CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 6 của 6 Đầu tiênĐầu tiên ... 456
Kết quả 51 đến 55 của 55

Chủ đề: Hồi ký Thiếu tướng Đặng Quang Long - Nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 7

  1. #51
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    ĐÁNH DIỆT XE TĂNG MỸ

    Càng dấn sâu vào chiến tranh,, càng tăng thêm tội ác, địch càng làm tăng thêm lòng căm thù, quyết đánh và quyết thắng Mỹ của quân và dân ta. Cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ chống lại nhân dân Việt Nam đã tạo nên làn sóng phản đối của nhân dân thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ. Trước sức ép của dư luận, lực lượng bị tiêu hao, gia tăng ngày càng nhiều, nội bộ giới cầm quyền Mỹ rối ren, tiến thoái lưỡng nan.....Nhằm trấn an dư luận, tìm cách rút dần ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam trong cái gọi là "danh dự" của tên trùm đế quốc, việc đầu tiên của Mỹ là làm mọi cách giảm quân số thương vong.
    Trên chiến trường, nhất là vùng có phong trào du kích mạnh, quân Mỹ hạn chế hành quân bằng bộ binh. Từ nhiệm vụ yểm trợ trước dây, chúng thay đổi, cho xe tăng bung ra hành quân. Các đơn vị bộ binh Mỹ được chia thành các phân đội nhỏ ngồi trên xe tăng kết hợp tác chiến. Sự thay đổi chiến thuật của địch cũng gây cho ta không ít khó khăn về tâm lý, cách đánh. Xe tăng địch cũng dùng hình thức ngụy trang, nghi binh, cũng giương đông, kích tây, tập kích, bao vây, vu hồi, thọc sâu, chia cắt. Những ngày đầu, khi ta chưa có cách đối phó, địch cho từng trung đội tăng (3 chiếc), có lúc cho cả đoàng tăng phục kích, chạy càn, ủi bừa vào vườn tược, chuồng trâu, chuồng bò, giếng nước....của dân. Nhân dân Củ Chi có truyền thống đấu tranh với địch, nhưng những ngày đầu còn e ngại với xe tăng địch, thấy chúng làm tới, dân chúng uất ức quá, bắt đầu đấu tranh, từ lẻ tẻ sau sau tập hợp thành từng đoàn người chặn đầu xe tăng địch đòi chúng phải rút, phải bồi thường thiệt hại. Địch cũng hứa hẹn qua loa rồi bỏ, không thực hiện yêu sách của dân. Trong khi đó, bộ đội, du kích còn e dè, thúc thủ, chưa biết phải tổ chức đánh xe tăng địch như thế nào.
    Có một sự việc đã làm rung động mọi người: anh Trịnh Tuấn Đông, Trưởng Ban tổ chức Phòng Chính trị, Quân khu Sài Gòn - Gia Định đi công tác ra Đồng Lớn, xã Phước Hiệp. Khi anh ra khỏi rừng chừng 150 mét thì bị ba xe tăng địch ngụy trang, phục kích sẵn ở bìa rừng, chia thành ba mũi, lao ra bao vây, chặn bắt. Anh Đông cố chạy để thoát nhưng địch không cho xe tăng cán chết mà chạy chầm chậm, dồn ép anh đến đuối sức, không chạy được nữa, phải nằm bẹp xuống ruộng. Một xe địch dừng lại, cho xích xe vừa chạm tới người anh Đông, sau đó, một tên nhảy xuống, nắm áo, bốc anh đưa lên tháp pháo xe tăng rồi cho xe chạy chậm khắp xóm để hù dọa, uy hiếp quần chúng. Thấy rõ hành động của địch hành hạ anh Đông như vậy, nhiều người dân uất ức, bật khóc. Câu chuyện lan truyền, gây thêm nỗi hoang mang, lo sợ xe tăng địch trong dân chúng.
    Hàng ngày, cả đoàn xe tăng địch vẫn bung ra càn quét, tối đến, về co cụm lại ven lộ 1, trong xóm dân. Chưa có cách trừng trị chúng, không hiểu tình hình rồi sẽ đi đến đâu? Riêng tôi suy nghĩ: mình đã từng là cán bộ ở đơn vị xe tăng, được học tập về kỹ thuật, chiến đấu về xe tăng, tại sao lại không thể nghĩ ra cách đánh xe tăng địch? Mỗi loại vũ khí, trong đó có xe tăng địch, đều có mặt mạnh, mặt yếu của nó. Vậy mặt yếu của xe tăng là gì? Để đánh thắng, phải khoét sâu những hạn chế, điểm yếu của xe tăng. Những kinh nghiệm và vốn kiến thức nhất định về xe tăng như tái hiện trong đầu tôi. Suốt đêm hôm đó, tôi tập trung nhớ và vẽ sơ lại chiếc xe tăng, vẽ tách từng bộ phận và ghi chú rõ những điểm cơ bản:
    - Tăng có vỏ thép dày ở phần đầu, đạn bắn vào bị trượt, không thủng, nhưng hai bên sườn xe, vỏ sắt mỏng, đạn bắn xuyên thủng được, gây sát thương người trong xe.
    - Tăng có tháp pháo nối liền với thân xe. Nếu pháo ta bắn trúng đường ranh giới giữa tháp pháo và thân xe, có thể làm bứt tung tháp pháo xe tăng địch.
    - Tăng trang bị một pháo 75 ly và một đại liên. Pháo 75 ly bắn rất chính xác do có bộ điều chỉnh, giữ thăng bằng khi xe chạy, cự ly càng gần, tác dụng pháo càng giảm vì không điều chỉnh nòng pháo xuống thấp được. Vì vậy, đánh xe tăng địch phải đánh gần, nếu tăng di động để đến càng gần, càng đánh tốt, nhất là trong khoảng cự ly từ 20 đến 30 mét. Để triệt phá hỏa lực, dùng B40 bắn trúng nòng pháo 75 ly trên xe tăng sẽ làm nòng pháo cong, mất tác dụng.
    - Xích xe tăng làm bằng sắt, có độ dòn, nếu xích xe cán trúng mìn hay bị pháo bắn trúng xích, xe sẽ bị liệt ngay. Một xe bị nằm lại sẽ kéo theo những xe khác phải trợ giúp, lo cứu hộ. Trong một đại đội xe có 10 chiếc, có 2 hoặc 3 chiếc bị hư hại thì đại đội tăng coi như mất sức chiến đấu.
    Giải được bài toán đánh tăng địch, tìm ra được đáp số, tôi rất mừng. Trời vừa sáng, tôi cho liên lạc chạy ngay ra Đồng Lớn mời anh Tư Nhựt, anh Phái trong Ban chỉ huy Tiểu đoàn Quyết Thắng tới họp gấp. Đây là hai cán bộ đầy nhiệt huyết, cả hai anh đều anh dũng hy sinh trong đợt tiến công vào nội đô Sài Gòn - Tết Mậu Thân 1968. Tháng 3 năm 1996, Trung đoàn Gia Định, tiền thân là Tiểu đoàn Quyết Thắng và anh Nhựt được Nhà nước ta tuyên dương và truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
    Tiểu đoàn Quyết Thắng thời điểm này được trang bị 24 súng B40, hỏa lực tốt nhất lúc bấy giờ. Nhưng từ khi địch dùng xe tăng càn quét, đơn vị cũng chưa đánh được trận nào, chưa tìm được cách đánh ra sao, nên anh Nhựt, anh Phái băn khoăn lắm. Nghe tôi phân tích, nêu phương án đánh tăng địch, hai anh rất thích thú, tin tưởng, tôi nói với hai anh:
    - Các anh tìm lựa một gog mối lớn ở giữa cánh đồng Bàu Lách, cho đào một hầm bí mật đủ chứa 10 người, có bốn lỗ quan sát, có thể nhìn rõ mọi hoạt động của địch. (Bàu Lách lúc đó là một vườn cây cao su bị tàn phá thành bình địa. Tại đây, ngày nào địch cũng cho xe tăng càn đi, quét lại). Sau đó, tôi sẽ cùng các anh và bốn đại đội trưởng, một tổ bảo vệ trụ lại tại hầm một ngày để quan sát, chỉ vẽ cho anh em cách đánh.
    Nghe xong, hai anh rất mừng, anh Phái, Chính trị viên Tiểu đoàn hồ hởi ôm chầm lấy tôi nói lớn:
    - Cám ơn chính ủy trung đoàn tăng - thiết giáp, Tiểu đoàn Quyết Thắng nhất định sẽ đánh, diệt được nhiều xe tăng địch.
    Một tin vui đến với chúng tôi: đồng chí Trần Hải Phúng, Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Quân khu Sài Gòn - Gia Định* mang về 20 cây súng B40 và nhiều hòm đạn do Bộ Tư lệnh Miền gửi cho quân khu. Trang bị này lúc đó có giá trị lớn lắm. Đối với chúng tôi, "món quà" này đến thật đúng lúc, như đang khát cháy cổ gặp được dòng nước ngọt vậy, chúng tôi phân, cấp B40 cho các đơn vị, ưu tiên nhiều hơn cho Tiểu đoàn Quyết Thắng.
    Sau bốn ngày, tôi nhận được báo cáo: hầm đã đào xong, ngay trong đêm, chúng tôi vào trụ lại tại hầm, chờ sáng. Hôm sau, trời vừa sáng, tiểu đoàn xe tăng địch càn qua khu vực chúng tôi ém trụ. Anh em vừa cùng nhau quan sát qua các lỗ châu mai vừa nghe tôi (qua các hành động của xe) thuyết minh các điểm yếu của tăng, khoảng cách, cự ly cho phép nổ súng.
    Tiểu đoàn có 34 súng B40 được tập trung lại, chia thành hai tổ, mỗi tổ 17 súng. Biên chế mỗi tổ không quá 30 đồng chí gồm người bắn, tiếp tế đạn và bảo vệ. Mỗi tổ chịu trách nhiệm đánh một cụm tăng (thường từ 20 đến 25 chiếc). Khi phát hiện chúng tập kết ở khu vực nào thì tung trinh sát bám ngay, đến tối tiếp cận, xác định rõ vị trí từng chiếc tăng rồi bàn cách đánh. Phân công cho mỗi súng B40 phải bắn trúng từ 2 đến 3 chiếc tăng.
    Trước đây, trước khi đánh, trinh sát về báo cáo, ban chỉ huy tiểu đoàn tổ chức họp thông qua phương án, thông suốt từ các chi bộ đại đội rồi mới đi đánh. Tôi góp ý: nay tạm gác lại cách làm này. Đánh xe tăng địch nên thông qua phương án tại chỗ rồi nổ súng ngay trong đêm.
    Trận đầu, anh Nhựt, Tiểu đoàn trưởng, anh Phái, Chính trị viên Tiểu đoàn mỗi người phụ trách một tổ đi tìm và đánh hai cụm xe tằng địch để sau đó về rút kinh nghiệm.
    Bàn bạc, thống nhất xong, trong khi chờ tối mới rút ra khỏi hầm bí mật, chúng tôi ăn nốt thức ăn còn lại rồi lăn ra ngủ một giấc say sưa. Đăt trong hoàn cảng xe tăng địch đang "làm mưa, làm gió" dọc ngang càn quét, nay đã có cách trừng trị chúng, lại sẵn vũ khí trong tay, chúng tôi rất vui, thoải mái, giải tỏa được nỗi bức xúc lâu nay.
    Một ngày sau, hai đội săn, đánh tăng đã được tổ chức xong. Đem đó, cụm tăng 25 chiếc của địch ban ngày càn quét, chiều về cụm lại ở Bầu Tròn bị đội của anh Phái diệt 25 chiếc, cả tiểu đoàn rút kinh nghiệm ngay và liên tục sau đó diệt 21 xe ở Mội Nước Nhĩ**, 18 xe ở Bầu Kính, 23 xe ở Bầu Mây và 17 xe ở Bầu Lách. Như vậy, chỉ trong một tháng, ta đã diệt được sáu cụm xe tăng địch. Khi bấo cáo kết quả về Miền, anh Trần Văn Trà chỉ thị cho Quân khu kiểm tra kỹ lại số lượng xe tăng địch bị diệt. Tại hiện trường, nhiều xác xe bị cháy, sắt thép bị chảy do đạn B40 còn để lại là bằng chứng cho thất bại của quân Mỹ.
    Đây là thắng lợi to lớn của quân, dân Củ Chi. Nhân đà thắng lợi, Phòng Chính trị Quân khu đã tổ chức rút kinh nghiệm đánh xe tăng địch và kết luận: Không phải chỉ có chủ lực với vũ khí như B40, B41 mới đánh được tăng mà bộ đội địa phương, du kích đều có thể đánh được tăng bằng các loại vũ khí: mìn, hầm gài mìn....Cũng nhân đà này, ta phát động phong trào đấu tranh của quần chúng, ngăn chặn các hành động càn quét của các xe tăng địch vào các làng xã. Quân khu Sài Gòn - Gia Định phát động phong trào đánh xe tăng địch, giành danh hiệu "Dũng sỹ diệt cơ giới". Phong trào chiến tranh du kích lại thêm một cơ hội phát triển. Xã nào cũng có xưởng đặt dưới địa đạo làm mìn, trái đánh tăng. Du kích lập các tổ sưu tầm bom, đạn lép lấy thuốc rồi cử người tìm cách mang về cho du kích chế tạo vũ khí đánh địch. phong trào toàn dân đánh giặc phát triển, thực sự mang đầy đủ ý nghĩa của nó.
    Địch bị đánh đau, đi lẻ hay đi cụm đều bị đánh nên rất hoảng sợ, bớt hung hăng hơn. Ban ngày chúng vẫn bung ra càn quét, nhưng chiều tối buộc phải đối phó bằng cách rút về tận Hóc Môn, Thành Quận Năm trú quân.
    Cuối tháng 4 năm 1967, anh Trần Đình Xu và tôi được mời về dự hội nghị Khu ủy mở rộng tại rừng Rạch Kiến. Tối hôm đó, vừa đến nơi thì được vệ binh báo cáo: hồi chiều, có một cụm xe tăng 25 chiếc của địch từ thị xã Bình Dương kéo ra tập kết tại đồi Rạch Bắp, cách nơi tổ chức hội nghi chừng 4km. Không biết chúng có ý đồ gì? như vậy, hội nghị sẽ bị uy hiếp, cần phải di chuyển, sau một hồi bàn bạc, anh Xu có ý kiến:
    - Phải đánh, anh Tám Quang điện về Tiểu đoàn Quyết thắng gấp, đưa ngay đến đây một đội đáng tăng để ngay đêm nay tập kích diệt cụm tăng này. Chớ để trễ vì ngày mai nhất định chúng sẽ bung ra càn quét.
    Tính toán thời gian, tôi nói với anh Ba Đình (anh Trần Đình Xu) cho trinh sát bám ngay cụm tăng, đồng thời tôi điện ngay (lúc 7 giờ tối) cho Tiểu đoàn Quyết Thắng: đưa ngay đội đánh tăng sang bến Rạch Kiến lúc 23 giờ đêm nay, có chúng tôi đón.
    Đêm đó, tôi và anh Trần Đình Xu ra bến Rạch Kiến ngồi chờ. Đúng 23 giờ, chúng tôi nghe tiếng động vọng sang từ phía bờ bên kia sông Sài Gòn. Ngồi ép sát mặt nước, tôi tập trung quan sát và nói với anh Xu: "Anh em đang bơi sang". Chúng tôi rất mừng, xúc động nhìn anh em như một bầy gấu, dàn hàng ngang đang bơi, lại bơi rất giỏi. Nhìn 30 anh em do chính tiểu đoàn trưởng Nhựt chỉ huy đưa sang Rạch Kiến đúng giờ quy định với đầy đủ súng B40 và đạn, tất cả lên bờ đều mình trần, quần cụt chịu lạnh, lòng tôi dậy lên cảm xúc, tự hào về cán bộ, chiến sỹ Tiểu đoàn Quyết Thắng, không quản ngại gian khổ, khó khăn, sẵn sàng chiến đấu tốt. Anh Sáu Dân (đồng chí Võ Văn Kiệt) cho người mang ngay ra bến tặng anh em một cây thuốc Samit. Vừa từ dưới nước lên, có ngay thuốc hút, anh em rít những hơi dài thật đã. Những đốm lửa thuốc lập lòe trong bóng đêm sưởi ấm lòng, tăng thêm hưng phấn chiến đấu. Phổ biến xong kế hoạch, thấy khí thế anh em, chúng tôi như nắm chắc phần thắng. Chừng 23 giờ 30 phút, bỗng nghe thấy tiếng máy nổ, tiếng xích xe tăng ầm ầm chạy ra hướng Bình Dương, trinh sát chạy về báo cáo: không biết rõ tại sao cụm xe tăng địch đã rút chạy cả rồi....
    Tôi đề nghị: cho anh em rút về Củ Chi gấp. Đêm nay, chắc chắn địch sẽ dùng B52 đánh khu vực này. Anh Trần Đình Xu trao đồi với anh Sáu Dân cho hội nghị rút, chuyển hướng Đường Long ngay trong đêm. Quả thật, sáng sớm hôm sau, máy bay B52 ào tới ném bom rải thảm kéo dài từ lộ 7 lên ven các cơ sở cao su đến Rạch Kiến.
    Sau đó, chúng tôi được điệp viên của ta ở Bình Dương báo cáo: do địch bắt được nội dung điện của ta không dùng mật mã, nói rõ: đưa Tiểu đoàn Quyết Thắng sang tập kích cụm tăng này nên Sở chỉ huy Mỹ ở Bình Dương lệnh cho chúng rút chạy ngay trong đêm về Bình Dương.
    Quân Mỹ đã thoát được một đòn đau, nhưng với ta, với riêng tôi là một khuyết điểm: chuyển điện về tiểu đoàn mà không dùng mật mã.
    Từ tháng 10 năm 1966 đến tháng 4 năm 1967, quân và dân miền Nam đã đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần hai của Mỹ - Ngụy và chư hầu. Ta đã đánh trả hàng trăm cuộc hành quân lớn, nhỏ của địch. Quân và dân Quân khu Sài Gòn - Gia Định, tiêu biểu là Củ Chi đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung, làm thất bại các cuộc hành quân quy mô lớn của kẻ thù: Attenborough, Cedar Falls. Chiến công nối tiếp chiến công, từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1967, trên địa bàn Tây Ninh, chiến khu Dương Minh Châu, quân, dân ta lại lập công lớn, đánh bại cuộc hàng quân Junction City của 45.000 quân Mỹ. Đay là một sự kiện lịch sử quan trọng. Nó báo hiệu sự phá sản của chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, đồng thời chứng minh một cách thuyết phục sự đúng đắn, chính xác trong đường lối chiến tranh cách mạng và nghệ thuật quân sự của Đảng ta.

  2. #52
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    PHÂN KHU 4 TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968

    Tháng 6 năm 1967, anh Trần Đình Xu và anh Đức (Tư Trường) dự hội nghị ở Miền về thông báo: Để triển khai kế hoạch X, Quân khu 1 và Quân khu Sài Gòn - Gia Định giải thể, thành lập 6 phân khu (1,2,3,4,5,6). Mỗi phân khu đều có từ hai đến bốn Tiểu đoàn bộ binh được trang bị gọn nhẹ. Riêng phân khu 6 gồm các quận nội thành Sài Gòn do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm bí thư, đồng chí Võ Văn Kiệt làm phó bí thư. Tại đây có 11 đội biệt động, anh Xu trao quyết định của Bộ Tư lệnh Miền bổ nhiệm tôi làm Chính ủy phân khu 4, anh Hai Nho, nguyên chỉ huy trưởng Đặc khu rừng Sác làm Tư lệnh và anh Nguyễn Văn Cam chỉ huy trưởng cánh Thủ Đức làm phó Tư lệnh.
    Cuối tháng 10 năm 1967, Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam tổng kết hoạt động Hè - Thu 1967 và kêu gọi các lực lượng vũ trang toàn Miền tiếp tục chủ động tiến công, đánh bại địch phản công, giành thắng lợi to lớn hơn trong Đông - Xuân 1967 - 1968. Đáp lời kêu gọi của Mặt trận, lực lượng vũ trang ta đánh địch giành thắng lợi ở Lộc Ninh, Đắc Tô và đánh bại cuộc hành quân "Golden Stone" của Sư đoàn 25 Mỹ phối hợp với quân Ngụy vào chiến khu Dương Minh Châu, diệt và làm bị thương hàng ngàn tên Mỹ, phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh của chúng.
    Nhằm đưa cách mạng miền Nam chuyển sang giai đoạn mới, cuối năm 1967 "Bộ Chính trị đã quyết định mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968"* Tháng 1 năm 1968, Hội nghi lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thông qua nghị quyết Bộ Chính trị: "Anh dũng tiến lên, thực hiện tổng công kích và tổng khởi nghĩa, giành thắng lợi quyết định cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước"**
    Các phân khu, đơn vị, các đội biệt động, đặc công tích cực chuẩn bị cho kế hoạch X. Riêng phân khu 4, nơi tôi về công tác, được giao nhiệm vụ: Từ Thủ Đức đánh thẳng vào Sài Gòn, vượt qua hàng Xanh, chiếm cầu Phan Thanh Giản (cầu Điện Biên Phủ) rồi chiếm một phần quận 1 từ dinh Độc Lập tới Sở Thú.
    Thế là tôi phải chia tay với anh Đức, anh xu, dù đã biết trước về việc chuyển đơn vị trong đời lính là chuyện bình thường, nhưng chia tay với hai anh, những người chỉ huy trực tiếp, gần gũi, giúp đỡ tôi trong nhiều năm, đã tưng sống chết bên nhau trên chiến trường quá ác liệt như Củ Chi, lòng tôi không khỏi có những day dứt.
    Trong bữa cơm chia tay, anh Đức nói một câu, giờ tôi còn nhớ rõ:
    -Chúng mình là những người sống sót, còn chiến đấu, còn có cơ hội sống để gặp nhau.
    Đồng cảm với anh Đức, chúng tôi đều hạnh phúc, tự hào, chấp nhận gian khổ, hy sinh, sẵn sàng cống hiến mạng sống của mình cho dân tộc, đất nước, tình cảm giữa chúng tôi thật đặc biệt, như có chuẩn bị sẵn, anh Trần Đình Xu rút ra từ trong cặp một kiếng lão, nói:
    - Tám Quang đeo thử coi!
    Tôi đeo vào, nhìn qua, nhìn lại, nhìn vào tay mình thấy mắt sáng quá. Anh Xu ngắm tôi, chậm rãi nói:
    - Cậu trên 40 tuổi rồi, đã đến lúc dùng kiếng rồi đó, cậu giữ mà dùng.
    Riêng anh Đức siết chặt tay tôi dặn dò:
    - Tám Quang đi đường phải cẩn thận, Thủ Đức rồi cũng sẽ ác liệt, không kém gì Củ Chi đâu. Khi về phân khu 4, có gì khó khăn cứ điện lên cho bọn mình, trên này sẽ chi viện.
    Trưa hôm đó, đoàn anh Lương Văn Nho đến, chúng tôi chia tay nhau lên đường, anh Đức, anh Xu tiễn đoàn ra đến tận bìa rừng mới quay lại. Không ngờ buổi chia tay ấy là lần gặp gỡ cuối cùng của tôi với hai anh. Sau Tết Mậu Thân, khi tôi về làm Phó Chính ủy tiền phương Bộ Tư lệnh Miền (T7) thì nghe tin anh Đúc, anh Xu cùng tổ bảo vệ trong một chuyến đi về Miền đã lọt vào bãi mìn của địch ở Trà Cao, Trảng Bàng và hy sinh tháng 3 năm 1969. Hai anh mất đi, lòng tôi đau đớn. Đây là một tổn thất lớn cho Quân khu Sài gòn - Gia Định. Với riêng tôi, kỷ niệm về một thời chiến đấu, hình bóng thân quen và những lời nói bộc bạch, chân tình của hai anh lại tái hiện, văng vẳng bên tai.
    Tôi cùng anh Lương Văn Nho lên Quân khu 1 gặp anh Hai Hồng Lâm và anh Bảy Xuội, tiếp nhân cơ quan quân khu. Sau đó, chúng tôi cùng khối cơ quan di chuyển về Suối Cả (Bà Rịa), xây dựng Sở chỉ huy cơ bản tại đây. Chúng tôi họp Thường vụ phân khu ủy gồm năm người:
    - Anh Chiên - Bí thư.
    - Anh Năm Chữ - Phó bí thư.
    - Anh Nho. anh Nghĩa và tôi làm ủy viên thường vụ.
    Bộ Tư lệnh phân khu được phân công: Anh Nho, anh Cam lo chuẩn bị chiến trường, tôi ở lại sở chỉ huy cơ bản lo tập hợp lực lương, huấn luyển bộ đội và chấn chỉnh cơ quan.
    Khu vực Suối Cả có rừng cây rợp bóng, che chở bộ đội và khối cơ quan đông tới hàng ngàn người. Để đảm bảo bí mật nơi ăn ở của bộ đội, khối cơ quan phải tuân thủ kỷ luật rất nghiêm ngặt: "đi không đấu, nấu không khói, nói không tiếng". Nếu để địch phát hiện, toàn khu vực này sẽ phải gánh chịu ngay lập tức hàng loạt bom B52 rải thảm, tổn thất không thể lường hết được. Thấy không khí đi lại, điều động lực lượng gấp, số lượng vũ khí, lương thực huy động lớn, tuy không nói ra, nhưng ai cũng cảm nhận: sắp có chiến dịch lớn xảy ra. Vì vậy, cán bộ, chiến sỹ đều có tâm trạng nôn nao, mong đợi ngày ấy sẽ đến, đến càng nhanh, càng tốt.
    Những ngày giáp Tết Mậu Thân 1968, không khí thật nhộn nhịp, vui vẻ, ai cũng nghĩ: Tết này, cơ quan, bộ đội sẽ được hưởng một cái Tết trọn vẹn, ngon lành sau nhiều năm vất vả để sau đó vào chiến dịch, đánh lớn. Anh em náo nức chuẩn bị đón Tết, từ ngày 25 đã tổ chức săn thú lấy thịt, đi chặt mai rừng, lo gạo nếp nấu bánh....Chiều 28 Tết, dọc ven Suối Cả, các nồi bánh chưng, nánh tét, thịt hầm như đua nhau "trình làng" sôi sùng sục, tỏa mùi thơm phức. Các doanh trại, nhà ở của cơ quan, bộ đội gọn gàng, sạch sẽ, được điểm tô đẹp hơn bằng các cành mai rừng. Đúng 8 giờ đêm 28 Tết, chúng tôi nhận được một lệnh tối mật do liên lạc của anh Trần Bạch Đằng hỏa tốc chuyển xuống: "Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền hạ lệnh thực hiện kế hoạch X. Ngày N là mùng 1 Tết Mậu Thân, giờ G là đúng 1 giờ sáng ngày mùng 1 Tết". Thật như trời long đất lở, công việc đã được chuẩn bị hàng nửa năm trời rồi, biết thế nào cũng có ngày này, nhưng nhận được lệnh ai cũng cảm thấy bất ngờ, bàng hoàng. Tâm trạng ấy có cơ sở vì năm ấy không có ngày 30 Tết. Tối nay 28, sáng mai 29 Tết, sáng mốt là ngày mùng 1 Tết rồi.....nhưng nay tất cả còn đang tập kết đón Tết ở Suối Cả. Liên lạc chạy như con thoi báo động khắp các cơ quan, đơn vị. Cán bộ, chiến sỹ, nhân viên cứ mừng lo đan xen, như một nồi hơi bị dồn nén nhiều ngày nay được xả ra. Tình hình thấy rộn cả lên, không còn ai nghĩ đến đón Tết nữa, hối hả, chộn rộn cho việc "xuống đường". Các nồi bánh, nồi thịt hầm chín hay chưa đều bị dập tắt lửa. Cán bộ, chiến sỹ ba lô gọn nhẹ trên vai, đúng 10 giờ đêm đã sẵn sàng xuất kích, giờ phút tiễn đưa cũng diễn ra rất nhanh, xen lẫn tiếng cười, nói, điểm danh....có vài tiếng khóc sụt sùi, thút thít của một vài chị em được phân công ở lại đảm bảo quân y tại chỗ và tham gia bảo vệ cơ quan. Chị em cố nài nỉ chỉ huy cho đi lhoong được, rồi lại thương, lại nhớ nên khóc đó thôi.
    Chúng tôi hành quân về Bưng Sáu Xã, 11 giờ đêm, đoàn quân sẽ tiếp cận lộ, đoạn Long Thành - Tam An, trinh sát báo cáo: trên đường có bộ binh và xe tăng địch phục kích. Cả đoàn khựng lại, lòng chúng tôi như lửa đốt. Tôi và anh Năm Chữ quyết định không cho đánh vì đánh rồi khó có thể giải quyết gọn ngay, hơn nữa lại lộ bí mật. Nhưng nếu không đánh, bọn phục kích này nằm ỳ đến sáng thì nguy to. Ban ngày ta không vượt đường sẽ hư việc lớn. Chúng tôi chọn phương án: Lệnh cho một Trung đội trang bị vũ khí lớn như cối 80 ly, B40....đi xuống gần thị trấn Long Thành đánh vào một điểm địch bảo vệ thị trấn, mở đường cho quân ta vượt lộ 15.
    Đúng như vậy, sau khi súng nổ chừng một giờ, địch phải co đội hình lại, đến 12 giờ 30 phút đêm, lần lượt quân ta vượt qua lộ 15 và đến 2 giờ sáng, chúng tôi mới đến Sở chỉ huy tiền phương đóng ở bưng Tam An. Thời khắc này đã sang ngày 29 (30) Tết rồi, thời gian, công việc như dồn đuổi chúng tôi.
    Đến nơi, anh Hai Nho mừng lắm, mời chúng tôi vào nghỉ....Tôi liền thông báo gấp cho anh rõ: Miền lệnh: ngày N là ngày mùng 1 Tết, giờ G là 1 giờ sáng ngày mùng 1 Tết, anh Hai Nho bình thản: đừng có nói giỡn! Tôi lặp lại lệnh của Miền, anh vẫn không tin, còn tỏ ý đùa vui: Tám Quang giỡn hoài à, bực mình quá!, tôi mời mọi người ngồi xuống sạp và đề nghị anh Năm chữ thông báo. Anh Năm thay mặt cấp ủy thông báo lại lệnh của Miền, ngày N giờ G như tôi đã nói. Nghe xong, anh Hai Nho bỗng như dính vào lửa, xoay tròn trên sạp rồi la to:
    - Chết cha rồi, liên lạc đâu, chạy kêu gấp anh Ba Cam nghen!.
    Anh Ba Cam, chỉ huy phó, ở cách chúng tôi chừng 200 mét, liên lạc hổi hển chạy về báo cáo:
    - Thưa anh! Chú ba nói có biết chú Tám và chú Năm mới xuống. Chú Ba đang cho người ra Tam An mua ít đồ về bồi dưỡng hai chú. Chú dặn cháu về nói chú Tám và chú Năm cứ nghỉ ngơi, sáng hôm sau chú ba sẽ qua và mang đồ qua luôn....
    Liên lạc vừa dứt lời, anh Hai Nho nói như thét:
    - Trời ơi! qua đây để đánh giặc chứ không phải để ăn, kêu anh Ba qua nhanh đi!.
    Khoảng 20 phút sau, anh ba Cam bước vào, vẻ mặt hơi hốt hoảng, nghe chúng tôi truyền đạt lại lệnh của Miền, anh không nói gì, ngồi lịm đi như một pho tượng. Không khí thật căng thẳng, chúng tôi ngầm hiểu với nhau: công việc chuẩn bị hành quân chưa tới đâu cả.
    Cũng cần nói thêm là: trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ta giành thắng lợi lớn. Đó là điều khẳng định, nhưng ngoài những thuận lợi còn có vô vàn khó khăn mà không báo, đài nào đề cập hết được. Ngay tại phân khu 4, công tác chuẩn bị cho kế hoạch X, cho ngày N, giờ G đã làm được khá nhiều việc, đạt 60 phần trăm mức kế hoạch. Cụ thể: đã gom được quân, đưa Tiểu đoàn 4 mũi nhọn ra đóng ở Tam Đa, đã tập kết lương thực, vũ khí, chuẩn bị xong một phần kế hoạch tác chiến. Cán bộ, chiến sỹ đã thông suốt tư tưởng, sẵn sàng chiến đấu giành thắng lợi....Nhưng vẫn còn nhiều việc còn phải tìm cách giải quyết tiếp như: Bộ đội tập kết chưa đủ, ngoài Tiểu đoàn 4 mũi nhọn tập kết ở Tam Đa, cấp trên tăng cường cho Phân khu Trung đoàn 4, nhưng Trung đoàn 4 đang hành quân, mới tới sông Buông, cách chúng tôi một ngày đường. Phương tiện ghe, xuồng và vũ khí vẫn chưa chuẩn bị xong (Riêng ghe, xuồng, ta cần có hàng trăm chiếc phục vụ chiến đấu, nhưng đi mượn dân vẫn không đủ, không có kinh phí mua sắm....) Dù biết công việc chuẩn bị cho "Kế hoạch X" là rất khẩn trương, nhưng không ai biết trước sẽ nổ ra ngày nào và càng không ngờ lại vào đúng mùng 1 Tết Mậu Thân này. Tính từ ngày nghe Đại tướng Nguyễn Chí Thanh phổ biến "Kế hoạch X" tháng 4 năm trước 1967 - tức tháng 3 âm lịch, nay đã qua tám tháng chuẩn bị rồi. Nhưng thực chất với Phân khu 4 mới chuẩn bị được sáu tháng. Do khó khăn thực tế mang tính khách quan và Bộ chỉ huy Phân khu 4 có khuyết điểm chuẩn bị còn thiếu cụ thể nên khi nhận lệnh đột xuất thì bị động, lúng túng.
    Thực tế trong chiến đấu, chúng tôi ít khi có thời gian và điều kiện chuẩn bị, đảm bảo 100 phần trăm rồi mới đánh. Cố gắng lắm, việc chuẩn bị chỉ đạt 70 đến 80 phần trăm rồi vừa đánh vừa chuẩn bị tiếp, "vừa chạy, vừa xếp hang" như anh em thường nói. Dù vậy chúng tôi vẫn xác định rõ: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, mệnh lệnh này của cấp trên không chỉ với Phân khu 4 mà cho toàn miền Nam. Dù khó khăn, trở ngại đến đâu cũng phải khắc phục, chấp hành cho kỳ được. Nhất là phân khu 4, một trong 5 mũi tiến công đồng loạt vào Sài Gòn - Gia Định.
    Thời gian nổ súng đang đến gần, chúng tôi thành lập Ban chỉ huy cánh quân làm nhiệm vụ thọc sâu vào nội đô, dùng Tiểu đoàn 4 mũi nhọn đột phá trước, khi Trung đoàn 4 đến, tiếp tục tiến công vào nội đô sau. Ban chỉ huy cánh thọc sâu này do anh Ba Cam làm chỉ huy trưởng, anh Quỳ chính ủy. Do anh Quỳ đi công tác ở Tăng Nhơn Phú chưa biết lúc nào về nên tôi nói với anh Năm Chữ, anh Hai Nho để tôi đi với anh Ba Cam, nếu lên Tăng Nhơn Phú gặp anh Tư Quỳ tôi sẽ bàn giao lại nhiệm vụ. Trường hợp không gặp, tôi đi luôn với anh em vào nội đo. Mọi người đồng ý, anh Ba Cam siết chặt tay tôi nói: có anh Tám đi cùng, chúng tôi yên tâm hơn.
    4 giờ sáng ngày 29 Têt chúng tôi hành quân dùng hai chiếc ghe nhỏ vượt sông Đồng Nai để đến Tam An gặp Tiểu đoàn 4, tờ mờ sáng, chúng tôi tới mép sông Đồng Nai. Trên sông, thời điểm này thường có tàu tuần tra của địch nổ máy, chạy đi, chạy lại như con thoi. Chúng tôi vượt sông bằng ghe, chèo bằng tay nên phải rất thận trọng. Áp sát tai xuống nước lắng nghe, thấy êm, anh Ba Cam lệnh: Xuất phát! trên hai ghe cái trước, cái sau, chúng tôi nhất loạt chèo, dùng cả bẹ dừa để hỗ trợ vượt sông nhanh. Qua được hai phần ba sông, bỗng thấy hai tàu tuần tiễu của địch lù lù xuất hiện, tiếng máy tàu nổ xình xịch nghe càng lúc càng rõ, chúng tôi dồn hết sức cho tay chèo....
    Ghe gần cập bờ thì địch nã nhiều loạt đại liên vào bờ chặn chúng tôi lại, anh em quay súng AK về phía tàu địch nhả đạn, đồng thời bỏ ghe, lội ào lên bờ. Địch trên tàu chắc cầu an nặng, thấy gây sự với Việt Công không lợi gì nên bắn thêm vài loạt đại liên nữa rôi chạy luôn.
    Hai ghe bị chìm, mặc dù bị mất vài thứ theo ghe, kể cả dép, nhưng may mắn người, súng và tài liệu đều an toàn.
    Từ sông Đồng Nai về Tam Đa nếu có ghe đi chừng hơn một giờ, nhưng đi bộ phải vòng vèo tới bốn giờ. Chúng tôi đành đi bộ với đôi chân trần, cứ thế cắt rừng gai tre, rừng chà là (gai rất độc) mà đi, mà lội bì bõm, có chỗ sâu tới đầu gối để về Tam Đa càng sớm càng tốt.
    Khoảng 11 giờ trưa, chúng tôi tới nơi, gặp lúc Tiểu đoàn 4 đang ăn liên hoan Tết với nhân dân. Nghe chúng tôi phổ biến tình hình, thông báo ngày N, giờ G của "Kế hoạch X" xong, cán bộ Tiểu đoàn vừa mừng, vừa lo. Đối với Tiểu đoàn 4, khó khăn nhất là không có liên lạc dẫn đường, không có đủ ghe, xuồng cho Tiểu đoàn hành quân và không chuẩn bị kịp lương khô.
    Sau cuộc liên hoan, tiễn dân ra về, chúng tôi phổ biến kế hoạch hành quân cho bộ đội. Anh em cũng thấy được khó khăn, nhưng cũng đề xuất ngay biện pháp giải quyết, khắc phục:
    - Không có người dẫn đường, cắt hướng mà hành quân, đi đến đau, nhờ dân dẫn đường đến đó, đến Bưng Sáu Xã, bộ đội vận động lên đường bộ, tiến thẳng vào Sài Gòn. Vào nội đô cũng nhờ dân chỉ đường. Quá trình hành tiến, gặp địch đâu đánh đó.
    - Không đủ xuồng, ghe, bộ đội hành quân bộ. Không có lương khô thì mang cơm vắt đi theo. Lúc nghỉ, rang gạo tiếp tế tiếp.
    Được anh em "hiến kế" với tinh thần quyết tâm vào trận như vậy, chúng tôi và cán bộ chỉ huy Tiểu đoàn yên tâm hơn, thấy khó khăn như được vơi bớt một phần.
    Chuẩn bị hành quân lội bộ, thấy chúng tôi mất dép, Tiểu đoàn mang ra bốn đôi cho bốn người. Nhưng vì chân chúng tôi đạp phải gai tre, gai chà là bắt đầu sưng lên không ai xỏ dép vào được. Bốn chúng tôi phải cuốn giẻ vào chân, đau lắm nhưng cũng phải ráng đi với bộ đội.
    Để kịp giờ nổ súng (1 giờ sáng ngày mùng 1), lẽ ra, Tiểu đoàn phải hành quân ban ngày, nhưng vì Tam Đa nằm trong phạm vi bảo vệ nội đô Sài Gòn nên máy bay địch quần thảo liên tục. Hơn nữa, rừng chà là, rừng tre bị chúng rải chất độc hóa học, còn lại thưa thớt. Nếu hành quân ban ngày dễ bị địch phát hiện, cho pháo hoặc máy bay bắn phá, ném bom vào đội hình quân ta. Cho nên, chúng tôi phải hành quân đêm. Trời tối đen như mực, cán bộ, chiến sỹ người sau bám người trước, cắt rừng, bất kể gai, rạch cạn hay sâu cứ đi tới. Vào đêm, máy bay địch không hoạt động nhưng chúng bắn pháo từng chập, có một trái pháo rơi trúng đội hình làm hai chiến sỹ bị thương, được anh em lấy võng, chặt tre làm đòn thay nhau khiêng tải đi. Cuộc hành quân thật gian khổ, nhưng không thấy một lời kêu than. Từ cán bộ tới chiến sỹ chỉ lo không biết có tới kịp giờ G hay không. Quyết tâm của chúng tôi là khi trời vừa sáng bám được xa lộ, đoạn từ ngã tư Thủ Đức, ngã ba Cát Lái hoặc khu vực nhà máy xi măng Hà Tiên cũng được để từ đó đánh thẳng vào Sài Gòn.
    Hành quân suốt đêm không ngủ, gần sáng chúng tôi tới mép Bưng Sáu Xã, lật bản đồ xác định lại, thấy còn cách xa lộ 2 km đương chim bay. Tiếng súng các cánh đã nổ xung quanh Sài Gòn. Đủ loại pháo lớn, pháo nhỏ, đại liên....nổ liên hồi. Trời bừng sáng, máy bay địch như ong vỡ tổ, quần đảo trên vùng trời Sài Gòn, vùng ven. Chúng tôi đã mắc kẹt trong vùng kiểm soát của máy bay địch, không thể hành quân tiếp được nữa, cả Tiểu đoàn 4 buộc phải trụ lại Bưng Sáu Xã thêm một ngày nữa. Như vậy, Phân khu 4 đã không thực hiện đươc ngày N như chỉ lệnh của Miền mà phải qua N + 1 (tức mùng 2 Tết) mới bắt đầu thực hiện kế hoạch.
    Trong ngày hôm ấy, chúng tôi cho liên lạc tìm xã đội Tăng Nhơn Phú, móc ráp với nhiều cán bộ đang công tác tại địa bàn này.
    Đến trưa, gặp được anh Tư Quỳ, Năm Mâm, Tám Phong, chúng tôi tập trung bàn tiếp kế hoạch chiến đấu. Riêng tôi bàn giao lại nhiệm vụ chính ủy cho anh Tư Quỳ. Sở chỉ huy tiền phương của Phân khu 4 được thành lập ngay tại Bưng Sáu Xã để chỉ huy chiến đấu.
    Đêm cùng ngày, mặc dù địch bị các đòn tiến công bất ngờ của ta trên các hướng, địch đã chú ý đề phòng, nhưng vẫn bị Tiểu đoàn 4 tiếp cận nhanh, nổ súng tiêu diệt một đại đội bảo an án ngữ đầu cầu Sài Gòn. Quân ta vượt lên chiếm cầu, chuẩn bị đưa toàn Tiểu đoàn vận động tiến vào Hàng Xanh thì bị xe tăng địch ra chiếm đầu cầu (phía Hàng Xanh) dùng đại liên quét rát mặt cầu chặn lại. Một số chiến sỹ ta thương vong, ta phải lui quân, đến khi trời sáng, trụ lại ở ngã ba Cát Lái.
    Tại Sở chỉ huy tiền phương, chúng tôi lệnh cho huyện đội Thủ Đức, đại đội địa phương nhân lúc địch đang hoang mang mở tiếp đợt tiến công mới, kết hợp binh vận bức hàng đồn địch ở thị trấn Thủ Đức và hàng loạt lô cốt. Ta làm chủ quận Thủ Đức. Đêm N + 1 lực lượng Phân khu 4 vẫn chưa vào được thành phố. Cuộc chiến đấu giữa ta với địch vẫn diễn ra ác liệt. Mất Thủ Đức, địch ra sức đối phó, chủ yếu cho các máy bay ném bom, cho trực thăng quần đảo và cho pháo bầy bắn vào đội hình quân ta. Bộ đội bị thương vong chủ yếu vì bom, pháo và bị trực thăng địch bắn. Một số đồng chí hy sinh khi vượt qua rạch do không biết bơi.
    Sang ngày N + 3, Bộ Tư lệnh Miền lệnh cho Trung đoàn 4 sang hướng Phân khu 5 chiến đấu, tôi về gấp Sở chỉ huy cơ bản ở Tam Đa, bàn lập một trung đoàn, cùng lấy tên là Trung đoàn 4 làm nhiệm vụ thay thế. Bộ chỉ huy Phân khu 4 bổ nhiệm anh năm Mân làm trung đoàn trưởng, Tám Phong làm chính ủy, anh Hai Nho lên thay thế tôi ở Sở chỉ huy tiền phương Phân khu tại Bưng Sáu Xã.
    Hiểu được ý đồ của ta quyết tâm thọc vào chiếm khu vực Sở Thú và vùng lân cận trong nội đô, địch cho giang thuyền liên tục tuần tra trên sông Sài Gòn. Chúng điều một tiểu đoàn xe tăng ra án ngữ suốt tuyến đương từ cầu Bình Triệu đến Sở Thú.

  3. Có 1 người thích bài viết này


  4. #53
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Phía ta, Bộ chỉ huy Phân khu 4 quyết tâm: Đánh chiếm cư xá Thanh Đa, đánh sập cầu Sài Gòn, cắt đứa xa lộ, làm chủ hoàn toàn quận Thủ Đức, chờ thời cơ thọc sâu vào nội đô Sài Gòn. Thực hiện kế hoạch, một cánh quân ta thọc qua Thanh Đa, diệt bót, đánh chiếm cầu Sơn. Ta tổ chức cho nhân dân đấu tranh giữ thế hợp pháp, vì khu vực Thanh Đa ở sát nách Sài Gòn, nội đô, địch phải chấp nhận không hành quân càn quét, đốt phá....Trận tuyến giữa ta và địch lúc này chỉ cách nhau cây cầu Sơn, dài chừn 10 mét, hàng ngày vẫn nhìn thấy nhau. Có buổi sáng, lính địch thấy đồng bào mang bánh mỳ ra phát cho bộ đội ta, bên này cầu, chúng la lớn: sao không phát cho bọn tôi? Đồng bào trả lời: về Dinh Độc Lập mà lấy!.
    Chưa hết đợt Tổng tiến công và nổi dậy, anh Tư Quỳ, anh Ba Cam hy sinh, anh Hai Nho ngất xỉu, phải đưa về Sở chỉ huy cơ bản. Từ Tam An, tôi đi gấp lên Sở chỉ huy tiền phương. Đi giữa ban ngày trong điều kiện máy bay địch, nhất là trực thăng đang quần đảo rất dễ lộ và nguy hiểm, nhưng không thể trì hoãn được, phải đi ngay.
    Đến chiều tôi tới nơi, chưa vào được Bộ chỉ huy tiền phương thì gặp bộ đội đang hành quân. Nhìn anh em với vẻ mặt không vui, tôi hỏi: có tin tưởng vào thắng lợi không? Cán bộ chiến sỹ đều lắc đầu: "thắng sao được chú. Bộ chỉ huy Phân khu đề ra mục tiêu đánh sập cầu, nhưng khi bộ binh lên đánh thì công binh rút chạy hết cả. Hai trận vừa rồi đều như vậy, trận này nữa cũng chưa thấy hợp đông chắc chắn gì cả".
    Tôi giật mình, vội hỏi tiếp: lực lượng công binh ai nắm? Anh em trả lời: anh M, nhưng anh M ở Sở chỉ huy tiền phương giao cho một cán bộ đại đội đưa 30 công binh đi theo sau đội hình Tiểu đoàn. Ban chỉ huy Tiểu đoàn không nắm được lực lượng công binh.
    Bất ngờ phát hiện ra trục trặc trong hợp đồng tác chiến, tôi lệnh ngay: tất cả dừng lại, quay trở về!.
    Một cuộc họp cấp tốc tại Sở chỉ huy tiền phương ngay sau đó, rút kinh nghiệm về việc hiệp đồng thiếu chặt chẽ giữa bộ binh và công binh. Ban chỉ huy Tiểu đoàn 4 mũi nhọn không nắm được công binh. Tôi quyết định sửa lại, trận đánh này có yêu cầu đánh sập cầu. Anh M, chỉ huy công binh được Miền đưa xuống tăng cường cho Phân khu, nay chỉ định làm chỉ huy phó trận đánh, cùng đi chiến đấu, nắm lực lượng công binh. Lực lượng công binh phải mang vác đủ số lượng chất nổ, đi sát ngay ban chỉ huy Tiểu đoàn, tiếp theo là các đơn vị, bộ phận khác.
    Với sự chấn chỉnh này, vào tối hôm sau, tiếp theo trận diệt đại đội tiền tiêu địch, bộ binh ta đánh chiếm đầu cầu, tổ chức đánh máy bay trực thăng, tàu tuần tiễu của địch trên sông. Kết quả: đội công binh đánh hư hại một phần tư cầu Sài Gòn, cầu Sài Gòn bị nghiêng hẳn một bên, không sử dụng được, buộc địch từ Sài Gòn đi Biên Hòa phải qua lối cầu bình Triệu và xa lộ Đại Hàn. Chúng tập trung phong tỏa, sửa chữa cầu Sài Gòn suốt 10 ngày liền. Thời gian này, địch dùng bom, rốc két, pháo đánh phá suốt ngày đêm ở Bưng Sáu Xã, nhiều dừa nước có lợi che mắt địch, nhưng cũng nhiều sông, rạch, sình lầy nên không thể làm công sự vững chắc được. Bị địch đánh ác liệt, quân ta thương vong cao (mỗi đêm ít nhất 10 ca thương vong). Tiếp đó, địch tái chiếm lại thị trấn Thủ Đức. Hàng ngày, chúng dùng xe tăng bung ra chà đi sát lại nam xa lộ từ Cát Lái đến sông Đồng Nai.
    Tình hình diễn biến căng thẳng, khó khăn cho ta. Tôi suy nghĩ đặt vấn đề với anh Tám Phong, Năm Mân trong Ban chỉ huy Trung đoàn 4: tại sao ta lại để cho bộ đội trân mình ra chịu bom đạn của địch ở Bưng Sáu Xã như vậy? Tại sao ta không đưa bộ đội rút thoát khỏi khu vực sình lầy này để ra bám khu vực An Phú, Tăng Nhơn Phú, làm công sự vững chắc, tổ chức trận địa đánh xe tăng, bộ binh địch, mà đó lại là sở trường của ta?
    Ban chỉ huy Trung đoàn 4 và bộ đội rất mừng, di chuyển toàn bộ lực lượng ra "đất liền" tổ chức trận địa đánh địch. Ngày đầu, địch chủ quan, như thường ngày cho xe tăng, bộ binh dàn hàng ngang từ xa lộ càn xuống bưng. Đến tầm bắn, ta đồng loạt nổ súng, diệt một lúc hơn 10 xe tăng và một số lính bộ binh địch. Bị đánh bất ngờ, địch rất hoảng sợ. Nhân dân nghe tin ta đánh địch giữa ban ngày, diệt cả xe tăng, từ Sài Gòn và các xã gần đó kéo đến, đứng trên xa lộ vừa xem vừa hoan hô bộ đội. Theo kinh nghiệm, nếu đánh trên đất trống, giữa ban ngày như thế này, địch cũng sẽ dùng B52 dội bom sát thương ta. Nhưng vì trận địa nằm ở xã Tăng Nhơn phú, An Phú, sát nách Sài Gòn nên chúng không dám hành động. Bộ đội ta cương quyết trụ lại, vừa đánh xe tăng, diệt bộ binh, vừa dùng đại liên đánh trả trực thăng địch. Điều thú vị là mọi hành động của quân Mỹ như có dịp "phơi bày" trước mắt dân chúng! Bị đánh đau, bị thương, lính Mỹ khóc lóc, kêu la trước mặt dân, điều mà bộ đội ta không hề có. Vì vậy, sau này dân ta thường nói: "Nhát và hèn như quân Mỹ".
    Nhân dân các xã Tăng Nhơn phú, An Phú với tình cảm sẵn có, lại trực tiếp chứng kiến tinh thần chiến đấu dũng cảm của bộ đội, đều tích cực lo cơm nước, tiếp tế, chăm sóc thương binh chu đáo. Các mẹ, các chi ở Thủ Đức dành tình cảm thương mến đặc biệt đối với bộ đội người miền Bắc, có gì cũng: "cho các con miền Bắc" Các mẹ, các chị thường nói: không ai bì với bọn nó được, bọn nó ở Huế vào đây, sống chết ở đây nên phải lo cho bọn nó nhiều hơn. (kêu là "bọn" có ý cưng, thương. Bà con trong Nam thường gọi chung bộ đội ở Bắc, ở Trung, ở xa đến là Huế vào).
    Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã diễn ra ở nhiều thành phố, thi xã, thị trấn trên toàn miền Nam. Hòa chung với tiếng súng diệt địch trên toàn chiến trường, từ cuối tháng 1 đến tháng 3 năm 1968, các lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ, trong đó có Phân khu 4 đã tiến công vào nhiều Sở chỉ huy các quân đoàn, sư đoàn, các tiểu khu, chi khu quân sự, các sân bay, bến tàu, căn cứ hải quân địch, ở sài Gòn - Gia Định, lực lượng biệt động đồng loạt đánh thẳng vào các cơ quan đầu não của Mỹ - Ngụy, Tòa Đại sứ Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ Tư lệnh Hải quân Ngụy, Bộ Tổng tham mưu, Đài phát thanh....Nhân dân nhiều vùng đô thị phối hợp nổi dậy giành quyền làm chủ. Nhiều ác ôn, tề điệp bị nhân dân trừng trị, nhiều ấp chiến lược của địch bị phá banh.
    Trong hai tháng Tổng tiến công và nổi dậy, quân và dân ta đã giành thắng lợi to lớn, "tiêu diệt và làm tan rã 145.000 tên địch, trong đó có 43.000 tên Mỹ", "giải phóng thêm 1,4 triệu dân", phá hủy nhiều cơ sở, vật tư dự trữ chiến tranh của Mỹ ở miền Nam. Đây là đòn quyết định làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, mở đầu cho thời kỳ đi xuống về chiến lược của chúng trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.
    Kết quả đến cuối tháng 3 năm 1968, Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đã phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, cách chức tướng William Westmoreland, Tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam, thừa nhận thất bại của chiến lược "chiến tranh cục bộ" và cử đại diện ngồi đàm phán với ta ở Paris.
    Sau đợt 1, nhằm tiếp tục đánh tiếp cho địch những đòn đau, đi tới thắng lợi quyết định, ta mở đợt 2 cuộc Tổng tiến công và nổi dậy bắt đầu từ đêm 4 tháng 5 năm 1968, tập trung mạnh nhất ở Sài Gòn - Gia Định.
    Để giành thắng lợi to lớn trong đợt 2, lực lượng ta cũng đã bị tiêu hao nặng. Hơn nữa, địch cũng đã lo phòng bị, đối phó. Chúng tổ chức lực lượng bung ra càn quét, đánh phá các cơ sở nội thành, lấn chiếm đất đai, nhân lực, vật lực....gây cho ta rất nhiều khó khăn. Chính vì vậy, như sau này ta đã tổng kết, đánh giá: Tuy gây ra cho địch một số thiệt hại, nhưng không đạt được các yêu cầu đề ra về chính trị, quân sự.
    Tình hình chiến trường sau hai đợt chính Tổng tiến công và nổi dậy đã có nhiều biến đổi. Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền đã tổ chức lại chiến trường. Riêng Phân khu 4 không chỉ bó hẹp ở Thủ ưúc, vùng ven nội thành Sài Gòn mà mở rộng ra cả tỉnh Bà Rịa và Đặc khu Rừng Sác. Tại địa bàn này, ta tổ chức tiền phương Bộ Tư lệnh Miền, lấy bí danh là T7. Bộ chỉ huy gồm: anh Lực. Bí thư Đảng ủy kiêm Chính ủy, anh Hai Nho, Tư lệnh và tôi làm Phó Chính ủy. Công việc mặc dù không đòi hỏi khẩn trương như thời kỳ chuẩn bị và tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy nhưng cũng rất phức tạp. Nhiệm vụ đặt ra là: phải đối phó, đánh bại các chiến dịch bình định, xây dựng các ấp chiến lược của Địch. Nhanh chóng xây dựng và củng cố lực lương, đánh diệt sinh lực địch, giữ vững địa bàn.
    Lợi dụng lực lượng ta bị tiêu hao, lo củng cố sau các đợt tiến công vừa qua, địch bung ra triệt phá, lấn chiếm các khu cực nhiều nhân lực, vật lực, nơi cung cấp lương thực, thực phẩm, dồn quân ta vào tình trạng không thiếu tiền nhưng thiếu gạo. Nạn đói uy hiếp, buộc khẩu phần ăn của bộ đội từ 600 gam rút xuống còn 100 gam ngày/người vẫn không đảm bảo kịp. Nguồn lương thực chính của bộ đội là khoai chụp, củ mài. Một hôm, tôi và anh Út Đặng, Tham mưu trưởng T7 đang ngồi ăn cháo, bỗng thấy một con sóc lớn cỡ chừng hơn 1kg đang ăn trái buông. Anh Đặng lấy súng bắn, con sóc rơi xuống. Chúng tôi làm lông thui, thấy mỡ sóc ra nhiều quá, như vậy, sóc núi nhờ ăn trái buông mà béo. (ta thường chặt đọt buông lấy bột ăn chứ không ăn trái). Ruột trái buông có màu trắng đục như trái dừa nước, lấy ra ngâm rồi luộc chín, ăn thấy no, người thấy khỏe. Lúc đầu ăn không quen cảm thấy nặng bụng, nhưng sau 9 - 10 ngày thì quen như những trái cây khác vậy. Tin này, sau loan truyền ra, bộ đội, cán bộ các cơ quan có thêm nguồn lương thực mới là trái buông, góp phần quý giá giúp ta vượt qua nạn đói lúc đó.
    Trước tình hình thiếu đói, đời sông cán bộ, chiến sỹ gặp rất nhiều khó khăn, tháng 1 năm 1969, Trung ương Cục miền Nam cũng đã chỉ thị cho các lực lượng vũ trang miền Nam tiếp tục khắc phục, củng cố lực lượng, bổ sung trang bị tiến lên giành thắng lợi quyết định.
    Nạn thiếu đói vẫn đeo bám bộ đội, nhất là những anh em thương binh cần được chăm sóc. Ở Núi Bể lúc này có trại thương binh, vì thiếu đói quá, anh em kéo lên gặp Bộ chỉ huy tiền phương nhờ giúp đỡ. Từ đầu hôm, tất cả đã đã đến tập trung tại suối trước nhà Bộ chỉ huy. Sáng dậy, một cán bộ văn phòng ra, thấy thế la: tại sao các anh lại kéo về đây làm rối Bộ chỉ huy?. Nghe tin, tôi lại gặp anh em nói: tình hình khó khăn này, anh em không kéo về đây thì về đâu?. Không ai giải quyết nổi cho anh em bằng Bộ chỉ huy đâu.
    Quân số anh em là 60 người, nhìn thấy anh em thương binh cũng chịu cảnh thiếu đói, gầy yếu, tôi xót xa quá. Thật là "lực bất tòng tâm". Nhưng không thể để như thế này được, phải tìm cách giải quyết, tôi vận động các cơ quan, dồn góp được 120kg. Bên cấp ủy, anh Hai Lực cũng gởui tặng thêm một cây thuốc lá và một bao gạo chia đều cho anh em. Với 2,5kg gạo cho mỗi người, phải sống qua 10 ngày để tìm nguồn lương thực khác, đến ăn cháo cũng không đủ. Xuống thăm anh em thương binh thì quả là anh em ăn cháo rất lỏng, còn thuốc lá đưa về, chia mỗi người chỉ được hai điếu. Để xem thực hư ra sao, tôi đi thăm tiếp thì gặp ba đồng chí khỏe mạnh đang ăn cơm, bên cạnh để gói thuốc còn nguyên. Hỏi kỹ được biết, ba người này thuộc ban quản lý trại. Lúc chia gạo, thuốc cho thương binh, họ ém lại, giành cho mình nhiều hơn. Anh em tố cáo từ lâu ba người thường ăn bớt, ăn xén tiêu chuẩn, anh em thương binh rất bất bình. Trong lúc đang phải đồng cam cộng khổ, động viên nhau vượt qua khó khăn lại có những người sống chỉ biết lo cho cho bản thân, làm mất lòng quần chúng như vậy là không thể được. Tôi đưa vấn đề này cho anh em phê phán. Bộ chỉ huy tiền phương sau đó đã ra lệnh cách chức, đưa về làm lính cả ba người trên. Anh em thương binh đã tự bầu chọn (trong số thương binh) ba đồng chí vào ban quản lý trại để chỉ huy. Theo lời đề nghị của anh em, Bộ chỉ huy tiền phương đồng ý cho 60 anh em thương binh ra trụ ở gần nhánh sông La Ngà để lấy củ mỳ tự túc.
    Cũng thời điểm ấy, trinh sát báo về: phát hiện ở thị trấn Võ Đắc có một số nhà máy làm bột mỳ, hiện có 6 tấn bột và ngoài rẫy còn hàng trăm mẫu mỳ (sắn) có thể ăn được. Một số anh em đề nghị đánh, thu bột mỳ về. Tôi không đồng ý với lý do: ta kháng chiến chứ không đi phá hoại sản xuất. Những cơ sở sản xuất phục vụ cho địch thì cần giáo dục, thuyết phục họ, nếu phá thì phải cân nhắc kỹ. Trường hợp này, ta không cần động tới, giữ yên lặng như không có gì xảy ra. Nhưng mỗi đơn vị, cơ quan cử một bộ phận bí mật ra trụ ở rừng Võ Đắc, hàng đêm ra đào củ mỳ đưa vào rừng, chuyển tiếp tế cho cơ quan, đơn vị. Mặt khác, cho cán bộ hoạt động công khai vào thị trấn Võ Đắc liên hệ với các chủ làm bột mỳ, thăm dò thái độ và tổ chức họ ủng hộ bộ đội. Kết quả là các chủ lò đã đưa hàng tấn bột mỳ ủng hộ bộ đội. Phát hiện bộ đội ta đào củ mỳ, họ cũng bỏ qua không báo cho đồn địch biết.
    Ngày nay, trên đương từ Sài Gòn ra Phan Thiết, cách ngã ba Ông Đồn chừng 10km, các bạn hãy cho xe chạy chậm lại, các bạn quan sát phía bên trái thấy núi Chứa Chan (thuộc địa phận Long Khánh) kéo dài ra rừng Vo0x Đắc nối liền với rừng cây lá buông bạt ngàn. Bên phải nhìn ra hương biển xanh thẳm, các bạn thấy núi Mây Tàu nối tiếp với Núi Bể hùng vĩ. Mỗi địa danh nơi đây đều có dấu ấn lịch sử. Làm sao quên được giữa chừng núi Mây Tàu, dựa vào khe suối nước trong vắt suốt năm là một bệnh viện của tỉnh đội Bà Rịa, thường xuyên có đến hàng trăm thương binh điều trị. Trong nhiều năm, bị quân Úc bao vây, đánh phá, nhưng cán bộ, nhân viên bệnh viện vừa lo đánh giặc, lo nuôi dưỡng, chăm sóc bệnh binh. Bệnh viện này tồn tại cho đến ngày toàn thắng. Núi Bể, rừng lá buông bạt ngàn, rẫy rừng Võ Đắc, núi Chứa Chan, có sông La Ngà quanh co uốn khúc, nhưng nơi đây một htowfi trong chiến tranh chống Pháp, nhất là trong cuộc chiến tranh ác liệt chốnh Mỹ đã từng nuôi dưỡng, che dấu các cơ quan tỉnh Bà Rịa, Biên Hòa, Bình Thuận, cùng hàng ngàn bộ đội của các tỉnh, của Bộ Tư lệnh Miền và Quân khu Miền Đông.
    Chính trên mảnh đất hàng ngàn héc ta Nam - Bắc lộ 1 này còn có dấu ấn lịch sử về sự thất bại của cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Nếu năm 1965, quân Mỹ và Đồng minh tự cho mình là người chiến thắng, ồ ạt đổ quân vào diễu binh ở cảng Sài Gòn, thì tại nơi đây, vào các năm 1973 - 1974, nhân dân ta đã tận mắt chứng kiến cảnh thua trận của quân Mỹ và Đồng minh, gồm hàng chục ngàn binh lính và sỹ quan tướng tá đủ các cấp, lặng lẽ dọn bãi, xuống thang chiến tranh, lầm lũi rút quân về nước, không kèn, không trống, mở đầu các chiến thắng liên tiếp của quân và dân ta, dẫn đến chiến thắng vĩ đại của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
    Ngày nay đất nước ta hòa bình, đang xây dựng, đời sống nhân dân ta ngày càng được cải thiện, nhưng những kỷ niệm về một thời không bao giờ quên, những ngày tháng, các cơ quan kháng chiến, các lực lượng quân Giải phóng miền nam đã từng được đồng bào các dân tộc nơi đây cưu mang, làm bạn với núi rừng: Mây Tàu, Núi Bể, núi Chứa Chan.....cuộc sống thiếu thốn nhưng đầy tình nghĩa: củ khoai mài, khoai chụp, củ mỳ, đọt buông và trái buông đã giúp bảo tồn, củng cố và xây dựng lực lượng cách mạng tồn tại và phát triển cho đến ngày toàn thắng. Ngày nay, những người tâm huyết và cả lịch sử dân tộc Việt Nam ta sau này không bao giờ quên những địa danh lịch sử này.
    Cũng tại nơi đây vào đầu tháng 9 năm 1969, chúng tôi đau đớn nhận được tin: Chủ tịch Hồ Chí Minh không còn nữa! Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta bản Di chúc lịch sử. Ban Chấp hành trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã ra lời kêu gọi quân và dân cả nước đấy mạnh sự nghiệp chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn. Toàn quân ta đã mở đợt sinh hoạt chính trị: "học tập và làm theo Di chúc của Bác" ra sức cùng toàn dân thực hiện lời kêu gọi thiêng liêng của Người: "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi".
    Biến đau thương thành sức mạnh, các lực lượng vũ trang Giải phóng miền Nam tiếp tục mở những trận đánh mới, tiêu hao nhiều sinh lực đich: đánh bại cuộc càn lớn của Mỹ - Ngụy vào căn cứ U Minh - Quân khu 9 (cuối tháng 9 đầu tháng 12 năm 1969). Mở chiến dịch tiến công địch ở Đắc Lắc, Quảng Đức diệt hàng nghìn tên, phá hủy hơn trăm máy bay, hàng chục xe, pháo. Tại Phước Long, Phước Bình, Bù Đốp, Lộc Ninh, Sư đoàn 7 chủ lực Miền phối hợp với pháo binh, đặc công đánh hàng trăm trận, diệt hàng nghìn tên. Nhiều đơn vị và các nhân đã được Chính phủ lâm thời Công hòa miền Nam Việt Nam tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.*
    * Ngày 6 đến 8 tháng 6 năm 1968, Đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam đã họp, tuyên bố thành lập Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam do đồng chí Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch, thành lập Hội đồng cố vấn Chính phủ do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch

  5. #54
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    ĐƯỜNG TỚI TOÀN THẮNG

    Sang đầu năm 1970, tại Hội nghị lần thứ 18 Ban chấp hành Trung ương Đảng đề ra nhiệm vụ tiếp tục đẩy mạnh tiến công địch một cách toàn diện về quân sự, chính trị kết hợp tiến công ngoại giao, kiên quyết đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ.
    Bên cạnh phát triển chiến tranh nhân dân, ta cũng tập trung xây dựng bộ đội chủ lực, vừa xây dựng, chiến đấu, tác chiến hợp đồng binh chủng quy mô . Ngoài nhiệm vụ trong nước, lực lượng vũ trang ta còn phải làm tròn nghĩa vụ quốc tế, đoàn kết chiến đấu với nhân dân các nước bạn Lào và Campuchia đánh bại kẻ thù chung. Để đáp ứng yêu cầu của cách mạng miền Nam, ta đã thành lập Hội đồng chi viện tiền tuyến Trung ương, động viên sức mạnh của hậu phương lớn miền Bắc chi viện cho tiền tuyến lớn. Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ra mệnh lệnh cho cán bộ, chiến sỹ cả nước thực hiện lời kêu gọi của Trung ương Đảng và Chính phủ quyết tâm đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh của đế quốc Mỹ.

    Sau chiến dịch phản công đường 9 - Nam Lào, đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ - Ngụy đầu năm 1971, từ tháng 2 đến tháng 6, bộ đội chủ lực Miền tiếp tục đánh bại cuộc hành quân "Toàn thắng 1.71" của Mỹ - Ngụy ở Đông - Bắc Campuchia, chiến dịch này do Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền chỉ huy. Kết quả: quân đội Sài Gòn bị thiệt hại nặng, trên hai vạn tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, ta bắt sống hàng trăm tên, phá hủy hàng nghìn xe, hơn trăm khẩu pháo, bắn rơi 200 máy bay.

    Cũng vào giữa năm 1972, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng chủ trương "phát triển thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và trên cả chiến trường Đông Dương"....giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị, kiên trì kháng chiến nếu kẻ địch ngoan cố kéo dài chiến tranh. Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền tích cực chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1972 trên toàn chiến trường miền Nam.
    Theo kế hoạch tiến công của Thường vụ Quân ủy Trung ương: Trị - Thiên từ vị trí là hướng phối hợp quan trọng nay thành hướng chiến lược chủ yếu, tập trung diệt nhiều sinh lực địch, góp phần làm thay đổi cục diện chiến tranh ở miền Nam. Các chiến trường Miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Khu 5 phối hợp đánh vừa và lớn tạo thành cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam.
    Thực hiện kế hoạch, từ cuối tháng 3 năm 1972 đến đầu năm 1973, ta đã mở các chiến dịch lớn: chiến dịch tiến công Trị Thiên, chiến dịch Bắc Tây Nguyên, chiến dịch tiến công mang tên "Nguyễn Huuệ" ở miền Đông Nam Bộ và chiến dịch tiến công tổng hợp ở Bắc Bình Đinh. Địch đã bị đánh thiệt hại nặng, ta giải phóng hoàn toàn tỉng Quảng Trị, một số thị trấn, quận lỵ ở Tây Nguyên và huyện ở Bắc Bình Đinh, vùng giải phóng ở miền Đông Nam Bộ được mở rộng nối liền với vùng giải phóng ở Đông Bắc Campuchia, Tây Nguyên và hậu phương lớn miền Bắc, tạo thế phát triển tiến công sau này cho bộ đội chủ lực Miền.
    Cuối năm 1972, Bộ Tư lệnh Miền quyết định giải thể các Phân khu. Ở miền Đông, Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định được khôi phục lại, Quân khu miền Đông được thành lập gồm 5 tỉnh: Long An, Tây Ninh, Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Đặc Khu Rừng Sác. Bộ Tư lệnh Quân khu miền Đông gồm các đồng chí: Trần Nam Trung - Bộ trưởng Quốc phòng - Chính phủ lâm thời Cộnh hòa miền Nam Việt Nam làm Chính ủy, đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến, Tư lệnh. Phó Tư lệnh gồm các đồng chí: Bứa, Ngọc, Vũ Ba, Ngươn, Phó Chính ủy Quân khu là anh Mai và tôi. Đây là một tập thể mạnh. Nhận xong nhiệm vụ ở Bộ Tư lệnh Miền, chúng tôi di chuyển về căn cứ Mã Đà nằm gần sông Đồng Nai,một vùng đất được nhiều người truyền miệng: "Mã Đà sơn cước anh hùng tận" nói lên sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi đây.
    Trước thắng lợi to lớn về quân sự, chính trị, ngoại giao của ta, đặc biệt quân và dân hà Nội, Hải Phòng đã anh dũng chiến đấu đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 của địch trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, làm nên chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không". Đầu năm 1973, Chính phủ Mỹ đã phải tuyên bố: chấm dứt mọi hoạt động quân sự như ném bom, bắn pháo , thả mìn trên toàn lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
    Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định về chấm dứrt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết tại Paris, thủ đô nước Pháp, Mỹ phải cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, chấm dứt dính líu quân sự, rút hết quân Mỹ và các nước khác, không can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.
    Mặc dù Mỹ, quân chư hầu rút khỏi miền Nam và mặc dù Mỹ vẫn ra sức trấn an, tiếp tục viện trợ, cố vấn cho Ngụy quyền Sài Gòn kéo dài chiến tranh, nhưng chúng không thể đảo ngược được tình thế thất bại hoàn toàn. Quân dân ta ở miền Nam vô cùng phấn khởi trước thắng lợi vĩ đại suốt 18 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tiếp tục nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan các cuộc hành quân lấn chiếm, gom dân của quân ngụy Sài Gòn, kiên quyến bảo vệ vững chắc vùng giải phóng. Trong niềm vui chung ấy, tôi có niềm vui riêng: tháng 3 năm 1973, tôi được điện của anh mai Văn Vĩnh, Cục phó Cục Hậu cần Miền báo tin: vợ tôi là bác sỹ Nguyễn Thị Mạnh đã từ miền Bắc vào nam công tác, hiện đang nghỉ ở Cục Hậu cần Miền.
    Nhận được tin này, tôi rất mừng, anh Ngọc, Tư lệnh phó giúp cho một tổ vệ binh đi đón Mạnh. Từ ngày chúng tôi chia tay nhau ở Hà Nội tới giờ thấm thoát đã tròn 10 năm. Đó cũng là 10 năm đất nước đang chịu cảnh chiến tranh, cả hai miền Nam, Bắc quân dân ta đều cầm súng đánh Mỹ. Nhiều cán bộ ta ra Bắc công tác, chữa bệnh thường ghé lại nhà thăm vợ và các con tôi. Khi trở về Nam, anh Dương Tư cho biết: chị Tám ngoài đó giỏi lắm, khi anh đi Nam (1963) chị mới học đến lớp 5, sau đó chị vừa công tác vừa theo học lớp hàm thụ ban đêm, hoàn thành trương trìng cấp 3 rồi thi đỗ vào Trường Đại học Y Khoa. Năm 1964, chị Tám đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, phải phấn đấu dữ lắm mới đạt được như vậy....
    Vừa học Đại học, Mạnh, vợ tôi vừa nuôi dưỡng bốn con, khi Mỹ mở rộng chiến tranh, đánh phá ác liệt Hà Nội, Hải Phòng...Trường Đại học Y phải sơ tán lên rừng Thái Nguyên. Sinh viên vừa phải xây dựng trường, lớp vừa phải học rất vất vả. Do một nách bốn con, Mạnh phải nhờ bệnh nhân giúp đỡ, cho các cháu sơ tán về gia đình của họ. Cháu Thăng về Vĩnh Phú, cháu Trung về Ninh Bình, cháu Trang về Hưng Yên, riêng cháu Phương còn nhỏ ở luôn tại trường với mẹ. Hàng tuần, Mạnh phải luân phiên đi thăm con. Cứ mỗi trưa thứ 7, với chiếc xe đạp Junior, Mạnh đạp về nơi con ở. Trên đường đi, nhiều lúc gặp máy bay đich đánh phá, nhiều đoạn đường hay phà bị tắc, Mạnh đến được nơi con ở thường đã một, hai giờ khuya. Sợ phiền gia đình, Mạnh không dám gọi cửa, phải trải nylon nằm nghỉ ngoài hiên nhà. đến sáng, gặp con, Mạnh lo tắm rửa, vá áo, quần.....cho chúng, tới trưa lại lóc cóc đạp xe về trường để kịp lên lớp vào sáng thứ hai. Cuộc sống vất vả như vậy kéo dài tới bốn năm, (sau đó, Tổng Cục Chính tri có chính sách gửi các cháu sang Quế Lâm - Trung Quốc nhờ bạn giúp đỡ nuôi dưỡng, học hành).
    Sau sáu năm học hành, Mạnh tốt nghiệp trường Đại học Y khoa với tấm bằng bác sỹ. Tại chiến trường, khi nhận được thư Mạnh hỏi ý kiến nên công tác ở đâu, tôi đã không ngần ngại viết thư trả lời: chiến trường đang cần. vào Nam công tác là tốt nhất. Thế là đầu năm 1973, Mạnh thu xếp gửi con lại Hà Nội nhờ bà con chăm sóc, theo đường Trường Sơn vào Nam....
    Sáng hôm ấy, tại căn cứ Mã Đà, tôi vừa giao ban xong thì một cán bộ đến ghé tai nói nhỏ: chị đã đến! tôi lập cập chạy ra đón Mạnh, chúng tôi ôm chầm lấy nhau nghẹn ngào.....Những giọt nước mắt chờ đợi, nhớ thương......nóng hổi của Mạnh thấm vào vai tôi. Trong những giây phút 10 năm gặp lại ấy, tôi xúc động chỉ nói được vài câu:
    - Em vất vả quá, đảm đang, dũng cảm quá, thật không có phần thưởng nào xứng đáng để thưởng cho em.
    Mạnh ngước cặp mắt đã nhòe lệ nhìn vào mái tóc đã ngả màu muối tiêu của tôi, nhỏ nhẹ:
    - Mới 10 năm mà tóc anh đã bạc rồi.
    Các anh trong Bộ Tư lệnh kéo tới chúc mừng cho cuộc hội ngộ của vợ chồng tôi, chuyện đi đường của Mạnh, chuyện công tác, tình hình ngoài Bắc, trong Nam râm ran trong căn nhà dã chiến của người lính.
    Sau đó, Mạnh được Bộ Tư lệnh Quân khu bổ nhiệm làm trưởng ban quân y, chăm lo sức khỏe cho Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu miền Đông, đến tháng 11 năm 1974, chúng tôi sinh thêm cháu gái tại Lộc Ninh, đặt tên là Đặng Thị Phương Ninh.
    Vào cuối năm 1973, tôi được lệnh về Miền, anh Hai Chân, Phó Chính ủy Bộ Tư Lệnh Miền sau một hồi trao đổi tình hình, công việc, thăm hỏi sức khỏe, nói với tôi:
    - Trường quân chính Miền làm nhiệm vụ đào tạo cán bộ trung cao cấp cần đồng chí có kinh nghiệm chiến đấu, công tác quân sự địa phương, Bộ Tư lệnh Miên quyết định điều anh về làm Chính ủy trường.
    Tôi vẫn xácđịnh và tự nhủ: điều chuyển công tác là chuyện quá quen, bình thường, mình cố gắng có sự hỗ trợ của tập thể là làm được.
    Trường quân chính Miền là đơn vị có truyền thống, đào tạo nhiều cán bộ tham gia chỉ huy, chiến đấu trên khắp các chiến trường, trường đào tạo mỗi khóa la 500 cán bộ, ra trường là chỉ huy cấp tiểu đoàn, trung đoàn và sư đoàn, vì vậy, đòi hỏi nhà trường phải trang bị cho mỗi học viên có đủ trình độ quân sự, chính trị, đủ phẩm chất, năng lực hoàn thành nhiệm vụ chỉ huy đơn vị mình. Rõ ràng, công tác lãnh đạo, chỉ huy Trường Quân chính Miền không ung dung, thoải mái chút nào.
    Tôi về gặp anh Chín Hiền (Võ Minh Như) Hiệu trưởng nhà trường. Anh Chín hiền lành, thật thà, cởi mở thật sự là nguồn động viên đối với tôi, chúng tôi tập trung lo công việc diễn ra hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, chuẩn bị, thông qua bài giảng, phương án luyện tập. Ra thao trường luyện tập, diễn tập quân sự, kiểm tra sát hạch.....Tất cả đều phải làm tỉ mỉ, chu đáo, nhằm vào mục tiêu: đào tạo, rèn luyện những cán bộ chỉ huy có bản lĩnh, có trình độ quân sự, chính trị, đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ huy cho các đơn vị, chiến trường.
    Vừa bế giảng lớp đào tạo thứ 11, đang bắt đầu lo chiêu sinh tiếp, chúng tôi nhận lệnh của Bộ Tư lệnh Miền: huy động và quản lý toàn bộ học viên sơ, trung, cao cấp các trường trong toàn Miền sẵn sàng cung cấp cán bộ cho phía trước, đáp ứng yêu cầu chiến dịch lớn: chiến dịch giải phóng thành phố Sài Gòn lịch sử, chiến dịch Xuân 1975, chiến dịch mang tên Bác kính yêu diễn ra vói tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị: thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng!
    Tại Bù Đốp, căn cứ của trường Quân chính Miền, tin chiến thắng dồn dập bay về làm nức lòng chúng tôi. Theo lệnh của Bộ Tư lệnh Miền: gần 300 học viên của các trường đã lần lượt lên đường, tỏa về các đơn vị, mặt trận, tham gia chỉ huy, chiến đấu. Đây là chiến dịch hiệp đồng binh chủng quy mô lớn nhất của ta từ trước tới nay, một chién dịch quyết chiến chiến lược kết thúc chiến tranh. Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, tại Bù Gia Mập, chúng tôi nhận được tin đại quân ta đã tiến vào Sài Gòn, Tổng thống Ngụy Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng không điều kiện quân cách mạng....còn gì vui hơn khi Sài Gòn, miền nam hoàn toàn giải phóng, đất nước đã thống nhất không còn bóng quân xâm lược....chúng tôi hò reo rồi ôm chầm lấy nhau khóc vì tự hào, xúc động, ngước mắt lên bầu trời Bù Đốp, nhìn cánh chim đang bay lượn giữa đất trời không còn bom rơi, đạn nổ, nghĩ đến chặng đường dài 30 năm kháng chiến gian khổ, hy sinh của dân tộc, tôi mơ ước được chắp cánh bay nhanh về chia vui với Mẹ, với quê hương Thanh Minh, Khánh hòa, gặp lại Sài Gòn - Gia Định, Củ Chi, Thủ Đức....nơi tôi đã từng chiến đấu trong ngày vui đại thắng này.
    Sau chiến thắng 30 tháng 4, chúng tôi được lệnh cùng đoàn cán bộ Trường Quân chính Miền tiếp quản Trường Sỹ quan Đà Lạt, một rung tâm đào tạo sỹ quan của chế độ cũ.

  6. #55
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    CHƯƠNG NĂM
    TRÊN ĐẤT NƯỚC CHÙA THÁP

    HOÀN CẢNH MỚI, NHIỆM VỤ MỚI

    Cuộc chiến tranh 30 năm đã kết thúc, Cách mạng Việt Nam bước sang một thời kỳ mới - thời kỳ cả nước đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
    Chiến tranh đã kết thúc, nhưng hậu quả của nó để lại rất nặng nề. "Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn". Cuộc đấu tranh giai cấp nhằm bảo vệ thành quả cách mạng nhân dân ta đã phải đổi bằng xương, máu với giành được, tiếp tục diễn ra gay gắt và phức tạp. Ngoài những khó khăn về kinh tế đã lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá, các thế lực phản động tiếp tục câu kết, ra sức phá hoại, cản trở con đường đi lên của cách mạng nước ta.
    Với vị trí đặc biệt quan trọng, miền Đông Nam Bộ trở thành một điểm nóng trong cuộc đấu tranh giai cấp, khắc phục hậu quả chiến tranh diễn ra trên khắp các mặt của đời sống xã hội. Từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến tháng 9 năm 1977, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Cục, Quân ủy Miền, Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn - Gia Định (chưa giải thể) đã cùng ủy ban quân quản các tỉnh, thành phố và lực lượng vũ trang của Bộ tiến hành các nhiệm vụ: tiếp quản, truy quét tàn quân địch, tập trung cải tạo binh sỹ Ngụy, lập lại trật tự xã hội, ổn định đời sống nhân dân và củng cố chính quyền cách mạng. Lực lượng vũ trang Quân khu 7 đã góp phần thắng lợi bảo vệ các mục tiêu chiến lược, bảo vệ an toàn địa bàn trong cuộc Tổng tuyển cử trên cả nước (1976). Sau khi có quyết định giải thể của Trung ương Cục miền Nam và Bộ Tư lệnh Miền (ngày 2 tháng 7 năm 1976), chấp hành quyết định của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Quân khu 7 được kiện toàn tổ chức một cách toàn diện. Địa bàn Quân khu bao gồm: thfnh phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Sông Bé, Tây Ninh, Vũng Tàu - Côn Đảo và Long An. Các đơn vị, cơ quan, nhà trường thuộc quân khu cũng được chấn chỉnh, đảm trách những nhiệm vụ cụ thể theo chức năng và từng khu vực, địa bàn được phân công.
    Bên cạnh hàng loạt những khó khăn, phức tạp phải giải quyết sau chiến tranh, các lực lượng vũ trang quân khu phải bước vào cuộc chiến đấu mới: cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trên biên giới Tây Nam.
    Ngay từ tháng 5 năm 1975, sau ngày đất nước thống nhất chưa được bao lâu, được sự hậu thuẫn của các thế lực phản động bên ngoài, tập đoàn phản động Pol Pot - Ieng Sari đã tiến hành xâm lấn biên giới Tây Nam nước ta. Chúng cho quân bất ngờ nổ súng tiến công các vùng Mỏ Vẹt, Tây Ninh, đánh chiếm đảo Thổ Chu, giết hại, bắt bớ nhiều ngư dân Việt Nam. Từ giữa năm 1976, bọn Pol Pot - Ieng Sari càng bộc lộ rõ bản chất phản động, âm mưu chia rẽ, gây hận thù giữa hai dân tộc Việt Nam và Campuchia. Chúng đã ngang nhiên tiến hành hàng loạt các hành động xâm lấn chủ quyền Việt Nam trên dọc tuyến biên giới Tây Nam.
    Trên tuyến biên giới thuộc địa bàn Quân khu 7 bảo vệ, quân Pol Pot đã gây ra nhiều tội ác: giết hại nhiều cán bộ, nhân dân, trong đó có nhiều phụ nữ, trẻ em, lùa bắt trâu, bò, thậm chí ngang ngược cho đào, di dời cột mốc biên giới ở Gò Dầu, Cà Tum, bất ngờ tiến công các đồn biên phòng của ta...Để thực hiện âm mưu đen tối, chính quyền Pol Pot đã chia Campuchia ra làm 7 quân khu và hai đặc khu (Phnom Penh và Kampong Som) và một vùng đặc biệt là Kratie, Tổng quân số của chúng từ 18 đến 20 vạn quân chủ lực, 10 vạn quân địa phương. Đối diện với Quân khu 7 là Quân khu Đông (Quân khu 203) của Pol Pot, bao gồm địa bàn các vùng Svay Rieng, Mimot, Prey Veng, Krek. Khi chiến sự nổ ra quân Pol Pot (Khmer Đỏ) đã tập trung lực lượng vào khu vực trọng điểm Quân khu Đông tiếp giáp với Quân khu 7 của ta từ 2 sau tăng lên 7 sư đoàn chủ lực. Bước vào cuộc chiến đấu mới, với một đối tượng tác chiến hôm qua còn là bạn cùng ta đánh đuổi đế quốc giành độc lập, trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn đang từng bước khắc phục, một số không ít cán bộ, chiến sỹ có tư tưởng xả hơi sau chiến tranh, chủ quan khinh địch, lơ là cảnh giác, quả là một thử thách to lớn đối với Quân khu 7.
    Ngày 30 tháng 4 năm 1977, Khmer Đỏ bất ngờ mở các đợt tiến công cấp sư đoàn trên toàn tuyến biên giới An Giang (Quân khu 9) sát hại nhiều dân thường, tàn phá, cướp bóc nhiều tài sản của dân.
    Trước tình hình này, Quân khu 7 đã ra chỉ thị cho lực lượng vũ trang quân khu sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân vùng biên giới, không để bất ngờ, bị động, lúng túng. Tháng 5 năm 1977, Bộ Tổng tham mưu cũng đã giao nhiệm vụ cho Quân khu 7 phối hợp với Quân đoàn 4 tác chiến.
    Ngày 25 tháng 9 năm 1977, Khmer Đỏ đồng loạt tiến công các chốt của ta trên biên giới thuộc ba huyện Tân Biên, Bến Cầu và Châu Thành (Tây Ninh). Lực lượng tại chỗ của ta đã dũng cảm đánh địch, nhưng do ban đầu mất cảnh giác nên quân và dân nơi đây bị thiệt hại khá nặng.
    Sau những trận đánh, tiến công đẩy lùi địch trên toàn tuyến biên giới, ta thu quân về vì thiện chí hòa bình. Nhưng Khmer Đỏ vừa ăn cướp vừa la làng, tiếp tục đeo bám, áp sát tăng quân, thực hành xâm nhập, lấn chiếm, tạo thế giằng co trên biên giới Việt Nam - Campuchia.
    Tháng 1 năm 1978, Bộ Tổng tham mưu ra mệnh lệnh 04/ML, nêu rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề biên giới Việt Nam - Campuchia. Đảng và Nhà nước ta cũng chủ trương đẩy mạnh công tác chính trị, quân sự, ngoại giao, tranh thủ sự đồng tình của quốc tế về lập trường, quan điểm tình - lý rõ ràng của ta về vấn đề biên giới.
    Tình hình biên giới Việt Nam - Campuchia vẫn tiếp tục diễn biến căng thẳng, phức tạp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, tháng 5 năm 1978, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định kiện toàn lại Bộ Tư lệnh Quân khu 7: Trung tướng Lê Đức Anh làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, Thiếu tướng Dương Cự Tẩm làm Phó Chính ủy, các Phó Tư lệnh gồm: Thiếu tướng Nguyễn Minh Châu, Thiếu tướng Đồng Văn Cống, Nguyễn Hồng Lâm, Đại tá Lương Văn Nho và Nguyễn Thới Bưng.
    Đội hình, tổ chức lực lượng vũ trang quân khu, một số đơn vị cũng được điều chỉnh, củng cố và phát triển mới. Quân khu 7 cùng các đơn vị bạn đã liên tục mở các đợt tiến công, đánh thiệt hại nặng nhiều sinh lực địch.
    Sau khi được cấp trên điều đi học lớp quân sự cao cấp ở Học viện Quân sự cấp cao Hà Nội (1976 - 1978), tôi trở về Quân khu 7. Cũng thời điểm này, tôi được Bộ Tư lệnh Quân khu 7 giao nhiệm vụ phụ trách công tác giúp bạn Campuchia. Đây là nhiệm vụ rất tế nhị, khó khăn. Những ngày đầu làm nhiệm vụ, tôi có nhiều bỡ ngỡ và thiếu kinh nghiệm. Được sự phối hợp và giúp đỡ của các cơ quan quân khu, cùng các anh Phùng Đình Ấm (ba Cung), Mười Phiên, Châu Ba, Ba Hên, anh Hồng và nhiều người khác, nên công việc cũng dần quen và thuận lợi.
    Cùng với Quân đoàn 3 và Quân đoàn 4, Quân khu 7 đã tham gia tiến công làm tê liệt Quân khu Đông của Khmer Đỏ, mở ra vùng giải phóng đầu tiên, làm điểm tựa cho bước phát triển mới của cách mạng Campuchia. Ngày 2 tháng 12 năm 1978, tại Snoul, vùng giải phóng Campuchia, Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia đã được thành lập, ra mắt quần chúng, đứng đầu mặt trận là các ông: Heng Samrin, Chea Sim, Hun Sen...Ngọn cờ đỏ với năm ngọn tháp vàng là biểu tượng cho lực lượng cách mạng Campuchia. Dưới sự lãnh đạo của mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, quân đội cách mạng và các tầng lớp nhân dân Campuchia bắt đầu một thời kỳ đấu tranh: tiêu diệt và lật đỏ chính quyền phản động của Pol Pot - Ieng Sari, cứu đất nước Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng tàn bạo của chúng, khôi phục và xây dựng lại tình đoàn kết giữa hai dân tộc Việt nam và Campuchia.
    Từ đây, lực lượng vũ trang Quân khu 7 cùng các đơn vị, địa phương kết thúc thời kỳ chiến đấu bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của đất nước trên tuyến biên giới Tây Nam. Trong đội hình lực lượng vũ trang quân khu, chúng tôi chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế với nhân dân Campuchia.

    NHỮNG NGƯỜI LÍNH TÌNH NGUYỆN

    Đáp lời kêu gọi của mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia khẩn thiết yêu cầu Quân đội nhân dân Việt Nam giúp đỡ nhân dân Campuchia nổi đậy giải phóng đất nước, thoát khỏi họa diệt chủng, với tinh thần quốc tế vô sản, lực lượng vũ trang ta, trong đó có Quân khu 7 đã phối hợp với lực lượng của bạn thực hành Tổng tấn công mùa Xuân năm 1979.
    Từ ngày 21 tháng 12 năm 1979 đến ngày 31 tháng 1 năm 1979, Quân khu 7 đã sử dụng ba sư đoàn (5, 302, 303) phối hợp với Quân đoàn 3 và hai trung đoàn Đặc công 113 và 117 của Bộ và lực lượng vũ trang cách mạng của bạn lần lượt đánh chiếm Kratie, Battambang, Kampong Cham, Kampong Thom, Siem Reap và các vùng phụ cận. Ngày 7 tháng 1 năm 1979, ta và bạn giải phóng thủ đô Phnom Penh. Trước sưc tiến công như chẻ tre của lực lượng cách mạng, quân Khmer Đỏ như ong vỡ tổ, mạnh ai nấy chạy, những tênđầu sỏ như Ieng Sari, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng ngoại giao của Khmer Đỏ và gia đình, dù biết phnom Penh đã thất thủ, đang ăn trưa tại khách sạn ở thị xã Siem Reap không ngờ quân cách mạng tiến nhanh đến thế. Nghe tiếng xe tăng ta, chúng bỏ chạy thục mạng, để lại trên bàn ăn các giấy tờ tùy thân trong đó có cả giấy xuất cảnh đi nước ngoài. Đất nước Campuchia được giải phóng, họa diệt chủng Pol Pot đã bị xóa bỏ, nhưng một bộ phận địch tháo chạy qua Thái Lan, một bộ phận khác chạy vào các vùng rừng núi lập căn cứ tiếp tục chống phá cách mạng. Đất nước Campuchia sau bốn năm sông dưới chế độ Pol Pot đã trở nên tiêu điều, kiệt quệ bởi một mô hình xã hội quái gở: tiêu diệt người yêu nước, trí thức, thưc hiện một đất nước không trường học, bệnh viện, không có các cơ sở văn hóa, xóa bỏ tiền tệ.....xã hội Campuchia bị đảo lộn toàn bộ, trở thành một nhà tù, một trại tập trung khổng lồ có một không hai trên thế giới. Cảnh tượng bi thảm của nhân dân Campuchia trong những ngày đầu giải phóng làm những người lính tình nguyện Việt Nam hết sức đau lòng: đồng ruộng bị bỏ hoang, nhà cửa bị đốt cháy, nhiều đám ruộng lúa chín vàng nhưng không ai gặt hái. Thay vào đó là cảnh diễn ra trên các trục lộ: đồng bào, kẻ xuôi, người ngược đi bộ, đi bằng mọi phương tện thô sơ, gồng gánh, mang vác đồ đạc, bồng bế nhau trở về quê cũ. Trên những gương mặt đen sạm vì nắng gió, những thân hình đói khát, tiều tụy vẫn còn đọng lại những nét kinh hoàng, sợ hãi vì sự bắn giết, đày đọa của Khmer Đỏ đối với họ. Cơn ác mộng Pol pot, nỗi ám ảnh đe dọa của chúng dù cách mạng đã về, vẫn không phải một sớm, một chiều làm mỗi người dân Campuchia quên được. Tàn quân Pol Pot dựa vào các thế lực phản động tiếp tục tìm mọi cách khôi phục lại lực lượng, nuôi ý đồ quay trở lại thống trị, thực hiện các thủ đoạn chính trị, quân sự, ngoại giao nhằm xóa bỏ thành quả cách mạng đã giành được của nhân dân Campuchia.
    Trong hoàn cảnh đó, tháng 2 năm 1979, Chính phủ ta và Chính phủ cách ạmng Campuchia ký hiệp ước hào bình hữu nghị và hợp tác giữa hai nước, cam kết ủng hộ nhau về mọi mặt nhằm tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền độc lập, thốnh nhất toàn vẹn lãnh thổ và công cuộc lao động hòa bình của nhân dân mỗi nước. Nghị quyết Đại hội lần thứ V của Đảng ta đã thể hiện rõ quan điểm đoàn kết quốc tế giữa nước ta với Campuchia và Lào: Đông Dương là một chiến trường. Liên minh chiến lược, chiến đấu giữa ba nước Đông Dương là một quy luật tồn tại và phát triển của mỗi nước cũng như của ba nước....Nhân dân ta phải giữ gìn tình hữu nghị trong sáng và truyền thống đoàn kết giữa ba dân tộc, không ngừng củng cố, tăng cường quan hệ đặc biệt và liên minh chiến đấu giữa ba nước, quyết tâm làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại, chia rẽ, xâm lược của bọn đế quốc và phản động quốc tế....
    Theo chỉ thị của đồng chí Lê Đức Anh, chúng tôi có ba nhiệm vụ chính:
    - Giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang, thực lực chính trị, tạo điêu kiện để bạn đứng vững, tự quản lý được đất nước.
    - Giúp và phối hợp chặt chẽ với bạn đánh tiêu diệt, làm tan rã hoàn toàn bọn phản động Pol Pot - Ieng Sari.
    - Xây dựng mối tình đoàn kết Việt nam - Campuchia bền vững.
    Từ quan điểm chủ trương của Đảng, tinh thần chỉ thị của cấp trên, chúng tôi luôn xác định: "Giúp bạn tức là tự giúp mình", làm nghĩa vụ quốc tế cũng là làm nhiệm vụ dân tộc. Ta giúp bạn và bạn cũng giúp ta. Sự giúp đỡ nhau là trên cơ sở bình đẳng về chính trị và nghĩa vụ. Mỗi nước tùy theo khả năng của mình mà làm tốt nhất nhiệm vụ dân tộc và góp phần cao nhất vào nhiệm vụ quốc tế. Trong quá trình công tác giúp bạn, cần tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, tránh tư tưởng dân tộc hẹp hòi và cần nâng cao tinh thần cảnh giác, kiên quyết đập tan mọi âm mưu thủ đoạn của địch chia rẽ khối đoàn kết giữa ba nước Đông Dương, chia rẽ hai nước Việt Nam - Campuchia.
    Chấp hành mệnh lệnh cấp trên, một bộ phận lực lượng vũ trang quân khu và các chuyên gia đã triển khai nhiệm vụ, cùng lúc thực hiện hai chức năng là đội quân chiến đấu và công tác.
    Thời gian đầu năm 1979, quân tình nguyện Quân khu 7 triển khai đội hình, bố trí thế tiến công các căn cứ điểm còn lại của địch, giải phóng và phát động nhân dân xây dựng và bảo vệ chính quyền, xây dựng thực lực cách mạng giúp bạn, phòng thủ chặt biên giới Campuchia - Thái Lan. Để chỉ đạo, chỉ huy tác chiến, giúp bạn mọi mặt. Tiền phương Quân khu 7 được thành lập tại Campuchia, lúc đầu phụ trách 7 tỉnh: Battambang, Siem Reap, Kampong Thom, Kampong Cham, Kratie, Prey Veng, và Svay Rieng do đồng chí Nguyễn Minh Châu, Phó Tư lệnh Quân khu 7 làm Tư lệnh. Sau đó, tiền phương này lại chia: Tiền phương 1 - phía Tây Bắc gồm hai tỉnh Battambang và Siem Reap. Tiền phương 2 gồm năm tỉnh phía Đông Nam do đồng chí Bùi Thanh Vân (Út Liêm), Phó Tư lệnh Quân khu làm Tư lệnh, tôi và anh Hiền làm Phó Tư lệnh.
    Tháng 6 năm 1979, Bộ Quốc phòng ta quyết định chuyển Tiền phương quân khu thành hai mặt trận:
    - Mặt trận 479 (Bắc Campuchia) gồm các tỉnh Siem Reap và Battambang.
    - Mặt trận 779 (Đông Campuchia) gồm các tỉnh: Kampong Cham, Kampong Thom, Kratie, Prey Veng, Svay Rieng. Tôi được Bộ Quốc phòng đề bạt làm Phó Tư lệnh quân khu, kiêm Tư lệnh Mặt trận 779. Các phó tư lệnh gồm các anh: Sáu Hưng, Ba Cung, Chín Tùng, Hai Vọng, Năm Nhỏ, Hai Thoan, (sau này bổ sung các đồng chí Bảy Dũng, Út Đặng, Long (Toàn), Chín Mây làm phó tư lệnh). Các anh trong Bộ Tư lệnh mặt trận 779 đều dày dạn kinh nghiệm chiến đấu, công tác. Chuẩn bị gtrieern khai kế hoạch giúp bạn năm 1980 - 1981, chúng tôi suy nghĩ nhiều nên giải quyết vấn đề gì? Tập trung vào khâu nào? Bộ đội ta có kinh nghiệm đánh Pháp, đánh Mỹ, có khả năng giúp bạn xây dựng lực lượng tác chiến đánh địch và làm công tác dân vận, Nhưng khâu quan trọng là giúp bạn xây dựng Tỉnh Đảng bộ mạnh có đủ ban, ngành để lãnh đạo nhân dân trong tỉnh đủ sức đánh bọn phản động, giữ vững an ninh trật tự, cải thiện đời sống là khâu khó mà bộ đội ta chưa có kinh nghiệm. Tôi về quân khu trao đổi vấn đề này với anh Năm Ngà, Tư Lệnh Quân khu. Anh Năm đồng tình nhận định của tôi, anh cũng đang suy nghĩ nhiều về vấn đề này và cho tôi biết: Bộ Chính trị dã có dự thảo chỉ thị điều chuyên gia Việt Nam sang giúp bạn ở các tỉnh. Tôi lên Đồng Nai tìm gặp anh Ba Bùi (Lê Thành Ba) lúc này anh là phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Tôi biết anh có kinh nghiệm xây dựng Tỉnh Đảng bộ địa phương. Tôi và anh Ba Bùi là bạn nối khố từ thời đánh Pháp. Năm 1947, tôi là Chính trị viên Đại đội A, Chi đội 16 đóng quân tại Long Tân, anh Ba Bùi là xã đội trưởng dân quân Long Tân. Chúng tôi trưởng thàng qua chống Mỹ, cùng nhau là Khu ủy viên Khu ủy miền Đông. Tay bắt mặt mừng, tôi đi thẳng vào vấn đề, nêu khó khăn trong việc giúp bạn xây dựng Tỉnh Đảng bộ mạnh toàn diện, đúng sở trường của anh, anh cười, nói lớn: đúng rồi, nếu không làm được việc này thì biết bao giờ bạn mới đứng vững được, và bộ đội ta chết già ở Campuchia sao? Anh nói: khi có chỉ thị của Bộ Chính trị thì anh sẽ cử đoàn chuyên gia tỉnh có đủ đại diện ban, ngành sang giúp tỉnh bạn, còn trước mắt cần gì tôi cứ điện về, Đồng Nai tuy còn khó khăn nhưng sẽ hết mình giúp bạn. Anh Ba Bùi hứa là làm, Đồng Nai cũng như các tỉnh trong cả nước đã chi viện tích cực cho bạn, các đoàn chuyên gia Việt Nam do Đồng Nai cử lên giúp tỉnh Kampong Thom do anh Sáu Nguyện, anh Hai Thông làm trưởng đoàn đều là những đồng chí giỏi, có nhiều kinh nghiệm giúp bạn, được bạn và nhân dân yêu mến. Tôi trở về Mặt trận lòng đầy phấn khởi, vì nhiệm vụ quốc tế giúp bạn có chỗ dựa vững chắc là các cơ quan Quân khu và các tỉnh trong cả nước.
    Trong ba tháng, từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1980, Quân khu 7 đã thành lập các đoàn quân sự để chỉ đạo thống nhất quân tình nguyện, trên các tỉnh, thành phố: "Đoàn 7701 (Kampong Thom), Đoàn 7702 (Kampong Cham), Đoàn 7703 (Svay Rieng), Đoàn 7704 (Battambang), Đoàn 7705 (Siem Reap), Đoàn 7706 (Prey Veng), Đoàn 7707 (Kratie) và Đoàn 7708 (Thủ đô Phnom Penh)*.
    Từ giữa năm 1981, lực lượng vũ trang quân tình nguyện quân khu dần dần được rút gọn. Mặt trận 779 chỉ còn bảy trung đoàn bộ binh, 32 tiểu đoàn bộ binh cơ động địa bàn, 1 trung đoàn và 3 tiểu đoàn binh chủng. Đến cuối tháng 12 năm 1983, có 5 trung đoàn bộ binh và 46 tiểu đoàn cơ động địa bàn, các đơn vị binh chủng và cơ quan không thay đổi. Mặt trận 479 từ cuối năm 1981 trở về trực thuộc Bộ, tới giữa năm 1984 lại trở về trực thuộc Quân khu 7.
    Sau khi phân chia địa bàn, bố trí lại lực lượng quân tình nguyện, Quân khu 7 hình thành hai mặt trận: biên giới và nội địa. Quân tình nguyện Quân khu 7 cùng lực lượng vũ trang bạn mở liên tiếp nhiều chiến dịch, cao điểm tiến công tiêu diệt địch, alfm tan rã nhiều sinh lực địch, thu, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Đợt phản công mùa khô năm 1981 - 1983, tiến ccoong căn cứ quân sự địch ở vùng sông Sen, Chi Nich, làm tan rã hơn 1000 tên thuộc nhóm "ly khai" Pol Pot và các nhen nhóm phản động khác trong nội địa. Mùa khô 1982 - 1983, ta tiếp tục tiến công địch ở Siem Reap, biên giới Battambang, diệt, phá hủy căn cứ Nong Chan...buộc địch phải lùi sâu vào đất Thái Lan. Trong quá trình liên minh chiến đấu, Quân khu 7 cũng đã tích cực giúp bạn về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế. Ngoài việc phát động quần chúng, ta và bạn tập trung cứu đói, chữa bệnh, giúp nhân dân trở về quê cũ, ổn địhn cuộc sống, xây dựng cácđoàn thể, chính quyền cách mạng ở các phum, sóc....Các phong trào "toàn dân đánh giặc" "toàn dân tham gia xây dựng thực lực cách mạng, củng cố chính quyền, xây dựng xã, ấp vững mạnh" đã có tác dụng tốt, từng bước làm chuyển biến, tạo cho bạn trưởng thành nhiều mặt. Qua thực tiễn chiến đấu, công tác, mối quan hệ đoàn kết giữa ta và bạn càng được củng cố, phát triển, một số tỉnh, khu vực, bạn đã tự đảm đương công việc.
    Đất nước Campuchia sau vài năm giải phóng khỏi chế độ đao phủ Pol pot đã dần dần hồi sinh. Các chiến sỹ quân tình nguyện Việt Nam đã được nhân dân Campuchia yêu mến. Ngoài nbhaajn thức chủ quan, tỏ rõ bản chất tốt đẹp "Bộ đội Cụ Hồ" của mỗi cán bộ, chiến sỹ, kết quả còn do chúng ta đã duy trì, làm tốt công tác chính trị - tư tưởng, có kỷ luật nghiêm minh đối với sai phạm của một số quân nhân gây ra một số vụ việc đáng tiếc xảy ra trên đất bạn.
    Trong chiến đấu, công tác, bộ đội và nhân dân Campuchia đã chứng kiến nhiều tấm gương anh dũng hy sinh, tinh thần chịu đựng gian khổ, nhường cơm, sẻ áo của cán bộ, chiến sỹ, chuyên gia Việt Nam. Trong suốt thời gian làm nhiệm vụ quốc tế, sự giúp đỡ vô tư cả về người và của của ta đã làm nhiều cán bộ Campuchia xũ động, họ nói: "uân đội Việt Nam giúp nhân dân Campuchia mọi mặt không quản một hy sinh nào". Ông Pi Chay, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Kampong Cham khi trả lời phỏng vấn của phóng viên nước ngoài, đã nói: "Nếu chúng tôi có cung cấp cho bộ đội Vjeejt Nam thì đó là nước và khí trời".trong những năm 1980 - 1984, trong lúc đất nước ta vẫn còn khó khăn, nhiều nơi phải ăn bo bo thiếu đói, bữa cháo, bữa cơm, chúng ta vẫn san sẻ giúp bạn. Có lần tôi xuống Svay Rieng công tác, gặp 10 xe tải lớn của ta chở gạo sang giúp bạn. Ông Henh Som Cai, lúc đó là Bí thư, Chủ tịch tỉnh Svay Rieng, trước đám đông dân chúng chờ nhận lương thực cứu đói đã nói: "Đây là gạo cứu tế mà nhân dân Việt nam gửi tặng cho chúng ta, chúng ta nhận được gạo này, nhưng lúc này, nhân dân Việt Nam cũng đang còn đói, Việt Nam nhường gạo cho chúng ta cxng là chia phần máu cho chúng ta..."
    Nhìn những người dân Campuchia già, trẻ, lớn, bé gầy yếu vì đói và bệnh tật, chúng tôi thương quá, tôi nhớ về Tổ quốc, đồng bào mình tiếp tục giúp bạn, dù một nắng hai sương chống chọi với thiên tai, lụt lội, hạn hán làm ra hạt lúa, củ khoai nhưng vẫn chưa thoát được cảnh đói nghèo.
    Trước thắng lợi của ta và bạn, trước sức mạnh đoàn kết giữa hai dân tộc đã được khôi phục, phát triển, bọn phản động Pol Pot hoảng sợ, thường lợi dụng đặc điểm tâm lý người dân đe dọa, rỉ tai tuyên truyền, xuyên tạc: "Việt Nam là xâm lược, là kẻ thù....không thương dân mình"...nhằm lôi kéo, chia rẽ đồng bào tránh né hoặc xa rời ta. Chính vì vậy, ngoài những hành động thực tế diễn ra hàng ngày, công tác vận động, thuyết phục, tuyên truyền cho nhân dân nhận thức rõ tình đoàn kết Việt Nam - Campuchia, thấy được âm mưu thủ đoạn thâm độc của bọn Pol Pot cũng là một cuộc đấu tranh dai dẳng, quyết liệt đối với mỗi cán bộ, chiến sỹ, chuyên gia Việt Nam trên đất bạn, do khác về phong tục tập quán, không quen địa hình thời tiết, bất đồng ngôn ngữ nên cán bộ, bộ đội phải kiên trì tìm hiểu tâm tư cán bộ bạn, dân bạn để có chương trình công tác vận động quần chúng. Nhiệm vụ công tác, chiến đấu luôn đan xen, thường trực đòi hỏi một quyết tâm, sự đoàn kết nhất trí, vượt hy sinh, thử thách mới làm tròn, làm tốt. Với đặc điểm hoạt động trên đất bạn có nhiều khó khăn như vậy, trách nhiệm, bản lĩnh, tính năng động, sáng tạo của cán bộ chỉ huy các cấp là rất quan trọng. Nhưng cũng chính trong gian khổ, thử thách, đội ngũ cán bộ ta cũng trưởng thành nhanh chóng. Tại địa bàn Mặt trận 779 phụ trách, ở đâu chúng tôi cũng gặp nhiều cán bộ các cấp miệt mài công việc, nhiệm vụ, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý trong công tác giúp bạn như các đồng chí Tám Tường, Bảy Huệ, Bảy Ga, Bảy Viễn, Mười Nỷ, Hai Sang, Năm Lợi, Bảy Thành...
    Nhớ lại vào một ngày giáp tết năm 1983, chúng tôi lên thông qua kế hoạch tổ chức lực lượng ta và bạn đánh quân Pol Pot thuộc Sư đoàn 91 - 92 ở giáp tỉnh Modulkiri. Tới thăm một đơn vị bộ đội ta, chúng tôi phát hiện 80 phần trăm chiến sỹ đều đi chân trần. Hỏi ra mới biết giày phát cho anh em mỗi năm một đôi, nhưng dùng nửa năm đã rách bươm cả rồi, chưa lãnh được. Kiểm tra kỹ thì được biết: quân trang, giày dép quân khu đều phát đủ nhưng chủ nhiệm hậu cần đơn vị chưa phát vì chưa tới đầu năm (định kỳ đầu năm). Chúng tôi liền đình hoãn hành quân một ngày, yêu cầu đơn vị cho xe đi lấy, cấp đủ giày dép cho chiến sỹ. Một bài học về cách làm việc máy móc của cán bộ hâu cần đã được rút kinh nghiệm ngay.
    Trong chiến tranh chống Mỹ ác liệt, sự hy sinh, mất mát diễn ra hàng ngày nhưng chúng ta dễ dàng chấp nhận để đánh đuổi bọn xâm lược. Nay đất nước ta hòa bình, dang xây dựng, mọi người đều có gia đình, có hạnh phúc. Còn bên này biên giới, bộ đội ta đang làm nghĩa vụ quốc tế giúp bạn, bộ đội ta tự giác chấp nhận gian khổ, chấp nhận hy sinh, đây là nghĩa cử cao cả, rất đáng trân trọng.
    Sau bao năm chiến tranh, ở nước ta hậu quả tàn phá vẫn chưa giải quyết xong, nay lại thêm một giấy báo tử, một chiến thương trở về đều làm cho Đảng ta, nhân dân ta đau buồn. Cho nên chúng tôi thường khuyên bảo nhau: mỗi cán bộ quân tình nguyện phải đề cao trách nhiệm chăm lo tinh thần, vật chất và cả tính mạng cho bộ đội.
    Như đã dự kiến, đầu năm 1980, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam có chỉ thị các tỉnh phía sau cử đoàn chuyên gia Việt Nam sang giúp bạn Campuchia. Anh năm Ngà, Tư Lệnh Quân Khu, người thủ trưởng đánh giặc giỏi, luôn luôn lo lăng việc chung, sống có tìng có nghĩa với đồng đội, đồng chí, có uy tín lớn với các tỉnh. Anh Năm đi đến từng Tỉnh ủy gặp Tỉnh ủy và Ban ngành tỉnh nêu yêu cầu cụ thể, bàn biện pháp thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị, được các tỉnh hoan nghênh, tích cực hưởng ứng thành phong trào kết nghĩa giữa các tỉnh trong nước và tỉnh bạn. Ở Mặt trận 779 có các sự kết nghĩa giữa:
    - Đồng Tháp với Prey Veng.
    - Long An với Svay Rieng.
    - Đồng Nai với Kampong Thom.
    - Sông Bé với Kratie.
    - Tây Ninh với Kampong Cham.
    - Thành phố Hồ Chí Minh với thủ đô Phnom Penh.
    Phong trào kết nghĩa này, cùng với việc các tỉnh phía sau cử đoàn chuyên gia sang giúp các tỉnh bạn, có tác dụng lớn động viên cán bộ và nhân dân bạn cùng bộ đội tình nguyện Việt Nam chiến đấu chống bọn Pol Pot, xây dựng lại đất nước Campuchia.
    Sau thắng lợi mùa khô 1984 - 1985, địch buộc phải chấp nhận thất bại thảm hại về chiến lược. Các chiến dịch phối hợp tiến công địch, các tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn đánh thẳng vào tổng hành dinh "Mulinaca", các trụ sở, các căn cứ đầu não và sư đoàn địch (320, 474, 519) đã giúp bạn có bước trưởng thành mới, các đội công tác của bạn đều làm được hai chức năng chiến đấu và công tác, cũng sau mùa khô này, chúng ta tiếp tục giúp bạn kiện toàn tổ chức lại lực lượng. Ta cũng giải thể các đoànq uân sự như: 7703, 7706, 7702 và giao dần cho bạn tự quản lý, đảm đương nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng đất nước, tháng 6 năm 1984 và tháng 4 năm 1985 ta tổ chức cho quân tình nguyện rút về nước lần 3 và lần 4.
    Trước tình hình địch tăng cường thọc sâu vào đánh phá nội địa, o ép dân chúng, ta và bạn vừa đánh địch, bảo vệ địa bàn, vừa cùng nhau "nỗ lực xây dưng công trình phòng thủ chiến lược biên giới K5 dài 604km dọc theo biên giới giữa Campuchia và Thái Lan", bảo đảm cho bạn phòng ngự biên giới. Quân dân Campuchia và bộ đội tình nguyện Việt Nam đã đổ nhiều mồ hôi, xương máu, trí tuệ và công sức cho công trình phòng thủ này.
    Phối hợp với tiếng súng của Mặt trận 479 bảo vệ các thị trấn, thị xã, bảo vệ giao thông, đánh phá các hành lang, vùng sâu của địch, Mặt trận 779 tiếp tục giúp bạn củng cố cơ sở, ổn định các địa bàn được giao. Mặt trận 779 cũng tổ chức hơn 400 đội công tác xuống tận các cơ sở giúp bạn từng bước làm chủ địa bàn.
    Từ những năm 1984 - 1985 công việc bàn giao cho bạn trên địa bàn do Mặt trận 779 đảm trách được tiến hành dần.
    Đối với lực lượng vũ trang của bạn, nhất là lực lượng tập trung như đại đội tập trung của huyện, các tiểu đoàn tập trung của tỉnh, được điều động, thay phiên nhau chiến đấu ở các khu vực có địch hoạt động. Chúng tôi chủ trương không cho lực lượng ta và bạn thụ động, "nằm yên" tại chỗ mà tìm địch mà đánh.
    Trong một cuộc họp tại Bộ Tư lệnh 719 Tiền phương Bộ Quốc phòng Việt Nam tại Campuchia, do đồng chí Lê Đức Anh chủ trì, có nhiều ý kiến e ngại Mặt trận 779 chuyển giao cho bạn "có sớm không"?, bạn bị địch tập kích, thiệt hại, Mặt trận 779 phải chịu trách nhiệm, trong hội nghị, tôi trình bày quan điểm giúp bạn của chúng tội ở Mặt trận 779 là: mọi hoạt động của bộ đội ta đều phải nhằm vào yêu cầu nâng cao tính tự lực, tự cườgn của bạn. Tích cực giúp bạn, nhưng để cho bạn ỷ lại là sai lầm.Phải tin tưởng vào lực lượng bạn trên địa bàn đã được tổ chức khá tốt. Phải tạo điều kiện cho bạn chiến đấu, nếu không, lực lượng bạn tuy đông nhưng chất lượng không tốt....Khi lực lượng bạn đi chiến đấu, tất nhiên có chuyên gia ta đi kèm, tổ chức sẵn lực lượng ứng phó, giúp bạn tác chiến khi cần thiết. Dù có thể bị mất một vài vị trí trong vài ba ngày, ta vẫn có điều kiện điều động lực lượng đánh địch. Đó làv iệc thông thường sảy ra. Trong phần kết luận, đồng chí Lê Đức Anh không có ý kiến gì về việc Mặt trận 779 bàn giao địa bàn hoạt động cho bạn mà chỉ nhấn mạnh cần phải tạo điều kiện cho bạn tự lực, tự cường, phải cơ động lực lượng chi viện những nơi bạn bị địch uy hiếp. Qua chiến đấu sẽ giúp bộ đội bạn rèn luyện, trưởng thành thêm.
    Sau cuộc họp, qua ý kiến tranh luận và tinh thầnh chỉ đạo của đồng chí Lê Đức Anh, chúng tôi gặp và hỏi ý kiến đồng chí Năm Ngà và được trả lời: chủ trương bàn giao cho bạn là đúng. Nơi nào bạn đã trưởng thành, ta nên dứt khoát bàn giao lại cho bạn đảm trách. Ta không thể làm thay cho bạn mãi được. Các đồng chí cứ làm, quân khu theo dõi và ủng hộ các đồng chí.
    Tiếp đó, chúng tôi rất mừng được Quân khu 7 tăng cường thêm một loạt cán bộ có nhiều kinh nghiệm chiến đấu và công tác lên giúp Mặt trận 779. Đặc biiejt, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 còn cử đồng chí Chín Hiền (Võ Minh Như) Phó Tư lệnh quân khu lên trục tiếp chỉ đạo điểm Kampong Thom.
    Từ cuối năm 1987 đến đầu năm 1989, Quân khu 7 sau hàng loạt các hoạt động cao điểm, cùng bạn tiến công đich ở khu vực Biển Hồ, Battambang, Siem Reap....thực hiện chủ trương giúp bạn "Vươn lên nắm vững ngọn cờ độc lập, tự chủ của mình, quân tình nguyện chuyển nhanh, chuyển mạnh dứt khoát nhiệm vụ cho bạn để tập trung làm lực lượng cơ động hỗ trợ cho bạn, rút dần lực lương và trang bị kỹ thuật về nước, rút toàn bộ chuyên gia"
    Được ta tận tình giúp đỡ và trực tiếp rèn luyện qua từng chiến dịch, trận đánh, đến đầu năm 1988, các lực lượng vũ trang của bạn đã trưởng thành nhanh chóng.
    Ở mặt trận 479, sau khi ta bàn giao 15 cụm điểm tựa trên tuyến biên giới cho bạn, rút quân về đứng chân phía sau hỗ trợ, chi viện, địch đã lợi dụng đánh chiếm 10 điểm tựa. Lực lượng vũ trang bạn được ta hỗ trợ đã kiên cường nổ súng đánh địch, giành lại các vị trí đã mất. Địch vẫn tăng cường hoạt động, nhưng bạn đã tổ chức chỉ huy, tác chiến thắng lợi. Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Campuchia đã quyết tâm tự đảm nhiệm cuộc chiến đấu với Khmer Đỏ đến thắng lợi.
    Trên địa bàn Mặt trận 779 đảm trách, chúng tôi đã tiến hành bàn giao dần cho bạn tỉnh Prey Veng, Svay Rieng. Thực tế cho thấy tinh thần trách nhiệm của bạn từ trên xuống cao hơn, cán bộ của bạn đi sâu, đi sát quần chúng, làm việc với chất lượng tốt hơn.
    Mặt trận 779 tiếp tục bàn giao địa bàn các tỉnh Kampong Cham, Kratie và sau đó bàn giao tỉnh Kampong Thom. Tháng 9 năm 1989, sau khi một nửa số quân tình nguyện và chuyên gia ta rút về nước, nhận thấy lực lượng vũ trang bận đã thực sự phát triển cả về chất và lượng, địch đã không thể lợi dụng, uy hiếp, xoay chuyển được tình thế chiến trường, Bộ Tư lệnh 719 quyết định rút toànb ộ quân tình nguyện về nước và cũng là thời điểm Mặt trận 779 hoàn thành nhiệm vụ bàn giao, bạn đang ở giai đoạn củng cố.
    Đây là đợt rút quân tình nguyện cuối cùng của ta từ Campuchia trở về Tổ quốc, quân tình nguyện Quân khu 7 rút về theo đường bộ qua cửa khẩu Mộc Bài, Xa Mát (Tây Ninh) và đường thủy qua Tân Châu (An Giang).
    Cuộc rút quân chia tay với bạn của ta được chuẩn bị chu đáo. Đó là một ngày hội lớn của hai dân tộc. Động đảo phóng viên, quan sát viên đã tới chứng kiến, ghi nhận những hình ảnh thấm đượm tình đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia. Tại các điểm tập kết rút quân, tại thủ đô Phnom Penh và trên đường trở về Tổ quốc, ở đau, những người llisnh tình nguyện Việt Nam cũng được chính quyền các cấp đông đảo nhân dân Campuchia đua tiễn với tình cảm biết ơn, lưu luyến. Trong rừng người, rừng cờ hoa đón tiễn, bên cạnh những nụ cười, chúng tôi xúc động nhìn thấy các mẹ, nhiều chị và các cháu thiếu nhi đã khóc.
    Sau 10 năm chiến đáu, công tác những người lính tình nguyện Việt nam trở về Tổ quốc trong vinh dự, tự hào đã không tiếc máu xương mình giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng của bè lũ Pol Pot, giúp đất nước của nền văn minh Angkor hồi sinh.
    Tạm biệt đất nước Chùa Tháp anh hùng, tạm biệt nhân dân Campuchia đang từng bước xây dựng lại cuộc sống, tạm biệt Biển Hồ, sônh Me Kong, những cánh rừng thốt nốt, vũ điệu Lăm thôn, những ánh mắt, nụ cười của các "thiếu nữ Apsara" xinh đẹp, chúng tôi chỉ mong cho tình đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nám - Campuchia đời đời bền vững, không còn tái diễn lại "cái nạn Pol Pot" nữa.

    THAY LỜI KẾT LUẬN

    Mỗi người sinh ra và lớn lên đều có những kỷ niệm vui, buồn gắn với gia đình, quê hương, đất nước.
    Sau hơn nửa thế kỷ tham gia cách mạng, được làm người lính Cụ Hồ phục vụ tổ quốc trong những năm khói lửa chiến tranh, giờ đây, suy nghĩ và nhớ lại quá khứ, cảm nhận hiện tại và tương lai, lòng tôi luôn tràn đầy cảm xúc và tự hào, viết ra cuốn hồi ức lấy tên là "Mẹ và Tổ quốc", hình ảnh thân thương, sâu đậm trong tôi.
    Từ nam ra Bắc, từ miền Đông tới miền Tây Nam Bộ, từ Tổ quốc thân yêu sang Campuchia làm nghĩa vụ quốc tế, tôi luôn được gặp gỡ và cảm nhận: Người mẹ, một biểu tượng, hiện thân cho sự hy sinh cao cả. Vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì thắng lợi của cách mạng, các mẹ sẵn sàng cống hiến, chịu đựng gian khổ, nỗi đau trước sự xa cách, hy sinh của chồng, con, em, thậm chí ngay cả đứa chấu cuối cùng của mình để đánh bại kẻ thù cướp nước và bán nước. Các mẹ hy sinh lớn quá, nghìn lần xứng đáng với danh hiệu cao quá "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng"
    Trên các chiến trường, mỗi lần được gặp các mẹ, lòng tôi lại trào dâng niềm xúc động, nhớ đến mẹ mình. Câu nói của mẹ khi tiễn tôi đi làm cách mạng ở Nại (Phan Rang) đã ăn sâu vào tâm trí tôi: "Con đi lần này nữa thôi. Hết trận giặc này, con trở về ở luôn với mẹ nghe con".
    Nhưng mẹ ơi! trận giặc này kéo dài quá, hết đánh Pháp, đánh Mỹ lại tiếp tục giúp bạn Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng của tập đoàn phản động Pol Pot - Ieng Sari. Mẹ tôi, cũng như nhiều bà mẹ Việt nam khác, cứ mòn mỏi chờ đợi....Riêng mẹ tôi, ngày 9 tháng 4 năm 1982 đã ra đi vào cõi vĩnh hằng, thọ 94 tuổi. Trong giờ phút thiêng liêng áy, tôi vẫn không có mặt đưng bên ling cữu mẹ, tiễn mẹ về nơi an nghỉ cuối cùng. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia, về thăm quê hương, ra thăm mộ mẹ, với lòng thương nhớ khôn nguôi, tôi có mấy vần thơ tựa là "Trở về với mẹ".
    "Mẹ tiễn con đi đầm đìa nước mắt
    Ngày con về cả một giang san
    Mắt mẹ sáng lên "con ở nhà luôn với mẹ"
    Mẹ ơi! đất nước hòa bình, bờ cõi chưa yên
    Nhân dân Campuchia đau thương kêu cứu
    Quân tình nguyện Việt Nam lại giục giã lên đường
    Dòng sông Mê Kong cuồn cuộn chảy
    Tháp Angkor hùng vĩ, uy nghi vẫy gọi
    Hình bóng mẹ ngóng con cao vời vợi
    Lòng con nhớ mẹ như những năm nào
    Mười năm gian lao trở về chiến thắng
    Quỳ bên mộ mẹ, cỏ xanh rỳ đá trắng
    Gió mùa thổi qua lạnh biết lòng con
    Lời hứa năm nào sắt son với mẹ
    Lá rụng về cội, sinh ra trên mảnh đất này
    Con sẽ về đây, mãi mãi nằm bên mộ mẹ"

    Tổ quốc Việt Nam đã trải qua những năm dài chiến tranh, đau thương nhưng cũng thật vĩ đại, đó cũng là động cơ thúc đẩy tôi và đồng đội chiến đấu. Khi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi nhận rõ: Đảng tính cao của người Đảng viên đồng nghĩa với việc yêu nước thương dân, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc. Nhận thức này như chấp cánh, kiên định lập trường, ý chí chiến đấu của tôi. Những năm tháng khốc liệt của chiến tranh đã cho tôi cảm nhận: nhân dân ta, già, trẻ, gái, trai, đều sống giản dị, cần cù lao động và giàu lòng nhân ái. Nhưng khi Tổ quốc lâm nguy, toàn dân đều trên dưới một lòng, nổi dậy với khí thế long trời, lở đất đánh lại quân thù. Chính tinh thần đoàn kết toàn dân, tinh thần lạc quan tin tưởng vào sự tất thắng của chính nghĩa đã tạo nên sức mạnh vô địch đè bẹp uy thế vật chất, vũ khí, sự tàn bạo của kẻ thù, đứng đầu là đế quốc Mỹ. Đất thép Củ Chi, quân và dân Củ Chi thời đánh Mỹ là minh chứng, biểu tượng sống động, ngời sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng và sức mạnh vô địch khiến kẻ thù khiếp sợ. Bài học cay đắng mà thực dân Pháp, đế quốc Mỹ phải chấp nhận thất bại nhục nhã là không hiểu và không đánh giá hết được con người và dân tộc Việt Nam.
    Bản chất anh hùng, bất khuất của dân tộc ta được thể hiện rõ nét trong chiến tranh, đã và đang được minh chứng tiếp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt nam Xã hội Chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
    Trong suốt chặng đường dài của cách mạng, có hàng triệu nhân chứng lịch sử, trong đó có nhiều người đã nằm xuống hoặc tuổi đã cao, sức yếu. Các thế hệ, những người đi trước đã không quản gian khổ, hy sinh, cầm súng đánh bại kẻ thù cướp nước và bán nước, để lại cho đời nhiều dấu ấn và kỷ niệm.
    Chính suy nghĩ xuất phát từ tình cảm thân thương với Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, trách nhiệm lương tâm với những người đã ngã xuống, đã tạo cảm hứng, thúc giục tôi làm công việc "Người lính già đầu bạc, kể mãi chuyện Nguyên Phong" hôm nay.
    Do thời gian dài, sự kiện, nhân chứng nhiều, có việc nhớ, việc quên, nên cuốn hồi ký này, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong bạn đọc, đồng đọi, đồng chí thông cảm, góp ý. Qua cuốn hồi ký, trong không khí hòa bình hôm nay, tôi cũng như nhiều cựu chiến binh khác, chỉ mong được góp một lời tâm sự với thế hệ trẻ, nhất là thanh niên trong và ngoài quân đội hiểu thêm: Ông cha ta đã có một thời sống và chiến đấu vì Tổ quốc như vậy đẻ tự hào, nâng cao tinh thần trách nhiệm, tiếp tục sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" như Bác Hồ mong muốn.
    Cũng qua cuốn hồi ký, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sự cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ của chính quyền, đồng bào, đồng chí các địa phương: Khánh Hòa, Ninh Thuận, Hà Nội, Vĩnh Yên, Biên Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu, các tỉnh, thành thuộc Quân khu 9, Quân khu 7, Quân khu Sài Gòn - Gia Định, nơi tôi đã từng sống, chiến đấu và công tác. Nhân đây, tôi cũng xin được bộc bạch cùng bạn đọc lời cảm ơn riêng Bác sỹ Nguyễn Thị Mạnh - Người đồng chí - Người bạn đời yêu quý đã luôn là "điểm tựa" tin cậy của tôi trong suốt chặng đường dài chiến đấu và công tác, giúp tôi yên tâm hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng, nhân dân, quân đội giao phó.
    Tôi chân thành cám ơn Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Bộ chỉ huy Quân sự thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Khoa học Công nghệ và Môi trường Quân khu 7, các đồng chí: Thiếu tướng Phùng Đình Ấm, Đại tá Hoàng Tùng, Đại tá Đinh Văn Huệ và nhiều đông chí khác đã cung cấp tư liệu, cổ vũ, động viên, góp ý trong hơn hai năm để bản thảo cuốn hồi ký này được hoàn thành. Xin cám ơn Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Nai đã tạo điều kiện thuận lợi để cuốn sách ra mắt bạn đọc.

    Mùa Thu 1997

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •