CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 1 của 7 123 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 63

Chủ đề: Cách phân biệt các loại tăng thiết giáp ?

  1. #1
    Ngày tham gia
    13-04-2012
    Bài viết
    14
    Thích
    2
    Thanked %1$s Times in 1 Post

    Cách phân biệt các loại tăng thiết giáp ?

    Cho em mạn phép lập topic này, nhằm chia sẻ những cách phân biệt các loại tăng thiết giáp, các biến thể của chúng.

    Đầu tiên là các dòng tăng của LX, TQ như T-54 với 55 với T-62 và với Type 59, Type 69/79 và 80. Các bác nào có cách phân biệt gần chính xác không ạ ?






















    No Avatar

    dongdoi_f2

     23:06, 27th Oct 2012 #11364 

    Có, bác Lixeta, đại tá TTG, bạn hãy hỏi bác, sẽ rõ


    Sửa lần cuối bởi vietminh9x; 28-10-2012 lúc 10:09 AM.

  2. Có 1 người thích bài viết này


  3. #2
    Ngày tham gia
    13-04-2012
    Bài viết
    14
    Thích
    2
    Thanked %1$s Times in 1 Post
    Em thấy khó mà phân biệt nếu như ko có huy hiệu của từng quân đội, vì mỗi xe lại trang bị mỗi pháo khác có giống cũng có lúc thì rãnh xoắn, lúc thì nòng trơn lúc lại có khúc nối giữa pháo hoặc khúc đúc to đầu nòng. Em nghe nói rằng T54/55 giáp dày hơn (trước thì phải) so với T-59 rồi ko có hệ thống ổn định súng pháo gì đó (em kết hợp cả giải thích của Tây lẫn Ta), còn T-69 là bản copy toàn bộ của T-62.

    Đây là Type 59-I và T-54A



    Sửa lần cuối bởi vietminh9x; 28-10-2012 lúc 10:12 AM.

  4. #3
    Ngày tham gia
    13-04-2012
    Bài viết
    14
    Thích
    2
    Thanked %1$s Times in 1 Post
    Thêm 2 loại nữa là

    M84AS và T-90, M1A1 và M1A2








  5. #4
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,225
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Hì hì! Tiêu đề bạn đưa ra là tìm hiểu sự khác biệt giữa các dòng tăng và thiết giáp. Vậy bạn phải bắt đầu từng dòng xe để phân tích hoặc nhờ các bác tham gia chứ!
    Chưa chi bạn đã từ tăng Liên Xô-Nga nhảy qua tàu rồi qua luôn tới Mẽo thì giải thích làm sao được?8->

  6. #5
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,892 lần trong 1,021 bài viết
    Thực ra, để phân biệt và gọi tên chính xác một loại xe tăng nếu chỉ nhìn hình dáng bên ngoài thì với cả những lính xe tăng lâu năm trong nghề cũng còn khó chứ chưa nói đến những người ngoại đạo. Bởi vì, có khi hình dáng bên ngoài y hệt nhau nhưng trong "ruột" của nó lại khác nhau một trời, một vực. Ví dụ: cũng là kiểu T54 nhưng có xe không có hệ thống ổn định vũ khí, có xe chỉ có ổn định 1 mặt phẳng, có đời lại có ổn định 2 mặt phẳng, có đời không có kính ngắm đêm, đời khác lại có v.v... Viết ra thì dài lắm mà dạo này đang bận quá:D.
    Tuy nhiên, hiện nay trên một số trang mạng cũng đã có khá nhiều bài viết về chủ đề này. Nếu bạn muốn tìm hiểu thì cứ chịu khó truy tìm và tôi tin rằng bạn sẽ tìm được giải đáp cho mình:D.
    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  7. Có 2 người thích bài viết này


  8. #6
    Ngày tham gia
    13-04-2012
    Bài viết
    14
    Thích
    2
    Thanked %1$s Times in 1 Post
    Trích dẫn Gửi bởi trucngon Xem bài viết
    Hì hì! Tiêu đề bạn đưa ra là tìm hiểu sự khác biệt giữa các dòng tăng và thiết giáp. Vậy bạn phải bắt đầu từng dòng xe để phân tích hoặc nhờ các bác tham gia chứ!
    Chưa chi bạn đã từ tăng Liên Xô-Nga nhảy qua tàu rồi qua luôn tới Mẽo thì giải thích làm sao được?8->
    Dạ cám ơn bác đã quan tâm, thớt này ko để so sánh mà chỉ là để biết cách phân loại, nhận dạng được các loại tank na ná nhau thôi ạ :D

  9. #7
    Ngày tham gia
    13-04-2012
    Bài viết
    14
    Thích
    2
    Thanked %1$s Times in 1 Post
    Trích dẫn Gửi bởi lixeta Xem bài viết
    Thực ra, để phân biệt và gọi tên chính xác một loại xe tăng nếu chỉ nhìn hình dáng bên ngoài thì với cả những lính xe tăng lâu năm trong nghề cũng còn khó chứ chưa nói đến những người ngoại đạo. Bởi vì, có khi hình dáng bên ngoài y hệt nhau nhưng trong "ruột" của nó lại khác nhau một trời, một vực. Ví dụ: cũng là kiểu T54 nhưng có xe không có hệ thống ổn định vũ khí, có xe chỉ có ổn định 1 mặt phẳng, có đời lại có ổn định 2 mặt phẳng, có đời không có kính ngắm đêm, đời khác lại có v.v... Viết ra thì dài lắm mà dạo này đang bận quá:D.
    Tuy nhiên, hiện nay trên một số trang mạng cũng đã có khá nhiều bài viết về chủ đề này. Nếu bạn muốn tìm hiểu thì cứ chịu khó truy tìm và tôi tin rằng bạn sẽ tìm được giải đáp cho mình:D.
    Trên mạng toàn nói rối rắm và ít quá bác ơi, bác có nguồn nào của Tây hoặc Ta cụ thể nhất ko ạ ? cái em cần nhất hiện nay là phân biệt T-54/55/62 với Type 59/69/79/80 ấy ạ ^^

    No Avatar

    dksaigon

     11:03, 29th Oct 2012 #11426 

    Sưu tầm mấy cái đồ...cổ này làm giề?! có chăng tìm hiểu thứ đời mới, ít ra hiện nay đang có so với "chúng nó"!



  10. #8
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,225
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Như bác Tài Tăng đã nói, topic này rất khó để hoàn thành nhiệm vụ bởi sự...rối rắm của nó. Cần phải có thời gian tìm đọc, sưu tầm(Cái này nhiều diễn đàn đã đề cập đến), bạn phải cố gắng nhé! Ví dụ như bài viết này.

    Xe tăng T-54 và T-55

    Cách bố trí của T-54 theo kiểu xe tăng quy ước, với vũ khí chính gồm một khẩu súng có rãnh xoắn 100mm. T54 được sử dụng nhiều hơn bất kỳ một loại tăng nào khác từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. T-55 gồm một khẩu súng tốc độ cao với nòng súng dài khác thường. T-55 có bánh xích, chasis năm bánh với một thân ngắn và tháp pháo hình tròn. Tăng T-54 xuất hiện lần đầu năm 1949 như loại thay thế cho chiếc T-34 thời thế chiến II. Nguyên mẫu T-54 đầu tiên được hoàn thành năm 1946 và được chế tạo lần đầu năm 1947. T-54 liên tục được sửa đổi và cải tiến, và sau khi đã được sửa khá nhiều, nó được đổi tên thành T-55. T-55 ra mắt vào năm 1958 và có đầy đủ mọi sự tinh xảo và cải tiến của serie T-54 mà không có khác biệt căn bản trong thiết kế và hay vẻ ngoài. T-55A xuất hiện đầu thập kỷ 1960. Sự sản xuất loại xe này tiếp tục đến tận năm 1981 ở Liên Xô và cũng được sản xuất ở Trung Quốc (kiểu 59), Tiệp Khắc và Ba Lan. Một số lượng lớn loại này vẫn còn được sử dụng, mặc dù đến thập kỷ 1980 T-54/55 đã bị thay thế bằng loại T-62, T-64 và T-80 trong vai trò loại tăng chủ yếu tại các đơn vị xe tăng và pháo tự hành của Liên Xô.




    Nó là lựu lượng xung phong tuyến đầu trong các trận đánh của Quân đội ND VN.Tham gia rất nhiều trận đánh lớn trong chiến tranh Việt Nam : Đường 9 Nam Lào, Đắc Tô-Tân Cảnh T54 bắn cháy nhiều xe tăng M41 và M48 của quân đội VNCH tiêu diệt lực lượng thiết giáp của QđVNCH trên đường giải vây Tan Cảnh, Chiến dịch Nguyễn Huệ, Chiến dịch Trị Thiên năm 1972 đều có sư góp mặt của T54, nhưng đặc biệt trong trận An Lộc năm 1972, T54 đã bị thiệt hại nặng do tấn công vào đô thị mà thiếu sự yểm trợ của bộ binh , rất nhều T54 bị bắn cháy bằng súng phóng lựu M72 và hỏa tiễn TOW trên trực thăng AH-1 Cobra , quân đội VNCH sử dụng những chiếc T54 chiến lợi phẩm sung vào lực lượng tăng của họ. Đến năm 1974, T54 lại lần nữa tham gia chiến dịch Phước Long, và lần này Quân đội NDVN đã rút kinh nghiệm ở An Lộc, tăng cường cho T54 các bao cát ở sườn xe và giáp trước để M72 ko đục thủng được, T54 đã làm nên chiến thắng Phước Long vang dội , chiếm được tỉnh Phước Long và QĐVNCH ko thê chiếm lại được. Đặc biệt trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, T54 đã làm nên sứ mạng lịch sử, đánh bại các lực lượng Thiết giáp của VNCH ở Tây Nguyên,Đông Nam Bộ có trang bị M48 của Mỹ tiến sát đến Sài Gòn, chiếc T54 mang số hiệu 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập , buộc Chính quyền SG đầu hàng vô điều kiện, chấm dứt cuộc chiến tranh 20 năm, thống nhất đất nước.



    Thông số kỹ thuật
    Xuất xứ:Liên Xô.
    Nước sản xuất:Liên Xô,Trung Quốc,một số nước XHCN khác
    Thiết kế:Morozov Design Bureau
    Số lượng sản xuất: 86000-100000
    Nặng:36,7 tấn
    Dài: 6,5m
    Rộng:3,37m
    Cao:2,4m
    Tổ lái: 4 người(xa trưởng, xạ thủ, nạp đạn, lái xe)
    Giáp: 203mm trước tháp pháo
    150mm 2 bên hông tháp pháo
    64mm mặt sau tháp pháo
    39mm đỉnh tháp pháo
    100mm giáp trước
    79mm sườn xe
    46mm đuôi xe
    20mm gầm xe
    Vũ khí: Súng chính 100mm D-10T , 34 viên-45 viên
    1 đại liên 7,62mm đồng trục loại SGMT hoặc PKT
    1 đại liên 7,62mm gắn trước thân xe
    1 đại liên 12,7mm DKSh gắn trên đỉnh tháp pháo
    Động cơ: V-54 Diesel 12 xi-lanh dung tích 38,88 lít làm mát bằng nước
    523 mã lực(T54) 581 mã lực với T55
    Sức kéo: 13,2 mã lực/tấn(T54)
    14,6 mã lực/tấn(T55)
    Tầm hoạt động: 401 km và 600km nếu có thêm thùng nhiên liệu phụ
    Vận tốc: 48km/h với T54 và 55km/h với T55

  11. #9
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,225
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Xe tăng hạng trung T-55 chạy bánh xích, chasis năm bánh với một khoảng không gian giữa bánh thứ nhất và bánh thứ hai và không có những trục lăn hồi chuyển. Nó có thân ngắn, tháp pháo hình vòm nằm bên trên bánh xe thứ ba. Súng chính có rãnh xoắn cỡ 100mm và có một lỗ thoát hiểm ở gần chân nòng. Một súng máy đồng trục A7.62mm và một súng máy 7.62mm di chuyển vòng cung. Các mẫu T-55A về sau này không được trang bị súng đó. T-55 được phân biệt với T-54 vì nó không có vòm ở bên phải và quạt thông gió của tháp pháo được lắp phía trước so với quạt thông gió của T-54, và tất cả các mẫu T-55 đều có một bộ phận tìm kiếm ánh sáng hồng ngoại dành cho pháo thủ lắp bên phải súng chính. Tuy nhiên, bộ phận tìm kiếm ánh sáng này không phải là một đặc điểm phân biệt, bởi vì nó cũng được trang bị thêm cho nhiều mẫu T-54 và T-54A.



    T-55 kết hợp một súng tốc độ cao với một chassis rất cơ động, một thân ngắn và nòng rất dài. Các cải tiến so với loại T-54 gồm động cơ diesel V12 làm mát bằng nước lớn hơn với 580 sức ngựa so với 520 sức ngựa, tăng tầm hoạt động lên 500km (lên tới 715km với hai bình xăng phụ mỗi bình 200 lít). T-55 cũng có hai cái ổn định hai cánh (two-plane) chứ không chỉ có cái ổn định dọc, một lần nạp đạn cho súng chính được 43 viên thay vì chỉ 34 viên. T-55 có thể lội qua độ sâu 1.4m mà không cần chuẩn bị trước, có thiết bị thông hơi cho phép nó vượt qua độ sâu lên đến 5.5m với tốc độ 2 km/giờ. Thiết bị này cần phải được chuẩn bị trước từ 15 đến 30 phút nhưng có thể được vứt bỏ ngay sau khi ra khỏi nước.
    Tất cả các xe T55 đều có hệ thống dò tìm bức xạ PAZ, và T-55A cũng có thiết bị chống bức xạ. Một số chiếc T-55 được trang bị một hệ thống bảo vệ tổng thể NBC (lọc không khí và quá áp suất). Một màn khói dày có thể được tạo ra bằng cách phun nhiên liệu diesel bay hơi vào một hệ thống hút khí. Những chiếc T-55 có “áo giáp yếm”, áo giáp bán nguyệt lắp thêm, có lớp bảo vệ tháp pháo tăng cường lên đến 330mm (KE) và 400-450mm (CE). Một số cải tiến khác có thể được trang bị thêm gồm một đáy vỏ được tăng cường chống mìn, động cơ tốt hơn, xích bằng các miếng cao su, và ống bọc nhiệt cho súng. Ống nhòm 1K13 vừa dùng để quan sát ban đêm vừa quan sát bệ phóng ATGM; tuy nhiên nó không thể được dùng cho cả hai mục đích cùng một lúc. Các kiểu ống ngắm có thể lựa chọn và hệ thống kiểm soát lửa gồm cả El-Op Red Tiger của Israel và Matador FCS, ống nhòm NobelTech T-series của Thuỵ Điển, và Atlas MOLF của Đức. SUV-T55A FCS của Nam Tư, Marconi Digital FCS của Anh, SABCA Titan của Bỉ cho phép nâng cấp hoạt động. Một trong những cái tốt nhất là cái EFCS-3 của Slovenia được tích hợp với FCS. Rất nhiều kiểu ống ngắm nhiệt khác cũng có thể được trang bị. Gồm cả ống ngắm Nga/Pháp ALIS và Namut-type của Peleng. Có nhiều kiểu ống ngắm nhiệt có thể được trang bị cho phép phóng ATGM vào buổi tối. Hệ thống bảo vệ hoạt động tích cực (APS) đầu tiên, được gọi là Drozd, được phát triển ở Liên Xô giữa 1977 và 1982. Hệ thống này được lắp đặt trên khoảng 250 chiếc T-55A của cả thuỷ và bộ binh (sau đó được đổi tên thành T55AD) vào đầu những năm 1980, và được thiết kế để bảo vệ khỏi ATGM và lựu đạn chống tăng. Nó sử dụng các cảm biến vi sóng radar đầu tiên ở mỗi bên tháp pháo để dò tìm đạn đang bay đến. Một máy lọc bên trong bộ xử lý radar được dùng để đảm bảo rằng hệ thống chỉ phản ứng lại với các mục tiêu đang bay ở tốc độ đặc trưng của ATGM. Những mục tiêu đó sẽ bị một hay nhiều rocket có mang các đầu đạn nhiều mảnh (giống với đạn súng cối), được bắn ra từ bốn ống phóng xung quanh (mỗi phía của tháp pháo có một ống). Drozd chỉ cung cấp sự bảo vệ hướng ra phía trước 600 ở phần tháp pháo, hai bên cạnh và phía sau có thể bị tấn công. Kíp lái có thể thay đổi hướng của hệ thống bằng cách quay tháp pháo. Drozd bị tổn hại vì nhiều thiếu sót. Radar của nó không thể xác định đe doạ ở nhiều mức góc nâng một cách thoả đáng, và các rocket phòng vệ hầu như chắc chắn gây ra tổn hại ở mức độ không thể chấp nhận được ở hai bên - đặc biệt là đối với bộ binh đi theo.(nhưng không biết là Việt Nam có sở hữu các loại cải tiến này không)



    Tuy là 1 loại xe tăng đươ8c5 sử dụng khá phổ biến nhưng loại tăng này có những nhược điểm hơi bị khó chịu:T-55 hiệu quả nhất khi chống lại các phương tiện bọc thép nhẹ và trung bình. Đạn nạp căn bản cho súng chính là 43 viên. Các đơn vị nhiên liệu bên ngoài làm cho xe rất dễ bị tổn hại, vì nó được bảo vệ bằng vỏ thép mỏng. T-55 có khả năng hạn chế trong việc hạ súng chính, gây trở ngại cho xe trong việc bắn tỉa từ trên khu đất cao. Hơn nữa ống ngắm đầu tiên của pháo thủ lại bị gắn với súng chính, không cho phép pháo thủ kiếm được các mục tiêu được bố trí dấu kín thân xe. Mặc dù tháp pháo hình nửa quả trứng của T-55 có các tính chất tốt của hình cầu, nó cản trở điều kiện làm việc của kíp lái, dẫn tới mức độ bắn thấp; và sự bảo vệ nhờ vào thân ngắn của nó (ngắn hơn 1m so với M60) lại làm cho mất thăng bằng vì sự bảo vệ vỏ thép kém của nó so với các tiêu chuẩn phương tây. Theo cùng một tiêu chuẩn, thiết bị kiểm soát súng của nó cũng còn thô thiển. Nó cũng có bất lợi của đa phần xe tăng Xô viết là có khả năng kém về hạ thấp nòng chính, vì thế không thể có khả năng bắn hiệu quả theo kiểu bắn tỉa mà bắt buộc phải thò cả thân ra để chiến đấu. Vũ khí và nhiên liệu được bố trí ở vị trí kém. Việc thiếu cái rổ tháp pháo làm cho việc nạp đạn khó khăn, và vì thế đạn dược sẵn sàng kém. Người lái, chỉ huy, và pháo thủ tất cả đều trên một hàng. T-55 không kín không khí. Dù các thành viên kíp lái được bảo vệ khỏi bụi phóng xạ bởi một hệ thống lọc, họ bắt buộc phải đeo mặt nạ bảo vệ cá nhân và mặc đồ chống chất hoá học và sinh học. Xe tăng vì thế phải đi qua những vùng bị ô nhiễm nhanh chóng và sau đó lại phải được tẩy rửa trước khi hoạt động trở lại. Xe tăng có thể được chế tạo kín nước để vượt qua chướng ngại nước với độ sâu lên đến 1,4m (5,5m với ống thông hơi). Tuy nhiên, có thể mất đến nửa giờ để chuẩn bị một đơn vị tăng trung bình để hoạt động được, và điểm vào và ra cũng cần được chuẩn bị.
    Các biến thể của nó,khá nhiều:

    Tăng T-54/55 từng được chế tạo với số lượng lớn nhất so với bất kỳ loại tăng nào khác trên thế giới. Sáu kiểu chính đã được sử dụng rộng rãi tại các nước thuộc khối Hiệp ước Warsaw và nhiều nước khác. Các mẫu T-54/55 từng được chế tạo tại Tiệp Khắc và Ba Lan cũng như ở Trung Quốc nơi nó được gọi là Kiểu 59. Hơn mười hai nước đã chế tạo các biến thể cải tiến của T-55 với khả năng bảo vệ và khả năng tấn công gần tương tự. Nhiều nước đã nâng cấp cho nó với súng chính lớn hơn.



    T-54: Có nhiều khác biệt giữa xe T-54 thời kỳ đầu và thời kỳ sau, một số chiếc có giáp rộng hơn và tháp pháo bị cắt ngắn ở bên cạnh. Thỉnh thoảng chúng được coi là T-54 (1949), T-54 (1951) và T-54 (1953).
    T-54A: Kiểu này có máy hút khói cho súng 100mm, hệ thống ổn định và thiết bị lội sâu.
    T-54AK: Tăng chỉ huy (Kiểu của Ba Lan là T-54AD). Có thêm radio và tầm hoạt động của radio là 100 dặm.
    T-54M: T-54 được nâng cấp theo tiêu chuẩn của T55M.
    T-54B: Kiểu đầu tiên có thiết bị quan sát hồng ngoại ban đêm. Đây là kiểu được sử dụng ở những nước trên.
    T-55: T-54 với tháp pháo mới và nhiều cải tiến, các kiểu được chế tạo về sau này có một súng 12.7mm AA MG. Các cải tiến từ kiểu T-54 gồm một động cơ diesel làm mát bằng nước V12 lớn hơn và tầm hoạt động rộng hơn 500 thay vì 400km (600 với các xe tăng bổ trợ). Tầm hoạt động có thể tăng lên đến 715km với hai bình xăng phụ 200 lít ở hai bên xe. T-55 có tháp pháo hoàn toàn khác so với T-54, sự khác biệt dễ nhận thấy nhất là T-55 không có quạt gió nóc và thay vào đó là hai thanh nóc hình chữ D. Các xe T-55 đầu tiên cũng không có máy nạp đạn cho súng 12.7mm DShK AA MG cửa sập của máy nạp đạn hơi thò lên hay không thò lên khỏi xung quanh lớp giáp.
    T-55A được thêm hệ thống bảo vệ NBC. T-55A sử dụng một lớp chống bức xạ mới và hệ thống lọc hoá chất PAZ/FVU được cải tiến trên cùng tháp pháo. Lớp chống bức xạ làm tháp pháo dày hơn và không bằng với bề mặt tháp pháo. Các chi tiết đáng chú ý là sự chải lớn hơn ở cửa của chỉ huy và pháo thủ, và một chỗ phồng lớn ở cửa người lái. T-55A Kiểu 1970 bắt đầu có súng 12.7mm, nhưng ở vị trí khác với T54.
    T-55M có thêm hệ thống kiểm soát lửa Volna (với máy phóng ATGM), hệ thống ngắm và ổn định súng được cải tiến, động cơ tốt hơn, radio mới, và bảo vệ tốt hơn. Nó gồm váy hai bên, súng phóng lựu đạn khói, miếng đính bảo vệ, và bảo vệ lửa.
    T-55AM có thêm vỏ yếm, một vỏ bọc quanh tháp pháo và bảo vệ 180°. Sự gọi tên T-55AM thỉnh thoảng cũng dùng cho T-55A với súng 12.7mm DShK MG.
    T-55AM2B: Kiểu T55AMV của người Séc với kiểm soát lửa Kladivo.
    T-55AM2: Biến thể không có khả năng ATGM hay Volna FCS.
    T-55AM2P: Kiểu T55AMV của người Ba Lan nhưng có thêm Merida FCS.T-55AMD: Biến thể với Drozd APS thay vì ERA.
    T-55AD Drozd: Biến thể với Drozd chứ không phải Volna FCS và ERA.
    T-55AMV Phiên bản AMV cải tiến thay thế ERA cho lớp yếm bảo vệ.
    Các phiên bản kết thúc với việc thay thế động cơ w/V-46 engine từ chiếc T-72 MBT. Ukraina và Syria sẽ cải tiến theo tiêu chuẩn của T-55AMV.T-72Z Safir-74 – Một phiên bản cải tiến của Iran từ mẫu T-54/T-54 có thể được áp dụng cho các xe tăng T-54 của Iraq bị bắt trong chiến tranh Iran-Iraq. Nó có một số cải tiến gồm cả một súng tăng 105 mm M68 có rãnh xoắn, hệ thống kiểm soát bắn computer và động cơ diesel mới với hệ thống làm lạnh và chuyển số tự động

    Sửa lần cuối bởi trucngon; 29-10-2012 lúc 01:56 PM.

  12. #10
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,225
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Xe tăng hạng trung T-62



    T-62 là bước kế tiếp của series T-54/55, được đưa vào sản xuất hàng loạt năm 1961 và được duy trì cho tới năm 1975. Nó trở thành loại MBT (main battle tank - xe tăng chiến đấu chủ lực) tiêu chuẩn của lực lượng Tăng thiết giáp và Bộ binh cơ giới LX, thay thế cho T-54/55. Phiên bản T-62 A lần đầu xuất hiện vào năm 1970. Vào khoảng thập niên 80 nó được thay thế bằng thế hệ tăng T-64/72/80 tiên tiến hơn.

    Mô tả sơ bộ:
    Tăng hạng trung T-62 là xe tăng bánh xích với 5 bánh dẫn động mỗi bên, 3 bánh đầu lắp sát nhau còn bánh thứ 3,thứ 4 và thứ 5 thì cách xa nhau khá rõ. Bách xích dẫn hướng nằm phía cuối còn bánh tĩnh thì nằm phía đầu xe. Xe T-62 không có bánh quay xích. Tháp pháo có hình tròn, được lắp ở khoảng trên bánh xích thứ 3, được đúc láng hơn và tròn hơn tiền bối T-54/55. Tháp chỉ huy nằm phía bên trái và được đúc liền vào thân chứ không táng ri-vê. Nắp của pháo thủ nằm bên phải




    Súng nòng trơn 115-mm(bắn được ATGM) có nòng dài hơn và nhỏ hơn nòng pháo 100mm cuả T-54/55 (115 mà bé hơn 100 àh?) và cái bore evacuator ( một thiết bị có chức năng ngăn hơi thuốc bay ngược lại khoang lái) nằm ở khoảng 2/3 thân súng tính từ tháp pháo. Thêm vào đó là một khẩu súng máy đồng trục 7,62mm cùng 1 đại liên 12,7mm phòng không thuộc quyền sử dụng của pháo thủ.

    Tính năng:
    Giống như T-55, T-62 được trang bị động cơ diesel V-12 làm mát bằng nước có công suất 580 sức ngựa.Tầm hoạt động trên địa hình xấu là 320 km ,trên đường bằng phẳng là 450km với thùng nhiên liệu bên trong.Nếu đeo thêm 2 thùng nhiên liệu dung tích 200l thì 450km đường xấu và 650km đường bằng phẳng.hệ thống xả khí, phát khói ngụy trang
    và máy quét phóng xạ loại PAZ dùng cùng loại với T-54/55.Một số T-62 còn có khả năng trang bọ thêm hệ thống chống chiến tranh sinh hóa NBC. Hầu hết các model T-62 đều có kính ngắm hồng ngoại cho xa trưởng, pháo thủ và lái xe.

    Sự cải tiến đáng giá nhất của T-62 so với T-54/55 là khầu pháo chính 115mm nòng trơn. Khẩu này có khả năng bắn loại đạn xuyên giáp sử dụng thanh xuyên có cánh định hướng gắn cố định, sơ tốc đầu nòng cao vào khoảng 1,6 km/s. Loại đạn này có đạn đạo rất ổn định nên tầm hiệu quả tối đa vào khao3ng 1,6 km.1 cơ số đạn tiêu chuẩn của T-62 gồm 40 quả đạn, trong đó có 12 đạn HVAPFSDS xuyên giáp, 6 đạn nổ HEAT và 22 đạn nổ HE.T-62 còn có bộ phận hất vỏ đạn ra theo 1 đường rãnh thoát nằm cuối tháp pháo.

    Các thành phần gia cố khác bao gồm giáp đáy xe chống mìn, bánh xích bọc cao su và mũi giảm chấn đầu nòng.Thêm vào đó là những thiết bị ngắm thermal cho phép phóng ATGM vào ban đêm. Thiết bị quan trắc K13 vừa là thiết bị nhìn đêm vừa là ống ngắm ban đêm cho ATGM nhưng 2 chức năng này ko dùng song song được.



    Hạn chế
    T-62 cũng có những hạn chế giống T-55 : không gian chật hẹp của tổ lái, giáp mỏng, thiết bị điều khiển pháo thô lậu, góc hạ nòng súng thấp và khu vực chứa nhiên liệu đạn dược đễ bị tổn thương. Hệ thống tự động hất vỏ đạn cũng gây nên sự rò rỉ ngược khí CO2 và gây thương tổn vật lý khi vỏ đạn văng ra khỏi nòng cho thành viên tổ lái, thêm vào đó, lỗ hất vỏ đạn là một khe hở chết người của hệ thống NBC.

    Mỗi khi bắn, khẩu pháo phải nằm đúng vị trí khe hất vỏ đạn, đồng thời tháp pháo cũng ko thể quay được khi đang thao tác nạp đạn. Việc quay tháp pháo bằng tay gây khó khăn rất nhiều cho việc tác xạ khi di chuyển và tốc độ bắn liên tiếp.Khi nắp ca-pô của tài xế mở ra, tháp pháo cũng ko thể quay được. Mặc dù xa trưởng có khả năng chiếm quyền của pháo thủ và quay tháp pháo nhưng anh ta ko thể bắn được pháo từ vị trí chỉ huy vì không có tầm quan sát.




    Cuối cùng,để sử dụng khẩu 12,7mm pháo thủ phải leo ra ngoài tháp pháo
    THÔNG SỐ KỸ THUẬT
    Tên:T-62M
    Năm sản xuất:1983
    Tổ lái: 4 người
    Nặng 41,5 tấn
    Dài 6.63m
    Cao 2.4m
    Rộng 3.52m
    Động cơ: Diesel 620 sức ngựa
    Tầm hoạt động :450/650km với thùng dầu phụ
    Tốc độ: 50km/h trên đường nhưạ và 40km/h đường gồ ghề
    Giáp:230 mm trước tháp pháo
    153 mm sườn tháp pháo
    97 mm sau tháp pháo
    40 mm đỉnh tháp pháo
    102 mm trước thân
    79 mm sườn xe

    46 mm đuôi xe
    20 mm gầm xe
    31 mm nóc xe
    Pháo chính :115mm nòng trơn modle 2A20
    Tốc độ bắn :3-5 viên/ phút
    Nạp đạn: thủ công
    Nòng dao động từ -5 tới 18 độ
    1 đại liên 7,62mm đồng trục



    Các phiên bản:

    T-62A:bên cạnh khẩu đồng trục 7,62mm PKT có tầm bắn khoảng 100m, model này có thêm 1 khẩu 12,7mm DShK với tầm bắn khoảng 1500m.Model này cũng có hệ thống tự ổn định nòng súng giúp tăng độ chính xác khi tác xạ trong hành tiến.
    T-62K:tank chỉ huy với hệ thống định vị và quan sát cao cấp.
    T-62M có thêm giáp, FSC và khả năng băn ATGM
    T-62D có hệ thống chống ATGM Drozd APS và giáp ERA

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •