CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 3 của 57 Đầu tiênĐầu tiên 123451353 ... CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 568

Chủ đề: Giữa đường lượm được

  1. #21
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết

    Re: Giữa đường lượm được

    Lời bàn của anh về cá tính rất hữu lý.
    Cái sự buồn là người ta không hiểu từ cá tính là nghĩa gì. Cứ thấy "cá" là cá nhân, mà cá chân thì là mà cá nhân chủ nghĩa, vậy là xấu. Đó là dốt cộng với quán tính "nhai lại" vô thức có tính bầy đàn. Theo tôi, cái người ta định phê phán là cá biệt, tức một kẻ xa lạ không giống ai trong cộng đồng, tự tách biệt khỏi tập thể; và như thế, trong một chừng mực là đáng phê phán. Tại sao lại chỉ đáng phê phán trong chừng mực? Không cứ số đông thì luôn đúng. Trong khi mọi người sáng tác theo "phương pháp hiện thực XHCN" thì Trần Dân làm thơ bậc thang, cái ý nằm ngoài từ vựng đâm "lạc lỏng", ai nói ông cũng không nghe, vậy là ông "cá biệt"! Giải quyết chuyện nầy chí ít cần một văn hoá ứng xử có ăn, có học, có hiểu biết về mỹ học.
    Dạ.

  2. #22
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết

    Re: Giữa đường lượm được

    3.

    Một

    Sa mạc.
    Không cần giải thích thì ai cũng biết và dễ dàng hình dung ra nó, cả khi chưa một lần đặc chân đến. Nếu phải đem thân lữ hành qua sa mạc ắc phải là người can đảm, có bản lãnh (hẳn vậy?). Ấy vậy mà có những kẻ điên rồ thích miên man trên các nẻo đường sa mạc. Một thân một mình rảo bước, lẽo đẽo đi theo cái chi chi. Vì ai? Cho cái gì? Về đâu? Màn.
    Con đường sa mạc kia có gì mà hút hồn vậy ta!

    Đã trót mang kiếp kẻ sĩ mà không suy tư lẽ đời, mà không dùi mài kinh sử, mà không dằn vặt về bản ngã con người, không đứng trước ngã ba “Être et Néant” thì thà làm tên “lái buôn thành Vénise” để khỏi mang tiếng “giả cầy”. Mà, chao ôi, con đường nầy sao cô độc quá.

    Bước tời hư vô
    Khoát áo chân như
    Lonh lanh giọt lệ, lonh lanh giọt lệ
    Giọt lệ thiên thu

    (Giọt lệ thiên thu – TCS)

    Trong một cuộc phỏng vấn GS Trịnh Xuân Thuận có nói (đại ý): Các cuôc nghiên cứu thiên văn, tìm điệu nhảy của các vì sao đã không làm ra một đồng xu nào. Ngược lại nó còn tiêu tốn hàng triệu triệu USD mỗi năm. Vây tại sao ông và các đồng nghiệp vẫn cứ đêm đêm dương đôi tròng thịt nhìn vào màn đêm bao la, nhìn vào cái vũ trụ tối đen kia. Các vì sao lấp lánh có gì hấp dẫn? Khao khát biết, cho thỏa lòng tìm hiểu. Vậy thôi. Mà để được nhìn vào kính thiên văn đâu có dể. Phải đăng ký đề tài, chờ duyệt xét, mà có duyệt xét tức có người được kẻ không. Được chấp nhận rồi lại phải xếp hàng chờ tới phiên, chờ thời điểm thuận lợi cho quan sát (góc quan sát giữa trái đất với mục tiêu). Đôi khi cả năm trời chứ chẳng it. Ta thử hình dung, đêm khuya, người nầy vào quán bar, kẻ kia bên lẩu dê, người nọ quay quần với vợ con hay đơn giản là dán mắt vào quả bóng lăng trên cỏ. Còn Trịnh Xuân Thuận một mình lặng lội đến Chile, leo lên đĩnh núi Andes, vào phòng kín và … Lùi xa ra, hai ngàn năm trước, trên đất Hy Lạp có một kẻ đốt đuốc giữa ban ngày tìm chân lý. Có điên không? Hẳn cô độc rồi.
    Mà, lạy Chúa lòng lành, quả Người đã chấp nhận để đám vô đạo đóng đinh chứ không thèm chạy trốn. Sa mạc nào chỉ có ngày nóng và đêm lạnh, đâu chỉ có khô cằn và các bỏng. Sa mạc còn có ốc đảo.


    Hai

    Cái làm con người khác với con vật, làm con người tách khỏi thế giới động vật là lao động. Hơn thế nữa, lao động của con người là lao động sáng tạo, tức không chỉ do bản năng hay di truyền. Lao động của con người làm ra những vật phẩm mới tốt hơn, đẹp hơn cái trước đó. Một lao động như vậy có được là do con người có tư duy và ngôn ngữ. một quan hệ biện chứng: tư duy và ngôn ngữ là kết quả của lao động, nhưng một khi ra đời tư duy và ngôn ngữ đã giúp cho lao động của con người có tính sáng tạo, hiệu quả hơn. Lượng chất xám kết tinh vào lao động đã giúp hình thành những giá trị gia tăng. Hàm lượng và phẩm chất chất xám kết tinh càng cao thì giá trị gia tăng của sản phẩm càng cao, nhưng không phải theo một tỷ lệ tương đương mà tăng theo cấp số nhân. Lúa Ma có năng xuất rất thấp, lúa thuần chủng cho năng xuất hơn hẳn, lúa lai gióng không chỉ có năng xuất vượt trội mà còn sinh trưởng ngắn ngày hơn, kháng sâu bệnh mạnh hơn, thậm chí còn có thể sinh trương tốt ở những vùng mà thổ nhưỡng cùng khí hậu kém thuận lợi hẳn. Và nay còn có lúa biến đổi gen (đang gây tranh cãi). Cây đủa thần nào đã chỉ vào cây lúa? Tư Duy!
    Vậy mà có một cái nực cười của “thực tiển” đó là trong hành động và suy nghĩ của lắm người cầm quyền trượng đến hôm nay vẫn chưa gở cái dấu bằng (=) thô lậu giữa lao động và cơ bắp (lao động = cơ bắp)?!!! Vậy đâu là con đường sáng cho đất nước?

  3. #23
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết

    Re: Giữa đường lượm được

    4.

    Cách đây hai mươi mấy năm, đài truyền hình thành phố chiếu một bộ phim của Rumani mà xem ra nay vẫn có ý nghĩa thời sự đáng suy ngẫm. Dù đã lâu, không còn nhớ thật chính xác, chi tiết nhưng điều tác giả gửi đến người xem thì lại khó quên.
    Đại khái là câu chuyện về một anh cán bộ trẻ nghành tư pháp tình cờ phát hiện một vụ án đã tuyên bảy năm về trước mà anh ta thấy nhiều khuất tất, có thể khi đó người ta đã tuyên án tù oan cho một người đàn ông. Anh ta lật lại vụ án, tât nhiên là không dễ. Có người khuyên không nên , không cần, cũng có người vì lý do nào đó chồng lại, cản trở, thậm chí sự bất hợp tác của người tù kia. Anh cán bộ trẻ không nản chí, anh bền lòng. Cuối cùng vụ án được đem ra xử lại. Người đàn ông đang thụ án tù nay được tuyên vô tội và được trà tự do. Hôm sau, anh cán bộ trẻ vào nhà tù, mở cửa tù và nói với người bị án oan rằng anh ta đến để trả tự do cho nạn nhân. Anh ta sung sướng vì việc mình làm đúng và không uổn công. Anh ta hẳn chờ sự chia sẽ niềm vui của nạn nhân, thậm chí một lời cám ơn? Nhưng không, tù nhân vừa được giải oan không bộ lộ niềm vui, không cám ơn mà hỏi ngược lại: Ai trả lại cho tôi bảy năm đó? Bộ phim kết thức ở đó với khuôn hình đặt tả gương mặt anh cán bộ tư pháp.
    Lâu nay ta thường nghe ở bên tây người ta bồi thường oan sai bằng tiền, thậm chí là một đồng danh dự khi bị súc phạm. Ở ta hiện cũng theo hướng nầy, cứ tiền mà sùy, cùng một lời xin lỗi thì càng lịch sự. Cũng dễ vì tiện. Ở tù oan do điều tra không đúng, bị xử sai, tuyên án bậy v.v. thiệt hại biết chừng nào mà kể. Thôi thì đưa ra cho ít tiền gọi là, nạn nhân thấy phần nào an ủi cho những ngày lao lung tủi nhục cả bản thân lẫn gia đình, thậm chí là ly tán. Chứ còn … thời gian có một chiều, đi mãi không lập lại, lầy đâu ra mà trả. Cái ông tác giả kịch bản kia với ông đạo diễn nọ cắc cớ quá, cho nhân vật của mình hỏi vậy thì có thánh mà trả lời. Ai lại đi hỏi ân nhân mình, người trả lại tự do cho mình một câu triệt buộc, không chừng bị coi là vô ơn, là không biết điều, thiếu đắc nhân tâm. Người ta chỉ có thể xùy ra cái mình có, cái mình được phép, chứ cái không thể thì làm sao có thể? Có phải vì thế mà khó minh oan, minh oan được rồi thì khó bồi thường, khó xin lỗi?

    Qua báo chí ta thấy có nhiều vụ án mà trong đó bị can hay người có liên đới trách nhiệm sau khi được xử phúc thẩm, giám đốc thẩm được tuyên trắng án do không phạm tội hay không có liên đới … cái rồi xù! Xù không chỉ từ người kết luận sai, tuyên sai mà cả từ người kế nhiệm, cả hội cùng xù. Tố Hữu có câu thơ thật hay:”Ai chiến thắng không hề chiến bại / Ai nên khôn chẳng dại đôi lần”. Biết vậy, nhưng thú nhận mình bại, mình dại lại không dễ. Hôm nay thú nhận thì mai làm sao cầm cân nẩy mực? Mà không chừng sau khi thú nhận thì lại bị hỏi một câu kiểu anh chàng Rumani trong phim thì càng chết. Thôi thì xù!(?)
    Khoan nói đến khía cạnh pháp lý của vấn đề, lượng tâm con người, lương tâm chức nghiệp để đâu? Buồn. Và câu hỏi triệt buộc tiếp tục bị bỏ lững với khuôn mặt anh cán bộ tư pháp bị đông cứng trên phim. Và có lẽ nhờ thế mà điện ảnh Tàu tiếp tực hốt bạc với các bộ phim không tập cuối về ông Thiết diện vô tư.

    Thế mới biết để có một văn hoá ứng xử phải đạo cũng là một thử thách cần dũng khí mới có được.

  4. #24
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết

    Re: Giữa đường lượm được

    5

    Sáng ra đọc báo Tuổi trẻ thấy hai bài nầy:

    Mỗi người một “cánh đồng bất tận”

    Không kể đến con số doanh thu ấn tượng (3,8 tỉ đồng cho bốn ngày công chiếu đầu tiên), vô số lời bình luận dành cho Cánh đồng bất tận - dù khen hay chê - là một dấu hiệu đáng mừng cho điện ảnh Việt. Mỗi ý kiến Tuổi Trẻ chọn đăng cũng là “Cánh đồng bất tận” của riêng mỗi người.

    Khi truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện, lập tức nhiều người đọc bị ngấm con chữ, bị nhiễm hơi văn của tác giả đến thành bị ám ảnh “cánh đồng”.

    Khi bộ phim cùng tên công chiếu, một người Việt ở Mỹ gọi điện về hỏi tôi vài điều quanh bộ phim. Anh hỏi phim có theo sát truyện không. Tôi trả lời anh phim theo sát truyện, giữ đúng các nhân vật, theo sát các sự kiện, tình tiết trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư. Cố nhiên có những thay đổi, sai khác chỗ này chỗ kia giữa phim và truyện là điều không thể tránh khỏi do đặc trưng của hai loại hình, do ý đồ đạo diễn, do cả sự duyệt phim nữa.

    Tôi vốn hay có tính so đo, đối chiếu khi xem một bộ phim làm từ, làm theo một tác phẩm văn học. Có những phim chỉ là minh họa cho truyện. Có những phim chưa thành tác phẩm điện ảnh. Ở phim Cánh đồng bất tận, nửa sau tôi như quên mất truyện, tâm trạng và cảm xúc bị đẩy căng đẩy tới qua từng trường đoạn phim cho đến khi vỡ ra khủng khiếp ở cảnh cuối người cha bất lực trả giá thấy con gái mình bị cưỡng hiếp ngay trước mắt.

    Nổi bật nhất về vai diễn ở phim này là Lan Ngọc trong vai Nương, con gái ông Võ. Lần đầu tiên đóng phim nhưng cô đã diễn xuất tự nhiên, hồn nhiên, lột tả được tính cách và số phận của một thiếu nữ sống trong một gia đình thiếu bàn tay người mẹ, bên cạnh người cha cục cằn, giữa khung cảnh đất trời hoang dã. Lan Ngọc bằng diễn xuất của mình đã gieo được vào lòng khán giả nỗi xót thương.

    Âm nhạc của phim mênh mang và sâu lắng, làm đầy những khoảng lặng của phim, khi những con người lẽ ra gắn kết với nhau rất chặt thì lại cứ rời nhau ra, lại không thể nói với nhau hay rất khó nói với nhau; những khoảng lặng ấy được đầy lên trong tiếng nhạc, nét nhạc như xoáy sâu, như an ủi, như khơi gợi.

    Cánh đồng bất tận từ truyện sang phim vẫn là nhịp kể, là cuộc sống thường ngày trôi đi bình lặng bề ngoài nhưng chất chứa sôi sục bên trong để rồi phải nổ tung lên, phải vỡ ra một cách dã man, tàn bạo hòng chấm dứt sự tàn bạo, dã man. Phim đã biết nuôi dưỡng và dồn nén cảm xúc nên tuy ít cao trào nhưng vẫn gây được “vụ nổ” tâm lý cho người xem, cả người đã đọc và chưa đọc truyện.

    Cố nhiên khi đọc truyện của Nguyễn Ngọc Tư, mỗi người đều có một “Cánh đồng bất tận” của mình, nên đứng trước “Cánh đồng bất tận” của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình cùng đoàn làm phim sẽ có nhiều ý khen chê, nhiều cách nhìn khác nhau. Tôi thì tôi đã thấy có một Cánh đồng bất tận mở ra từ truyện, hiện hình lên phim và đọng lại trong tôi.

    Pham Xuân Nguyên
    --------

    Dễ xem nhưng khó nhớ

    Xem Cánh đồng bất tận của Nguyễn Phan Quang Bình không khỏi ngăn tôi nhớ đến Mùa len trâu của Nguyễn Võ Nghiêm Minh. Cả hai đều chuyển thể từ tác phẩm văn học nổi tiếng của hai nhà văn “đặc sản” của miền Tây Nam bộ: Sơn Nam và Nguyễn Ngọc Tư. Cũng bối cảnh sông nước mênh mông ấy, cũng là số phận của những kiếp người trôi giạt, lang bạt với nhiều u tối, thù hận; những bi kịch của “đời cha ăn mặn đời con khát nước”... Và những đứa trẻ đang lớn lên trong thế giới đó đều phải trả giá đau đớn cho sự trưởng thành.

    Hai câu chuyện ở hai thời điểm khác xa nhau nhưng đều có chung những thông điệp sâu sắc về kiếp nhân sinh, đặc biệt cái kết của hai tác phẩm này đều để lại cho người ta nhìn thấy nụ cười hồn hậu, bao dung của người dân miền Tây Nam bộ...

    Những thông điệp này đều được cả hai bộ phim chuyển tải. Nhưng có những điều Mùa len trâu để lại sức lay động lớn mà Cánh đồng bất tận chưa làm được. Đó là tính biểu tượng và ngôn ngữ điện ảnh đậm nét trong Mùa len trâu: nước. Nước trong Mùa len trâu là thế giới của sự sinh tồn, tan rã mục rữa rồi tái sinh. Vì thế cái chết là một phần của sự hiện hữu. Đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh đã tạo nên một ngôn ngữ điện ảnh mang tính biểu tượng cao về thế giới của nước - “nhân vật chính“ của bộ phim này.

    Cánh đồng bất tận dễ xem và có thể đánh giá đó là một bộ phim khá, bởi đã có cốt truyện mạnh từ tác phẩm văn học được chuyển thể làm bệ đỡ. Nhưng ta sẽ khó nhớ về nó với nhiều dư âm, hoặc nói cách khác ta không tìm thấy ngôn ngữ điện ảnh mang tính biểu tượng của nó. Sau đoạn khởi đầu rất điện ảnh, bộ phim bị kéo lê đi một cách dàn trải, kể nhiều bằng lời mà ít đọng lại bằng hình.

    Và tôi thấy tiếc khi không tìm thấy được những khung cảnh mênh mông của một miền đất hoang dã, nơi những kiếp người trôi dạt không đất sống và cằn cỗi vì thiếu tình yêu thương lại càng trở nên đơn độc, bé nhỏ và lạc lõng giữa thế giới ấy. Những khuôn hình trung cảnh và đèm đẹp trở nên minh họa cho sự dẫn dắt câu chuyện càng về sau càng mất phương hướng, cuối cùng phải chọn một cái kết khá khuôn sáo.

    Lê Hồng Lâm


    Đã lâu lâu lắm rồi mới được đọc một bài điểm trúng huyệt của điện ảnh Việt Nam mà từ người làm phim, giới phê bình đến công chúng không màn tới. Điện ảnh là môn nghệ thuật thứ 7, nghệ thuật tổng hợp nên phim không chỉ có những lời thoại, dùng lời thoại của nhân vật để kể chuyện, còn lại thì là mà minh họa, thêm vào "cho đủ tụ", cho vui. Hình như mọi người đã quá quen với phim Tàu, Hàn, các nhân vật cứ xủa cẳng cẳngcho người xem biết cái gì đang diễn ra. Phim chỉ còn là thứ truyện dể dãi, không thấy văn chương, nhạc, tạo hình v.v đâu cả. Lười một chút thì không cần xem, nằm đó nhắm mắt nghe cũng đủ biết cái gì đang diễn ra. Xúc cảm thẩm mỹ trở thành cái gì đó xa lạ, phù phiếm. Người ta đổ lỗi cho "cơ chế thị trường". Người ta không chịu nhận mình chạy theo đồng xu. Người ta càng không dám thú nhận sự bất tài. Ngày xưa có một dòng văn học "cầu tiêu". Đó là những cuốn tiểu thuyết mà bàn dân kẹp trong góc cửa cầu tiêu để đọc giết thì giờ giữa hai cơn rặng, rặng xong rồi thì xé lấy vài tờ để ... Thời thế giới phằng, thời @, thời hội nhập đã có những cuộn giấy trắng, mềm, mịnh thỏa mãn nhu cầu kia nên văn học "cầu tiêu" được treo vào cái màn hình LCD chăng?

    Buồn cười thật, có đôi khi, sường rên lên vì vừa được xem một bộ phim mà mình không hiểu gì cả.

    Ước gì được xem lại "Sự im lặng của bầy cừu".

    Vội ghi mấy dòng rồi dong.

  5. #25
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết

    Re: Giữa đường lượm được

    6.

    Mươi năm trở đây hình ảnh chiếc trống đồng cùng hoa văn của nó trở nên quen thuộc với hầu hết người dân xứ nầy. Từ trên các panô cổ động hay quảng cáo to lớn đến các họa tiết trang trí mỹ thuật ứng dụng. Từ hình ảnh trọn vẹn chiếc trống đồng đến một đồ án hoa văn riêng lẽ nào đó. Thậm chí là “dập bản” nguyên chiếc trống với các kích thước khác nhau. Ai đã đi tiên phong trong việc “quảng bá” trống đồng Việt cổ cho người Việt đương đại nầy? Chịu, chỉ chắc chắn rằng không do một học giả, một nhân sỹ hay một tuyên huấn viên nào.

    Cũng hay đó chứ. Với mọi người Việt hiện nay, trống đồng Đông Sơn mặc nhiên được xem là biểu trưng, biểu tượng tiêu biểu của văn minh Việt cổ, văn minh Sông Hồng 4000 năm dù chẳng mấy ai biết rõ giá trị của nó là gì, cái giá trị đó từ đâu mà ra, mà có cần không biết nhỉ? Cao lắm là người ta đồn đại nhau về triệu “đô” nào đó của một cuộc ngã giá buôn đồ cổ. Nhưng có lẽ ồn ào hơn cả là những bài viết trên mạng. Bỏ ra một bên những bài thua giá về trống dồng Đông Sơn. Cái nầy thật dễ hiểu, đã gần 40 năm năm rồi khoa học lịch sử nước nhà dậm chân tại chổ; kể từ cuộc hội nghị khoa học năm 1974 (?) với bộ kỷ yếu 4 tập chưa có phát hiện-đọc được điều gì mới có ý nghĩa từ chiếc trống đồng.

    Đã hơn 100 năm kể từ chiếc trống đồng Đông Sơn đầu tiên được khai quật (trước năm 1889). Trăm năm là quảng thời gian không phải ngắn, giới sử học và khảo cổ học nước nhà đã làm được thật nhiều điều cho cha Lạc mẹ Âu khi trả về cho người chiếc trống đồng. Từ chổ người ta tìm nguồn gốc của nó ở sông Dương Tử, sông Hằng, thậm chí là vùng Lưỡng Hà hay nhiều đồ án hoa văn Đông Sơn được đọc ra tận Kapka hay bắc Âu! Giờ thì ai cũng biết khu vực delta sông Hồng và vùng cận nam là nơi phát hiện được nhiều trống đồng Đông Sơn nhất, nơi có nhiều trống to và đẹp nhất, cổ nhất dù địa bàn phát hiện rông khắp Hoa nam, ĐNÁ (lục địa và hải đão).

    Nhưng chính các đồ án hoa văn trên trống đồng mới là cái thuyết phục nhất về nguồn gốc, điều quan trọng là các giải hoa văn trên mặt và thân trống là sự tiếp bước có phát triển cả về hình dáng lẫn tư duy mỹ thuật, tư duy logic lẫn nhận thức về thế giới xung quanh của cư dân cổ đồng bằng và trung du bắc bộ Việt Nam, không chỉ là quan hệ Đông Sơn-Phùng Nguyên mà còn với cả trước đó.

    Đứng trước chiếc trống đồng Đông Sơn H1 (theo các phân loại của nhà nghiên cứu Áo F. Heger, 1902) người ta thấy choáng ngộp không vì sự kỳ vỹ mà ở độ tinh xảo cả trong việc đúc trống lẫn tính mỹ thuật của nó. Nhưng khác với nhiểu biểu trưng văn hóa, văn minh khác, trống đồng có một số phận khá khuất ẩn. Người Ai Cập cổ không chỉ có mỗi Kim tự tháp mà còn có tượng Nhân sư, các đền đài, văn tự và nhất là vết tích của một nền học thuật phát triển (trước hết là toán học), trước Kim tự tháp người Ai Cập cổ có nhiều công trình kiến trúc lớn, dù không lớn bằng nhưng cũng đủ thuyết phục tính bản địa của nó, Người Inca tương tự vậy, không ai tước đoạt được quyền sở hữu các Kim tự tháp của họ. Ngay người Kampuchia cũng không bị nghi ngờ về cụm đền Angkor dù họ tiếp thu nền văn minh cự thạch của Ấn độ.

    Trống đồng Đông Sơn không có được điều đó, ta phải là rất nhiều việc mới lấy lại được về ta cái của ta. Thế nhưng trong suốt 20 năm (1960-1970) làm việc tốt nhất của giới khoa học lịch sử nước nhà hình như không ai thấy một điều mà tôi cho là hết sứ kỳ lạ đối với trống đồng. Cái điều đã tạo nên số phận nhiều khuất ẩn và gây nhiều gian nan cho việc khẳng định tính bản địa của trống đồng Đông Sơn: dường như trống đồng Đông Sơn là một hiện tượng văn hóa và chế tác minh khí đột sinh lịch sử?

    (còn tiếp)
    Sửa lần cuối bởi SaigonGuider; 02-10-2011 lúc 11:59 PM. Lý do: điều chỉnh lỗi fontsize

  6. #26
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,509
    Thích
    470
    Đã được thích 1,296 lần trong 560 bài viết

    Re: Giữa đường lượm được

    Có một tay là sứ thần nhà Nguyên cũng có quảng cáo cho trống đồng Đại Việt ta đó lão: Kim qua ảnh lý đan tâm khổ, đồng cổ trung lương bạch phát sinh. :mrgreen:
    Dậm chân tại chỗ....Dậm !
    <marquee direction="left" scrolldelay="0"></marquee>

  7. #27
    Ngày tham gia
    10-10-2010
    Bài viết
    75
    Thích
    0
    Đã được thích 47 lần trong 24 bài viết

    Re: Giữa đường lượm được

    Trích dẫn Gửi bởi Trungsy1
    Có một tay là sứ thần nhà Nguyên cũng có quảng cáo cho trống đồng Đại Việt ta đó lão: Kim qua ảnh lý đan tâm khổ, đồng cổ trung lương bạch phát sinh. :mrgreen:
    Thì thế tôi mới thấy tiếc hôm duyệt binh 2.9 vừa rồi, sao ta không đem trống đồng ra nện để xem cái tay đại tướng nước lạ phản ứng thế nào ?
    Ước gì em hóa thành chum
    Để anh là gáo ùm ùm suốt đêm

  8. #28
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết

    Re: Giữa đường lượm được

    6.(tiếp theo và hết)

    Khi người Ai Cập cổ đại xây Kim tư tháp thì họ đã có nhiều kinh nghiệm xây dựng các kiến trúc bằng đá đồ lớn, phức ạp, họ cũng có nhiều công trình lớn khác về điền địa và thủy lợi. Nhất là Kim tự tháp “số một” của họ không phải là Kim tự tháp đầu tiên. Từ đó ta thấy người và xã hội Ai cập cổ đại đã có những bước phát triểntuần tự hợp lý, nhất là họ còn để lại văn liệu giúp đời sau hình dung bước đi của họ.
    Tần Thỷ hoàng đế không pải là người xây dựng Vạn lý trường thành, ông chỉ kết nối các đoạn trường thành có trước đó thành một hệ thống phòng thủ liên hoàn trên toàn tuyến biên giới phía bắc. Điều đó đồng nghĩa với việc Vạn lý trường thành ra đời cũng có từng bước đi bình thường.
    Người Khmer xây cụm đền Angkor là từ việc học người Ấn với các thợ xây nhiều quốc tịch (trong đó có cả người Đại Việt). Trước khi xây dựng Angkor thì người Khmer cũng đã có các công trình kiến trúc cự thạch to nhỏ khác nhau, tất nhiên có quy mô và thẩm mỹ kém hơn. Những điều nầy ta biết được là nhờ sự tồn tại các công trình di tích liên quan cũng như hệ thống tư liệu khác giúp ta hình dung các dân tộc nầy tạo dựng các kỳ quan ra sao, ta không thắc mắc truy nguyên nhiều.

    Trống đồng Đông Sơn lại không được vậy mà thậm chí dường như sự tồn tại của nó có một cái gì đó rất vô lý. Tôi không nhớ (hay không biết?) trống Hoàng Hạ được phát hiện năm nào, chỉ nhớ nó đã được người Pháp mang về nước từ cuối thế kỷ 19 để dự đấu xảo. Điều nầy chứng tỏ trống đã thu hút sự chú ý của người Pháp, của các học giả, thực tế là các học giả phương tây đã bỏ nhiều công sức tìm hiểu. Nguời có công lớn nhất thời đó, theo tôi, là F. Heger. Heger đã có công tập hợp một lượng lơn các tư liệu về trống đồng trong toàn bộ khu vực đã phát hiện, trên cơ sở đó ông tiến ành phân loại các trống đồng và chia thành bốn nhóm mà người ta gọi là H1, H2, H3, H4 đến giờ vẫn còn giá trị tham chiếu dù từng có các ý kiến phê phán hay xây dựng một hệ thống phân loại mới.

    Ở đạy tôi xin dùng hệ phân loại Heger cho dể hiểu và từng quen với nhiều người.

    Điều trớ trêu đầu tiên là các trống H1 là lớn nhất, đẹp nhất (cả về tạo dáng lẫn trang trí, chế tác) và nhất là cổ hơn cả, các trống H2 kém hơn H1 trên cả 3 tiêu chí trên, rồi cứ thế là H3. Cuối cùng trống H4 thì kém hơn cả về mọi mặt. Điều gây nhạc nhiên là trống được đúc một cách hoàn hảo. Mí giáp của khuôn rất khít, để lại trên trống một đường gờ nhỏ, thấp. Trống có độ dầy rất đều. Trống không bị bọt khí. Tất cả những đều đó chứng tỏ người thợ thủ công Đông Sơn rất lành nghề, họ nắm vững kỹ thuật đúc đồng. Giáo sư Hà Văn Tấn tiến hành so sánh và phân tích kỷ lưỡng một số trống H1 như Ngọc Lũ, Hoàng Hà, Sông Đà, Cổ Loa thì trống Ngọc Lũ to nhất, tinh xảo nhất, hoa văn đẹp nhất và … cổ nhất. Cái ngạc nhiên lớn thứ hai của tôi (hình như chưa ai nói đến), người ta chưa phát hiện được bất kỳ loại trống đồng nào đúc trước trống H1. Hoàn toàn không! Trước khi đúc những chiếc trống H1, người Đông Sơn có nhiều loại trống bằng chất liệu khác, sao họ không đúc các loại nầy bằng đồng? Để đúc được trống H1 họ có cần những bản nháp, những thiết kế thử nghiệm v.v.? Tại sao đến thời điểm G đó họ cần một chiếc trống bằng đồng như vậy? Một lý do về độ chín mùi về kỹ thuật, kinh tế là hẳn nhiên; vậy còn lý do xã hội (và có thể cả về tính ngưỡng hay chính trị) nào thúc đẩy sự ra đời trống H1? Tức là ta thấy có sự nghịch đời, cái cổ hơn cái tân! Đời sống thường của vạn vật là đi từ sơ đến tinh, rồi cuối cùng là suy, trống Đông Sơn thì không hề có sơ mà chỉ có tinh, rồi suy. Đó là một chút về phả hệ trống Đông Sơn, giờ ta xem rộng ra hơn.

    Đối chiếu các hoa văn trên trống H1 với hoa văn tên các di vật khác, cả gốm lẫn đồng, hoa văn trên trống đẹp hơn hẳn, da dạng hơn nhiều, thậm chí chỉ có trên trống mà vắng mặt trên các di vật khác trước nó hay có rất ít trên các di vật sau nó, ví dụ như hình nhà và thuyền! Duy chỉ các hoa văn kỹ hà học là có cuộc đời bình thường. Ngay cả trên phiến giáp hộ tâm bằng đồng cũng không thể so sánh chút nào về độ tinh xảo về đúc và đẹp về trang trí như trống H1. Mà ta biết một phiến giáp hộ tâm bằng đồng chắc chắn không là của “dân đen”, chỉ có thể là của bậc quyền quý, chỉ có thề là chủ sở hữu trống H1.

    Về kích thước trống cũng là một điều kỳ lạ. Trống Ngọc lũ có kích thước lớn “khác thường” so với các di vật khác mà ta biết được về thời đại nầy. Thậm chí khi nhìn quanh ta cũng không tìm ra một di vật nào sánh được với trống Ngọc Lũ trong toàn bộ vùng phân bố trống đống. Không rõ khu vực sông Hằng, Lưỡng Hà hay lưu vực sông Nile thì sao, cả di vật tìm được ở lưu vực sông Hoàng Hà cũng thua về kích thước và trang trí hoa văn! Nếu trống đồng là của bậc quyền quý thì tại sao chỉ có trống H1 là được chăm chút đến vậy mà những vật khác lại thua kém nó đến mấy bậc? Mọi thứ cứ tợ như các thợ đúc trống đó không cần những “bản nháp”, họ muốn là làm và làm một cái là được! Nhưng làm xong rồi thì họ lụt nghề nên về sau kém dần, rồi nhàn nhàn. Sau khi nhìn lướt qua theo lịch đại và đồng đại trống đồng Đồng Sơn cứ như được đột sinh là vậy.

    ***

    Từ một chút suy nghĩ về trống Đông Sơn tôi miên man liên tưởng đến “nhà nước Văn Lang”. Văn bản xưa nhất được biết tới về truyền thuyết Lạc Long-Âu Cơ là hai cuốn Lĩnh Nam chính quái và Việt Điện u linh. Hai cuốn nầy ra đời rất muộn, sau thời Bắc thuộc, và ghi lại những câu chuyện truyền khẩu. Ta không thể luận suy được bất cứ điều gì từ hai cuốn nầy về nguồn gốc, định niên đại cho câu chuyện. Cái có thể giúp ta có thể xác định chút nào niên đại cho “cha Lạc, mẹ Âu” là thư tịch cổ Trung Quốc, thế nhưng nguồn nầy cũng không chính xác gì lắm bời tính cao ngạo đại Hán cũng như cách suy xét sự việc thời thượng cổ theo cái khuôn phong kiến, đó là chưa nói đến việc mấy cuốn sách nầy cũng ra đời khá muộn so với thời “cha Lạc mẹ Âu”. Vậy là con đường truy văn bản xem như không sáng sủa, thôi thì nhờ khảo cổ vậy.

    Nếu lấy con số 4000 làm mốc định vị thì ta thử điểm lại các di vậy thuộc văn hóa khảo cổ Phùng Nguyên mà qua giám định C14 cũng cho con số 4000. Các di vật gốm thời kỳ khảo cổ nầy tuy phát hiện được rất nhiều, đa dạng về kiểu dánh cũng như về chủng loại và trang trí khá đẹp, có độ tinh xảo cùng mốt số xỉ đồng và dấu vết “dường như” là lò luyện đồng. Thế nhưng các di vật nầy xem ra cũng chỉ là các công cụ lao động, các vật dụng thường nhật hay vũ khí của người thời đó mà đa số dân chúng có thể sở hữu đươc. Điều nầy cho phép ta suy đoán là xã hội thời ấy đã khá phát triển, con người sống quần cư thành các tập đoàn (hay cộng đồng) đông, có sự phân công lao động. Nhưng với bấy nhiêu đó thì liệu nhu cầu nội tại xã hội thời đó đã cần tới một nhà nước với các thiết chế và cơ quan quyền lực cho sự cai trị chưa? Khó! Khó vì không có cơ sở cho xác nhận lẫn phủ nhận. Ta cũng chưa phát hiện ra một điều gián tiếp nào cho phép suy đoán về một “quyền lực cai trị” cả. Vậy thời Phùng Nguyên có thể tồn tại một nhà nước Văn Lang (dù rất sơ khai)? Không có sơ sở khẳng định. Quan điểm chính thống mấy mươi năm nay luận rằng thời nầy tồn tại một “liên minh các bộ lạc”. Vậy liên minh đó ra sao, thiết chế và cơ cấu quyền lực cũng như các tương quan và đối trọng quyền lực của liên minh nầy là gì thì … Cho nên cái liên minh các bộ lạc nầy khó mà khẳng định rằng đó là một nhà nước, rằng trên lưu vực sông Hồng và quanh đó có một nhà nước, một quốc gia, dù dưới hình thức “liên bang” hay “liên hiệp”.

    Sang thời kỳ Đông Sơn thì có. Những gì khai quật được cho phép ta tin về một xã hội phát triển, giàu có hơn hẳn, đồng thời cũng có nghĩa nó phân hóa sâu sắc hơn. Đó là trống đồng Đông Sơn, một vật phẩm như vậychắc chắn không phải là dễ có cho số đông dân chúng. Nó là biểu tượng của sự giàu có, mà giàu có luôn có sự đồng hành của quyền lực. Chuyện nầy được xác nhận của thư tịch cổ cũng như các tư liệu dân tộc học, văn học và … chính trị học. Đây ta có thể coi như có một hình thức (có thể là sơ khai) nhà nước nào đó. Giả định nầy được sự ủng hộ bởi sự phân bố trống đồng cũng như truyền bá văn hóa Đông Sơn khá mạnh ra nhiều nơi trong khu vực ĐNÁ. Tức xã hội Đông Sơn đã phát triển đủ cao để hình thành một thiết chế và cơ quan quyền lực thực thi sự cai trị từ chính nhu cầu nội tại của xã hội đó. Và đấy chính là thời kỳ tồn tại một nhà nước, một quốc gia (Văn Lang)?

    ***

    Cuộc miên man của tôi đến đây thì … tôi bậc cười to một mình. Tôi có mang tội phản đồ, phỉ báng hay xúc phạm hay không khi mình cắt bỏ lịch sử hơn 4000 năm văn hiến xuống chỉ còn hơn 2000 năm? Biết sao được. Tôi không phản, không phỉ, không xúc, tôi chỉ đi theo lối luận suy trên cơ sở khoa học. Xin hãy phản bác tôi trên cơ sở khoa học. Có điều ta cần lưu ý rằng tôi gắng con số 2000 với khái niệm nhà nước chứ không với khái niệm dân tộc. Có nhiều cơ sở cho phép ta suy đoán về sự hình thành dân tộc Việt từ 4000 năm nay, điều nầy có bệ từ chủng tộc học, ngôn ngữ học lịch sử và dân tộc học.

    Cuối cùng thì tất cả những gì trình bày bên trên cũng chỉ là những lan man suy đoán, giả định từ những gì khoa học tìm ra được cho đến gần đây. Hy vọng rồi thì sẽ có một ngày khoa học tìm ra được lời giải chân xác, tường minh. Nhưng cũng có thể, bằng sự thận trọng khoa học, ta sẽ chẳng có câu trả lời như ý nào. Lịch sử đã lùi quá xa, ta đã mất rất nhiều, khó mà tìm lại được đầy đủ, nếu không muốn nói là lắm cái nó vô phương. Song ta có thể kỳ vọng vào trí tuệ con người, rồi sẽ có một ngày, nếu ta vẫn chưa có câu trà lời khoa học cho các vấn đề trên thì sẽ có một suy đoán độc đáo kiểu như đối với vấn đề “trình độ chế tác đá trì trệ và lạc hậu” ở Việt Nam và ĐNÁ. Ngược lại tôi cũng không hề chờ đón những phát hiện mới những cái như chữ “nòng nọc” của người Lạc Việt trên trống đồng Đông Sơn.
    Sửa lần cuối bởi SaigonGuider; 03-10-2011 lúc 12:05 AM. Lý do: điều chỉnh lỗi fontsize

  9. #29
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết

    Re: Giữa đường lượm được

    Trích dẫn Gửi bởi Trungsy1
    Có một tay là sứ thần nhà Nguyên cũng có quảng cáo cho trống đồng Đại Việt ta đó lão: Kim qua ảnh lý đan tâm khổ, đồng cổ trung lương bạch phát sinh. :mrgreen:
    Thú thật tôi cũng muốn biết cai trống "bạc đầu đó là trống nào. Nhưng ... vô phương vì chỉ có câu thơ nầy là nói đến mà nay ta còn tìm được.

  10. #30
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,509
    Thích
    470
    Đã được thích 1,296 lần trong 560 bài viết

    Re: Giữa đường lượm được

    Băn khoăn gì nhiều ơi anh già? Vơ vẩn nhiều tóc nó đen lại thì bỏ m...ị...a :twisted:

    Thời kỳ đồ đồng thì SGK phổ cập rồi. Phùng nguyên, đến Đông sơn...có rất nhiều hiện vật, tại rất nhiều di chỉ...Công cụ lao động có, vũ khí chiến tranh có, đồ vật trang trí có... Có hiện vật thô sơ, cốt lấy tiện khi thao tác lao động. Có hiện vật có tính toán tới cả khí động và trọng tâm như mũi tên đồng Cổ loa ba cạnh. Nhưng Trống đồng Ngọc Lũ nó là đỉnh của đỉnh. Nó còn nằm nguyên kia. Các ông họa sỹ trang trí, hoặc vì lười, hoặc vì muốn "phát huy bản sắc dân tộc" vẫn dùng nguyên đai nguyên kiện các motip hoa văn của nó để kiếm ăn độ nhật. Lão bảo nó độp phát ra đời, tinh xảo kỹ thuật, tuyệt phẩm mỹ thuật ngay lập tức thì không thể đồng ý được. Hay lại nghĩ nó là quà tặng giao thương, hay cướp được mang ở đâu về ? Không ! Nó chỉ là tinh hoa của các đồ đúc kia mà thôi. Có thể một cái trống thờ nó phải khác một cái trống trận.

    Phương pháp xác định niên đại C14 của lão cho biết nó được đúc quãng 2500 năm trước phải không? Nghĩa là vào năm 490 trước CN. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là mùa xuân năm 40. Vậy là Trống đã đúc trước cuộc chiến này cả nửa thiên niên kỷ. Nhưng trong trận Lãng Bạc sầm trời tối đất, Mã Viện sai quân phóng uế lên mặt trống để nhử quân ta ra giao chiến trong điều kiện bát lợi. Đụng đến đồ thờ, đến hồn thiêng sông núi thì Đ...ai chịu được. Chi tiết này tất nhiên là dã sử, được ông Hà Ân hay Nguyễn Huy Tưởng phóng tác trong "Tiếng Trống Mê Linh"...Rồi chi tiết các Lạc hầu dùng tiếng trống để thông tin cho nhau (Ặc, hệt Phi châu)...Điều đó nghĩa là không thể nói trống đồng lụi nhanh. Có điều sau khi bình định Giao chỉ xong, Mã Viện gom tuốt tất cả các trống đồng của ta lại đem đun chảy. Đúc thành một cái trụ đồng kèm theo lới nguyền :"Trụ đồng chiết, Giao chỉ diệt". Biết đâu trong đám trống ấy lại có những cái tuyệt xảo hơn trống Ngọc Lũ ? Và Trống đồng Ngọc Lũ còn là do người Lạc Việt chống lại lệnh trên, đem chôn giấu chờ cuộc khởi nghĩa sau ?

    Một số các ông bà Tây thời Phú lãng sa sang đây "khai hóa", khách quan cũng nghiên cứu chán chê rồi cũng phân vân nghi ngại trước độ hoàn mỹ của cái Trống này. Đúc được thế, trong cùng niên đại ấy thì đến công tằng tổ tỷ nhà nó cũng không đúc được. Tỷ tỷ các loại hội thảo nữa để mà biện giải, để mà tranh luận...Cái xứ cát cứ vụn vặt bởi các Lạc tướng, cái dân Giao chỉ đầu bù răng bựa, ngón cái chòe ngang ra thế kia mà đúc được cái trống này à? Đây phải là một sản phẩm của một nền công nghệ có thiết chế nhà nước thống nhất vững mạnh, trong thời hoàng kim rực rỡ mới có lý phải không? Chúng nó sắp bảo là cái nụ cười Bayon là bắt chước nụ cười bí hiểm mụ La Gioconda cho mà xem. Đ...e...o ...mẹ cái bọn duy lý ấy Lão đừng có tin ! :evil: :evil: :evil:

    Lịch sử cha ông, chảy trong dòng máu cháu con đôi khi nó như một tín điều hay huyết thống mà không cần phải chứng minh. Chúng ta tựa vào đó để giữ trời giữ đất. Khi ta cúi lạy trước ban thờ, chẳng ai hỏi xưa cụ ta, ông ta có mấy bà, trót đập bao nhiêu cái niêu... mà chỉ có một lòng tận tâm dâng đấng sinh thành đã cho ta một cuộc đời, một mảnh đất để mà sống, để mà giữ lấy.... Có điều là nên công khai dần các tư liệu chuẩn thời nay để giúp các ông làm sử đỡ hao tâm tổn sức. Giúp con cháu đỡ băn khoăn khi tìm lại hình ảnh, truyền thống cha ông mình.

    Đừng có thấy trót làm sai thì phi tang hiện vật man rợ như cái thằng NĐNghĩa mà tòa đang xử. Không cái gì được phép đứng cao hơn Sự thật.
    Dậm chân tại chỗ....Dậm !
    <marquee direction="left" scrolldelay="0"></marquee>

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 2 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 2 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •