CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 6 của 6 Đầu tiênĐầu tiên ... 456
Kết quả 51 đến 57 của 57

Chủ đề: Cách phân biệt các loại tăng thiết giáp ?

  1. #51
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,156
    Thích
    329
    Đã được thích 1,865 lần trong 996 bài viết
    Pháo cao xạ 23 mm ngự trên nóc xe TG: Máy bay cũng bắn mà xe tăng, bộ binh cũng chơi

    Để tạo ra một chiếc “ô” cho mình, Bộ đội Tăng – Thiết giáp đã có một sáng kiến khá độc đáo là đưa pháo cao xạ lên xe thiết giáp làm cao xạ tự hành.



    Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, với ưu thế vượt trội về không quân nên quân Mỹ hoàn toàn làm chủ bầu trời. Để tạo ra một chiếc “ô” cho mình, Bộ đội Tăng – Thiết giáp đã có một sáng kiến khá độc đáo: đưa pháo cao xạ lên xe thiết giáp làm cao xạ tự hành.

    Đầu xuôi đuôi lọt
    Ngày 18 tháng 11 năm 1971, Bộ Quốc phòng ra quyết định chuyển Trung đoàn xe tăng 202 thành Trung đoàn Bộ binh cơ giới 202. Sự thay đổi không chỉ ở cái tên mà kéo theo rất nhiều thay đổi, từ trang bị vũ khí cho đến tổ chức biên chế và nghệ thuật tác chiến…Với sự đa dạng của trang bị và mức độ cơ giới hóa cao, cấp trên hy vọng trung đoàn Bộ binh cơ giới (BBCG) có khả năng tác chiến độc lập, dài ngày trên một hướng của chiến dịch.
    Tuy nhiên, có một vấn đề đặt ra làm đau đầu tất cả các cấp là làm sao có được chiếc ô phòng không an toàn cho binh đội BBCG này khi tác chiến độc lập. Thực tế lúc đó ở chiến trường miền Nam thì Không quân Mỹ đang làm chủ bầu trời.Trong khi đó lực lượng phòng không của ta còn rất mỏng yếu, chủ yếu là các phân đội cao xạ 12, 7 mm và 14, 5 mm. Vì vậy, hầu hết các trận đánh của ta đều bị Không quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa (VNCH) ngăn chặn, gây nhiều thiệt hại.
    Với Bộ đội Tăng – Thiết giáp (TTG) cũng vậy, vũ khí phòng không tự thân cũng chỉ có đến 12,7 mm là cùng, mà lại là vũ khí “phụ” nữa vì ở xe tăng thì nhiệm vụ chính của pháo thủ số 2 là nạp đạn, chỉ khi nào cần tự bảo vệ hoặc không phải nạp đạn mới lên bắn 12,7 mm mà thôi.Một số xe cao xạ tự hành ZSU-37 và ZSU-57-2 còn lại sau thời kỳ chống chiến tranh phá hoại hầu hết đã đưa vào chiến trường nhưng số lượng cũng rất hạn chế. Do đó, vấn đề đánh máy bay, tạo chiếc ô an toàn cho
    TTG là hết sức cần thiết.

    .
    Pháo phòng không tự hành ZSU-57-2.

    Sau vài cuộc trao đổi giữa Bộ tư lệnh TTG và Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân, hai bên đã thống nhất sẽ nghiên cứu đặt các khẩu đội pháo cao xạ lên xe thiết giáp để tăng cường sức mạnh phòng không cho TTG.Loại xe được lựa chọn là BTR-50PK. Còn loại pháo được lựa chọn là pháo phòng không ZU-23-2. Ngay lập tức, sáng kiến được đưa vào thực nghiệm và kết quả thu được tương đối tốt. Và một loạt xe “cao xạ tự hành cải tiến” đã ra đời.
    BTR-50PK (tiếng Nga: БТР- Бронетранспортер) là một loại xe bọc thép chở quân lội nước của Liên Xô dựa trên khung gầm xe tăng hạng nhẹ PT-76, được trang bị 1 khẩu đại liên 7, 62 mm. Xe có trọng lượng 14,5 tấn, kíp xe 3 người và có khả năng chở được đến 20 lính bộ binh.Trên nóc xe, khi đóng cửa BB xuống hoặc nóc buồng động cơ là những tấm thép phẳng nên khá thuận lợi cho việc gá lắp các trang bị khác.
    Còn ZU-23-2 (Tiếng Nga: Зенитная Установка – nghĩa là pháo phòng không) là một loại pháo phòng không bán cố định, nòng đôi cỡ nòng 23 mm do Liên Xô nghiên cứu và chế tạo. Trong trạng thái cố định, mâm pháo có một trục quay giúp xạ thủ có thể quay pháo xung quanh 360 độ.Pháo được ngắm và bắn hoàn toàn bằng thủ công, trang bị một kính ngắm quang học ZAP-23 cùng một thước ngắm cơ khí. Nó cũng được lắp đặt một ống ngắm thẳng T-3 sử dụng trong trường hợp tấn công bộ binh hoặc xe thiết giáp ở mặt đất.
    Pháo ZU-23-2 trên xe thiết giáp BTR-50PK. Ảnh tư liệu.

    Đạn pháo được đặt trong các thùng đạn và được nạp qua hai băng tải ở hai bên. Mỗi thùng đạn chứa 50 viên và cung cấp cho 2 nòng riêng biệt của khẩu pháo. Tốc độ bắn của pháo theo lý thuyết là 2000 viên/phút. nòng, thực tế 400 viên/ phút. nòng.Pháo nặng 0,95 tấn và có 2 bánh lốp để cơ động. Khi tác chiến mâm pháo được hạ xuống và 2 bánh được kéo lên.
    Pháo có 2 loại đạn chính là xuyên cháy và nổ phá, sơ tốc đầu đạn đạt xấp xỉ 1000 mét/ giây, tầm bắn hiệu quả đến 2500 mét.
    Với lợi thế nóc xe BTR50PK khá bằng phẳng nên việc gá lắp pháo ZU-23-2 lên đó tương đối thuận lợi. Người ta đã hàn thêm 3 bu-lông để cố định mâm pháo lên đó, đồng thời bỏ 2 bánh đi. Việc đưa pháo lên cũng không mấy khó khăn, chỉ cần “cẩu” của xe công trình là được.Lúc này, buồng chở bộ binh trở thành kho chứa đạn và nơi lắp đạn, khi cần vẫn có thể chở được 1 tiểu đội bộ binh.Sau khi hàn đặt pháo lên nóc, xe được đem đen bắn thử và kết quả rất ổn định. Chỉ có điều 2 pháo thủ ngồi ngoài đó khá nguy hiểm nên cấp trên quyết định trang bị cho mỗi xe 2 bộ áo giáp và 2 mũ sắt. Ngay sau đó nó được thực hiện đồng loạt trên một số xe và biên chế thành Đại đội cao xạ của Trung đoàn BBCG 202.

    Máy bay cũng bắn mà xe tăng, bộ binh cũng chơi

    Do được đưa vào chiến trường muộn hơn so với toàn trung đoàn nên Đại đội cao xạ tự hành này không được tham gia trong đợt 1 của chiến dịch.Bước vào đợt 2, các xe cao xạ này đã thực sự trở thành cái ô phòng không che đỡ trên đầu Trung đoàn BBCG 202 trong suốt cuộc tiến công trong hành tiến trên cánh đông của chiến dịch. Họ đã bắn rơi 3 máy bay địch, yẻm trợ cho trung đoàn cùng với bộ binh giải phóng 2 huyện Triệu Phong và Hải Lăng của tỉnh Quảng Trị.
    Đáng chú ý, trong quá trình chiến đấu nhiều lần các pháo thủ đã hạ nòng bắn vào quân địch trên mặt đất và đạt được hiệu quả rất cao.Đặc biệt, trong trận phản công đánh địch lấn chiếm Cửa Việt đêm 27, rạng ngày 28.01.1973 trước giờ Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, các xe thiết giáp lắp pháo cao xạ đã lập công lớn khi cùng với đội hình TTG và bộ binh bảo vệ vững chắc vùng giải phóng trước sức tấn công dữ dội của quân địch.
    Trong trận này, đối tượng tác chiến của họ không phải là máy bay mà là xe tăng, thiết giáp và bộ binh địch với số lượng vượt trội (tỷ lệ so sánh địch/ ta về TTG là 20/1).Với sơ tốc đạt 1000 mét/ giây, các đầu đạn xuyên cháy của cao xạ 23 mm đủ sức “xơi tái” M113 và M41, đồng thời cũng làm cho M48 phải chùn bước nếu bắn vào sườn xe. Còn với đầu đạn nổ phá khi bắn bộ binh đạt hiệu quả sát thương rất cao, mỗi đầu đạn đó không khác gì một viên đạn phóng lựu.
    Với sơ tốc lớn, tốc độ bắn cao, uy lực đầu đạn mạnh, lại cơ động nhanh trên mọi địa hình… pháo cao xạ tự hành 23 mm lắp trên xe thiết giáp BTR50PK thật sự là một thứ vũ khí lợi hại.Vì vậy, khi địch mở hướng tiến công thứ hai nhằm đánh vào sườn đội hình phòng ngự của ta, 2 khẩu đội cao xạ tự hành bố trí tại Vĩnh Hòa Phường đã bất ngờ đánh vào sườn đội hình cơ động của địch làm chúng phải rút chạy và bỏ ý định mở hướng vu hồi.Còn khi cảng Mỹ bị một bộ phận bộ binh và TTG địch xâm nhập, theo lệnh trên tất cả các xe cao xạ tự hành còn lại đã cơ động về để phản kích và chính hỏa lực 4 khẩu đội cao xạ này là nhân tố chính đảy lùi lực lượng địch được xe tăng, thiết giáp yểm trợ ra khỏi khu vực cảng trước giờ Hiệp định Pa-ri có hiệu lực.Tiếp đó, các xe cao xạ tự hành này còn tham gia chiến đấu trong cuộc Tổng tiến công nổi dậy Mùa Xuân 1975, làm nghĩa vụ quốc tế và ở đâu nó cũng chứng tỏ được hiệu quả của mình.

    Khung gầm của pháo sử dụng xe tải việt dã 3 cầu chủ động Kamaz-43118 hiện đại nhập khẩu từ Nga. Ảnh: Truyền hình QPVN.

    Sáng kiến đặt pháo cao xạ lên xe thiết giáp đã đạt được những thành công nhất định, để lại nhiều bài học kinh nghiệm về sử dụng phòng không trong tác chiến của TTG, đồng thời cũng thể hiện tinh thần dám nghĩ, dám làm và tư duy sáng tạo trong sử dụng trang bị vũ khí của bộ đội ta.

    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  2. Có 1 người thích bài viết này


  3. #52
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,156
    Thích
    329
    Đã được thích 1,865 lần trong 996 bài viết
    Chiến tranh hiện đại- Xe tăng xoay xở thế nào trước vũ khí hủy diệt lớn?


    Xe tăng T-90. Ảnh minh họa.

    Vũ khí hủy diệt lớn (NBC) là những thứ vũ khí hết sức nguy hiểm, có sức công phá rất mạnh trên diện rộng, để lại hậu quả lâu dài. Nếu Việt Nam có T-90MS, chúng đối phó được không?


    NBC- nỗi khủng khiếp của chiến tranh

    Vũ khí hủy diệt lớn - thường viết tắt là NBC, bao gồm: vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học và vũ khí sinh học là những thứ vũ khí hết sức nguy hiểm, có sức công phá rất mạnh, hiệu suất cao, tác động trên diện rộng, để lại hậu quả lâu dài... đối với các bên tham chiến cũng như môi trường, cảnh quan khu chiến.
    Tuy gộp chung vào một cái rọ "Vũ khí hủy diệt lớn" (VKHDL), song mỗi loại vũ khí trên đều có cơ chế hoạt động và tác động tới con người cũng như trang bị vũ khí khác nhau.1. Vũ khí hạt nhân (N): là loại vũ khí mà năng lượng của nó do các phản ứng phân hạch hoặc nhiệt hạch gây ra. Theo thuyết tương đối của Anh-x-tanh thì khi có m khối lượng vật chất chuyển hóa hoàn toàn thành năng lượng nó sẽ sản sinh ra một năng lượng cực lớn là E= mc2, trong đó c là vận tốc ánh sáng.
    Trong các phản ứng hạt nhân - kể cả phân hạch và nhiệt hạch thì đều có một sự "hụt khối" nhất định, nghĩa là có một lượng vật chất biến hóa hoàn toàn thành năng lượng. Vì vậy, một vũ khí hạt nhân nhỏ nhất cũng có sức công phá lớn hơn bất kỳ vũ khí thông thường nào.Năng lượng được giải thoát bởi vụ nổ bom hạt nhân được đo bằng kiloton hoặc megaton - tương đương với hàng ngàn và hàng triệu tấn thuốc nổ TNT (tri-nitro-toluen). Vũ khí phân hạch đầu tiên có sức công phá đo được là vài ngàn kiloton, trong khi vụ nổ bom khinh khí lớn nhất đo được là 10 megaton.


    Sức hủy diệt của vũ khí hạt nhân. Ảnh minh họa.

    Trên thực tế vũ khí hạt nhân có thể tạo ra các sức công phá khác nhau, từ nhỏ hơn một kiloton ở các vũ khí hạt nhân cầm tay như Davy Crockett của Hoa Kỳ cho đến 54 megaton như Bom Sa hoàng (Tsar-Bomba) của Liên Xô.Trong lịch sử thế giới có hai quả bom hạt nhân đã được dùng trong Chiến tranh thế giới thứ hai: quả bom thứ nhất được ném xuống Hiroshima (Nhật Bản) vào ngày 6 tháng 8 năm 1945; quả thứ hai được ném xuống Nagasaki, cũng ở Nhật Bản ba ngày sau đó làm chết khoảng hơn 200.000 người, hai thành phố bị tàn phá nặng nề và hậu quả để lại đến tận ngày nay.
    Năng lượng từ vụ nổ vũ khí hạt nhân thoát ra ở bốn dạng và đó cũng chính là các tác nhân gây hại của nó. Cụ thể:
    Bức xạ nhiệt - chiếm khoảng 30- 50% tổng năng lượng. Với cường độ cực lớn, nhiệt độ cực cao bức xạ nhiệt sẽ thiêu hủy hoàn toàn các vật thể ở gần tâm vụ nổ, đồng thời gây cháy với các vật thể khác như vũ khí thông thường.
    Sóng xung kích - chiếm khoảng 40- 60% tổng năng lượng. Nhìn chung, các vụ nổ hạt nhân đều tạo ra sóng xung kích lan truyền rất nhanh ra xung quanh, tạo một áp lực rất lớn lên tất cả các vật thể nó gặp trên đường. Và chính áp lực này sẽ phá hủy chúng như các loại vũ khí thông thường song quy mô và sức tàn phá thì mạnh gấp nhiều lần.
    Bức xạ xuyên - chiếm khoảng 5% tổng năng lượng. Các vụ nổ hạt nhân đều tạo ra các tia phóng xạ, bao gồm tia gam-ma, bê-ta, an-pha và nơ-tron. Các tia này có khả năng xuyên thấu qua nhiều loại vật cản gây sát thương cho sinh lực ở sau nó.
    Bức xạ dư - chiếm khoảng 5- 10% tổng năng lượng. Sau khi vụ nổ hạt nhân xảy ra, rất nhiều vật chất, nguyên tố chịu ảnh hưởng và biến thành các nguyên tố phóng xạ. Các nguyên tố này tiếp tục hoạt động tạo ra bức xạ và gây hại cho sinh vật đến nhiều năm sau vụ nổ.
    Ngoài ra, các loại vũ khí hạt nhân còn gây ra hiệu ứng điện từ có thể phá hủy hoặc gây can nhiễu đến các thiết bị điện, điện tử... như hệ thống điện, các phương tiện chỉ huy thông tin, radar v.v...Hiệu ứng quan trọng nhất của vũ khí hạt nhân là áp lực và bức xạ nhiệt có cơ chế phá hủy giống như các vũ khí quy ước. Sự khác biệt cơ bản là vũ khí hạt nhân có thể giải thoát một lượng lớn năng lượng tại một thời điểm.Mức độ tàn phá của ba loại năng lượng đầu tiên khác nhau tùy theo kích thước của bom. Bức xạ nhiệt suy giảm theo khoảng cách chậm nhất, do đó, bom càng lớn thì hiệu ứng phá hủy do nhiệt càng mạnh. Bức xạ xuyên bị suy giảm nhanh chóng trong không khí, nên nó chỉ nguy hiểm đối với các vũ khí hạt nhân hạng nhẹ.Sóng xung kích suy giảm nhanh hơn bức xạ nhiệt nhưng chậm hơn bức xạ ion. Ngoài ra, tất cả các tác nhân trên đều bị suy giảm tác động khi gặp phải các vật che đỡ như công sự, hầm hào hay vỏ thép của xe tăng...


    Xe tăng T-90 phô diễn sức mạnh.

    2. Vũ khí hóa học (C): là loại vũ khí sử dụng chất hóa học (thường là chất độc quân sự) gây tổn thương, nguy hại trực tiếp cho người, động vật và cây cỏ; là một trong những loại vũ khí hủy diệt lớn gây chết người hàng loạt.
    Vũ khí hóa học dựa trên đặc điểm độc tính cao và gây tác dụng nhanh của chất độc quân sự để gây tổn thất lớn cho đối phương. Các loại vũ khí hóa học chính bao gồm: Vũ khí hóa học gây ngạt; Vũ khí hóa học gây tổn thương thần kinh; Vũ khí hóa học gây loét da; Vũ khí hóa học diệt cây...
    So sánh với vũ khí thông thường vũ khí hoá học có các đặc điểm sau:
    - Tác dụng sát thương chủ yếu bằng độc tính của chất độc quân sự;
    - Phạm vi sát thương rộng;
    - Thời gian tồn tại tác hại lâu dài;
    - Chịu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết và địa hình;
    Các con đường trúng độc thường là: hô hấp, tiêu hóa và tiếp xúc. Vì vậy, để ngăn chặn tác động của vũ khí hóa học thì cần phải cách ly được người với chất độc trên cả 3 con đường trên.Vũ khí hóa học đã được sử dụng ở nhiều nới trên thế giới, đặc biệt trong chiến tranh Việt Nam. Tại đây Mỹ đã sử dụng một lượng lớn chất diệt cỏ trên một phạm vi rất rộng, để lại di hại đến tận bây giờ.

    3. Vũ khí sinh học (B): là một loại vũ khí hủy diệt hàng loạt dựa vào đặc tính gây bệnh hay truyền bệnh của các vi sinh vật như vi trùng, vi khuẩn; hoặc các độc tố do một số vi trùng tiết ra để gây mầm bệnh hay cái chết cho con người, cho động vật hoặc cây trồng, đưa đến những hậu quả không thể lường trước được, tùy thuộc vào khả năng lan truyền của chúng trong cơ thể động vật hay cây trồng.
    Trong chiến tranh sinh học những bệnh tật đáng sợ nhất là do những tác nhân lan truyền qua nước, bụi hay động vật, có khả năng gây bệnh cao.Đó là dịch hạch, dịch tả, những bệnh do virus gây ra như sốt vàng da, bệnh virus vẹt, cúm, những bệnh do trùng rận gây ra như sốt chấy rận, những bệnh do độc tố trong thức ăn, nước uống gây ra ngộ độc hàng loạt.
    Những đặc điểm lý tưởng của các vũ khí sinh học là dễ lây nhiễm, hiệu lực cao, dễ phát tán... Vũ khí sinh học không phá hủy các công trình kiến trúc, cơ sở vật chất kỹ thuật như cầu cống, đường sá,...Các con đường nhiễm vũ khí sinh học cũng bao gồm: hô hấp, tiêu hóa và tiếp xúc. Tuy nhiên, nó nguy hại hơn vũ khí hóa học ở khả năng lây nhiễm giữa người với người, giữa động vật với người.
    Để phòng chống vũ khí sinh học cũng phải cách ly tuyệt đối con người với các tác nhân gây nhiễm theo cả ba con đường trên.
    Vũ khí sinh học cũng đã được sử dụng ở một vài nơi nhưng chủ yếu ở dạng thử nghiệm trên quy mô nhỏ bởi tác hại của nó rất khó lường, có khi gây hại cả cho bên sử dụng.


    Xe tăng T-90MS.

    Với xe tăng hiện đại như T-90MS, NBC không quá đáng sợ

    Lục quân Việt Nam đã được xác định tăng tốc hiện đại hóa trong thời gian tới, trong đó, xe tăng chiến đấu chủ lực sẽ được ưu tiên. Trong trường hợp Việt Nam mua xe tăng T-90MS, liệu vũ khí NBC có đáng sợ không?
    Với thế mạnh có vỏ thép dày, bản thân xe tăng T-90MS đã là một vật che chắn hiệu quả đối với kíp xe trước các tác nhân gây hại chủ yếu của vũ khí hạt nhân.Nếu ở không quá gần tâm vụ nổ và được làm kín tốt, nó sẽ hoàn toàn cách ly được kíp xe với thế giới bên ngoài và do đó ngăn cản được các tác nhân gây hại của vũ khí hạt nhân, chất độc hóa học và các nguồn gây bệnh.
    Dựa trên nguyên lý đó người ta đã thực hiện thành công "Hệ thống bảo vệ chống vũ khí NBC" cho xe tăng hiện đại như T-90MS, đảm bảo cho chúng hoàn toàn có thể tác chiến trong điều kiện đối phương sử dụng vũ khí NBC.Để thực hiện được yêu cầu trên, hệ thống bảo vệ chống vũ khí NBC của xe tăng T-90 MS cũng như các loại xe khác thường bao gồm các thiết bị chủ yếu sau:
    Thiết bị cảm biến: có nhiệm vụ phát hiện nhanh nhất vụ nổ hạt nhân, qua đó tự động thực hiện các thao tác phòng chống. Đó thường là một buồng i- on rất nhạy với bức xạ quang của vụ nổ.Đối với vũ khí hóa học và sinh học kíp xe phát hiện qua các dấu hiệu nhận biết hoặc từ thông báo của cấp trên. Riêng đối với xe tăng T-90MS đã được trang bị thiết bị trinh sát hóa học ПКУЗ-1-2, có thể nhận biết khi chất độc hóa học xuất hiện và báo hiệu cho kíp xe.


    Xe tăng T-90MS. Ảnh minh họa.

    Các thiết bị làm kín: có nhiệm vụ bịt kín tất cả những chỗ hở cần thiết của xe tăng khi hoạt động, chiến đấu bình thường như: lỗ bắn súng, cửa kính ngắm, cửa khí v.v... nhằm ngăn chặn sóng xung kích, chất độc hóa học cũng như tác nhân gây dịch bệnh đến kíp xe.Các thiết bị này có thể hoạt động ở 2 chế độ: tự động đóng kín bằng cách gây nổ cho hạt nổ trên thiết bị khi có tín hiệu từ cảm biến báo về hoặc đóng mở bằng tay.
    Máy tăng áp: có nhiệm vụ lọc sạch không khí để cung cấp cho kíp xe và tạo ra một áp suất dư bên trong xe tăng với bên ngoài, đảm bảo nếu có khe hở nào đó chưa được bịt kín thì không khí bên ngoài cũng không thể tràn vào được.
    Khi vũ khí hạt nhân nổ, ánh sáng từ vụ nổ chiếu đến thiết bị cảm biến. Thiết bị này lập tức làm việc, cấp điện cho các hạt nổ tại các thiết bị làm kín phát nổ và tất cả các vị trí cần làm kín sẽ được bịt kín ngay tức thì. Đồng thời, nó cũng ra lệnh cho quạt tăng áp làm việc để đảm bảo lọc sạch không khí đưa vào xe.
    Trường hợp cần tác chiến trong vùng nhiễm xạ thì sau khi bức xạ quang và sóng xung kích tràn qua, kíp xe sẽ mở những vị trí cần thiết nhất như cửa kính ngắm, khóa nòng pháo... song yêu cầu phải thao tác thật nhanh.
    Khi phát hiện hoặc nhận được thông báo của cấp trên hoặc quân bạn là có vũ khí hóa học hoặc vũ khí sinh học kíp xe sẽ thực hiện các thao tác làm kín và bật quạt tăng áp bằng tay. Sau đó dùng tốc độ cao vượt qua khu vực nhiễm độc, nhiễm khuẩn.
    Tuy nhiên, tất cả các trường hợp trên, sau khi kết thúc chiến đấu đều phải đưa xe về khu vực cách ly để tiến hành tẩy xạ, tẩy độc bằng trang thiết bị và hóa chất chuyên dùng.

    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  4. Có 1 người thích bài viết này


  5. #53
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,156
    Thích
    329
    Đã được thích 1,865 lần trong 996 bài viết
    XÍCH XE TĂNG- CHỚ COI THƯỜNG MÀ GẶP HỌA



    Xe tăng T-90MS do Nga chế tạo.

    Không tinh vi, không rắc rối, chẳng hiện đại, chỉ là những mảnh thép gồ ghề, thô ráp nhưng xin chớ coi thường bởi nếu không có chúng thì kể cả xe tăng T-90MS sẽ chỉ nằm ì một chỗ.

    Một trong những thế mạnh của xe tăng là sức cơ động việt dã cao, nghĩa là nó có thể vượt qua được nhiều loại địa hình phức tạp từ nơi nền đất yếu tới những nơi rừng núi nhiều đèo dốc cao, từ những con đường mấp mô tới những vật cản mà xe bánh lốp không thể vượt qua được như vách đứng, hào sâu v.v...Tất cả những thế mạnh đó ngoài sức mạnh của động cơ thì chủ yếu là nhờ vào dải xích của nó.
    Với diện tích tiếp xúc khá lớn, dải xích tạo ra cho chiếc xe tăng một cái "bàn đế" khá vững vàng.
    Nhìn những chiếc xe tăng nặng nề đến vài chục tấn không mấy ai nghĩ nó chỉ tạo ra một áp lực lên mặt đất cỡ khoảng 0,8- 0,9 KG/cm2 mà thôi - nghĩa là chỉ như một người đi chân trần dẫm lên chính chỗ đó.
    Cũng nhờ diện tích lớn cộng với cấu tạo mặt xích phù hợp chính dải xích tạo ra lực kéo bám lớn trong khi lực cản lăn lại nhỏ, đồng thời liên kết các bánh tỳ lại để cho xe có thể vượt qua vách đứng cao hàng mét, vượt hào chống tăng rộng 2,5 đến 3 mét. Sơ sơ như vậy đủ thấy không thể coi thường nó được!

    Những yêu cầu cơ bản đối với xích xe tăng

    Là một bộ phận mà điều kiện làm việc rất khắc nghiệt, trực tiếp va đập với mặt đường và các bộ phận khác, lại chịu sự tác động của rất nhiều thứ lực và các tác nhân nên ngoài nên quá trình thiết kế, chế tạo mỗi mảnh xích cũng như cả dải xích xe tăng có những yêu cầu rất cao. Cụ thể là:Phải đảm bảo tính cơ động, khả năng thông qua và quay vòng cao. Nghĩa là: mảnh xích có trọng lượng và hình dạng thích hợp, có lực cản chuyển động nhỏ nhưng lực kéo bám đủ lớn; yêu cầu này phụ thuộc chủ yếu vào cấu tạo mặt ngoài của mảnh xích.

    Xe tăng PT-76 của bộ đội Việt Nam trong bài huấn luyện vượt sông.

    Ngoài ra, các mảnh xích trong dải xích phải liên kết với nhau chắc chắn, linh hoạt và bền vững... Để đảm bảo yêu cầu này, ngoài mảnh xích thì các chốt xích - chi tiết liên kết các mảnh xích thành dải xích có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Trong thực tế, các chốt xích thường bị hư hỏng trước tiên.

    Có độ bền và bền mòn cao, đủ sức chịu đựng những tác động từ mặt đường xấu cũng như lực kéo của động cơ.
    Cụ thể hóa của yêu cầu này là tuổi thọ của xích, tối thiểu phải đạt vài nghìn km và tất nhiên là càng cao càng tốt.
    Là phương tiện chiến đấu nên đường cơ động của xe tăng thường là đường quân sự làm gấp, chất lượng mặt đường rất xấu, nhiều vật cản... Nếu không đủ bền xích sẽ hư hỏng thường xuyên gây khó khăn cho quá trình hoàn thành nhiệm vụ.
    Chẳng hạn, trong trận đánh cứ điểm Tà Mây ngày 24.01.1968, khi 2 xe 555 và 558 xung phong vào cứ điểm thì xe 558 bị đứt xích phải nằm ngoài cửa mở, chỉ còn một mình xe 555 vào được trong cứ điểm mà thôi.Cũng chính vì vậy, khi chuẩn bị đánh Làng Vây, Tiểu đoàn 198 đã phải rút số xe tham gia chiến đấu từ 11 xe xuống 8 xe mỗi đại đội, qua đó lấy xích tốt từ 3 xe kia thay sang cho các xe tham gia chiến đấu và nhờ vậy mà không có hiện tượng đứt xích xảy ra.
    Có khả năng bảo vệ khỏi sự hủy diệt của đối phương.
    Là phương tiện chiến đấu việc đối mặt với hỏa lực đối phương là đương nhiên. Những loại vũ khí trực tiếp thường phá hủy dải xích là mìn chống tăng, tên lửa- súng phóng lựu chống tăng v.v...
    Việc thiết kế chế tạo phải tính toán để dải xích nói riêng và cơ cấu vận hành nói chung đủ sức chịu đựng hoặc chỉ thiệt hại tối thiểu trước các vũ khí hoặc hỏa lực này.
    Đảm bảo trọng lượng nhỏ, kết cấu đơn giản, thuận tiện cho sửa chữa, bảo dưỡng.
    Cụ thể hóa đối với yêu cầu này là tự kíp xe không cần đến sự hỗ trợ của thợ sửa chữa phải đủ khả năng bảo dưỡng, thay thế các mảnh xích khi cần thiết trong thời gian ngắn nhất, kể cả trong điều kiện đang chiến đấu khẩn trương, ác liệt.
    Dẫu đơn giản nhưng liên tục được cải tiến

    Thoạt kỳ thủy, xích của những thế hệ xe tăng đầu tiên có cấu tạo và kết cấu rất đơn giản, thường chỉ là một mảnh thép phẳng có hàn thêm một vấu để tăng lực bám mà thôi. Việc liên kết các mảnh xích với nhau cũng chỉ đơn thuần là các chốt kim loại hình trụ.Tuy nhiên, trong một thế kỷ có mặt và phát triển, cấu tạo và kết cấu xích xe tăng đã liên tục được cải tiến và có những bước phát triển mạnh mẽ, đáp ứng ngày càng cao những yêu cầu đề ra đối với nó trong điều kiện chiến tranh hiện đại.
    Trước hết, với những tiến bộ không ngừng của kỹ thuật luyện kim người ta đã chọn được những loại thép hợp kim tốt nhất để chế tạo mảnh xích và chốt xích, đảm bảo chúng có độ bền và độ bền mòn cao nhất.Bên cạnh đó, người ta cũng lựa chọn được phương pháp gia công và quy trình nhiệt luyện tối ưu để các mảnh xích và chốt xích đạt được yêu cầu đã đề ra.
    Để chế tạo mảnh xích, trước đây tùy theo trình độ công nghệ mà người ta sử dụng một trong các phương pháp gia công sau: rèn, hàn, đúc và dập. Mỗi phương pháp này có ưu nhược điểm khác nhau.
    Cho đến gần đây hai phương pháp gia công được dùng phổ biến nhất là: đúc để chế tạo mảnh xích các xe tăng hạng trung, hạng nặng và dập để chế tạo xích các xe tăng hạng nhẹ, xe tăng bơi nước. Đối với chốt xích cũng vậy, với quy trình nhiệt luyện thích hợp chúng đã bền hơn trước đây rất nhiều.

    Xe chiến đấu bộ binh BMP-3 của Quân đội UAE.

    Về cấu tạo các mảnh xích cũng liên tục được cải tiến, trong đó chủ yếu là đối với mặt tiếp xúc với mặt đường. Nhìn chung, các vấu, gờ trên mặt mảnh xích được tính toán sao cho lực cản lăn là nhỏ nhất và lực bám lại lớn nhất. Có như vậy mới đạt được tốc độ cao khi chạy và bám tốt khi leo dốc hoặc vượt qua các vật cản.Riêng xích của một số loại xe bơi bằng xích (M-113, BMP-1, BMP-2, thiết giáp BMP-3,...) phải có hình dáng khác biệt có thể tạo thành guồng nước khi bơi.
    Vài thập kỷ trở lại đây, một số nước - chủ yếu là những nước theo trường phái phương Tây đã thực hiện việc ốp thêm lớp lót cao su vào mặt xích.
    Giải pháp này cho phép giảm bớt va đập với mặt đường, giảm lực cản lăn song có bất lợi khi đi trên đường trơn trượt hoặc leo dốc, đi dốc nghiêng vì lực bám kém.Riêng đối với đời xe tăng T-90MS của Nga, người ta đã lựa chọn giải pháp là sản xuất thêm "guốc" bê tông АХБ đi kèm bằng vật liệu polyuretan. Khi đi trên đường cứng, đường bê tông thì người ta lắp vào, còn các địa hình khác thì tháo ra được.Tuổi thọ các "guốc" dành cho xe tăng T-90MS này không dưới 1.000 km.


    Xe tăng T-90MS do Nga chế tạo.

    Như đã nói trên, chốt xích là chi tiết bị ảnh hưởng lớn nhất, dễ hư hỏng nhất, có tuổi thọ thấp nhất... nên nó cũng được ưu tiên cải tiến thường xuyên nhất.
    Từ chỗ đơn thuần là khớp kim loại hở - nghĩa là một chốt kim loại hình trụ xuyên qua các lỗ tròn ở tai các mảnh xích, không chỉ là cọ xát giữa kim loại với kim loại mà còn bị cát sỏi chui vào làm tăng thêm độ mài mòn tiến lên khớp kim loại kín, khớp kim loại - cao su, khớp có ổ bi kim...
    Đối với xe tăng hiện đại, loại khớp được sử dụng phổ biến nhất hiện nay là khớp kim loại- cao su. Trong trường hợp này, chốt xích thường có hình lục lăng, giữa chốt xích với lỗ ở tai xích có một lớp lót bằng cao su chất lượng cao.Nhờ vậy tránh được sự mài mòn trực tiếp giữa kim loại với kim loại. Mặt khác, lớp lót này cũng ngăn không cho cát bụi chui vào khe hở giữa chốt xích với tai xích nên đỡ bị mài mòn do tác nhân này.
    Nhờ những cải tiến đồng bộ trên, tuổi thọ dải xích của các xe tăng hiện đại có thể kéo dài đến 10.000 km.
    Nhưng nói gì thì nói, như các cụ ta đã tổng kết: "của bền tại người"! Xích hay bất cứ bộ phận nào của trang bị vũ khí đều có thể được kéo dài tuổi thọ nếu chúng được chăm sóc, kiểm tra, bảo dưỡng thường xuyên.

    Nguồn:
    http://soha.vn/dai-ta-viet-nam-xich-xe-tang-cho-coi-thuong-ma-gap-hoa-he-lo-ve-t-90ms-20170228164938955.htm
    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  6. #54
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,156
    Thích
    329
    Đã được thích 1,865 lần trong 996 bài viết
    MÙA ĐÔNG BĂNG GIÁ- KẺ THÙ KHÓ LƯỜNG CỦA TTG



    Không chỉ là khắc tinh của các lực lượng bộ binh, mùa đông băng giá cũng là một kẻ thù đáng nể và hết sức khó lường của các loại xe tăng - thiết giáp.

    Phải hành quân và tác chiến trong điều kiện giá lạnh là một cực hình đối với các đơn vị bộ binh. Chẳng thế, trong lịch sử chiến tranh mùa Đông băng giá của nước Nga đã làm nản lòng, chùn bước những đội quân hùng mạnh của Napoleon cũng như của phát-xít Đức...Nhưng không chỉ với bộ binh, mà mùa đông băng giá cũng là một kẻ thù đáng nể, khó lường của xe tăng, thiết giáp cũng như nhiều phương tiện chiến đấu khác nữa.
    Việt Nam là một nước nằm ở khu vực nhiệt đới. Tuy nhiên, tại các tỉnh miền núi phía bắc mùa đông vẫn thường có những đợt rét đậm, rét hại với nhiệt độ khá thấp, nhiều khi có cả băng giá... Chúng ta đã từng thấy trên TV đưa hình ảnh các lái xe khách trên những cung đường này phải đốt lửa hơ nóng bình nhiên liệu rồi mới nổ máy được.Đó là một cách làm "cực chẳng đã" song cũng chẳng còn cách nào hơn để khắc phục khó khăn nhất thời lúc đó.


    Đốt lửa sưởi nhiên liệu cho xe khách. Ảnh: Trung Anh.

    Mùa đông băng giá ảnh hưởng như thế nào đến xe máy, trang bị?

    Nhìn chung, xe tăng - thiết giáp hay các loại phương tiện chiến đấu khác đều cần có một động cơ để tạo ra động lực cung cấp cho phương tiện đó cũng như các loại trang thiết bị trên phương tiện đó hoạt động.Cho đến nay, đại bộ phận động cơ trang bị cho xe tăng, thiết giáp và các phương tiện chiến đấu là động cơ đốt trong. Và đây chính là "khâu yếu nhất" mà bà chúa mùa đông băng giá có thể tác động vào.

    Sở dĩ nói như vậy bởi vì các hệ thống cấu tạo nên động cơ đốt trong như hệ cung cấp nhiên liệu, hệ làm nhờn, hệ làm mát... đều có các "chất công tác" là chất lỏng là thứ mà nhiệt độ thấp của mùa đông dễ tác động đến nhất.
    Đối với hệ cung cấp nhiên liệu của hầu hết động cơ xe tăng, thiết giáp sử dụng nhiên liệu diesel và chúng được đốt cháy trong xy lanh động cơ theo phương pháp "tự nén cháy". Bản thân diesel là loại nhiên liệu có nhiệt độ đóng băng khá thấp nên nhìn chung không sợ chúng đông đặc lại.Tuy nhiên, khi nhiệt độ xuống thấp thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng tự bốc cháy của chúng khi được nén dưới áp suất cao, dẫn đến khó nổ máy và khi nổ được rồi cũng sẽ ảnh hưởng đến công suất động cơ- thường là giảm từ 10- 30% công suất thiết kế.Đó chính là nguyên nhân dẫn đến việc các lái xe ở vùng cao phía bắc đã phải dùng đến "hạ sách" đốt lửa hâm nóng thùng nhiên liệu như chúng ta đã thấy.
    Đối với hệ thống làm nhờn - một hệ thống rất quan trọng có tác dụng cung cấp dầu nhờn cho các bề mặt chịu ma sát, các ổ đỡ, ổ quay... của động cơ cũng bị ảnh hưởng khá nặng nề bởi mùa đông băng giá.


    Xe tăng chuẩn bị hành quân ra thao trường. Ảnh: QĐND.

    Nhiệt độ thấp của mùa đông sẽ làm dầu nhờn trở nên đặc hơn và dẫn đến không bảo đảm độ nhớt theo yêu cầu, độ mài mòn của các bề mặt ma sát sẽ tăng lên. Mặt khác , dầu đặc cũng làm khả năng lưu chuyển kém dẫn đến tình trạng không cung cấp được cho tất cả các bề mặt ma sát cần dầu gây ra gãy, vỡ các chi tiết.
    Đặc biệt, hệ thống làm mát của động cơ là cơ quan bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi các tác động của mùa đông băng giá. Sở dĩ như vậy là bởi "chất công tác" của hệ thống này chính là nước (H2O) có nhiệt độ đóng băng khá cao - 00C.Đối với mùa đông ở các nước hàn đới thường xuyên có nhiệt độ dưới 00C, thậm chí còn xuống đến âm vài chục độ thì nguy cơ nước trong hệ làm mát bị đóng băng là chuyện nhãn tiền. Nước đóng băng không lưu chuyển được, động cơ sẽ không được làm mát.Và khi động cơ không được làm mát thì tác hại sẽ vô cùng lớn sẽ xảy ra như: bó biên, cháy máy v.v...
    Ở nước ta, mặc dù là nước nhiệt đới gió mùa song tại những vùng núi cao phía bắc cũng có nhiều nơi nhiệt độ xuống dưới 00C vào mùa đông nên không thể nói nguy cơ này không xảy ra.
    Đối với các loại động cơ tua-bin khí không cần đến nước làm mát thì các ảnh hưởng của nhiệt độ thấp có ít hơn, chủ yếu nó tác động đến nhiên liệu và dầu nhờn và ít nhiều cũng làm ảnh hưởng đến công suất cũng như độ bền động cơ.
    Không chỉ gây ảnh hưởng đến động cơ, nhiệt độ thấp cũng có ảnh hưởng nhất định đến dung lượng bình điện - tính trung bình nhiệt độ cứ giảm 1 độ thì điện lượng giảm 1%, đến các cơ cấu dẫn động, truyền động (do dầu nhờn đặc lại) và đến quỹ đạo đường đạn khi bắn ra- thường là gần lại so với điều kiện tiêu chuẩn (nhiệt độ 150C)...
    Ngoài nhiệt độ thấp thì một tác nhân khác nữa của mùa đông băng giá ảnh hưởng đến việc sử dụng xe tăng thiết giáp và các phương tiện kỹ thuật là băng tuyết. Băng tuyết phủ dày làm ảnh hưởng đến khả năng cơ động của xe. Bên cạnh đó, lớp băng tuyết đông lại trên các mặt kính cũng làm khả năng quan sát, ngắm bắn của kíp xe bị ảnh hưởng nghiêm trọng.


    Xe tăng T-90 của Nga diễn tập.

    Làm gì để chiến thắng mùa đông băng giá?

    Nhận thức rõ ảnh hưởng của mùa đông băng giá đến xe tăng thiết giáp, các nhà sản xuất đã có những giải pháp tổng thể cả trong thiết kế chế tạo lẫn quy trình, quy tắc sử dụng. Vấn đề còn lại là do những người sử dụng có thực hiện đúng những quy trình, quy tắc ấy hay không mà thôi.
    Để khắc phục những ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến các hệ của động cơ, các "chất công tác" khi sử dụng trong mùa đông băng giá cũng có những yêu cầu riêng.Chẳng hạn, đối với hệ cung cấp nhiên liệu thì phải sử dụng các loại nhiên liệu dành cho mùa đông (VD: diesel nhãn hiệu ДА), hệ làm nhờn cũng phải dùng loại riêng (VD: dầu nhờn nhãn hiệu АМТ-14П).Còn đối với hệ làm mát cũng phải dùng loại nước làm mát có pha những hóa chất đặc biệt (VD: nước làm mát ký hiệu "65") để hạ thấp nhiệt độ đóng băng của chúng xuống.
    Ngoài ra, để đảm bảo sự an toàn cho hoạt động của động cơ người ta còn lắp thêm một bộ tăng nhiệt cho mỗi động cơ.Bộ tăng nhiệt này có thể vận hành bằng dẫn động tay quay hoặc bằng điện. Bộ phận chủ yếu của bộ tăng nhiệt là một "buồng đốt" - đó là một buồng kín bằng kim loại và được đốt nóng bởi chính nhiên liệu của phương tiện với nguồn nhiệt ban đầu là một bu-gi.Xung quang buồng đốt là các "ống ruột gà" dẫn nhiên liệu, nước làm mát và dầu nhờn.
    Khi cho bộ tăng nhiệt làm việc, nhiệt độ của buồng đốt làm các chất lỏng này nóng lên rồi được đẩy đi khắp hệ thống cho đến khi đạt nhiệt độ bình thường mới được khởi động động cơ.
    Thông thường, đối với các xe tăng thiết giáp hoặc trang bị xuất sang các nước nhiệt đới sẽ không có bộ tăng nhiệt này.
    Trường hợp không có loại nước đặc biệt có nhiệt độ đóng băng thấp và nước trong hệ làm mát bị đóng băng thì phải đun nước đến nhiệt độ 60- 900C để bổ sung vào cho đến khi nước chảy thông từ lỗ tra nước đến lỗ tháo nước mới được cho động cơ làm việc.Sau khi cho bộ tăng nhiệt làm việc đạt đến nhiệt độ cần thiết thì trước khi khởi động động cơ vẫn phải bơm dầu nhờn bằng điện đạt đến áp suất quy định - thường là 2 KG/cm2. Quy định này nhằm đưa được dầu nhờn đến tất cả các bề mặt ma sát tránh gây gẫy vỡ các chi tiết.
    Mặc dù vậy, khi động cơ đã được khởi động cũng không nên khởi xe ngay mà nên nổ máy tại chỗ với chân ga nhỏ từ 2-3 phút để động cơ làm việc ổn định. Khi khởi xe cũng nên bắt đầu ở số thấp- tốt nhất là số 1.
    Còn để khắc phục tình trạng băng tuyết đóng lại trên mặt các kính quan sát, kính ngắm người ta đã thiết kế các bộ phận sưởi nóng bằng điện từ phía trong xe và bộ phận thổi tuyết bằng khí nén bên ngoài mặt kính...
    Ở Việt Nam, nhìn chung mùa đông không quá khắc nghiệt như các nước hàn đới. Tuy nhiên, khi gặp trường hợp "rét đậm, rét hại"- nhất là khi hoạt động dã ngoại tại các vùng núi cao phía Bắc thì cũng phải hết sức chú ý đến việc giữ nhiệt và tăng nhiệt cho động cơ.
    Cụ thể, nếu trú quân ngoài trời phải đóng kín các cửa xe và cửa chớp hút gió, sau đó dùng bạt che kín phần truyền động cũng như toàn xe. Trước khi khởi động xe để sử dụng lại phải kiểm tra cẩn thận.Nếu nước làm mát trong hệ bị đóng băng thì phải đun nước nóng để bổ sung vào hệ làm mát cho nhiệt độ chung của hệ nâng lên trên 500C mới khởi động động cơ.
    Tựu chung, như ông cha ta đã tổng kết: "của bền tại người". Cứ thực hiện nghiêm các quy trình, chấp hành đúng các quy tắc thì dù mùa đông băng giá hay mùa hạ nóng bỏng, các trang thiết bị nói chung và tăng thiết giáp nói riêng sẽ phát huy hết hiệu suất của mình, đồng thời tuổi thọ của chúng sẽ được kéo dài.
    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  7. #55
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,156
    Thích
    329
    Đã được thích 1,865 lần trong 996 bài viết
    CỨU KÉO XE TĂNG- NHỮNG CHUYỆN DỞ KHÓC, DỞ CƯỜI


    Xe tăng cũng có lúc bị sa lầy, bị hỏng... cần phải cứu kéo. Không quá phức tạp, song nếu không thực hiện đúng các quy trình, quy tắc và thao tác thì dễ có chuyện dở cười, dở khóc.

    Khi tiến hành cứu kéo xe, quy tắc đầu tiên mà những người thực hiện phải chấp hành đó là phải có chỉ huy thống nhất. Trong điều kiện bình thường, quan sát tốt có thể chỉ cần một người chỉ huy chung cho tất cả các xe tham gia cứu kéo.
    Còn trong đếm tối, lại bị không quân địch đang đe dọa trên đầu... thì ngoài người chỉ huy chung còn phải có người chỉ huy riêng cho từng xe - kể cả xe đến cứu kéo và xe được cứu kéo.

    Quy tắc thứ hai là phải đảm bảo an toàn tuyệt đối. Phải tính toán, sử dụng loại cáp, xích hoặc cần kéo cứng cho phù hợp từng điều kiện cụ thể. Khi cần thiết, ngoài các xe cứu kéo còn phải bố trí thêm các xe cố định (làm neo) để tránh cho xe được cứu bị lật.
    Một quy tắc nữa những người tham gia cứu kéo phải tuyệt đối nằm lòng là: phải căng cáp (xích) trước khi dốc toàn lực kéo. Có như vậy, sợi cáp mới không bị tác động đột ngột và bị đứt ngoài ý muốn.
    Nói chung, cũng không quá phức tạp song không phải không có sự cố xảy ra.

    Thời chiến đã lắm chuyện

    Trong chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Đất nước, trên đường hành quân vào chiến trường, đoạn qua sông Sê Băng Hiêng, một chiếc xe tăng bị dệ ngay bờ sông. Điều oái oăm là xe bị dệ đúng chỗ cua nên góc quan sát hơi khó. Trên đầu tiếng chiếc AC-130 tuần đường vẫn vè vè. Nếu không cứu kéo kịp cứ để xe nằm đây chắc ăn đạn của nó lắm!
    Một chiếc xe đi trước được cho lùi về cách chiếc xe bị dệ chừng 2 mét rồi dừng lại. Các thành viên nhanh chóng móc cáp nối giữa 2 xe. Tín hiệu chỉ huy xe được thể hiện qua 2 cái đèn pin đã bịt mặt kính, chỉ hở 1 lỗ bằng chiếc đũa.
    Vì địa hình ở đúng chỗ cua gấp, lái xe được cứu không thể quan sát được người chỉ huy phía trước nên trưởng xe đó phải đứng trên buồng truyền động trên xe đến cứu kéo để chỉ huy. Đứng ở đây, anh phải quan sát hành động của cả người chỉ huy phí trước và của xe mình để phối hợp cho chặt chẽ.
    Sau khi cho căng cáp theo đúng quy tắc, người chỉ huy phía trước vẫy đèn cho xe tiến. Người chỉ huy thứ hai cũng thực hiện theo rất nhịp nhàng. Cú dệ xe không nặng lắm lên hai chiếc xe từ từ bò lên mặt đường không mấy khó khăn.


    Xe tăng T-90 của Nga bị sa lầy. Ảnh minh họa.

    Tuy nhiên, khi người chỉ huy phía trước ra tín hiệu dừng xe. Lía xe phía trước dừng đột ngột làm người chỉ huy thứ hai mất thăng bằng ngã xuống buồng truyền động. Cây đèn pin văng ra và hướng lên phía trên như tìn hiệu "Tiến!".
    Vậy là lái xe phía sau cứ điềm nhiên tăng ga. Cả băng xích bên phải xe sau chồm lên lá chắn bùn và lan can bên trái xe trước tóe lửa.
    Cho đến khi lái xe sau phát hiện ra và dừng lại thì băng xích của anh ta đã nhai gọn cả lá chắn bùn và tấm thép lan can bên trái xe trước. Không những thế, nó còn làm cho cửa xả động cơ xe trước bẹp dúm dó, phải đục ra mới chạy được.
    Một sự cố khác tương tự nhưng hậu quả nghiêm trọng hơn do kéo lùi. Khi xe kéo đã dừng lại, lái xe được kéo vẫn tiếp tục lùi. Nòng pháo xe được kéo chọc vào đầu lái xe kéo ở phía sau và ép vào tháp pháo làm lái xe phía sau bị thương nặng.
    Đấy chỉ là hai sự cố tương đối điển hình. Còn những chuyện tương tự và gần tương tự thì nhiều vô số.

    Thời bình cũng vô khối chuyện

    Không chỉ trong thời chiến, trong chiến đấu những sự cố dở cười, dở khóc khi cứu kéo mới xảy ra mà cả trong thời bình, trong huấn luyện những chuyện như thế cũng không hiếm.
    Một trong những sự cố phổ biến hay xảy ra nhất là đứt cáp. Có nhiều nguyên nhân nhưng thông thường nhất là sử dụng cáp không đúng chủng loại, không đủ sức chịu tải. Một nguyên nhân nữa là do không chấp hành quy tắc "căng cáp" trước khi kéo, làm cho sợi cáp bị "giật" đột ngột, tạo ra siêu ứng suất gây đứt cáp.
    Cáp đứt, ngoài việc hao tốn vật tư phụ tùng thì còn một nguy cơ khác nghiêm trọng hơn là mất an toàn. Sợi cáp trước khi đứt thường là đang bị kéo căng hết mức nên khi đứt, lực đàn hồi của các sợi thép trong đó sẽ làm 2 nửa cáp đứt văng mạnh về hai phía. Đã có vài trường hợp thương vong xảy ra cho lái xe cũng như người xung quanh khi bị sợi cáp đứt văng vào.
    Ngoài đứt cáp thì cũng còn vô số sự cố khác, thậm chí đến mức "không thể tin nổi" đã xảy ra. Chẳng hạn vụ "xe tăng không người lái" ở một Trường đào tạo Hạ sĩ quan TTG vẫn thường được mọi người nhắc đến như một bài học nhớ đời.
    Hôm đó, để chuẩn bị cho đoàn cán bộ cấp trên sắp vào kiểm tra Ban giám hiệu nhà trường lệnh cho các đơn vị, bộ phận dưới quyền dọn dẹp vệ sinh, bố trí mọi mặt cho thật chính quy, đẹp mắt.
    Tại khu xe, thấy một chiếc xe của đại đội mình khi lùi vào lán đã lùi hơi sâu làm cho các xe không thẳng hàng, đồng chí đại đội phó kỹ thuật không được hài lòng cho lắm và yêu cầu phải sắp xếp lại.
    Tuy nhiên, đồng chí lái xe giữ xe này lại đang đi vắng. Do tính cẩn thận, đồng chí này đã lắp riêng một chiếc khóa vào cửa trưởng xe nên không ai mở được để vào nổ máy cho xe tiến lên. Không chịu dừng lại, đại phó kỹ thuật quyết định cho một xe khác đến kéo xe này tiến lên mấy chục cm cho các xe thẳng hàng.


    Xe tăng Merkava IV của Israel "tập bơi". Ảnh minh họa.

    Nhưng thật không ngờ! Khi chiếc xe vừa nhích đi được một mắt xích thì động cơ của nó bỗng đột ngột gầm lên. Tất cả mọi người có mặt đều hết sức luống cuống, chỉ kịp tháo vội cái cáp kéo rồi cho xe phía trước tránh sang một bên.
    Trong khi đó, chiếc xe tăng không người lái cứ hùng dũng tiến về phía trước một cách bình thản. Nó lao qua nhà trực ban khu xe, để lại trên 2 bức tường nhà trực ban 2 lỗ hổng đúng hình xe tăng chính diện. Tiếp đó là hàng rào khu xe và một vườn cây cũng bị nó cày nát.
    Không biết rồi nó sẽ chạy đến đâu nếu không có cái bờ lũy bao quanh nhà trường như một con đê. Chắc là mức độ tra dầu chưa đủ mạnh nên nó "chết máy" và dừng lại ở đó!
    Nguyên nhân sau đó được làm rõ: khi chiến sĩ lái xe này về lán, để chắc chắn không bị trôi xe anh đã cài số 2. Tuy nhiên, không hiểu sao anh ta lại "cố định tay ga" nên khi xe bị kéo, động cơ bị kéo theo và nổ liền. Cũng may, anh ta không để tay ga ở mức lớn nhất. Nếu đặt ở mức lớn rất có thể chiếc xe sẽ vượt qua bờ lũy và hậu quả thế nào thì chưa ai nói được.
    Thế mới biết, công việc dù có đơn giản đến đâu cũng phải chấp hành và thực hiện đúng mọi quy tắc, quy trình mới có thể diễn ra xuôi chèo, mát mái và bảo đảm an toàn.

    Nguồn: http://soha.vn/cuu-keo-xe-tang-nhung...4105007126.htm


    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  8. #56
    Ngày tham gia
    07-10-2010
    Bài viết
    665
    Thích
    1,583
    Đã được thích 369 lần trong 206 bài viết
    Trích dẫn Gửi bởi lixeta Xem bài viết
    CỨU KÉO XE TĂNG- NHỮNG CHUYỆN DỞ KHÓC, DỞ CƯỜI


    Xe tăng cũng có lúc bị sa lầy, bị hỏng... cần phải cứu kéo. Không quá phức tạp, song nếu không thực hiện đúng các quy trình, quy tắc và thao tác thì dễ có chuyện dở cười, dở khóc.

    Khi tiến hành cứu kéo xe, quy tắc đầu tiên mà những người thực hiện phải chấp hành đó là phải có chỉ huy thống nhất. Trong điều kiện bình thường, quan sát tốt có thể chỉ cần một người chỉ huy chung cho tất cả các xe tham gia cứu kéo.
    Còn trong đếm tối, lại bị không quân địch đang đe dọa trên đầu... thì ngoài người chỉ huy chung còn phải có người chỉ huy riêng cho từng xe - kể cả xe đến cứu kéo và xe được cứu kéo.

    Quy tắc thứ hai là phải đảm bảo an toàn tuyệt đối. Phải tính toán, sử dụng loại cáp, xích hoặc cần kéo cứng cho phù hợp từng điều kiện cụ thể. Khi cần thiết, ngoài các xe cứu kéo còn phải bố trí thêm các xe cố định (làm neo) để tránh cho xe được cứu bị lật.
    Một quy tắc nữa những người tham gia cứu kéo phải tuyệt đối nằm lòng là: phải căng cáp (xích) trước khi dốc toàn lực kéo. Có như vậy, sợi cáp mới không bị tác động đột ngột và bị đứt ngoài ý muốn.
    Nói chung, cũng không quá phức tạp song không phải không có sự cố xảy ra.

    Thời chiến đã lắm chuyện
    ......................
    Thời bình cũng vô khối chuyện
    ..............
    Thế mới biết, công việc dù có đơn giản đến đâu cũng phải chấp hành và thực hiện đúng mọi quy tắc, quy trình mới có thể diễn ra xuôi chèo, mát mái và bảo đảm an toàn.

    Nguồn: http://soha.vn/cuu-keo-xe-tang-nhung...4105007126.htm


    Trong chiến dịch diễn tập thực binh cấp bộ mang tên '' TN 81 ''. Hành quân đến lưng chừng đèo, một chiếc T54 bị dệ xuống ta - luy âm chừng vài chục mét. Hết chiến dịch, đv dùng hai xe kéo lên. Hai xe kéo đứng hai hướng, hai dây cáp đấu hình chữ V với xe bị nạn. Trong lúc kéo một cáp bị đứt, dồn lực vào cáp còn lại nên đứt nốt. Chiếc xe bị nạn trôi thẳng xuống vực sâu. Toàn bộ xe chìm dưới lòng suối. Cát đá lấp gần hết buồng chiến đấu.

  9. #57
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,156
    Thích
    329
    Đã được thích 1,865 lần trong 996 bài viết
    TRUYỀN THỐNG "ĐÃ RA QUÂN LÀ ĐÁNH THẮNG" CỦA BINH CHỦNG TTG RA ĐỜI TỪ ĐÂU?


    Đài kỷ niệm chiến thắng Làng Vây

    Truyền thống, hiểu một cách ngắn gọn là những giá trị đặc sắc, nổi bật của một cộng đồng đã được truyền từ những thế hệ đi trước sang các thế hệ hiện tại và tương lai. Với ý nghĩa như vậy, truyền thống rất có giá trị trong việc giáo dục thế hệ trẻ trong các cộng đồng đó. Và cũng vì vậy, tất cả các cộng đồng đều rất chú ý đến việc tạo lập và truyền bá truyền thống của cộng đồng mình.
    Tuy nhiên, như tấm huy chương nào cũng có hai mặt, các giá trị đặc sắc, nổi bật của một cộng đồng nào đó cũng có thể có cả mặt tốt và mặt xấu. Nhưng dù tốt hay xấu nó đều có tác dụng giáo dục: biết xấu hổ vì cái xấu để tránh xa cái xấu và ngược lại biết trân trọng, tự hào những cái tốt đẹp để vươn tới cái tốt đẹp đó.
    Thông thường, truyền thống của mỗi cộng đồng thường được tổng kết một cách ngắn gọn, dễ hiểu, dễ tiếp cận nhất các giá trị đặc sắc, nổi bật, riêng có của cộng đồng đó. Có trường hợp do bản thân cộng đồng đó đúc kết lên. Có trường hợp do dân gian tổng kết và lưu truyền. Cũng có những trường hợp do cấp trên, người nổi tiếng khen tặng...
    Chẳng hạn, đối với phụ nữ Việt Nam có truyền thống "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang" do Chủ tịch Hồ Chí Minh khen tặng. Còn vùng quê Văn Lang, Hạ Hòa, Phú Thọ lại có truyền thống được lưu truyền trong dân gian: "Văn Lang cả làng nói khoác"...

    Phương tiện kỹ thuật và vũ khí của Binh chủng Tăng - thiết giáp.

    Truyền thống các binh chủng của Quân đội nhân dân Việt Nam

    Đối với các đơn vị quân đội, do đặc điểm nhiệm vụ là loại lao động đặc biệt, đòi hỏi quân nhân sẵn sàng hy sinh tất cả những thứ cao quý nhất cuộc đời mình để hoàn thành nhiệm vụ, là loại lao động đặc thù hết sức gian khổ, khó khăn, ác liệt... thì việc giáo dục tinh thần trách nhiệm, lòng tự hào của một quân nhân, sẵn sàng xả thân vì đất nước... là hết sức cần thiết.
    Để làm được điều đó thì xây dựng truyền thống và giáo dục truyền thống là một giải pháp hết sức hiệu quả.
    Đặc biệt, các binh chủng của Quân đội nhân dân Việt Nam có những nét đặc thù rất khác nhau: trang bị vũ khí khác nhau, nhiệm vụ khác nhau, cách đánh khác nhau... nên cũng có truyền thống rất khác nhau. Đó thường là những nét truyền thống được đúc kết từ lịch sử xây dựng và chiến đấu lâu dài của binh chủng đó.
    Chỉ là những tổng kết rất ngắn gọn, dễ nhớ song đã đặc tả được đặc điểm và những những truyền thống tốt đẹp mà bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ của binh chủng đó đã dựng xây nên bằng mồ hôi, xương máu và trí tuệ của mình.
    Lần giở các trang lịch sử của từng binh chủng, chúng ta có thể thấy rất rõ điều đó.
    Đối với binh chủng Pháo Binh, trải qua mấy chục năm xây dựng, trưởng thành và chiến đấu, từ khởi đầu là các loại pháo cối mang vác cho đến những trang bị hiện nay đã xây dựng lên truyền thống: "Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng".


    Binh chủng Tăng thiết giáp ngày càng lớn mạnh.

    Với nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc cho quân đội, các thế hệ cán bộ chiến sĩ binh chủng Thông Tin liên lạc đã xây dựng lên truyền thống: "Kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn".
    Là binh chủng có nhiệm vụ bảo đảm công binh, công trình phục vụ chiến đấu, trong đó nhiệm vụ chủ yếu là bảo đảm cơ động, binh chủng Công Binh có truyền thống: "Mở đường thắng lợi".
    Với binh chủng Đặc Công- một binh chủng khá non trẻ nhưng có lối đánh hiểm hóc, tinh nhuệ, dùng ít đánh nhiều... đã xây dựng lên truyền thống: "Đặc biệt tinh nhuệ; Anh dũng tuyệt vời; Mưu trí, táo bạo; Đánh hiểm thắng lớn".
    Còn binh chủng Hóa học với nhiệm vụ phòng chống vũ khí hủy diệt lớn, đảm bảo an toàn cho nhân dân và các lực lượng khác trước các loại vũ khí hủy diệt lớn thì có truyền thống là: "Phòng chống tốt, chiến đấu giỏi".v.v...


    Xe tăng PT-76 số hiệu 268 tại Đài tưởng niệm Chiến thắng Làng Vây.

    "Đã ra quân là chiến thắng"- Truyền thống của binh chủng Tăng Thiết Giáp

    Thành lập ngày 5.10.1959 nhưng phải đến gần 10 năm sau bộ đội Tăng Thiết Giáp mới chính thức tham chiến tại chiến trường miền Nam trong trận đánh cứ điểm Làng Vây đêm 06 rạng ngày 07.02.1968.
    Trận đánh đã giành thắng lợi với hiệu suất rất cao, chứng tỏ chúng ta hoàn toàn có khả năng sử dụng một cách hiệu quả tăng thiết giáp ở chiến trường miền Nam và được Bộ Thống soái tối cao rất chú ý.
    Chính vì vậy, ngay buổi trưa ngày 07.02.1968, chỉ vài tiếng đồng hồ sau khi nhận tin chiến thắng, Bộ Tổng Tư lệnh đã có điện khen ngợi gửi Bộ Tư lệnh Thiết giáp. Nguyên văn bức điện như sau:
    "Bộ Tổng tư lệnh gửi Bộ Tư lệnh Thiết giáp!
    Các đồng chí thân mến!
    Trong trận tiến công Làng Vây các đồng chí đã nêu cao tinh thần chiến đấu mưu trí, sáng tạo, vượt mọi khó khăn gian khổ, hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị bạn xung phong thọc sâu chia cắt địch, tiêu diệt hoàn toàn vị trí then chốt của giặc Mỹ và tay sai trên tuyến phòng ngự đường số Chín, bắt tù binh, thu vũ khí, làm cho kẻ thù khiếp sợ.
    Với chiến công vang dội đó các đồng chí đã góp phần xứng đáng cùng quân và dân miền Nam anh hùng, liên tục tiến công và đồng loạt nổi dậy trong cao trào cách mạng mới, giành thắng lợi to lớn và toàn diện trên khắp các chiến trường.

    Bộ Tổng tư lệnh nhiệt liệt biểu dương các đồng chí đã đánh thắng trận đầu oanh liệt, góp phần xây dựng truyền thống vẻ vang của bộ đội thiết giáp nhân dân Việt Nam nói riêng và các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam nói chung.
    "Hễ ra quân là đánh thắng, đã nổ súng là tiêu diệt địch giòn giã"
    Các đồng chí hãy phát huy khí thế chiến thắng, kịp thời rút kinh nghiệm trận chiến đấu vừa qua, ra sức giữ gìn tốt vũ khí, khí tài, không ngừng nâng cao sức mạnh hơn nữa, quyết cùng toàn dân thừa thắng xông lên đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược".
    Ngay sau đó, bức điện đã được phổ biến rộng rãi tới cán bộ, chiến sĩ trong binh chủng và câu "Hễ ra quân là đánh thắng, đã nổ súng là tiêu diệt địch giòn giã" trong bức điện được mặc nhiên xem là truyền thống của bộ đội Tăng Thiết giáp.
    Mặc dù có hơi dài và về câu chữ có phần nào đó chưa được thật hoàn mỹ song truyền thống đó đã là niềm tự hào, là nguồn cổ vũ lớn lao khích lệ lớp lớp cán bộ, chiến sĩ xe tăng vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong những năm tiếp theo mà đỉnh điểm là những chiến công vang dội trong cuộc Tổng Tiến công nổi dậy Mùa Xuân năm 1975.


    Với những thành tích nổi bật đó, ngày 20.10.1976, Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết số 22/QĐ/QH/K6 và Chủ tịch nước ký lệnh tuyên dương Anh hùng LLVTND cho binh chủng Tăng Thiết giáp. Trong quyết định có đoạn viết:
    "... Phát huy truyền thống anh dũng của Quân đội nhân dân Việt Nam, bộ đội thiết giáp đã nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, chiến đấu anh dũng, mưu trí, đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể, phát huy mạnh mẽ sức đột kích của mình, ngay từ trận đầu đã đánh thắng giòn giã, xây dựng nên truyền thống vẻ vang của binh chủng: "Đã ra quân là đánh thắng"..."
    Từ thời điểm đó, "Đã ra quân là đánh thắng" chính thức trở thành truyền thống của Bộ đội Tăng Thiết giáp Việt Nam!
    Nguồn: http://soha.vn/truyen-thong-da-ra-qu...6201012809.htm
    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  10. Có 1 người thích bài viết này


Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •