CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 1 của 2 12 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 55

Chủ đề: Hồi ký Thiếu tướng Đặng Quang Long - Nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 7

Xem kiểu ghép

  1. #1
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết

    Hồi ký Thiếu tướng Đặng Quang Long - Nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 7

    Mẹ và Tổ Quốc

    Lời giới thiệu

    Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đã đi vào lịch sử, nhưng sức mạnh vô địch của quần chúng, của cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cùng những bài học kinh nghiệm vẫn còn là vấn đề thời sự nóng hổi. Chọn "Mẹ và Tổ quốc" đặt tên cho cuốn hồi ký, Thiếu tướng Đặng Quang Long muốn nói lên tình cảm lớ lao của mình đối với Tổ quốc và nhân dân. Chính tình cảm này đã trở thành dấu ấn sâu đậm trong tâm tư, là động lực tiếp thêm sức mạnh cho đồng chí suốt chiều dài cuộc chiến tranh. Tác giả là chiến sỹ trong đội ngũ bộ đội Cụ Hồ vào những ngày đầu cách mạng, đã chiến đấu 101 ngày đêm ở mặt trận Nha Trang, tham gia lãnh đạo, chỉ huy các binh chủng bộ binh, pháo binh, bộ đội tăng thiết giáp, đã qua công tác chiến đấu ở nhiều chiến trường, nhiều năm chiến đấu ở chiến trường Bà Rịa, Biên Hòa, ở Quân khu miền Đông, Quân khu Sài Gòn Gia Địnhtrong những năm chiến tranh ác liệt nhất của đế quốc Mỹ, đã trực tiếp chứng kiến nhiều tình huống , sự kiện sôi động, phức tạp của cuộc chiến tranh. qua cuốn hồi ký, với tư cách nhân chứng lịch sử, từ các sự kiện cảm nhận của bản thân, tác giả tái hiện những gương chiến đấu, hy sinh anh dũng bất khuất của quân và dân ta qua các giai đoạn chiến tranh thần thánh của dân tộc. Cuốn hồi ký góp phần minh họa, làm sáng tỏ thêm các sự kiệ lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung và lịch sử lực lượng vũ trang Quân khu 7 nói riêng, có tác dụng nâng cao, phát huy truyền thống cách mạng, truyền thống quân đội trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
    Cách viết chân thực, văn phong mạch lạc, súch tích, có sức thuyết phục, cuốn hút người đọc, có tác dụng rất tốt cho công tác giáo dục truyền thống cho các thế hệ trẻ.
    Mặc dù tác giả và người ghi đã cố gắng đầu tư công sức và đã được thẩm định về nội dung, song cuốn hồi ký "Mẹ và Tổ quốc" khó tránh khỏi những thiếu sót. hạn chế nhất định về sự kiện, nhân chứng và cách thể hiện. Chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp, bổ sung của bạn đọc.
    Nhà xuất bản tổng hợp Đồng Nai trân trọng giới thiệu.
    Xuân 1999
    NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP ĐỒNG NAI


    CHƯƠNG MỘT
    NHỮNG THỬ THÁCH ĐẦU TIÊN

    KÝ ỨC TUỔI THƠ

    Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình nho giáo ở xà Thanh Minh*, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
    Ai cũng có một miền quê để mà thương mà nhớ. Dù ở đâu, làm gì, tôi vẫn tự hào nhớ về quê hương Thanh Minh, một xã nằm bên bờ sông Cái, dọc theo tỉnh lộ 2 từ Nha Trang Thành đi Đồng Trăng. Đây là một trong những nơi có đồng ruộng trù phú nhất huyện.
    Xã tôi có những địa danh: Núi Một, Bầu Sen, bến Bà Án, đình Thanh Minh.....Những nơi ấy luôn gợi nhớ trong tôi kỷ niệm về một thời thơ ấu, về những ngày cùng các bạn chạy nhảy, lặn ngụp.....vui chơi.
    Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, dân số của xã khoảng 5800 người, chủ yếu là người Kinh, xen kẽ còn có nhiều gia đình người Hoa chung sống. Nhân dân trong xã cần cù lao động nhưng cũng giàu truyền thống đấu tranh cách mạng.
    *
    Sau năm 1975, xã Thanh Minh được đổi thành thôn Thanh Minh thuộc xã Diên Lạc, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

    Tôi không thể nào quên cái nôi gia đình đã ấp ủ, nuôi dưỡng, tạo đà cho tôi từng bước trưởng thành. Cha tôi là ông Đặng Nhơn, một nhà nho đã thi đậu tú tài> Ông có cá tính khẳng khái, sống chan hòa, tận tình giúp đỡ những người xung quanh nên ai cũng tôn trọng, quý mến. Điều không may ập tới gia đình là khi ra Huế dự thi cử nhân bị rớt, trên đường đi bộ về quê, cha tôi bị mắc bệnh thương hàn. Trở về nhà, bệnh tình cha tôi biến chứng ngày càng trầm trọng. Dù gia đình đã hao tâm , tốn của chạy chữa. nhưng căn bệnh quái ác đã để lại cho cha tôi di chứng bị liệt bàn chân trái.
    Nợ nần, bệnh tật, nhà lại đông người.....tất cả những khó khăn đó đã đổ dồn lên đôi vai mẹ tôi. Đây cũng là những năm tháng mẹ tôi chịu nhiều vất vả, thức khuya dậy sớm, tần tảo buôn bán gạo kiếm lời nuôi cả chục con người trong gia đình. Cũng chính nhờ công lao của mẹ, anh chị em tôi ai cũng được học hành.
    Ngày còn nhỏ, nhà tôi nằm trong một miếng vườn trồng đủ các thứ cây, nhà chính lợp ngói, nhà phụ lợp tranh vách đất, có hiên đắp cao, nền nhà chính thì thấp, khi đi lại nếu vô ý hụt chân bị té. Dạo ấy năm nào cũng xảy ra lụt lội, khi nước rút, ngoài thì khô, nhưng trong nhà còn đầy nước như cái ao, cả nhà phải hè nhau dùng gàu, thau tát nước ra. Cũng tại căn nhà miếng vườn này, lúc sáu tuổi, tôi đã được bà nội dạy bốn câu ca dao, bài học làm người đầu tiên của tôi:

    " Công cha như núi Thái Sơn
    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
    Một lòng thờ mẹ kính cha
    Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con"


    Sửa lần cuối bởi Xin tu xoa; 13-12-2012 lúc 04:57 PM. Lý do: Rx chỉnh size chữ.

  2. #2
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Nhớ lại, mỗi lần nhà có khách, tôi thường được bà nội gọi ra, khoanh tay đọc cho khách nghe bốn câu ca dao trên. Cái tuổi hồn nhiên nhảy chân sáo ngày ấy được khách xoa đầu khen ngoan, tôi khoái chí lắm.
    Tôi còn truyền bốn câu ca dao ấy cho đám bạn cùng tuổi. Nhiều lúc, chúng tôi kéo nhau ra gò. ra đình làng đua nhau đọc to, đọc nhanh, ai đúng, ai xong trước coi như thắng cuộc, đứa thua cuộc phải khom lưng cho đứa thắng đấm vào lưng bốn cái, cả đám lại được trận cười vui vẻ.
    Bà nội luôn chỉ dạy con, cháu phải hiếu thảo với ông bà, cha mẹ. Tôi còn nhớ bà kể chuyện Mạnh Tông, từ nhỏ, Mạnh Tông là người có hiếu với cha mẹ, do nhà nghèo, cả nhà Mạnh Tông phải ngủ không có mùng mà muỗi thì rất nhiều, thương cha mẹ ngủ không an giấc, Mạnh Tông bèn nghĩ ra kế dụ muỗi bằng cách, dù trời lạnh, Mạnh Tông lột trần nằm lăn ra thềm ngủ để muỗi tập trung cắn vào mình, thấy cha mẹ làm việc vất vả mà vẫn đói kém, Mạnh Tông không có cách gì giúp được, ra bụi tre ngồi khóc, những giọt nước mắt hiếu thảo của Mạnh Tông rơi thấm xuống đất, măng tre mọc lên, đọt măng to, ăn rất ngon,người đời truyền rằng đó là măng Mạnh Tông.
    Nghe chuyện, tôi rất thương Mạnh Tông, thương cha mẹ, tuổi thơ tôi chưa giúp được gì, nhưng nhiều lúc cứ vẩn vơ: Nếu cha mẹ chết, không biết làm sao tôi có thể sống nổi trên đời này.
    Sửa lần cuối bởi Xin tu xoa; 13-12-2012 lúc 04:58 PM. Lý do: Rx chỉnh size chữ

  3. Có 1 người thích bài viết này


  4. #3
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Là con út, thường như những đứa trẻ khác, tôi được gia đình nuông chiều, nhưng sự giáo dục và thực tế khó khăn của gia đình đã giúp tôi sớm nhận biết được điều hay, lẽ phải, không muốn làm điều gì phiền lụy đến mọi người.
    Năm lên bảy tuổi, tôi bắt đầu đi học trương làng. Tôi chăm chỉ học hành đến năm 12 tuổi, tốt nghiệp tiểu học (Certificat). Lớp tôi học ngày ấy có thầy Thành rất nghiêm khắc, kể cả dùng biện pháp "rắn" là tạt tai trò nên ai cũng sợ, nhưng lại học tiến bộ. Cứ mỗi sáng, vừa vào lớp, thầy thường ra toán trên bảng cho học sinh tính nhẩm, ai có đáp số sớm và đúng sẽ được điểm 10. Tôi là một trong những học trò luôn giành được phần thưởng này. Sau năm 1975, mỗi lần có dịp về quê, tôi thường tới thăm các thầy, cô giáo cũ. Gặp lại thầy Đoàn Thành, thầy nhìn tôi. nhìn quân hàm rồi nói:
    "Đại tá hả? Thầy chưa nhớ được tên trò, nhưng không nhầm, trò là một trong những trò giỏi toán của thầy".
    Tôi có mang tặng thầy một chai rượu, thầy trò vừa nhâm nhi vừa nói chuyện, mở đầu câu chuyện, thầy nói ngay:
    - Trò nghĩ coi, cách mạng gì mà để một số người đi xét, tịch thu từng ký lô cà phê, từng ký lô than trên xe đò hành khách như vậy?
    Tôi phản ứng một cách tự nhiên:
    - Dạ thưa thầy, thầy nghe nói hay thầy thấy ạ?
    Thầy khẽ xua tay, bật luôn một câu tiếng Pháp:
    - "Non, j'ai vu de mes propres yeux" (không, tôi thấy tận mắt).
    Thấy thầy bức xúc, không hài lòng về chuyện này, tôi chuyển ý:
    - Dạ, có lẽ thầy đã thấy. Số nhân viên đi tịch thu này còn trẻ, non nớt, ở tuổi con cháu mình làm chuyện bậy bạ, chớ có Đảng, cách mạng nào, chính phủ nào lại chủ trương như vậy.
    Nghe xong, thầy gật đầu. Không khí câu chuyện dịu hẳn lại. Thầy trò chuyển sang chuyện khác: Những khó khăn của đất nước sau chiến tranh, chuyện bọn phản động Polpot gây hấn ở biên giới Tây nam....Câu chuyện đầy tình thân thương, cởi mở, cứ thế kéo dài suốt cả buổi sáng hôm đó.
    Vào giữa năm 1980, lúc đang công tác giúp bạn ở Campuchia, tôi nhận được thư của người cháu từ Nha Trang gửi vào, báo tin "Thầy Thành đã qua đời, vì bị bọn ăn trộm đâm chết". Tin này làm tôi đau buồn cả tháng trời.
    Trong suốt thời gian đi học, trừ bữa cơm tối được ăn cơm nóng với gia đình, còn sáng và trưa tôi thường phải ăn cơm nguội. Ngày chủ nhật người khác đi câu cá giải trí, còn tôi đi câu cá góp phần cải thiện đời sống gia đình. Nhiều ngày, mê câu tới sáu, bảy giờ tối mới về, cả nhà chờ tôi về làm cá ăn cơm, ai cũng rất vui.
    Từ nhà tôi tới trường Khánh Hòa xa chừng bốn ki-lô-met. Có một hôm, đi được một phần ba đường, đến vườn xoài nhà anh Dự nằm sát đường, tôi nhặt được trái xoài chín rụng, thơm ngon quá. Nhớ đến mẹ, tôi liền quay đầu chạy một mạch về nhà, đút trái xoài vào lòng mẹ rồi lại hộc tốc chạy tới trường. Đến lớp trễ, tôi bị thầy phạt, bắt ra cổng ngồi xuống rồi từ từ lết vào, vừa lết vừa kêu quạc....quạc như vịt. Vừa chạy mệt, lại bị phạt, bị bạn bè cười đùa nhưng tôi nghĩ tình cảm đã dành cho mẹ, lòng tôi lúc đó thấy vui.
    Sửa lần cuối bởi Xin tu xoa; 13-12-2012 lúc 04:58 PM. Lý do: Rx chỉnh size chữ

  5. #4
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Năm 13 tuổi, tôi xuống Nha Trang học ở trường Kim Yến. Anh cả tôi là Đặng Quang Diệu nuôi tôi ăn học. Anh Diệu là con người hiếu thảo, hiền lành thật thà, trong nhà và làng xóm ai cũng quý mến. Anh làm trưởng ga Nha Trang, có vợ và hai con, đời sông đã chật vật, nay thêm "gánh nặng" là tôi nên càng khó khăn hơn.
    Trước gia cảnh anh chị, các cháu, lại biết nợ nần gia đình còn đó, mẹ quá vất vả, tôi nảy ý định bỏ học, đi làm có tiền để giúp đỡ gia đình. Ý định này bị anh tôi phản đối, còn mẹ chỉ biết khóc. Tôi thưa chuyện này với thầy Chắc, hiệu trưởng nhà trường, thầy ngạc nhiên hỏi:
    - Trò đang học tốt, chỉ còn hai năm nữa là thi tốt nghiệp trung học (Diplome), sao lại thôi ngang vậy?
    Tôi trình bày gia cảnh....và với sự nhất quyết của tôi, thầy rất tiếc nhưng cũng đành chịu. Tôi mới 16 tuổi nên nhờ thầy chứng giúp tôi 18 tuổi để đủ tuổi đi làm. Thầy không đồng ý, nói: Nếu trò muốn chứng nhận 18 tuổi thì phải thi lại sơ đẳng tiểu học. Tôi đồng ý và được thầy giới thiệu cho đi thi ở Phan Rang, thầy còn cho tôi 5 đồng làm lộ phí (năm đồng lúc đó lớn lắm, gạo chỉ có 2 xu 1 lít). Lần thi này tôi đậu thủ khoa.
    Có bằng chứng nhận 18 tuổi (dù mới 16 tuổi nhưng tôi lớn con nên ai cũng tin), tôi vào sở cao su ông Quế (Xuân Lộc) gặp anh trai là Đặng Quang Thiên đang làm kế toán ở đó xin việc và được bố trí làm thư ký phụ kho.
    Anh Thiên tuy mới đậu tiểu học nhưng làm kế toán khá giỏi. Anh miệt mài, chịu khó làm việc nuôi cả gia đình, cưu mang con cháu và sẵn sàng giúp đỡ người xung quanh lúc khó khăn. Khi tôi tham gia cách mạng, gia đình còn nợ nần, nghèo túng, chính nhờ công sức của anh đã giúp gia đình dần dần hồi phục về kinh tế, trở nên khá giả. Là người có trách nhiệm với gia đình, cuộc đời anh chỉ mong muốn lo nhà từ đường, lo ông bà, cha mẹ mồ yên mả đẹp. Trong kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ, sống trong vùng tạm chiếm, anh và gia đình đều giúp đỡ cách mạng, là cơ sở của biệt động Sài Gòn. Sau giải phóng 30 tháng 4, anh được tặng Huân chương Chiến công hạng ba, chị dâu tôi: Nguyễn Thị Bạch Hạt và các cháu ai cũng được bằng khen.

  6. #5
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Khi nhận làm phụ kho ở sở ông Quế, anh Thiên thương tôi, khuyên không nên làm vì biết nghề này cực lắm. Nhưng không nhận thì tôi biết làm gì ra tiền để giúp đỡ gia đình?
    Đúng như anh nói, công việc phụ kho thật khó nhọc, không đơn giản chút nào. Mùa đông, ở đồn điền cao su trời lạnh lắm, tôi lại chỉ có hai bộ đồ mỏng. Hàng ngày tôi phải dậy đi làm từ bốn giờ sáng, phải có mặt ở kho trước khi kẻng báo công nhân tập hợp để phát đồ cho họ, tối đến còn phải ghi chép sổ sách đến 9, 10 giờ mới có thể đi nghỉ. Sở cao su ông Quế có trên 2000 món đồ, để ở hàng chục kho nằm rải rác khắp sở. Phụ kho như tôi phải thuộc nhóm, loại, vị trí chỗ để đồ, dụng cụ, máy móc và phải biết cả tình trạng kỹ thuật nữa. Riêng chùm chìa khóa tới vài chục chiếc, nặng 4, 5 ki lô gam luôn phải mang, xách kè kè bên người. Giám đốc sở là A.Bous rất nóng tính, mỗi lần nó hỏi, kiểm tra món đồ gì mà không trả lời rõ ràng hoặc phải lật sổ tìm kiếm là hắn chửi "Mẹc xà lù" ngay. Tuy vất vả, nhưng đặc điểm của công việc, cách quản lý của A.Bous lại giúp tôi rèn tập được trí nhớ, có lợi cho sau này. Thời gian làm tại đây, mỗi tháng tôi được lãnh 30 đồng và 30 ký gạo. Gửi giúp gia đình 15 đồng/tháng, cả năm, trừ ăn uống tôi còn tiết kiệm được 60 đông để phòng thân.
    Sau hơn một năm nhẫn nhục, cặm cụi làm việc, năm 1943, vào một sáng chủ nhật có một sự kiện xảy ra làm thay đổi cuộc đời tôi. Hôm đó, mọi người đều nghỉ, tôi xách chùm chìa khóa xuống chợ (cách khu kho chừng một ki lô met) chơi. Đang đứng xem một đám công nhân đang tụm năm, tụm ba đánh bạc, bỗng có tiếng còi ô tô vọng lại từ khu nhà kho. Tôi ngược dốc chạy về, gặp tên phó giám đốc Surcoup đưa xe đến lãnh xăng, nó hỏi:
    - Anh đi đâu mà bắt tôi phải đợi lâu thế?
    Tôi trả lời:
    - Anh không biết hôm nay là ngày chủ nhật sao?
    Surcoup đổi ngay thái độ, lớn tiếng:
    - "Tu n'a pas dimanche ici" (mày không có chủ nhật ở đây).
    Bị xúc phạm, tức quá tôi nói ngay:
    - Ngày mai tao nghỉ, không cần làm ở đây nữa...
    Đúng vậy, sáng thứ hai hôm sau, tôi đưa đơn xin nghỉ việc. Bọn chủ sở chấp thuận.
    Nhưng một câu hỏi đặt ra: Nghỉ việc rồi sẽ đi đâu, làm gì để sống? Sự việc xảy ra quá đột ngột, tôi không thể không băn khoăn lo lắng.
    Đang bí, chợt nhớ, cách đây chừng bốn tháng, tôi có gặp một người Đức lai Pháp tên là Langgen Hangen làm ở hãng Sell đường Norodom - Sài Gòn lên bán dầu cho sở cao su. Lần ấy, Langgen Hangen có nói: "Tao thấy mày trẻ mà nhanh nhẹn, tao thích quá, nếu mày đồng ý về Sài Gòn, tao sẽ giúp vào làm việc ở hãng Sell" và cho tôi địa chỉ. Thế là có nơi để đến rồi. Tôi xuống ngay hãng Sell và được Langgen Hangen báo với giám đốc tiếp nhận, phân về làm giám đốc hãng Sell Bà Rịa, hưởng lương mỗi tháng 120 đồng.

    BƯỚC NGOẶT CUỘC ĐỜI

    Hãng Sell Bà Rịa là một cơ sở, chi nhánh nhỏ. Công việc không những nhàn, độc lập, tôi lại được hưởng lương bổng khá cao. Sau một năm, đầu năm 1945, tôi được Trung tâm Sell ở Sài Gòn điều đi học khóa thanh tra Sell, đang chờ người đến bàn giao, thay thế thì xảy ra sự kiện Nhật đảo chánh Pháp (tháng 3/1945). Binh lính Nhật ngang ngược, phá phách, ai cũng căm ghét, lo sợ.
    Những ngày này, tôi thường nghe chỗ này, chỗ kia lính Nhật coi dân mình không ra gì, bắt bớ, tra tấn người rất tàn ác, "phát xít" lắm. Tai nghe cùng những điều mắt thấy những hành động của lính Nhật, tôi có ác cảm, thậm chí ớn sợ tính phát xít của chúng.
    Tuổi thanh niên của tôi lúc đó còn bồng bột, chưa tiếp xúc, chưa hiểu biết gì về cách mạng. Nghe một số bà con từ Miền Trung vào thì thầm bàn tán có tổ chức này, hoạt động kia chống Pháp, chống Nhật và chính quyền thân chúng....tôi cảm nhận có điều gì đó sắp xảy ra.
    Sau đảo chánh chừng mấy ngày, một sỹ quan Nhật và thông ngôn đến gặp và bảo tôi viết bài diễn văn hoan nghênh quân đội Nhật hoàng đến Việt Nam, viết xong, đưa nó xem trước rồi tôi sẽ đọc diễn văn này trong cuộc mít tinh vào ngày 15 tháng 3 năm 1945 tại sân Dinh tòa bố - thị xã Bà Rịa. Đối với nhiều người, nhiều công chức khác, được như vậy là một dịp may để "tiến thân". Nhưng sẵn có ác cảm với chúng, cùng với những cảm nhận bất ổn về tình hình, tôi quyết định phải rời bỏ nhiệm sở ngay.

  7. #6
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Tôi bỏ lại toàn bộ tài sản, chỉ mang theo một túi xách nhỏ, trốn khỏi sở bằng chiếc xe đạp theo quốc lộ 15 chạy suốt đêm vè nhà anh Thiên ở Biên Hòa. Ở đó ít lâu, tôi trở về quê nhà và từ tháng 5/1945 gia nhập phong trào Việt Minh ngay trên mảnh đất quê hương.
    Tại xã Thanh Minh, qua hoạt động tham gia sinh hoạt trong tổ chức Đoàn thanh niên, tôi nhận thức rõ hơn: Sau khi Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương tháng 3 năm 1945, chúng đã dùng chính sách mỵ dân, lừa bịp tuyên truyền "Thuyết Đông Á" cho Việt Nam độc lập. Nhờ có Đảng ta bí mật lãnh đạo, giác ngộ quần chúng nên mọi thủ đoạn của bọn Nhật sớm bị vạch trần, quần chúng sớm thấy rõ bộ mặt thật của chúng.
    Nhớ lại chuyện tên sỹ quan Nhật đến gặp, bảo viết, đọc diễn văn....rồi tôi trốn khỏi nhiệm sở hôm nào, tôi thấy mừng, thấy đó là quyết định đúng, kịp thời và còn là điều măy mắn đối với cả cuộc đời tôi nữa.
    Ở xã Thanh Minh, trước ngày tôi về đã có anh Võ Gia Cương, xã Trường Lạc có anh Lê Đức Băng đứng ra tổ chức Đoàn thanh niên. Lúc đầu, hoạt động của Đoàn chủ yếu tạo không khí vui khỏe, chơi thể thao, tập ca hát, vận động cứu trợ đồng bào bị lũ lụt....dần dần, qua đó tuyên truyền giáo dục lòng yêu nước, yêu đồng bào, gầy dựng, hun đúc tinh thần đấu tranh vì độc lập tự do của Tổ quốc cho thanh niên.
    Bài học đầu tiên do anh Danh, một cán bộ ở tù Côn Đảo trở về, lên lớp cho chúng tôi là: Nước ta lúc đầu gọi là Văn Lang do các Vua Hùng đứng đầu, đến nay đã trải qua 4000 năm lịch sử, trong đó có 1000 năm bị bọn phong kiến Trung Quốc đô hộ. Liên tục trong hơn 1000 năm ấy, dân ta đã dấy lên nhiều cuộc khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm do Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí....lãnh đạo giành được độc lập. Nước ta đã trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê....khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (1858) đến nay đã hơn 80 năm, nhiều cuộc khởi nghĩa của ông cha ta liên tục nổ ra, chống lại sự cai trị của chúng. Đặc biệt, từ năm 1930 trở đi, từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo thì các cuộc khởi nghĩa càng sục sôi, được quần chúng tham gia đông đảo như: Xô-viết Nghệ Tĩnh, Bắc Sơn, Đô Lương, Ba Tơ, Nam Kỳ Khởi Nghĩa.....Các cuộc khởi nghĩa này bị kẻ thù đàn áp đẫm máu nhưng hun đúc nên tinh thần cách mạng trong nhân dân, chuẩn bị cho khí thể quyết chiến, quyết thắng cho cuộc cách mạng của cả nước sắp nổ ra.
    Sửa lần cuối bởi truongsa; 14-12-2012 lúc 09:21 AM.

  8. #7
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Mùa xuân năm 1963, tin vui chiến thắng trên chiến trường miền Nam tiếp tục làm nức lòng quân và dân ta. Tại Cai Lậy - Mỹ Tho, ta đã "diệt và làm bị thương 450 tên địch, bắn rơi, bắn hỏng 16 máy bay, phá hủy 30 xe M113, bắn chìm 2 tàu chiến..." Phong trào thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công phát triển mạnh trên khắp chiến trường miền Nam".*
    Tiếp đó, từ 13 đến 17 tháng 3, quân và dân Đồng Tháp Mười đánh bại cuộc càn "Đức Thắng" của 9000 quân Ngụy, có nhiều máy bay và xe thiết giáp hỗ trợ...."**
    Đối với tôi, mùa xuân tháng ba hoa nở rộ chiến thắng này lại là dấu ấn đáng nhớ. Sau gần 10 năm xa miền Nam, xa gia đình, người thân, tập kết ra miền Bắc, tôi được lệnh tập trung tại Hà Nội để chuẩn bị trở về Nam, thế là mong ước của tôi sắp được thực hiện. Tôi xin phép trở về đơn vị, chia tay với anh em, tâm trạng của tôi thật khó tả, buồn, vui, thương, nhớ cư hòa quyện vào nhau, sắp phải xa Trung đoàn 202, xa đồng chí, đồng đội của tôi rồi, vào thăm lại từng doanh trại các Đại đội, Tiểu đoàn, cơ quan, nhìn những gương mặt thân quen, sạm nắng gió thao trường, lòng tôi trào dâng niềm tin tưởng, tự hào về đồng chí, đồng đội mình, anh em cùng tôi ra bãi bắn, bãi lái, nhà xe, tôi bâng khuâng nhìn ngắm, sờ mó các xe tăng đã cùng đơn vị dày công xây dựng, bảo quản, bảo dưỡng, tôi dành nhiều thời gian đến bên chiếc xe số 114, "chiếc xe của chính ủy" như anh em thường gọi, tôi là một trong năm thành viên của chiếc xe chỉ huy Trung đoàn này, (đi chiến đấu, Trung đoàn Tăng - Thiết giáp có hai xe chỉ huy: xe Trung đoàn trưởng và xe chính ủy).
    Anh em "kíp xe 114" cùng tôi ngồi quyây quần bên nhau, dặn dò, hứa hẹn nhau tiếp tục bảo quản, giữ gìn xe cho thật tốt để bàngiao cho đồng chí chính ủy mới. Bên ấm trà đậm đặc do đồng chí quản lý đại đội mang ra, không khí câu chuyện của chúng tôi diễn ra thật tình nghĩa, ấm cúng như chung một gia đình vậy.
    Anh Đào Huy Vũ, Trung đoàn trưởng vừa đi công tác về, nghe tin, anh chạy vào bãi xe gặp tôi. Thay mặt Trung đoàn 202, anh Vũ tặng tôi một cây súng ngắn Tiệp Khắc để lên đường chiến đấu, phòng thân. (cây súng này tôi giữ mãi cho đến ngày giải phóng 30/4/1975). Tôi bắt tay anh em, cố kìm nỗi xúc động:
    - Tôi đi trước chuẩn bị chiến trường cho các cậu đây, các cậu vào nhé, chúng ta gặp nhau trong đó.
    Chúng tôi ôm nhau, hôn nhau không nói nên lời....nhưng trong ánh mắt những người ở lại, người đi như thầm hẹn: miền Nam đang máu lửa, miền Nam đang chiến đấu, một ngày không xa, xe tăng ta nhất điịnh sẽ có mặt tiêu diệt quân thù.
    Trong cuộc đời binh nghiệp của mình, một thời tôi đã gắn bó với lực lượng Tăng - Thiết giáp. Dù ở cương vị, môi trường công tác, chiến trường nào tôi vẫn luôn nhớ và tự hào về sự trưởng thành của binh chủng Tăng - Thiết giáp của quân đội ta.

    CHƯƠNG BỐN
    NHỮNG NĂM THÁNG ĐÁNH MỸ

    TRỞ VỀ NAM
    Đầu năm 1962, tôi và anh Lương Văn Nho được Tổng cục Chính trị điều về Hà Nội để nghiên cứu một số chỉ thị của Trung ương Đảng chỉ đạo chiến tranh ở miền Nam, dự một lớp tập huấn quân sự, đồng thời nghỉ ngơi, bồi dưỡng sức khỏe chuẩn bị vào Nam chiến đấu.
    Thời điểm này có ba đường vào Nam: đường không (qua Phnompenh - Campuchia rồi theo đường bộ, bí mật về căn cứ R), đường Trường Sơn, chủ yếu đi bộ dài ngày....và đường biển. Cả ba đường đều thuận lợi ít, khó khăn nhiều do bị địch ngăn chặn, phong tỏa, đánh phá.
    Do sức khỏe khá tốt, đi đường nào cũng được, nên tôi tạm yên tâm, không băn khoăn nhiều về chuyện này. Vợ và ba con tôi đều ở Hà Nội, đây cũng là thuận lợi để lúc rảnh rỗi tôi có dịp về sinh hoạt với gia đình, chia tay bạn bè, người thân trước lúc đi xa.
    Riêng anh Nho (hai Nhã), do lớn tuổi nên sức khỏe yếu hơn chúng tôi. Tổng cục chính trị xem xét, có ý giữ anh lại công tác ở miền Bắc, nhưng anh quyết tâm xin đi, biết sức khỏe hạn chế, nên khi chọn đường vào Nam, anh Nho liên tục vào Tổng cục chính tri để xin cho đi đường biển vì với anh có thuận lợi hơn. Đi đường biển có kỳ, có chuyến, lại phải xem cả đoàn có chịu nổi sóng gió hay không nên Tổng cục chính trị cũng do dự, cân nhắc mãi, cuối cùng chúng tôi sẽ vào Nam bằng đường biển.
    Vào một buồi trưa năm 1963, tôi chính thức từ giã vợ con vào hội trường Tổng cục chính trị tập trung cùng anh em vào Nam. Vào thời điểm chiến tranh đang gia tăng, miền Nam đang chiến đấu, với những người lính chúng tôi lúc đó có thể gọi là: trước giờ ra trận.
    Giờ phút chia tay một lần nữa lại đến với tôi, tình vợ chồng, cha con, đòng chí, đồng đội còn ở lại, niềm vui và nỗi buồn, kể cả những băn khoăn, lo lắng, nói sao cho hết, thực tình, tôi chỉ thương và lo cho vợ con sẽ sống ra sao khi thiếu vắng tôi?
    Trước đây, dù không thường xuyên, nhưng tôi còn có dịp về chăm lo cho gia đình.
    Lúc này, trong gian nhà khu tập thể đường Đại Cồ Việt - Hà Nội, tôi đang đứng trước các con, Thăng, Trung, Trang, các cháu ngủ ngon quá, không nỡ đánh thức chúng dậy, tôi lấy ba phong bánh nhỏ đặt vào tay chúng rồi nhè nhẹ hôn từng đứa một. Mạnh, vợ tôi cũng ngồi cạnh nhìn các con, như một biểu cảm tự nhiên của người chồng, tôi vụng về đặt tay lên bụng Mạnh, vợ tôi có thai 5 tháng (sinh cháu Phương sau này), tôi cảm thấy cái thai đang đập mạnh, thổn thức như hơi thở của Mạnh vậy, những ngày qua, Mạnh có kiềm chế mọi xúc động, băn khoăn để tôi an tâm lên đường. Con người thật kỳ lạ, có những điều đâu cần phải nói ra, nhưng vẫn có thể cảm nhận được tất cả.
    Mạnh chủ động đứng dậy, đến bên chiếc xe đạp hiệu Junior, dắt ra khỏi nhà rồi nhỏ nhẹ: đi thôi anh!
    Tôi quên sao được cảnh và người lần chia tay ấy: chồng đeo ba lô con cóc đi trước, vợ dắt xe đạp đi tiễn theo sau, ra đến đầu ngõ, chúng tôi gặp bà Ba, người Hà Nội "gốc", tuổi cao nhất trong khu tập thể, đầu tóc bạc phơ, bà đưa hai bàn tay nhăn nheo nắm chặt tay tôi, mắt nhòa lệ, nói:
    - Tôi thấy cô, cậu hạnh phúc, các cháu còn nhỏ, ngoan, nay cậu lại ra đi, tôi thấy thương quá.
    Tấm lòng của bà, chả những người mẹ Việt Nam thật đáng quý. Nhìn bà, nghe bà nói, tôi như đang gặp mẹ mình vậy, không hiểu mẹ tôi còn hay mất, xúc động, tôi nói với bà Ba:
    - Cám ơn bà, bà ở lại có gì giúp đỡ vợ con cháu.
    Bà nhìn chúng tôi gật đầu, mái tóc bạc trắng cứ rung rung, khoảnh khắc chia tay với bà Ba diễn ra chỉ có vậy, nhưng lòng tôi cảm thấy an tâm, ấm áp hơn, kính trọng, thương yêu nhiều hơn những bà mẹ Việt Nam. Phải chăng, từ ngàn xưa, những cuộc chiến tranh chống lại kẻ thù cướp nước và bán nước, buộc chúng ta phải cầm gươm, cầm súng, phải chăng, sự khắc nghiệt của chiến tranh trên đất nước này, đã hun đúc, rèn luyện nên tình cảm, ý chí "Anh hùng bất khuất, trung hậu đảm đang" của phụ nữ Việt Nam?.
    Dọc đường, tôi cứ vẩn vơ suy nghĩ, chẳng mấy chốc, hai vợ chồng đã tới và dừng xe tại vườn hoa Hàng Đậu. Hà Nội đang mùa thu, nắng trưa như nhuộm vàng thành phố, trông đẹp quá, phố phường thủ đô đông vui, tấp nập, phía xa xa, tàu điện đang leng keng chạy về phía dốc Hàng Than....đã đến giờ chia tay rồi, tôi xốc lại ba lô, nhìn Mạnh, nhìn xuống cái bụng lùm lùm của Mạnh, giọng như nghẹn lại:
    - Các năm trước, ba lần em sanh, anh đều dành phép năm về giúp em, lần này em sanh, em tự lo hết....
    Nói đến đây, thấy vợ ứa nước mắt, tôi bối rối như không còn đủ can đảm tiếp lời nữa vội siết tay vào hai bờ vai Mạnh rồi quay lưng đi ngay. Làm cách mạng, sẵn sàng hy sinh cả tính mạng, nhưng có lúc, tình cảm cũng thật đau buồn. Tôi cứ thế bước nhanh trên he đường Lý Nam Đế, "không dám" quay đầu xem Mạnh còn đứng đó nhìn theo...hay đã lên xe về với con rồi, đúng là phải nén chịu, phải dứt ra mới có thể đi được.
    *,** 50 năm, Quân đội nhân dân Việt Nam, sách đã dẫn, trang 185, 186.

  9. #8
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Tôi vào cơ quan Tổng cục chính trị, tại đây, có hai cán bộ của Bộ Nội vụ là anh Hoàng và anh Tài cũng đang chờ cùng chúng tôi lên tàu vào Nam đêm nay, một sự trùng hợi, chúng tôi hợp thành một đoàn đều là trung tá.
    5 giờ chiều, đồng chí Việt, Thứ trưởng Bộ Nội vụ cùng đi tiễn chúng tôi ra tận Đồ Sơn (Hải Phòng).
    Đứng trên boong tàu, cảnh và người lại làm tôi nhớ lại chuyến tàu tập kết ra Bắc năm xưa, đi tập kết theo quy định của hiệp định Geneva là mệnh lệnh bắt buộc, còn đây, cũng chuyến tàu biển, nhưng lại được về Nam chiến đấu là khát vọng cháy bỏng của chúng tôi, nghĩ vài ngày tới mới gặp lại được miền Nam, gặp lại đồng bào, đồng chí, người thân thấm thoát đã 10 năm xa cách, lại tưởng tượng ra những thuận lợi, những điều kỳ thú diễn ra trong cuộc hành trình, được hít thở không khí trong lành của biển cả, được ngắm nhìn những đàn hải âu bay lượn, dõi theo từng đàn cá bơi lượn quanh tàu.....tôi thấy lòng rộn lên niềm vui, làm vơi đi một phần nỗi nhớ vợ, nhớ con, nhớ đồng bào, đồng chí trên đất Bắc.
    6 giờ tối, đèn điện quanh khu vực Đồ Sơn đã bật sáng, tiếng còi tàu vang lên báo hiệu giờ xuất phát như thay cho chúng tôi nói lời tạm biệt đất liền, tạm biệt miền Bắc.
    Tàu tăng dần tốc độ tiến ra khơi, do còn gần bờ nên tàu bị nhồi sóng dồn dập, tôi nhớ lúc mới xuống tàu, mọi người còn khỏe, chạy tới chạy lui, xem chỗ này, chỗ kia, một anh trong đoàn còn cắm chiếc radio, kéo cần anten ra khỏi cabin tàu để bắt sóng đài....nhưng 30 phút sau, chính anh là người nôn ói trước, tiếp theo là anh Hai Nho, anh Tài và cả tôi nữa....cứ thế mà nôn ói tới mức như không thấy gì còn trong bao tử nữa, anh em thủy thủ trẻ, khỏe đã nhiều lần đi biển cũng bị như vậy. Riêng anh Hoàng, người gầy ốm cùng một số ít anh em chỉ huy tàu là còn tỉnh táo đi lại, giúp chăm sóc, xoa bóp cho anh em, bị nhồi sóng, say sóng, hầu như chúng tôi nằm la liệt từ tối đến trưa hôm sau. Trước đó tôi từng nghe nói: đi biển, không chịu nổi sóng, gió phải nôn ói ra mật xanh, mật vàng quả không sai.
    Tàu ra hải phận quốc tế, sóng êm hơn, đỡ bị nhồi hơn, tôi vẫn còn nằm, chưa gượng dậy được. Nghe tiếng máy tàu chạy đều đều, chúng tôi tỉnh dần, nhưng thân thể mệt mỏi rã rời, đầu thấy nhức, mắt thấy nhòa, tai thấy ù.....đưa mắt nhìn quanh chỗ mình nằm, thấy chất đây cam, nước ngọt, muốn uống, muốn ăn mà tay chân không nhấc lên được, đành chịu.
    Đến chiều (ngày thứ nhất) chúng tôi đều ngồi dậy, bắt đầu ăn chút ít và thấy người tỉnh táo, đi lại được. Tôi quan sát kỹ lại con tàu, đây là loại tàu nhỏ, súc tải 30 tấn, dài chừng 15 mét, rộng 6 mét. Tàu được chuẩn bị ở tư thế luôn sẵn sàng chiến đấu, có ụ đại liên bắn máy bay, bán tàu tiếp cận, nếu bị vây ép, khống chế hoàn toàn, đã có một tấn thuốc nổ sẵn sàng nổ tung cả tàu địch lẫn tàu ta. Trên boong tàu trải dài các tay lưới, chất thành đống ngụy trang, nếu máy bay đjch phát hiện từ trên cao, dễ nhầm vì tưởng là tàu đánh cá của ngư dân.
    Sau một đêm và gần một ngày chịu sóng to, gió lớn, nay đã tạm yên, đứng trên boong, tôi cảm thấy con tàu thật đơn độc, nhỏ nhoi như chiếc lá giữa trùng khơi, phóng tầm mắt nhìn ra bốn phía, chỉ thấy trời và biển, không thấy đâu là bờ, là bến cả. Mới xa đất liền chừng ấy thời gian mà ai cũng thấy nhớ nôn nao. Một trái dừa trôi qua, một tay lưới rách bập bềnh trên biển cả và kia nữa một đàn chim đang chấp chới bay...đều làm cho nỗi nhớ đất liền trong tôi âm ỉ, day dứt, chúng tôi mong cho con tàu đi nhanh, nhanh hơn nữa để sớm được gặp lại bến bờ thân quen.
    Tàu tiếp tục rẽ nước băng dần về hướng Nam, tôi gặp gỡ, trò chuyện cùng anh em thủy thủ, họ còn trẻ, tuổi đều trên dưới đôi mươi và đều là dân "Đồng Khởi" Bến Tre cả, qua anh em, được biết tàu này đều ra vào các bến của Bến Tre, vì vậy, thủy thủ được tuyển lựa cũng phải là dân địa phương mới thuận lợi được. Khi được hỏi: tàu vào gần bến, anh em có nhận ra không? Tất cả đều trả lời một cách tự tin: các bến bãi ở Bến Tre chúng em sống từ nhỏ ở đó nên đều thuộc như lòng bàn tay.
    Nhìn những gương mặt sạm nắng, gió của thủy đoàn, tôi nghĩ: nghề sông nước, nhất là đi biển không đơn giản chút nào, không phải chỉ gặp những điều kỳ thú, mộnh mơ như tôi tưởng tượng, những người đi biển phải có sức khỏe, dũng cảm, có kinh nghiệm sử lý mọi bất chắc có thể xảy ra mới đưa con tàu đi đến nơi, về đến chốn được. Trong điều kiện địch còn chủ động rình mò để phát hiện, tập kích đánh phá, những con tàu và thủy thủ đoàn làm nhiệm vụ bí mật chở vũ khí, đưa đón cán bộ vào Nam như thế này càng nguy hiểm, đòi hỏi ý chí cách mạng, tinh thần chịu đựng gian khổ, sẵn sàng hy sinh tính mạng của anh em thủy thủ. Thục tế đã chứng minh: trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, những con tàu không số, những đoàn vận tải quân sự trên biển đã lập nên những chiến công xuất sắc, làm nên kỳ tích "đường Hồ Chí Minh" trên biển, góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc và quân đội ta.
    Tối hôm đó, sau hai ngày hai đêm, tàu quay mũi vào Bến Tre, anh em hồi hộp, thao thức chờ vào bờ, không ai ngủ cả, đến 4 giờ 30 sáng, từ ngoài khơi nhìn vào bờ thấy còn tối lắm. Khi mặt trời ló dạng, vừng đông sau lưng tôi đã hừng sáng, nhìn vào bờ thấy như một đường chỉ màu xanh chạy dài. Tàu đánh tín hiệu nhưng không thấy đất liền trả lời, chúing tôi băn khoăn phán đoán không biết phải cập bến nào, tại sao lại chưa có tín hiệu? hay trong bến địch đang càn quét?....tàu đang chuuẩn bị quay mũi bỗng trườn lên một cồn cát và bị mắc cạn, chúng tôi hè nhau dùng sào cố đẩy tàu ra. Trời sáng, qua ống nhòm, chúng tôi thấy rõ cờ ba que và bọn lính Ngụy đang chạy qua chạy lại trong đồn. Sau một hồi hì hục đẩy tàu vượt qua được bãi cạn, thấy không thể vào bờ, chỉ huy quyết định cho tàu chạy ra khơi về hướng Côn Đảo, cùng lúc, anh em báo cáo có hai tàu địch đang truy đuổi tàu ta, chỉ huy tàu ra lệnh: tăng tốc độ, tàu như xé nước tiến nhanh ra khơi, chỉ huy tàu bình tĩnh nói với chúng tôi: các anh cứ an tâm, tình huống này thường xảy ra nhưng không sao đâu, vì tàu ta nhỏ tốc độ nhanh, tàu địch lớn tốc độ chậm, chúng chỉ rượt theo một đoạn rồi bỏ cuộc. Thật vậy, khi tàu ta ra đến hải phận quốc tế thì không thấy tàu địch đâu nữa.
    Trước tình hình này, chỉ huy tàu điện báo cáo gấp ra Bộ Tổng tư lệnh - Hà Nội và nhận được ý kiến của đồng chí Văn Tiến Dũng: cứ cho tàu chạy thẳng ra hải phận quốc tế, 14 giờ quay về Cà Mau, lấy đèn pha trên bót địch ở Hòn Khoai làm chuẩn, đáp vào bến của Quân khu 9, sẽ có người đón.
    Đến 18 giờ, trời tối sẫm, tàu đưa chúng tôi tiến dần vào bến, thấy rõ ngọn đèn pha trên đồn địch ở Hòn Khoai, một điểm thuộc địa phận tỉnh Cà Mau, tại đây, có đồn địch do một Đại đội bảo an chốt giữ, tuy có đồn địch, nhưng quanh khu vực vào ban đêm lại do du kích ta làm chủ, tàu vào gần bờ. đánh tín hiệu, chúng tôi thấy có bốn, năm ngọn đèn pin nhấp nháy trả lời....20 giờ, tàu tắt máy, cùng lúc có một đoàn ghe nhỏ sáu chiếc lao ra, nhiều ánh đèn pin quay tròn tỏ ý vui mừng rồi cặp sát hướng dẫn tàu cặp bờ.
    21 giờ đêm, tàu cập bến, đất liền đây rồi, anh em đồng chí, đồng đội đây rồi, chúng tôi ôm lấy nhau mừng vui khôn siết, anh em thủy thủ cũng vui lây rồi cùng chúng tôi lưu luyến chia tay nhau, sau những giây phút lựng khựng từ tàu bước xuống đất, chúng tôi cảm thấy hoàn toàn khỏe mạnh, như được hơi nóng của đất mẹ tiếp sức, bao nhiêu nhọc nhằn, mệt mỏi chen lẫn những căng thẳng, lo âu sau mấy ngày đi biển như được rũ sạch.

  10. #9
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    ĐƯỜNG VỀ BỘ TƯ LỆNH MIỀN

    Từ Bắc vào Nam theo đường biển, chúng tôi chỉ mất ba ngày ba đêm, nhưng đường đi bộ từ căn cứ U Minh (Quân khu 9) về căn cứ R - Bộ Tư lệnh Miền, chúng tôi phải đi mất 45 ngày.
    Đi đường nào cũng gian nan cả, rời căn cứ U Minh, chúng tôi đã bước vào vùng tạm chiếm. Sau nhiều năm xa cách, nay trở về nhìn thấy cảnh đồn bót địch giăng đầy, xóm dân nào cũng có đồn địch, đường bộ nào cũng có tháo canh và thường xuyên bị địch phục kích lòng chúng tôi quặn đau, những nơi có đất khô ráo là vùng đông dân đều bị địch chiếm đóng, lập ấp chiến lược nên đường đi của ta thường phải cắt qua vùng sình lầy, sông rạch chia cắt, gian nan nhất là khi phải vượt qua các lộ, muốn vượt, trinh sát phải bám địch, nắm chắc địch rút, lộ trống, liên lạc cho tín hiệu thì đoàn khách mới được vượt qua, trong lúc chờ đợi, không cách nào khác hơn là phải ngồi chờ, gặp bờ ruộng còn được khô ráo chút ít, gặp sình lầy thì phải ngồi dưới nước, chịu cho vắt, muỗi mòng cắn. Có trường hợp vượt lộ. khách phải bì bõm lội năm ba trăm mét....trời sáng, cả đoàn khách phải ém mình trong các bụi ô rô, lau sậy, chờ trời tối mới đi tiếp được.
    Chúng tôi, ai cũng rất mệt, căng thẳng, nhưng mệt nhọc,gian khổ hơn vẫn là anh chị em giao liên. Suốt thời gian dài làm nhiệm vụ đưa rước khách, họ đã phải vượt qua bao khó khăn, nguy hiểm, những điều chúng tôi nhận thấy ở anh chị em là luôn lạc quan, hăng hái, quyết tâm bảo vệ an toàn cho các đoàn khách, lấy việc đảm bảo an toàn cho khách là niềm vui, anh chị em giao liên là những người có kinh nghiệm ngụy trang, đánh lừa địch, thu hút chúng về một hướng để tạo khoảng trống cho khách vượt qua, nhiều lúc chúng tôi thấy anh chị em như làm xiếc với địch, họ tận dụng từng thời cơ trong từng phút để che mắt chúng, tạo điều kiện cho khách vượt qua an toàn. Khẩu hiệu hành động của anh chị em là: "chấp nhận gian khổ để đảm bảo an toàn" . Nhiều đoàn khách dông, nhiều cán bộ cao cấp, lớn tuổi....đều cảm phục tinh thần, nghị lực, đức tính không kêu ca phàn nàn gì của anh vhij em giao liên.
    Suốt dọc chặng đường đi, gặp các khu căn cứ lớn ở Trà Vinh, Bến Tre, Đồng Tháp, chúng tôi có điều kiện nghỉ vài ba ngày bồi dưỡng để có sức đi tiếp.
    Chỉ còn hai ngày đường nữa là tới căn cứ Dương Minh Châu, chúng tôi phải vượt qua những cánh đồng bát ngát vùng Đức hòa, Đức Huệ (Long An), đoạn đường này không nguy hiểm vì nơi này có phong trào du kích chiến tranh phát triển mạnh, bao vây địch ở trong đồn. Địch hoạt động ban ngày, nhưng tối đến, mọi hoạt động lại thuộc về ta, các đoàn khách đi vào ban đêm, nhưng cũng phải đảm bảo an toàn, bí mật, nếu bị các đồn địch phát hiện, chúng sẽ gọi pháo bắn vào đội hình ta.
    Đoàn chúng tôi băng qua Đồng Tháp Mười, bước chân lên đất Đức Hòa cũng là lúc đồng bào đang vào vụ cày ruộng, trời đã đổ một vài cơn mưa, không khí đã dịu mát hơn, chúng tôi băng đồng, vượt cả ngàn hec ta, đi một mạch không nghỉ từ tối tới gần sáng, đường cứ cắt thẳng, cứ đạp lên đất cày mà đi tới, kẹt nỗi gặp đất mới cày, từng mảng đất còn cứng, trời lại mới đổ mưa, phải bám tốp mở đường nên đi rất trơn trượt, té lên, té xuống, nhưng cố giữ cũng không được nên ai cũng bụng bảo dạ: đã té cho té luôn....cứ thế đi ào, đi đại, cứ thế đứng lên, té xuống, cả đoàn, nhìn ai cũng như hình nộm, trừ hai con mắt, còn từ đầu đến tay chân, ba lô đều đầy bùn đất, nước ruộng.
    Gần sáng, chúng tôi đến bờ sông Vàm Cỏ, nhìn sang bên kia là Lộc Giang, vùng giải phóng lớn của tỉnh Long An, cả đoàn không ai bảo ai đều ào xuống sông tắm rửa, giặt giũ....nhìn lên bờ, mấy cậu giao liên ngồi hút thuốc tỉnh bơ như không có chuyện gì xảy ra cả.
    Chúng tôi nghỉ ở Lộ Giang hai ngày để dưỡng sức rồi hành quân tiếp một đêm nữa mới tơi trạm liên lạc Bời Lời, địa đầu căn cứ Dương Minh Châu (Tây Ninh) cửa ngõ về Bộ Tư lệnh Miền.
    Vào trạm, mới ngồi nghỉ chừng 15 phút, chúng tôi thấy một giao liên ra báo oang oang:
    - Chú nào về rờ (R) xin cử người vào gặp Đại tướng.
    Cả tốp chúng tôi sững sờ, nhìn nhau, lạ nhỉ, cả nước chỉ có Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, còn Đại tướng nào ở đây nữa?
    Tôi đứng dậy vào coi ra sao, trời đất! té ra là trạm trưởng giao liên Bời Lời, tôi vừa nín cười vừa nhìn "Đại tướng": người cao gầy, chân đầy lông, tóc hớt cao gần như trọc, mặt hiền nhưng râu ria không cạo, mọc tua tủa rất "mất trật tự", "Đại tướng" mặc áo thun ba lỗ, quần cụt, đang ngồi chồm hổm trên ghế.
    Biết chúng tôi mới từ miền Bắc vào, trưởng trạm đón tiếp rất thân tình, lại còn mời: mấy anh ở lại chơi vài hôm, tui tổ chức đi bắn kiếm thịt rừng về bồi dưỡng rồi mấy anh nói chuyện miền Bắc cho nghe.
    Tôi từ chối và yêu cầu anh tổ chức cho chúng tôi về Bộ Tư lệnh Miền gấp, vì đi đường lâu quá rồi, xong việc, tôi thân tình hỏi:
    - Tại sao anh chị em ở đây kêu anh là "Đại tướng" vậy?
    Trưởng trạm cười ngất nói:
    - Tôi thường nóng tính, anh em làm sai tôi hay rầy la, anh em phê bình nói tôi: làm như mình là Đại tướng vậy. Họ kêu riết rồi quen, chứ Đại tướng gì tôi, làm lính quèn cũng không xong.
    Được dịp tôi "khơi ngòi" trưởng trạm kể tiếp:
    - Các anh ở "ngoải" mới vô nên không biết, chứ ở đây anh em thường đặt và kêu theo bí danh, có cái tên nghe mắc cười lắm, gian khổ quá nên kêu cho nó vui đấy thôi.
    Trưởng trạm nhìn tôi, hóm hỉnh tán như đã quen nhau từ lâu rồi:
    - Nói thêm anh nghe: ở cơ quan gần đây thôi, có anh kêu là anh Tư bò cái, anh Sáu thương con, anh Năm gió cuốn, anh Hai gò mối, chi Ba Bazoka....còn nhiều nữa.
    Chưa hết, trưởng trạm giải thích gioéi thiệu rõ từng cái tên vui ấy cho tôi nghe:
    -Anh Tư bò cái hiện làm quản trị cơ quan, hai năm trước, anh đi kháng chiến nhưng rất thương con bò cái để ở nhà không ai chăm sóc nên dắt luôn vô cơ quan, chẳng may, con bò bị rốc két địch bắn chết, anh cho anh em cơ quan làm thịt ăn, nhưng anh ngồi khóc, anh em đặt anh tên là Tư bò cái, nay, ký tên vào các phiếu, "ảnh" cũng ký là Tư bò cái luôn.
    Trưởng trạm e hèm, mặt tỉnh bơ tiếp luôn:
    - Còn cái tên ông Sáu thương con, tội nghiệp "ổng" gần 50 tuổi, làm việc rất tích cực, nhưng tối lại ít ngủ, hay ngồi đăm chiêu...anh em bảo: ông Sáu nhớ vợ, nhưng bảo là nhớ con, anh em đặt thêm, ông Sáu miệng nói thương con, che lòng nhớ vợ, thế là ông Sáu thương con trở thành tên thường gọi của "ổng", vào làng, hỏi ông Sáu thương con ai cũng biết, còn cái tên cúng cơm của "ổng" không ai biết cả.
    Câu chuyện còn dài nhưng tới giờ giao liên dẫn chúng tôi đi rồi, tôi giã từ "Đại tướng" trưởng trạm giao liên Bời Lời với tình cảm thương mến, tính tình cởi mở hóm hỉnh của anh.
    Trên đường hành quân, trong chiến khu hay ở các binh trạm....dù gian khổ, ác liệt, chúng ta vẫn thường gặp những cây tiếu lâm với những câu chuyện vui như thế. Đó là những chấm màu đẹp, góp phần điểm tô cho bức tranh hoành tráng, sinh động đầy tinh thần lạc quan về một thời kháng chiến của quân và dân ta.

    TRỞ LẠI QUÂN KHU 9

    Về đến Bộ Tư lệnh Miền, sau hai ngày nghỉ ngơi ở Cục chính trị, chúng tôi vào gặp anh Lê Chân (Lê Văn Tưởng - Phó chính ủy Bộ Tư lệnh Miền) anh thay mặt Bộ Tư lệnh Miền giao nhiệm vụ:
    - Đồng chí Đặng Quang Long, (lấy bí danh là Tám Quang) về làm chủ nhiệm chính trị Quân khu 9.
    - Đồng chí Lương Văn Nho (lấy bí danh là Hai Nhã) làm Phó tư lệnh pháo binh Miền.
    Trung tướng Trần Văn Trà, Ủy viên trung ương Đảng, Phó Tổng tham mưu trưởng, Tư lệnh Miền* cũng tới gặp, tôi báo cáo thêm:
    - Thưa anh, đường từ đây tới đó xa, mất nhiều thời gian, sao anh Tư (Tư Chi, bí danh của đồng chí Trần Văn Trà) không điện để Quân khu 9 giữ tôi ở dưới đó luôn?
    Anh Trà tỏ ý thông cảm, thân mật nói:
    - Bộ Tư lệnh Miền vừa mới trao đổi, thống nhất giao nhiệm vụ cho các đồng chí mới vừa hôm qua thôi, ta đang phát triển lực lượng, thiếu cán bộ lắm, nên phải thay đổi luôn, anh Tám Quang về Quân khu 9 ráng củng cố xây dựng lực lượng, ở đó còn sáu Trung đoàn sắp vê R vào cuối năm.
    Tôi điện cho anh Chín Hồng (đồng chí Đồng Văn Cống, Tư lệnh Quân khu 9) nhờ anh điện giới thiệu trước với các tỉnh đội để trên đường về tôi ghé thăm bàn công tác Đảng, công tác chính trị, nắm tình hình luôn.
    Được đi theo đường đặc biệt nên đúng 15 ngày sau, tôi đã có mặt ở Bộ tư lệnh quân khu 9, do có điện giới thiệu trước, trong 15 ngày ấy, tôi đã làm việc được với các tỉnh đội Long An, Cần Thơ....và được tiếp đón giúp đỡ tận tình.
    Đặc điểm nổi bật của Quân khu 9 so với toàn Miền lúc này là: địa bàn rộng, nhân lực, vật lực lớn, cũng do vậy, địch ra sức bình định, hệ thống đồn bót, ấp chiến lược giăng giăng, nhưng sức địcg cũng có hạn, với ta, địa bàn này có nhiều vùng giải phóng lớn, tỉnh và khu đều có căn cứ địa, nhất là căn cứ U Minh, một vùng rừng, lạch, địch không sao đụng đến được.
    Tinh thần cách mạng quần chúng cao, cơ sở Đảng, đoàn thể quần chúng của ta mạnh, có mặt đều khắp.Mặc dù địch ra sức dồn quân bắt lính, nhưng lực lượng thanh niên trên địa bàn Quân khu 9 tình nguyện vào bộ đội rất đông, lương thực, thực phẩm không thiếu....như vậy, Quân khu 9 có thuận lợi trong việc hội đủ ba điều kiện để xây dựng lực lượng, có căn cứ địa, có lực lương thanh niên đông đảo, có lương thực, thực phẩm đầy đủ.
    Riêng lực lượng vũ trang Quân khu 9 lúc này đã hình thành đủ ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích được tổ chức từ khu, tỉnh đến huyện, xã. Đặc biệt, khu có nhiều Trung đoàn chủ lực và lực lượng pháo khá mạnh, hệ thống chỉ huy, hệ thống công tác chính trị cũng đã hình thành đầy đủ từ trên xuống dưới, tuy vậy, qua nghiên cứu tìm hiểu, tôi thấy nhiều mặt còn yếu, chất lượng chiến đấu chưa cao, thương vong còn nhiều.
    Tôi trình bày một số ý kiến, được Bộ Tư lệnh Quân khu chấp nhận như cần tăng cường về công tác Đảng, công tác chính trị, nhất là đối với cấp cơ sở Đại đội, một số mặt còn lỏng lẻo. Bộ Tư lệnh Quân khu cũng nhất trí đánh giá: thành phần bộ đội chủ yếu xuất thân từ nông dân, anh em hăng hái, chiến đấu tốt, tuy nhiên, nếu không phát đông, giáo dục thường xuyên tính giai cấp, đén lúc nào đó, anh em dễ phát sinh thỏa mãn, phát sinh tính tự do, tản mạn, lơ là chiến đấu, đồng chí Hoài Pho, Phó Tư lệnh Quân khu nói:
    - Ý kiến anh Tám quang như vậy là chính xác, nhiều đơn vị xuất hiện những nhược điểm này rồi.
    Là cán bộ chỉ huy quân sự, anh Hoài Pho rất nhiệt tình ủng hộ những đề xuất công tác chính trị và nhận xét của tôi.

    Cơ quan chính trị Quân khu 9 lúc này đã được tổ chức khá hoàn chỉnh, quân số khá đông, có đến hàng trăm cán bộ nhân viên, nhưng qua kiểm tra, nắm tình hình chúng tôi thấy số anh em hiểu biết nghiệp vụ, tinh thông công tác không nhiều.Một số đồng chí đã triển khai được nhiều việc như anh Chín Phi - Phó chủ nhiệm, anh Sáu Hoài - Trưởng ban tổ chức, anh Nho - Trưởng ban cán bộ.

    Công việc đầu tiên của chúng tôi là lo kiện toàn hệ thống chính trị và cơ quan chính trị từ quân khu đến tỉnh đội, tổ chức công tác chính trị các huyện đội. Tiếp đó, chúng tôi lo tổ chức một hội nghị các bí thư chi bộ toàn quân khu, đây là một hội nghị lớn, số cán bộ tham gia hơn 250 người, bàn hai nội dung chính:

  11. #10
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    - Xác định vai trò, vị trí chi bộ Đại đội chiến đấu và chi bộ cơ quan (bàn sâu về nội dung lãnh đạo của chi bộ Đại đội về chính trị, tư tưởng gồm những vấn đề gì).
    - Công tác tư tưởng trong giai đoạn trước mắt (bàn sâu vào công tác phát động tư tưởng: chiến đấu để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp).
    Nội dung kể trên gồm những vấn đề lớn về lý luận và thực tiễn. Tôi và anh Sáu Hoài phải chuẩn bị ròng rã ba tháng trời mới xong.
    Hội nghị này được khai mạc vào tháng 2 năm 1964 tại một điểm thuộc vùng giải phóng Đầm Dơi, anh hoài pho chân tình tâm sự với tôi:
    - Mình về đây mấy năm rồi mà chưa dám tổ chức một cuộc họp 100 người, các cậu dám tổ chức hội nghị 250 đại biểu là gan lắm đấy.
    Anh Hoài Pho nói cũng có lý, nhưng thực ra đây không phải là vấn đề gan dạ, quan trọng là đánh giá khả năng nếu địch đánh vào Đầm Dơi sẽ như thế nào? Để tổ chức hội nghị, chúng tôi phải tính toán trước: cho các tổ quân báo chốt ở các vị trí xuất phát của địch, nếu địch càn quét ta sẽ được báo trước, kịp thời di chuyển. Việc cần đề phòng nữa là địch dùng máy bay đánh phá, chúng tôi chọn địa điểm hội nghị phải đảm bảo bí mật, các xuồng, ghe đưa đại biểu tới hội nghị phải được ngụy trang, dù địch phát hiện có hội nghị lớn của ta, cho máy bay đánh phá cũng không dễ trúng mục tiêu (thời điểm này, không quân địch còn yếu, chưa có máy bay B52 ném bom rải thảm như sau này).
    Chúng tôi thông qua chương trìng, nội dung hội nghị, Bộ tư lệnh Quân khu thống nhất và chỉ thị thêm các cơ quan tham mưu, hậu cần Quân khu tăng cường công tác bảo đảm cho hội nghị, Quân khu cũng cử đồng chí Mười Ký, Khu ủy viên, Đảng ủy viên Quân khu cùng tôi trực tiếp chỉ đạo hội nghị.
    Hội nghị kéo dài 12 ngày, tập trung bàn sâu vào các nội dung đã dự kiến từ trước, kết quả hội nghị rất tốt, anh em về dự đủ thành phần từ bí thư chi bộ Đại đội đến Trung đoàn, các cơ quan tỉnh đội và quân khu. Không khí hội nghị rất phấn khởi, anh em như một lần được tập huấn, giải quyết, tháo gỡ được nhiều vấn đề gai góc, lúng túng trong nhận thức và thực hiện công tác Đảng - công tác chính trị trong cơ quan, đơn vị mình.
    Sau hội nghị, anh Mười Ký rất vui nói với tôi:
    - Việc làm của hội nghị rất thiết thực, đáp ứng được yêu cầu của anh em, anh Tám Quang xem mỗi năm có thể tổ chức một hội nghị như thế này được không?
    - Theo ý tôi, việc tổ chức một hội nghị rất là công phu, quan trọng là phải thiết thực mới đạt hiệu quả. Còn sau này làm như thế nào thì cần nghiên cứu, xem xét tiếp.
    Sang đầu tháng 3 năm 1964, Trung ương Cục miền Nam có điện mời các đồng chí: Phậm Thái Bường, trung ương ủy viển, Bí thư Khu ủy Khu 9, Đồng Văn Cống, Tư lệnh Quân khu 9 và tôi, Chủ nhiệm chính trị Quân khu 9 về Miền dự một cuộc họp quan trọng.

    VỀ QUÂN KHU SÀI GÒN - GIA ĐỊNH

    Hội nghị Trung ương Cục miền Nam triệu tập do Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy Miền* chủ trì. Thành phần hội nghị gồm đủ các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, quân đội các quân khu ở miền Nam về dự. Đây là hội nghị cấp cao nhất ở miền Nam bàn và quyết định nhiều vấn đề quan trọng.
    Thời điểm này, cuộc "chiến tranh đặc biệt" do Mỹ, Ngụy tiến hành ở miền Nam đang dần bị phá sản> Sau Đồng Khởi 1960, những thắng lợi liên tiếp về quân sự cùng phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân ta, nhất là ở các đô thị dâng cao, đẩy địch vào thế bất lợi, lúng túng, xuất hiện khả năng chúng có thể thay đổi sách lược chiến tranh mới. Chính quyền Mỹ ở tình thế: hoặc lựa chọn tiếp tục can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam hoặc phải chấp nhận thất bại. Đối với Đế quốc Mỹ, tên sen đầm quốc tế, có tham vọng làm bá chủ hoàn cầu, việc chấp nhận thất bại là điều chúng không nghĩ đến, Mỹ chỉ còn sự lựa chọn là lấn sâu vào tội ác như Tổng thống Mỹ Johnson đã bộc lộ: Mỹ phải có mặt ở Việt Nam (Ngụy quyền Sài Gòn) yêu cầu, vì Mỹ đã cam kết 10 năm trước đây..
    Trung ương Đảng ta cũng đã dự kiến tình hình và nhận định: trường hợp Mỹ vẫn bất chấp thất bại của "chiến tranh đặc biệt", tiếp tục can thiệp bằng quân đội Mỹ vào miền Nam, biến cuộc "chiến tranh đặc biệt" thành cuộc "chiến tranh cục bộ" thì xu thế chiến tranh vẫn không thay đổi: Mỹ - Ngụy vẫn ở thế thua, tính chất chiến tranh dù có thay đổi, nhưng thế thua là thế của Mỹ, thế thắng là thế của ta.
    Trên cơ sở quán triệt các nghị quyết, tinh thần nhận định và ý đồ chỉ đạo của Bộ chính trị và Trung ương Đảng, trong hội nghị này, Trung ương cục miền nam đã đề ra kế hoạch: đón thời cơ thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa giành thắng lợi quyết định, mang mật danh: "kế hoạch X", địa bàn trọng điểm của kế hoạch này là Sài Gòn - Gia Định.
    Tại hội nghi9j, trung ương Cục miền Nam có một báo cáo thuyết phục cao trong việc đánh giá địch, ta, vạch rõ xu thế chiến tranh để đi tới kết luận: phải tạo ra đòn bẩy để xoay chuyển toàn bộ tình hình, thúc đẩy tình hình chuyển biến có lợi cho cách mạng, gây bất lợi cho địch, tạo điều kiện thúc đẩy phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ Mỹ và nhân dân thế giới thành cao trào, buộc Mỹ phải rút quân, đưa quân Ngụy vào thế cô lập về chiến lược, tạo ra một chuỗi thất bại liên tiếp, đi đến thất bại hoàn toàn.
    Qua 10 ngày làm việc, hội nghị đã đi đến thống nhất, quyết tâm cao: dốc toàn bộ sức lực, thực hiện cho được "Kế hoạch X".
    Trong thời gian hội nghị, Bộ Tư lệnh Miền cũng bàn kế hoạch tác chiến và xây dựng lực lượng, trong đó có vấn đề nhân sự để củng cố các bộ tư lệnh quân khu.
    Thông thường, ở đâu cũng vậy, vấn đề nhân sự thường đụng chạm đến ý nguyện của nhiều người và tạo ra sự bàn tán....
    Tôi có suy nghĩ: mình là bộ đội của dân, cán bộ của Đảng, Đảng phân công mình đi đâu thì đi đó, làm việc gì vì dân thì tận tâm, tận lực nên không gì phải đắn đo, suy tính cả. Hơn nữa, tôi mới về Quân khu 9 nên chắc là an tọa ở đây rồi....nhưng "Kế hoạch X" xác định quân khu Sài Gòn - Gia Định là trọng điểm thì chắc sẽ có thay đổi trong lãnh đạo chỉ huy ở đấy, anh Trần Đình Xu, Tham mưu Phó Miền đã có quyết định về làm Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định rồi, vậy còn gì nữa không?
    Đúng vậy, vào sáng ngày cuối của hội nghị, đồng chí Thiếu tướng Lê Trọng Tấn mời chúng tôi lại công bố:
    - Đồng chí Nguyễn Văn Tư (Tư Râu) về làm Chủ nhiệm chính trị quân khu 9 thay đồng chí Đặng Quang Long.
    - Đồng chí Hoàng Thế Thiện về làm Chủ nhiệm chính trị Quân khu 8.
    - Đồng chí Đặng Quang Long (Tám quang) về làm Chủ nhiệm chính trị Quân khu Sài Gòn - Gia Định.
    Sự thay đổi quá đột ngột, từ trước tới nay, tôi hoạt động ở miền Đông, quen thuộc với chiến trường miền Đông hơn. Thời gian vừa qua, tôi về quân khu 9 thật ra vì không quen sông nước cũng vất vả. Nay tôi được trên điều về Quân khu Sài Gòn - Gia Định lòng tôi rất phấn khởi, riêng anh Tư Râu có nhiều băn khoăn....anh Tư Chi (Trần Văn Trà) ôn tồn giải đáp:
    - Việc này Quân ủy Miền cũng đã cân nhắc kỹ, anh Tư Râu về quân khu 9. ban đầu có khó khăn, vì không quen chiến trường này, nhưng ở đâu cũng vậy, có làm thì sẽ có biết, rồi sẽ quen. Hơn nữa, việc thuyên chuyển cán bộ còn tiếp diễn, không phải lần này là lần chót.
    Anh Đồng Văn Cống cũng thêm ý kiến:
    - Việc chuyển đồng chí Tám Quang về Quân khu Sài Gòn - Gia Định chúng tôi không có ý kiến gì, nhưng đề nghị cho đồng chí Tám Quang trở lại Quân khu 9 để truyền đạt nghị quyết hội nghị, bàn giao công việc cho đồng chí Tư Râu rồi trở lên Quân khu Sài Gòn - Gia Định sau.
    Anh Lê Trọng Tấn, người rất trực tính, có ý kiến ngay:
    - Việc truyền đạt nghị quyết đối với Quân khu 9 còn có anh Bường, anh Cống, nay công việc rất khẩn trương nên anh Tám Quang không đi Quân khu 9 nữa mà về Quân khu Sài Gòn - Gia Định ngay. Nếu có gì phải bàn giao, anh Tám Quang báo cho anh Cống và anh Tư Râu ở đây cũng được.
    Sáng hôm sau, Bộ Tư lệnh Miền điều cho tôi một cần vụ và một tổ vệ binh lên đường ngay, chúng tôi dùng xe đạp, đi thẳng một mạch về Gót Chàng, xã Nhuận Đức - Củ Chi gặp Phòng Chính trị Quân khu Sài Gòn - Gia Định. Có thể nói, đối với tôi, bắt đầu tư đây, thực sự bước vào một cuộc chiến đấu mới, đầy cam go, thử thách.
    *Tháng 10 năm 1964, Bộ Chính trị cử Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương vào chiến trường làm Chính ủy Miền. Cùng vào chiến trường đợt này có Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Thiếu tướng Trần Độ, Đại tá Hoàng Cầm và nhiều cán bộ cao, trung cấp có nhiều kinh nghiệm xây dựng bộ đội chủ lực và chỉ huy đánh lớn - Sách đã dẫn - tr 198, 199.

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •