CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 4 của 6 Đầu tiênĐầu tiên ... 23456 CuốiCuối
Kết quả 31 đến 40 của 55

Chủ đề: Hồi ký Thiếu tướng Đặng Quang Long - Nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 7

  1. #31
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Để giữ bí mật, ta đặt lại phiên hiệu: Trung đoàn 34 (thường gọi là D34) nằm trong đội hình Sư đoàn 675 do đồng chí Thắng làm Chính ủy, đồng chí Kiệt, Sư đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng.
    Những tháng đầu, đội hình toàn Trung đoàn đều ở nhờ trong nhà dân trên dãy đồi có tên gọi vui là "thủ đô nồi đất" (nhân dân ở đây vừa làm ruộng vừa làm nồi đất). Nhân dân miền Bắc cũng như nhân dân Vĩnh Yên vốn có cảm tình với các lực lượng vũ trang miền Nam tập kết, mặt khác, do cán bộ, chiến sỹ làm tốt công tác dân vận, giữ nghiêm kỷ luật quân đội nên xây dựng được tình đoàn kết quân dân thắm thiết.
    Sau khi anh Sắc, Trung đoàn trưởng được điều đi học ở Trung Quốc, anh Sỹ được điều về Sư đoàn 330, Ban chỉ huy Trung đoàn chỉ còn lại tôi là Chính ủy, anh Quang, Tham mưu trưởng. Sư đoàn 351 đã điều tất cả các cán bộ quân sự, chính trị từ cấp đại đội đến Trung đoàn về Sơn Tây để tập huấn về binh chủng. Các anh cấp phó cùng đơn vị ở nha lo xây dựng doanh trại. Kết quả tập huấn chuyển binh chủng rất tốt. Cán bộ quân sự, chính trị dược đi học đều đạt loại khá giỏi.
    Sau hai tháng tập huấn chuyển binh chủng, chúng tôi trở về Vĩnh Yên thì cả Trung đoàn đã từ khu dân cư chuyển ra ở ngoài doanh trại, chúng tôi hết sức kinh ngạc về cơ ngơi đồ sộ của doanh trại một Trung đoàn pháo được làm bằng tre, nứa, lá. Đây chính là kết qura công lao to lớn của tập thể cán bộ, chiến sỹ dưới sự chỉ huy của các anh chín Mây, anh Sủng, anh Đởm và thủ trưởng các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần Trung đoàn.
    Bằng tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, hàng ngày, hàng ngàn cán bộ, chiến sỹ đã hành quân lên rừng Tam Đảo khai thác tre, nứa, lá mang vác, di chuyển bộ về tự thiết kế, xây dựng doanh trại.
    Mùa thu năm 1956, toàn Trung đoàn pháo binh Nam Bộ chuyển sang học tập chương trình đào tạo pháo binh do Sư đoàn 351 đưa xuống.
    Cũng từ giữa năm 1956 trở đi, dưới chế độ Mỹ-Diệm, tình hình miền Nam càng căng thẳng, đen tối, Địch tăng cường khủng bố, rượt bắt, giết hại cán bộ nằm vùng, đánh phá các cơ sở cách mạng, o ép, mua chuộc, dụ dỗ kết hợp đàn áp các gia đình có chồng, con, em tập kết ra Bắc....Tại các đo thị, Địch thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng lao động, của phật tử, học sinh, sinh viên đòi quyền dân sinh, dân chủ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất Tổ quốc.
    Những tin tức từ miền Nam bay ra hàng ngày, hàng giờ làm giấy lên làn sóng căm thù Địch, lòng thương yêu, tin tưởng hướng về đồng bào miền Nam của quân dân miền Bắc.
    Đối với cán bộ, chiến sỹ miền Nam tập kết đang sinh sống và làm việc trên miền Bắc lúc ấy, lòng ai cũng như dầu sôi, lửa đốt, tất cả đều có tâm tư căm thù địch, lo lắng cho gia đình, người thân ở bên kia giới tuyến và nóng lòng trở vê miền Nam chiến đấu đánh lại quân thù. Hàng ngày, anh em lao vào học tập, công tác, đêm đến lại tụm năm, tụm ba bàn bạc thời sự, nhiều đêm trằn trọc không ngủ được. Đúng là ngày Bắc, đêm Nam như câu nói thường ngày lúc đó.

  2. Có 1 người thích bài viết này


  3. #32
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Thông cảm và hiểu được tâm tư, nguyện vọng chính đáng của cán bộ, chiến sỹ miền Nam tập kết trên đất Bắc, lãnh đạo các cấp luôn động viên anh em biến căm thù thành sức mạnh, biến tình thương đồng bào, đồng chí ở miền Nam thành quyết tâm học tập "Học ngày không đủ, tranh thủ học đêm" để nắm chắc kỹ thuật, tinh thông chiến thuật, rèn luyện tác phong công tác và chiến đấu, góp phần xây dựng quân đội chính quy, hiện đại.
    Đối với pháo binh, kỹ thuật bắn chính xác, từ quan sát, phát hiện mục tiêu, đo đạc cự ly đến chỉ huy kịp thời là yêu cầu cần phải khổ công rèn luyện của bộ đội, hàng tuần, anh em học tập đều có kiểm tra sát hạch, giữa khoá học có kiểm tra trên sa bàn và bắn đạn thật ngoài thao trường.
    Nhờ chăm chỉ, miệt mài học tập, kỳ luyện thi nào, Trung đoàn pháo binh 34 cũng đạt điểm cao, qua mỗi học kỳ, Trung đoàn đều giành được cờ thưởng luân lưu của Sư đoàn 351.
    Tinh thần, thái độ học tập, ý thức tổ chức kỷ luật của cán bộ chiến sỹ Trung đoàn pháo binh Nam Bộ luôn được thủ trưởng các cấp, cán bộ chiến sỹ các đơn vị bạn tin yêu. Lúc bấy giờ, đồng chí Lê Thiết Hùng, Tư lệnh pháo binh luôn là người quan tâm đến Trung đoàn, mỗi lần đến Sư đoàn làm việc, đồng chí đều xuống Trung đoàn động viên, thăm hỏi anh em, thái độ chấp hành mệnh lệnh nghiêm túc trở thành thước đo trình độ giác ngộ chính trị, cũng là yêu cầu cao nhất của đồng chí với các cấp thuộc quyền. Tác phong chỉ huy và tình cảm quan tâm của đồng chí Lê Thiết Hùng được cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn pháo binh Nam Bộ chúng tôi yêu mến, gần gũi.
    Mùa xuân năm 1957, Quốc hội nước ta chuẩn bi họp ở nahf hát thành phố Hà Nội, tình hình xã hội, nhất là cuộc cải cách ruộng đất diễn ra ở miền Bắc với những phức tạp, khó khăn....Để đảm bảo an toàn cho kỳ họp Quốc hội, Chính phủ yêu cầu Bộ Quốc phòng cử một đoàn có chất lượng, thuần về chính trị về thủ đô làm nhiệm vụ bảo vệ, Bộ Quốc phòng và Bộ Tư lệnh Sư đoàn 351 cử Tiểu đoàn 4, Trung đoàn pháo binh Nam Bộ do anh Thạch, tiểu đoàn trưởng, anh Hùng, chính trị viên về thủ đô đảm nhận công tác đặc biệt này, đây là vinh dự không chỉ riêng của Tiểu đoàn 4 mà còn của chung cho quân đội ta, nhất là đối với cán bộ, chiến sỹ miền Nam tập kết lúc đó.
    Cũng vào thời điểm này, miền Bắc phải đối phó với nạn hạn hán kéo dài, trước đó, hai năm 1955. 1956, miền Bắc đã bị hạn hán, mất mùa, nạn đói xảy ra nhiều nơi.
    Nếu vụ mùa năm 1957 chống hạn không tốt, dẫn đến mất mùa tiếp sẽ là tai hoạ đối với đồng bào miền Bắc.
    Chính vì vậy, chống hạn cứu lúa lúc này là một nhiệm vụ cấp bách, trở thành phong trào sôi nổi, mọi ngành, mọi người đều phải ra đồng cứu lúa. Tôi còn nhớ trên báo Nhân Dân thời điểm này có đăng hình ảnh Bác Hồ về thăm và ngồi đạp guồng nước chống hạn tại một cánh đồng thuộc huyện Thường Tín (Hà Đông). Tấm gương của Người đã tác động manh phong trào cứu lúa của quân dân ta lúc đó.

  4. Có 1 người thích bài viết này


  5. #33
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    theo chỉ thị của Bộ Quốc phòng, mỗi đơn vị quân đội phải thu xếp 3 ngày đi giúp dân chống hạn và học bù ngoài giờ để hoàn thành chương trình học tập, huấn luyện theo quy định. Trung đoàn 34 trong đội hìng Sư đoàn 675 hành quân xuống Phúc Yên-Đa Phúc, nơi có 2000 mẫu lúa đang bị nắng hạn đe dọa. Lệnh trên yêu cầu mang lương thực, thực phẩm 3 ngày, chúng tôi chỉ thị cho cơ quan, đơn vị mang theo tiêu chuẩn 7 ngày, đề phòng trường hợp kéo dài, không bị động.
    Sau một ngày hành quân, tập kết, sáng hôm sau, anh Mây, Tham mưu phó, anh Sung, Chủ nhiệm chính trị đã tổ chức cho bộ đội triển khai ngay việc chống hạn cho 400 héc ta lúa (diện tích do Sư đoàn 675 phân công cho Trung đoàn 34 đảm nhận).
    Hôm sau, khi cuộc họp Đảng ủy Sư đoàn 675 kết thúc, tôi vội vã ra đồng ngay, trước mắt tôi, một cánh đòng lúa màu vàng trải dài đến tận chân núi Đa Phúc, nhưng đó không phải màu vàng của những bông lúa đến mùa thu hoạch, mà là màu vàng cháy, khô héo của lúa bị thiêu đốt, khô nóng, thiếu nước trầm trọng. Tôi bước xuống ruộng, lúa cao đến đầu gối, đất ruộng dưới chân tôi khô cứng, nứt nẻ có chỗ toang toác. Thật khó có cây gì có thể sống nổi. Nhìn những cây lúa nặng công sức chăm bón của nhà nông như những con bệnh đang chết dần, chết mòn trước lưỡi hái tử thần hạn hán, tôi xót xa quá. Đi vào các thôn xóm ven cánh đồng, tôi nhìn thấy nhiều gia đình nông dân xơ xác, nhiều người già, con trẻ gầy yếu vì thiếu ăn, khả năng mất mùa, đói kém đã ló dạng, phải đưa nước vào đồng ruộng cứu lúa. Đó là trách nhiệm, là lương tâm, nhưng trước sự khắc nghiệt, thách thức của thiên nhiên, phải làm thế nào đây?
    Chúng tôi thâm nhập, quan sát bộ đội đang chống hạn. Bộ đội từng tốp nhỏ 5 người đi lùng chỗ nào có đất ẩm, dự đoán có thể có nước rồi hì hục dào bới thành giếng, đào xuống chừng 2 mết, có nơi có nước rỉ ra, anh em dùng tô múc nước đổ vào gàu rồi xách ra tưới ruộng. Nếu miếng ruộng 100 mét vuông trồng rau thì cách đó còn có thể cải thiện được tình thế, nhưng đây là hàng ngàn mẫu ruộng đang chết khô, đang kêu cứu thì làm sao giải quyết nổi? Không thể như thế này được, phải tìm nguồn nước. Một ý nghĩ, một quyết tâm bỗng lóe trong đầu tôi, tôi liền triệu tập gấp 4 Tiểu đoàn trưởng gồm các anh Hít, Thạch, Ngân, Cưởng và anh Thiện, trưởng ban tác chiến Trung đoàn băng đồng sục sạo đi tìm nguồn nước. Chúng tôi vào sâu các thôn xóm thấy chỗ nào cũng bị khô cạn, ngay cả giếng nước nhân dân đã bỏ công đào sâu từ 10 đến 12 mét cũng không có nước, lật bản đồ huyện Phúc Yên ra nghiên cứu, chúng tôi phát hiện có con sông Phúc Yên chạy quanh theo dãy núi đá thấp cách cánh đồng chừng 50 mét, nước trong veo, khu vực này, đồi núi không cao lắm, được phủ lên trên mặt một lớp đá lởm chởm, chỗ cao nhất khoảng 20 mét, còn 2 bên, một bên đổ ra sông, một bên đổ ra ruộng, chúng tôi chụm đầu, tính toán kỹ và quyết tâm phải đào một con mương dài từ 550 đến 600 mét, sâu xuống, chỗ sâu nhất cũng phải 20 mét để đưa nước vào ruộng, chỉ có phương cách này, không còn phương cách nào khác.

  6. #34
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Anh Thiện cùng các Tiểu đoàn trưởng tiến hành đo đạc làm kế hoạch, còn tôi, ngay tối hôm đó vào gặp huyện ủy Đa Phúc làm việc.
    Gặp huyện ủy, tôi báo cáo lại tình hình chống hạn của bộ đội, nếu làm như phương pháp đào giếng như hiện nay sẽ không có kết quả, không cứu được lúa, tôi đề nghị phải xẻ núi, làm mương đưa nước vào ruộng. Nghe tôi trình bày, có đồng chí lơ là tỏ ý không tin, đồng chí Bí thư huyện ủy nói:
    - Phương án này chúng tôi có nghiên cứu lâu rồi, nhưng thấy không làm nổi nên không đưa ra.
    Tôi đề nghị tiếp:
    - Làm kết quả như thế nào thì chúng tôi đảm nhận, chúng tôi chỉ yêu cầu các đồng chí chấp thuận để chúng tôi làm và vận động nhân dân cùng làm với bộ đội, đề nghị cử một số đồng chí ra công trường ở sát với chúng tôi, cùng chúng tôi bàn bạc trong quá trình làm việc.
    Một cuộc thảo luận, cũng có thể nói là một cuộc tranh cãi đã diễn ra, riêng tôi, vẫn cố gắng thuyết phục, đề nghị các đồng vhis cứ tin tưởng vào bộ đội, nếu có dân ủng hộ thì chắc chắn sẽ thắng lợi....Cuối cùng, tuy có phần miễn cưỡng, nhưng các đồng chí trong huyện ủy đã chấp thuận kế hoạch đào mương, huy động nhân dân cùng bộ đội chống hạn

    Trungsy1's Avatar

    Trungsy1

     16:43, 31st May 2013 #19540 

    Bận lâu thế Truongsa, đoạn chống hạn đang hay!



  7. Có 2 người thích bài viết này


  8. #35
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Xin lỗi các Anh vì sự chậm trễ này, giờ em tiếp tục mạch câu chuyện.
    Rời khỏi cơ quan huyện, tôi không trở về cơ quan Trung đoàn mà đi thẳng ra đồi, bàn bạc với các tiểu đoàn trưởng, chúng tôi chỉ thị: ngay trong đêm nay, toàn Trung đoàn phải rời nhà dân, di chuyển lực lượng lên đồi núi, cơ quan tham mưu đưa từng Tiểu đoàn ra giao từng vị trí sẽ đảm trách, lấy đơn vị đại đội và cơ quan Trung đoàn làm cơ sở tính toán định mức, mỗi đại đội, mỗi ban phụ trách đoạn dài hay ngắn tùy theo độ cao của đồi núi, mỗi đại đội pháo thường có quân số 50 đồng chí, thường giao 50 mét, có bộ phận, đơn vị đảm nhận 20 mét nếu gặp nơi có độ cao hơn và là núi đá, chúng tôi đề ra yêu cầu:
    - Làm liên tục cả ngày đêm, người nghỉ nhưng dụng cụ không nghỉ, chia thành kíp để làm việc có kết quả.
    - Phối hợp chặt chẽ với nhân dân, động viên nhân dân cùng làm.
    Các cơ quan Trung đoàn bộ cho xe về doanh trại mang thêm ra công trường máy phát điện, thuốc nổ, dụng cụ đào đất, loa phóng thanh, bộ đội ta luôn được giáo dục, rèn luyện hành động khẩn trương trong học tập, công tác cũng như trong chiến đấu trong chiến dịch. Chính vì vậy, trước lúc trời sáng, bộ đội đã dàn quân dọc theo đồi núi, dựng xong lều trại, ổn định xong chỗ ăn nghỉ.

    No Avatar

    dongdoitoi

     13:42, 7th Aug 2013 #22390 

    bác đi công tác gần 3 tháng , làm anh em chờ dài cổ



  9. Có 2 người thích bài viết này


  10. #36
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Cũng ngay sáng hôm đó, bộ đội bắt đầu xẻ núi, công việc rất vất vả, nhất là lúc đầu đụng đến nhiều lớp đá, anh em phải tổ chức đánh mìn, bẩy từng tảng đá, phải đào xới lớp đất rắn, cứng như lớp xi măng, vì không quen đào liên tục, khẩn trương, nhiều cán bộ, chiến sỹ phồng rộp cả hai bàn tay, nắng gắt và lao động mệt nhọc, căng thẳng bắt đầu có người tỏ ra ngại, chán nản, nhân dân cũng có nhiều người chưa tin tưởng, thấy khó thành công, đứng xem bộ đội đánh mìn, đào đất....Cơ quan chính trị Trung đoàn dùng loa phóng thanh thông báo tin tức, liên tục cổ vũ, động viên bộ đội, ngày đầu vất vả nhưng có kết quả thật không ngờ, sau khi bóc được lớp vỏ đá và lớp đất cứng ở trên, đào sâu xuống 2 mét, gặp lớp đất có độ ẩm, mềm, dễ đào hơn, thấy có nhiều thuận lợi, không khí phấn khởi, tin tưởng bắt đầu lan rộng trong bộ đội, nhân dân, cuộc đọ sức giữa con người và thiên nhiên với đất đá vẫn tiếp diễn. Tối đến, đèn điện sáng choang khắp một vùng trời, không khí lao động hừng hực, tiếng loa truyền thanh liên tục vang lên thông báo kết quả của từng đơn vị càng làm cho bộ đội thêm phấn chấn, thi đua làm việc, quên bớt mệt nhọc, tinh thần làm việc của cán bộ, chiến sỹ đã tạo lực hút mạnh mẽ với nhân dân trong vùng, thanh niên địa phương bắt đầu mang cuốc, xẻng ra làm cùng bộ đội, các cụ ông chặt tre, vác tre đan giỏ đựng đất, các bà, các mẹ mang xôi nếp, bánh trái ra ủng hộ bộddoojio, không khí lao động càng sôi nổi, chất lượng công việc càng phát triển trông thấy. Một hình ảnh đẹp diễn ra trước mắt chúng tôi: Những cán bộ, chiến sỹ miền Nam cùng thanh niên nam nữ, già trẻ ở một vùng quê miền Bắc đang vừa làm, vừa hò hát động viên nhau, chúng tôi cũng vui lây và tin tưởng chắc chắn vào thắng lợi của công việc.

  11. #37
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Sau hai ngày đêm liên tục lao động, hình dáng con mương bắt đầu hình thành, nối dài từ con sông Phúc Yên vào khu vực đồng ruộng, nhân dân tham gia đào mương ngày càng đông, cấp trên, các đơn vị bạn đến tận nơi tham quan, động viên, cổ vũ.
    Bộ đội rút kinh nghiệm, bố trí lao động hợp lý, công việc càng tiến triển thuận lợi, sang ngày thứ ba, con mương đã hiện rõ, có chiều rộng trên mặt sáu mét, đáy hai mét, chiều sâu có chỗ 25 mét, đồng chí Lê Thiết Hùng, Tư lệnh Sư đoàn 351 đến địa điểm chống hạn, gặp gỡ bộ đội, nhân đan, chào mừng thắng lợi, đứng trên đồi cao, nhìn khối đất đá đào lên chất đầy hai bên bờ mương đồ sộ như khối nhà hai, ba tầng, đồng chí Hùng thân mật nói với chúng tôi:
    - Sức lao động của bộ đội thật vĩ đại, các đồng chí thành công lớn vì đã dám làm, tin vào sức mạnh của bộ đội, biết khéo léo dựa vào huyện ủy động viên nhân dân cùng làm.
    Đồng chí quay sang các đồng chí Kiệt và Thắng, thủ trưởng Sư đoàn 675 nêu vấn đề:
    - Cũng là bộ đội trong Sư đoàn, tại sao Trung đoàn 34 làm được như thế này, còn các đơn vị khác không làm được? Các đồng chí Sư đoàn 675 nên nghiên cứu tìm nguyên nhân để rút kinh nghiệm.
    Nói xong, đồng chí hỏi chúng tôi công việc khi nào hoàn thành? Tính toán kỹ, chúng tôi báo cáo một ngày và một đêm nữa sẽ xong, sáng ngày mốt xả nước vào ruộng được, đồng chí Hùng vừa khẽ gật đầu vừa quan sát bộ đội làm việc ân cần nói tiếp:
    - Công trình này là kết quả công sứa của bộ đội lao động liên tục ba ngày đêm, Sư đoàn 675 cần nghiên cứu khen thưởng anh em cho thỏa đáng.
    Quay sang tôi, đồng chí nói thêm:
    - Tối mai xong rồi chưa xả nước vào, đồng chí cho anh em nghỉ, sáng hôm sau, tôi mời đại diện Chính phủ lên khánh thành.
    Toàn Trung đoàn phấn khởi mở đợt thi đua nước rút một ngày và một đêm nữa, tối hôm đó, chúng tôi tổ chức đo đạc, dự tính mức nước sẽ cao 0,8 mét và sẽ chảy thông suốt vào đồng ruộng. Ba giờ sáng, chúng tôi thông báo: công trình đào mương cứu lúa đã hoàn thành và bộ đội được nghỉ sớm trong tiếng reo hò của mọi người.
    Tám giờ sáng hôm sau, cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương Phúc Yên cùng nhân dân nhiều xã trong vùng đã tập trung đông đảo hai bờ mương để đón đại diện Chính phủ đến khánh thành, chứng kiến một công trình dẫn nước chống hạn cứu lúa đầy ý nghĩa của bộ đội và nhân dân Phúc Yên, nhiều xe chở các đoàn quay phim, nhiếp ảnh, đại diện các ban nghành trong tỉnh và Trung ương cũng đễn dự.
    Đúng 8 giờ 30 phút, đồng chí Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đại diện Chính phủ và đồng chí Lê Thiết Hùng, Tư lệnh Pháo binh đã đến. Đứng trên bờ mương nhìn xuống đáy thấy thăm thẳm, lòng cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 34 ai cũng rạo rực một niềm vui, thấy sức mạnh của bộ đội ta có sự giúp sức của nhân dân thật to lớn, sức mạnh đó bắt nguồn từ sụ yêu nước, thương dân, vì dân của anh bộ đội cụ Hồ. Hàng ngàn cán bộ, chiến sỹ, nhân dân địa phương hồi hộp theo dõi bước chân của đồng chí Nguyễn Duy Tring, đồng chí Lê Thiết Hùng và đại diện lãnh đạo các cấp bước xuống mương, đến bờ sông Phúc Yên, các phóng viên quay phim, nhiếp ảnh cũng bám sát chuẩn bị ghi lại những hình ảnh đẹp nhất....Khi các đồng chí Nguyễn Duy Trinh, Lê Thiết Hùng bổ nhát cuốc xuống khai thông, dòng nước òa ra, chảy đến đâu nhân dân vừa vỗ tay vừa reo hò: hoan hô bộ đội, chung vui cùng bộ đội tới đó, niềm vui thật không tả siết, tôi đưa mắt nhìn quang cảnh xóm làng, nay đã có nước về rồi như tươi mát hẳn ra, cả một vùng quê, một vùng đồng ruộng khô héo vì nắng hạn kéo dài như đang được hồi sinh, nhìn nét mặt rạng rỡ của bà con cô bác, các cháu thiếu nhi chúng tôi thấy lòng mình vui quá.

    No Avatar

    truongsa

     12:41, 8th Aug 2013 #22425 

    Người viết cũng thấy thắc mắc là đ/c Lê Thiết Hùng lúc là Tư lệnh Sư đoàn pháo 351, lúc lại là Tư lệnh Pháo binh, có lẽ tác giả là người miền Nam nên có sự nhầm lẫn?

    No Avatar

    truongsa

     06:48, 8th Aug 2013 #22405 

    Trong sách ghi như vậy anh ạ

    Trungsy1's Avatar

    Trungsy1

     15:02, 7th Aug 2013 #22392 

    Theo như tôi biết thì sông này là sông Cà Lồ, không có sông Phúc Yên



  12. Có 1 người thích bài viết này


  13. #38
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Sau này, chúng tôi được biết, bộ phim quay cảnh đưa nước về đồng ruộng Đa Phúc của ta dự thi liên hoan phim tại Cannes đã đoạt giải nhất, cảm động hơn, con mương này đã được nhân dân địa phương đặt tên là "Mương miền Nam" để ghi nhớ tình cảm, công sức của bộ đội miền Nam để lại trong những ngày tập kết ra Bắc.
    Sau đợt công tác, Tổng cục Chính trị đã quyết định tặng thưởng huân chương chiến công hạng Ba cho 13 đồng chí ở Sư đoàn 675, trong đó có 12 cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 34 có thành tích xuất sắc giúp dân chống hạn.
    Vừa trở về chỉ huy sở Trung đoàn sau những ngày chống hạn, tôi nhận được điện của Tổng cục Chính trị: Về Hà Nội tham dự lớp học tập tình hình nhiệm vụ, quán triệt Nghị quyết Trung ương, thời gian 10 ngày, ngay tối hôm đó, tôi cùng các đồng chí được triệu tập về Hà Nội, nghỉ tại Trạm 66 - Bộ Quốc phòng.
    Hôm sau, chúng tôi đang chuẩn bị ăn sáng thì một cán bộ của Tổng cục Chính trị đến báo tin: Hôm nay khai mạc lớp học, Bác Hồ tới thăm các đồng chí.
    Tin đến thật bất ngờ, không cán bộ chiến sỹ nào, nhất là chiến sỹ con em miền Nam chúng tôi lại không có mơ ước gặp Bác Hồ, không khí Trạm 66 nhộn nhịp hẳn lên, ai cũng rối rít, giống như đàn con nghe Mẹ đi vắng nay đã về, nhiều anh em quên cả ăn uống, ăn mặc chỉnh tề, nhanh chóng tập hợp đi lên hội trường ngay, giờ nào việc ấy, đó là quy định, nền nếp tác phong bộ đội, vì nôn nóng gặp Bác quá, nên dù chưa đến giờ khai mạc, chúng tôi vẫn đến sớm, ngồi chờ ở Câu lạc bộ Quân đội.
    Đúng 7 giò 30 phút, có tiếng ai đó reo lên: Anh Giáp (Đại Tướng Võ Nguyên Giáp) đưa Bác đến. Vừa nghe xong, chúng tôi đã thấy Bác bước vào hội trường, cả hội trường bật dậy vỗ tay kéo dài, Bác bước lên bục giảng, giơ tay cao rồi hạ xuống như Bác bắt nhịp bài hát đồng ca vậy. Anh Phước (Tư lệnh Phó Hải quân), "Bác đẹp quá, đẹp như tiên". Tôi cũng tập trung nhìn ngắm Bác cho thỏa nỗi mong ước. Bác cầm tờ diễn văn khai mạc hội nghị, cả hội trường lắng xuống chờ nghe Bác nói...Nhưng Bác nhìn kỹ xuống hội trường, ánh mắt nhìn trìu mến như tìm kiếm ai đó, Bác hỏi, chất giọng Nghệ An trầm ấm:
    - Các cháu, ai ở miền Nam tập kết ra, đừng dậy cho Bác xem nào?
    Chúng tôi, những con em miền Nam xúc động, đứng dậy, Bác nhìn khắp lượt rồi lại hỏi:
    - Bộ đội miền Nam tập kết ra có thấy lạnh không? Có đủ áo ấm không?
    Rồi Người quay sang Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc nhở luôn: Các cháu miền Nam không quen chịu rét đâu, chú nhắc hậu cần bổ sung đồ lạnh cho các cháu nhé.
    Bác lại nhìn chúng tôi, nói chậm, tỏ rõ tâm tư Người đang xúc động:
    - Bác biết các chú bộ đội miền Nam nhớ nhà lắm. ngày Bắc đêm Nam phải không? Bác và các đồng chí Bộ Chính trị cũng vậy, không khi nào yên tâm....
    Tất cả chúng tôi lắng nghe từng lời Bác nói, ai cũng cảm nhận tình cảm của Người đối với miền Nam, đối với chúng tôi thật sâu nặng.
    Tôi còn nhớ, khi Bác đọc lời khai mạc hội nghị, nghe rất rõ từng lời, từng chữ. Đến đoạn có câu: "Không nên làm việc dưới đất mà nghe viển vông trên trời", Bác dừng lại nói: "Chà, viết như thế này không ổn, nên viết cho gọn", có thể viếy như thế này: "Nói và làm phải thực tế", "có phải dễ nghe, dễ hiểu không?" Bác nhìn chúng tôi nói thêm: "Bác có khuyết điểm không đọc trước, ra đây Bác đọc thấy một số câu, chữ chưa được hợp lý lắm, nếu có gửi xuống các đơn vị, chú Tố Hữu nên sửa lại cho dễ hiểu".
    Bác khai mạc lớp học, nói chuyện với chúng tôi thật gần gũi, thân mật, những lời Bác nói, ai cũng dễ hiểu, dễ nhớ, chúng tôi cảm nhận ở Người một phong cách ung dung, không trọng hình thức, không có gì xa cách giữa Lãnh tụ với quần chúng cả.
    Hôm bế mạc hội nghị, có biểu diễn văn nghệ, Bác cũng tới dự, chia kẹo, động viên từng diễn viên, chúng tôi lại được gặp Bác, nhìn thấy Bác giản dị, chân tình như người cha đối với những đứa con thân yêu vậy.
    Lần thứ hai được gặp Bác là khi tôi đang học ở Học viện Chính trị Trường Albert Sarrau. Hôm đó, Bác đón tiếp đồng chí Vin Hem Pic, Thủ tướng nước Cộng hòa Dân chủ Đức (cũ), chúng tôi nhìn thấy Bác trong bộ đồ ka ki trắng, chân đi dép cao su, từng bước xuống bậc tam cấp nhà khách Chính phủ, tiếp đón và ôm hôn thắm thiết đồng chí Vin Hem Pic.
    Lần thư ba cũng là lần cuối trước khi trở về Nam chiến đấu, tôi lại được nhìn thấy Bác cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp tới thăm bộ đội diễn tập thực binh ở Sơn Tây, Bác mặc bộ ka ki vàng, chân vẫn đi đôi dép râu dản di, tươi cười vẫy chào bộ đội.
    Trong cuộc đời, tôi đã được gặp Bác, được nhìn thất Bác Hồ, vị Lãnh tụ, người Cha già kính yêu của toàn dân tộc. Đó là những kỷ niệm sâu sắc, nguồn động viên cổ vũ quý giá, lớn lao đối với tôi trên suốt chặng đường chiến đấu tiếp theo.

    VỀ TRUNG ĐOÀN TĂNG THIẾT GIÁP 202, ĐƠN VỊ TIỀN THÂN CỦA BINH CHỦNG TĂNG - THIẾT GIÁP

    Giữa năm 1957, tôi được Bộ Quốc phòng điều đi học lớp chính trị 18 tháng, đang học, tôi nhận được thông báo: Trung đoàn pháo binh 34 điều Trung đoàn bộ và hai Tiểu đoàn về Sư đoàn 330 để thành lập một Trung đoàn pháo cho miền Nam, hai Tiểu đoàn còn lại được điều đi Bắc Giang xây dựng thành Lữ đoàn 368 thuộc Sư đoàn 351.
    Học xong lớp chính trị cấp cao, tôi lại được đi học tiếp bổ túc văn hóa và ngoại ngữ để đi chuẩn bị đi học nước ngoài, vừa học xong chương trình văn hóa lớp 9, đang bắt đầu học phát âm tiếng Trung Quốc, tôi nhận được Quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng điều về làm Chính ủy Trung đoàn xe tăng 202, Trung đoàn do thiếu tá Đào Huy Vũ làm Trung đoàn trưởng, đây là Trung đoàn xe tăng đầu tiên của quân đội ta, được thành lập ngày 5 tháng 10 năm 1959 - (Nghị định số 449/NĐ của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) - Tổng Tư lệnh. Bên chế Trung đoàn gồm: Ba Tiểu đoàn xe tăng chiến đấu (1,2,3), một Đại đội sửa chữa, một Đại đội công binh, một Đại đội vệ binh, một Đại đội thông tin và bốn cơ quan (Tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật)*
    Ngày 5 tháng 10 trở thành ngày truyền thống của bộ đội Thiết giáp.**
    Sau đó, Tổng cục Chính trị cử một đoàn cán bộ chính trị 23 đồng chí gồm Chính trị viên Đại đội và Tiểu đoàn do tôi phụ trách sang Quế Lâm (Trung Quốc) để kiện toàn tổ chức xây dựng Trung đoàn tăng thiết giáp đầu tiên này, trước đó, tư năm 1955, ta đã đưa sang đây gần 300 cán bộ từ Trung đội tới Trung đoàn học kỹ thuật, chiến thuật tăng thiết giáp nhằm chuẩn bị cho việc xây dựng binh chủng Tăng - Thiết giáp cho quân đội ta.
    * 50 năm Quân đội nhân dân Việt Nam - Sách đã dẫn - tr 161.
    **50 năm Quân đội nhân dân Việt Nam - Sách đã dẫn - tr 162

  14. #39
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Hôm ra ga Hà Nội để lên tàu liên vận quốc tế để sang Trung Quốc, anh Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng, được Bộ Tổng Tư lệnh phân công trực tiếp xây dựng các quân, binh chủng ra tận ga tiễn chúng tôi, anh có ý gặp trước nhưng do bận đi công tác mới về nên tranh thủ ra thăm, dặn dò anh em ngay tại phòng khách nhà ga Hà Nội. Trước khi chia tay, anh Thái có trao cho chúng tôi một tập tín phiếu - tiền Trung Quốc, chúng tôi nhận nhưng không rõ giá trị số tín phiếu này là bao nhiêu. Đi Trung Quốc nhưng cả đoàn ai cũng mù tịt tiếng Trung, chúng tôi phải nhờ thư ký riêng của anh Thái ghi giúp ra mấy chữ Quế Lâm bằng chữ Trung Quốc để đưa cho quản lý tàu biết và đối chiếu để khi xuống ga Quế Lâm cho chắc ăn.
    Tối hôm đó, tàu chạy đến ga Bằng Tường, biên giới hai nước Việt - Trung thì dừng lại, ai cũng đói bụng kéo nhau vào căng tin nhà ga, ở đây bán thức ăn nhiều lắm, nhưng kẹt nỗi, giá tín phiếu là bao nhiêu? Cầm cả tập tín phiếu trong tay, không ai biết mua bán ra sao cả, chúng tôi đặt tín phiếu lên bàn rồi kêu người phục vụ căng tin ra chỉ...chỉ vào tín phiếu...họ hỏi lại bằng tiếng Trung Quốc không ai hiểu cả. Cả đoàn, người này nhìn người kia không ai biết sử trí ra sao cả, anh Lân, Chính trị viên Tiểu đoàn liền nói đại: "Hầm bờ bằng ký tố", tiếng Tiều Châu có nghĩa là: "mua tất cả" (đó là câu duy nhất anh Lân biết vì trước đây nhà anh ở gần xóm Tiều Châu - Khu Hoa kiều sinh sống tại Hải Phòng), thế là người phục vụ mang rượu, thức ăn ra, cứ thế bày la liệt trên bàn, trước mặt mỗi người khẩu phần gồm: một chai rượu lớn, một con vịt quay, lại thêm một đĩa lớn đựng hàng chục bánh bao và nhiều món ăn khác, thấy lạ quá, cả đoàn cứ ngồi...các bạn Trung Quốc tới ra hiệu: cứ ăn, vì đó là của chúng tôi.
    Ăn xong, thấy còn nhiều thức ăn quá, bạn lại cho mỗi người một túi nylon đựng thức ăn còn lại dùng ăn dọc đường, về tới nơi tập kết vẫn chưa hết. sau này hỏi ra chúng tôi mới biết tập tín phiếu anh Thái trao có giá trị lớn trên 500 đồng tiền Trung Quốc, lúc đó, nếu chia đều cho mỗi người trong đoàn có thể mua thức ăn đến 15 ngày không hết. Thế mới thấy, đi nước ngoài mà không biết ngoại ngữ thật dở, nhiều lúc thấy mình như người ngớ ngẩn.
    Chiều hôm đó, đoàn đến Quế Lâm, chúng tôi ngỡ ngàng thấy trên sân ga người ra đón đông quá, cờ Việt Nam, Trung Quốc phấp phới bay xen lẫn các băng rôn, khẩu hiệu đỏ rực: "hoan nghênh đoàn cán bộ Việt Nam sang Trung Quốc" lại có cả tiếng trống, tiếng chiêng chào đón náo nhiệt, đoàn cán bộ bạn ra đón chúng tôi có các đồng chí trong Ban Chấp hàng thường vụ Đảng bộ Quế Lâm, Thiếu tướng Hiệu trưởng Học viện Quân sự, đại diện Bộ chỉ huy Sư đoàn Bộ binh Trung Quốc tại Quế Lâm, đông đảo nhân dân Trung Quốc và đoàn cán bộ Việt Nam đang theo học tại đây cũng ra đón đoàn.
    Sau này, tìm hiểu thêm, chúng tôi được biết: Trung Quốc coi trọng chế độ Đảng lãnh đạo trong quân đội, nhận được thông báo của ta có đoàn cán bộ chính trị Tăng - Thiết giáp Việt Nam sang, các đồng chí mới tổ chức tiếp đón trọng thị như vậy, suốt tuần lễ đó, chúng tôi được bạn mời dự chiêu đãi hết chỗ này tới chỗ khác. Cảm giác đầu tiên của chúng tôi là bạn trọng tình hữu nghị Việt - Trung, nhưng khách khí, tiệc tùng tốn kém quá.
    Công việc đầu tiên của Ban chỉ huy Trung đoàn 202 là làm công tác biên chế tổ chức, triển khai huấn luyện có sự giúp đỡ của các cố vấn Trung Quốc. Trong thời gian ba tháng, đoàn chúng tôi, từ Chính ủy Trung đoàn tới Chính trị viên Đại đội vừa làm công tác Đảng, công tác chính trị vừa học kỹ thuật, chiến thuật tăng thiết giáp, chúng tôi quan niệm: Cán bộ chính trị, muốn làm tốt công tác Đảng, công tác chính trị trong binh chủng Tăng - Thiết giáp cũng phải biết được kỹ thuật, chiến thuật của Tăng - Thiết giáp.
    Trong thời gian này, anh Tam, trưởng Ban kỹ thuật Trung đoàn đã mở lớp tập huấn ngắn ngày về kỹ thuật tăng thiết giáp cho chúng tôi, một chiếc xe tăng được tháo tung ra từng bộ phận, cán bộ kỹ thuật chỉ dẫn cho chúng tôi biết tính năng, tác dụng của từng bộ phận, chỗ mạnh, chỗ yếu của xe tăng, qua hiểu biết về kỹ thuật, cán bộ chính trị thâm nhập sâu sát vào cuộc sống "xăng, dầu, mỡ" sẽ thuận lợi, giúp cho công tác chỉ huy bảo quản kỹ thuật xe đạt kết quả tốt.
    Bài học được rút ra là: Cán bộ chính trị trong binh chủng kỹ thuật phải hiểu biết về kỹ thuật, không được hô hào suông, quan liêu, chỉ tay. đứng nhìn bộ đội làm, cán bộ chính trị phải lao vào, cùng lao động, cùng bàn bạc với anh em tháo gỡ những khó khăn trở ngại về kỹ thuật, nhằm bảo quản, bảo dưỡng xe phù hợp với đặc điểm địa hình, thời tiết nước ta. Nắm được tính năng, tác dụng, kỹ thuật xe rồi, cán bộ chính trị cũng phải qua lớp học lái, lái thử, học xạ kích, cùng tham gia bắn đạn thật với bộ đội. Cách học kết hợp giữa lý thuyết và thực hành đối với cán bộ chính trị trong ngành binh chủng kỹ thuật quả là bổ ích. Có như vậy, theo tôi, vai trò, hoạt động chính trị của cán bộ mới được phát huy, mới có tính thuyết phục, đạt hiệu quả cao.
    Trước khi có lệnh về nước, đoàn chúng tôi được bạn mời tham quan 15 ngày ở thủ đô Bắc Kinh, ai cũng mừng vì là dịp để biết đây, biết đó, anh Tạo, phụ trách công tác cán bộ nói: Qua đây mà không đi Bắc Kinh thì chẳng khác nào trong nước mình mới đi Sơn Tây vậy" Suốt 15 ngày, bạn tổ chức chương trình tham quan dày đặc, mỗi buổi tham quan chỉ có 3, 4 giờ, nhưng nội dung lại rất phong phú, chúng tôi vừa đi xem, vừa phải như chạy theo người giới thiệu, cả đoàn cố gắng đi hết theo chương trình tham quan 30 địa điểm trong 15 ngày, ban ngày đã vậy, còn lại các buổi tối bạn còn mời xem nhạc kịch, ca nhạc nữa...nên ai cũng rã rời, anh em nói đùa: Tham quan như thế này còn hơn cả đi chiến dịch, nhiều anh em phát ốm, sau đợt tham quan 15 ngày, chưa kịp "hồi sức", bạn lại đưa ra một chương trình mới, mời xem tiếp, chúng tôi phải khéo léo từ chối, xin nghỉ trọn một ngày. Trước khi về Quế Lâm, chúng tôi tranh thủ tham quan được Thập Tam Lăng, một di tích cách Bắc Kinh 30km, cả ngày, chúng tôi chỉ xem được một lăng mới khai quật, nhưng cũng hiểu được sơ bộ quy mô bề thế của lăng, cung cách ăn ở, sinh hoạt của một vua Trung Quốc.
    Tạm biệt Bắc Kinh, chúng tôi lên tàu về Quế Lâm, tàu chạy suốt hai ngày hai đêm. Trên tàu, ai cũng ngủ vùi, không thiết gì ăn uống nữa, thật là một chuyến tham quan để lại nhiều kỷ niệm sâu sắc.
    Đợt học tập huấn luyện, bảo dưỡng xe tăng ba tháng ở Quế Lâm (Trung Quốc) nhanh chóng trôi qua. Cán bộ ta lần lượt trở về Tổ quốc. Riêng xe và vũ khí, khí tài còn để lại trên đất bạn, sẽ có kế hoạch chuyển về sau.

  15. #40
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Chúng tôi trở về đơn vị trong lúc công trường 92 xây dựng khu doanh trại, khu nhà xe, bãi xe đang còn dang dở, toàn Trung đoàn phải bắt tay vào lao động để thúc đẩy tiến độ thi công.
    Từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1960, giữa những ngày nắng như đổ lửa, cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn sống trong không khí lao động khẩn trương, Trung đoàn tổ chức nhiều ca, kíp lao động liên tục ngày đêm để hoàn thành khu nhà xe, bãi xe để nhận xe về. Tổng cục Đường sắt cùng một bộ phận cán bộ Trung đoàn đã làm xong thủ tục tiếp nhận xe tại ga Vĩnh Yên.
    Đúng 17 giờ 30 phút ngày 13 tháng 7 năm 1960, chuyến tàu hỏa trở những chiếc xe tăng đầu tiên của Trung đoàn 202 về đến ga Vĩnh Yên, 23 giờ cùng ngày, chiếc xe tăng đầu tiên mang số hiệu 114 do Trung sỹ Đào Văn Bàn điều khiển lăn bánh xích rời ga trong niềm vui hân hoan của mọi người, tiếp đó, các xe khác cũng lần lượt rời sân ga về doanh trại Trung đoàn.
    Đây là những hình ảnh, giờ phút đáng nhớ, kể từ đây, được sự viện trợ, giúp đỡ của nước bạn, quân đội ta đã được Đảng, nhân dân giao phó, trang bị, sử dụng những chiếc xe tăng hiện đại, từ những chiếc xe tăng đầu tiên này, bộ đội ta đã quản lý, sử dụng trong điều kiện trang thiết bị còn nghèo nàn, thiếu thốn đã dần phát triển thành một binh chủng Tăng - Thiết giáp hùng mạnh của quân đội nhân dân Việt Nam.
    Xe đã về, chúng tôi đã phát động ngay một đợt thi đua mới: toàn Trung đoàn tổ chức bảo quản, bảo dưỡng xe, khí tài, không khisthi đua sôi nổi như đi chiến dịch, ai cũng thấy, đối với xe, khí tài nhất là điều kiện nước ta có độ ẩm cao, nếu bảo quản không kỹ sẽ dễ bị hoen rỉ, dễ xảy ra sự cố khi sử dụng.Có một lần, anh em lau chùi một chiếc xe tăng chuẩn bị đưa vào kho thì các đồng chí chuyên gia Liên Xô tới kiểm tra, đồng chí Trưởng đoàn chuyên gia cởi chiếc áo trắng đang mặc làm giẻ, lau trên các xích sắt và thân xe đưa cho chúng tôi xem, đồng chí nói: như thế này còn bẩn lắm, chưa đạt yêu cầu đâu, thế là phải làm lại, làm đén khi nào một chiếc sơ mi trắng lau vào xe tăng không thấy vết bẩn nữa mới đạt yêu cầu.
    Một lần khác, Đảng ủy đang họp, chuyên gia Liên Xô đề nghị cho gặp, mang vào cho chúng tôi một gói chừng 2kg đất, cát, các mảng sắt vụn mà đồng chí lấy ra từ trong máy nổ của một chiếc xe tăng , đồng chí thẳng thắn góp ý: các đồng chí bảo quaen chưa tốt đâu, cũng như con người, trong máy nổ mà chứa các chất như thế này khác gì bị bệnh tim nặng, làm sao xe có thể chạy được, một trang bị hiện đại cần phải có các phương tiện hiện đại phục vụ cho công tác bảo quản, bảo dưỡng, xe tăng cũng yêu cầu như vậy, nhưng với ta lúc đó, việc bảo quản, bảo dưỡng hầu như đều làm bằng tay, dùng sức lao động thủ công là chính thay thế máy móc. Thí dụ, rửa xích xe cần có vòi nước có áp suất lớn để phụt, rửa, nhưng những ngày đầu thành lập binh chủng, bộ đội phải gánh từng thùng nước rồi dùng chổi tre xối từng gáo nước để rửa xích, công việc thật nặng nhọc, lại kém hiệu quả. Để động viên anh em, Đảng ủy Trung đoàn đã phát động: mỗi tuần, ngày thứ Bảy là ngày lao động bãi xe, trong ngày đó, tất cả cán bộ từ Trung đoàn trở xuống đều ra bãi xe cùng chiến sỹ làm công tác bảo quản, bảo dưỡng xe, việc làm này trở thành nền nếp không chỉ có tác dụng động viên còn giảm bớt sức lao động cho anh em.Hàng ngày, nhìn từng đoàn xe được chăm sóc sạch sẽ, xếp hàng ngay ngắn trong từng khu, kho, cán bộ chiến sỹ xác định rõ trách nhiệm sử dụng, giữ gìn vì đó là trang bị quý giá thắm đượm tình đoàn kết quốc tế, đánh dấu bước đầu hiện đại hóa của quân đội ta. Đó cũng chính là kết quả lao động nặng nhọc, căng thẳng, vất vả của hàng ngàn cám bộ, chiến sỹ để các khối sắt thép này luôn sẵn sàng có thể xuất kích khi có lệnh.
    Toàn Trung đoàn bước vào mùa huấn luyện đầu tiên.Lúc này, đoàn chuyên gia Liên Xô đã thay đoàn chuyên gia Trung Quốc, sự thay đổi này kéo theo sự thay đổi phương pháp huấn luyện, do cán bộ ta đi học từ Trung Quốc về nên khi có sự thay đổi phương pháp, cường độ học tập, huấn luyện phải tăng cao, anh em cũng có nhiều ý kiến tranh luận, dần dần, qua học tập rèn luyện, anh em cũng thống nhất và quen với phương thức huấn luyện mới này.
    Có một việc làm tôi nhớ mãi, đó là buổi học lái xe tăng ở phía tây núi Danh. Trước đây, theo lý thuyết, hướng dẫn của các đồng chí đi học ở Trung Quốc về thì: khi lái xe xuống dốc phải giảm tốc độ. Tôi có suy nghĩ: nếu đang truy kích địch, dù xe đang xuống dốc vẫn phải tăng tốc độ để đuổi kịp và tiêu diệt địch miễn là người lái xe vẫn đảm bảo được an toàn, không để sảy ra sự cố kỹ thuật. Tôi trao đổi lại suy nghĩ này với một đồng chí trong Ban chỉ huy Trung đoàn và Tiểu đoàn nhưng chưa được đưa ra tranh luận, kết luận.
    Buổi chiều hôm ấy, đến phiên tôi lái xe, khi xe xuống dốc, tôi vẫn giữ ý kiến "tăng tốc xe" và báo cáo ra cho bộ phận đạo diễn buổi tập là xe đang truy kích địch. Tôi tăng ga, tăng tốc cho xe chạy rất nhanh, tôi giữ vững tay lái cho xe chạy an toàn, nhưng đến cuối dốc bỗng nghe một tiếng nổ lớn. Hộp số xe đã bị bể, đối với xe, nhất là xe tăng, hộp số là quan trọng nhất, như quả tim đối với con người vậy. Anh em định giá: khoảng 50 vạn nhân dân tệ tiền Trung Quốc một hộp số, dư luận cho rằng hộp số bị bể do chính ủy vi phạm quy ước khi lái xe, xuống dốc phải giảm tốc độ mà chính ủy lại tăng tốc độ....
    Các chuyên gia Liên Xô trực tiếp hỏi, nghiên cứu kỹ quan điểm của tôi: tăng tốc độ khi xe xuống dốc, trường hợp khi đang truy kích địch, ngay tối hôm đó, các đòng chí đã kiểm tra, thấy hộp só đã có vết nứt dài 10cm, các chuyên gia Liên Xô kết luận: hộp số bể là do trước đó đã bị nứt (có dấu vết màu vàng chạy dài). Đáng lẽ phải thay nhưng bảo dưỡng ta làm không kỹ, không phát hiện được. Quan điểm của chính ủy là đúng, khi đã truy kích địch, bằng mọi cách phải tăng tốc độ xe, tiếp cận để diệt địch, không phải do tăng ga khi xuống dốc mà hộp số bị bể. Kết luận của chuyên gia như nhấc được tảng đá đang đè lên ngực tôi, quả là một kỷ niêkm khó quên.
    Từ cuối năm 160 đến tháng 12 năm 1961, Trung đoàn 202 đã cùng các Sư đoàn bộ binh 308. 302 thực hiện bốn cuộc diễn tập nhằm nâng cao trìng độ hiệp đồng binh chủng. Đặc biệt, trong cuộc diễn tập với các Trung đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 308 trên địa hình ruộng nước ở Thanh oai (Hà Đông). Lần đầu tiên, một Trung đoàn bộ binh có xe tăng và pháo tự hành tham gia tiến công địch trên địa hình đồng bằng, lầy lội có làng mạc xen kẽ, những vấn đề vận dụng, nguyên tắc chiến thuật cũng như công tác đảm bảo cho xe tăng đòi hỏi phải có sự nghiên cứu tỉ mỉ, sáng tạo. Trong cuộc diễn tập này, bộ binh ta đã có nhiều kinh nghiệm đánh địch ở đồng bằng. Nhưng đối với xe tăng quả là quá phức tạp, gian nan. Trong suốt cuộc diễn tập, từ lúc mở đầu cho đến khi kết thúc, không ngày nào xe tăng lại không gặp sự cố vì sa lầy. Nhiều đêm, trong lúc các đơn vị và phân đội bạn đang an giấc thì các phân đội xe tăng, cơ quan kỹ thuật tăng như các anh Tam, Cửu, Hùng, Nhân....cùng chúng tôi ngồi sáng đêm ngoài ruộng trục vớt xe tăng, toàn Trung đoàn, bộ phận nào cũng gánh chịu sự cực nhọc, nhưng tôi thấy anh em trong bộ phận kỹ thuật vất vả nhất.
    Từ thực tế diễn tập, những sự cố sảy ra như vậy, trong nội bộ Tăng - Thiết giáp đã nảy sinh nhiều ý kiến, nhiều câu hỏi được đặt ra là: xe tăng T34 nặng 30 tấn được chế tạo sử dụng ở địa hình châu Á hay bắc Trung Quốc (vùng Trung du)? Còn ở ta, địa hình đồng bằng và ruộng nước, rừng núi có thể sử dụng loại xe tăng này không?, khuynh hướng chung của anh em là: ở Việt Nam, nên sử dụng xe lội nước, pháo tự hành và các loại xe tăng nhẹ mà Mỹ sử dụng ở miền Nam lúc bấy giờ. Các ý kiến này cũng có lý, cơ sở nhất định, chúng tôi đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo chuyên đề, tranh luận về vấn đề này, các cuộc hội thảo đều xác nhận: các xe tăng thiết giáp loại nhẹ như xe lội nước, xe tăng cải tiến từ 12 đến 15 tấn dễ sử dụng ở địa hình nước ta, còn dùng xe tăng T34 nặng 30 tấn quả là có nhiều khó khăn. Nhưng nếu sử dụng được tăng T34 ta có nhiều lợi thế, áp đảo được các loại xe thiết giáp địch đang dùng ở miền Nam vì tốc dộ cao, hỏa lực mạnh và chính xác của nó. Rõ ràng, cần phải đầu tư, cần phải nghiên cứu, phải khắc phục rất lớn về nhiều mặt cho loại xe tăng này: khi sử dụng ở địa hình đồng ruộng phải tăng cường thêm bộ phận bám xích xe, tăng cường phương tiện cứu hộ cho xe. Ở địa hình đồi núi, cần phải khắc phục đường, làm gấp cầu, cống. Nếu được như vậy, ta có thể sử dụng được xe tăng T34 ở chiến trường Việt Nam, chiến trường miền Nam. Một vấn đề rất quan trọng mà chúng tôi đi đến thống nhất là: các phương tiện chiến tranh, dù hiện đại đến đâu cũng đều phụ thuộc vào con người sử dụng nó, con người mới là yếu tố quyết định sự thành bại, tốt xấu, hiệu quả hay không hệu quả của mỗi loại vũ khí, trang bị. Chúng ta tin tưởng vào đội ngũ cán bộ, chiến sỹ, tin vào sức mạnh của nhân dân. Vì cuộc chiến tranh chính nghĩa bảo vệ Tổ quốc, bộ đội ta có đủ khả năng khắc phục mọi gian khổ, khó khăn để làm vũ khí, trang bị, vừa sáng tạo cách đánh phù hợp để chiến thắng quân thù. Lòng tin này, dần dần đã được thực tế chứng minh, nhất là những năm tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, ta đã dần dần đúc rút kinh nghiệm sử dụng xe tăng T34 từ miền Bắc vượt dãy Trường Sơn đầy bom đạn vào tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam, trên nhiều địa hình phức tạp. Phối hợp với các quân, binh chủng khác, Tăng - Thiết giáp đã trở thành những quả đấm thép, là lực lượng đột kích, thọc sâu, bất ngờ trong nhiều chiến dịch, nhiều trận đánh lớn. tiêu biểu là chiến dịch Nguyễn Huệ 1972, chiến dịch Tây Nguyên giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975. Việc tổ chức vận động và cách đánh táo bạo, bí mật, bất ngờ của lực lượng Tăng - Thiết giáp đã làm cho địch hoang mang, khiếp sợ, ngay chính các nhà sáng chế ra thứ vũ khí hiện đại này lúc đầu cũng khó hình dung, giải thích nổi tại sao chúng ta có thể làm được như vậy...? Thời gian cứ trôi, con người, sự vật có nhiều thay đổi, nhưng hình ảnh xe tăng ta tiến vào húc đổ cổng sắt dinh Độc Lập, chiến sỹ xe tăng cắm cờ chiến thắng lên nóc Phủ Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm gian khổ, hy sinh sẽ không bao giờ phai mờ trong trang sử đấu tranh của dân tộc ta, quân đội ta.

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •