CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 1 của 6 123 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 55

Chủ đề: Hồi ký Thiếu tướng Đặng Quang Long - Nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 7

  1. #1
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết

    Hồi ký Thiếu tướng Đặng Quang Long - Nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 7

    Mẹ và Tổ Quốc

    Lời giới thiệu

    Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đã đi vào lịch sử, nhưng sức mạnh vô địch của quần chúng, của cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cùng những bài học kinh nghiệm vẫn còn là vấn đề thời sự nóng hổi. Chọn "Mẹ và Tổ quốc" đặt tên cho cuốn hồi ký, Thiếu tướng Đặng Quang Long muốn nói lên tình cảm lớ lao của mình đối với Tổ quốc và nhân dân. Chính tình cảm này đã trở thành dấu ấn sâu đậm trong tâm tư, là động lực tiếp thêm sức mạnh cho đồng chí suốt chiều dài cuộc chiến tranh. Tác giả là chiến sỹ trong đội ngũ bộ đội Cụ Hồ vào những ngày đầu cách mạng, đã chiến đấu 101 ngày đêm ở mặt trận Nha Trang, tham gia lãnh đạo, chỉ huy các binh chủng bộ binh, pháo binh, bộ đội tăng thiết giáp, đã qua công tác chiến đấu ở nhiều chiến trường, nhiều năm chiến đấu ở chiến trường Bà Rịa, Biên Hòa, ở Quân khu miền Đông, Quân khu Sài Gòn Gia Địnhtrong những năm chiến tranh ác liệt nhất của đế quốc Mỹ, đã trực tiếp chứng kiến nhiều tình huống , sự kiện sôi động, phức tạp của cuộc chiến tranh. qua cuốn hồi ký, với tư cách nhân chứng lịch sử, từ các sự kiện cảm nhận của bản thân, tác giả tái hiện những gương chiến đấu, hy sinh anh dũng bất khuất của quân và dân ta qua các giai đoạn chiến tranh thần thánh của dân tộc. Cuốn hồi ký góp phần minh họa, làm sáng tỏ thêm các sự kiệ lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung và lịch sử lực lượng vũ trang Quân khu 7 nói riêng, có tác dụng nâng cao, phát huy truyền thống cách mạng, truyền thống quân đội trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
    Cách viết chân thực, văn phong mạch lạc, súch tích, có sức thuyết phục, cuốn hút người đọc, có tác dụng rất tốt cho công tác giáo dục truyền thống cho các thế hệ trẻ.
    Mặc dù tác giả và người ghi đã cố gắng đầu tư công sức và đã được thẩm định về nội dung, song cuốn hồi ký "Mẹ và Tổ quốc" khó tránh khỏi những thiếu sót. hạn chế nhất định về sự kiện, nhân chứng và cách thể hiện. Chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp, bổ sung của bạn đọc.
    Nhà xuất bản tổng hợp Đồng Nai trân trọng giới thiệu.
    Xuân 1999
    NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP ĐỒNG NAI


    CHƯƠNG MỘT
    NHỮNG THỬ THÁCH ĐẦU TIÊN

    KÝ ỨC TUỔI THƠ

    Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình nho giáo ở xà Thanh Minh*, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
    Ai cũng có một miền quê để mà thương mà nhớ. Dù ở đâu, làm gì, tôi vẫn tự hào nhớ về quê hương Thanh Minh, một xã nằm bên bờ sông Cái, dọc theo tỉnh lộ 2 từ Nha Trang Thành đi Đồng Trăng. Đây là một trong những nơi có đồng ruộng trù phú nhất huyện.
    Xã tôi có những địa danh: Núi Một, Bầu Sen, bến Bà Án, đình Thanh Minh.....Những nơi ấy luôn gợi nhớ trong tôi kỷ niệm về một thời thơ ấu, về những ngày cùng các bạn chạy nhảy, lặn ngụp.....vui chơi.
    Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, dân số của xã khoảng 5800 người, chủ yếu là người Kinh, xen kẽ còn có nhiều gia đình người Hoa chung sống. Nhân dân trong xã cần cù lao động nhưng cũng giàu truyền thống đấu tranh cách mạng.
    *
    Sau năm 1975, xã Thanh Minh được đổi thành thôn Thanh Minh thuộc xã Diên Lạc, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

    Tôi không thể nào quên cái nôi gia đình đã ấp ủ, nuôi dưỡng, tạo đà cho tôi từng bước trưởng thành. Cha tôi là ông Đặng Nhơn, một nhà nho đã thi đậu tú tài> Ông có cá tính khẳng khái, sống chan hòa, tận tình giúp đỡ những người xung quanh nên ai cũng tôn trọng, quý mến. Điều không may ập tới gia đình là khi ra Huế dự thi cử nhân bị rớt, trên đường đi bộ về quê, cha tôi bị mắc bệnh thương hàn. Trở về nhà, bệnh tình cha tôi biến chứng ngày càng trầm trọng. Dù gia đình đã hao tâm , tốn của chạy chữa. nhưng căn bệnh quái ác đã để lại cho cha tôi di chứng bị liệt bàn chân trái.
    Nợ nần, bệnh tật, nhà lại đông người.....tất cả những khó khăn đó đã đổ dồn lên đôi vai mẹ tôi. Đây cũng là những năm tháng mẹ tôi chịu nhiều vất vả, thức khuya dậy sớm, tần tảo buôn bán gạo kiếm lời nuôi cả chục con người trong gia đình. Cũng chính nhờ công lao của mẹ, anh chị em tôi ai cũng được học hành.
    Ngày còn nhỏ, nhà tôi nằm trong một miếng vườn trồng đủ các thứ cây, nhà chính lợp ngói, nhà phụ lợp tranh vách đất, có hiên đắp cao, nền nhà chính thì thấp, khi đi lại nếu vô ý hụt chân bị té. Dạo ấy năm nào cũng xảy ra lụt lội, khi nước rút, ngoài thì khô, nhưng trong nhà còn đầy nước như cái ao, cả nhà phải hè nhau dùng gàu, thau tát nước ra. Cũng tại căn nhà miếng vườn này, lúc sáu tuổi, tôi đã được bà nội dạy bốn câu ca dao, bài học làm người đầu tiên của tôi:

    " Công cha như núi Thái Sơn
    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
    Một lòng thờ mẹ kính cha
    Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con"


    Sửa lần cuối bởi Xin tu xoa; 13-12-2012 lúc 04:57 PM. Lý do: Rx chỉnh size chữ.

  2. #2
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Nhớ lại, mỗi lần nhà có khách, tôi thường được bà nội gọi ra, khoanh tay đọc cho khách nghe bốn câu ca dao trên. Cái tuổi hồn nhiên nhảy chân sáo ngày ấy được khách xoa đầu khen ngoan, tôi khoái chí lắm.
    Tôi còn truyền bốn câu ca dao ấy cho đám bạn cùng tuổi. Nhiều lúc, chúng tôi kéo nhau ra gò. ra đình làng đua nhau đọc to, đọc nhanh, ai đúng, ai xong trước coi như thắng cuộc, đứa thua cuộc phải khom lưng cho đứa thắng đấm vào lưng bốn cái, cả đám lại được trận cười vui vẻ.
    Bà nội luôn chỉ dạy con, cháu phải hiếu thảo với ông bà, cha mẹ. Tôi còn nhớ bà kể chuyện Mạnh Tông, từ nhỏ, Mạnh Tông là người có hiếu với cha mẹ, do nhà nghèo, cả nhà Mạnh Tông phải ngủ không có mùng mà muỗi thì rất nhiều, thương cha mẹ ngủ không an giấc, Mạnh Tông bèn nghĩ ra kế dụ muỗi bằng cách, dù trời lạnh, Mạnh Tông lột trần nằm lăn ra thềm ngủ để muỗi tập trung cắn vào mình, thấy cha mẹ làm việc vất vả mà vẫn đói kém, Mạnh Tông không có cách gì giúp được, ra bụi tre ngồi khóc, những giọt nước mắt hiếu thảo của Mạnh Tông rơi thấm xuống đất, măng tre mọc lên, đọt măng to, ăn rất ngon,người đời truyền rằng đó là măng Mạnh Tông.
    Nghe chuyện, tôi rất thương Mạnh Tông, thương cha mẹ, tuổi thơ tôi chưa giúp được gì, nhưng nhiều lúc cứ vẩn vơ: Nếu cha mẹ chết, không biết làm sao tôi có thể sống nổi trên đời này.
    Sửa lần cuối bởi Xin tu xoa; 13-12-2012 lúc 04:58 PM. Lý do: Rx chỉnh size chữ

  3. Có 1 người thích bài viết này


  4. #3
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Là con út, thường như những đứa trẻ khác, tôi được gia đình nuông chiều, nhưng sự giáo dục và thực tế khó khăn của gia đình đã giúp tôi sớm nhận biết được điều hay, lẽ phải, không muốn làm điều gì phiền lụy đến mọi người.
    Năm lên bảy tuổi, tôi bắt đầu đi học trương làng. Tôi chăm chỉ học hành đến năm 12 tuổi, tốt nghiệp tiểu học (Certificat). Lớp tôi học ngày ấy có thầy Thành rất nghiêm khắc, kể cả dùng biện pháp "rắn" là tạt tai trò nên ai cũng sợ, nhưng lại học tiến bộ. Cứ mỗi sáng, vừa vào lớp, thầy thường ra toán trên bảng cho học sinh tính nhẩm, ai có đáp số sớm và đúng sẽ được điểm 10. Tôi là một trong những học trò luôn giành được phần thưởng này. Sau năm 1975, mỗi lần có dịp về quê, tôi thường tới thăm các thầy, cô giáo cũ. Gặp lại thầy Đoàn Thành, thầy nhìn tôi. nhìn quân hàm rồi nói:
    "Đại tá hả? Thầy chưa nhớ được tên trò, nhưng không nhầm, trò là một trong những trò giỏi toán của thầy".
    Tôi có mang tặng thầy một chai rượu, thầy trò vừa nhâm nhi vừa nói chuyện, mở đầu câu chuyện, thầy nói ngay:
    - Trò nghĩ coi, cách mạng gì mà để một số người đi xét, tịch thu từng ký lô cà phê, từng ký lô than trên xe đò hành khách như vậy?
    Tôi phản ứng một cách tự nhiên:
    - Dạ thưa thầy, thầy nghe nói hay thầy thấy ạ?
    Thầy khẽ xua tay, bật luôn một câu tiếng Pháp:
    - "Non, j'ai vu de mes propres yeux" (không, tôi thấy tận mắt).
    Thấy thầy bức xúc, không hài lòng về chuyện này, tôi chuyển ý:
    - Dạ, có lẽ thầy đã thấy. Số nhân viên đi tịch thu này còn trẻ, non nớt, ở tuổi con cháu mình làm chuyện bậy bạ, chớ có Đảng, cách mạng nào, chính phủ nào lại chủ trương như vậy.
    Nghe xong, thầy gật đầu. Không khí câu chuyện dịu hẳn lại. Thầy trò chuyển sang chuyện khác: Những khó khăn của đất nước sau chiến tranh, chuyện bọn phản động Polpot gây hấn ở biên giới Tây nam....Câu chuyện đầy tình thân thương, cởi mở, cứ thế kéo dài suốt cả buổi sáng hôm đó.
    Vào giữa năm 1980, lúc đang công tác giúp bạn ở Campuchia, tôi nhận được thư của người cháu từ Nha Trang gửi vào, báo tin "Thầy Thành đã qua đời, vì bị bọn ăn trộm đâm chết". Tin này làm tôi đau buồn cả tháng trời.
    Trong suốt thời gian đi học, trừ bữa cơm tối được ăn cơm nóng với gia đình, còn sáng và trưa tôi thường phải ăn cơm nguội. Ngày chủ nhật người khác đi câu cá giải trí, còn tôi đi câu cá góp phần cải thiện đời sống gia đình. Nhiều ngày, mê câu tới sáu, bảy giờ tối mới về, cả nhà chờ tôi về làm cá ăn cơm, ai cũng rất vui.
    Từ nhà tôi tới trường Khánh Hòa xa chừng bốn ki-lô-met. Có một hôm, đi được một phần ba đường, đến vườn xoài nhà anh Dự nằm sát đường, tôi nhặt được trái xoài chín rụng, thơm ngon quá. Nhớ đến mẹ, tôi liền quay đầu chạy một mạch về nhà, đút trái xoài vào lòng mẹ rồi lại hộc tốc chạy tới trường. Đến lớp trễ, tôi bị thầy phạt, bắt ra cổng ngồi xuống rồi từ từ lết vào, vừa lết vừa kêu quạc....quạc như vịt. Vừa chạy mệt, lại bị phạt, bị bạn bè cười đùa nhưng tôi nghĩ tình cảm đã dành cho mẹ, lòng tôi lúc đó thấy vui.
    Sửa lần cuối bởi Xin tu xoa; 13-12-2012 lúc 04:58 PM. Lý do: Rx chỉnh size chữ

  5. #4
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Năm 13 tuổi, tôi xuống Nha Trang học ở trường Kim Yến. Anh cả tôi là Đặng Quang Diệu nuôi tôi ăn học. Anh Diệu là con người hiếu thảo, hiền lành thật thà, trong nhà và làng xóm ai cũng quý mến. Anh làm trưởng ga Nha Trang, có vợ và hai con, đời sông đã chật vật, nay thêm "gánh nặng" là tôi nên càng khó khăn hơn.
    Trước gia cảnh anh chị, các cháu, lại biết nợ nần gia đình còn đó, mẹ quá vất vả, tôi nảy ý định bỏ học, đi làm có tiền để giúp đỡ gia đình. Ý định này bị anh tôi phản đối, còn mẹ chỉ biết khóc. Tôi thưa chuyện này với thầy Chắc, hiệu trưởng nhà trường, thầy ngạc nhiên hỏi:
    - Trò đang học tốt, chỉ còn hai năm nữa là thi tốt nghiệp trung học (Diplome), sao lại thôi ngang vậy?
    Tôi trình bày gia cảnh....và với sự nhất quyết của tôi, thầy rất tiếc nhưng cũng đành chịu. Tôi mới 16 tuổi nên nhờ thầy chứng giúp tôi 18 tuổi để đủ tuổi đi làm. Thầy không đồng ý, nói: Nếu trò muốn chứng nhận 18 tuổi thì phải thi lại sơ đẳng tiểu học. Tôi đồng ý và được thầy giới thiệu cho đi thi ở Phan Rang, thầy còn cho tôi 5 đồng làm lộ phí (năm đồng lúc đó lớn lắm, gạo chỉ có 2 xu 1 lít). Lần thi này tôi đậu thủ khoa.
    Có bằng chứng nhận 18 tuổi (dù mới 16 tuổi nhưng tôi lớn con nên ai cũng tin), tôi vào sở cao su ông Quế (Xuân Lộc) gặp anh trai là Đặng Quang Thiên đang làm kế toán ở đó xin việc và được bố trí làm thư ký phụ kho.
    Anh Thiên tuy mới đậu tiểu học nhưng làm kế toán khá giỏi. Anh miệt mài, chịu khó làm việc nuôi cả gia đình, cưu mang con cháu và sẵn sàng giúp đỡ người xung quanh lúc khó khăn. Khi tôi tham gia cách mạng, gia đình còn nợ nần, nghèo túng, chính nhờ công sức của anh đã giúp gia đình dần dần hồi phục về kinh tế, trở nên khá giả. Là người có trách nhiệm với gia đình, cuộc đời anh chỉ mong muốn lo nhà từ đường, lo ông bà, cha mẹ mồ yên mả đẹp. Trong kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ, sống trong vùng tạm chiếm, anh và gia đình đều giúp đỡ cách mạng, là cơ sở của biệt động Sài Gòn. Sau giải phóng 30 tháng 4, anh được tặng Huân chương Chiến công hạng ba, chị dâu tôi: Nguyễn Thị Bạch Hạt và các cháu ai cũng được bằng khen.

  6. #5
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Khi nhận làm phụ kho ở sở ông Quế, anh Thiên thương tôi, khuyên không nên làm vì biết nghề này cực lắm. Nhưng không nhận thì tôi biết làm gì ra tiền để giúp đỡ gia đình?
    Đúng như anh nói, công việc phụ kho thật khó nhọc, không đơn giản chút nào. Mùa đông, ở đồn điền cao su trời lạnh lắm, tôi lại chỉ có hai bộ đồ mỏng. Hàng ngày tôi phải dậy đi làm từ bốn giờ sáng, phải có mặt ở kho trước khi kẻng báo công nhân tập hợp để phát đồ cho họ, tối đến còn phải ghi chép sổ sách đến 9, 10 giờ mới có thể đi nghỉ. Sở cao su ông Quế có trên 2000 món đồ, để ở hàng chục kho nằm rải rác khắp sở. Phụ kho như tôi phải thuộc nhóm, loại, vị trí chỗ để đồ, dụng cụ, máy móc và phải biết cả tình trạng kỹ thuật nữa. Riêng chùm chìa khóa tới vài chục chiếc, nặng 4, 5 ki lô gam luôn phải mang, xách kè kè bên người. Giám đốc sở là A.Bous rất nóng tính, mỗi lần nó hỏi, kiểm tra món đồ gì mà không trả lời rõ ràng hoặc phải lật sổ tìm kiếm là hắn chửi "Mẹc xà lù" ngay. Tuy vất vả, nhưng đặc điểm của công việc, cách quản lý của A.Bous lại giúp tôi rèn tập được trí nhớ, có lợi cho sau này. Thời gian làm tại đây, mỗi tháng tôi được lãnh 30 đồng và 30 ký gạo. Gửi giúp gia đình 15 đồng/tháng, cả năm, trừ ăn uống tôi còn tiết kiệm được 60 đông để phòng thân.
    Sau hơn một năm nhẫn nhục, cặm cụi làm việc, năm 1943, vào một sáng chủ nhật có một sự kiện xảy ra làm thay đổi cuộc đời tôi. Hôm đó, mọi người đều nghỉ, tôi xách chùm chìa khóa xuống chợ (cách khu kho chừng một ki lô met) chơi. Đang đứng xem một đám công nhân đang tụm năm, tụm ba đánh bạc, bỗng có tiếng còi ô tô vọng lại từ khu nhà kho. Tôi ngược dốc chạy về, gặp tên phó giám đốc Surcoup đưa xe đến lãnh xăng, nó hỏi:
    - Anh đi đâu mà bắt tôi phải đợi lâu thế?
    Tôi trả lời:
    - Anh không biết hôm nay là ngày chủ nhật sao?
    Surcoup đổi ngay thái độ, lớn tiếng:
    - "Tu n'a pas dimanche ici" (mày không có chủ nhật ở đây).
    Bị xúc phạm, tức quá tôi nói ngay:
    - Ngày mai tao nghỉ, không cần làm ở đây nữa...
    Đúng vậy, sáng thứ hai hôm sau, tôi đưa đơn xin nghỉ việc. Bọn chủ sở chấp thuận.
    Nhưng một câu hỏi đặt ra: Nghỉ việc rồi sẽ đi đâu, làm gì để sống? Sự việc xảy ra quá đột ngột, tôi không thể không băn khoăn lo lắng.
    Đang bí, chợt nhớ, cách đây chừng bốn tháng, tôi có gặp một người Đức lai Pháp tên là Langgen Hangen làm ở hãng Sell đường Norodom - Sài Gòn lên bán dầu cho sở cao su. Lần ấy, Langgen Hangen có nói: "Tao thấy mày trẻ mà nhanh nhẹn, tao thích quá, nếu mày đồng ý về Sài Gòn, tao sẽ giúp vào làm việc ở hãng Sell" và cho tôi địa chỉ. Thế là có nơi để đến rồi. Tôi xuống ngay hãng Sell và được Langgen Hangen báo với giám đốc tiếp nhận, phân về làm giám đốc hãng Sell Bà Rịa, hưởng lương mỗi tháng 120 đồng.

    BƯỚC NGOẶT CUỘC ĐỜI

    Hãng Sell Bà Rịa là một cơ sở, chi nhánh nhỏ. Công việc không những nhàn, độc lập, tôi lại được hưởng lương bổng khá cao. Sau một năm, đầu năm 1945, tôi được Trung tâm Sell ở Sài Gòn điều đi học khóa thanh tra Sell, đang chờ người đến bàn giao, thay thế thì xảy ra sự kiện Nhật đảo chánh Pháp (tháng 3/1945). Binh lính Nhật ngang ngược, phá phách, ai cũng căm ghét, lo sợ.
    Những ngày này, tôi thường nghe chỗ này, chỗ kia lính Nhật coi dân mình không ra gì, bắt bớ, tra tấn người rất tàn ác, "phát xít" lắm. Tai nghe cùng những điều mắt thấy những hành động của lính Nhật, tôi có ác cảm, thậm chí ớn sợ tính phát xít của chúng.
    Tuổi thanh niên của tôi lúc đó còn bồng bột, chưa tiếp xúc, chưa hiểu biết gì về cách mạng. Nghe một số bà con từ Miền Trung vào thì thầm bàn tán có tổ chức này, hoạt động kia chống Pháp, chống Nhật và chính quyền thân chúng....tôi cảm nhận có điều gì đó sắp xảy ra.
    Sau đảo chánh chừng mấy ngày, một sỹ quan Nhật và thông ngôn đến gặp và bảo tôi viết bài diễn văn hoan nghênh quân đội Nhật hoàng đến Việt Nam, viết xong, đưa nó xem trước rồi tôi sẽ đọc diễn văn này trong cuộc mít tinh vào ngày 15 tháng 3 năm 1945 tại sân Dinh tòa bố - thị xã Bà Rịa. Đối với nhiều người, nhiều công chức khác, được như vậy là một dịp may để "tiến thân". Nhưng sẵn có ác cảm với chúng, cùng với những cảm nhận bất ổn về tình hình, tôi quyết định phải rời bỏ nhiệm sở ngay.

  7. #6
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Tôi bỏ lại toàn bộ tài sản, chỉ mang theo một túi xách nhỏ, trốn khỏi sở bằng chiếc xe đạp theo quốc lộ 15 chạy suốt đêm vè nhà anh Thiên ở Biên Hòa. Ở đó ít lâu, tôi trở về quê nhà và từ tháng 5/1945 gia nhập phong trào Việt Minh ngay trên mảnh đất quê hương.
    Tại xã Thanh Minh, qua hoạt động tham gia sinh hoạt trong tổ chức Đoàn thanh niên, tôi nhận thức rõ hơn: Sau khi Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương tháng 3 năm 1945, chúng đã dùng chính sách mỵ dân, lừa bịp tuyên truyền "Thuyết Đông Á" cho Việt Nam độc lập. Nhờ có Đảng ta bí mật lãnh đạo, giác ngộ quần chúng nên mọi thủ đoạn của bọn Nhật sớm bị vạch trần, quần chúng sớm thấy rõ bộ mặt thật của chúng.
    Nhớ lại chuyện tên sỹ quan Nhật đến gặp, bảo viết, đọc diễn văn....rồi tôi trốn khỏi nhiệm sở hôm nào, tôi thấy mừng, thấy đó là quyết định đúng, kịp thời và còn là điều măy mắn đối với cả cuộc đời tôi nữa.
    Ở xã Thanh Minh, trước ngày tôi về đã có anh Võ Gia Cương, xã Trường Lạc có anh Lê Đức Băng đứng ra tổ chức Đoàn thanh niên. Lúc đầu, hoạt động của Đoàn chủ yếu tạo không khí vui khỏe, chơi thể thao, tập ca hát, vận động cứu trợ đồng bào bị lũ lụt....dần dần, qua đó tuyên truyền giáo dục lòng yêu nước, yêu đồng bào, gầy dựng, hun đúc tinh thần đấu tranh vì độc lập tự do của Tổ quốc cho thanh niên.
    Bài học đầu tiên do anh Danh, một cán bộ ở tù Côn Đảo trở về, lên lớp cho chúng tôi là: Nước ta lúc đầu gọi là Văn Lang do các Vua Hùng đứng đầu, đến nay đã trải qua 4000 năm lịch sử, trong đó có 1000 năm bị bọn phong kiến Trung Quốc đô hộ. Liên tục trong hơn 1000 năm ấy, dân ta đã dấy lên nhiều cuộc khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm do Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí....lãnh đạo giành được độc lập. Nước ta đã trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê....khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (1858) đến nay đã hơn 80 năm, nhiều cuộc khởi nghĩa của ông cha ta liên tục nổ ra, chống lại sự cai trị của chúng. Đặc biệt, từ năm 1930 trở đi, từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo thì các cuộc khởi nghĩa càng sục sôi, được quần chúng tham gia đông đảo như: Xô-viết Nghệ Tĩnh, Bắc Sơn, Đô Lương, Ba Tơ, Nam Kỳ Khởi Nghĩa.....Các cuộc khởi nghĩa này bị kẻ thù đàn áp đẫm máu nhưng hun đúc nên tinh thần cách mạng trong nhân dân, chuẩn bị cho khí thể quyết chiến, quyết thắng cho cuộc cách mạng của cả nước sắp nổ ra.
    Sửa lần cuối bởi truongsa; 14-12-2012 lúc 09:21 AM.

  8. #7
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Chúng tôi ghi chép cẩn thận, học thuộc lòng bài học lịch sử ấy và phân công nhau đi nói chuyện tới từng khóm dân trong xã. Nhân dân các xóm tập hợp từ 200 đến 300 người ngồi chờ. Chúng tôi tới, nói say sưa, nói một mạch hơn một giờ đồng hồ, xong ở xóm này, cả nhóm vừa đi, vừa chạy tới xóm khác. Có lúc trời mưa, đã 11, 12 giờ đêm, đồng bào vẫn tới dự, im lặng nghe nói chuyện về truyền thống lịch sử dân tộc.
    Bài học này, kích động lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc dữ lắm, nhất là trong thanh niên. Học đến đâu, hôm sau chúng tôi triển khai xây dựng Đoàn thanh niên, phụ nữ tới đó.
    Từ tháng 5/1945, phong trào mở rộng, diễn ra sôi nổi, cũng là lúc tôi trở thành cốt cán của Đoàn thanh niên tại địa phương (lực lượng nòng cốt của phong trào thanh niên ở quê tôi lúc đó còn có các anh: Lê Hàng, Hồ Kế, Ơn, Hội, Thảo, Tự, Thính...)
    Qua hoạt động trong Đoàn thanh niên, tôi và nhiều người cùng trang lứa, trước đó vốn chỉ chăm lo lao động, học hành kiếm sống, mong có thể phụ giúp kinh tế gia đình đã dần trưởng thành cả về nhận thức và hành động. Chúng tôi nhận thức rằng không thể sống chỉ cho riêng mình và gia đình mình. Thanh niên không thể thờ ơ trước nỗi nhục mất nước. Thực dân Pháp, phát xít Nhật và tay sai là bọn cướp nước và bán nước cần phải đánh đổ, giành lại nền độc lập tự do thật sự cho dân tộc. Cùng với sự chuẩn bị về tinh thần, vật chất, những ngày tháng này, làng xóm quê hương tôi cùng cả nước chờ đón thời cơ, chờ đón sự bùng nổ lớn của cách mạng.
    Tại Khánh Hòa, trước tháng 8 năm 1945, Tỉnh bộ Việt Minh đã bí mật phân công ba đồng chí Trần Danh (quê Thừa Thiên, sau ngày 9 tháng 3 năm 1945 được bổ sung vào Tỉnh ủy lâm thời Khánh Hòa), Nguyễn Thế Hiển và Nguyễn Mẫn lãnh đạo chuẩn bị khởi nghĩa ở huyện Diên Khánh.
    Tối ngày 16 tháng 8 năm 1945, kế cận ngày khởi nghĩa của tỉnh, đồng chí Danh tổ chức một cuộc họp cán bộ cốt cán trong huyện Diên Khánh gồm các đồng chí Hinh, Mây, Kế, Cương, Hàng và tôi để bàn và triển khai kế hoạch của Tỉnh ủy: Cướp chính quyền Phủ đường Nam Triều.
    Cơ sở chính quyền Nam Triều lúc đó có dinh Tuần vũ, Án sát và Lãnh binh. Dưới chính quyền Trần Trọng Kim, tên Tỉnh trưởng đã dời về tiếp quản Tòa Tỉnh trưởng Pháp ở Nha Trang nên các cơ quan Phủ đường Nam Triều trở nên lỏng lẻo. Đồng chí Danh thông báo theo kế hoạch của Tỉnh, sẽ tổ chức cướp chính quyền ở Nha Trang ngày 19 tháng 8, yêu cầu ta cướp Phủ đường cùng ngày. Đồng chí cũng nhấn mạnh: Thời cơ đã chín muồi rồi, ta cũng đã nắm được nhiều quan chức trong chính quyền Trần Trọng Kim. Tuy có nhiều thuận lợi, nhưng cướp Phủ đường, giải phóng nhà lao trong đó có hàng trăm tù chính trị thì phải cần thận trọng vì giữa nhà lao và lối vào Phủ đường còn có đại đội bảo an đóng giữ. Ta phải làm sao, tổ chức vận động cướp vũ khí, vô hiệu hóa được đại đội bảo an này, đừng để chúng nổ súng gây thiệt hại không cần thiết. Riêng cánh Tây, ta phải vận động được từ 200 đến 300 người tập hợp tại đình Trường Lạc biểu tình kéo về Phủ đường.
    Cuộc họp dành nhiều thời gian bàn cách giải quyết đại đội bảo an (việc giải phóng nhà lao và huy động lực lượng quần chúng biểu tình được thông qua nhanh chóng).
    Tôi suy nghĩ và đề nghị cho tôi vào Phủ đường tiếp xúc, thuyết phục để vô hiệu hóa đại đội bảo an này.
    Nguyên lúc còn học ở trường Khánh Hòa, hàng ngày, tôi thường tìm chỗ nghỉ và ăn trưa. Thời gian này, tôi có quen con trai của đội trưởng bảo an. Nó thường rủ tôi vào trại ăn và nghỉ trưa tại đó, đến 1 giờ 30 chiều lại cùng vào trường để học tiếp. Đi lại nhiều lần, dần dần tôi quen cả nhà đội trưởng. Khi đi Nha Trang học, rồi đi làm, lúc rảnh về quê, tôi vẫn thường ghé thăm và được gia đình này coi như người nhà. Tháng 4 gần đây, trong lúc tình hình căng thẳng, tôi về quê vẫn vào thăm, tặng quà. Nay tuy có lệnh không ai được ra vào trại, nhưng tôi vẫn có thể vào, ngủ tại nhà đội trưởng không khó lắm.
    Nghe xong, các anh rất mừng, coi như đã gỡ được cái gai, đồng ý cho tôi thực hiện kế hoạch, còn anh Lê Hàng lo tổ chức giải phóng tù chính trị ở nhà lao, anh Kế, anh Cương lo vận động quần chúng, biểu tình.
    Chiều hôm sau, ngày 17 tháng 8, tôi mặc một bộ đồ complet khá sang, tay xách va li da như người ở xa mới về, ung dung đi thẳng vào trại lính. Bọn lính gác chặn lại. Tôi vờ nói to cố ý để người trong nhà đội trưởng nghe thấy:
    - Tôi ở trong gia đình này đi xa mới về sao các anh lại không cho vào nhà?
    Nghe tiếng xôn xao ngoài cửa, vợ chồng đội trưởng nhìn ra thấy tôi liền quát bọn lính mở cửa. Tôi vào nhà trong sự mừng rỡ của gia đình và sự ngỡ ngàng của đám lính.
    Ngay đêm đó, ngoài câu chuyện xã giao, tôi chủ động thông báo tình hình và tìm cách khêu gợi, nêu nhiệm vụ...Lúc đầu, đội trưởng bảo an tỏ ra dao động, chưa tin cách mạng. Dần dần, tôi thuyết phục được cả vợ, con đội trưởng. Cả nhà đều thấy trong tình hình này không có cách nào an toàn hơn, lại có vinh dự lập công lớn nếu nộp súng đầu hàng cách mạng.
    Sau những giờ phút trao đổi, thăm dò, nắm chắc chủ nhà và gia đình đã có chuyển biến, tôi quyết định nói thẳng: Tôi là cán bộ Việt Minh ở huyện Diên Khánh, đến đây để đem lại điều tốt lành cho gia đình. Vừa dứt lời, vợ chông đội trưởng và con cái đều vui mừng. Họ chỉ băn khoăn gia đình đông người, sau đây rồi sẽ đi đâu? Tôi nói ngay: cả nhà lên Thanh Minh ở chung với gia đình tôi. Khi tình hình yên ổn Việt Minh sẽ cấp giấy để gia đình về Thừa Thiên Huế...
    Sửa lần cuối bởi truongsa; 14-12-2012 lúc 10:52 AM.

  9. #8
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Kế hoạch được thực hiện. sáng 19 tháng 8 năm 1945, khi cổng Phủ đường mở, cả dòng người như dòng thác tràn vào các dinh, nhà lao, mở các phòng giam....Tù chính trị tràn ra, cờ, băng rôn khẩu hiệu đỏ cả lối đi, tiếng la hét, tiếng hô khẩu hiệu vang dội cả phố phường. Đại đội bảo an không nổ một tiếng súng, giao nộp toàn bộ vũ khí cho cách mạng.
    Dòng người hừng hực khí thế, từ các cửa Đông, Tây, Nam, Bắc tiến vào Phủ đường, chiếm các dinh một cách thuận lợi, từ đó kéo ra sân banh làm lễ ra mắt Ủy ban nhân dân cách mạng.
    Đồng chí Lê Hinh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện Diên Khánh tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng. Trong không khí tưng bừng, phấn khởi của quần chúng, lần lượt các đoàn thể cử người lên phát biểu. Anh Kế cử tôi thay mặt Đoàn thanh niên huyện lên diễn đàn. Không ngờ, một việc rất bình thường xảy ra là khi đứng trên ghế cao, thấy đồng bào đứng quanh đông quá, chăm chú nhìn vào mình, tôi cảm thấy rất hồi hộp, lúng túng, miệng cứng lại. Tôi cố gắng trấn tĩnh nhưng cứ nói ngập ngọng, cà lăm được mấy câu:
    - Kính thưa....thưa....đồng bào...Hôm nay...
    Rồi từng phút, từng phút trôi qua, tôi cứ đứng, không nói ra lời nữa. Quần chúng chờ đợi, chờ đợi không được, họ vỗ tay yêu cầu tôi xuống. Anh em cự nự, nói tôi "khôn nhà, dại chợ". Tôi vừa xấu hổ, vừa uất ức, vội vã rút lui.
    Sau việc này, cứ mỗi buổi sáng, tôi vào một lớp học ở xã Thanh Minh, miệng ngậm đầy sỏi, cố đọc "một bài diễn văn", đọc đi, đọc lại, không phải để học thuộc mà để chữa cái bệnh cà lăm. Suốt cả tuần lễ, tôi ráng đọc khan cả tiếng, mỏi cả miệng, chảy cả nước mắt, nước mũi....Dần dần bệnh cà lăm của tôi hết hẳn, nói năng lưu loát. Đây cũng là cách chữa bệnh của tôi những ngày đầu cách mạng.

    CHƯƠNG HAI
    CUỘC CHIẾN ĐẤU CHÍN NĂM CHỐNG PHÁP

    MẶT TRẬN NHA TRANG - 101 NGÀY ĐÊM

    Sau Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, chính quyền cách mạng non trẻ ở vào tình thế khó khăn, phức tạp. Mượn thế Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, Tưởng Giới Thạch và đế quốc Anh vội đưa quân nhảy vào nước ta "với âm mưu tiêu diệt chế độ Cộng hòa dân chủ Việt Nam"*.
    Từ cuối tháng 8 năm 1945, khoảng 20 vạn quân Tưởng và tay sai đã vượt biên giới vào nước ta. Trong khi đó, nước ta đang gặp khó khăn lớn về kinh tế, tài chính, hậu quả của nạn đói đầu năm đang còn tiếp tục đe dọa sinh mạng hàng triệu người, nhất là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.
    Ở miền Nam, âm mưu trở lại xâm lược của thực dân Pháp ngày càng lộ rõ, đúng như dự báo trước đó của Đảng ta.
    Nhiệm vụ cơ bản nhất của ta lúc này là phải bảo vệ được chính quyền, tiếp tục giữ vững và phát huy thành quả Cách mạng tháng Tám..
    Sau nhiều lần gây hấn, khiêu khích, được phái bộ Anh che chở, đêm 22 rạng 23 tháng 9 năm 1945, tại Sài Gòn, quân Pháp nổ súng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai.
    Cùng thời gian, Xứ ủy, Ủy ban kháng chiến và đại diện Tổng bộ Việt Minh đã họp, ra hiệu triệu cho quân, dân Nam Bộ đứng lên đánh trả địch.


    * Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc ga, Hà Nội, 1996, tr 61-70.

  10. #9
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Nhận được điện báo của Xứ ủy, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã họp, nhất trí với quyết tâm kháng chiến của quân, dân Nam Bộ và kêu gọi đồng bào cả nước chi viện sức người, sức của cho miền Nam, quyết định thành lập và đưa ngay các đội quân Nam tiến vào miền Nam tham gia chiến đấu. Ngày 23 tháng 9 năm 1945 trở thành ngày truyền thống Nam Bộ mở đầu cuộc kháng chiến chín năm trường kỳ gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc ta.
    Do chiến sự ở Nam Trung Bộ diễn ra chậm hơn so với Nam Bộ gần một tháng, nên ta có thêm thời gian chuẩn bị cho cuộc chiến đấu.
    Cuối tháng chín, Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Trung Bộ đã tổ chức Hội nghị quân sự, quyết định "thành lập Ủy ban quân chính Nam phần Trung Bộ để chỉ huy 7 tỉnh mặt trận phía Nam và quyết định việc triển khai các chi đội Nam tiến các địa bàn xung yếu...."*.
    Ngày đầu tháng 10, địch đã cho thiết giáp hạm Richelieu tới phong tỏa vùng biển Khánh Hòa. Tiếp đó, chúng cho đổ bộ 1000 quân lên bãi biển trước khách sạn Beau Rivage (nay là khách sạn Hải Yến), chiếm các vị trí then chốt trong thành phố, tăng cường các phương tiện chiến tranh....
    Quân Pháp đánh chiếm Nha Trang nhằm dùng nơi đây làm điểm đầu cầu, đột phá đánh rộng ra Nam Trung Bộ, nhất là đồng bằng ven biển, uy hiếp trực tiếp con đường huyết mạch chi viện của ta từ miền Bắc, miền Trung vào Nam Bộ.
    Chính vì vậy, nhiệm vụ vây chặt giặc Pháp tại Nha Trang, ngăn cản âm mưu của chúng là yêu cầu bức thiết mà Trung ương Đảng đặt ra cho đảng bộ, chính quyền cách mạng miền Trung, trực tiếp là Khánh Hòa - Nha Trang. Trên cơ sở tình hình, sự chỉ đạo, nhận định trên, Bộ chỉ huy Mặt trận Nha Trang hình thành cũng từ những ngày đầu tháng 10 này.
    "Ngày 19 tháng 10, Nam Trung Bộ kháng chiến. Các chi đội Nam tiến và lực lượng vũ trang địa phương, lập phòng tuyến bao vây đánh địch khắp các mặt trận"**. Đặc biệt, sau ngày 23 tháng 10, nhiều trận chiến đấu giữa ta và địch diễn ra ác liệt ở xóm Bóng, ga xe lửa, Nhà đèn, cầu Đá, cầu Dứa....trên bầu trời Nha Trang, các vùng lân cận thường xuyên có máy bay, trọng pháo địch hoạt động, ném bom, bắn phá.
    Với truyền thống yêu nước, tinh thần quật khởi của Cách mạng tháng Tám, nhân dân Khánh Hòa, Nha Trang, trong đó có huyện Diên Khánh đã hăng hái tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Phong trào tòng quân, đi dân công hỏa tuyến, tổ chức "Tuần lễ vàng", "Tuần lễ đồng"....vì cách mạng, vì kháng chiến được quần chúng tích cực hưởng ứng.

    * Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr 61 - 70.
    ** 50 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr 24

  11. #10
    Ngày tham gia
    07-11-2012
    Bài viết
    59
    Thích
    0
    Đã được thích 18 lần trong 14 bài viết
    Lúc này, tôi và anh Võ Gia Cương được trên giao nhiệm vụ huấn luyện tân binh bổ sung cho mặt trận Nha Trang. Anh Cương đã được học học một khóa huấn luyện quân sự ở Quảng Ngãi, lo huấn luyện quân sự, còn tôi lo công tác giáo dục chính trị cho anh em. Chúng tôi tổ chức mỗi khóa 10 ngày, sau đó vượt sông Cái qua Đại Điền gặp anh Kèn (tức anh Lâm, nay là Thiếu tướng đang nghỉ hưu ở Hà Nội) nhận trang bị rồi lại đưa xuống trạm giao quân ở Phú Vinh để từ đây điều động anh em ra mặt trận.
    Đi đến đâu, chúng tôi cũng đều chứng kiến tình cảm sâu nặng của nhân dân Khánh Hòa với bộ đội. Bấy giờ, có 18 đơn vị tình nguyện quân, con em các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ được điều vao chi viện chiến đấu. Các đơn vị này có quân nhưng không có bộ phận hậu cần đi theo nên tất cả phải dựa vào dân. Các mẹ, các chị chăm lo đùm bọc các chiến sỹ tình nguyện còn hơn cả con em mình, các mẹ, các chị thường nói: "bọn nó xa cha, mẹ vào đây đánh giặc, mình phải lo cho bọn nó trước". Đồng bào không chỉ nhường nhà để ở, tiếp tế lương thực, thực phẩm, còn làm liên lạc cho bộ đội. tham gia vận tải, tải thương, cứu chữa thương binh. Tìng quân dân cá nước trong những ngày đầu kháng chiến đã làm tôi xúc động, đó ùa sự phản ánh đẹp đẽ truyền thống đoàn kết dân tộc, sức mạnh vô địch để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, điều này còn được minh chứng trong chín năm lhasng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ của dân tộc và của riêng những người lính chúng tôi.
    Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, phức tạp, nhằm khẳng định chủ quyền của nước Việt Nam dân chủ cộnh hòa, ta vẫn tổ chức bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa I trong cả nước.
    Ngày 6 tháng 1 năm 1946, sau hàng trăm năm nô lệ, cùng nhân dân cả nước, nhân dân Khánh Hòa, bất chấp bom đạn địch, nô nức đi bầu cử Quốc hội, thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm công dân của mình.
    Kết quả, tại Khánh Hòa có 3 đại biểu được bầu vào Quốc hội khóa I gồm các vị: Tôn Thất Vỹ, Nguyễn Văn Chí và Đào Thiên Thi.
    Trog quá trình huấn luyện tân binh, chúng tôi cứ băn khoăn không biết anh em ra trận chiến đấu ra sao? Chất lượng huấn luyện thế nào?.
    Yooi và anh Cương bàn bạc thống nhất là sau mỗi đợt huấn luyện, sẽ thay phiên nhau đi chiến đấu với anh em, về rút kinh nghiệm bổ sung vào chương trình huấn luyện.
    Sau hai lần đi, về trót lọt, đến lần thứ ba, tôi đưa anh em đi, cách tuyến phòng thủ Chợ Mới chừng 50m thì gặp biệt kích địch, chúng bắn xối xả vào đội hình quân ta. Ta bắn trả, địch tháo chạy, anh em an toàn, nhưng tôi bị bị trúng một viên đạn vào đùi trái, té quỵ xuống.
    Lúc đầu, tôi cảm thấy vết thương nóng rát nhưng chưa thấy đau, đứng lên và được anh em dìu về trại tiếp nhận Phú Vinh. Do máu ra nhiều, đùi bắt đầu sưng lên, tôi thấy đau không đi được nữa, anh em dùng xe bò đưa tôi lên bệnh viện Trường Lạc.
    Hôm sau, tôi được bác sỹ khám, phát hiện viên đạn nằm ở phần mềm, không sâu lắm nhưng phải mổ để lấy ra. Bệnh viện không có thuốc tê, không có điều kiện gây mê, người mổ là y sỹ một bệnh viện ở Thành. Những điều đó làm các đồng chí xung quanh rất do dự, sợ tôi bị đau không chịu nổi. Tôi cũng rõ tình hình quá thiếu thốn, nhưng nếu không mổ vết thương sẽ nhiễm độc vì viên đạn Mitul là viên đạn chì, nên đề nghị các đồng chí cứ mổ. Thế là cuộc mổ bắt đầu. Các y sỹ, y tá dùng dao mài bén, lấy đầu nhọn cứa rộng vết thương, rồi dùng dụng cụ gắp viên đạn ra

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •