CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 3 của 14 Đầu tiênĐầu tiên 1234513 ... CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 137

Chủ đề: Nhật ký chiến trường.

  1. #21
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,230
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Khoảng trời người lính

    QĐND - Lê Anh Quốc sinh năm 1949 ở tỉnh Yên Bái, sinh viên Khoa văn ĐHTH Hà Nội,nhập ngũ tháng 8-1971, vào Sư đoàn 308A. Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, anh trở về trường cũ tiếp tục học tập rồi về quê nhà dạy học ở một trường PTTH.

    Lê Anh Quốc có năng khiếu làm thơ từ thuở học trò. Đi bộ đội rồi về dạy học anh vẫn tiếp tục làm thơ. Năm 2006, anh lâm bệnh hiểm nghèo do di chứng chiến tranh và từ giã cuộc đời, để lại tập bản thảo trường ca “Khoảng trời người lính” còn dang dở. QĐND Cuối tuần xin giới thiệu một số đoạn trong bản thảo trường ca của Lê Anh Quốc:

    Cuộc đời lính,

    đạn trước mặt

    Bom trên đầu,

    mìn vùi dưới đất…

    Sống và chết xem bằng gang tấc

    Thắng và thua đọ ở tinh thần



    Có phải thế? Chúng tôi, cả tiếng cười

    Cười chật đất, cười chật sông, cười chật suối…

    Đường ra trận nào ai tính tuổi

    Nên tiếng cười cứ lẫn vào nhau



    Nếu gom được xin giữ cho mai sau

    Phòng có giặc, thay làm vũ khí

    Nếu còn sống hãy đem về Bắc

    Những trận cười rừng rực sức trai



    Những nụ cười hình hoa mơ, hoa mai

    Rụng trắng gốc vẫn khát khao ngày xây quả

    Những trận cười thấm vào máu đỏ

    Chôn dưới mồ mà cứ vút bay lên…



    Những nụ cười mang hình cánh cung

    Làm thế trận bủa vây quân giặc

    Những nụ cười nối phương Nam phương Bắc

    Cứ trùng phùng theo bước những đoàn quân…



    Những nụ cười lau khô giọt lệ rơi

    Ngày toàn thắng nếu con không về nữa

    Mẹ hãy lắng nghe trong từng ngọn gió

    Có tiếng cười của đứa con yêu…



    Trận đánh này chúng tôi giữ điểm cao

    Quần cả tháng, lương ăn không còn nữa

    Giặc vây chốt đông như kiến lửa

    Phía chúng tôi còn lại mấy đứa thôi



    Không sợ giặc, không sợ bom rơi

    Cái sợ nhất lúc này là đói

    Đói vàng mắt, đói long đầu gối

    Đói phạc phờ, đói thừa cả chân tay



    Mà lạ chưa? Vào chính lúc này

    Chúng tôi lại đánh lui quân giặc

    Có lẽ vì chẳng cách nào khác được

    Có lẽ vì Còn- Mất đó thôi!



    Phía chân đồi, giặc đã rút rồi

    Cái đói lại xông lên ngợp chốt

    Không thể bắn và cũng không thể giết

    Muốn “cầu hòa”, cái đói không tha



    Đồng đội tôi gục xuống giữa chiều tà

    Gạo vừa tới, nồi cơm đang nấu dở

    Xoong canh rừng lục bục sôi trên lửa

    Bạn tôi đi… chẳng kịp bữa cơm no!



    Chúng tôi bảo nhau cúng bạn cả nồi to

    Cơm đấy, canh đây, bạn về ăn kẻo đói

    Sống giữ chốt, chết thành ma đói…

    Đêm đứt rời bởi những cơn đau!



    Từng trận đánh cứ nối tiếp nhau

    Như mùa lũ ngập tràn đôi bờ đất

    Từng chiến dịch mở bung mặt trận

    Như gió ngàn ồ ạt thổi võng thung



    Mùa mưa đi qua khô khát cánh rừng

    Cây trút lá ven đường tơi tả

    Đất như choàng tấm chăn màu đỏ

    Những nấm mồ đồng đội rực lên



    Tiến về Sài Gòn từ khắp nẻo Trường Sơn

    Đại bác, xe tăng chuyển rung thành phố

    Rầm rập những binh đoàn, ào ào thác đổ

    Cả nước dồn về, trùng điệp quân đi

    Các mũi tiến công thần tốc diệu kỳ

    Ngày mai hiện dần bằng xương bằng máu

    Ngày mai sẽ về gang tấc nữa thôi !



    Gang tấc nữa thôi

    Cờ giải phóng tung bay dinh Độc Lập

    Tổ quốc tưng bừng niềm vui thống nhất

    Chúng con sẽ về bên mẹ

    Mẹ ơi!

  2. #22
    Ngày tham gia
    29-09-2010
    Bài viết
    1,078
    Thích
    145
    Đã được thích 547 lần trong 331 bài viết
    Trích dẫn Gửi bởi trucngon Xem bài viết
    QĐND - Lê Anh Quốc sinh năm 1949 ở tỉnh Yên Bái, sinh viên Khoa văn ĐHTH Hà Nội,nhập ngũ tháng 8-1971, vào Sư đoàn 308A. Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, anh trở về trường cũ tiếp tục học tập rồi về quê nhà dạy học ở một trường PTTH.
    Bác này coi như cùng lứa với 6971, AKbanggap rồi.

  3. #23
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,230
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Giá từng thước đất


    Năm mươi sáu ngày đêm bom gầm pháo giội

    Ta mới hiểu thế nào là đồng đội

    Đồng đội ta

    là hớp nước uống chung

    Nắm cơm bẻ nửa

    Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa

    Chia khắp anh em một mẩu tin nhà

    Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp

    Chia nhau một cuộc đời, chia nhau cái chết

    Bạn ta đó

    chết trên dây thép ba tầng

    Một bàn tay chưa rời báng súng

    Chân lưng chừng nửa bước xung phong

    Ôi những con người mỗi khi nằm xuống

    Vẫn nằm trong tư thế tiến công

    Bên trái: Lò Văn Sự

    Bên phải: Nguyễn Đình Ba

    Những đêm tiến công, những ngày phòng ngự

    Có phải các anh vẫn nằm đủ cả

    Trong đội hình đại đội chúng ta?

    Khi bạn ta

    lấy thân mình

    đo bước

    chiến hào đi

    Ta mới hiểu

    giá từng thước đất

    Các anh nằm đây

    Trận địa là đây

    Trận địa sẽ không lùi nửa thước

    Không bao giờ, không bao giờ để mất

    Mảnh đất

    Các anh nằm.

    1954 – 1961

    Chính Hữu

  4. #24
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,230
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    NGHE TẮC KÈ KÊU TRONG THÀNH PHỐ



    Tắc kè

    Tắc kè... tôi giật mình

    Nghe
    Trên cành me

    Góc đường Công Lý cũ

    Cái âm thanh của rừng lạc về thành phố


    Con tắc kè

    Sao mày ở đây?

    Sáng ra nhìn soi mói mỗi cành cây

    Chả thấy con tắc kè đâu cả

    Khi chùm đèn thủy ngân xanh lên trong vòm lá

    Tắc kè kêu như tiếng vọng về



    Chợt hiện về thăm thẳm núi non kia

    Dưới lá là hầm, là tăng, là võng

    Là cơn sốt rét rừng vàng bủng

    Là muỗi, vắt, bom, mìn, vực sâu, đèo trơn…



    Những đoàn quân đi xuyên Trường Sơn

    Ngủ ôm súng suốt cả thời tuổi trẻ

    Đêm trăn trở đố nhau: Bao giờ về thành phố?

    Con tắc kè nghe, nhanh nhẩu nói: Sắp về!



    Sắp về

    Sắp về…

    Người bạn tôi rung võng cười khoái trá

    Ấy là lúc những cánh rừng trút lá

    Mùa khô năm một ngàn chín trăm bảy tư

    Ăn tết rừng xong

    Từ giã chú tắc kè

    Chúng tôi xuôi-ào ào cơn lũ đổ

    Các binh đoàn tràn vào thành phố

    Đang mùa thay lá những hàng me



    Lá me vàng lăn tăn trải thảm phố hè

    Chồi xanh lăn tăn nới đầu cành run rẩy

    Cơn gió thoảng chút hương rừng đâu đấy

    Hạt mưa đầu mùa trong suốt giữa lòng tay



    Người bạn tôi không về tới nơi này

    Anh gục ngã bên kia cầu xa lộ

    Anh nằm lại trước cửa vào thành phố

    Giây phút cuối cùng chấm dứt cuộc chiến tranh



    Đồng đội bao người không “về tới” như anh

    Nằm lại Cầu Bông, Đồng Dù và xa nữa…

    Tất cả họ, suốt một thời máu lửa

    Đều ước ao thật giản dị:

    Sắp về!



    Qua hai mùa thay lá những hàng me

    Cái tết hòa bình thứ ba đã tới

    Chao ôi nhớ tết rừng không hương khói

    Đốt nhang lên

    Chợt hiện tiếng tắc kè



    Tôi giật mình

    Nghe

    Có ai nói ở cành me:

    Sắp về!...


    Nguyễn Duy

  5. #25
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,230
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Bức thư gửi người cha liệt sỹ

    -“Cha Lê Văn Đảm của con ơi, cha có biết 43 năm trôi qua, trong lòng con lúc nào cũng nghĩ về cha, ước được gặp cha dù chỉ là trong mơ, mong được nhìn thấy cha một lần…”

    Lá thư ngẹn ngào gửi cha

    Vào một buổi sáng tháng hai năm 2008, tuy trời không mưa dầm như mọi khi nhưng gió mùa Đông – Bắc cứ ràn rạt thổi khiến mọi người không khỏi cảm thấy ái ngại mỗi khi phải ra đường. Thế nhưng vừa mới hơn 7 giờ sáng cô Nguyễn Thị Đào, nguyên là du kích xã Cam Thanh, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị đã tất tả vượt chặng đường hơn 5 cây số tìm đến nhà cựu chiến binh Trần Kiệm ở Đông Hà.

    Chưa kịp chào hỏi, giọng cô Đào đã oang oang ngoài ngõ: “Eng thấy như ri có lạ không, thư ni anh Mão đưa, ngoài thì gửi cho tui nhưng trong lại gửi cho cha là liệt sỹ, làm tui suốt cả đêm qua không ngủ được, cái cô gái viết thư nghĩ răng mà mần ri hè?”

    Đón nhận lá thư từ tay cô du kích xã năm xưa, ông Kiệm không khỏi cảm thấy hồi hộp. Liệu có sự nhầm lẫn nào chăng? Sau một hồi đắn đo, cuối cùng ông cũng quyết định đọc lá thư để tìm hiểu.
    Trong lúc mọi người nín thở để chờ được nghe lời giải thích, ông Kiệm hình như không còn biết đến xung quanh, chỉ thấy đôi mắt của ông hấp háy rồi nhòa lệ.

    Thư chị Thoa viết cho người cha đã khuất

    “…Khi cha ra đi con mới tròn 6 tháng tuổi. Con chắc rằng tình thương mà cha dành cho con lớn bằng cả trời cả đất. Vậy thì cha ơi! Giờ đây linh hồn cha ở nơi đâu, hài cốt của cha đang ở chỗ nào. Cha có linh thiêng hãy dẫn lối đưa đường cho chồng con, anh Hải con, và cả bác Mão bạn chiến đấu của cha được nhìn thấy để mọi người đưa cha về với con, với quê hương, và làng xóm bạn bè!”

    Là người từng lính đi qua chiến tranh, sau ngày đất nước hòa bình ông Kiệm đã không ít lần lặn lội đi tìm kiếm hài cốt đồng đội còn nằm lại giữa núi rừng miền tây Quảng Trị. Nhưng với ông, bức thư của một người con gửi cho cha là liệt sỹ thì bản thân ông chưa bao giờ gặp và nghĩ tới.

    Và lúc này đây, tiếng gọi cha thảng thốt từ những con chữ run run như kéo ông ngược về qua khứ, trước mắt ông là những địa danh như bãi Tân Kim, Cu Đinh- Ba De, cao điểm 135, 137, 160, con suối La La khói lửa ngút trời… trong đầu ông đì đùng tiếng bom rơi đạn nổ…

    Dù chưa thấy mặt nhưng tự đáy lòng mình ông đã xem cô gái tên Thoa, người viết bức thư mà ông đang cầm trên tay cũng chính là con gái của mình!

    Và rồi như sợ mọi người phải chờ đợi quá lâu, ông phá vỡ im lặng vỏn vẹn bằng một câu nói: “Chúng mình còn mắc nợ nhiều quá!”

    Tìm cha qua ký ức của đồng đội

    Chị Lê Thị Thoa là con gái của liệt sỹ Lê Văn Đảm, quê ở xã Quảng Minh, xã Quảng Xương, Thanh Hóa. Theo hồi ức của cựu chiến binh Nguyễn Hữu Mão, người cùng quê với liệt sỹ Đảm, vào ngày 1/5/1966 xã Quảng Minh có tất cả 5 người nhập ngũ và được phân công về cùng đơn vị C6, D2, E31, F341 là Nguyễn Huy An, Nguyễn Huy Cần, Lê Văn Đảm, Nguyễn Quang Lắm và Nguyễn Hữu Mão. Trong đó ông Mão là lính trinh sát, còn ông Đảm là y tá làm lính cứu thương.

    “Anh Đảm hơn tôi khoảng 3 tuổi, người thấp, nước da trắng, tính tình hiền lành hiền lành và chăm chỉ. Anh cũng rất hay chải đầu, tay có đeo nhẫn. Trong số 5 người ra đi đợt ấy chỉ có anh Đảm đã lập gia đình và có con. Đến khi chiến tranh kết thúc cũng chỉ có anh Đảm không về”- ông Mão kể.

    Ngay sau ngày các ông nhập ngũ, đơn vị được lệnh lập tức lên đường vào Nam chiến đấu. Với phương thức ngày nghỉ đêm đi để tránh sự phát hiện của máy bay địch, đồng thời vừa hành quân vừa huấn luyện để tiết kiệm về thời gian, đầu tháng 9/1966 đơn vị đã vào đến Quảng Trị. Hôm ấy, rạng sáng ngày 23/9/1966, đơn vị vượt sông Bến Hải rồi tạm dừng chân nghỉ tại Cu Đin- Ba De (khu vực giữa hai huyện Gio Linh và Cam Lộ) đợi đêm đến tiếp tục hành quân vào chiến đấu tại vùng Cùa, huyện Cam Lộ.

    Trong khi lực lượng bộ binh vừa hoàn thành công việc đào hầm hào để tạm trú ẩn thì lực lương trinh sát của đơn vị chạm trán và đánh nhau với lính thám báo Mỹ. Ngay lập tức máy bay và phi pháo của Mỹ đánh phá hết sức ác liệt khu vực Cu Đin- Ba De. Hai chiến sỹ hy sinh, trong đó có y tá Lê Văn Đảm. Đến khoảng 10 giờ sáng, chính ông Nguyễn Hữu Mão đã mai táng đồng đội của mình tại dốc Khế, khe Đá Bong thuộc xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ.

    Năm 1974, chiến trường Quảng Trị ngừng tiếng súng, ông Mão rời quân ngũ trở về quê sinh sống. Câu chuyện về sự hy sinh của liệt sỹ Đảm ngay trong ngày đầu đặt chân vào chiến trường Quảng Trị cùng với nhiều đồng đội ngã xuống trong biết bao trận đánh nảy lửa với quân Mỹ rồi cũng nhạt dần theo năm tháng cuốn theo biết bao lo toan của cuộc sống đời thường.

    Nhưng với chị Lê Thị Thoa, con gái liệt sỹ Lê Văn Đảm, qua lời kể của cựu chiến bình Nguyễn Hữu Mão, câu chuyện về sự hy sinh của cha mình ở chiến trường miền tây Quảng Trị không chỉ sống mãi trong tâm trí, mà còn là sự thôi thúc để chị thêm quyết tâm lên đường đi tìm hài cốt của cha. Và chị nhớ mãi hồi còn bé, tình cờ trong một lần đi làm đồng cùng người lớn “bác Mão đã xoa đầu tôi và bảo, sau này khôn lớn bác sẽ giúp cháu đi tìm mộ của bố”- chị kể.

    Chị còn bảo rằng mỗi lần nhớ cha quá, chị lại viết thư tâm sự với cha để lên bàn thờ một lúc rồi đốt đi. Sau này dù đã lập gia đình nhưng trong thời gian chưa tìm thấy mộ cha mình chị vẫn làm như vậy.

    Cha đã về với con

    Đến tuổi trưởng thành chị Thoa lập gia đình với anh Nguyễn Hữu Bình cũng là một người lính. Cuộc sống của 2 vợ chồng và 3 đứa con lúc bấy giờ hết sức khó khăn. Sau khi rời quân ngũ, năm 1988, anh Bình đi xuất khẩu lao động 2 năm ở Đức. Nhờ chịu khó làm lụng hai anh chị đã tích lũy được ít vốn liếng để buôn bán nhỏ. Bản thân cũng là từng là quân nhân, lại thấu hiểu tâm nguyện của vợ, từ năm 2000 anh Bình bắt đầu tìm gặp các cựu chiến binh cùng đơn vị với liệt sỹ Lê Văn Đảm để tìm hiểu về nơi chôn cất của bố.

    Tất cả những thông tin có được anh đều ghi chép hết sức cẩn thận vào một cuốn sổ tay và đợi ngày lên đường đi tìm mộ. Đầu năm 2008, anh Bình có mặt ở Quảng Trị, với sự giúp đỡ của nhiều cựu chiến binh Quảng Trị, trong đó có ông Trần Kiệm, và Nguyễn Thị Đào, ông Nguyễn Quang Thục …

    Họ đã tổ chức nhiều chuyến băng rừng vượt suối để tìm nơi chôn cất liệt sỹ Lê Văn Đảm. Tuy nhiên, chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ, núi rừng đã bị tàn phá, địa hình thay đổi nên việc tìm kiếm hết sức khó khăn. Vả lại sức lực của những người lính năm xưa giờ tuổi đã cao. tưởng chừng cũng khó vượt qua núi cao, suối sâu…

    Chính lá thư thiết tha của người con gái Lê Thị Thoa gửi cho cha là liệt sỹ Lê Văn Đảm đã thôi thúc ông Mão, bà Đào, ông Kiệm thêm quyết tâm để tìm cho bằng được nơi mai táng liệt sỹ Đảm.
    Và như có màu, sau quá trình tìm kiếm không ngơi nghỉ, họ đã may mắn nhận được thông tin: Ông Trần Dinh ở thôn Tân Hòa, xã Cam Tuyền vào tháng 10/2007 khi đi rà phế liệu ở giữa rừng ở dốc Khế, đã phát hiện di hài liệt sĩ Lê Văn Đảm và đã đưa về nghĩa trang liệt sĩ huyện Cam Lộ.

    Những di vật được tìm thấy cùng là một chiếc lược nhôm cùng với một chiếc nhẫn bằng nhôm mà ông Nguyễn Hữu Mão vẫn thấy liệt sỹ Lê Văn Đảm thường sử dụng và đeo trên tay trong suốt chặng đường hành quân vào Nam đánh giặc cho đến ngày hy sinh.

    Vài ngày sau đó, tại nghĩa trang Cam Lộ, người con gái đi cùng với những đồng đội của cha, đã nhất quyết đòi được nhìn thấy hình hài còn lại của cha trong làn nước mắt. Hai tháng sau, anh chị lại vào Cam Lộ. Lần này là để đón cha về, an nghỉ nơi nghĩa trang liệt sỹ Quảng Xương, Thanh Hóa quê nhà.

    Lá thư cuối cùng chị gửi cho cha – lá thư linh thiêng, cũng là lá thư duy nhất được giữ lại.

    Phan Tân Lâm

  6. #26
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,230
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Nắm đất nhỏ thay cho xương thịt anh

    - "Ba má ạ! Bây giờ con mới thấy nhớ nhà, nhớ ba má và anh chị em. Ở giới hạn giữa cái sống và cái chết nhiều lúc ứa cả nước mắt vì nhớ nhà".

    Bạn tôi kể lại: “Y Hoà xung phong đi bộ đội và năm 1972. Vào chiến đấu ở mặt trận Quảng Trị. Chiến trường ác liệt, Hòa hy sinh. Gia đình cũng chỉ được báo tử chứ không biết mộ phần ở đâu. Tìm kiếm mãi không kết quả, sau này gia đình ra Đồi Cháy (nơi Y Hòa hy sinh), lấy về nắm đất đưa vào Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Đắc Lắc. Coi đó là hài cốt của em…”.

    Và đây là bức thư cuối cùng của anh gửi về gia đình.

    Ngày 18 tháng 8 năm 1972

    Ba má thương nhớ của con!

    Hôm nay, từ Quảng Trị con viết thư cho ba má. Sau chặng đường hành quân vượt Trừơng Sơn nóng bỏng, con vừa nghỉ chân.

    Ba má ạ! Đến nay, tụi con mỗi đứa một nơi, không còn được sống chung với nhau nữa. Vẫn thuộc sư đoàn nhưng thằng Sơn (con chú Chiến) về đơn vị công binh, còn con với thằng Chấn Hưng ở lại tiểu đoàn cũ, vưà biên chế thành tiểu đoàn 12 ly 7 pháo phòng không của sư. Buồn quá ba má ạ! Hôm chia tay, thằng Sơn khóc quá. Hiện chưa biết nó ở đâu, Nam hay Bắc?

    Còn đơn vị con chỉ là đơn vị phục vụ chiến dịch. Buồn quá vì không đuợc ở bộ binh chiến đấu, mặt giáp mặt với quân thù.

    Con bây giờ gầy hơn trước vì vừa qua hai tháng gian nan, ác liệt. Vào đây mới thấy ở ngoài Bắc tụi con rèn luyện chẳng ăn thua gì cả. Lúc ở nhà thì sướng như tiên, vào đây thì chẳng có gì ăn, chỉ có cơm với muối thôi. Nhưng vì mệt nên ăn vẫn rất khỏe.


    Nấu cơm thì chật vật mất mấy tiếng đồng hồ mới chín vì máy bay quần suốt. Ngủ hầm thì ẩm thấp, lầy lội và muỗi nhiều vô kể. Sáng dậy vừa chui ra khỏi màn là muỗi đốt như điên, toàn nhằm vào đầu.

    Hành quân liên tục suốt ngày suôt đêm. Vác súng đạn nặng nên hai vai sưng đỏ rần cả lên. Có một điều may mắn là con vẫn chưa bị sốt rét lần nào cả. Không biết sẽ thế nào nhưng giờ thì vẫn khỏe. Vì đã xác định trước sẽ khó khăn gian khổ nên con quyết vượt qua. Nhiệm vụ chiến đấu là trên hết mà.

    Quảng Bình, Vĩnh Linh, Quảng Trị giờ là một nên dân chúng ra vô như đi chợ. Tuy vậy, ở vùng mới giải phóng còn khá phức tạp, chính quyền cách mạng ở đây phải rất vững. Có cửa hàng bách hóa của ta cung cấp nhiều mặt hàng và bán cả bằng hai thứ tiền. Hàng hóa Mỹ thì bãi bỏ triệt để. Dân chúng đã quen với B52. Khắp nơi chi chít những vệt bom B52, nhiều khu rừng đã bị chúng thiêu huỷ bằng địa.

    Ba má ơi! Hiện giờ chúng con vẫn nằm chờ chiến dịch. Ở Quảng Trị việc giành giữ đất rất gay go, nhất là vùng giáp ranh ngày nào cũng có chiến sự. Bọn con chỉ bắn máy bay thôi, nếu căng lắm mới hạ tầm để đánh bộ binh địch. Vì tiểu đoàn mới nhận súng và mới thành lập, chưa chiến đấu trận nào. Con và thằng Vũ Trung vẫn ở cùng một đại đội với thằng Hưng.

    Khi hành quân ở Trường Sơn, bọn con gặp nhiều đồng bào dân tộc Vân Kiều. Họ chỉ thích đổi gạo lấy gà chứ không thích đá lửa nên đá lửa con vẫn còn. Thuốc bổ Polyvitamine của má cho con vẫn giữ một gói.

    Má ạ, bây giờ mới thấy B1 là cần thiết vì không tài nào tìm được một cọng rau. Kiếm được ít lá khoai, lá sắn là mừng lắm. Bây giờ thịt hộp cũng chẳng còn, chỉ có mắm tôm, muối, ít ruốc nên người đứa nào cũng phờ phạc. Mì chính thì nhiều lắm, bọn con cứ pha từng thìa mì chính với nước lã làm canh chan ăn.

    Ba má ạ! Bây giờ con mới thấy nhớ nhà, nhớ ba má và anh chị em. Ở giới hạn giữa cái sống và cái chết nhiều lúc ứa cả nước mắt vì nhớ nhà.

    Biết đâu và vĩnh viễn con chẳng còn được thấy ba má và anh chị em con nữa. Trong chiến đấu điều đó đó trở thành bình thường, cái chết chẳng đe dọa được ai nhưng nó vẫn cứ rình rập đâu đây.

    Lính tiểu đoàn 56 cùng huấn luyện với tụi con vừa bị B52 rải thảm làm chết ba đứa và bị thương cũng nhiều. Tiểu đoàn con cũng bị máy bay ném bom và bắn rốcc-két, may mà không ai bị sao. Con vẫn giữ một cái ảnh của gia đình nhưng thiếu chị Thanh và thằng Trung, thằng Thắng. Nhưng cũng chẳng sao cả vì con vẫn nhớ và hình dung ra chúng nó.

    Ba má ơi, không hiểu ở nhà bây giờ ra sao? Ba má có được mạnh khỏe không? Anh Nguyên và chị Thanh học ra sao rồi? Chị Thanh năm nay có khỏe không, có đỗ đại học không? Con Nhung, thằng Trung, thằng Thắng năm nay chắc học ở Chi Nê? Má bảo rằng con vẫn mạnh khỏe và vẫn nhớ chúng nó nhé!

    Con vẫn hành quân, chưa nghỉ và chắc chẳng bao giờ nghỉ đâu. Còn Thái Hòa không hiểu bây giờ nó ở đâu? Chắc là nó thơm hơn tụi con rồi. Nhưng thôi, sau này về chắc tụi con sẽ lại thơm hơn. Chính trị viên của con nói chỉ còn đánh độ một hay hai chiến dịch nữa thôi.

    Cuối thư con chúc ba mà và cả nhà mạnh khỏe, chúc cả nhà gặp nhiều may mắn.

    Con của ba má.

    Quân giải phóng Bắc Quảng Trị – Y Hòa.

    Hòm thư của con: 651091 JA01

    TB: Con đã viết về nhà bốn, năm lá thư nhưng vẫn chưa nhận được thư nào.


    Hai tháng sau, ngày 16 tháng 10, Y Hòa hy sinh khi vừa tròn 18 tuổi.

  7. #27
    Ngày tham gia
    11-10-2010
    Bài viết
    207
    Thích
    93
    Đã được thích 179 lần trong 95 bài viết
    Trích dẫn Gửi bởi trucngon Xem bài viết
    Nắm đất nhỏ thay cho xương thịt anh

    Bạn tôi kể lại: “Y Hoà xung phong đi bộ đội và năm 1972. Vào chiến đấu ở mặt trận Quảng Trị. Chiến trường ác liệt, Hòa hy sinh. Gia đình cũng chỉ được báo tử chứ không biết mộ phần ở đâu. Tìm kiếm mãi không kết quả, sau này gia đình ra Đồi Cháy (nơi Y Hòa hy sinh), lấy về nắm đất đưa vào Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Đắc Lắc. Coi đó là hài cốt của em…”.
    Không tìm thấy phần mộ Y Hòa và hai đồng đôi, các anh em cùng nhập ngũ ngày 6/1/1972 ở cùng đơn vị tại sư đoàn 312 đã dựng một ngôi miếu ở chân Đồi Cháy.
    Ngôi miếu này nằm ở vườn của một gia đình.

    Chị chủ nhà kể nhiều chuyện vong của các anh. Thỉnh thoảng, ban đêm, chị và các cháu thấy các anh về, lúc thì ngồi ngoài sân khi thì ngồi đầu hè. Có hôm chị mạnh dạn đi ra đến nơi thì không thấy gì nữa.

    Khu vực này các đồng đội đã đào xới rất kỹ mà không tìm được gì.

    Dưới đây là miếu thờ Y Hòa và các bạn của anh. (Ảnh chụp ngày 30/4/2011)


  8. #28
    Ngày tham gia
    29-09-2010
    Bài viết
    231
    Thích
    37
    Đã được thích 114 lần trong 48 bài viết
    Đêm hôm nay mưa lại rơi tầm tã
    Rét run người như nửa thềm nắng hạ
    Mưa tắm ướt con đường nhựa khô chảy
    Và lòng ta khi ấy cũng như mưa
    ***
    Ta lại đi giữa mùa hè oi ả
    Khi nắng cháy đôi vai nặng trĩu
    Khi nắng đốt lưng ta cứng cỏi
    Khi máu hận bốc lên đầu con tim
    ***
    Ta yêu sao những cái gì bé nhỏ
    Mà xưa kia ta chẳng hề nghĩ tới
    Chính cái đó lại khắc đậm con tim
    Như những trái núi lửa sục sôi bao thế kỉ
    ***
    Trường sơn kia rồi, có gì là xa lạ
    Chờ đó em ạ, ngày thử lửa
    Leo lên dốc "Bóp" có thấm đâu
    Hay chỉ bằng của Trường sơn một nửa
    ***
    Ta lại đi cùng khẩu AK nóng bỏng
    Bởi sưởi nắng những ngày hành quân vất vả
    Và nó tắm bao mồ hôi rồi đấy
    Nó có nặng thêm hay như cái bóng bay?
    Bởi vì nắng,bởi vì mưa và nước mắt
    Bởi vì nơi xa đang rục rã lên đường
    Cùng dòng máu nóng mãi sôi sục ở trong ta
    ***
    Ta đi nhé đơn giản như khi "Tút" (*)
    Ta đi đây vui vẻ và khoẻ thêm người
    Bạn từ nay là lửa máu bên mình
    Bạn từ đây là cuộc sống đấu tranh
    Giữa một bên là chết và chiến thắng
    -*****-
    1-7-1972
    Thơ lính. người viết cũng là Y Hoà.

  9. #29
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,230
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Một bài thơ nói về những người ra đi từ trường Trỗi!

    Phù sa mặn

    Xin thắp nén nhang tưởng nhớ các anh hùng, liệt sĩ Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi (1965-70) đã hy sinh nơi cuối nguồn của những dòng sông.

    Kể đi sông ơi!* Tôi muốn nghe tất cả
    Hỡi con sông cõng nặng phù sa,
    Xứ Quảng Trị - dẫu quen mà rất lạ
    Bao lớp người qua, bao lớp đất bồi.

    Tôi đến bên sông với tâm trạng bồi hồi
    - Đâu rồi nhỉ? Đâu rồi lịch sử?
    Sông vẫn chảy mặc nhiên dáng trầm ngâm tư lự!
    Hãy kể tôi nghe… dù chỉ đôi lời…!

    Tôi vẫn biết: Trong suốt cuộc đời
    Sông cũng như người: Buồn vui đủ cả.
    Có khác chăng:
    - Sông đục phù sa mùa hạ.
    - Sông trong xanh nổi đá mùa đông.

    Nhưng sông ơi! Sông có còn nhớ không?
    Những đồng đội tôi đến bên sông ngày ấy
    Những con người đầu trần, lưng cháy
    Những ”thiên thần” đi xuyên bóng đêm!


    Có phải vô tình? Hay lâu quá sông quên?
    Như con nước vẫn đổ xuôi về biển…
    May có lớp phù sa - phù sa còn lưu luyến
    Giữ lại trong mình bao kỉ niệm xa xăm!

    Thời gian trôi qua khỏa lấp tháng năm
    Nhưng phù sa đến hôm nay còn mặn
    Mang trên mình vết thương chưa lành hẳn
    Lẫn xương, máu bao người
    nên phù sa có vị mặn… Sông ơi!

    Đồng đội tôi bao người đi xa rồi
    Nhưng sông không bồi - mà sông chỉ lở
    Những con người trẻ trung từng làm nên bão tố!
    Họ ở đâu bây giờ?
    chỉ có phù sa mới nói hộ sông thôi.

    Tôi muốn xới lên bao lớp đất bồi
    Để tìm dấu chân những đồng đội cũ
    Tìm những hương hồn bao năm yên ngủ
    Họ vẫn chưa về sau cuộc chiến tranh?

    Tôi đang đi trong vô tận mầu xanh
    Nghe phù sa vẫn thì thầm kể mãi:
    - Đây nơi quân vào, đây nơi vượt bãi…
    Tôi như trôi trong huyền thoại…
    chơi vơi!

    Sông vẫn vô tình đổ nước về khơi
    Đâu có biết tôi đang đi ngược dòng chảy.
    Bởi có phù sa!
    lớp phù sa rực một màu đỏ ấy!
    Vẫn mặn mà với bao chuyện đã qua.

    Ai đó trên sông đang cất tiếng ca
    Hát về chiến công của một thời xa ấy.
    Câu hát tỏa lan - xôn xao - sóng dậy.
    Như lớp phù sa – chập chờn mãi
    … trong tôi!


    Quảng Trị, 8-2002

    Nguyễn Xuân Lăng

  10. #30
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,230
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Thư chưa về đến tay cha mẹ, anh đã hi sinh
    24/07/2011 1553
    - Một lá thư dài đầy ắp chuyện của chàng lính trẻ giàu tình cảm cảm và nhiều suy tư. Nhưng anh đã hy sinh chỉ vài ngày sau đó, còn lá thư có lẽ rất lâu sau mới về đến gia đình.

    Lê Minh Tân là học sinh khóa 3 Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi. Sau khi tốt nghiệp, Tân vào học Bách khoa Hà Nội, rồi nhập ngũ và đi chiến trường. Anh đã anh dũng hy sinh ngày 1 tháng 4 năm 1974 tại mặt trận Quảng Nam.

    Tìm đến gia đình anh, chúng tôi đã nhận được những thông tin vô cùng quý báu. Trên tay tôi là tấm ảnh Lê Minh Tân với khuôn mặt đẹp trai, rạng rỡ, khoác trên mình bộ quân phục và anh đang đưa tay lên vành mũ trong động tác chào đúng điều lệnh.

    Xin trân trọng giới thiệu lá thư viết từ Quảng Nam - lá thư đầu tiên và cũng là lá thư cuối cùng của anh - gửi về cho gia đình:

    "Quảng Nam, ngày 26 tháng 3 năm 1974

    Ba má vô cùng kính mến!

    Nếu con vẫn cứ tiếp tục im lặng thì con sẽ là thằng con bất hiếu của ba má. Tinh thần của con chưa bao giờ phải chịu đựng trong trạng thái căng thẳng, tự mình phải nén lòng mình đến mức thế này. Hầu như từ Nghệ An vào đến đây con chưa nhận được thư nào của ba, còn thư và quà của gia đình gửi vào con đều nhận đầy đủ và nguyên vẹn.

    Con đã gặp chú Bân và nghe chú kể lại rất tỉ mỉ tình hình của ba má và gia đình ta ngoài ấy. Cũng không phải là con bận không có thì giờ để gửi cho gia đình một vài lá thư nhờ người ra Bắc bỏ hộ. Cứ mỗi lần nhận được thư nhà là một lần trong đầu con diễn ra sự xung đột tình cảm mãnh liệt và cuối cùng cái ý nghĩ chưa nên viết đã thắng. Mỗi lần như vậy con lại khóc thầm một mình ngoài rừng và càng nung nấu quyết tâm đi cho đến cái đích cuối cùng. Chính tuy ở khác đơn vị (cùng D nhưng khác C) nhưng nó rất hiểu tâm trạng của con và con cũng yêu cầu nó đừng nói gì về con trong những thư gửi về gia đình.

    Cho đến ngày hôm nay, con mới đến được cái đích đó: hôm qua, chi bộ đã làm lễ kết nạp con vào Đảng Lao động Việt Nam quang vinh. Con nghĩ, chỉ đến ngày hôm nay thì lá thư gửi cho ba má mới có giá trị và con mới đủ can đảm để nói cho ba má biết nguyên nhận tại sao con lại im hơi lặng tiếng lâu như vậy!

    Như ba má đã biết, con vào đây từ tháng 3 năm ngoái. Suốt thời gian ở đơn vị huấn luyện cũng như hành quân đi “B” con đều quyết tâm rèn luyện mình thực tốt trong tư tưởng cũng như chuyên môn. Con được cả đơn vị tin tưởng, yêu mến. Chi bộ cho con làm lí lịch kết nạp vào cuối tháng.

    Đùng một cái, con phạm khuyết điểm không kìm được tính nóng giận bất tử đã đánh một đồng đội chỉ vì nguyên nhân rất vô cớ: cãi nhau trong công tác kĩ thuật. Thế là bao nhiêu công lao xây đắp từ trước đến giờ sụp đổ tan tành. Hội đồng quân nhân rồi chi đoàn kiểm điểm về hành vi vô đạo đức của con. Con buồn và chán nản không để đâu cho hết. Có như vậy mới càng thấm thía lời ba dặn hồi còn ở nhà: “Phải suy nghĩ kĩ trước khi làm bất cứ việc gì!”. Con đã không làm đúng lời hứa với gia đình trước khi lên đường làm nhiệm vụ, con đã đi ngược lại đường mà gia đình đang đi, con không xứng đáng là con của ba má.


    Liệt sỹ Minh Tân



    Nhờ có chi bộ, Đảng uỷ, tiểu đoàn hết lòng giúp đỡ và anh em cũng nhìn thấy mặt tốt của con trước kia nên con kiên trì làm lại từ đầu. Dầu có khó khăn hơn trước rất nhiều, con vẫn phải làm vì con chỉ có một con đường là đi chung với ba má. Đến nay tròn một năm, một năm đầy thử thách với sự đi lên của con, nay con đã vinh dự cùng ba má gánh vác nhiệm vụ quang vinh của Đảng giao phó. Con biết đây mới chỉ là cái mốc đầu tiên, còn bản thân phải vươn lên nhiều hơn nữa mới đáp ứng đươc yêu cầu của cách mạng.

    Dù sao thì đây cũng là một cái mốc quan trọng phải không ba? Bây giờ con mới thấy lòng mình không bị cắn rứt vì những bức thư đầy tình thương mà ba má đã giành cho con. Bây giờ con mới thấy mình thực sự là người có ích cho gia đình, cho Tổ quốc.

    Nhận được thư của ba viết từ trại an dưỡng (tháng 12 năm 1973) con thương ba vô cùng. Thế là tai qua nạn khỏi, ba của chúng con vẫn còn mạnh khỏe chờ ngày sum họp như ước mong má nói trong thư gửi cho con trước đây. Tình hình chung của gia đình thế là không có gì thay đổi lớn, ngoài chuyện Bình về. Biết Bình làm ba má khổ thêm, con càng thương ba má. Tụi con lớn lên trong tình cảm trời biển của ba má mà đến nay chưa có đứa nào gíup ba má được việc gì cả. Tiến cũng đi theo xu hướng không lấy gì làm phấn khởi.

    Con chỉ muốn bay ngay về gia đình để ổn định lại trật tự tụi em cho ba má vui được phần nào. Nhưng nhiệm vụ lại không cho phép. Đến ngày con về không biết tóc của ba má bạc nhiều không? Nếp nhăn trên trán của ba má có lẽ dầy thêm vì lo nghĩ cho tụi con quá nhiều?

    Nhiều đêm mùa mưa trong này, nằm lạnh không ngủ được lại nghĩ mà thương cho ba má và các em ngoài ấy nhiều không để đâu cho hết. Làm cho ba má phải lo và ba mới mổ dậy phải ngồi viết thư dài cho con cũng là lỗi tại con. Ba má có tha lỗi cho con không? Con luôn nguyện cầu cho ba má và các em con mạnh khỏe mãi mãi thì con ở chiến trường bao lâu cũng được.

    Về phần con, từ lúc mới vào đây cho tới giờ cũng bị vài ba cơn “sốt rét nghĩa vụ”, mỗi lần kéo dài khoảng vài ngày. Tuy vậy, người con vẫn cứng cáp và thấy khỏe hơn trước rất nhiều. Sinh hoạt chuyển môi trường mà con không bị gầy và xanh đi chút nào. Nói vậy có khi ba má không tin nhưng tiếc là không có máy ảnh chụp gửi ra cho ba má vài cái làm kỉ niệm.

    Đơn vị từ lúc vào đến giờ chỉ làm công tác xây dựng và huấn luyện bổ sung nên mang tiếng là ở chiến trường mà chưa lần nào giáp mặt lính ngụy. Chúng con xây dựng chỗ ở đàng hoàng, có nhà xe, nhà ở, nhà bếp, nhà ăn, hội trường v.v... Dinh cơ to lớn và quy mô hơn bất cứ một đơn vị cơ sở nào tương đương cấp đại đội ngoài Bắc. Con cũng là một tay đi rừng lấy gỗ, lấy nứa, lấy lá vào loại khá (tất nhiên so với anh em thì chỉ là học trò!). Sống với anh em bộ đội xuất thân từ nông thôn mới thấy nhiều đức tính tốt đẹp và tình cảm chân thật, sâu nặng của họ. Con trưởng thành trong phấn đấu và từng công việc là nhờ anh em đấy.

    Từ tháng 8 năm 1973 đến giờ bộ đội toàn huấn luyện bổ sung và qua mấy lần bắn đạn thật đã chứng minh anh em ngày càng tinh thông trong khoa học và trình độ kĩ chiến thuật. Riêng lái xe thì tay lái khá lắm vì đã qua hàng nghìn cây số đường Trường Sơn, đã xử trí nhiều tình huống phức tạp hơn ở nhà trường.

    Con được phân công vào tổ giáo viên kĩ thuật, chuyên soạn bài và đi giảng ở các đơn vị. Không biết nghề sư phạm của má có giống như nghề của con đang làm bây giờ không? Tụi con ở đây tăng gia được nhiều lợn gà và rau xanh nên đơn vị ăn uống không đến nỗi nào. Tết vừa rồi trên không cấp gì nhưng tụi con mỗi đứa vẫn có hai bánh chưng, kẹo, tự nấu và thịt gà. Anh em đón Tết có chuẩn bị nên vui ra phết (chỉ không có tiếng pháo thôi), làm đủ các trò chơi và đi chúc Tết nhau. Đầy đủ lệ bộ!

    Ngoài khoản chăn nuôi thì khoản săn bắn cũng là một nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng. Lợn rừng, nai, hoẵng và cả hổ, voi nữa thỉnh thoảng bắn được. (Xin nói thêm, con cũng là một xạ thủ xông xáo và có uy tín của đơn vị đấy). Thuốc lá thì mỗi anh cũng có 10 điếu mỗi tháng nhưng chủ yếu là thuốc trong này (Cotab, Rubi Queen...…vv) do anh em đi công tác đồng bằng mua về. Nếu có điều kiện ba gửi cho con ít thuốc lá ngoài ấy. Nếu có Tam Đảo, Điện Biên... thì được coi như vàng vì rằng sinh hoạt bộ đội, chắc ba thừa hiểu, ngoài thuốc lá thì không còn gì “quần chúng và ấm cúng” hơn. Con không nghiện vì nếu nghiện thì đã nhảy sang hút thuốc lào từ lâu rồi, có thì hút còn không có thì thôi, chứ con không thể cảm tình được với cái điếu cày hôi mù.

    Hồi tháng 5 năm 1973, con có được xuống đồng bằng ở vùng giáp ranh giữa ta và địch – chợ Bình Sơn, Quảng Ngãi – để mua hàng. Con cũng có ý dò hỏi mọi người về tình hình xã mình (người ta gọi là xóm Giếng, thôn 2, không biết có phải?) nhưng không tìm được ai trong bà con của mình cả. Con chỉ được ở một ngày nên không có thời gian thăm hỏi nhiều. Vừa rồi có một chú ở Quân giải phóng, cũng dân Điện Hồng, tên là Bạn - nói có biết bác Tại nhà mình. Theo như chú Bạn thì bác Tại vẫn còn sống và đã vào Đà Nẵng làm ăn.

    Xuống giáp ranh thấy cảnh Bình Sơn tiêu điều, chợ có nhiều hàng nhưng nhỏ tẹo và họp mỗi ngày chỉ khoảng 2 tiếng (vì sợ địch pháo kích). Cái đồng hồ của ba cho con bị đứng, đem xuống dưới đó không có hiệu chữa nên con gửi thằng Phủ (cùng học điện ảnh với Thuấn đang công tác ở đó) đem chữa hộ. Vì con phải lên núi sớm nên nó vẫn đeo, không rõ có chữa được không và bao giờ mới gặp nó để lấy.

    Về tổ chức và tình hình chung của đơn vị hầu như không có gì thay đổi. Chính ở khác đại đội với con từ hồi vào Nghệ An đến giờ (vì hai đứa đều là dân kĩ thuật nên không thể cùng một đơn vị). Tuy vậy, nó vẫn sang chỗ con chơi luôn. Quà của ba má gửi vào con chia cho nó cùng hưởng. Khoảng cuối tháng này, bọn con sẽ đi làm nhiệm vụ ở một vị trí mới, sau đó sẽ chuyển sang nhập vào B3 (Kôn Tum).

    Con sẽ không còn ở cùng E với chú Bân nữa mà về E của chú Ngọ (hiện chú đang tập huấn ở ngoài Bắc như chú Bân, khoảng tháng 6 mới vào). Bọn con đã chuẩn bị chiến trường tương đối chu đáo mấy tháng nay, trình độ anh em được nâng cao rõ rệt qua huấn luyện bổ sung, khí thế mong muốn lập công trong trận đầu sôi sục toàn đơn vị. Con sẽ quyết tâm chứng minh lòng kiên trung, dũng cảm của mình với Đảng trong trận đầu. Bao giờ đánh xong con sẽ viết thư về báo lại với ba má, gia đình. Chắc chắn là có nhiều chuyện hay!

    Tình hình của con trong năm qua là như vậy. Bắt đầu từ nay con sẽ viết thư đều về cho nhà. Còn chuyện Nga hay Bích con đã quên từ lâu và những chuyện về họ con coi như một dây đàn câm tiếng. Trong này, con đã tiếp xúc với một lớp người khác họ hoàn toàn. Đó là những cô gái thanh niên xung phong, bộ đội giao liên hay gác ba-rie mà tụi con thường gặp, đã tạo cho con những suy nghĩ khác hẳn trước kia.

    Đối với con bây giờ chuyện vợ con quá vô nghĩa so với nhiệm vụ và những đồng đội quanh mình, con sẽ không bao giờ bận tâm về những chuyện vớ vẩn ấy.

    Thuấn vẫn hay đến nhà mình đấy chứ? Cho con hỏi thăm nó và chúc nó công tác tốt. Chỉ có nó là thằng bạn hiểu tương đối sâu hậu quả của những lối chọn bạn bất tử như con trước kia. Muốn về uống một bữa bia với chú Nghĩa nhưng phải hẹn dịp khác.

    Chúc gia đình chú mạnh khỏe và tụi nhóc cất được nhiều cá ở ao. Cho con gửi lời hỏi thăm cậu mợ Tầm, dì Mùi chú Ngọc, cô Lan chú Hải, cậu Kỵ và gia đình chú Lân “thọt” (không rõ thằng Thắng con của chú ra sao rồi?). Biết bà con mình khỏe là con rất mừng, tối lửa tắt đèn mà có nhau thì còn gì quý hơn! (Con không rõ có nên gửi lời hỏi thăm cô vợ mới của cậu Kỵ hay không?).

    Chúc ba má và các em mạnh khỏe, luôn gặp may mắn trong công tác và trong mọi chuyện khác. Ba cố gắng ăn khỏe cho lại sức ba nhé!

    Con của ba má – Minh Tân.

    (Suýt quên! Cho con hỏi thăm Thuỷ – bạn Tiến và chúc cô giáo mới mọi sự như ý. Nếu có thể bảo Thuỷ viết thư cho con).

    T/B: Chờ thư sau của con về hãy gửi thư cho con vì địa chỉ này chỉ có giá trị khoảng một tuần nữa thôi. Nhưng có thể gửi theo địa chỉ sau: 759-621 TB22.


    Đúng sáu ngày sau, Lê Minh Tân đã hy sinh. Đọc lá thư có cảm giác như anh đã dự báo trước điều gì!?

    Ngày 13/5/2007, nhờ nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, mà đồng đội anh là cựu chiến binh sinh viên tăng-thiết giáp, Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi cùng gia đình đã đón được anh về Nghĩa trang liệt sĩ Tp Hồ Chí Minh, sau 33 năm xa đất mẹ.

    Tạ Việt Chiến sưu tầm

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •