CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 3 của 6 Đầu tiênĐầu tiên 12345 ... CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 55

Chủ đề: Hồi ký Thiếu tướng Đặng Quang Long - Nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 7

  1. #21
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Từ đó đến tháng 9 năm 1946, tôi mở được ba lớp đào tạo cán bộ ấp, xã, tài liệu không có sẵn, tôi phải tự biên soạn. Xen kẽ các lớp học, tôi cùng một số đồng chí xuống vùng bị địch chiếm làm công tác quần chúng, diệt ác, phá tề, tổ chức chính quyền Cách mạng ở các Bầu Trâm, Bảo Vinh, Bảo Định, Tân Phong.
    Thời gian công tác trên địa bàn này tôi có một kỷ niệm. Tại xã Bảo Định, một hôm tôi và ba du kích xã bắt được tên Nam Việt gian, chỉ điểm, dẫn đường cho giặc đi càn quét, đánh phá các cơ sở Cách mạng, khi tôi và cháu Thành (liên lạc viên) đang vượt qua quốc lộ 1 thì thấy một xe ngựa chạy tới, Thành chỉ người đánh xe nói lớn:
    - Chú Tám, nó là tên Nam đó, nó làm Việt gian ở thi xã Xuân Lộc, dẫn địch vào Bảo Vinh bắt và giết mẹ cháu đó.
    Tôi và Thành bám theo, Nam đánh xe chạy cách chúng tôi 50 mét, sau đó dừng xe, chui vào quán uống cà phê, chọc ghẹo phụ nữ. Tôi huy động thêm ba du kích xã, chuẩn bị sẵn dây trói, vào thẳng quán, tôi đứng trước mặt Nam hỏi to:
    - Anh có phải là Nam không?.
    Tên Nam xanh mặt, lấm lét nhìn tôi:
    - Dạ phải.
    Tôi dằn giọng hỏi tiếp:
    - Có phải mày dẫn giặc vào càn quét xã Bảo Vinh không?.
    Nm run lập cập, líu cả lưỡi lại:
    -Dạ,... dạ.... nhờ ông tha cho.
    Nhìn bộ mặt đáng ghét của nó, tôi thấy mặt nóng bừng, đánh luôn một cái bạt tai làm nó ngã lăn xuống đất, cùng lúc du kích ập vào trói tên Nam lại, sau đó, tôi tổ chức nửa tiểu đội du kích áp giải tên Nam theo đường rừng đưa về căn cứ ở huyện Hầm Hinh (gần ga Bảo Chánh). Tối hôm đó, tôi dùng xe ngựa của tên Nam theo đường quốc lộ số 1 về thẳng căn cứ Hầm Hinh. Không ngờ, cũng hôm đó, địch từ ga Bảo Chánh bung ra càn quét căn cứ ta ở Hầm Hinh, đốt phá nhà cửa của dân và bắn một du kích gãy cả hai chân. Đến chiều, địch rút quân, ta đang cứu chữa và bàn cách đưa anh du kích (sau tôi biết anh tên Bích) đi bệnh viện của ta ở Rừng Lá (cách hơn 30 ki lô mét) cứu chữa tiếp. Nhưng làm sao đi cho kịp? Nếu trễ, máu ra nhiều, anh Bích sẽ chết, đang lúng túng thì xe tôi cũng vừa tới, một du kích thấy xe quát:
    - Ai đó, đứng lại.
    - Tôi đây, tôi là Long đây.
    Mọi người chạy ùa tới, ông Sáu Tạo mừng rỡ, ôm lấy tôi, vừa lúc đó du kích cũng áp giải tên Nam tới. Sau khi nghe tôi kể lại sự việc, ông ra nhìn mặt nó rồi nói lớn:
    - Đúng nó là Nam Việt gian ở thị xã Xuân Lộc, hãy giam nó lại, chờ ngày xét xử, còn ta dùng xe ngựa này đưa anh Bích lên thẳng bệnh viện ở Rừng Lá, đi nhanh cho kịp.
    Tại bệnh viện, một chân anh Bích bị thương nhẹ cứu chữa được, còn chân kia bị gãy nát xương, phải cắt bỏ.
    Sau ngày ra viện, anh Bích cố ý tìm tôi, nhưng không gặp. Tám năm sau (1954) khi bộ đội ta tập kết tại Xuyên Mộc (Bà Rịa) để chuẩn bị chuyển quân ra Bắc theo tinh thần hiệp định Geneve, tôi đang làm chính trị viên tiểu đoàn chủ lực 300, có vợ chồng anh thương binh cụt chân, chống gậy đến tìm gặp. Hỏi rõ ra thì đó chính là anh Bích, người du kích năm xưa bị địch bắn gãy cả hai chân, Bích cảm ơn tôi và nói:
    - Nếu không có chiếc xe ngựa anh đưa về Hầm Hinh, kịp đưa em đi cứu chữa hôm đó, thì chắc em đã chết rồi, đâu còn gặp anh ở đây nữa.
    Đầu tháng 10 năm 1946, anh Huỳnh Văn Nghệ lên nghiên cứu các trận đánh xe lửa trên tuyến đường sắt đoạn Bảo Chánh, Trảng Táo, Gia Huynh. Anh đưa cho ông Sáu Tạo và tôi bức điện, nội dung đồng chí Nguyễn Bình kêu tôi về Nam Bộ, anh Tám muốn gặp tôi.
    Môt lần nữa, tôi lại lưu luyến chia tay các đồng chí, đồng đội ở Xuân Lộc, tháp tùng trong đoàn Chi đội 10 tổ chức đưa đồng chí Lê Duẩn về Nam Bộ.
    Anh Ba Vũ, Trung đội trưởng Trung đội 4 Xuân Lộc (anh em thường gọi là Vũ Ba kẹ, vì tính tình bộc trực, nóng nảy của anh) đưa tôi vào sở chỉ huy gặp anh Tám Nghệ. Trời chiều, nắng gắt, anh Tám Nghệ mình trần, quần cụt, mừng rỡ như quen biết lâu ngày, siết chặt tay tôi, anh Tám người thấp, ngực nở, thân hình chắc nịch, luôn có nụ cười trên môi (sau này anh em nói có lúc anh làm huấn luyện viên thể thao trường Olympic Phan Thiết). Anh liên tục hỏi tôi tình hình chiến sự ngoài Trung, tôi báo anh, tôi xa chiến trường cũng lâu, tôi nói nhiều về Mặt trận Nha Trang, 101 ngày đêm chiến đấu anh dũng của quân và dân ta. Trong điều kiện lực lượng ta trang bị kém, lực lượng địch lại đông, có cả thủy, lục, không quân....mà không làm gì được ta, bị ta giam hãm, cầm chân trên ba tháng trời.....Ta rút ra khỏi Mặt trận, theo chủ trương định sẵn của trên, lực lượng ta gần như nguyên vẹn, đây là thắng lợi rất lớn. Anh Tám báo lại cho tôi biết ở miền Đông Nam Bộ, địch bung ra lấn chiếm, nhưng lực lượng chúng bị phân tán dàn mỏng, bộc lộ nhiều sơ hở, điều kiện đánh diệt địch tốt lắm, nhưng ta không có lực lượng tập trung đủ mạnh, tiếp tế hậu cần, lương thực còn khó khăn, anh đang khắc phục nhược điểm này. Anh nói rõ từng tiếng một:
    - Địch bị phân tán dàn mỏng, ta lại không có quả đấm, không lực lượng cơ động, coi như hòa nhau mà hòa coi như ta thua, không thể như thế được.
    Anh nói rồi, cười to rất sảng khoái, anh viết giấy giới thiệu đặc biệt tôi với các trạm liên lạc trên đường dây để các trạm giúp đỡ và đưa tôi về gặp đồng chí Nguyễn Bình. Anh siết chặt tay tôi, để lại ấn tượng sâu sắc trong tôi về người chỉ huy cao cấp quân sự đầu tiên tôi gặp khi bước chân vào mảnh đất miền Đông Nam Bộ. Đặc biệt, nhận định khái quát của anh về địch và cách giải quyết của anh đã giúp tôi có khái niệm về cách giải quyết mối quan hệ địch ta sau này.

  2. #22
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Trên đường đi, đồng chí thư ký riêng của anh Ba Lê Duẩn cho tôi mượn cuốn sách: Vấn đề chính Đảng của Nguyễn Hải Triều, tôi tranh thủ đọc ngấu nghiến, đọc lúc đi, lúc nghỉ, trong hai ngày đêm, tôi đọc hai lần, thuộc luôn đề cương cuốn sách. Tôi trao đổi với anh Phan Đình Công, nội dung cuốn sách hay quá. Đi đến Sông Bé, chúng tôi chặt tre lồ ô đóng bè vượt sông. khi vượt sông, nước cuốn mạnh quá, bè bị rã, chúng tôi mất sạch đồ đạc, áo quần. Riêng tôi, mất gì thì mất chớ tôi giữ chặt cuốn sách, lên bờ, tôi tháo sách ra phơi từng trang một, không để mất tờ nào. Đoàn nghỉ lại 5 ngày đêm để chuẩn bị áo quần, lương thực, tôi và anh Phan Đình Công tổ chức một lớp nghiên cứu mác xít gồm 12 đồng chí cán bộ xung quanh để nghiên cứu vấn đề chính Đảng của Nguyễn Hải Triều, các nội dung trong cuốn sách:
    - Giai cấp và giai cấp đấu tranh.
    - Chính Đảng của giai cấp công nhân.
    - Đảng của giai cấp công nhân, đại biểu quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam và là Đảng của dân tộc Việt Nam.
    - Mục tiêu lý tưởng người Cộng sản.
    Năm ngày đêm miệt mài nghiên cứu, chúng tôi đều cảm thấy sáng mắt, sáng lòng, chúng tôi tiếp thu các nội dung trong cuốn sách thấm thía vào đầu óc, ruột gan, như người đi nắng khát nước. gặp được nguồn nước mát.
    Sau 5 ngày đi liên tục, tôi đã gặp được đồng chí Nguyễn Bình, Tư lệnh Khu 7 tại căn cứ Ba Thu, hình ảnh Tư lệnh Nguyễn Bình, người đẫy đà, mang kiếng đen, nghiêm nghị, tiếp tôi rất thân mật, vẫn còn in đậm trong trí nhớ tôi.
    Thế là từ Khánh Hoà đến Nam Bộ. một quãng đường không dài lắm, nhưng những gì đã xảy ra cũng đã trở thành những bài học đầu đời tôi không thể nào quên, những khó khăn thử thách, những tình cảm thân thương của đồng bào, đồng chí với tôi ngày đầu kháng chiến, hình ảnh mẹ đưa tiễn tôi đi làm Cách mạng và tấm gương hy sinh anh dũng của anh Võ Gia Cương mãi in đậm trong ký ức của tôi. Tất cả, đó là nguồn động lực vô giá, động viên, khích lệ tôi bước vào cuộc chiến đấu mới trên chiến trường Nam Bộ.

    VỀ CHI ĐỘI 16 - TỈNH BÀ RỊA.

    Bộ Tư lệnh Khu 7 cử một đoàn cán bộ về tăng cường xây dựng Chi đội 16 gồm các đồng chí: Hứa Văn Yến, Phan Đình Công, Hoàng Tung, tôi và một số đồng chí khác.
    Tháng 11 năm 1946, đoàn chúng tôi đến xã Long Mỹ, một căn cứ lõm, nơi đây có đủ các cơ quan đoàn thể cấp tỉnh và lực lượng vũ trang - Chi đội 16 đóng. Chúng tôi gọi là căn cứ lõm vì xung quanh xã Long Mỹ là căn cứ địch, cách chỉ một đến hai ki-lô-met đường chim bay, xã dựa lưng vào núi Minh Đạm, nằm giữa khu tam giác, bao quanh là đồn bót và đường giao thông địch kiểm soát. Long Mỹ có vài trăm nóc gia đình, dân làng ít, nhưng bộ đội và các cơ quan rất đông. Tất cả nơi ăn, ở, gạo, thuốc, thực phẩm đều dựa vào dân. Địch biết đây là "ổ Việt Minh" nên chúng tổ chức càn đi quét lại nhiều lần, nhưng lần nào cũng bị thất bại, phải mang xác chết về. sáng địch càn, chiều, khi địch rút, thì đâu lại vào đấy, dân làng, bộ đội, cơ quan trở về hoạt động suốt đêm.
    Càn và chống càn riết rồi thành thói quen, địch ngày càng mệt mỏi, lơi dần....Chúng chuyển thủ đoạn không dùng quân mà dùng pháo bắn phá, đánh sáng, đánh chiều, có giờ giấc thành quy luật. Dân làng dựa vào quy luật đánh phá của địch, biết lúc nào càn, địch pháo kích mà tránh né và tổ chức làm ăn. Bộ đội, cán bộ...các cơ quan đều ăn ở chung với dân, quen thân như người nhà. Dân cần gì, thiếu gì, bộ đội biêt đều chủ động lo giúp, từ quét dọn nhà cửa, bếp núc, cho heo, gà ăn đến tắm giặt, hớt tóc cho trẻ nhỏ...coi như công việc của đơn vị, bản thân mình. Có lúc ngày mùa, cả nhà lo ra đồng, còn công việc nhà dân giao cho bộ đội, tôi ít thấy ở đâu, ở bất kỳ thời kỳ nào quân với dân là một, như ở Long Mỹ những ngày, tháng này.
    Người cán bộ chúng tôi gặp đầu tiên là cụ Trần Xuân Độ, Chính trị viên của Chi đội 16. Khi ở Bộ Tư lệnh Nam Bộ, chúng tôi đã nghe tiếng cụ là một cán bộ lão thành, có đạo đức, tác phong giản dị, mẫu mực. Cụ làm Cách mạng từ hồi 14 tuổi, ở tù Côn Đảo nhiều năm. Năm 1945 từ Côn Đảo trở về, cụ phụ trách Chính trị uỷ viên lực lượng vũ trang Nam Bộ, sau đó, tình nguyện xuống làm công tác ở một địa phương và về lãnh đạo tỉnh Bà Rịa, đồng thời làm Chính trị viên Chi đội 16. Cán bộ xung quanh gọi bằng cụ vì sự tôn trọng, gọi riết rồi quen, thực ra lúc đó cụ chỉ chừng 50 tuổi.
    Cụ Độ niềm nở đón tiếp chúng tôi, cụ thường mặc bộ đồ đen. vai đeo túi xách (anh em nói gia tài cụ chỉ có vậy). ở gần, tôi nhận thấy cụ là người thật thà, chất phác, không lo gì cho mình mà chỉ lo cho dân, cho bộ đội.
    Tôi bắt đầu hoà nhập, tìm hiểu về Chi đội 16. Nhân dân Bà Rịa vốn có truyền thống Cách mạng, đưa con em mình gia nhập Chi đội 16 để đánh giặc. Từ năm 1946, Chi đội đã hoạt động và lập nhiều thành tích đánh địch ở dốc Cây Cám, quốc lộ 23, đánh sập Cầu Trọng, mở rộng căn cứ Xuyên Mộc, Phước Bửu, Long Mỹ....
    Theo sự chỉ đạo của Khu và cụ Độ, Ban chỉ huy Chi đội và các đại đội được tăng cường thêm cán bộ. Cụ thể: đồng chí Hứa Văn Yến làm Chi đội trưởng thay đồng chí Đạo. Đồng chí Phan Đình Công thay cụ Độ làm Chính trị viên để cụ Độ phụ trách chung, Chi đội phó là đồng chí Thảo, tôi về làm Chính trị viên đại đội A, đồng chi Hưng làm đại đội trưởng. Tuy nóng tính, nhưng anh Hưng là người có ý chí chiến đấu, tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình tốt.
    Qua các đợt củng cố, xây dựng lực lượng, các lực lượng thuộc Chi đội 16 đều được tăng cường về số lượng và chất lượng, tinh thần chiến đấu thi đua lập công cũng được phát động trong toàn Chi đội. Trong lúc này, Chi đội 10 Biên Hoà cũng đã tập trung lực lượng, mở chiến dịch đánh giao thông địch, thu được nhiều chiến công vang dội. Mở đầu chiến dịch, Chi đội 10 diệt đoàn xe lửa địch ở Bảo Chánh, phá huỷ đoàn tàu, thu được nhiều trang bị. Trận thứ hai, Chi đội 10 đánh tiếp đoàn tàu địch ở Trảng Táo, đánh tiếp địch ở Bảo Chánh lần hai, đánh địch ở Bàu Cá thu thắng lợi lớn. Chi đội 10 Biên Hoà đánh thắng giòn giã, kích động tinh thần đánh địch lập công của Chi đội 16. Lúc này, anh Phan Văn Tường, Phó Ban quân báo Chi đội 16 phát hiện địch ở Vũng Tàu cứ chu kỳ 15 hôm, có một đoàn xe gồm 6 chiếc, có một trung đội lính Âu Phi trang bị mạnh đi theo yểm trợ, chạy vào Bà Rịa nhận tiền về Vũng Tàu. Địa hình rừng sác hai bên đường 15 Bà Rịa - Vũng Tàu rất hiểm trở, nên địch rất chủ quan. Chi đội 16 tổ chức một phân đội gồm 60 cán bộ chiến sỹ trang bị mạnh, do anh Trần Đông Hưng và anh Phan Văn Tường chỉ huy, vào chiều ngày 20/6/1947 nổ súng diệt gọn trung đội lính Âu Phi, thu 2 súng trung liên, 20 súng trường, nhiều hòm đựng tiền, phá huỷ toàn bộ đoàn xe địch. Ta không ai hy sinh, bị thương. Thắng lợi trận đánh như cái tát nảy lửa vào bọn địch ở Bà Rịa - Vũng Tàu. Địch điên cuồng đối phó, huy động toàn bộ lực lượng, bủa vây chặn đường rút lui của quân ta. Địch càn quét, trụ lại tại xóm lưới thị xã Bà Rịa, rải quân phục kích xã Long Hương đến núi Dinh, phục kích chặn quân ta rút ra cánh đồng Cộng Hoà xã Long Kiển. Anh Hưng, anh Tường sáng suốt nhận định rõ cách đối phó của quân địch, liền trong đêm, tổ chức vượt sông, cắt qua cầu Thủ Lựu (đoạn thị xã Bà Rịa về Long Điền), vượt qua hệ thống đồn bót thị trấn Long Điền, vượt Lộ 23 (Long Điền - An Nhất) là trời sáng, đoàn quân chiến thắng đã an toàn về đến cứ Minh Đạm. Thắng lợi quân sự to lớn này, là thắng lợi của lòng dũng cảm, ý chí kiên cường, có tác dụng rất lớn động viên quân và dân Bà Rịa chiến đấu lập công.

  3. #23
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Viết đến đây, tôi cũng như rất nhiều đồng đội, đồng bào ở Bà Rịa - Biên Hoà tưởng nhớ đến anh Ba Tường, một đồng chí, một người bạn tận tình, tận nghĩa, nhiều năm chiến đấu trong địch hậu, góp phần công lao vào Chi đội 16 và sau này vào thành tích đánh địch của quân khu Sài Gòn - Gia Định, anh Ba Tường sau ngày giải phóng 30/4/1975, mất đi vì căn bệnh hiểm nghèo trong vòng tay đồng đội, đồng chí.
    Phong trào đánh địch phát triển tốt, Ban chỉ huy Chi đội chăm lo xây dựng chất lượng bộ đội, lấy trọng tâm là xây dựng lực lượng Đảng, xây dựng lực lượng lãnh đạo từ cơ sở.
    Lực lượng nòng cốt, có đủ tiêu chuẩn để phát triển vào Đảng thì nhiều nhưng chưa được kết nạp. Cụ Độ, anh Công bàn với tôi đứng ra giới thiệu một số đồng chí vào Đảng. Tôi báo cáo rằng không thể giới thiệu được vì tôi cũng chưa phải là Đảng viên, (Đầu năm 1946, tôi đã là đối tượng cảm tình của Đảng, đã học điều lệ Đảng, chuẩn bị kết nạp, làm công tác tuyên truyền, giúp đỡ nhiều anh em hiểu biết về Đảng, nhưng do những biến động trên chiến trường, sau đó di chuyển vào Nam Bộ nên chưa được kết nạp).
    Ngay tối hôm đó (ngày 15/1/1947), cụ Độ đứng ra chủ trì kết nạp tôi vào Đảng. Người giới thiệu tôi vào Đảng cũng chính là cụ Độ và anh Công, chính trị viên Chi đội (nguyên tắc phải có hai người giới thiệu). Trong lễ kết nạp này, cụ Độ tuyên bố tôi là Đảng viên chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam và chỉ định luôn tôi là Bí thư Chi bộ đại đội A*. Ngay sau đó, tôi đứng ra giới thiệu và kết nạp thêm nhiều Đảng viên mới.
    Công tác ở đại đội A không lâu, vừa chấn chỉnh nề nếp sinh hoạt trong đại đội, hướng dẫn bộ đội làm công tác chính trị, công tác dân vận, bàn bạc với ban chỉ huy đại đội triển khai công tác huấn luyện xong thì tôi được cấp trên điều động về làm hiệu trưởng Trường đào tạo cán bộ sơ cấp của tỉnh Bà Rịa. Trường đóng tại Long Mỹ, ở đó, tình hình luôn căng thẳng: càn quét và chống càn quét, thường xuyên phải đối phó với hoả lực pháo của địch tứ các bót Phước Hải, Long Hải, An Nhất, Bờ Đập bắn phá. Tôi đã cùng với nhà trường, khắc phục nhiều khó khăn, mở được hai lớp đào tạo với gần 350 cán bộ cho các đơn vị trong tỉnh. Đến cuối năm 1947, tôi lại được điều về làm chủ nhiệm chính trị phân khu Duyên Hải (đồng chí Dương Văn Hà làm phân khu trưởng, Nguyễn Đức Huy làm chính trị viên).
    Ban chỉ huy Phân khu gấp rút xây dựng Trường huấn luyện quân sự - chính trị cho cán bộ trung, sơ cấp tại Vũng Gấm và giao cho tôi làm hiệu trưởng. Nói là trường huấn luyện, nhưng huấn luyện viên chỉ có tôi lên lớp giảng bài về chính trị và anh Vân (được đi dự một khoá quân sự ở Nam Bộ về làm hiệu phó) làm huấn luyện viên quân sự.
    Lớp học tổ chức mỗi khoá 45 ngày. Tôi và anh Vân thay nhau lên lớp. Sáng tôi giảng về chính trị, chiều, anh Vân lên lớp về quân sự. Tối học viên ôn bài, tôi và anh Vân lại chuẩn bị bài cho ngày mai. Chúng tôi mở được hai lớp huấn luyện, đào tạo 300 cán bộ và cũng trong thời gian này. xét kết nạp được trên 200 Đảng viên.
    * Sau này tập kết ra Bắc, Tổng Cục Chính trị có chỉ thị: Tất cả Đảng viên sau khi kết nạp phải qua thời gian dự bị. Tổng Cục Chính trị xác định thời gian dự bị của tôi là 6 tháng, lấy ngày 15 tháng 7 năm 1947 là ngày chính thức.
    Sửa lần cuối bởi truongsa; 14-01-2013 lúc 04:19 PM.

  4. #24
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    VỀ TRUNG ĐOÀN 307 - 397

    Không đầy một năm về chiến trường Bà Rịa, tôi được chuyển đổi vị trí công tác nhiều lần. Lúc bấy giờ, tình hình biến đổi rất nhanh, nên công tác xây dựng lực lượng, điều động cán bộ trong quân đội cũng phải thay đổi cho phù hợp và tiến hành khẩn trương, tôi luôn ở trạng thái sẵn sàng, chỗ nào cần, trên điều động là tôi đến.
    Sau lớp huấn luyện thứ hai ở phân khu Duyên Hải, tôi được điều về làm chính trị viên Tiểu đoàn 921 Trung đoàn 307. Anh Ngọc, Chi đội trưởng Chi đội 25 làm tiểu đoàn trưởng. Khi Trung đoàn 397 thành lập, tháng 10 năm 1947, tôi trở lại chiến trường Long Thành, làm Trưởng đại diện ban chỉ huy Trung đoàn, anh Đắc, anh Phải làm phó. Sau đó, tôi được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1191 thuộc Trung đoàn 397 hoạt động ở Long Thành.
    Viết đến đây, tôi bùi ngùi nhớ thương anh Đắc, một cán bộ chính trị rất yêu thích thơ, luôn sống mẫu mực, chan hoà với anh em, được bộ đội và nhân dân yêu mến. Anh Đắc hy sinh năm 1948 trong trận tiểu đoàn 307 đánh đoàn xe lửa địch ở Gia Huynh, Trảng Táo, tiểu đoàn 1191 có ba đại đội, đứng chân ở ba liên xã, một đại đội hoạt động ở vùng Phú Hữu - Phước Khánh, một đại đội đứng chân hoạt động ở Phước Long, Phước Thọ và một ở Long Điền. Việc bố trí quân như vậy, tuy phù hợp với nhu cầu phát động phong trào du kích chiến tranh trong từng địa phương, nhưng thiếu quả đấm mạnh, tập trung cơ động. Từ suy nghĩ ấy, tôi tổ chức thêm một đội biệt động gồm 12 đồng chí chuyên trách thọc sâu đánh địch trong thị trấn Long Thành và tổ chức một đại đội tập trung cơ động, trang bị mạnh, coi như "quả đấm" của tiểu đoàn.
    Trong lúc chúng tôi đang lo củng cố tổ chức tiểu đoàn 1191 thì ở Biên Hoà xảy ra trận đánh thắng lợi vang dội: sáng ngày 01/3/1948, Chi đội 10 đánh trận La Ngà, tiêu diệt đoàn xe địch trên 60 chiếc với 150 tên địch, phần lớn là lính Âu Phi đi theo yểm trợ. Quân ta thu được nhiều quân trang, quân dụng. Thắng lợi của Chi đội 10 ở La Ngà không đơn thuần là thắng lợi lớn về quân sự mà là một trận đánh thắng lớn về chính trị và binh vận. Trong lúc bộ đội ta, kẻ chiến thắng còn thiếu thốn mọi bề, nhưng binh lính địch bị ta bắt làm tù binh, bị thương thì ta vẫn băng bó, cứu chữa, thuốc men. Đặc biệt là hành khách đi trên xe về Đà Lạt, gồm đủ các tầng lớp người, lúc bấy giờ còn chưa hiểu ta, trạng thái tinh thần rất hoang mang, sợ hãi thì được bộ đội Vệ quốc Đoàn đón tiếp niềm nở, đưa vào rừng có chỗ trú ẩn an toàn, bảo đảm ăn uống, thuốc men và sáng hôm sau, ta tổ chức hướng dẫn họ, từng tốp ra đồn La Ngà trở về Sài Gòn an toàn, gây sự ngạc nhiên, khâm phục trong lòng mọi người và từ đó, trong các vùng tạm chiếm gọi bộ đội Vệ quốc đoàn và những người kháng chiến bằng danh từ thân yêu: "đằng mình".
    Tại Long Thành chúng tôi dựa vào tin tức trên thông báo, nhất là chúng tôi dựa vào các nguồn tin sốt dẻo do báo chí Sài Gòn đưa ra để tổ chức học tập trong tiểu đoàn.
    Đầu năm 1949, tiểu đoàn 1191 tổ chức một số trận đánh có tác dụng phát động phong trào chiến tranh nhân dân trong toàn huyện.
    Trận càn ở Long Điền là một thí dụ. Tại đây. theo bố trí của tiểu đoàn có một đại đội làm nhiệm vụ địa phương do anh Danh làm đại đội trưởng. Khu vực Long Điền có đặc điểm là ruộng nước, không có địa hình che khuất và bị sông ngòi chia cắt. Đay là nơi có vai trò quan trọng trong việc cung cấp lúa gạo cho toàn khu vực. Nếu để mất "kho" lương thực này. ta coi như không có lượng lương thực cần thiết phục vụ cuộc kháng chiến ở huyện Long Thành. Cũng vì vậy, cuộc chiến đấu giữa ta và địch thường diễn ra quyết liệt, nhất là trong mùa gặt.
    Đại đội anh Danh hoạt động ở khu vực này cùng ăn, cùng ở với dân, Do đặc điểm địa hình, việc cơ động lực lượng rất chật vật, khó khăn. Vụ mùa năm 1950, địch tổ chức nhiều mũi quân, có xe lội nước yểm trợ mở cuộc càn quét vào xã Long Điền. Bộ đội ta tổ chức đánh địch, nhưng rất khó khăn, địch huy động lực lượng đốt phá làng mạc, ào vào cướp lúa chở về thị trấn Long Thành khiến dân chúng chạy tan tác. Thời điểm này, từ đồi cao xã Phú Hội, nhìn toàn cảnh Long Điền mịt mù khói lửa, địch đi lại tự do mà trong lòng chúng tôi hết sức day dứt. Nhân dân bị địch giết hại ra sao? Bộ đội bám trụ hy sinh thế nào? Làm sao chống càn, chi viện tích cực cho bộ đội đánh địch và tránh sự thiệt hại cho dân? Nhiêm vụ đặt ra là phải đánh địch, nhưng đánh như thế nào? Chúng tôi nắm được tình hình: Hàng tháng, địch thường có một chuyến tàu gồm có 10 chiếc xà lan, có một đại đội bảo vệ, tải hàng từ Sài Gòn, qua sông Đồng Môn để vào thị trấn Long Thành. Mõi lần chuyển hàng như vậy. địch đều rải quân từ thành Tuy Hạ ra Phước Thiền (tức ven sông Đồng Môn) để bảo vệ đoàn tàu. Nay địch dồn lực lượng càn quét bên cánh đồng Long Điền, chúng tưởng rằng đang làm chủ tình thế, nên không rải quân bảo vệ đoàn tàu như trước nữa. Chúng tôi cho đây là sơ hở lớn nhất của địch nên hạ quyết tâm phải đánh diệt đoàn tàu này (cũng là tạo thế trận mới, phá vỡ cuộc càn của địch ở Long Điền). Chúng tôi tính toán: ta tổ chức trận địa bắc Bến Cam, dựa vào mép rừng Phước An sẽ cách đoàn tàu địch khoảng 300 mét, nếu phát huy hoả lực thì coi như rải trấu vào địch, nhiệm vụ là canh chừng, khi đoàn tàu bắt đầu vào sông Đồng Môn, cách trận địa ta khoảng 200 mét, ta phải cơ động lực lượng xuống chiếm Bến Cam, nằm ngay trên bờ sông Đồng Môn để đánh địch.
    Đúng theo kế hoạch, vào lúc 17 giờ chiều, đoàn tàu xuất hiện, dần dần nhìn rõ các xà lan chất đầy hàng hoá, bọn lính lê dương ở trần, nằm ngang dọc trên các đống hàng, quân ta xuất kích, băng qua bãi trống chừng 200 mét, vượt qua lộ Phú Hội - Phước Thiền, xuống chiếm ấp Bến Cam. Trên đường hành tiến, gặp một trung đội địch đang lảng vảng...ta nổ súng, bọn này hoảng hốt bỏ chạy, ta chiếm toàn bộ bờ sông Đồng Môn thuận lợi mà bọn địch trên đoàn tàu không hay biết gì .Do hết sức giữ bí mật, cả đoàn 10 chiếc xà lan lọt vào trận địa phục kích của ta, quân ta đồng loạt nổ súng, bọn địch trên tàu hoàn toàn bất ngờ, hoảng sợ kêu la inh ỏi, rồi nhảy ào xuống sông chạy thoát vào đồng ruộng, một số xà lan đâm vào nhau, chìm 6 chiếc, quân ta xung phong lên 4 chiếc còn lại, thu trên 10 súng và một số hàng hoá, sau đó, rút lui an toàn, không có thương vong. Tiểu đoàn đã có kế hoạch trước, cho đội biệt động, dùng cối 81 ly, từ Phước Thiền, bắn 10 trái vào bót địch trong thị trấn Long Thành. Bọn địch đang càn quét ở Long Điền rất hoang mang, rút lui ngay trong đêm đó về cố thủ ở thị trấn Long Thành vì sợ ta thừa thắng, tiến công chiếm lấy thị trấn.
    Đây là trận đánh đạt kết quả tốt, được ban chỉ huy Trung đoàn 397 biểu dương. Phát huy thắng lợi này, chúng tôi chỉ đạo cho đơn vị biệt động, liên tục đánh phá địch trong thị trấn Long Thành.
    Thông thường, hàng đêm, địch bung ra, cho quân ruồng xét trong thị trấn làm cho nhân dân rất lo sợ, không ai dám nuôi chứa cán bộ ta, cơ sở không phát triển được. Từ khi bộ đội chặn vào đánh địch ngay cửa đồn, nơi xuất phát của chúng, địch phải co cụm lại, tạo thuận lợi cho cán bộ ta thọc vào bám trụ phát triển cơ sở.
    Đầu năm 1950, tôi chỉ huy đưa một đại đội chủ lực và một đại đội bộ đội địa phương vượt qua các cơ sở cao su, phục kích một đại đội địch đi mở đường từ Bình Sơn ra Long Thành.
    Từ 5 giờ sáng, trong sở cao su còn tối lắm, bốn xe chở đầy lính địch lọt vào ổ phục kích của quân ta, ta nổ súng diệt một số địch, bọn còn lại bỏ chạy, ta xung phong thu 5 súng trường và hai cây Bren đầu bạc, sau đó rút quân, vì phải đi qua các cơ sở cao su như Long Thành, An Viễn....nên bộ đội phải hành quân từ 6 giờ sáng, đi một mạch đến 4 giờ chiều không nghỉ. Trên đường, từ sở cao su Long Thành đi sở cao su Ông Quế, ta bị địch phục kích bắn bị thương ba đồng chí, để lọt vào tay địch một trung liên Bren đầu bạc ta mới thu hồi sáng.
    Sau này, chúng tôi tổ chức rút kinh nghiệm: Trường hợp trên, nên cho bộ đội trụ lại tại sở cao su An Viễn rồi chờ trời tối, tổ chức đi tắt qua sở cao su Bình Sơn ra cánh đồng Long An, đường đi ngắn, bất ngờ, an toàn hơn.
    Tiếp đó, chúng tôi cũng tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm hai trận đánh: Bến Cam và sở cao su Bình Sơn. Hội nghị này có đại diện Khu 7 là đồng chí Dung, Phó Tư lệnh Khu 7 về dự, Hội nghị đánh giá hai trận đánh này có tác dụng làm chuyển biến tình hình quân sự, chính trị trong huyện Long Thành.
    Sau Hội nghị, đồng chí Dung trao quyết định của Bộ Tư lệnh Khu 7 đề bạt tôi làm chính trị viên Trung đoàn 397, thay đồng chí Bình về Khu nhận nhiệm vụ khác.
    Sửa lần cuối bởi truongsa; 15-01-2013 lúc 09:47 AM.

  5. #25
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Nhận nhiệm vụ mới, tôi rất lúng túng và suy nghĩ nhiều. Thật tình, tôi muốn công tác ở tiểu đoàn nhiều hơn. Tôi báo cáo với đồng chí Dung: tôi mới 24 tuổi, về Trung đoàn công tác chung trong Ban chỉ huy: đồng chí Trần Minh Thắng, Trung đoàn trưởng, Nguyễn Văn Ngọc, Trung đoàn phó, các anh đều lớn tuổi nên rất ngại, tôi thấy mình còn non trẻ, thiếu kinh nghiệm nhiều mặt, trình độ, năng lực còn yếu, sợ không làm nổi.
    Nghe tôi trình bày, đồng chí Dung nghiêm nghị nói:
    -Anh quen biết chiến trường, hiểu bộ đội, vấn đề không phải là tuổi tác mà là khả năng và đức độ, trên tin tưởng mới đề bạt anh, anh cứ yên tâm nhận nhiệm vụ.
    Tôi về Trung đoàn 397 tháng 3 năm 1950, cảm nhận đầu tiên là thuận lợi, các anh trong Ban chỉ huy Trung đoàn, nhiều cán bộ các cơ quan và đơn vị đều tỏ ra phấn khởi, có ý mong tôi về từ khi biết Khu điều động tôi về đây. Anh Trần Minh Thắng, Trung đoàn trưởng, người lớn tuổi nhất trong Trung đoàn, chân tình, cởi mở, kinh nghiệm đối nhân xử thế tốt làm tôi an tâm. Anh Nguyễn Văn Ngọc (ở Tây Ninh, mới về trước tôi mấy tháng, anh em thường gọi là anh Ngọc lùn), Trung đoàn phó, tính thật thà, chất phác, có kinh nghiệm chiến đấu, trong lần gặp gỡ đầu tiên, anh nói với tôi:
    - Mình cũng như cậu, khi mới về cũng bỡ ngỡ lo lắng, nhưng anh em ở đây rất tốt. chịu khó xáp vào anh em thì anh em hết mình với mình.
    Điều tôi còn lo ngại là vấn đề đoàn kết trong toàn Trung đoàn vì anh em hợp về từ nhiều đơn vị: Chi đội 16, Chi đội 7, Chi đội 9, Chi đội 2, Chi đội 3, Chi đội 25....Đơn vị nào cũng có nhiều thành tích cả. Về con người, Trung đoàn hầu như là dân tứ xứ hợp lại: Bà Rịa, Biên Hòa, Sài Gòn, Chợ Lớn, Long An, Bến Tre....Nam có, Bắc có...nếu không khéo dễ phát sinh vấn đề mất đoàn kết.
    Nhưng sự thật diễn ra khác với điều tôi lo ngại, toàn Trung đoàn không khí diễn ra luôn cởi mở, chân thành, bộc lộ rất rõ trong quan hệ đồng chí, đồng đội, trên dưới một lòng lo xây dựng đơn vị, tình cảm, nguyện vọng này chính là chất keo kết dính anh em lại với nhau. Hơn nữa, cuộc kháng chiến chống Pháp đã qua 5 năm rồi, sống chết với nhau nhiều rồi nên anh em dễ thông cảm, thương yêu nhau. Chính thời gian cuộc chiến đã sàng lọc, rèn luyện cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn không còn tính cục bộ, bản vị nữa, nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là vai trò lãnh đạo của Đảng đã được xác lập, từ trên xuống dưới đều có tổ chức Đảng, tạo sự thống nhất, đoàn kết trong toàn đơn vị.
    Công việc đầu tiên của tôi là thâm nhập, nắm tình hình một số đơn vị đại đội chủ lực, đại đội địa phương và các huyện đội Long Điền, Đất đỏ, Xuyên Mộc. Tôi báo cáo lại với Ban chỉ huy Trung đoàn những mặt mạnh, yếu và cùng bàn bạc, thống nhất ba vấn đề cần tập trung giải quyết:
    - Củng cố hệ thống Đảng, từ cơ sở lên đến Trung đoàn, củng cố hoạt động công tác chính trị ớ cơ sở đại đội.
    - Kiện toàn đội ngũ cán bộ các cấp, mở lớp bồi dưỡng cán bộ trung đội, đại đội và tích cực gửi cán bộ tiểu đoàn đi các lớp do Khu và Nam Bộ mở.
    - Nghiên cứu thêm phương thức tác chiến, đẩy mạnh hơn nữa tác chiến tiến công địch, đánh mạnh vào thị trấn, thị xã, buộc địch phải chuyển về phòng thủ, không cho chúng rảnh tay đánh vào căn cứ ta.
    Ba vấn đề trên được Ban chỉ huy Trung đoàn nhất trí. Một cuộc Hội nghị gồm đủ các cán bộ tiểu đoàn và huyện đội được tiến hành để bàn sâu rộng, thống nhất các vấn đề trên và bàn bạc tìm biện pháp thực hiện.
    Một thời gian sau, Trung đoàn có nhiều mặt tiến bộ, nhưng lương thực, thực phẩm quá khó khăn, bộ đội thường xuyên bị thiếu đói. Một mặt, Trung đoàn động viên bộ đội cùng với nhân dân tích cực sản xuất lương thực, thực phẩm, mặt khác, tổ chức ra cơ quan kinh tế tự túc, gọi tắt là KT3 do các anh Hồ Ngọc Lanh và Hoàng Tùng phụ trách, lo trao đổi hàng hóa từ vùng giải phóng ra các vùng bị tạm chiếm, do hoạt động của cơ quan KT3 có kết quả, ta đã thu mua được nhiều thuốc men dùng chữa trị cho bộ đội ở các quân y viện, mua được nhiều trang bị, thuốc nổ, làm sống lại các hoạt động của binh công xưởng Trung đoàn do anh Bá phụ trách, đứng chân ở Lộc An, Phước Bửu, Bà Rịa.
    Vào tháng 7 năm 1950, Đại hội Đảng các cấp và Đại hội Đại biểu Đảng cấp Trung đoàn được tổ chức, bàn sâu về công tác xây dựng Đảng, công tác chính trị, quán triệt phương châm, phương thức tác chiến. Đại hội đã bầu Ban chấp hành gồm 11 đồng chí, trong đó: đồng chí Võ Văn Khánh, Bí thư tỉnh ủy, phụ trách Bí thư Đảng ủy Trung đoàn, đồng chí Trần Minh Thắng, Phó bí thư và tôi Ủy viên thường vụ.
    Sau Đại hội Đảng, tình hình có chuyển biến rõ rệt, thể hiện rõ nhất là vấn đề đánh địch. Một số trận đánh trong vùng bị tạm chiếm có kết quả tốt. Biệt động thị xã tập kích vào các bót: Giếng Nước, Nhà đèn Thắng Nhì, Thắng Tam, đánh tắt ngấm ngọn đèn pha Núi Nhỏ. Quân báo huyện đội Đất Đỏ và đội biệt động trung đoàn phối hợp tấn công vào chỉ huy Sở Trung tâm huấn luyện Hạ sỹ quan địch tại Nước Ngọt. diệt 8 tên, thu một số tài liệu quan trọng. (Sau đợt này, địch rút bỏ Secteur Nước Ngọt). Tiếp theo, một loạt cầu trên đường 15 cũng bị ta đánh sập. Ngoài ra, Trung đoàn còn tổ chức học tập kinh nghiệm bộ đội tỉnh Biên Hòa, sử dụng mìn FT1, FT2 đánh phá canh, kết hợp diệt ác trừ gian....góp phần vào thắng lợi chung. Qua chiến đấu, đã xuất hiện nhiều cán bộ có kinh nghiệm đánh địch ở các thị trấn, thị xã như các anh Tường, Cang, Hiến, Hùng....
    Năm 1950, tương quan lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường đã có nhiều thay đổi theo chiều hướng có lợi cho ta, ta vừa tổ chức xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, vừa mở chiến dịch, hoạt động đánh địch trên khắp các chiến trường, Bắc Bộ có chiến dịch Lê Hồng Phong I, trận tập kích sân bay Bạch Mai, đặc biệt là chiến dịch Biên Giới (từ 16/9 đến 14/10), loại khỏi vòng chiến đấu 8000 tên địch, giải phóng nhiều thị xã, thị trấn với hàng vạn dân, mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, nối liền nước ta với các nước Xã hội chủ nghĩa. Trên chiến trường liên khu 5, tháng 1 và 3, ta mở chiến dịch tiến công địch ở Nam Khánh Hòa, mở chiến dịch Hoàng Diệu, tiến công đich trên địa bàn Quảng Nam - Đà Nẵng (từ 5/8 đến 4/11). Tại Nam Bộ, từ 25/3 đến 6/5, bộ Tư lệnh Nam Bộ sử dụng các tiểu đoàn: 307. 308. 309, 310, 312 cùng quân dân du kích mở đợt hoạt động "Mùa xuân Nam Bộ". Tiếp đó, tháng 7, Khu 8 mở chiến dịch tiến công địch ở địa bàn Chợ Lách, Mỏ Cày (Bến Tre), rồi chiến dịch Long Châu Hà ở Khu 9, chiến dịch Bến Cát (Tây Bắc Sài Gòn) tháng 10, 11 cùng năm....*
    Những chiến dịch, trận đánh và các đợt hoạt động của ta có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các chiến trường đã diệt nhiều sinh lực địch, mở rộng chiến tranh du kích, giành dân, khôi phục cơ sở, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch.
    Ngày 19 tháng 12 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lời kêu gọi nhân ngày toàn quốc kháng chiến, trong đó có đoạn: "nói tóm lại.......tình thế bên địch ngày càng khó khăn...ta từ bị động, chuyển dần sang chủ động, từ thế yếu, chuyển dần sang thế mạnh, từ thế thủ, chuyển dần sang thế công...."**
    * 50 năm Quân đội nhân dân Việt Nam - Sách đã dẫn - Tr 82, 84, 89, 90, 92.
    ** 50 năm Quân đội nhân dân Việt Nam - Sách đã dẫn - Tr 82, 84, 89, 90, 92.

  6. Có 1 người thích bài viết này


  7. #26
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    VỀ TIỂU ĐOÀN 300

    Cuối năm 1950, Trung ương Cục Miền Nam chủ trương thành lập ở miền Đông Nam Bộ Trung đoàn chủ lực Đồng Nai và Tiểu đoàn chủ lực 300.
    Theo quyết định của Bộ Tư lệnh Khu 7. Tiểu đoàn 300 được thành lập ngày 15 tháng 3 năm 1951, Ban chỉ huy Tiểu đoàn 300 đầu tiên gồm có: anh Nguyễn Văn Bứa, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 300?* làm Tiểu đoàn trưởng, tôi, chính trị viên Trung đoàn 397 về làm chính trị viên tiểu đoàn và anh Bùi Xuân Cương, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 302 về làm Tiểu đoàn phó. Lực lượng của Tiểu đoàn 300 được hợp nhất gồm hai đại đội bộ binh và một đại đội trinh sát, lấy cán bộ chiến sỹ từ Trung đoàn 397 do tôi chỉ huy và một đại đội bộ binh, một đại đội trợ chiến và cơ quan Tiểu đoàn bộ lấy từ Tiểu đoàn 300 do anh Bứa chỉ huy đưa về căn cứ Tân Thành (Phú Mỹ).
    Nhiệm vụ của Tiểu đoàn 300 là: Làm nhiệm vụ địa phương, tác chiến đánh địch, mở rộng khu căn cứ: Khu Đông và Khu Tây của tỉnh Bà Rịa - Chợ Lớn, phát động phong trào chiến tranh du kích, đồng thời làm nhiệm vụ quan trọng là bảo vệ Binh công xưởng Nam Bộ đang ở căn cứ Phú Mỹ.
    Nhiệm vụ bảo vệ Binh công xưởng Nam Bộ rất phức tạp vì đó là mục tiêu chiến lược quan trọng mà địch quyết tâm đánh phá. Binh công xưởng có gần 500 công nhân, được trang bị máy móc nặng, có máy từ một đến ba tấn, rất khó cơ động.
    Sau đợt huấn luyện quân sự, chấn chỉnh tổ chức, Tiểu đoàn triển khai các đợt chiến đấu. Trận đánh đầu tiên, Tiểu đoàn diệt một đại đội địch trên lộ 2, kế đó diệt một đoàn xe lửa quân sự thu nhiều chiến lợi phẩm, trong đó có khẩu Canon 40 ly. Các trận đánh này có ảnh hưởng lớn, làm gián đoạn giao thông địch trong nhiều ngày. Tuy cơ động chiến đấu trên khắp chiến trường Bà Rịa - Chợ Lớn, nhưng do Binh công xưởng Nam Bộ là mục tiêu địch thường xuyên đánh phá nên tiểu đoàn phải bố trí hẳn một đại đội mạnh do anh Đức, Tiểu đoàn phó phụ trách, phối hợp với các lực lượng tự vệ do Binh công xưởng tổ chức, sẵn sàng đánh địch càn quét, bảo vệ an toàn Binh công xưởng.
    Thời điểm từ năm 1951 đến năm 1952, quân dân ta gặp khó khăn về lương thực. Tại các vùng căn cứ, dân cư thưa thớt, lúa gạo lấy từ xã Cộng Hoà (Bà Rịa), Cần Đước, Cần Giuộc không đủ ăn, chế độ ăn của bộ đội rất thấp. có lúc chỉ 5kg gạo đầu người trong một tháng, vì vậy, bộ đội vừa đánh giặc vừa lo tăng gia sản xuất. Rừng Châu Pha, Hắc Định được bộ đội khai hoang trồng hàng trăm mẫu bắp, lúa. mỳ. Quanh năm bị đói, chỉ vào lúc thu hoạch, nhân dân và bộ đội mới được ăn no, lúc bấy giờ, rừng Hắc Định có nhiều tre, nứa, nên mùa mưa có nhiều măng tre, Tiểu đoàn 300 phải cử một trung đội đi lấy măng, sấy khô. tổ chức cho dân mang ra các đô thị bán lấy tiền mua gạo, thực phẩm, thuốc men tiếp tế cho quân, dân vùng căn cứ Cách mạng.
    Đầu tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn 300 nghiên cứu đánh Tiểu khu Cần Giờ. Đây là trận đánh công kiên đầu tiên, quyết tâm của Đảng uỷ Tiểu đoàn là phải thắng, thương vong ở mức thấp nhất, Tiểu đoàn xây dựng mô hình đồn, có kích thước giống như đồn Cần Giờ tại khu căn cứ Tân Thành cho bộ đội luyện tập, dùng bộ binh kết hợp đặc công: bộ binh đánh phá từ ngoài vào, đặc công luồn sâu kết hợp từ trong đánh ra.
    Đêm 26/1/1952, ta định xuất quân thì được tin địch tổ chức nhiều mũi, có quân dù yểm trợ, mở cuộc tiến công lớn vào Phú Mỹ với mục tiêu là đánh chiếm binh công xưởng Nam Bộ.
    Vấn đề đặt ra cho Đảng uỷ Tiểu đoàn là có nên ngưng hành quân đánh chiếm Tiểu khu Cần Giờ để tập trung sức bảo vệ Binh công xưởng không? Đảng uỷ bàn bạc và thống nhất: Kiên quyết tiếp tục tổ chức đánh diệt Tiểu khu Cần Giờ trong dịp Tết, đòng thời tổ chức đánh bại cuộc càn quét lớn của địch vào Phú Mỹ.
    Ban chỉ huy Tiểu đoàn phân công: anh Nguyễn Văn Bứa, anh Kim Ba chỉ huy đánh chiếm Tiểu khu Cần Giờ, tôi và anh Đức ở lại tổ chức chỉ huy chống càn.
    Ngày 27 và 28 tháng 1, bằng nhiều mũi, bộ binh, phi cơ, pháo binh địch hoạt động rầm rộ, tiến công ta tới tấp vào nhiều mục tiêu, cũng trong đêm 27 tháng 1, sau khi chọn được đối tượng, ta chuyển quân chặn đánh hai đại đội địch từ lộ 2, cắt rừng, đi vào căn cứ, diệt nhiều tên, trong đó có tên chỉ huy cánh quân này, địch phải rút khỏi lộ 2.
    Tại Phú Mỹ, ta pháo kích trúng vào chỉ huy sở cuộc càn quét làm bị thương nặng tên quan năm, chỉ huy trưởng cuộc càn.
    Do những đòn tiến công của ta, đánh và tiêu hao nặng sinh lực địch, đánh trúng vào cơ quan đầu não, chỉ huy sở cuộc càn nên trưa ngày 28 tháng 1, địch phải ra lệnh rút quân, bỏ dở cuộc càn, chấp nhận thất bại.

    * Sách ghi Trung đoàn 300, nhưng có lẽ là 397 (TS)
    Sửa lần cuối bởi truongsa; 16-01-2013 lúc 09:26 AM.

  8. #27
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Trận này giành thắng lợi, thương vong ít, nhưng ai cũng đau buồn vì anh Đức, Tiểu đoàn phó và anh Dang, đại đội trưởng hy sinh.
    Riêng cánh quân đi đánh tiểu khu Cần Giờ, tối 26/1 hành quân đến vị trí tập kết an toàn. Về địch, tại đây có hai đại đội Partisan đóng giữ do một quan hai làm quận trưởng, chỉ huy đồn. Về ta, lực lượng chủ công là đại đội 2 và đội đặc công của Tiểu đoàn, lực lượng vòng ngoài có nhiệm vụ đánh địch tiếp viện gồm đại đội địa phương Nhà Bè kết hợp dân quân du kích các xã Long Thành, Cần Thạnh. Long Hòa. Trận đánh do anh Bứa, Tiểu đoàn trưởng, anh Tâm, huyện đội trưởng huyện đội Nhà Bè chỉ huy chung và anh Kim Ba, Tiểu đoàn phó trực tiếp chỉ huy.
    Giữa đêm 29/1/1952 (tức tối mùng 3 rạng ngày 4 Tết Nhâm Thìn), Đặc công Tiểu đoàn vào ém trong đồn, kết hợp cánh quân phát triển từ phía biển lên, đồng loạt nổ súng nhanh chóng diệt gọn đại đội địch, làm chủ trận địa, rạng sáng ngày mùng 4 Tết, quân và dân Cần Giờ đã thu dọn chiến trường xong. Địch phản ứng, huy động 30 tàu chiến lớn nhỏ tỏa ra ngăn chặn đường rút lui của quân ta, cánh quân đánh diệt tiểu khu Cần Giờ và cánh quân chặn viện của ta đều nằm trong vòng vây của địch.
    Mười ngày đêm ròng rã thiếu nước ngọt, thiếu lương thực, bộ đội ta phải ăn cua sống, bần chua cầm hơi và tìm cách thoát vây, cuối cùng, nhờ cha, con ông bán dưa bàn kế hoạch giúp đỡ bộ đội ta thoát khỏi vòng vây địch, vượt sông Đồng Tranh an toàn, cánh quân chặn viện cũng nhờ một ông già kiếm củi, tiếp tế nước ngọt và dẫn đường thoát vây, về căn cứ an toàn. Trận đánh tiểu khu Cần Giờ là trận đánh tiêu diệt tiểu khu đầu tiên ở Khu 7, Thời điểm bấy giờ, thắng lợi trận đánh có ý nghĩa thể hiện lòng quyết tâm cao của cán bộ, chiến sỹ Tiểu đoàn 300 và các lực lượng của huyện đội Nhà Bè, đó cũng là kết quả của sự chuẩn bị, dày công luyện tập đánh công kiên của cán bộ, chiến sỹ trong Tiểu đoàn cùng sự góp sức của nhân dân Cần Giờ mà tiêu biểu là hai cha con ông bán dưa và ông già kiếm củi.
    Ngày nay, nhân dân Cần Giờ đã xây dựng bia tưởng niệm trận đánh tại Ban chỉ huy quân sự huyện Cần Giờ, hàng năm, vào sáng mùng 4 Tết, đông đảo quân và dân Cần Giờ tập hợp, thắp nhang tưởng niệm đến các liệt sỹ đã hy sinh trong trận đánh. Chính quyền và nhân dân địa phương cũng lấy ngày mùng 4 Tết làm ngày quốc phòng toàn dân của huyện, nhằm ôn lại, phát huy truyền thống đoàn kết quân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Hồi tưởng những ngày tháng này, tôi lại nhớ tới các anh Nguyễn Văn Bứa, Đặng Kim Ba (nay đã qua đời) và nhiều đồng chí, đồng đội đã cùng tôi chỉ huy, xây dựng, chiến đấu trong đội hình Tiểu đoàn 300, trong hoàn cảnh chiến trường Bà Rịa - Chợ Lớn có nhiều khó khăn, gian khổ, trình độ tổ chức chỉ huy còn nhiều lúng túng, hạn chế, nhưng nhờ đoàn kết, hỗ trợ, bổ sung kiến thức cho nhau, chúng tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ xây dựng, phát triển đơn vị và chiến đấu thắng lợi.
    Trong căn cứ, vào thời điểm này rất thiếu thốn về lương thực, thực phẩm, nhân dân và bộ đội thường xuyên bị đói, trước tình hình đó, Tỉnh ủy Bà Rịa - Chợ Lớn có chủ trương: đánh diệt địch kết hợp với yêu cầu tận thu chiến lợi phẩm như lương thực, thực phẩm, thuốc men....
    Từ chủ trương này, ta chuyển hoạt động lên các đồn điền cao su và nghiên cứu đánh diệt đồn Ông Quế. Trận này do anh Đặng Kim Ba chỉ huy diễn ra thuận lợi, ta diệt hết các lô cốt trừ một hầm ngầm địch vẫn cố thủ.
    Trong khi ta đang bàn cách tiêu diệt hầm ngầm này, địch cho một đại đội xe cơ giới từ Xuân Lộc đến tiếp viện, đây là tình huống bất ngờ vì thông thường địch ít dám đưa quân tiếp viện trong đêm, ta đã đưa một đại đội dùng mìn chống tăng phục kích ở lộ 2, đủ sức ngăn chặn một đến hai đại đội địch có xe tăng yểm trợ đến tiếp viện. Nhưng đại đội cơ giới tiếp viện này lại không đi trên đường lộ mà chạy tắt qua các lô cao su kịp đến ứng cứu đồng bọn ở đồn Ông Quế sắp bị tiêu diệt. Bộ đội ta phải rút lui vào 4 giờ sáng, lực lượng dân công kịp thời phá kho. vận chuyển lương thực, thuốc men trên 40 con bò về căn cứ.
    Trong lúc bộ đội rút, tôi cùng tổ trinh sát ở lại kiểm tra chiến trường, vào bệnh xá đồn Ông Quế (ta chiếm, tạm sử dụng trong lúc chiến đấu), thấy bốn đồng chí bị thương còn nằm đó, chưa kịp di chuyển, chúng tôi nhờ lực lượng dân công tổ chức khiêng anh em rút lui kịp thời trước khi viện binh địch tới tái chiếm.
    Trận đánh này tuy ta không diệt hoàn toàn đồn địch, nhưng có tác dụng lớn trong việc hỗ trợ xây dựng các cơ sở công đoàn trong công nhân các sở cao su, diệt bọn ác ôn, phá rã mạng lưới kìm kẹp của địch, thu một số lương thực, thực phẩm, thuốc men góp phần giải quyết khó khăn cho quân, dân vùng căn cứ.

  9. #28
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Giữa năm 1952, tình hình căn cứ địa Phú Mỹ trở nên quá căng thẳng, địch tăng cường càn quét, ruồng xét, đánh phá binh công xưởng, triệt phá các rẫy, ruộng lúa của nhân dân và các cơ sở tự túc của bộ đội ta. Quân, dân vùng căn cứ địa Phú Mỹ lại lâm vào cảnh bị đói, tháng 6 cùng năm, Bộ Tư lệnh Khu 7 lệnh cho Tiểu đoàn 300 tổ chức di chuyển toàn bộ binh công xưởng từ căn cứ địa Phú Mỹ về chiến khu D, do trang bị vật tư của binh công xưởng quá lớn, tới hàng ngàn tấn, công nhân dù có gần 500 người, nhưng phương tiện vận tải hạn chế, địch lại luôn rình mò đánh phá....nên đối với Tiểu đoàn 300, đây là nhiệm vụ rất nặng nề, nguy hiểm. Ta đã phải huy động thêm hàng ngàn dân công, 20 cỗ xe bò kết hợp với lực lượng binh công xưởng và bộ đội tổ chức di chuyển, bảo vệ.
    Ta rải quân chốt dọc đường đi. qua các lô cao su Long Thành, An Viễn, qua sông Buông đến lộ 1, cắt qua Hố Nai, Trảng Bom, vượt đồng Chó Ngáp, vượt tiếp sông Đồng Nai để về chiến khu D.
    Bốn giờ chiều ngày 26/6/1952, đoàn vận tải bắt đầu xuất phát, ngoài lực lượng gồng gánh, mang vác còn có 20 xe bò chở 20 máy cái, mỗi xe bò có 6 công nhân hộ tống, ì ạch di chuyển, đội hình kéo dài đến hai cây số. Đoàn người và xe tải di chuyển một mạch từ bốn giờ chiều đến một giờ sáng không nghỉ, chúng tôi bám sát đoàn, động viên anh chị em cố gắng qua sông Buông, vượt qua lộ 1, vào đến đồng Chó Ngáp trước sáng. Cuộc hành quân trong đêm diễn ra căng thẳng vì phải tránh gặp địch tập kích, nếu xảy ra tiếng nổ, đụng độ giữa ta và địch thì cầm chắc khả năng là đoàn dân công sẽ rã, 20 xe bò chở 20 máy cái phải bỏ lại, địch lấy được, có nghĩa là binh công xưởng đã bị phá sản, chưa kể ta còn đổ máu hy sinh.
    Đúng một giờ sáng, đoàn tải vượt qua lộ sở cao su Long Thành đi Ông Quế, vừa đến mép lô cao su An Viễn, tổ trinh sát ta chốt chặn tại khu vực này báo cáo: Địch có hai đại đội từ thị trấn Long Thành kéo ra, hiện phục kích tại nam sông Buông, đồng thời, các lực lượng địch trong các đồn điền cao su đã được lệnh báo động....Ban chỉ huy thống nhất họp gấp, tất cả trầm ngâm suy nghĩ, trong đêm tối vẫn cảm nhận được sự căng thẳng đang đè nặng, hiện lên nét mặt mỗi người, sự mất còn binh công xưởng, sự hy sinh của nhiều người....đang đặt ra cấp bách cần phải xử trí, tiến thoái lưỡng nan...Tôi cũng vò đầu, tính đi, tính lại. cuối cùng nêu ý kiến: tình hình rất bất lợi, phải rút lui trở lại căn cứ để bảo toàn lực lượng, trường hợp nào ta cũng phải bảo vệ an toàn 20 cỗ xe, vì đây là 20 máy cái, tài sản chính của binh công xưởng, phải đưa lực lượng bộ đội ra chốt chặn, đánh địch tiếp cận lực lượng dân công và 20 cỗ xe bò, phải động viên anh chị em rút lui thật nhanh, rút đến đâu xóa dấu vết đến đó và phải trở lại căn cứ an toàn trước khi trời sáng, Ban chỉ huy chung (Tiểu đoàn 300 và Ban Giám đốc binh công xưởng) nhất trí, triển khai ngay.
    Lúc này là 2 giờ 15 phút ngày 20 tháng 6, đoàn người và xe quay lại hướng xuất phát, tôi có cảm giác những con bò kéo xe thông cảm được với người nên đi rất nhanh, dân công, công nhân lúp xúp chạy theo...
    Đoàn tải vượt qua lộ Long Thành - Ông Quế, khi tốp đầu đoàn vừa về tới suối Cả thì súng nổ vang từ hướng đồn Bình Sơn (địch kéo quân ra chặn ta trên đường lộ đá Long Thành - Ông Quế bị bộ đội chặn đánh). Trận đánh diễn ra chừng 15 phút, khi đoàn tải đã vượt qua Suối Cả, ta để lại một bộ phận chốt trên lộ đá, còn đại bộ phận lực lượng rút về Suối Cả. Trận chốt chặn địch, bảo vệ đoàn tải này ta bị thương ba đồng chí, một chiến sỹ giao liên đi sau cũng bị hy sinh, địch lấy được một ba lô công văn, giấy tờ của tỉnh Bà Rịa - Chợ Lớn gửi về Khu 7.
    12 giờ trưa ngày 30 tháng 6, toàn bộ dân công, bộ đội và các xe tải hàng cho binh công xuởng đã trở về căn cứ Phú Mỹ an toàn.
    Sau việc này, ta đã tổ chức rút kinh nghiệm: việc tổ chức đoàn tải gồm hàng ngàn dân công, tải một lúc toàn bộ máy cái của binh công xưởng cùng các trang thiết bị khác về chiến khu D trong điều kiện phải vượt qua một khu vực dày đặc đồn bót địch, đường giao thông bị chia cắt....như vừa qua là việc làm quá mạo hiểm. Từ bài học này, suốt mùa khô năm ấy, Tiểu đoàn 300 tập trung lo cho công tác di chuyển binh công xưởng, chúng tôi tổ chức từng đợt, đi bằng nhiều chuyến, liên tục thay đổi lộ trình, chuyển binh công xưởng về chiến khu D an toàn.
    Cuối năm 1952 đầu năm 1953, dù Tết sắp đến nhưng cuộc sống của quân, dân vùng căn cứ địa vẫn thiếu đói, Tiểu đoàn 300 đã nghiên cứu, tổ chức thắng lợi trận địa phục kích đoàn ghe tải lương thực, thực phẩm từ Sài Gòn đi Phnôm Pênh, diệt một đại đội địch đi áp tải, ta thu đưa về căn cứ được 100 tấn bột mỳ, 50 tấn thịt heo, 2000 xe đạp và 20.000 chai bia Tiger.
    Nhờ đó, quân dân vùng căn cứ có điều kiện cải thiện đời sống và có một cái Tết bớt căng thẳng.
    Mùa xuân năm ấy, ngày 2 tháng 2 năm 1953, đúng vào mùng 1 Tết, sau một thời gian được anh em giúp đỡ, tôi và Mạnh (vợ tôi bây giờ) gặp nhau, tổ chức lễ cưới. Trước ngày cưới, Mạnh công tác tại Văn phòng Hội phụ nữ Thủ - Biên, sau về Hội phụ nữ Xuyên Mộc, Mạnh là con ông Sáu - Nguyễn Văn Tạo, ở với cha và bà cô ruột, tuy gia đình khá giả nhưng cả nhà đều tham gia Cách mạng. Ông Sáu tham gia lãnh đạo khởi nghĩa tại quận, làm trưởng Quốc gia tự vệ cuộc và sau đó làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân hành chính huyện Xuân Lộc, Mạnh theo cha đi kháng chiến từ lúc 12 tuổi. Bà cô ruột ở nhà lo tiếp tế cho bộ đội. Bà bị tên Varo, quận trưởng Xuân Lộc bắt bỏ tù, đánh đập và tịch thu toàn bộ tài sản.
    Đám cưới tổ chức đơn giản do Ban chỉ huy Tỉnh đội và ông Sáu, cha vợ tôi chủ trì, cơ quan ban ngành trong tỉnh, cán bộ chiến sỹ Tiểu đoàn 300 tới tham dự đông đủ nên rất vui. Nhờ có chiến lợi phẩm của trận đánh, nên mỗi người dự ngày vui của vợ chồng tôi hôm đó được một bữa ăn vừa đủ no. Thật là một mùa xuân chiến khu. đầy ắp kỷ niệm đẹp, chúng tôi không bao giờ quên được.
    Sau ngày cưới ba hôm, Mạnh phải về Khu Đông tiếp tục công tác, còn tôi ở lại Khu Tây lo đánh địch càn quét vào căn cứ địa.
    Tháng 3 năm 1953, tôi được Khu ủy Khu 7 điều đi học lớp chỉnh Đảng khóa 3 do Trung ương tổ chức ở Bồng Sơn (Bình Định) nên phải tạm xa đơn vị, xa cán bộ, chiến sỹ Tiểu đoàn 300 và cả người vợ mới cưới để lên đường ra Bình Định học tập.
    Lớp học chỉnh Đảng do Trung ương hướng dẫn, đồng chí Nguyễn Duy Trinh trực tiếp chỉ đạo. Qua học tập, chúng tôi xác định nhiệm vụ, ý thức giai cấp, phân định rõ ta, bạn, thù và hiểu các chính sách lớn của Đảng, riêng tôi, trình độ nhận thức được nâng lên một bước rõ rệt, có tác dụng lớn đến cả quá trình chiến đấu của bản thân sau này.

  10. #29
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    ĐIỀU QUÂN TẬP KẾT RA BẮC

    Sau đúng một năm đi học, tháng 3 năm 1954, tôi trở về chiến trường Bà Rịa - Chợ Lớn, Hiệp định Geneve được ký kết, tôi được Khu ủy Khu 7 chỉ định làm trưởng phái đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam tỉnh Bà Rịa, trực tiếp đàm phán với địch để di chuyển toàn bộ lực lượng vũ trang trong tỉnh tập kết ra Bắc theo tinh thần, quy định của Hiệp định Geneve. Tưởng chiến tranh chấm dứt, việc tổ chức chuyển quân ra Bắc là việc đơn giản, nhưng thực tế cho thấy cái gì dính tới mối quan hệ giữa ta và địch đều phức tạp, đòi hỏi luôn phải tỉnh táo, cảnh giác, vừa mềm dẻo, vừa phải kiên quyết đấu tranh với chúng. Có một việc tôi còn nhớ là: chiều hôm trước tại bến Lộc An, phái đoàn ta gặp phái đoàn địch (do tên quan năm, phòng nhì Pháp từ Sài Gòn xuống làm trưởng đoàn). Biên bản ghi rõ: sáng hôm sau, hai bên gặp nhau tại dốc Cây Cám trên lộ 23. Phái đoàn địch có nhiệm vụ đưa phái đoàn ta về thị xã Bà Rịa nghỉ để hôm sau đi tiếp về bót Lý Nhơn, gặp huyện đội Nhà Bè bàn việc chuyển quân ta về tập kết tại Xuyên Mộc, việc ăn ở của phái đoàn ta do địch lo, riêng tôi là trưởng đoàn, chúng sẽ bố trí ở phòng số 1, khách sạn thị xã Bà Rịa.
    Sáng hôm sau, trên đường đi, tên quan năm hỏi người phiên dịch của chúng:
    - Bố trí cho ông trưởng đoàn Việt Nam ở phòng nào?.
    Người phiên dịch trả lời:
    - Dạ, phòng số 5.
    Trên xe, anh Thành, cán bộ chính trị, phụ trách phiên dịch (cho đoàn của ta) nghe chúng nói với nhau, nhưng không hiểu thâm ý của chúng. Do biết tiếng Pháp, nên nghe chúng nói, tôi thấy chúng có ý đồ xấu. Đợi đoàn xe chạy đến xã An Nhất, vào giữa xóm có đông dân, tôi yêu cầu cho xe dừng lại, đồng bào thấy xe dừng, thấy có cờ đỏ sao vàng và đoàn Việt Nam nên mừng lắm, tụ tập lại rất đông, điều này khiến địch rất lo sợ. Tên quan Năm, mặt đỏ gay, hỏi tôi, giọng rất xấc láo:
    - Tại sao ông không chịu đi nữa mà bắt xe dừng ở đây, bộ ông muốn làm mít tinh hả?.
    - Không mít tinh gì cả, tôi không đi nữa vì các ông không làm đúng theo điều mà chiều hôm trước hai bên đã giao ước.
    - Không làm đúng chỗ nào? Tên quan năm tỏ ra nôn nóng.
    - Không làm đúng ở chỗ, chiều hôm qua các ông thống nhất bố trí cho tôi ở phòng số 1, nay các ông đổi lại là phòng số 5. Tôi dằn giọng trả lời.
    Vẫn thái độ gay gắt, tên quan năm hỏi tiếp:
    - Vậy phóngo1 và phòng số 5 có gì khác?, chẳng qua cũng là phòng ngủ mà thôi.
    Tôi khẽ mỉm cười nhìn thẳng vào bộ mặt đỏ như gà chọi của hắn, nghiêm khắc nói:
    - Khác lắm chứ, Phòng số 1 ngó ra tháp nước, ngó thẳng ra Hội tề làng, bên cạnh chợ Bà Rịa, còn phòng số 5 ngó ra cầu tiêu (WC) các anh có ý làm xấu tôi, phải không?.
    Chống chế lại "đòn tiến công" của tôi, tên quan năm bối rối quay qua người phiên dịch, hỏi như quát:
    - Ông trưởng đoàn Việt Nam nói có đúng không?.
    - Dạ phải.
    Nghe đồng bọn trả lời, hắn đành dịu giọng bảo người phiên dịch điện về Bà Rịa bố trí lại phòng ngủ cho tôi là phòng số 1 như giao ước.
    Đoàn xe tiếp tục chuyển bánh, ra vẻ thân thiện, tên quan năm ngồi xích lại gần, hỏi tôi:
    - Ông ở trong rừng, tại sao ông lại biết rõ vị trí các phòng trong khách sạn Bà Rịa vậy?.
    - Ông lầm rồi, tôi chậm rãi nói tiếp, thị xã Bà Rịa tạm thời bị chiếm đóng, nhưng đó là thị xã của chúng tôi, tôi và nhiều cán bộ ra vào đó lúc nào cũng được, bất kể ngày, đêm, chúng tôi hiểu rõ từng vị trí nhà dân, khách sạn, cơ quan, kể các đồn bót của các ông.
    Tên quan năm nhìn tôi với vẻ sửng sốt, ngạc nhiên, từ đó, hắn tỏ ra nhã nhặn hơn, không còn xấc lược như lúc mới gặp nữa.
    Cũng xin nói thêm: tôi rành thị xã Bà Rịa như vậy vì năm 1944, tôi đã làm Giám đốc hãng Shell (dầu, mỡ) tại đây, lúc đó, tôi 18 tuổi, còn ham chơi, hay đi lại kết bạn giao du với nhiều người, cho nên dân tình và địa hình thị xã Bà Rịa tôi thuộc như lòng bàn tay.
    6 giờ chiều ngày hôm sau, đoàn ta và Pháp tiếp tục cuộc hành trình bằng thuyền từ bến Rạch Dừa (Vũng Tàu) lênh đênh đến gần sáng hôm sau thì tới Lý Nhơn (Nhà Bè). Trên thuyền, tôi và tên quan năm đều nằm võng, gần sát nhau. Hắn lại gợi chuyện, tôi hỏi hắn có biết nội dung Hiệp định, những điều khoản mà hai nước Việt - Pháp đã ký kết không? Tên quan năm nói có nghe qua thôi chứ chưa được đọc văn bản Hiệp định, tôi mở cặp, lấy bản Hiệp định đã dịch sang tiếng Pháp đưa cho hắn xem (bản Hiệp định này, do đồng chí Võ Văn Khánh, Bí thư Tỉnh ủy đưa cho tôi để có dịp sử dụng). Tên quan năm bật đèn đọc suốt đêm, còn tôi thì ngủ, gần sáng tôi thức dậy, hắn trả lại bản Hiệp định rồi nói:
    - Cám ơn ông đã giúp tôi hiểu thêm được nhiều điều.
    Rồi như vẻ thân mật, hắn nói tiếp:
    - Sắp tới, ông đi ra Bắc, ở trong Nam này, ông có gia đình, vợ con cần giúp đỡ, ông cho tôi biết. tôi sẵn sàng giúp ông..
    Tôi cười thầm, nghĩ bụng: không dại gì giao trứng cho ác, rồi nói với hắn:
    - Cám ơn, tôi không có gia đình ở trong Nam, tôi chỉ có nhân dân miền Nam đang phải tạm sống dưới quyền cai trị của các ông, ông xem đó, trong Hiệp định có nói việc các ông có mặt ở đây chỉ là tạm thời mà thôi....cho phép tôi khuyên ông một điều: Quân đội Pháp hãy ăn ở tốt với nhân dân miền Nam, thật không có lợi gì cho các ông nếu cứ gây sự, làm khó dễ cho nhân dân chúng tôi những ngày tới.
    Thuyền cũng vừa cập bến, tên quan năm cứ nhìn tôi trân trân, không nói được lời nào, Hắn cố tỏ vẻ lịch sự, cầm tay tôi kéo lên cầu tàu, rồi cùng vào đồn Lý Nhơn làm việc. Cũng buổi sáng hôm ấy, theo điện thông báo trước của Ban chỉ huy Tỉnh đội, anh Tân (Sáu Quang) ra đón chúng tôi, đưa vào huyện Nhà Bè gặp anh Tâm, huyện đội trưởng bàn bạc việc tổ chức di chuyển bộ đội, vũ khí, khí tài về điểm tập kết tại căn cứ Phước Bửu, chờ ngày xuống tàu ra Bắc.
    Trong cuộc đời, ai cũng có lần đưa tiễn người thân và ít nhiều điều để lại trong lòng mỗi người những dấu ấn tình cảm, chứa đựng những buồn, vui. Đối với tôi, không có lần đưa tiễn nào, tôi vừa là người trong cuộc, vừa là người chứng kiến cùng lúc nhiều niềm vui, nỗi buồn, những nhớ thương, đợi chờ, hy vọng bằng việc nhân dân miền Nam tiễn đưa con em mình tập kết ra Bắc.
    Do là trưởng đoàn, nên tôi đi chuyến sau, tôi không thể quên được hình ảnh những người cha, người mẹ, người vợ.....tiễn chồng, con, em minh ra Bắc những ngày tháng ấy, sau những lời dặn dò, tâm sự, từng con tàu đưa bộ đội rời bến sông Thị Vải (Phú Mỹ - Bà Rịa) để ra khơi. Cán bộ, chiến sỹ đứng tràn trên boong tàu, nhiều người đưa cả hai tay lên trời gào to: "chúng con sẽ về, anh sẽ về"....người ở lại đưa hai ngón tay ra dấu chữ V (có ý hẹn hai năm sau sẽ gặp lại vì theo Hiệp định Geneve sẽ có Tổng tuyển cử thông nhất đất nước và chữ V cũng có nghĩa là chiến thắng), tàu xa dần, tôi đứng lẫn trong đoàn người đưa tiễn, xúc động khi thấy tất cả òa khóc, những giọt nước mắt nhớ thương, hy vọng của bà con, cô bác cố kìm chế nay cứ tràn ra khi người thân đi khuất, tôi đi trên chuyến tàu áp chót.
    Chúng tôi ra đến Sầm Sơn (Thanh Hóa) lúc trời mờ sương, nhưng đã thấy cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay trong rừng người ra đón. Những con em miền Nam lòng tràn đầy vui sướng khi được đặt chân lên đất Bắc. Miền Bắc đây rồi, đồng bào miền Bắc ôm chầm lấy chúng tôi, đón chúng tôi như những người thân yêu lâu ngày mới gặp, đồng bào như muốn chia sẻ niềm vui, nỗi nhớ người thân, quê hương của tất cả chúng tôi.
    Ai cũng ao ước, hy vọng: ra đây, thế nào cũng gặp được Bác Hồ. Đó cũng là nguyện vọng, tình cảm đồng bào miền Nam đối với Bác Hồ kính yêu.
    Sau đó, được tổ chức bố trí, Mạnh, vợ tôi cũng lên tàu tập kết ra Bắc (chuyến cuối cùng), cập bến Hải Phòng.

  11. #30
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    CHƯƠNG BA: TRONG LÒNG MIỀN BẮC

    XÂY DỰNG TRUNG ĐOÀN PHÁO BINH NAM BỘ.

    Ra Bắc, các đơn vị vũ trang cấp Trung đoàn,Tiểu đoàn và các cơ quan của Phân liên khu miền Đông và Phân liên khu miền Tây được tổ chức biên chế lại thành hai Sư đoàn 330 và 338.
    Trước khi nhận nhiệm vụ mới, cán bộ trung cao cấp trong toàn quân được dự lớp chỉnh huấn cải cách ruộng đất tại trường chỉnh huấn ở Gia Lâm (Hà Nội).
    Riêng tôi, vì đã học lớp chỉnh Đảng khóa 3 Trung ương mở tại Liên khu 5 năm 1953-1954 nên được miễn học lớp này. Tôi được bổ nhiệm làm Phó giám đốc trong ban giám đốc chỉnh huấn của các lực lượng vũ trang miền Nam. Đồng chí Lê Đức Anh làm giám đốc, đồng chí Hòa, Ủy viên thư ký, đồng chí Phát, Ủy viên hậu cần, ba lớp chỉnh huấn được tổ chức ở Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
    Nội dung học tập theo một chương trình thống nhất do Tổng cục Chính trị hướng dẫn, cán bộ quân sự, chính trị ở chiến trường miền Nam qua lớp chỉnh huấn này, trình độ tiến bộ rõ rệt. Ý thức, quan điểm giai cấp, đấu tranh giai cấp, phân biệt ta, bạn, thù được xác định rõ hơn, trực tiếp phục vụ cho yêu cầu cách mạng đang diễn ra ở miền Bắc: cải cách ruộng đất, đấu tranh chống địa chủ phong kiến, đem lại ruộng đất cho nông dân. Tuy nhiên, lớp chỉnh huấn này còn có nơi, có lúc xuất hiện quan điểm tả khuynh, vội vã quy kết làm cho tình hình nội bộ học viên có phần căng thẳng, điều này đã được Ban giám đốc trường rút kinh nghiệm.
    Sau học tập, mỗi học viên đều được Ban giám đốc đánh giá kết quả, giới thiệu về đơn vị trước khi nhận công tác mới.
    Vào giữa năm 1953, lớp chỉnh huấn kết thúc, tôi về nhận nhiệm vụ làm Chính ủy Trung đoàn 4, Trung đoàn pháo binh, thuộc Sư đoàn 330. Trung đoàn do anh Sắc, Trung đoàn trưởng, anh Sỹ, Trung đoàn phó, anh Quang, Tham mưu trưởng, anh Mây, Tham mưu phó, anh Sủng, Chủ nhiệm chính trị. anh Đởm, Chủ nhiệm hậu cần.
    Sau một thời gian chấn chỉnh biên chế, tổ chức, học tập tình hình nhiệm vụ, toàn Trung đoàn hành quân về căn cứ mới.
    Sau 4 ngày hành quân bộ, Trung đoàn đến Ngã Tư Sở (Hà Nội). Tại đây, Trung đoàn tách làm hai cánh, một cánh gồm 4 Tiểu đoàn về Sơn Tây, đến Trường huấn luyện chuyển binh chủng của Bộ tư lệnh pháo 351, một cánh 4 Tiểu đoàn và các cơ quan Trung đoàn hành quân về Vĩnh Yên xây dựng doanh trại, khẩn trương chuẩn bị cho năm học mới

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •