CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 14 của 14 Đầu tiênĐầu tiên ... 4121314
Kết quả 131 đến 137 của 137

Chủ đề: Nhật ký chiến trường.

  1. #131
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Lá thư cuối cùng


    Quỳnh ơi, ba không ngờ rằng lá thư này lại là lá thư cuối cùng con gửi về. Ở dưới suối vàng con có rõ. Đau lòng ba lắm hỡi Quỳnh ơi!” - Đó là những dòng tâm sự mà người cha của liệt sĩ Nguyễn Ngọc Quỳnh viết trên lá thư anh gửi về nhà năm 1971. Hơn 40 năm trôi qua, nhưng những con chữ như còn nguyên dấu nước mắt của người cha “tóc bạc khóc đầu xanh”...
    Lần theo thông tin trên những lá thư, chúng tôi liên hệ được với người thân của liệt sĩ Nguyễn Ngọc Quỳnh-chủ nhân của hơn mười lá thư được viết từ năm 1968. Hiện nay cha của liệt sĩ đã mất, nhưng qua câu chuyện với em gái liệt sĩ là chị Nguyễn Thị Nga trong ngày chị mang những lá thư của anh trai đến trao tặng Bảo tàng Lịch sử Quân sự, chúng tôi hiểu vì sao trong bao nhiêu lá thư gửi về chỉ duy nhất một lần người cha đặt bút viết lên thư con. Đó là bởi ông mong còn tiếp tục nhận được những lá thư. Thư còn về nghĩa là Quỳnh còn sống.
    Di ảnh liệt sĩ Nguyễn Ngọc Quỳnh. Ảnh: Tuấn Tú.
    Theo như lời kể của chị Nguyễn Thị Nga, năm 1968 khi đang học năm thứ hai tại Trường Đại học Thể dục thể thao, Nguyễn Ngọc Quỳnh làm đơn tình nguyện vào bộ đội. Sau 3 tháng huấn luyện tại vùng núi Yên Tử, Quảng Ninh “bắt đầu những ngày dầm mưa dãi nắng để đời bộ đội quen với gian lao, chuẩn bị cho bản thân sức chịu đựng dẻo dai, một nghị lực quyết thắng” (Thư viết ngày 1-11-1968), Nguyễn Ngọc Quỳnh lên đường vào Nam chiến đấu. Suốt chặng đường hành quân và chiến đấu trên chiến trường, chàng sinh viên Nguyễn Ngọc Quỳnh luôn dành khoảng thời gian ít ỏi của mình viết thư về quê nhà. Nơi ấy có ba mẹ và 7 người em nhỏ đang hằng ngày, hằng giờ mong tin anh. “Con vẫn rất khỏe, đang công tác và chiến đấu. Điều kiện sinh hoạt ở đây khá đầy đủ, không còn cảnh thèm từng cọng rau muống như hồi hành quân nữa. Người con vẫn như xưa nhưng rắn chắc hơn. Về cuộc sống, con cũng đã lớn lên rất nhiều. Thỉnh thoảng con mơ được về thăm nhà. Nhất là khi xem phim nói về miền Bắc, về Hà Nội. Nhớ lắm song chúng con vẫn vui vẻ vì ai cũng có chung tâm trạng, lại cùng vui đùa để xua đi nỗi nhớ” (thư ngày 19-5-1969).
    Những lá thư anh gửi về như tiếp thêm sức mạnh cho người thân ở hậu phương. Chị Nga tâm sự: “Tất cả thư anh gửi về, bố tôi đều đem ra đọc cho cả nhà nghe, sau đó từng người cầm đọc, cuối cùng đem lại cho bố tôi, để rồi tự tay ông để vào chiếc hòm sắt cất giữ cẩn thận”. Đọc những lá thư của Nguyễn Ngọc Quỳnh, thấy trong đó sự vững dạ của một người lính chiến nơi tiền tuyến, có tấm lòng của một người con luôn hướng về những người thân yêu.“Sau hơn bốn tháng hành quân, con đã vào tới địa bàn hoạt động của đơn vị. Suốt đường hành quân con khỏe, đi tốt, không có bữa nào chán ăn cả mặc dù suốt dọc đường bệnh sốt rét và điều kiện đường đi luôn đe dọa chúng con. Hiện nay con đang ở cứ học tập, chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới. Con đang ra sức phấn đấu học tập đồng đội để tiến bộ. Chúng con đi rèn sức để đánh Mỹ, tên đế quốc đầu sỏ. Con mong mọi người trong gia đình luôn khỏe để sản xuất và công tác tốt… Ở nhà từ ngày con đi các em con vẫn ngoan, học giỏi chứ? Thục thi cử ra sao? Nga có còn công tác ở trường cũ nữa không? Vườn ruộng thu hoạch khá chứ? Ông bà con khỏe không? Con nhớ ông bà quá!” (Thư ngày 19-5-1969).
    Những lá thư của liệt sĩ Nguyễn Ngọc Quỳnh. Ảnh: Tuấn Tú.
    Trong lá thư cuối cùng mà gia đình nhận được, Quỳnh viết:
    “Ngày 12-1-1971
    Ba kính mến! Vừa qua (14-12-1970) con nhận được hai lá thư của ba gửi hồi tháng 9-1969, tuy thư có lâu song con rất vui khi biết ba và toàn gia đình vẫn khỏe, công tác sản xuất tốt, các em con học tập tiến bộ. Tuy xa miền Bắc XHCN hàng nghìn cây số song tình cảm quê hương của chúng con vẫn rất gần gũi. Không một sự việc, một thành tích nào của miền Bắc, hay tội ác nào của giặc Mỹ mà chúng con không được biết qua Đài phát thanh. Con rất nhớ và luôn theo dõi từng ngày, từng giờ về sinh hoạt của miền Bắc.Con lâu nay vẫn khỏe, công tác chiến đấu tốt, được thủ trưởng, cán bộ và anh em trong đơn vị thương yêu. Nhờ sự giúp đỡ yêu thương của đồng đội cùng sự cố gắng của con nên sẽ không có khó khăn nào làm con chùn bước. Ba ạ! Con cố gắng nén nhớ thương để công tác, chiến đấu cùng đồng đội, chờ ngày sum họp gia đình. Ngày ấy chắc không còn xa lắm…”.Mong ngày hoàn thành nhiệm vụ để được đoàn tụ bên gia đình, chàng lính trẻ Nguyễn Ngọc Quỳnh luôn xông xáo trên chiến trường. Công tác và chiến đấu liên miên, thời gian nghỉ ngơi để biên thư về không nhiều nên trong hầu hết những lá thư gửi về anh đều tranh thủ động viên cha mẹ và các em. “Các em thương nhớ! Thông cảm cho anh nhé, lần sau anh sẽ viết cho ba mẹ và các em nhiều hơn. Cố gắng học tập, ngoan ngoãn, thương yêu nhau nhé. Thương các em nhiều”.
    Chị Nga kể: “Những lá thư anh Quỳnh gửi về ba tôi đều đánh dấu ngày, tháng cẩn thận vào một cuốn sổ. Có thư anh viết phải mất nửa năm mới về được đến nhà. Tuy chậm nhưng mỗi khi nhận thư là gia đình rất vui vì biết anh còn sống”. Ngày 8-3-1971, trong một trận cùng đơn vị tiến công ở phía tây Sài Gòn, Nguyễn Ngọc Quỳnh đã anh dũng hy sinh. Mãi đến ngày 8-6-1972 khi đơn vị báo tử về gia đình, cũng là lúc lá thư anh viết từ đầu năm 1971 về đến nhà. Đến nay, hài cốt liệt sĩ Nguyễn Ngọc Quỳnh vẫn chưa được tìm thấy, bởi vậy mà cho tới lúc lâm chung, cha anh vẫn không nguôi mong ngóng tin con…
    Vũ Văn An

  2. Có 2 người thích bài viết này


  3. #132
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    “Ai viết tên tôi thành liệt sĩ?”


    QĐND - Là người sống sót duy nhất trong trận chiến đấu diễn ra ngày 10-4-1972, giữa Trung đội 2 do Trung đội trưởng Mai Quốc Ca trực tiếp chỉ huy với 3 tiểu đoàn tinh nhuệ của địch, để rồi 24 năm sau (1996) ông mới có dịp trở lại chiến trường xưa đi tìm đồng đội. Ông lặng người khi nhìn thấy tên mình khắc trên bia mộ liệt sĩ trong khuôn viên nghĩa trang - nơi những đồng đội của ông đang yên nghỉ. Ông là cựu chiến binh Vũ Ngọc Thành, hiện ở thôn Đồng Minh, xã Vĩnh Phúc (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Tinh thần “1 thắng 100” Những ngày đầu hè rực nắng năm 2012, chúng tôi có dịp về vùng quê Vĩnh Lộc tìm gặp người cựu chiến binh tham gia trận chiến đấu diễn ra ngày 10-4-1972. Dưới bóng cây nhãn trước hiên nhà, ông Vũ Ngọc Thành kể cho chúng tôi nghe về trận chiến ấy.Đó là vào đêm 9-4-1972, Trung đội 2 với 20 chiến sĩ thuộc Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 9 (Trung đoàn Quang Trung), Sư đoàn 304 do Đại đội phó Nguyễn Văn Thỏa chỉ huy nhận nhiệm vụ mang 100kg bộc phá, tổ chức thọc sâu chiếm giữ và đánh sập cầu Quảng Trị (nay là cầu Thạch Hãn) nhằm chia cắt sự viện trợ của địch từ phía Nam ra các căn cứ quân sự ở Ái Tử, Đông Hà. Trận đánh của đơn vị nhằm tạo điều kiện để các cánh quân của ta mai phục sẵn ở hai bờ sông Thạch Hãn và các vùng phụ cận tiêu diệt lực lượng quân sự mạnh nhất của địch đang tập trung ở chiến trường Quảng Trị.Trung đội trưởng Mai Quốc Ca, quê ở xã Hà Hải (Hà Trung, Thanh Hóa), khi ấy vừa tròn 22 tuổi, dẫn các đồng chí trong trung đội hành quân, vượt qua nhiều đồn bốt của giặc. Sau khi tiêu diệt gọn một trung đội lính bảo an của địch ở xã Triệu Thượng, Triệu Phong (Quảng Trị), Trung đội trưởng Mai Quốc Ca tiếp tục chỉ huy trung đội áp sát khu vực phía bắc cầu Quảng Trị để tiếp cận mục tiêu cuối cùng.Rạng sáng 10-4, khi tiểu đội đầu tiên của trung đội do Trung đội trưởng Mai Quốc Ca chỉ huy xuất kích thì bị địch phát hiện. Ngay lập tức, địch điều ba tiểu đoàn lính tinh nhuệ gồm dù, biệt động quân và thủy quân lục chiến có máy bay, phi pháo, xe tăng yểm trợ tạo thành gọng kìm lớn bao vây trung đội.Nằm trong vòng vây kẻ thù, với tinh thần “chiến đấu đến khi nào ngừng thở”, “1 thắng 100”, 20 chiến sĩ của Trung đội 2 dưới sự chỉ huy của Trung đội trưởng Mai Quốc Ca đã anh dũng chiến đấu, đẩy lùi từng đợt tiến công điên cuồng của địch từ nhiều phía. Cuộc giằng co với quân thù từ rạng sáng đến quá trưa, 19 chiến sĩ lần lượt ngã xuống, còn lại duy nhất Vũ Ngọc Thành bị thương nặng ở bụng và chân.
    Cựu chiến binh Vũ Ngọc Thành bên ngôi mộ khắc tên mình trong khu mộ các đồng đội thuộc Trung đội Mai Quốc Ca.
    Trách nhiệm người ở lại Sau khi ngừng tiếng súng, địch phát hiện Vũ Ngọc Thành còn thoi thóp thở, chúng lập tức đưa anh về chữa trị tại quân y viện Nguyễn Tri Phương (Huế) hòng moi tin tức. Tại đây, Vũ Ngọc Thành được phẫu thuật nối ruột, sau đó đưa vào Bệnh viện Duy Tân (Đà Nẵng) tiếp tục chữa trị trong suốt thời gian 2 tháng. Khi sức khỏe bắt đầu bình phục, chỉ trong vòng mấy tháng, địch đã chuyển anh từ trại giam Non Nước (Đà Nẵng) vào nhà lao Bạch Đằng để tra xét. Không khai thác được gì, chúng lại trả anh về trại giam Non Nước, rồi sau đưa anh ra giam giữ ở nhà lao Phú Quốc.Hiệp định Pa-ri được ký kết, Vũ Ngọc Thành được trả tự do. Cũng thời gian này, ở quê, mẹ anh chưa hết tang chồng lại nhận được giấy báo tử của anh. Một năm sau, do thương tật nặng, anh phục viên trở về quê hương trong sự ngỡ ngàng của người thân và bà con lối xóm.Từ đó Vũ Ngọc Thành trở về với cuộc sống đời thường, lập gia đình, nuôi con ăn học với bao bộn bề lo toan. Nhưng với người cựu chiến binh ấy, hình ảnh các đồng đội của mình ngã xuống trước họng súng quân thù vẫn ngày ngày canh cánh trong ông. Dù ấp ủ dự định đã lâu, nhưng do hoàn cảnh kinh tế chưa cho phép, nên mãi đến tháng 6-1996, Vũ Ngọc Thành mới có dịp cùng thân nhân các đồng đội năm xưa trở về Quảng Trị; trở lại chiến trường xưa. Ông cảm thấy ấm lòng, khi biết các đồng đội của mình được bà con địa phương an táng cẩn thận và đã được cấp ủy, chính quyền quy tập về Nghĩa trang Liệt sĩ xã Ái Tử (Triệu Phong, Quảng Trị).Lần tay trên từng bia mộ, đọc tên từng đồng đội, cựu chiến binh Vũ Ngọc Thành bật khóc khi thấy phần mộ của mình nằm cạnh đồng đội trong nghĩa trang liệt sĩ. “Ai viết tên tôi thành liệt sĩ?/ Bên những hàng bia trắng giữa đồng” – ông Thành đã bất giác “sáng tác lại” câu thơ của nhà thơ Giang Nam như thế. Tất cả đã tề tựu đông đủ, đội ngũ chỉnh tề như ngày xưa trước khi xung trận. Nhưng giờ chỉ mình ông còn có thể gọi được tên của từng đồng đội và kể cho các thế hệ sau về trận chiến oai hùng ấy.
    Năm 1973, Trung đội 2 (sau này được đổi thành Trung đội Mai Quốc Ca) được Nhà nước truy tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân. Sau ngày đất nước thống nhất, hài cốt các anh được cấp ủy, chính quyền địa phương quy tập về Nghĩa trang Liệt sĩ Ái Tử, huyện Triệu Phong (Quảng Trị). Để ghi nhớ công ơn các anh hùng liệt sĩ Trung đội Mai Quốc Ca, ngay tại nơi các anh hy sinh, tỉnh Quảng Trị phối hợp với Bộ Giao thông vận tải đã cho xây dựng đài tưởng niệm.
    Bài và ảnh: Duy Thành

  4. Có 1 người thích bài viết này


  5. #133
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Quảng Trị Mùa hè cháy


    QĐND-“Mùa hè cháy” là những trang viết của một người lính dành cho mình, cho đồng đội trên chiến trường Quảng Trị mùa hè năm 1972. Không chỉ là những dòng nhật ký cá nhân mà ở đó còn có lửa và hoa, có tinh thần chiến đấu ngoan cường của những chiến sĩ Pháo binh đã dũng cảm vượt qua bom đạn khốc liệt của kẻ thù với ước mơ, hoài bão của tuổi trẻ vào lý tưởng cách mạng.
    Ngày 16-3-1968:
    Làm giáo viên của trường sĩ quan từ năm 1956 đến nay, đây là lần đầu tiên tôi xa đơn vị lâu ngày. Không, không phải chỉ xa mà rất có thể là đi hẳn. Nhưng tôi hiểu, để chuẩn bị cho những trận đánh bằng pháo lớn, đây là cơ hội và trách nhiệm cho những người như tôi”.
    Ngày đầu tiên hành quân vào Vĩnh Linh cũng là lúc Nguyễn Quý Hải viết nhật ký. Suốt những năm hành quân và chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị, hễ có lúc rảnh rang là ông lại viết. “Cuộc đời của người lính chiến đấu không gì oanh liệt bằng được xông pha trên chiến trường”. Theo kế hoạch tác chiến của trên, chiến dịch tiến công Quảng Trị lấy pháo binh là hỏa lực chủ yếu, có nhiệm vụ hiệp đồng chi viện cho các binh chủng hợp thành tiêu diệt từng cứ điểm, cụm cứ điểm của địch tiến tới tiêu diệt và làm chủ hoàn toàn địa bàn tỉnh Quảng Trị. Nguyễn Quý Hải, với vai trò là sĩ quan chỉ huy tác chiến của tiểu đoàn trong những trang nhật ký của ông giai đoạn này chỉ thấy chiến đấu liên miên, dường như không có lúc nào ngơi nghỉ…
    Ngày 30-3-1972:
    Ở khu vực đồi Không Tên (Đông điểm cao 182). Khu căn cứ lính thủy đánh bộ của địch ở Mai Lộc. Từ đài quan sát, chúng tôi có thể nhìn rõ và đo đạc chính xác các mục tiêu trong cụm cứ điểm của địch. Có hai trực thăng bay tới và hạ cánh ở sân vận động. Trợ lý trinh sát Ngô Thịnh chép miệng “nếu như lúc này được lệnh nổ súng!”. 10 giờ 49 phút trung đoàn nạp đạn. 11 giờ bão táp I bắt đầu. Toàn cụm pháo trung đoàn tiến hành bắn vào Z26, căn cứ Trung đoàn bộ binh 56 ở điểm cao 241. 11 giờ 24 phút đạn bắt đầu rót xuống Z39, căn cứ của Lữ đoàn lính thủy đánh bộ 147 đóng ở Mai Lộc. Bọn cọp biển chạy tán loạn.
    Ngày 1-4-1972:
    9 giờ một tiểu đoàn địch phản kích ra nam Mai Lộc tiến về phía chân đài chỉ huy. Đài tiểu đoàn gọi khẩu đội 2, Đại đội 6 bắn tan tác một đại đội ở khu bãi mít. Hai đại đội ở phía trước bị tiểu đoàn bộ binh đánh bỏ chạy. Tôi điều ngay khẩu đội 2, khẩu đội 4 bắn vào bọn địch rút chạy. Đạn trúng đội hình. Anh em bộ binh tấm tắc khen pháo tầm xa 130mm mà rót trúng như cối 120mm. Tiểu đoàn địch ra phản kích vội tháo chạy ra hai hướng.
    Đại tá Nguyễn Quý Hải (bên trái) và CCB Lương Minh Nghĩa, người lái khẩu pháo tự hành Vua chiến trường mà Trung đoàn Bông Lau thu được từ căn cứ 241 của Quân đội Sài Gòn năm 1972. Khẩu pháo này hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. (Ảnh do nhân vật cung cấp).
    Ngày 8-4-1972:
    Bộ binh ta đã thừa thắng tiến quân về phía căn cứ Phượng Hoàng, Ái Tử. Một mặt tôi cử đài quan sát của Đại đội 5 chuyển lên Ba Gơ để chuẩn bị chi viện cho bộ binh đánh Phượng Hoàng, một mặt cử đài tiền tiến do Trợ lý trinh sát Ngô Thịnh chỉ huy đuổi theo đội hình bộ binh để hiệp đồng tác chiến, nhưng chờ đợi hai ngày, đài của Thịnh vẫn chưa bắt liên lạc được với bộ binh. Đồng chí Thông, Trung đoàn phó khi đó ở Mai Lộc đã gặp tôi truyền đạt lệnh trung đoàn trong một ngày phải tổ chức chỉ huy bắn vào Phượng Hoàng, tôi và bốn chiến sĩ còn lại chủ động vượt lên tìm bộ binh để hiệp đồng và đã tìm được chỉ huy Trung đoàn bộ binh 24.
    Bước vào đợt hai của chiến dịch, địch đã có thời gian phản kích. Hỏa lực của hai bên mỗi lúc một mạnh hơn, ta và địch giành giật nhau từng tấc đất. Nhiệm vụ của Bông Lau tiếp tục chi viện cho Sư bộ binh 304 tiến công quân địch ở Ái Tử, chiếm cầu Quảng Trị. Chi viện cho Sư bộ binh 308 tiến công tiêu diệt địch ở cụm Đông Hà, Lai Phước, Sư bộ binh 324 đánh địch ở Lai Vang cắt giao thông trên Quốc lộ 1 ở đoạn cầu Mỹ Chánh.
    Ngày 9-4-1972:
    5 giờ 30 phút, Tiểu đoàn tập kích hỏa lực vào căn cứ Ái Tử, sau đó bắn kiềm chế các trận địa pháo bầy của địch để tạo điều kiện cho bộ binh, xe tăng đánh chiếm Phượng Hoàng.
    6 giờ 17 phút, xe đạn đầu tiên do Chính trị viên Hoàng chỉ huy đại đội chở về, pháo thủ trận địa vừa bốc xuống vừa nổ súng. Được viên nào bắn ngay viên đó. Pháo đặt ngay trên mặt đất. Tuy pháo có bắn chậm nhưng khi pháo bắn hết số đạn hiệp đồng thì xe tăng bộ binh mới phát triển tới đài quan sát. Tôi cho tiểu đoàn tiếp tục bắn kiềm chế vì pháo bầy của địch hoạt động khá mạnh, chặn đường tiến của bộ binh ta. 8 giờ, bộ binh làm chủ căn cứ Phượng Hoàng một cách thuận lợi. Nhưng đến trưa, do ta chưa kịp thời củng cố và có phần chủ quan, địch đã phản kích chiếm lại.
    Ngày 10-4-1972:
    Địch phản kích ra Phượng Hoàng, ta bắn đoạn 254 chặn mũi phản kích của chúng ở điểm cao 46. Tình hình Phượng Hoàng trở nên gay go, ta với địch giành đi giật lại.
    Ngày 12-4-1972:
    Bộ binh yêu cầu bắn vào điểm cao 46, có địch tập trung và có tướng Nguyễn Văn Giai tới. Đại đội 5 bắn. Đạn rơi gần nhiều. Nguyên nhân do đồng chí Chẩm mới ở pháo D74 sang nên lẫn góc tầm. Tôi đã kịp phát hiện và sửa kịp thời nhưng đã để lỡ cơ hội.
    Ngày 15-4-1972:
    Nhiệm vụ của Tiểu đoàn thay đổi. Khu đảm nhiệm chủ yếu của Tiểu đoàn là La Vang, Tích Tường, thị xã Quảng Trị. Hướng chuẩn 13-00. Ngày 20 phải hoàn thành mọi công tác chuẩn bị. Đài quan sát của Đại đội 4 đi với Trung đoàn bộ binh 3 bị địch bao vây, hai lần bị đánh bom và pháo kích. Đại đội trưởng Bảo và một trinh sát viên bị thương, số còn lại bị sức ép của bom.
    Ngày 22-4-1972:
    Trận địa của đại đội bị máy bay oanh tạc. OV10 bắn pháo khói chỉ điểm trúng vào phi xăng. Bốn bề trận địa cháy còn trơ lại bốn khẩu pháo của đại đội phơi mình dưới cái nắng cháy mùa hè. Bốn máy bay F4H thay nhau quần thảo bỏ bom vào trận địa từ trưa đến tận chiều. Một trái bom rơi trúng công sự cưa đứt càng pháo và văng những ống phóng đạn sang chung quanh. Một ống phóng văng tới trước cửa hầm chữ A của Khẩu đội trưởng Ma Phúc Nhúng và pháo thủ Trọng. Lửa phụt vào hầm thiêu cháy Nhúng và Trọng. Hai chục chiến sĩ bị thương và sức ép. Ngoài Nhúng, Trọng, bốn pháo thủ nữa đi tới trạm phẫu cũng hy sinh. Ba khẩu pháo của đại đội bị phá hỏng. Từ trên đài quan sát chứng kiến tận mắt máy bay địch oanh tạc, bom đạn trùm lên trận địa của mình, lòng tôi đau xót. Tôi là người chỉ huy của anh em mà chịu bó tay.
    Ngày 28-4-1972
    :
    Sau một tuần củng cố, Đại đội 4 đã có thể tiếp tục chiến đấu trả thù cho Khẩu đội trưởng Nhúng, Trọng và các liệt sĩ hy sinh tại trận địa ngày 22-4. Đại đội 4 đã bắn cháy một khu kho ở đoạn bắn 315 ngay từ loạt đạn đầu, mục tiêu cháy rất to. Đài quan sát của Đại đội 4 do đồng chí Bảo sửa bắn vào đoạn 372, mục tiêu cũng bốc cháy. Hôm nay pháo đất, pháo bầy của địch chỉ còn bắn được lẻ tẻ. Địch phải tăng cường chi viện bằng pháo hạm. Đánh trong thành phố, ta với địch giành đi giật lại quyết liệt.
    Ngày 30-4-1972:
    Có tin tướng Giai xin trực thăng để chuồn. 14 giờ 30 phút có trực thăng hạ cánh. Lệnh bắn đoạn 318. Đài quan sát của Đại đội 5 ở điểm cao 132 chỉ huy bắn vào La Vang, Tích Tường, sau đánh địch co cụm rút chạy từ Quảng Trị tới bắc Hải Lăng. Có tin địch ở La Vang, Tích Tường chuẩn bị tháo chạy. Tiểu đoàn tập trung đánh địch tháo chạy. Địch thả bom bi ngay khu hàng rào căn cứ Ái Tử, chứng tỏ chúng bỏ Ái Tử. Chúng thâm độc bỏ bom bi nổ chậm để diệt sinh lực ta.
    Ngày 3-5-1972:
    Xe cụm 3 hậu cần đã tiếp đạn vào tận Động Ông Do. Máy bay địch vẫn lồng lộn đánh bom vào trận địa pháo 105mm của 368 ở chân điểm cao Động Ông Do. Đại đội 5 trụ chắc ở trận địa bên bờ sông Thạch Hãn hai mươi tám ngày đêm chi viện Trung đoàn 3 bộ binh củng cố khu vực đã chiếm dọc sông Mỹ Chánh từ Tân Điền tới Hải Lăng, chặn đứng được nhiều đợt phản kích và là hỏa lực bảo vệ cạnh sườn cho bộ binh ở điểm cao 35, Mỹ Chánh, Phổ Trạch, được bộ binh tin tưởng. Ngọn cờ chiến dịch đã phấp phới tung bay ở cầu Mỹ Chánh, kết thúc đợt 2 chiến dịch thắng lợi to lớn. Mục tiêu của Bộ chỉ huy chiến dịch phấn đấu giải phóng hoàn toàn Quảng Trị trong tháng 6, vậy mà mới ngày 3-5 đã hoàn thành…
    Sau này, đồng chí Nguyễn Quý Hải dù mang trên mình những vết thương mà mỗi khi trái gió trở trời khiến ông đau nhức vẫn trở lại trường Sĩ quan Pháo binh tiếp tục công tác giảng dạy của mình. Kinh qua nhiều vị trí trong quân đội, khi về nghỉ hưu với quân hàm đại tá, ông vẫn tiếp tục làm việc không ngừng. Lần gặp gần đây nhất ông khoe tháng 9 này sẽ cùng các CCB Đoàn Bông Lau về thăm Quảng Trị-nơi ghi dấu một thời hoa lửa của ông và đồng đội.
    Bích Trang (biên soạn) theo Nhật ký của Đại tá Nguyễn Quý Hải, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Pháo binh 38 (Đoàn Bông Lau)
    Sửa lần cuối bởi trucngon; 19-08-2012 lúc 02:45 PM.

  6. #134
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Thơ gọi hồn liệt sĩ


    QĐND-Ngã ba Đồng Lộc nằm trên địa bàn xã Đồng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Trong những năm chống Mỹ cứu nước, đây là một trọng điểm hết sức ác liệt, hố bom chồng lên hố bom, không còn một cành cây, ngọn cỏ. Để bảo đảm giao thông được thông suốt, chúng ta đã hy sinh hàng trăm cán bộ, chiến sĩ và thanh niên xung phong. Chỉ riêng Trung đoàn Phòng không 210 bảo vệ ngã ba Đồng Lộc đã có đến 120 liệt sĩ. Trong thời gian chiến tranh, trọng điểm này đã sinh ra ba Anh hùng LLVT nhân dân (trong đó có “người con gái sông La” La Thị Tám) cũng nói lên một phần sự khốc liệt ở ngã ba này. Nói đến sự hy sinh anh dũng ở ngã ba Đồng Lộc, chúng ta không thể không nhắc tới mười cô gái, mà hình ảnh của họ hơn bốn mươi năm qua đã in đậm trong tâm trí mọi người. Cuối chiều ngày 24-7-1968, mười cô gái Tiểu đội 4 thanh niên xung phong do Võ Thị Tần làm Tiểu đội trưởng được lệnh ra mặt đường để san lấp hố bom do máy bay Mỹ vừa trút xuống. Khi mười cô đang mê mải san lấp hố bom, thì có hai chiếc máy bay phản lực của Mỹ từ biển bay vào trút bom xuống trọng điểm. Khói bom tan, đồng đội quanh vùng kéo đến thì không thấy bóng dáng một người nào trước quang cảnh những hố bom mới toang hoác, đất tung lên lấp kín một vùng rộng. Mọi người tìm đến vị trí có căn hầm chữ A, lúc đó đã bị vùi sâu dưới đất, cùng nhau đào đất, bới lên chỉ thấy thi thể của chín cô, tất cả bị chết do sức ép của bom, còn Tiểu đội phó Hồ Thị Cúc thì không thấy đâu. Suốt đêm 24 và sáng ngày 25, đồng đội đã đào tìm, nhưng đều không hiệu quả. Có người đề nghị làm lễ gọi hồn Hồ Thị Cúc để may ra biết được nơi cô đang bị bom vùi. Thế là người ta chuẩn bị một bát cơm úp (hai bát cơm úp vào nhau để được một bát thật đầy mà ở miền Bắc thường gọi là cơm lồng), một quả trứng luộc, một đôi đũa cắm xuống bát cơm. Thông thường, người ta gọi hồn bằng những lời đơn giản, nhưng trong trường hợp này, lời gọi hồn lại bằng… thơ.
    Nguyên nhân là trong số cán bộ phụ trách giao thông ở ngã ba này có kỹ sư Nguyễn Thanh Bính, một người thường sáng tác thơ với bút danh Yến Thanh, rất quen thân với Hồ Thị Cúc, đã từng tham gia dạy bổ túc văn hóa cho thanh niên xung phong ở đây. Và chính Nguyễn Thanh Bính đã đứng trước bát cơm, quả trứng, trước khói hương nghi ngút của một vùng ngổn ngang đất đá và hố bom… đọc bài thơ gọi hồn:
    CÚC ƠI

    Tiểu đội về xếp một hàng ngang

    Cúc ơi
    Em ở đâu không về tập hợp
    Chín bạn đã quây quần đủ mặt:
    Nhỏ - Xuân - Hà Hường - Hợi - Rạng - Xuân - Xanh
    A trưởng Võ Thị Tần điểm danh

    Chỉ thiếu mình em (Chín bỏ làm mười răng được?)
    Bọn anh đã bới tìm vẹt cuốc

    Đất sâu bao nhiêu bọn anh không cần
    Chỉ sợ em đau nên nhát cuốc chùng.
    Cúc ơi, em ở đâu?
    Đất nâu lạnh lắm
    Da em thì xanh Áo em thì mỏng
    Cúc ơi, em ở đâu?

    Về với bọn anh tắm nước trong Ngàn Phố

    Ăn quýt đỏ Sơn Bằng Chăn trâu, cắt cỏ
    Bài toán lớp 5 em còn chưa nhớ
    Gối còn thêu dở
    Cơm chiều chưa ăn.
    Em ở đâu hỡi Cúc
    Đồng đội tìm em: đũa găm cơm úp
    Gọi em Gào em Khản cả giọng rồi Cúc ơi…ời…ơi!
    Ngã ba Đồng Lộc, 25-7-1968 YẾN THANH (Nguyễn Thanh Bính)
    Ngày nay, ngã ba Đồng Lộc đã trở thành Khu Di tích lịch sử của Thanh niên xung phong cả nước. Mỗi ngày có hàng chục đoàn khách trong và ngoài nước đến viếng mộ mười cô gái, và khi đó, người giới thiệu, cùng với việc kể về tấm gương hy sinh của mười cô là đọc bài thơ này, làm người nghe không cầm được nước mắt. Càng cảm động hơn, nếu như ta hình dung mình đang có mặt ở ngã ba Đồng Lộc hôm làm lễ gọi hồn. Câu thơ mở đầu tự nhiên nhưng chứa đựng một nội dung hết sức đặc biệt. “Tiểu đội về xếp một hàng ngang”. Thanh niên xung phong sinh hoạt giống như quân đội, nghĩa là trước khi đi làm một nhiệm vụ gì thì xếp hàng ngang, để nghe tiểu đội trưởng phổ biến yêu cầu, mục đích công việc. Tiểu đội trưởng là Võ Thị Tần điểm danh, còn Hồ Thị Cúc là Tiểu đội phó, trong các lần tập hợp như vậy, luôn luôn đứng cuối hàng khi xếp hàng dọc và đứng về bên phải khi xếp hàng ngang. Đó là sự xếp hàng thông thường, nhưng hôm nay, cuộc xếp hàng này thật đặc biệt và cảm động làm sao: Thi thể của chín cô gái (trừ Hồ Thị Cúc) được đồng đội lấy ra từ căn hầm chữ A bị bom vùi đang xếp thành hàng ngang trên đất hố bom! Nếu như có Hồ Thị Cúc ở đó thì có lẽ đơn vị đã lo chuyện mai táng rồi, nhưng vì chưa tìm được Cúc, nên chín bạn còn nằm “chờ” như vậy. Thế “Em ở đâu không về tập hợp”, tác giả vừa hỏi, vừa nhắc tới tính kỷ luật vốn có của Cúc, để gọi em về cùng các bạn: Nhỏ - Xuân - Hà - Hường - Hợi - Rạng - Xuân - Xanh. Bạn đọc lưu ý rằng, trong mười liệt sĩ này có hai cô tên là Xuân, nhưng khác họ: Một cô là Nguyễn Thị Xuân, cô kia là Dương Thị Xuân. Với lòng yêu mến, trân trọng các liệt sĩ, chúng ta không chỉ nhớ tên mà nhớ cả họ của mười cô gái: Võ Thị Tần, Hồ Thị Cúc, Võ Thị Hợi, Nguyễn Thị Xuân, Dương Thị Xuân, Trần Thị Rạng, Hà Thị Xanh, Nguyễn Thị Nhỏ, Võ Thị Hà, Trần Thị Hường. Người nhiều tuổi nhất (Võ Thị Tần và Hồ Thị Cúc) là 24; người ít tuổi nhất (Trần Thị Hường) là 17.
    Cán bộ Binh đoàn 12 thăm Khu mộ 10 cô gái thanh niên xung phong xúc động nghe người giới thiệu đọc bài thơ “Cúc ơi” của Yến Thanh. Ảnh: Hồng Sơn.
    Cả đoạn đầu của bài thơ kêu gọi Cúc trở về với đồng đội, vì: “Chỉ thiếu một mình em/ Chín bỏ làm mười răng được”. Tác giả là người đồng hương Hà Tĩnh, ông nói với Cúc bằng một số từ địa phương, và nhắc tới một câu thành ngữ quen thuộc nhưng không thể dùng được trong hoàn cảnh này: “Chín bỏ làm mười” là thành ngữ chỉ sự phiên phiến, nhưng ở đây, mười cô gái hy sinh mà mới tìm được chín thi thể, thì không thể “phiên phiến” được. Tác giả là người trực tiếp cùng đồng đội bới tìm Hồ Thị Cúc. Đất bom đào lấp lên hàng mấy thước, nhấn chìm người bị nạn xuống sâu, nhưng với quyết tâm của những người đến cứu, “đất sâu bao nhiêu bọn anh không cần”, không quan tâm, không nhụt chí, miễn làm sao cứu được em. Ai đã từng tham gia cứu người bị bom vùi mà chưa xác định được vị trí cụ thể đều gặp một mâu thuẫn sau: Vừa muốn bới đào thật mạnh, thật nhanh để tranh thủ thời gian cứu người bị nạn, lại e sợ lưỡi cuốc của mình chạm phải nạn nhân nên không dám cuốc mạnh “chỉ sợ em đau nên nhát cuốc chùng”. Cúc ơi, em ở đâu? Đất nâu lạnh lắm Da em thì xanh Áo em thì mỏng Cúc ơi, em ở đâu? Dưới đất sâu lạnh lẽo chẳng hề phù hợp với em, một cô gái da xanh, áo mỏng, em nên về với đồng đội đi. Và, muốn trở về với đồng đội thì chỉ có cách báo cho biết “em ở đâu”. Điệp khúc “em ở đâu” được tác giả nhắc đến nhiều lần. Tác giả nhắc lại những kỷ niệm gắn bó với Hồ Thị Cúc như “nước trong Ngàn Phố”, “quýt đỏ Sơn Bằng” là những “đặc sản” của huyện Hương Sơn, quê của Cúc. Đó là lời níu gọi từ quê hương, còn đây là lời gọi em trở về từ những việc chưa làm được hoặc còn dang dở: Bài toán lớp 5 em còn chưa nhớ Gối còn thêu dở Cơm chiều chưa ăn… Chi tiết “cơm chiều chưa ăn” làm người đọc rưng rưng nước mắt, bởi như thế nghĩa là trước khi chết, Cúc và đồng đội còn đói! Mà bữa cơm của thanh niên xung phong trong thời kỳ ấy đạm bạc vô cùng. Trong chiến tranh, một lần đi công tác, do bị hỏng xe nên tôi được gửi lại, ăn nhờ ở một đơn vị thanh niên xung phong thuộc huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh trong ba ngày, bữa nào cũng chỉ có hai bát cơm độn ngô với một bát canh rau lang nấu mắm tôm… Nhưng ở ngã ba Đồng Lộc còn kham khổ hơn. Trong bài “Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc” tôi có viết về chuyện ăn ở đây: “Bữa ăn cuối cùng mười chị em không có gạo/ Nắm mì luộc chia nhau rồi vác cuốc ra đường”, được ông Nguyễn Tiến Tuẫn, một trong ba anh hùng ở ngã ba này tâm đắc vì nói đúng “bữa cơm” không có cơm trong nhiều tháng liền của họ. Đồng đội gọi, quê hương gọi và những việc làm dang dở gọi chắc đã thấu cõi tâm linh hay vì một sự ngẫu nhiên mà sau khi bài thơ gọi hồn vừa đọc xong thì người ta phát hiện ra nơi Hồ Thị Cúc bị bom vùi: Đó là một chiếc hầm cá nhân cách hầm chữ A trên hai chục thước. Khi nhát cuốc chạm phải cán xẻng dựng ngược thì anh em thận trọng và khẩn trương đào từng lớp đất lấp và gặp chiếc nón và đào xuống dần. Thì ra khi nhảy xuống hầm trú ẩn, Hồ Thị Cúc đội nón và không rời chiếc xẻng của mình! Khi gặp hai bàn tay của Cúc thì không ai cầm được nước mắt: Mười ngón tay máu bầm, sưng tím và phình to như ngón chân cái!Thì ra sau khi bị bom vùi, Cúc còn sống và tìm mọi cách cố cào, bới để thoát ra, nhưng không thể… Nhưng dù sao, Hồ Thị Cúc đã trở về cùng đồng đội. Và sau ba lần chôn cất rồi di chuyển, cuối cùng mười cô gái lại về nằm bên nhau trong nghĩa trang Đồng Lộc, dưới bóng cây bồ kết, trong khói hương ngào ngạt và lòng thương nhớ của đồng bào cả nước. Và mỗi lần có đoàn khách đến nghĩa trang, không chỉ Hồ Thị Cúc mà cả tiểu đội lại được nghe bài thơ gọi hồn “Cúc ơi” trong giọng đọc đầy xúc động của người giới thiệu, giống như 44 năm về trước, chính tác giả Yến Thanh đã đọc để gọi Cúc về.
    Vương Trọng
    Sửa lần cuối bởi trucngon; 22-08-2012 lúc 09:14 AM.

  7. Có 1 người thích bài viết này


  8. #135
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Một liệt sĩ hy sinh cách đây đã 40 năm, nay đã được trở về đất mẹ trong sự mừng vui, xúc động khôn xiết của cả gia đình. Người chiến sĩ hải quân tàu không số ấy đã được một phụ nữ - cựu dân quân và cũng là cựu nhân viên công an tốt bụng chôn cất, chăm sóc phần mộ. Và cũng từng ấy năm, bà đeo đuổi hành trình "gõ cửa" các cơ quan chức năng để trả lại tên cho người chiến sĩ anh hùng.
    Quên mình vì đất nước


    Thấm thoát đã 40 năm kể từ khi em trai là liệt sĩ Dương Thành Hiến hy sinh, nhưng những ký ức năm tháng tuổi thơ và người em trai đoản mệnh vẫn chưa phai mờ trong tâm tưởng ông Dương Mạnh Thắng ở tổ 6, khu 6, phường Yết Kiêu, Tp Hạ Long (Quảng Ninh). Bố mẹ ông Thắng quê gốc ở xã Yên Giang (Quảng Yên), sau đó chuyển ra xã Thành Công, thị xã Hòn Gai (Quảng Ninh) sống.
    Năm 1950, cậu bé Hiến chào đời ở vùng đất mỏ, từ nhỏ đã thấm vị mặn mòi của biển. Cũng như bao người dân nghèo lam lũ khác, cuộc sống gia đình đều trông chờ vào những lần ra khơi đánh cá. Những chuyến đi biển, những năm tháng cha mẹ tất tả làm lụng, nuôi lớn anh em Hiến trưởng thành. Trong 9 anh chị em, Hiến bảnh trai nhất nhà, người cao dong dỏng, bản tính nhiệt tình, cương trực.
    Bố mẹ Hiến tham gia kháng chiến sớm, mẹ Hiến công tác trong hội phụ nữ của xã. Chính vì vậy, chàng trai Dương Thành Hiến luôn khát khao được đi bộ đội, cầm súng bảo vệ đất nước. Những năm tháng ấy, trai tráng trong làng hăm hở lên đường tòng quân theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, đánh đuổi giặc Mỹ giành độc lập. Hiến cũng từng tình nguyện viết đơn bằng máu, mong muốn sớm được nhập ngũ. Rồi ước nguyện đã thành khi Hiến được chọn đi bộ đội Hải quân khi vừa tròn 20 tuổi.
    Là dân biển, nên khi trở thành lính hải quân, Hiến phát huy hết sở trường, tố chất sáng dạ trong chiến đấu. Hồi đó, đồng đội rất cảm phục chàng trai trẻ nước da đen sạm luôn cần mẫn luyện tập các phương án tác chiến và cũng rất dũng cảm, ngoan cường bám tàu dưới làn mưa bom lửa đạn của kẻ thù. Và không chỉ riêng Hiến, các thủy thủ đoàn của các tàu không số thuộc Lữ đoàn vận tải 125 Hải quân đều là lính "cừ" bởi được tuyển lựa rất kỹ lưỡng về kinh nghiệm hàng hải, thể chất và chính trị để đảm đương được nhiệm vụ vận chuyển cán bộ bí mật, vũ khí, đạn dược và hàng quân sự khác... vượt đường biển nhằm chi viện cho chiến trường miền Nam.
    Trước khi làm nhiệm vụ, các chiến sĩ được truy điệu sống và với họ, hy sinh cho Tổ quốc là một vinh dự. Cũng chính bởi ý chí của những người lính bình dị mà cao cả ấy, con đường Hồ Chí Minh trên biển với những chuyến tàu không số đã trở thành con đường huyền thoại lịch sử của niềm tin tất thắng, góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong thời gian rảnh rỗi hiếm hoi, Hiến chỉ tranh thủ về thăm nhà một lần duy nhất. Lần ấy, cả gia đình rất mừng khi thấy Hiến rắn rỏi, chững chạc hẳn. Và đó cũng là lần gặp mặt cuối cùng. Trong trận đánh ngày 16/4/1972, binh nhất cơ điện Dương Thành Hiến đã anh dũng hy sinh.

    Tiến hành an táng hài cốt liệt sĩ Dương Thành Hiến tại nghĩa trang liệt sĩ Hà Tu, Quảng Ninh.
    Ông Phạm Hồng Hải, cựu chiến binh đoàn tàu không số bị thương nặng, may mắn sống sót trong cuộc chiến đấu với không quân Mỹ hôm đó nhớ lại, tại bến K20 (huyện Thủy Nguyên), tàu 603 và tàu 609 thuộc Đoàn tàu không số đang bốc hàng để vận chuyển vào chiến trường miền Nam bị trúng bom B52 của máy bay Mỹ nổ tung làm 19 cán bộ, chiến sĩ hải quân hy sinh. Sau trận oanh tạc ác liệt, đồng đội và nhân dân chỉ an táng được 11 liệt sĩ.
    Nhận được giấy báo tử con trai hy sinh, mất tích thi thể và di vật, ba mẹ Hiến như chết lặng. Vẫn biết chiến trường ác liệt, ranh giới giữa sự sống và cái chết rất mong manh, nhưng gia đình vẫn không ngờ, Hiến lại vĩnh viễn ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ. Nhớ con quay quắt, ông bà xây ngôi mộ giả ngoài nghĩa trang, làm thủ tục "chiêu hồn, nhập mộ" để ra thắp hương, tưởng niệm, cho anh linh con trai thân yêu luôn ở gần gia đình, quê hương.
    "Hành trình" trở về
    Trở lại trận đánh ác liệt hôm đó, cô dân quân Đào Thị Minh ở đường Hùng Vương, Hồng Bàng (Hải Phòng) khi đi bắt cáy ven bờ sông Cấm đã phát hiện xác một thanh niên nằm úp dạt vào bờ. Thấy vậy, Minh vội quay lại gọi 3 dân quân đang ở chòi ra phụ giúp, khiêng xác lên bờ sông tắm rửa cho sạch bùn đất. Người thanh niên bị thương nặng vì trúng bom, trên người có mặc áo hải quân, bên ngoài mặc chiếc áo đại cán màu tím, trong đó vẻn vẹn có dòng chữ "Bộ đội Củ Chi, Đoàn tàu không số, vận tải hàng Bắc- Nam". Nhận định đây chính là thi thể của chiến sĩ hải quân, cô tất tả trở về xã lấy ván, nhanh chóng khâm liệm và chôn tại mảnh vườn cách nhà chỉ vài chục mét.
    Kể từ ấy, những câu hỏi luôn lởn vởn, thường trực trong tâm tưởng người nữ dân quân tốt bụng: anh chiến sĩ hải quân đó là ai, có phải quê ở Củ Chi không? Tại sao chẳng có ai nhận mộ? Nhưng qua bao nhiêu năm, những băn khoăn đó vẫn chưa có lời giải. Bà Minh cũng có người em hy sinh ở chiến trường miền Nam chưa tìm được hài cốt, nên càng đồng cảm hơn với hoàn cảnh ** le của người chiến sĩ xấu số. Cứ mỗi dịp thanh minh, hay tuần rằm, mồng một bà lại ra thăm mộ, thắp hương cầu mong hương hồn chiến sĩ được siêu thoát và luôn tâm niệm, một ngày nào đó, người liệt sĩ khuyết danh kia sẽ được thân nhân đón nhận. Mỗi khi nhìn dòng chữ trên bia mộ: "Anh bộ đội hải quân quê Củ Chi", tim bà lại đau nhói. Chỉ khi nào danh tính người chiến sĩ được xác định, bà mới thực sự thanh thản.

    Liệt sĩ Dương Thành Hiến an nghỉ tại nghĩa trang liệt sĩ Hà Tu (Quảng Ninh).
    Thời gian trôi đi, nữ dân quân trẻ ngày nào đã là bà lão phúc hậu 70 tuổi. Tuổi già như ngọn đèn trước gió, canh cánh nỗi niềm ưu tư trong lòng, bà Minh chỉ sợ rằng, chẳng may bà sớm về với tiên tổ, thì sự thật bị chôn vùi và tâm nguyện cuối đời sẽ dang dở. Vả lại, ngôi mộ đã trải qua nhiều lần di chuyển, cất bốc và cải táng do giải phóng mặt bằng. Mấy chục năm qua, bà Minh đã nhiều lần báo cáo, đề nghị chính quyền địa phương tìm tung tích anh chiến sĩ hải quân. Do chiến tranh loạn lạc, thông tin lại ít ỏi nên không tìm được. Mặc dù biết niềm hy vọng mong manh, nhưng bà Minh vẫn kiên trì theo đuổi hành trình tìm kiếm.
    Đầu năm 2011, khi anh Vũ Xuân Hiếu về làm Chủ tịch UBND phường Hùng Vương, bà Minh lại đến gặp và đề đạt nguyện vọng. Biết chuyện, anh Hiếu đề nghị bà Minh dẫn ra thăm phần mộ tại nghĩa trang Vườn Đình, thôn Cam Lộ, phường Hùng Vương, quận Hồng Bàng, Tp Hải Phòng.
    Kết hợp với nhiều nguồn thông tin khác thu thập được, khẳng định nhiều khả năng hài cốt ngôi mộ vô danh này chính là chiến sĩ hải quân, Chủ tịch phường Vũ Xuân Hiếu có công văn gửi Bộ Tư lệnh Hải quân đề nghị phối hợp xác minh. Qua trao đổi, xác minh thông tin và thu thập từ nhân chứng, UBND phường và cán bộ đoàn công tác Phòng Chính sách thuộc Cục Chính trị Hải quân thống nhất phán đoán, đặt niềm tin rằng, người nằm dưới mộ là chiến sĩ hải quân của Đoàn tàu không số.
    Căn cứ mốc thời gian và địa điểm phát hiện thi thể ở ven sông cách bến K20 khoảng 5 km, xâu chuỗi với các sự kiện lịch sử liên quan đến các chiến sĩ hải quân hi sinh ở khu vực này, cho thấy, nhiều khả năng đây là 1 trong 8 liệt sĩ đã hy sinh chưa tìm được thi thể trong lần giặc Mỹ ném bom vào khu vực Sở Dầu ngày 16/4/1972. Đó là Thượng sĩ Trần Bá Mãi, thủy thủ trưởng; Thiếu úy Vũ Văn Lanh, thuyền phó; Hạ sĩ Nguyễn Hữu Ước, báo vụ; Hạ sĩ Nguyễn Trọng Trấp, báo vụ; Thượng sĩ Trần Văn Hoan, máy trưởng; Hạ sĩ Hà Văn Động, báo vụ; binh nhất Dương Thành Hiến, cơ điện và Hạ sĩ Nguyễn Xuân Công. Từ đây, danh tính phần mộ liệt sĩ dần được hé mở.
    Sáng 11/4/2012, cán bộ pháp y phối hợp với Cục Chính trị Hải quân đã lấy 3 răng hàm lớn của hài cốt phần mộ này. Cũng trong thời gian này, Cục Chính trị và Quân y Hải quân lấy mẫu tóc thân nhân của 8 liệt sĩ hy sinh mất thi thể. Ngay sau khi nhận được mẫu tóc, Khoa Xét nghiệm, Viện Pháp y quân đội nhanh chóng vào cuộc. Với đội ngũ cán bộ kỹ thuật giàu kinh nghiệm và có kiến thức chuyên môn sâu, cùng với trang bị và máy móc được đầu tư khá hiện đại, kinh nghiệm 9 năm thực hiện thành công hàng trăm trường hợp nhận dạng hài cốt liệt sĩ trong đó có sử dụng kỹ thuật phân tích ADN (đặc biệt có các trường hợp nhận dạng với số lượng mẫu lớn như trường hợp nhận dạng hài cốt liệt sĩ trên tàu HQ604 (56 liệt sĩ), tàu HQ 317... hay các trường hợp nhận dạng với mẫu hài cốt có thời gian chôn cất lâu như trường hợp đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, Hồ Ngọc Lân…), việc giám định ADN suôn sẻ, mặc dù hài cốt đã được chôn cất 40 năm, thông tin không nhiều, phải đối chứng với 11 mẫu tóc của thân nhân 8 liệt sĩ. Thạc sĩ Nguyễn Lê Cát, Chủ nhiệm Khoa Xét nghiệm - Viện Pháp y quân đội kể, anh và các đồng nghiệp đã không khỏi hồi hộp khi tiến hành giám định ADN mẫu hài cốt nói trên.
    Sau nhiều ngày đêm miệt mài bên labo nhận dạng ADN, áp dụng công nghệ tiên tiến đã xác định, mẫu hài cốt phần mộ vô danh tại nghĩa trang Vườn Đình và ông Dương Mạnh Thắng có quan hệ huyết thống theo dòng mẹ. Từ đó, khẳng định, đó chính là hài cốt của liệt sĩ Dương Thành Hiến, nguyên quán phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long (Quảng Ninh). Niềm vui mới lại đến với những cán bộ giám định và thêm một liệt sĩ khuyết danh được trả lại tên.
    Khi được lấy mẫu tóc để đối chứng, ba người anh em của liệt sĩ Dương Thành Hiến là Dương Mạnh Thắng, Dương Thanh Hiên và Dương Quí Lợi đã hy vọng hài cốt liệt sĩ đó là của người thân mình nhưng cũng chỉ le lói, không dám kỳ vọng quá nhiều. Khi nhận được tin báo kết quả, cả gia đình quá mừng rỡ, nghẹn ngào không nói nên lời. Niềm vui sướng như vỡ òa. Họ không thể ngờ rằng, niềm hy vọng tưởng chỉ trong mơ nay bỗng trở thành hiện thực.
    Ngày 16/7 vừa qua, tại Khu tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ phường Hùng Vương, quận Hồng Bàng (Hải Phòng), hàng trăm người dân cùng đại diện lãnh đạo Bộ Tư lệnh Hải quân, chính quyền phường Hùng Vương (Hải Phòng) và Cao Xanh (Quảng Ninh) dự lễ bàn giao hài cốt liệt sĩ. Sau 40 năm yên nghỉ ở đất Cảng, hài cốt liệt sĩ Dương Thành Hiến lại được trở về quê hương, thỏa nỗi nhớ mong của người thân. Ông Dương Mạnh Thắng, anh trai liệt sĩ Hiến ôm chầm bà Minh nghẹn ngào cảm ơn vị ân nhân tốt bụng. Những giọt nước mắt hạnh phúc tuôn rơi trên gò má nhăn nheo của bà lão nhân hậu đã ở tuổi xưa nay hiếm.
    Bà rưng rưng: "Giờ tôi rất thanh thản, không niềm vui nào bằng". Và cũng trong niềm xúc động vô bờ, gia đình liệt sĩ Hiến gửi lời cảm ơn chân thành tới cán bộ phường Hùng Vương, Quân chủng Hải Quân đã có nghĩa cử cao đẹp, tấm lòng tri ân với những người đã hy sinh, để gia đình ông có được ngày "đoàn tụ".
    Nặng lòng với chiến sĩ hải quân đã có "duyên" với bà suốt 40 năm qua, bà Minh lặn lội từ Hải Phòng sang Quảng Ninh tiễn đưa, thắp nén hương cho liệt sĩ lần cuối trước khi an táng tại nghĩa trang liệt sĩ Hà Tu, Tp Hạ Long. Gia đình, đồng đội, chính quyền địa phương, bà con làng xóm và họ hàng nội ngoại đã tổ chức lễ đón trang nghiêm, long trọng với tất cả sự trân trọng, ghi nhớ công ơn của người con quê hương đã anh dũng hy sinh thân mình vì nền độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân, của Tổ quốc.
    Chiến tranh đã lùi xa 37 năm nhưng vết thương vẫn dai dẳng. Vẫn còn những bà mẹ cả đời héo hon gặm nhấm nỗi đau và luôn đau đáu tâm nguyện duy nhất là tìm thấy hài cốt đứa con hy sinh. Còn đó những người vợ, người con vẫn miệt mài lần tìm, chắp nhặt thông tin quý giá, tiếp nối hành trình tìm kiếm không mệt mỏi để đưa hài cốt chồng, cha về yên nghỉ nơi đất mẹ.
    Hy vọng sau lần "trở về" của liệt sĩ Dương Thành Hiến, sẽ có thêm nhiều phép nhiệm màu để có "ngày về" của 7 liệt sĩ còn lại trên tàu 603. Có thể, thân thể các anh đã hòa tan cùng sóng biển, nhưng những chiến tích oai hùng đó luôn nhắc nhở những người đang sống hôm nay biết trân trọng quá khứ hào hùng, giữ vững chủ quyền biển đảo, xứng đáng với sự hy sinh cao cả của các anh hùng liệt sĩ đã một thời làm nên con đường huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển
    Ngọc Khánh

  9. Có 1 người thích bài viết này


  10. #136
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Lần đầu xe tăng ta xuất kích

    Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968, Tiểu đoàn tăng 198-Đơn vị xe tăng đầu tiên của quân đội ta đã bất ngờ xuất hiện trên chiến trường và ra quân đánh thắng trận đầu ở Tà Mây - Làng Vây trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh năm 1968, mở đầu truyền thống “Đã ra quân là đánh thắng” của bộ đội Tăng-Thiết giáp (TTG) Việt NamXe tăng vào chiến trường như thế nào? 45 năm đã trôi qua, nhưng đối với nhiều người đến nay đó vẫn là một điều hấp dẫn? Tôi đã may mắn được gặp gỡ những người trực tiếp tham gia đánh trận Tà Mây - Làng Vây, để tìm hiểu về sự kiện “gùi” xe tăng vào chiến trường.
    Gặp mặt các cán bộ Tiểu đoàn tăng 198 làm nên chiến thắng trận đầu ngày 7-2-1968
    Người đầu tiên mà tôi gặp là ông Hà Tiến Tuân, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tăng 198. Tôi hỏi: “Thưa Bác! Bác có thể kể đôi điều về việc “gùi” xe tăng vào chiến trường được không ạ?” Bác nhìn tôi: “Gùi” xe tăng à? Thật là một cách nói nghệ thuật! Tất nhiên mắt xích xe tăng tháo rời ra từng mảnh thì có thể “gùi được, đạn pháo xe tăng cũng có thể gùi được… nhưng không ai có thể “gùi” được thân xe tăng và tháp pháo vì đó là những khối thép nặng hàng chục tấn. Thực chất là ta đã tổ chức hành quân bằng xích để đưa xe tăng vào chiến trường. Đây là cuộc hành quân của xe tăng có một không hai trong lịch sử chiến tranh trên thế giới đấy đồng chí ạ!” Ông Lê Ngọc Quang, nguyên Chính ủy Binh chủng kể lại: Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, Đảng ủy Binh chủng đã xác định: “Mặc dù mới chỉ đưa một lực lượng nhỏ đi chiến đấu, nhưng phải bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ cao nhất, vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, quyết tâm đánh thắng ngay từ trận đầu”. Căn cứ nhiệm vụ được giao, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Binh chủng đã chọn Đại đội tăng 3 và Đại đội tăng 9 thuộc Trung đoàn 203 thành lập một Tiểu đoàn mới có phiên hiệu là Tiểu đoàn 198 để đưa vào chiến trường. Ngay sau khi được thành lập, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn tăng 198 đã khẩn trương làm công tác chuẩn bị củng cố xe pháo, trang bị kỹ thuật, tranh thủ thời gian huấn luyện bổ sung, đặc biệt là tổ chức huấn luyện cho xe tăng bơi nước tại đập Đồng Tranh, Hòa Bình. Ngày 14-10-1967, Tiểu đoàn tăng 198 bắt đầu thực hiện cuộc hành quân bí mật bằng xích vào chiến trường, xuất phát là huyện Lương Sơn, Hòa Bình. Sau hơn 50 ngày đêm hành quân vượt hơn 1000km đường Trường Sơn với nhiều địa hình phức tạp dưới mưa bom, bão đạn của quân thù, Tiểu đoàn tăng 198 đã đến vị trí tập kết an toàn. Đại đội tăng 3 hành quân 931km, ngày 21-12-1967 tới vị trí tập kết ở Nậm Khang trên đường số 9. Đại đội tăng 9 vượt qua chặng đường dài gần 1.500km tập kết tại phía Nam đường 9. Ông Hoàng Đức Miêng, nguyên chiến sĩ lái xe tăng số hiệu 555, thuộc Đại đội tăng 9 cho biết: Cuộc hành quân của Tiểu đoàn 198 vào chiến trường chủ yếu được thực hiện vào ban đêm. Để giữ bí mật, các xe tuyệt đối không được bật đèn pha mà phải sử dụng đèn gầm có lắp thêm thiết bị hạn chế ánh sáng. Những đêm mù sương, các đồng chí trưởng xe (hoặc pháo thủ số 2) phải đi bộ trước mũi xe, khoác vải trắng dẫn đường. Các kíp xe phải dùng cành cây tươi che bớt bụi lửa phóng ra từ ống xả, khi lá khô phải kịp thời thay cành cây mới, nhờ đó mà giữ được bí mật, an toàn. Khi được hỏi để che mắt không quân Mỹ, xe tăng hành quân chủ yếu về ban đêm còn ban ngày làm thế nào để giữ được bí mật khi trú quân, ông Ngô Xuân Nghiêm, nguyên Đại đội trưởng đại đội tăng 9 hào hứng cho hay: Phải ngụy trang cho thật tốt! Đây là điều cực kỳ quan trọng. Công việc đầu tiên là phải xóa hết các vết xích trên lối rẽ vào nơi giấu xe. Nếu là bãi đất trống thì dùng hai cành cây to có nhiều lá buộc vào sau chiếc xe cuối cùng, những cành cây này sẽ xóa đi các vết hằn của xích trên mặt đất. Tất nhiên vẫn phải kiểm tra lại chỗ nào chưa xóa được thì phải xóa cho hết. Nếu phải đi qua đồi cây lúp xúp hay đồi cỏ tranh thì phải đào cây mới trồng lên và phải tưới nước để cây không bị khô héo. Nếu trú quân ở rừng thì tuy có khó khăn về phòng chống cháy, nhưng dễ ngụy trang hơn, chỉ cần buộc vít các ngọn le lại với nhau tạo thành các đường vòm che vết xích đi là được. Thiếu tướng Lê Xuân Tấu, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Tư lệnh Binh chủng, nguyên Trung đội phó, Trưởng xe tăng 555 bồi hồi nhớ lại: Tuyến đường hành quân được chia thành nhiều cung, mỗi cung chia thành 3 chặng, mỗi chặng (đi trong 1 đêm) trung bình dài 30 đến 45km (Đại đội tăng 3 hành quân 15 chặng, Đại đội Tăng 9 hành quân 23 chặng). Đường Trường Sơn là đường rừng núi hiểm trở, nhiều cua ngoặt gấp khúc, máy bay địch đánh phá ác liệt nên thường xảy ra sự cố kỹ thuật và có thương vong, nhưng nhờ các đơn vị thanh niên xung phong, trung đoàn pháo phòng không Nguyễn Viết Xuân, các đơn vị bạn cùng nhân dân các dân tộc Lào và nhân dân địa phương hết lòng giúp đỡ, che chở, bảo vệ, nên các khó khăn về bảo đảm đường cơ động, sửa chữa, cứu kéo, vận chuyển đều được giải quyết kịp thời, giúp đơn vị hành quân tới đích an toàn, đúng quy định. Ông Trần Vĩnh Đại, kiện tướng lái xe tăng, nguyên Đại đội phó Đại đội tăng 9 kể lại: Do hành quân đường dài nên bánh đỡ nặng và xích xe bị hư hỏng nhiều, bánh đỡ nặng vỡ hết phần cao su, chốt xích mòn vẹt, vấu xích gãy, cong, vênh, rạn, nứt. Đơn vị phải khắc phục bằng cách đảo xích bên phải sang trái và ngược lại, lắp xen kẽ mảnh xích lành với mảnh xích hỏng để tiếp tục hành quân. Cuộc hành quân thắng lợi đã khẳng định: Trong điều kiện địa hình hiểm trở của tuyến đường chiến lược, không quân địch đánh phá ác liệt suốt ngày đêm nhưng quân đội ta vẫn có thể đưa được một lực lượng lớn xe tăng vào chiến trường (gồm cả con người và đầy đủ vũ khí, trang bị) để tham gia chiến đấu. Đây là mốc mở đầu cho quá trình triển khai lực lượng TTG ở các địa bàn chiến lược trên chiến trường, đáp ứng yêu cầu phát triển của cuộc chiến tranh giải phóng đất nước.
    Bài và ảnh: THANH THẢO


  11. #137
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Một lá thư cho người yêu!

    19/2/1979
    Em thân yêu của anh!
    Thư em đến với anh giữa lúc anh cùng đơn vị chuẩn bị lên đường đi chiến đấu. Lẽ ra anh không báo tin này cho em và gia đình biết, phần vì thời gian rất gấp và khẩn trương, phần vì anh không muốn em phải lo lắng nhiều vì anh.
    Em thân yêu!
    Ở xa em có thể hiểu được tâm trạng của anh lúc này không em – bâng khuâng, buồn và nhớ da diết, anh bâng khuâng vì đêm nay là đêm cuối cùng ở vùng đất khu 4 này. Ngày mai anh sẽ ra phương Bắc để bước vào cuộc chiến mới.
    Nơi đó cuộc ác chiến đã và đang diễn ra. Nơi đó quân thù đang giày xéo biên cương của Tổ quốc. Nơi đó đồng đội đang chờ anh. Anh buồn vì những lúc này anh thấy mình cô đơn và buồn tẻ. Anh nhớ em da diết bởi vì anh sẽ phải xa em nhiều năm nữa, chưa biết khi nào anh mới quay trở lại gặp em. Ôm em và hôn em thắm thiết. Tình yêu của em và anh trong những ngày tháng qua đã để lại cho anh tình thương em, yêu em vô bờ bến. Có thể nói rằng mỗi bước đi, mỗi ngày sống anh đều có em…
    Em ơi, ngày mai anh đi về phương Bắc, anh không được gặp em để có đôi lời biệt ly! Ra đi mang nhiều nỗi nhớ thương, ai có thể thấu hiểu được lòng anh trong lúc này em nhỉ? Chỉ có anh thôi, anh đang sống trong giờ phút chia ly. Bao lời anh nói em nhờ thư, nhờ gió mây gửi đến cho em.Anh ra đi mang theo tình em, anh ra đi để được hiểu, được sống trong giờ phút có cảm nghĩ sâu sắc và tất nhiên sẽ hiểu hết các giá trị của tình yêu. Một tình yêu của anh với em không giới hạn. Một tình yêu vô cùng đẹp đẽ. Dù có nói vạn lần yêu em anh cảm thấy vẫn chưa đủ. Anh không biết nói gì hơn nữa để diễn tả nỗi nhớ tình thương và yêu em như lúc này.
    Em yêu thương và nhớ mãi của anh!
    Chỉ còn 3 giờ đồng hồ nữa là anh tạm biệt nơi đây. Có lẽ chiến thắng của quân dân ta ngày mai có thể có cả công anh. Nhớ theo dõi tin thắng trận và mừng cho anh em nhé. Anh đã và đang chuẩn bị hành quân như em đã viết thư cho anh. Và đêm nay anh không ngủ để ghi nốt trang thư trên mảnh đất này. Ngày mai anh sẽ hành quân, anh sẽ không ngủ để nhớ em, không ngủ để diệt thù, không ngủ để nhìn em suốt canh thâu, không ngủ để gần em và luôn thấy em.
    Nhận được thư này đừng nên lo lắng nhiều và buồn em nhé – tan giặc anh về, chờ đợi anh em nhé, chờ đợi anh.

    Đêm 19/2.

    Anh yêu của em

    (Sưu tầm)

  12. Có 1 người thích bài viết này


Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •