đề giải quyết chúng tôi đều đến hỏi và bàn ở chỗ anh cơ mà.

    Cuối cùng tôi phải nhận.

    Lại nói về lão cố đạo hôm sau xuống có một tên lính và hai bác phu đi theo vác hai cái túi to tướng. Lão đến chỗ tôi vui vẻ, nói cho tôi nghe về hội nghị Giơnevơ, cuối cùng với thái độ tỏ vẻ chân thành, lão ta nói:

    - Thực ra người Pháp chúng tôi rất muốn chấm dứt cuộc chiến tranh này nhưng người Mỹ lại cứ ép Chính phủ chúng tôi, hứa viện trợ nhiều hơn nữa để tiếp tục chiến tranh. Vì thế ta còn đánh như chưa biết bao giờ mới chấm dứt được. Theo lời đề nghị của ông hôm trước, tôi có chuẩn bị một số thuốc, bông băng, một ít sữa, bánh kẹo và bộ đồ cắt tóc dao cạo râu, hôm nay tiện xuống thăm tôi đem theo. Vậy ông cho người nhận rồi phân phối, chủ yếu cho người ốm nặng và bị thương.

    - Cảm ơn cha. - Nhân cơ hội tôi nói tiếp - Thưa cha, bên quân đội Việt Nam cũng có lần đã bắt được tù binh Pháp nhưng đều đối xử rất tử tế. Tù binh bị ốm bị thương đều được chạy chữa tận tình, thuốc thang chu đáo. Vậy mà ở đây, họ đối xử với chúng con quá tồi tệ.

    - Ông thông cảm, người Pháp ở đây lúc này cũng khó khăn thiếu thốn, cũng đói nên không thể thực hiện theo yêu cầu của ông được. Sở dĩ chúng ta cùng đói lại là tại quân đội các ông bắn vào cắt đứt đường tiếp tế - Đức cha đưa hai tay lên trời lắc đầu nói tiếp - Đành vậy thôi.

    Ông cố đạo chào tôi rồi xin phép ra về tỏ vẻ rất lịch sự. Ngay đêm hôm đó ban lãnh đạo chúng tôi lại tiếp tục họp, có nhận định rằng hiện tượng lão cố đạo đến thăm và cho quà chứng tỏ Pháp chuẩn bị thua rồi. Làm thế lão ta mong sau này có bị bắt cũng sẽ được đối xử tử tế hơn. Chúng tôi còn bàn về mặt tổ chức lực lượng phải chọn lọc ra bốn tiểu đội khỏe chờ khi bộ đội đánh vào, hai tiểu đội bảo vệ khiêng cáng anh em ốm và bị thương nặng ra, còn hai tiểu đội thì phối hợp dẫn đường cho bộ đội ta chiến đấu.

    Cũng may đến thời kỳ này trong nội bộ anh em chúng tôi đã tương đối ổn định. Các mối mâu thuẫn đòi phải xử lý người này người kia đã được giải quyết. Về phía địch thì càng ngày càng hoang mang rối loạn. Bọn lính Pháp đi qua khu tù không ngông nghênh như trước đây, thằng nào cũng lầm lì nhìn thấy anh em ta là đi rất nhanh. Riêng số lính âu Phi thì lại tỏ ra có cảm tình với ta hơn, khi đi qua thường đứng lại nói chuyện. Có anh lính Ma rốc làm công việc canh gác tù lại gác cho ta nói chuyện với các bác phu. Có đêm cả tổ canh gác mang súng vào nói chuyện cho anh em ta biết tình hình quân Pháp đang lúng túng đối phó như thế nào. Điều đó khiến anh em chúng tôi càng thêm phấn khởi và tin tưởng rằng ngày giải phóng Điện Biên đã đến nơi rồi.
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  5. #25
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết
    Quả đúng như vậy, năm ngày sau, ngày 7-5-1954, quân ta giải phóng Điện Biên. Đó là ngày đối với anh em tù chúng tôi có thể gọi là ngày tái sinh. Tôi cũng không ngờ Điện Biên giải phóng sớm thế. Lúc 7 giờ tất cả anh em chúng tôi đều lên hết mặt hào không còn biết sợ là gì, ai nấy vô cùng xúc động được nhìn gần như toàn cảnh chiến đấu giữa ta và địch, nhìn thấy quân ta đến sát sông Nậm Rốm gần cầu Mường Thanh, chân đồi A1, nhìn xe tăng bộ binh địch hình như muốn tiến lên đánh chiếm lại, nhưng bên cạnh sao lại có toán lính bộ binh mang cờ trắng chạy về phía ta. Lính gác chúng tôi lúc đó là hai người Angiêri và Ma rốc chạy vào nói với chúng tôi vẻ như vừa sợ hãi lại vừa muốn reo lên:

    - Quân Pháp thua rồi. Chúng tôi xin theo các anh.

    Người lính Ma rốc nói:

    - Sĩ quan các đồn chạy về chỉ huy sở của tưởng Đờ Cát họp bàn việc đầu hàng.

    Ba hôm sau tôi mệt quá không ăn uống gì được nhưng vẫn phải cấp tốc triệu tập cuộc họp với anh Trụ và ban lãnh đạo, tôi nêu vấn đề là cần phải kiểm tra lại phương án đã bàn lần trước, cử cán bộ phụ trách cụ thể từng bộ phận và triển khai kế hoạch ngay. Khoảng 9 giờ, nhiều tốp lính địch ở khắp các hướng mang theo cờ trắng đi về phía ta. Khoảng 10 giờ bộ đội ta đến gần trại tù. Điện Biên lúc này như ong vỡ tổ. Quân địch và cả phu phen lũ lượt từng đàn mang theo cờ trắng đi xen lẫn cá vào bộ đội ta. Hai tiều đội làm nhiệm vụ khiêng anh em ốm và bị thương nặng cùng đi chung một đường. Chỉ có điều bây giờ chúng tôi không còn là tù binh, ngược lại, bọn giặc Pháp hôm nào vẫn vênh váo cười khinh khi trước anh em chúng tôi thì bây giờ chúng là tù binh. Đi chung một đoạn đường, anh em ta cười nói hoan hỉ còn bọn chúng thì thui thủi, mặt cúi gầm, mắt lấm lét. Tôi cũng muốn reo lên để hòa cùng niềm vui chung với đoàn quân thắng trận Điện Biên, nhưng mệt quá.

    Hôm đó tôi được cáng ngay về trạm quân y và cũng từ đó đến nay tôi không hề biết một chút gì về anh em bạn tù của tôi ở Điện Biên ai còn ai mất, ai gặp phải những bước thăng trầm gì trong cuộc đời.

    Là một cán bộ chỉ huy tiểu đoàn được tham gia chiến dịch Điện Biên năm đó, đã chứng kiến biết bao tấm gương chiến đấu dũng cảm kiên cường của bộ đội ta. Song lại cũng chứng kiến hơn một trăm anh em sau khi bị thương đã bị bắt làm tù binh, lâm phải cảnh ngộ đắng cay mà vẫn kiên trung với Đảng, với quân đội, với nhân dân, không một ai chịu khuất phục trước kẻ thù, liệu cấp trên có nghĩ rằng đó cũng là sự đóng góp vào chiến thắng Điện Biên. Riêng tôi, tôi không hổ thẹn, không có điều gì phải phiền muộn, trái lại tôi rất tự hào cho dù không được cầm súng chống giặc cho đến giây phút cuối cùng của chiến dịch, chúng tôi vẫn không lúc nào nhụt chí, đã giữ vững được phẩm chất người chiến sĩ nhân dân trong hoàn cảnh hết sức hiểm nghèo. Chỉ rất tiếc, khi niềm vui chiến thắng Điện Biên tràn ngập khắp chốn khắp nơi, ta lại nhiều việc quá, những công việc lại lớn lao gấp bội phần, cho nên không mấy ai nhắc nhở đến cái tình huống đầy bi kịch của các chiến sĩ tù Điện Biên chúng tôi. Song xin thưa bi kịch nhưng mà lạc quan. Nghịch cảnh nhưng vẫn ẩn trong vóc dáng của chiến thắng Điện Biên vĩ đại.

    Chiến thắng Điện Biên đã gần 45 năm qua rồi, không biết những người bạn tù Điện Biên của tôi hôm nay cuộc sống ra sao. Chép lại những dòng ký ức này tôi không ngoài mục đích muốn tuyên dương những người bạn tù bất khuất của tôi ở Điện Biên. Mặt khác cũng muốn, Đảng, Nhà nước biết về họ. Hơn thế nữa, năm nay tôi đã ngoài bảy mươi tuổi rồi, quỹ thời gian không còn là bao, qua những trang ký ức này, tôi muốn nhắn tìm anh em, ai còn sống hãy đến với tôi. Nhà tôi ở phòng 204, nhà A2, khu tập thể Quân đội, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Ngày nay, trong không khí yên bình, chúng ta sẽ có nhiều thời gian để nói với nhau về Điện Biên trong ta, những người bạn tù ngày ấy, nhiều cay đắng nhưng cũng rất anh hùng.
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  6. #26
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết
    NHỮNG ÂN NHÂN CỦA TÔI

    Là người lính chiến đã nhiều lần bị thương ở mặt trận, lại có lần bị thương rất nặng phải bò lết giữa sa trường đầy máu lửa, vậy mà tôi vẫn sống và trở thành người chỉ huy cấp tướng đi khắp các chiến dịch trong Nam ngoài Bắc, cả chiến trường nước bạn cho đến ngày toàn thắng, thật không đơn giản chút nào. Bây giờ về hưu, sống cùng gia đình đã được tam đại đồng đường, đôi lúc nghĩ lại chặng gian nan trong chiến tranh khi mình không còn có thể làm chủ được đôi chân đành phải "đi" trên vai đồng đội, thật không cầm được nước mắt.

    Tôi nhớ nhất cái hồi là cán bộ tiểu đoàn ở chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi bị thương gãy ba xương sườn, tay cũng bị gãy, đùi thì bị đạn xuyên qua, mê man bất tỉnh! Anh em cáng tôi về trạm quân y Trung đoàn 165, phải trèo đèo lội suối, trăm nỗi nhọc nhằn. Ở đây bác sĩ Nhân, y sĩ Quang, y tá Nhẽ đã cứu tôi tỉnh lại, đến lúc đó tôi mới tin là mình còn sống.

    Thế rồi tôi được chuyển lên quân y Sư đoàn 312. Nhìn mọi người hối hả lo toan cứu chữa cho tôi, dường như nét mặt ai cũng hệt như những người thân thiết của mình, như anh như chị, tôi vô cùng xúc động, muốn nói lên một đôi câu cảm ơn mà không sao nói lên được thành lời, vì các vết thương gây đau đớn dài ngày khiến cho tôi như đã kiệt sức.

    Điện Biên hoàn toàn giải phóng, tôi được chuyển về tuyến bệnh viện ở hậu phương điều trị cùng với nhiều thương binh khác. Thời gian này, các vết thương vẫn chưa lành hẳn, tuy còn rất đau đớn, song tôi đã tỉnh táo nhiều rồi. Bốn bác dân công người Thanh Hóa thay nhau khiêng cáng tôi suốt dọc đường. Bác Khánh người to khỏe, da hơi đen, có bộ râu rất phong độ làm cho khuôn mặt to, tròn mang vẻ oai phong cộng với dáng đi trông rất bệ vệ; giọng nói thì oang oang cứ như Quan Công hiển thánh. Vậy mà tính tình rất cởi mở, chốc chốc lại hỏi tôi: Có khát không, làm ngụm nước nhé!

    Bác Bái người to bè, chân vòng kiềng nên dáng đi có vẻ chậm chạm, giọng nói nặng hơn hơi ngọng, lại hay nói chuyện. Mọi người hay trêu vui bác về cái tật nói ngọng nhưng bác chẳng giận ai cả. Vì thế cuộc chuyển thương tuy vất vả nhưng không buồn tẻ.

    Bác Hải, người cao, dáng đi lòng khòng, có cái điếu cày kiêm gậy chống đi đường, mỗi khi nghỉ là tiếng rít thuốc lào lại long xòng xọc nghe rất vui tai. Cứ phải đã cơn nghiện rồi muốn làm gì mới làm. Có lần bác còn ghé tai khích lệ tôi: Thế nào, có làm một mồi không?

    Bác Hành phụ trách chung, người to khỏe cân đối, tính tình sôi nổi, nói năng chặt chẽ, luôn quan tâm đến mọi người, chăm lo từng vết thương, bữa ăn giấc ngủ của tôi cũng như nhiều anh em khác.

    Đoàn dân công khiêng cáng thương binh dài lê thê đi suốt ngày. Đồng chí thương binh trên cáng phía trước tôi là Đoàn Hợp, cụt một chân. Cáng phía sau là anh Oanh mù hai mắt. Cáng phía sau nữa là anh Minh Lanh. Bác Hải khiêng cáng tôi cho biết như vậy. Té ra, chúng tôi đều ở chung trong sư đoàn. Thỉnh thoảng tôi ghé mắt nhìn sang cáng các anh ấy, chỉ nghe tiếng rên khe khẽ. Rõ ràng gần nhau mà chẳng nói với nhau được lời nào. Ai cũng mệt và đau nhức bởi những vết thương tai ác.

    Đằng đẵng hai ngày liền, chúng tôi mới tới chân đèo Pha Đin. Sang ngày thứ ba bắt đầu lên dốc. Tôi hiểu lúc này là bắt đầu thử thách ghê gớm đối với các bác dân công. Nằm trên cáng, tôi cảm thấy như người có lỗi trước từng bước chân thậm thịch, nặng nhọc xiêu vẹo của các bác dân công, mồ hôi thì nhễ nhại, nhỏ giọt, nhỏ giọt … Tôi tự trách mình một cách vô cớ rằng tại sao lại bị thương, không đi được để các bác dân công phải vất vả thế này, thương quá mà chẳng làm sao được. Nhớ lúc vào chiến dịch Điện Biên tôi cũng đã vượt đèo Pha Đin chỉ mang có khẩu súng ngắn thôi vậy mà khi lên dốc vẫn như đứt hơi, chân chồn, gối mỏi, không còn muốn bước nữa. Các bác dân công lúc này lên dốc một đầu cáng thương trên vai cùng các trang bị cá nhân nữa thì cực nhọc biết chừng nào.

    Cuối cùng thì các bác cũng đưa tôi đến được chỗ có ô tô chuyển tiếp ngay trên đỉnh Pha Đin. Nằm gọn trong lòng ô tô cùng với khá đông anh em thương binh, tôi thấy như còn lưu luyến một điều gì rất khó diễn tả. Nhưng rồi cái không khí sôi động trên đỉnh đèo của các anh em thanh niên xung phong sửa đường cùng với bộ đội chiến thắng trở về hành quân qua, vừa reo hò, vừa trêu đùa nhau, nó đã khỏa lấp được nỗi suy tư trong tôi và tôi cũng lại ước ao có thể ngồi dậy được để hòa chung vào cái không khí vui mừng chiến thắng ấy. Tôi liền nhờ cô y tá đỡ cho ngồi dựa vào thành xe để được nhìn ra xung quanh một quang cảnh thật là hùng vĩ hiện ra trước mắt. Đỉnh đèo Pha Đin cây xanh gió lộng, mây trắng trôi bồng bềnh, ẩn hiện các dãy núi xa mờ xanh.

    Xe chuyển bánh. Chúng tôi nhìn nhau vẻ hể hả vì nghĩ rằng được ngồi ô tô tức là sẽ được nhanh chóng về nơi ổn định mà điều trị, nhưng chỉ một lát là bắt đầu biết nhau. Đường xấu, xe cứ phải gầm rú và nhảy chồm chồm như là nó muốn hành hạ những ai nằm ngồi trên mình nó. Tôi cố chịu đựng ghìm chặt người để khỏi ảnh hưởng đến vết thương. Có anh thương binh chịu không nổi kêu la như bị tra tấn. Tôi không thể ngồi vững phải nhờ cô y tá đỡ nằm xuống nhưng nằm cũng không yên, người cứ nảy lên dập xuống theo đà xe chồm qua các ổ gà, cái vết thương ngỡ sắp bung ra, đau đớn vô cùng. Tôi nhắm mắt lại cố chịu đựng nhưng nước mắt cứ trào ra. Các cô y tá, bác sĩ và các bác dân công phải thay nhau đỡ cho từng đồng chí thương binh nặng bớt bị va quệt đau đớn. Song chẳng ăn thua. Thấy tôi nhắm tịt mắt, một cô tưởng tôi ngất xỉu cứ lay gọi liên hồi. Mệt và đau đớn tôi chẳng buồn thưa. Thấy gọi mãi tôi đành mở mắt để thay câu trả lời.

    Bị thương đã khổ rồi, lại đi ô tô kiểu như thế này lại càng khổ hơn. Nhớ cái cáng trên vai các bác dân công, thật là như nằm trên mây. Dẫu sao thì xe cũng đưa chúng tôi về tới bệnh viện Nà Sản, Sơn La. ở đây tôi được chăm sóc như đối với người thân thiết trong gia đình. Về đây, các vết thương trên người tôi vẫn khiến tôi phải nằm hoặc ngồi chứ không thể đi lại. Vì thế mọi việc cần thiết như ăn uống, rửa mặt, lau người và cả việc đi đại tiểu tiện, tôi đều không tự thực hiện được. Hai cô, y tá Thắng và hộ lý Vân, ít hơn tôi hai tuổi rất xinh lại có duyên song chẳng khác nào hai người chị hiền, họ không ngại ngùng bất cứ việc gì để phục vụ tôi, hết thay quần áo lau mình, lại cõng tôi ra chỗ đại tiểu tiện. Nhiều khi thấy tôi ngượng không muốn để các cô ấy giúp liền bị các cô ấy mắng cho. Nhưng vừa cười vừa mắng:

    - Anh lạ thật! Mấy hôm trước anh mệt lử, chúng em thay áo quần, rửa mặt lau người, mọi việc làm cho anh cả, còn lạ gì cái của anh mà hôm nay lại phải ngượng. Anh thế mà phong kiến. Từ ngay mai, chúng em ra lệnh gì, yêu cầu anh phải tuân theo.

    Thú thật lúc ấy muốn cười mà không dám cười. Có cái gì ẩn chứa sự hồn nhiên bên trong mỗi câu nói như là hài hước, song lại bao hàm nét nghiêm trang, chớ có đùa. Tôi nghĩ như thế.

    Quả vậy. Đã có những lần tôi phải nằm tênh hênh như đứa trẻ, mặc cho các cô ấy lo toan mọi công việc hộ lý, vệ sinh... Nhớ năm tôi lên bảy bị trận ốm thập tử nhất sinh không đi lại được. Bố mẹ, anh chị tôi rất lo. Mẹ tôi phải bón cơm, bón cháo cho tôi. Anh chị tôi cũng phải cõng tôi đi vệ sinh, giặt áo thay quần. Hồi ấy tôi đã biết nghĩ không muốn được ăn uống vì lo bố mẹ nghèo phải đi vay, liền bị bố mắng cho.

    Những ngày này, tôi cảm thấy như đang được sống giữa không khí gia đình. Nằm điều trị ở bệnh viện tỉnh Sơn La tôi rất an tâm vì thấy các vết thương trên người dần dần ổn định, ăn khỏe, ngủ khỏe. ít ngày sau, những thương binh nặng chúng tôi lại được chuyển tiếp về Yên Bái bằng cáng thương. Phải vượt qua đèo Lũng Lô thì mới tới chỗ bến xe. Mấy hôm trước trời mưa, nên hôm nay tuy trời không nắng nhưng đường vẫn còn trơn, các bác dân công chẳng thể nào tránh cho hết các vũng nước lấp loáng trên mặt đường. Các bác đã cố gắng làm cũng chẳng sao giữ cho khỏi va quệt vào vách đá hoặc gốc cây. Mỗi lần như thế, người tôi đau điếng. Gặp chỗ đường lầy thụt, quỵ cả chân nhưng các bác vẫn quyết không để người tôi quật xuống mặt đường. Mồ hôi nhễ nhại, hẳn là nhọc lắm vậy mà bốn bác vẫn hò hét động viên đỡ đần nhau giữ cho vai cáng thăng bằng. Tôi nằm trên cáng nghĩ mà thương, vừa khâm phục các bác không thể nói lời nào cho thấu. Phải đâu người chiến sĩ dù có lập công đến bao nhiêu lại có thể công thần? Nghĩ về các bác, tôi chỉ biết tự nhủ thầm như vậy.

    Sang bên kia đèo Lũng Lô, chúng tôi được chuyển lên ô tô tiếp tục cuộc hành trình. Thật không ngờ hôm nay chúng tôi qua phà bến Âu Lâu giữa ban ngày. Tôi nhớ khi lên Tây Bắc vào chiến dịch Điện Biên, đơn vị tôi vượt sông Hồng ở bến Cổ Phúc vào ban đêm, chỉ nghe tiếng nước sông Hồng rì rầm, lại nhớ câu hát “Hồng Hà mênh mông đưa nước trên nguồn về xuôi” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận. Hôm nay chiến thắng trở về, qua sông Hồng giữa ban ngày; ô tô đưa chúng tôi xuống phà sang sông giữa rừng người chẳng khác gì ngày hội, xe lên phà vào ngay thị xã Yên Bái. Bà con vây quanh xe mỗi lúc một đông, bỏ vào trong thùng xe những trái chanh, nải chuối và cả trứng luộc. Có các chị, các mẹ trèo hẳn lên xe để nhìn tận mặt, hỏi tên từng người, hỏi quê quán cửa nhà. Có hai bà mẹ người Yên Bái xem vết thương anh Đoàn Hợp cụt một chân, anh Oanh mù hai mắt cứ sụt sùi như gặp được chính đứa con của mình, nước mắt cứ ròng ròng chảy xuống mặt các anh ấy.Tự nhiên tôi cũng không cầm được nước mắt. Ôi tấm lòng các bà mẹ Việt Nam, lòng dân Việt Nam. Thật không bút nào tả xiết niềm cảm xúc thiêng liêng như thế…

    Đến bệnh viện tỉnh Yên Bái chúng tôi mới thực sự chia tay những người mà tôi muốn gọi là nhưng ân nhân cua mình. Vâng, đúng là ân nhân của tôi và trọn đời tôi sẽ không quên. Tôi tin rằng các con tôi, cháu tôi cũng sẽ không bao giờ quên? Hôm nay ghi lại những dòng này cũng là để bộc lộ tấm lòng của tôi với bác Khánh, bác Bái, bác Biên, bác Hải, bác Nhẽ, bác Nhân, bác Tuy, cô Thắng, cô Vân. . . những ân nhân của tôi, rằng tôi luôn nhở đến mọi người.
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  7. #27
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết
    ĐẬP TAN "CÙ KIỆT"

    1

    Cuối năm 1969, Sư đoàn 312 nhận lệnh sang chiến trường Lào phối hợp cùng quân đội Pa thét Lào chiến đấu ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Thời gian này, đế quốc Mỹ đang thực hiện “Học thuyết Ních-xơn” đối với các nước Đông Dương, chủ trương “Việt Nam hóa chiến tranh” hay còn gọi là “Chiến tranh đặc biệt tăng cường", dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương, dùng người châu Á đánh người châu Á.

    Liên tiếp trong sáu tháng, sau khi lên cầm quyền, Ních-xơn đã ra lệnh mở hai chiến dịch đánh chiếm vùng giải phóng Lào. Mở đầu là chiến dịch "Xamakhi" ngày 30-3-1969, chúng tiến công vùng giải phóng Xiêng Khoảng bằng trực thăng vận thọc sâu vào vùng giải phóng rồi đổ quân chốt các điểm cao dưới sự yểm trợ của hỏa lực và không quân Mỹ. Nhưng chúng bị đánh trả liên tục năm mươi ngày đêm và bị thiệt hại nặng, đến đầu tháng 5 - 1969, quân địch buộc phải rút lui.

    Đầu tháng 8 - 1969, đế quốc Mỹ lại tập trung quân gồm 50 tiểu đoàn lực lượng đặc biệt và quân nguy Viên Chăn cùng với 19 tiểu đoàn bộ binh và pháo binh Thái Lan, với 1.200 lính mũ nồi xanh Mỹ, mở cuộc hành quân được gọi tên là “Cù Kiệt" hòng lấn chiếm địa bàn chiến lược quan trọng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Âm mưu của Mỹ trong cuộc hành quân này còn để lập bàn đạp đánh sâu vào vùng giải phóng Lào, uy hiếp tỉnh Hủa Phần, căn cứ địa cách mạng của cả nước Lào, đồng thời còn nhằm uy hiếp cả sườn phía tây hậu phương miền Bắc Việt Nam, khống chế tuyến vận tải chiến lược Tây Trường Sơn, hỗ trợ mạnh mẽ cho âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh”, của “Học thuyết Ních-xơn" ở miền Nam Việt Nam.

    Ngày 31-7-1969, lực lượng không quân Mỹ cất cánh từ Thái Lan và pháo binh địch bắn phá cấp tập vào tuyến Bản Na và khu vực Cánh Đồng Chum. Bên cạnh năm cánh quân tiến theo đường bộ, đế quốc Mỹ còn huy động từng đàn máy bay lên thẳng đổ quân đánh chiếm các vị trí bàn đạp ở Cánh Đồng Chum, dưới sự yểm trợ của không quân Mỹ bắn phá dữ dội vào những nơi có nhà ở và những khu vực chúng nghi có lực lượng cách mạng đứng chân.

    Chính trong cuộc hành quân được gọi là "Cù Kiệt"' này, đế quốc Mỹ và tay sai đã gây ra nhiều tội ác dã man tàn bạo với nhân dân tỉnh Xiêng Khoảng: Bom đạn Mỹ đã phá hủy hơn hai trăm bản làng, hàng ngàn nhà ở hàng trăm chùa chiền, trường học, bệnh viện, trạm xá, hàng ngàn dân thuộc các bộ tộc bị thương vong, hàng ngàn gia đình phải rời bản làng đi nơi khác hoặc phải sang Việt Nam lánh nạn. Trong suốt thời gian chiến dịch "Cù Kiệt", trung bình mỗi ngày Mỹ cho bốn trăm lần chiếc máy bay, kể cả máy bay chiến lược B52 đến ném bom bắn phá trên dưới ba nghìn tấn bom đạn xuống khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Bom đạn Mỹ còn phá hoại hàng vạn héc ta ruộng nương, giết hại và bắt đi hàng chục ngàn gia súc. Quân địch đi đến đâu đều xúc dân vào trại tập trung trong vùng chúng kiểm soát. Theo tài liệu viết về cuộc “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” của Ních-xơn ở Lào do Nhà xuất bản Neo Lào Hắc Xạt ấn hành thì trong chiến dịch Cù Kiệt, đế quốc Mỹ và tay sai đã bắt ba nghìn dân dồn vào các khu tị nạn, cướp và giết hại 44.000 con trâu, 30.000 con bò, 9.000 con ngựa, 55.000 con lợn và rất nhiều gia cầm.

    Ngày 25-10-1969, Bộ Chỉ huy Tối cao Lực lượng vũ trang Cách mạng Lào cùng với Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam đã quyết định mở “Chiến dịch phản công giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, kiên quyết khôi phục lại địa bàn chiến lược vừa bị quân địch lấn chiêm ".

    Lực lượng tham gia chiến dịch gồm tám tiểu đoàn bộ binh Quân Giải phóng Lào, bốn trung đoàn bộ binh Quân Tình nguyện Việt Nam và một số đơn vị đặc công, xe tăng, vận tải Việt Nam và Lào được đặt dưới sự chỉ huy của Bộ Chỉ huy Liên quân Lào - Việt. Chiến dịch phản công đã diễn ra vô cùng quyết liệt trong hơn sáu mươi ngày đêm quần nhau với địch, Liên quân Lào-việt đã đập tan Cù Kiệt giải phóng hoàn toàn khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 12 tiểu đoàn địch, loại khỏi vòng chiến đấu 6.000 tên, thu và phá hủy hàng ngàn vũ khí các loại, thu và phá hủy 70 xe quân sự, bắn rơi 42 máy bay các loại, khôi phục và mở rộng vùng giải phóng từ Bản Na đến Nậm Ngừm với hơn hai vạn dân.

    Tôi nhớ, ngày 21-2-1970, toàn bộ quân địch phải rút khỏi Cánh Đồng Chum; ngày 22-2-1970, quân địch ở Phu Cút tháo chạy; ngày 24-2-1970, lực lượng Liên quân Lào - Việt đánh chiếm Mường Xủi, tập kích mạnh vào Xalaphukhun... Trên hướng phối hợp đặc công tập kích Long Chẹng quân ta đã biết hàng trăm lính Vàng Phao, cố vấn Mỹ, sĩ quan Thái Lan...

    Tôi không có điều kiện ghi lại tất cả các mũi phản công ở các hướng của chiến dịch đã làm nên chiến thắng ra sao, chỉ xin được nêu lại các hoạt động của Trung đoàn 165 chúng tôi ở một hướng khá đặc biệt của chiến dịch mà thôi.
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  8. #28
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết
    Lại nói khi trung đoàn nhận lệnh lên đường chiến đấu, anh em chúng tôi ai cũng mừng vì đơn vị vừa trải qua một đợt huấn luyện khá căn bản, chắc chắn sẽ hoàn thành nhiệm vụ với một phong thái chiến đấu đàng hoàng, chừng chắc. Ngoài việc huấn luyện hợp đồng binh chủng còn huấn luyện cách đánh trong thành phố và các vùng ven, đánh địch trong công sự vững chắc, đánh tập kích, đánh quân đổ bộ đường không, chiến đấu ở rừng núi, đồng thời huấn luyện hành quân đường dài. Về kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật xạ kích, yêu cầu từ cán bộ chỉ huy các cấp đến chiến sĩ phải sử dụng thành thạo được ba loại súng. Về mặt trang bị, toàn đơn vị ai cũng có mũ sắt và mặt nạ chống vũ khí hóa học. Về quân số, đơn vị được bổ sung tân binh của hai huyện Phú Xuyên và Thường Tín rất hoàn chỉnh, lại có cả một số tiểu đoàn quân dự bị và tự vệ Khu Gang thép Thái Nguyên đã được huấn luyện và thử thách. Khí thế đơn vị lên đường rất sôi nổi, tư tưởng thông suốt, ai cũng mong có dịp được chiến đấu và lập công.

    Sau khi nhận lệnh lên đường, Trung đoàn 165 chúng tôi chỉ được thời gian một ngày để chuẩn bị, bởi vì chúng tôi có nhiệm vụ phải hành quân đi trước đội hình sư đoàn.

    Hôm chúng tôi lên đường không có tiếng ồn ào đưa tiễn vì phải giữ bí mật. Xe phủ bạt kín mít, nên dẫu có ai đi bên đường tò mò cũng chỉ nghĩ đó là đoàn xe chở hàng quân sự ra mặt trận. Khi chạy qua các bản làng trong đêm tối, xe chỉ được bật đèn cốt mà thôi, chỗ nào gập ghềnh khó đi lắm mới bật đèn pha.

    Tới vị trí tập kết ở Con Cuông - Mường Xén, tôi và anh Trường Quân, Chính ủy Trung đoàn đi nhận lệnh, mới biết Bộ chỉ huy Mặt trận phối hợp Lào - Việt đã được thành lập. Về phía Lào có các đồng chí Sanhcapô, Siphon, Xa man, phía Việt Nam có các đồng chí Vũ Lập, Huỳnh Đắc Hương, đồng chí Nguyễn Năng - Sư đoàn trưởng 312 được chỉ định làm Phó Tư lệnh; Chính ủy Lê Chiêu làm Cục trưởng Cục Chính trị Mặt trận. Tất cả cán bộ cơ quan của sư đoàn đều sáp nhập vào ba cơ quan của Mặt trận.

    Trung đoàn 165 chúng tôi có nhiệm vụ tiến theo đường 7B vào chiến đấu trong khu vực Xiêng Khoảng phía đông nam Cánh Đồng Chum. Trung đoàn 141 đi theo đường 7A vào chiến đấu ở khu vực ngã ba Noọng Pẹt. Trung đoàn 209 làm dự bị cho hai cánh quân của Mặt trận, trước mắt làm công tác vận chuyển. Các tiểu đoàn trực thuộc của sư đoàn đều do Mặt trận trực tiếp chỉ huy.

    Trung đoàn tôi tiếp tục hành quân bằng xe lên tới biên giới thì chuyển sang hành quân bộ có trinh sát sư đoàn và bộ đội Pa thét Lào dẫn đường.

    Nhận lệnh về, rồi dẫn quân đi, tôi cứ băn khoăn và ngỡ ngàng nghĩ về việc từ nay tất cá cán bộ cơ quan sư đoàn đều trở thành như là phái viên của Mặt trận, liệu rồi trên dưới có hiểu nhau, có quen nhau trong tác phong chỉ huy cũng như tác phong công tác? Thêm nữa, đơn vị chuyển sang chiến trường mới, lạ địa hình, lạ đối tượng tác chiến và với dân thì lạ tiếng lạ người; rồi trung đoàn tôi lại đánh ở một hướng của chiến dịch, lực lượng sư đoàn vị xé nát ra, làm sao có thể tập trung phát huy sức mạnh về cách đánh của một binh đoàn chủ lực đã qua đợt huấn luyện khá hoàn chỉnh?

    Sư đoàn trưởng Nguyễn Năng chừng như đoán được những băn khoăn suy nghĩ của tôi nên tìm cách giải thích rồi động viên bằng mấy câu cộc lốc:

    - Anh yên tâm. Chúng tôi vẫn theo dõi và chỉ đạo trung đoàn.

    Đường hành quân bộ thật là gian nan. Hầu như trên trời không mấy khi ngớt tiếng máy bay gầm rú và tiếng bom nổ rung chuyển cả núi rừng. Phía trước thì tiếng đạn pháo và súng cối ình oàng như cầm canh. Tôi hiểu rằng trung đoàn sẽ phải vượt qua vùng bom đạn ác liệt và rất có thể phải đánh địch mà đi. Tôi lại nhớ về những ngày huấn luyện, khí thế hào hùng liên hệ với lúc này nó khác quá. Trước đây những mong sẽ tổ chức những trận đánh lớn có các binh chủng hợp thành, còn bây giờ sẽ đánh ra sao một khi chính trung đoàn tôi cũng bị xé lẻ ra. Bắt đầu từ Nậm Cắn sát biên giới Việt - Lào, Tiểu đoàn 5 chúng tôi đã phải tách ra tăng cường cho cánh quân phía đường 7A. Tới Then Phun, thấy có bốn điểm chốt của giặc trên đồi bắn xuống mặt đường gây khó khăn cho cuộc hành quân của trung đoàn, tôi lệnh cho đơn vị dừng lại và báo cáo về. Mặt trận đề nghị cho triển khai phương án tác chiến mở đường tiến quân. Mặt trận trả lời không được và lệnh "Phải tổ chức tìm cách bí mật vượt qua. Luồn sâu vào đúng vị trí quy định, đánh địch ở khu trong thị xã Xiêng Khoảng, đông nam Cánh Đồng Chum, phối hợp với đại quân ở phía bắc cùng tấn công vào đánh Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng".

    Tôi liền triệu tập gấp cuộc họp các cán bộ chỉ huy đơn vị và phụ trách ba cơ quan bàn kế hoạch chấp hành mệnh lệnh của Mặt trận. Tôi nêu phương án tổ chức đơn vị hành quân thành từng khối, mỗi cán bộ trung đoàn phụ trách một khối. Tôi đi khối đầu gồm các tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng và thủ trưởng các cơ quan cùng với hai trung đội trinh sát, một trung đội thông tin, một trung đội phòng vệ và hai trung đội vận tải. Khối đi đầu có nhiệm vụ tìm đường và bố trí từng cung, từng chặng để đón các khối sau đồng thời nắm địch, nắm địa hình và nhanh chóng thiết kế trận đánh.

    Chúng tôi phải hành quân vượt tuyến hoàn toàn ban đêm ven theo chân các ngọn đồi có đồn giặc rất vất vả và cũng rất nguy hiểm. Địch bắn pháo sáng liên tục đồng thời còn nã súng cối và quét cả súng máy vào những nơi xung yếu mà chúng nghi quân ta nhất định phải vượt qua. Vậy là địch quyết chặn đường hành quân của ta, ta thì nhất định phải mở đường tới địa bàn hoạt động vì thế cuộc chiến đấu tuy không mặt giáp mặt nhưng đã diễn ra vô cùng ác liệt, bom đạn cứ ầm trời đủ loại bom bi, vướng nổ, bom phá, bom chùm nhưng quân địch vẫn không ngăn được trung đoàn chúng tôi. Trong những ngày này, địch còn đổ tiếp thêm 5 tiểu đoàn phối hợp cùng pháo binh và máy bay lấn ra các bản Khuẩy, bản Keo Bon, Măng Mô sát tới biên giới Việt - Lào. Thế là đội hình trung đoàn bị cắt mất đuôi. Khi đại bộ phận tới khu vực bên trong thị xã Xiêng Khoảng thì Tiểu đoàn 6 và bộ phận vận tải vẫn còn phải chống trả ở khu vực ngoài Then Phun, trực tiếp theo lệnh chỉ huy của Mặt trận.

    Vào tới vị trí tập kết, anh em chúng tôi, người nào chân tay cũng xây xát, mặt mũi bị gai cào xước, quần áo nhiều anh rách bươm và ướt đẫm mồ hôi, có thể nói là rất mệt. May sao giữa khu rừng âm u được bù lại bởi tiếng chim hót ríu ran, con đậu con bay, rồi tiếng vượn ru con tiếng khỉ khẹc khẹc nô đùa, tiếng hươu nai gọi nhau…khiến cho chúng tôi ai nấy cũng vơi đi được nhiều nỗi nhọc nhằn. Nhất là cánh lính trẻ, lần đầu tiên tiếp xúc với núi rừng, chứng kiến cảnh kỳ thú của rừng thì dường như quên cả mệt.

    Điều quan trọng hơn cả là chúng tôi đã chiếm lĩnh được địa bàn theo đúng phương án chiến dịch để triển khai phương án tác chiến mà Bộ Tư lệnh Liên quân Lào - Việt giao cho.
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  9. #29
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết
    Họp cơ quan chỉ huy để thống nhất tình hình và nghe Tham mưu trưởng Đỗ Phú Vàng trình bày về cách đánh địch xong, chúng tôi họp Đảng ủy mở rộng, bàn sâu thêm về trận đánh mở đầu. Tôi báo cáo trước Đảng ủy về ý định chọn mục tiêu cho trận đánh mở đầu và cả trận đánh tiếp theo trong đợt hoạt động quân sự này. Hội nghị bàn bạc khá kỹ và thống nhất ý định rất cao về cách sử dụng lực lượng. Chúng tôi nhận định rằng đánh địch lúc này là thời cơ rất thuận lợi cho trung đoàn. Trước hết là địch đang còn rất chủ quan, chưa biết quân ta đã vào tới đây. Thứ hai là công sự của chúng còn sơ sài. Trừ ba đồn trong thị xã công sự có phần nào kiên cố song cũng chỉ có một hàng rào dây thép gai còn thì hầu như mới chỉ là công sự dã chiến, ụ súng, hầm ngủ và cả đường hào đều nông choèn, chủ yếu gác cây che bạt và rào bằng tre nứa. Chúng tôi tạm chia thành ba khu vực tác chiến. Khu một là thị xã Xiêng Khoảng, có ba đồn, đồn Thấp, đồn Cao và đồn Sân bay. Khu hai ở đông nam thị xã có ba điểm được đặt tên là đồi Con Lợn, đồi Mâm Xôi và đồi Cháy. Khu ba phía đông bắc thị xã ba kilômét có hai điểm trên đồi Cây Xanh. Rất tiếc là chúng tôi chưa bắt được tù binh nên chưa rõ phiên hiệu các đơn vị địch đóng quân tại khu vực này thuộc lực lượng nào.

    Trong Hội nghị Quân chính trung đoàn, kế hoạch tác chiến đã được quán triệt tới từng cán bộ, ai nấy đều tin tưởng ở cách đánh mà Đảng ủy trung đoàn đã bàn bạc thống nhất. Nhìn sâu vào từng đôi mắt cán bộ đang chăm chú nhìn mình và lắng nghe những điều tôi phân tích về địch, về ta, về địa hình. . . tôi rất tin ở anh em và tín ở hiệu quả của kế hoạch tác chiến. Tôi nói tiếp và giao nhiệm vụ cho từng đơn vị.

    - Thưa các đồng chí! Thay mặt Đảng ủy và chỉ huy trung đoàn, tôi quyết định giao cho Đại đội 1 (Tiểu đoàn 4) đánh Khu 2 tức là đánh ba điểm: đồi Con Lợn, đồi Mâm Xôi và đồi Cháy. Đại đội 19 đặc công đánh Khu 3, đánh cả đồn Cao và đồn Thấp. Đây là chốt điểm cao nhất khu vực này, hành quân tiếp cận xa và khó đi hơn cả. Như vậy trận mở đầu là trận đánh liên kết cả năm điểm trong cùn một đêm và cùng giờ G nổ súng. Ta dùng lực lượng tinh nhuệ đánh theo kiểu tập kích đánh nhanh, giải quyết nhanh, thu dọn chiến trường xong rút ra cách đồn địch ba trăm mét đề phòng địch ném bom, chỉ lót ổ lại trên đồi Cây Xanh một tiểu đội chuẩn bị cho kế hoạch tác chiến tiếp theo.

    Tôi nhấn mạnh về lực lượng sử dụng ở mỗi điểm chỉ đánh bằng hai mũi, mỗi mũi từ 10 đến 12 người; vũ khí trang bị phải gọn nhẹ, tiểu liên, lựu đạn là chính, ngoài ra còn thêm B40, B41 nữa mà thôi. Các đại đội chủ lực 12,7 ly, ĐKZ75, cối 82 sẵn sàng cho trận đánh hôm sau.

    Sau khi Chính ủy Trần Quân tiến hành công tác chính trị tư tưởng, các cán bộ ra về đều tỏ ra phấn khởi, tin tưởng, nhưng về mặt thực hành chiến đấu, tôi vẫn chưa an tâm. Tôi bàn với Tham mưu trưởng Đỗ Phú Vàng là cần phải gặp mười mũi trưởng để hỏi và trực tiếp nghe xem anh em còn gì băn khoăn và ta cần nói thêm gì với anh em cho rõ các ý định chiến thuật để mỗi người yên tâm tin tưởng hơn trước khi bước vào trận đánh.

    Cuộc họp với mũi trưởng thật thú vị. Không phải chỉ có chúng tôi củng cố lòng tin cho anh em, mà ngược lại chính anh em đã khiến chứng tôi càng tin chắc hơn vào thắng lợi của trận đánh. Đồng chí Mạc, Đại đội phó Đại đội 19, mũi trưởng mũi tập kích cao điểm đồi Cây Xanh nói:

    - Trận đánh này ta chuẩn bị rất kỹ, đã bàn đi bàn lại nhiều lần, kỹ hơn cả thời kỳ huấn luyện diễn tập ở bên nước. Bởi lẽ thực tế chiến đấu ở đây đâu có giống như diễn tập. Đặc biệt là khâu nắm địch, chúng tôi đã đưa các tổ trưởng vào tận các hàng rào, tận chiến hào, không phải chỉ một lần mà mấy đêm liền như thế. Bởi vậy anh em đã biết chắc là về hỏa lực, chúng chỉ có hai khẩu ĐKZ90, hai khẩu đại liên. Công sự mang tính chất dã chiến, đêm chúng ngủ tập trung trong 5 cái hầm đào sâu lưng lửng chưa có nắp đậy, chỉ mới gác cây che bạt. Đáng chú ý là ba bãi mìn, nhưng địch rất chủ quan, ngày gác bốn vọng, đêm rút về chỉ còn để một vọng. Cho nên chúng tôi đã phải giao nhiệm vụ tấn công cho từng tổ, chỉ thị rõ ràng đường tiềm nhập và mục tiêu tiến công. Tôi rất tin đơn vị tôi sẽ đánh chiếm đồi Cây Xanh rất nhanh và gọn, có thể nhất toàn trung đoàn.

    Tôi vừa nghe vừa ngắm nhìn cái dáng người khỏe chắc của Mạc, giọng nói nhỏ nhẹ nhưng dứt khoát mà thấy rất tin ở khả năng chỉ huy của cậu ấy chắc chắn sẽ hoàn thành nhiệm vụ. Tiếp theo, tôi quay sang hỏi Bường, mũi trưởng chỉ huy đánh đồi Con Lợn. Bường hơi thấp nhưng to khỏe, lông mày xếch, ngỡ là dữ tợn té ra lại rất vui tính. Đôi mắt tròn, vành tai rộng biểu hiện sự linh lợi nhạy cảm. Bường nói:

    - Thưa Thủ trưởng? Chẳng còn ai thắc mắc gì nữa đâu anh em chỉ muốn hỏi tại sao trên giao cho đại đội đánh cái cao điểm mà lại gọi là đồi Con Lợn.

    Mọi người cười rất to, hết nhìn Bường lại nhìn sang tôi.

    - Đơn giản là vì ngọn đồi ấy nó giống con lợn thì gọi cho dễ nhớ. - Tôi trả lời Bường.

    - Không phải đâu - Một cậu nói chen vào - Thủ trưởng muốn Đại đội 1 đánh cái cao điểm ấy phải thật mạnh thật nhanh như chọc tiết lợn cho nó không kịp kêu, không kịp ngáp nên mới gọi là đồi Con Lợn đấy.

    Tất cả cười rầm rầm. Tôi rất vui nói:

    - Thôi cũng được. Tôi và toàn thể anh em trong đơn vị rất mong Đại đội 1 đánh đồi Con Lợn như giết một con lợn, đánh nhanh, đánh mạnh và diệt gọn.

    Mạc đứng lên vung tay nói:

    - Đại đội 1 xin hứa với Thủ trưởng là sẽ cắm cờ chiến thắng lên đồi Con Lợn trước Đại đội 19 đặc công trên đồi Cây Xanh.

    Mọi người vỗ tay rầm rầm.

    Chỉ huy đánh lên đồi Mâm Xôi là một chàng trai có duyên, đôi mắt sáng, khuôn mặt tròn, lông mày thanh tú rất hợp với dáng vẻ của một thi sĩ. Mà đúng là cậu hay viết nhật ký và làm thơ. Nhưng tác phong lại nhanh nhẹn, nói năng khúc chiết hoạt bát và tinh thần chiến đấu thì phải nói là rất trùng hợp với cái tên mà bố mẹ đã đặt cho: Dũng. Tôi nhìn Dũng nhẹ nhàng hỏi:

    - Đánh đồi Mâm Xôi, đơn vị đồng chí còn băn khoăn gì không?

    - Thưa Thủ trưởng, hôm đi trinh sát lần cuối, em đã nắm tình hình địch khá chắc. Em đã đến tận công sự của chúng. Hôm ấy mà cấp trên cho em đánh, em đoán chắc là cũng giải quyết được rồi. Huống chi bây giờ, quân số chiến đấu đầy đủ. Đánh cái đồn có độ hai lăm ba mươi tên, công sự sơ sài có mỗi hàng rào, lại mới rào có ba mặt, hỏa lực có mỗi khẩu ĐKZ90 và một ụ trung liên mà trên cho đơn vị bốn khẩu B41 thì chúng nó chịu sao nổi. Các thủ trưởng yên tâm. Đơn vị em sẽ đánh chiếm đồi Mâm Xôi nhanh hơn tất cả đồi Cây Xanh và đồi Con Lợn.

    - Đồng chí Dũng! - Tôi vẫy tay cho Dũng ngồi xuống - Thay mặt chỉ huy trung đoàn tôi chấp nhận quyết tâm của đơn vị đồng chí. Tôi nhắc thêm là hôm qua địch cho máy bay lên thẳng hạ cánh xuống đồi Mâm Xôi. Theo trinh sát báo cáo thì chúng đã chở đến đây 20 bao gạo. Trung đoàn yêu cầu đơn vị đồng chí không chỉ diệt gọn bắt tù binh, thu vũ khí mà còn phải thu cho hết số lương thực tích trữ của chúng thì mới đầy đủ ý nghĩa đánh đồi Mâm Xôi.

    - Thủ trưởng yên tâm. Chúng em làm được.

    Hỏi đến Trung đội trưởng Sơn, mũi trưởng đánh đồi Cháy, Sơn cười, môi cong, chậm chạp đứng lên, dáng to bè, giọng nói nhỏ nhẹ:

    - Chúng tôi sẽ thiêu cháy chúng như cái đồi Cháy. Thủ trưởng hãy tin là như vậy. Xin hết.

    Sơn nói ngắn gọn như vậy thôi nhưng tôi hiểu cậu ấy đã nắm chắc tình hình và có quyết tâm cao. Tôi nói với tất cả anh em:

    - Thế là trận mở đầu, trung đoàn ta đánh đồng loạt 5 điểm trong một đêm. Tôi rất mong mỗi đồng chí trở thành một ngọn lửa thiêu cháy đồn thù. Các đồng chí về chuẩn bị thêm cho thật kỹ. Tôi mong rằng trận mở đầu này, đơn vị nào cũng đánh giỏi và chiến thắng.
    Phải nói rằng đến lúc này tôi mới thấy nhẹ nhõm trong lòng. Hơn một tháng qua trên Bộ Chỉ huy cứ thúc đánh liên tục đến phát sốt ruột. Thực ra là còn bao nhiêu khó khăn từ việc thu quân đến tổ chức trinh sát rồi bàn bạc chọn cách đánh trong hoàn cảnh đơn vị lại nằm sâu giữa vùng có nhiều đồn bốt giặc, phải làm sao cho bảo đảm đánh thắng mà giữ được lực lượng đánh được lâu dài. Sư đoàn trưởng Năng bây giờ lên Phó Tư lệnh Mặt trận, một người có kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu và đã hiểu được phần nào khó khăn của trung đoàn mà cũng đánh điện thúc hối lời lẽ tỏ ra bực tức, cứ hỏi "Tại sao không đánh? Có biết các hướng đã nổ súng rồi không?".

    Những lúc nhận điện như thế, tôi cứ như có lửa đốt trong đầu, vừa bực vừa lo. Tôi đoán rằng các cụ ngồi trên ấy chẳng thông cảm gì cho cái anh ở dưới, phải chăm lo trăm thứ việc mà bom đạn địch thì rầm rầm cả ngày, chung quanh là địch, mất hoàn toàn đường dây với phía sau, gạo mang theo đã cạn, phải bắt đầu ăn rút tiêu chuẩn xuống, phải nghĩ cách sao vừa đánh địch vừa kiếm lương thực lo nuôi sống gần nghìn con người để hoàn thành nhiệm vụ của cả giai đoạn diễn biến của chiến dịch cho đến khi kết thúc.

    Sau này thì mới hiểu, không phải trên Bộ Chỉ huy Mặt trận không lo lắng cho chúng tôi. Sau khi chiếm Then Phun, địch đổ thêm quân ra sát vùng biên giới Lào-Việt, ngăn chặn mọi con đường vào Xiêng Khoảng, Tiểu đoàn 6 chiến dấu trong hoàn cảnh rất ác hệt tìm cách mở đường tiếp tế đạn gạo cho trung đoàn nhưng không nhích lên được Trung đoàn 209, lực lượng dự bị của Mặt trận đang tải gạo cho trung đoàn phải quay ra đánh trả địch nhằm bảo vệ hành lang mà cũng chưa giải quyết được gì. Có lẽ vì thế mà Bộ Chỉ huy Mặt trận thúc chúng tôi phải nổ súng. Đúng, tiếng súng từ trong lòng địch buộc địch phải co lại tạo thuận lợi cho toàn mặt trận…

    Vì thế, sau khi tôi đánh điện lên báo cáo ngày mai trung đoàn sẽ nổ súng đánh 5 điểm trong một đêm, các anh trên Mặt trận đánh điện xuống tỏ ra rất mừng, nhưng anh Năng lại vặn hỏi:

    - Có đúng là một đêm đánh 5 điểm không? Đánh kiểu gì, có đủ sức không?

    Chẳng được câu động viên lại còn hỏi vặn, thật bực mình. Nghĩ vậy, sau tôi lại tự nhủ: Bực mình với trên là không được. Các đồng chí ở xa làm sao có thể hiểu rõ những tình huống cụ thể mà mình đối phó. Tôi liền gửi điện lên báo cáo là đánh theo kiểu đặc công và bảo đảm với trên tôi sẽ đánh thắng.

    Có lẽ cũng không cần phải kể lại diễn biến của trận đánh ra sao bởi lẽ tất cả kế hoạch tác chiến đã được thực hiện theo đúng ý định của người chỉ huy. Điều lo nhất đối với chúng tôi là để mất yếu tố bất ngờ thì đã không diễn ra. Sướng nhất là đêm hôm đó ở Sở chỉ huy được nghe các mũi trưởng dồn dập báo cáo về đến nỗi sĩ quan tác chiến ghi không kịp kể từ sau lúc 21 giờ 30, giờ nổ súng. Hết "đã làm chủ đồi Con Lợn, thu mười các bin, bắt sống hai tên… " lại đến "đang truy lùng địch trên đồi Cháy, thu ba các bin, một máy thông tin vô tuyến. . .", "đã chiếm đồi Mâm Xôi, thu một đài, một các bin, hai bì gạo, hai súng trường Mỹ...", "đã làm chủ đồi Cây Xanh, thu bốn súng trường, hai các bin. . ." . Có thể nói, tôi sướng run lên. Đến 22 giờ là tất cả các mũi đều làm chủ các mục tiêu đánh chiếm của mình mà quân ta chỉ bị thương có một đồng chỉ Nguyễn Như Kim khi đánh chiếm đồi Cây Xanh. Tôi ra lệnh cho các mũi giữ đúng chính sách tù hàng binh, hỏi cung xong thì thả ngay tại trận, không đưa về chỗ đóng quân. Qua lời khai của bọn tù binh thì phiên hiệu của đơn vị bị đánh là BV24, ACI.
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  10. #30
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết
    Sau khi bàn bạc về việc khen thưởng đơn vị và cá nhân xuất sắc, chúng tôi tính toán và thực hiện ngay các biện pháp đề phòng địch phản ứng và triển khai kế hoạch chiến đấu tiếp theo. Chúng tôi thống nhất ý kiến là chỉ để lại trên đồi Cây Xanh và đồi Con Lợn mỗi nơi một tiểu đội, thiết kế công sự vững chắc chống được bom và phải giữ bí mật, chỉ nổ súng khi địch dùng trực thăng đổ quân xuống chiếm chốt, kết hợp với các mũi tiến công từ dưới lên. Còn toàn bộ lực lượng rút xuống ba trăm mét cũng phải có công sự đề phòng địch thả bom. Hỏa lực pháo cối phải ở tư thế sẵn sàng chờ lệnh. Đại đội trinh sát cho ngay một trung đội đi nắm địch trong thị xã. Các Đại đội 2 và 3 chuẩn bị sẵn sàng, nếu địch không phản ứng lớn, sẽ đánh ngay vào đồn Cao, đồn Thấp trong thị xã. Triển khai kế hoạch xong, tôi mới viết điện báo cáo lên Mặt trận về kết quả chiến đấu diệt 5 điểm, bắt tù binh, thu vũ khí, làm chủ trận địa và các kế hoạch tác chiến tiếp theo sẽ đánh vào sân bay và thị xã Xiêng Khoảng.

    Có một chuyện nực cười như thế này. Chẳng hiểu điện đài dịch thế nào mà báo cáo là “thu được hai súng trường Mỹ" lại dịch ra thành "bắt được hai thằng Mỹ"! Sau này tôi mới biết là Mặt trận đã báo cáo về Bộ tin vui đó, lại xin cho phóng viên báo Quân đội vào để hỏi cung và viết bài. Đúng là hồi đó các phóng viên Tô ân, Tư Dương, Lê Thu đã được phái vào.

    Lại nói về trận đánh tiếp theo ngày hôm sau đánh địch phản kích diễn ra đúng như dự đoán của chúng tôi. Địch cho máy bay trinh sát bay lượn nhiều vòng rồi ném bom chung quanh các ngọn đồi, cuối cùng cho máy bay lên thẳng đổ quân tổ chức tấn công lên đồi Con Lợn và đồi Cây Xanh. Cuộc chiến đấu diễn ra khá quyết liệt, địch bị đánh từ hai phía trên chốt đánh xuống, dưới vận động tấn công lên, kết quả đến 3 giờ chiều chúng phải tháo chạy hết về thị xã. Có thể nói, với trận đánh này, chúng tôi đã vận dụng có hiệu quả hình thức chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt trên địa hình rừng núi. Chúng tôi lại thu thêm được súng và bắt được một tên tù binh thuộc tiểu đoàn BV26 vừa đổ bộ xuống.

    Cũng trong ngày này, trinh sát của ta từ trên các đồi cao quanh thị xã Xiêng Khoảng đã nắm được các cụm quân địch đóng trong thị xã và khu sân bay có sự chuyển quân ra sao. Các mũi trưởng được phân công đánh các mục tiêu đã nắm chắc đường tiếp đạn, cũng như từng ụ súng, hầm hào, từng vọng gác, nơi có mìn, điều biết cả. Chính vì thế mà khi triển khai kế hoạch tác chiến, các mũi tiềm nhập đã tiến đến sát hàng rào, ĐKZ75, B41 đã bố trí trận địa xong mà địch vẫn chưa biết. Đến 11 giờ đêm thì hai đồi Thấp và Cao khu vực sân bay dường như đã nằm trong cái thòng lọng đợi giờ "khai tử". Quả là như vậy, chưa đầy hai mươi phút chiến đấu kể từ sau lệnh phát hỏa, chúng tôi đã chiếm được cả hai đồn, thu được vũ khí và hơn một tấn gạo, bắt được một tên tù binh. Đánh xong, tất cả lại rút về khu vực tập kết của chúng cho quân mò lên khu đồi Cao như có ý chiếm lại thì toàn bộ lực lượng địch trong thỉ xã lại bí mật rút hết lên chiếm đóng hai dãy đồi Choong Voong. Cuối cùng, bọn địch trên đồi Cao cũng kéo hết lên đồi Choong Voong. Trinh sát vào trong thị xã Xiêng Khoảng báo cáo về: Trong thị xã không còn địch.

    Chúng tôi nhận định: Bọn địch sợ bị tiêu diệt nên phải kéo lên Choong Voong lấy nơi hiểm trở làm chỗ phòng thân. Như vậy, về tinh thần chúng đang rất hoang mang. Bởi lẽ đây chính là các đơn vị BV24, BV26, ACI đã bị ta đánh thiệt hại nặng. Tổ chức tấn công ngay, tuy
    đường tiến quân đánh Choong Voong có nhiều khó khăn nhưng chắc chắn sẽ giành thắng lợi vì địch chưa chuẩn bị xong công sự. Nếu để chậm sẽ mất thời cơ.

    Sau khi thống nhất kế hoạch sử dụng lực lượng đánh ba điểm bằng xung kích còn ba điểm dùng hỏa lực chế áp, chúng tôi phân công nhau, anh Quân tổ chức điều bộ đội, tôi và anh Đỗ Phú Vàng ra khu đồn Cao tiếp tục theo dõi tình hình địch và đón bộ đội lên. 17 giờ, khi bộ đội đã tới khu đồi Thấp thị xã, chúng tôi họp cán bộ phổ biến kế hoạch tác chiến trong 30 phút. Sau đó cán bộ về phổ biến cho anh em, thời gian một tiếng, 20 giờ tiến quân. Đó cũng là lúc trăng bắt đầu mọc.

    Nói cho đúng, đây là kế hoạch tắc chiến đánh truy kích địch trong thế chiến thắng. Đã truy kích thì phải khẩn trương đánh cho địch không kịp thở.

    Đúng là chúng chưa kịp thở đã bị tấn công nên sau khi pháo cối ta bắn dồn dập, chúng chỉ kịp phản ứng yếu ớt ở hai hướng nghi ngờ có xung kích ta tiếp cận rồi đánh bài chuồn. Khi quân ta xung phong tiến lên chiếm trận địa địch thì chúng cũng tháo chạy tung tóe vào rừng bỏ lại cả súng và điện đài. Gạo và tép khô càng không thể mang theo. Chúng ta hoàn toàn làm chủ Choong Voong.

    Thu dọn chiến trường xong, toàn trung đoàn rút về thị xã khi trăng đã lên cao. Ánh trăng tỏa sáng soi cho chiến sĩ bước nhanh hơn trong mềm vui chiến thắng.

    Tôi bỗng nhớ đến những hôm bị cấp trên thúc giục phải đánh nhưng chưa sao đánh được. Nghĩ lại mà phát ngượng. Đến tuần này, trung đoàn đánh thắng liên tục và giải phóng thị xã Xiêng Khoảng mới thấy thanh thản trong lòng. Câu thơ bật ra từ cảm xúc trước chiến thắng không thể không viết:

    Một tháng lận đận ăn ở trong rừng
    Chim chưa ca, địch chưa đánh, dân chưa mừng, trên không vui.
    Hai tháng vẫn ăn ở trong rừng
    Chim đã ca, địch đã chết, trên đã mừng, dân đã vui
    Đồn thù ta chiếm được rồi...
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •