CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 4 của 4 Đầu tiênĐầu tiên ... 234
Kết quả 31 đến 33 của 33

Chủ đề: Từ "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn..." tới Nam quốc trường thiên ai sự

  1. #31
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Tui đây không là nhà khoa bảng, không tính làm khảo cứu nên những gì ghi ra chỉ là ngẫm long bong từ các bài viết trên nên ý tứ không theo bài, viết không trình tự, thậm chí không dính dáng tới nên tự kêu bằng là:
    Ngồi buồn đốt một đống rơm
    Khói bay nghi ngút chẳng thơm chút nào
    Khói bay lên tận thiên tào, Ngọc Hoàng phán hỏi
    “Đứa nào đốt rơm?”
    ...

    ngẫm 1

    Bấy lâu nay thầy chú mình cứ hỏi nhau sao hiện thực nước mình lớn mà mình hông có tác phẩm văn học nào lớn, xứng tầm?Ừ thì mỗi người một ý, thậm chí có người, không biết có phải tự an ủi, nói là nhà văn lớn có mấy vị trên đời, rằng chính trên nền bình bình đó rồi thời gian sẽ sáng lên một kiệt tác, vụt lên một văn hào cự phách. Hỏi là hỏi nhau, tự trả lời mà tự người nào chấp nhận lấy câu trả lời của riêng mình. Cuối cùng là hỏi, hỏi, hỏi hoài vậy hà.Những cũng có thầy chú lớn tiếng biểu tầm bậy, sao tự ti, làm nhục quốc thể tới vậy? Nói là nói vậy chớ có kể ra được cuốn truyện nào được ngoại nhân biết tới đâu nè. Nhìn quanh đây thôi cũng thấy dân Giao Chỉ ta thua nhiều người mà mình hay chê “thấp bé” như người Chàm, người Bana (ví dụ vậy về thể loại sử thi),hay người Khme (như qua chuyện Riêm kê). Mà nào chỉ trong thơ văn mà nhiều cái khác cũng vậy, ví dụ ông Tại Chí Đại Trường còn chỉ ra là cái gọi là cung điện vua nước Nam thời Đinh, tiền Lê hay Lý hông cao, bự, tráng lệ gì, chỉ hơn mấy cái đình mình thấy bi giờ nhiều nhiều thôi(?). Dòm lại gia tài mình có thấy cái gì bự thiệt bự? Chắc chỉ có bánh chưng, bánh tét ghi-nết thôi hà. À, có cái đường hầm dài nhất ĐNÁ bị rỉ nước trước khi dìm xuống đáy sông (ô hô!).

    Thử nhìn lại vài ba tác phẩm lớn xứ người thì thấy có một điểm chung là từ một hiện thực nào đó, bất luận lớn như chiến tranh Nga-Pháp đầu thế kỷ 19(1) hay chuyện tưởng tượng lạc giữa sa mạc do máy bay hư của một anh chàng phi công(2) thì tính khái quát của câu chuyện rất cao. Nội dung của câu chuyện không chỉ “vẽ”, “thuật” các diễn biến, nhân vật mà đằng sau đó là số phận của cả dân tộc, là kiếp phận Người. Cái đằng sau đó thiệt ra không có biên giới điạ lý chật hẹp, không chỉ có ở riêng một màu da dù bối cảnh câu chuyện quanh một vùng đất có tên, con người trong đó rất lịch sử. Phải chăng cái không làm nên tác phẩm lớn của người Giao Chỉ là do yếu tư duy tư biện, không tạo ra được một nền tảng tư tưởng riêng của dân tộc (chưa cần có một hệ tư tưởng riêng vì có mấy dân tộc trên đời nầy tạo ra được một hệ tư tưởng riêng như Tàu, Ấn, Pháp hay Đức?)? Không có óc tư biện nên khó mà tư duy có tính tổng hợp rộng và khái quát cao, không có một nền tảng tư tưởng độc lập nên không nắm được tinh thần dân tộc, không nhận chân được hình dáng con Người. Nè, từ hồi xứ mình kề vai với xứ người tới giờ mấy chục năm rồi nào có ai thuyết được bản sắc người nước Nam là gì không? Chỉ bàn lang bang đôi ngàn chữ trong một bài báo là cụt. Ngay cả cái khái niệm bản sắc dân tộc là gì còn chưa biết ai đúng ai sai. Mà, Tây, Tàu, Nhựt nào giờ có bàn vậy như Giao Chỉ ta không há?
    Ôi chao!

    Trở lại truyện Kiều. Vậy truyện nước Nam ta có truyện nào có trảlời được mấy câu hỏi trên kia hông? Bởi vậy tui đây thấy Phạm tiên sinh thiệt thà dám nói về gia tài nghèo nàn của gióng dòng Tiên Long vào cái thời kỳ lịch sử tế nhị và nhạy cảm đó. Nhưng rồi tui đây cũng tiếc cho tiên sinh. Truyện Kiều đúng là truyện hay nhứt nước Nam ta, nhưng rồi nội dung nó cũng nhỏ xíu xịu xìu xiu thôi hà.

    Thôi, mình dở thì chịu dở, chớ là con ếch của ông La Fontaine (3) mà mắc cở thêm nhiều lần, hay ho chi, hén bạn mình.
    -----------

    1. Ý nói Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoi.
    2. Ý chỉ Hoàng tử bé của Saint-Exupéry.
    3. La Fontaine, văn hào Pháp, có truyện ngụ ngôn rằng, có con ếch nọ thấy mình quá nhỏ so với con bò nên nó cố phình bụng ra cho bự lên, nó bự thiệt nhưng được bao nhiêu so với bò thì... Bùm!


    *
    ngẫm 2

    Đọc lại Phạm Quỳnh thằng tui đây cứ giật cái mình cà bộp, cà bộp.
    Tiên sinh quả là người tài cao học rộng. Trăm năm trước mà tiên sinh ngộ ra nhiều điều mà giờ tui vẫn còn ngu (đúng là dân ngu lâu)!

    Thiệt là thú vị khi tiên sinh nhận ra những Racine, Bossuet nước Lang Sa tuy hay thật là hay nhưng nào có kẻ mấy hạ dân xưa biết tới, có con gà trống thất học nào ngâm nga hay lẫy Racine với Bossuet hồi đó? Xứ Tây chỉ có kinh Thánh mới “phổ thông”, mà kinh Thánh là của người Do Thái, mà Kinh Thánh là cho hết thẩy con chiên của Chúa trời nên không so được với Kiều nước Nam đâu. Từ cái thú vị nầy dẫn tui tới một thú vị khác, đó là cái sự văn hóa khác của Đông với Tây. Đông thì sự phân chia nầy nhạt nhòa, bác học và bình dân có sự giao hòa nào đó. Sáng tạo của bậc thức giả cũng được người vô chữ mân mê, sáng tạo của kẻ thảo dân cũng được ngâm nga trong nhà thức giả. Tui không kể các trường ca hay sử thi của các tộc người không có chữ viết mà ở c ác tộc người có quá trình phát triển mà trong đó tồn tại hai dòngvăn hóa bình dân và bác học. Ví dụ người Khme với chuyện Riêm Kê (rương Riêm Kê). Tuy là sử thi được sáng tác lại trên cơ sở sử thi Ramayana của Ấn độ và được ghi thành văn bản với văn phong trao chuốc, ngôn ngữ bống bẩy và được xem là đỉnh cao của văn hóa, văn học Khme nhưng Riêm Kê thâm nhập rất sâu vào đời sống dân tộc Khme, ai cũng biết, cũng thích. Riêm kê được kể nhau nghe trong nhà như là chuyện bà kể cháu nghe. Riêm Kê được dựng thành nhạc kịch Là-khôn và diễn trong cung đình, diễn trong rạp hát thời nay (tức đượng đại, tôi không dùng từ hiện đại vì dể bị hiểu là rạp hát tân kỳ về kiến trúc và kỹ thuật âm thanh, ánh sáng, v.v.), diễn trong chùa-phum xốc dịp lể hội. Riêng chổ nầy, truyện Kiều ta sóng đôi với rương Riêm Kê à đa.

    Đúng là không có nền văn hóa nào cao hơn nền văn hóa nào, chỉ có các nền văn hóa khác nhau theo các đặc trưng của mình.

  2. #32
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    ngẫm 3

    Sau một hồi đọc thằng tui đâm ra hoang mang và nghi ngờ sự biết của mình. Cái gọi là “phương ngữ Nam bộ” thật ra có phải chỉ gói gọn ở Nam kỳ lục tỉnh? Hình như là không, ta thấy các tiên sinh, dù là Phạm Quỳnh, Ngô Đức Kế hay Phan Khôi, Trần Trọng Kim không chỉ dùng từ của người Nam Kỳ mà văn phong cũng rất “Nam Kỳ”. Phạm Quỳnh người xứ Huế, Ngô Đức Kế và Trần Trọng Kim là người đất Hà Tĩnh, Phan Khôi và Huỳnh Thúc Kháng lại là dân đất “hay cãi” Quảng Nam. Tất nhiên là ở đây mình có thể lấn cấn với lập luận của tác giả Lại Nguyên Ân khi phân ông A, bà B là nhân vật của nơi nầy hay nơi kia không lấy quê góc hay chốn sinh thành làm trọng mà là ông A, bà B định danh, lập phận nơi nào. Ví dụ ông gọi Pan Khôi là nhà báo chữ quốc ngữ Nam bộ vì chính đất Sài Gòn, làng báo chí Sài gòn là nơi Phan Khôi “tạo dựng” tên tuổi Phan Khôi (1). Theo vậy thì Phạm Quỳnh, Ngô Đức Kế là “người Hà Thành” rồi, nhưng sao nhị vị tiên sinh vẫn “ăn nói” kiểu Nam Kỳ? Tại nhị vị tiên sinh chưa được "Bắc kỳ" hóa? Thậm Chí ông Nguyễn Văn Vĩnh chánh gốc mấy đời Hà Nội cũng “ăn nói” kiểu Nam Kỳ? Tại me-xừ Vĩnh bị văn của các ông làm báo trước trong Nam ảnh hưởng khi họ ra Bắc công tác?
    Lạ!

    Lạ cái nữa là ông Nguyễn Văn Vĩnh khi viết văn chính luận thì giọng văn và nhiều từ ngữ gần gũi với “phương ngữ Nam bộ” thì trong các bài ký sự của ông lại không giống bao nhiêu! Thậm chí đọc loạt bài nầy người ta còn mang máng nhận ra một cái gì đó quen quen của thời kỳ văn quốc ngữ sau đó 20 năm, tức thời của Tự lực văn đoàn, của thơ Mời, của dòng “hiện thực phê phán”.

    Vậy có phải chăng:
    Cái bây giờ gọi là “phương ngữ Nam bộ” thiệt ra là lời ăn tiếng nói của toàn thể người An Nam, ít ra tới đầu thế kỷ 20? Và rồi sau đó, từ thập niên 1930 thì tiếng Việt ở Bắc kỳ có hướng phát triển khác đi nhưng ở Trung và Nam Kỳ thì vẫn còn lưu giữ nhiều cách nói, viết trước đó? Nhưng tại sao hình như chưa ai nhận ra điều nầy mà tìm hiểu, cái nầy rất quan trọng về cái sự người Việt nhận ra chính mình từ quá khứ, về lịch sử phát triển tiếng Việt, đặc biệt là giai đoạn văn quốc ngữ dần định hình bởi chính mình chớ không do các cố đạo ngoại nhân, định hình bởi tầng lớp trí thức Việt mới chớ không chỉ trong giáo dân hay các học sanh chủng viện. Nhưng mà, trời ạ, văn quốc ngữ ngoài Bắc xuất hiện chậm hơn trong Nam vài mươi năm thì tại liệu nào có thể dùng để khảo cứu nó như một tổng thể toàn quốc? Văn Hán thì không thể rồi, văn Nôm thì chưa thiệt gần lắm với “lời ăn tiếng nói” lại không nhiều, các văn bản Kitô giáo tuy không thật đại chúng nhưng lại là nguồn khá tốt vì được viết chủ yếu trên đất Bắc. Giáo sư Nguyễn Văn Trung có viết khảo cứu Châu lục học về văn quốc ngữ nhưng chỉ khoanh trong Nam Kỳ thôi. Ôi chao! Vậy mới thấy sự học, sự viết của người Giao Chỉ ta hạn chế lắm lắm dù chỉ mới dòm lại trăm năm nay thôi.

    Rồi khi tách theo hường mới thì văn quốc ngữ Bắc kỳ tiến triển ra sao từ Ngyễn Văn Vĩnh tới thời Tự lực văn đoàn, thơ Mời, dòng “hiện thực phê phán” và rồi tiếng Việt phổ thông ngày nay? Cũng chưa ai làm cái nầy dù tài liệu không còn khang hiếm.

    Ôi chao! Vậy mới thấy sự học, sự viết của người Giao Chỉ ta hạn chế lắm lắm dù chỉ mới dòm trăm năm trở lại đây thôi.


    (1) Lại Nguyên Ân: Liệu có thể xem Phan Khôi như một tác gia văn học quốc ngữ Nam Bộ? Tham luận gửi tới hội thảo khoa học"Văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đến 1945" do Khoa Ngữ văn và Báo chí, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, 26/5/2006
    (2) Nguyễn Văn Vĩnh: Hương-sơn hành trình, Đông Dương tạp chí số 41-45, 1914
    Sửa lần cuối bởi TQNam; 24-11-2012 lúc 11:03 PM.

  3. #33
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Ngẫm 4

    Khi đọc mấy dòng nầy của Ngô tiên sinh mà nổi da gà cục cục:
    “Vận nước thịnh hay suy, quan-hệ tại đâu? — Tại nhân tâm thế đạo. Nhân tâm thế đạo xấu hay tốt, cỗi gốc tại đâu? — Tại học-thuyết tà hay chính.
    Rộng xét năm châu, trải xem lịch-sử, dọc ngang mấy vạn dặm, trên dưới mấy nghìn năm, từ đông đến tây, từ xưa đến nay, hễ nước nào khi vận nước cường tất là khi ấy trong nước chính-học sáng rệt, nước nào khi vận nước suy đốn, tất là khi ấy trong nước tà-thuyết lưu hành; chính-học sáng rệt thì thế-đạo nhân-tâm phải tốt, mà vận nước cũng theo chính học nổi lên, tà-thuyết lưu hành thì nhân-tâm thế đạo phải hư mà vận nước cũng theo tà thuyết mà đắm mất.
    Khi chính-học đang quang minh, thì tà thuyết không có chỗ nào xen vào được; tà-thuyết lưu-hành trong nước như gió lướt cỏ, như nước vỡ đê; không ai ngăn cản, thì thường vào lúc chính-học đã suy đồi, mà nhất là lúc việc đời biến cải, việc nước đổi thay, quốc thị mơ màng, nhân tâm bở-ngở, nền cũ đã đổ, nhà mới chưa thành bậc hiền nhân quân-tử, thì kín tiếng dấu tăm, nằm co ở nơi thảo dã, mà bọn bỉ-phu tục tử thì khua chuông gõ mõ, nhảy-nhót ở trên vũ đài; lúc ấy chính là lúc tà thuyết thừa cơ mà lấn lướt chính-học.”
    Sao mà đúng quá xá vậy ta.

    Hai chữ học thuyết nghe bự quá nên hơi sợ, coi lại thấy cũng không thiệt to gì, cũng như nói chánh trị nghe kinh nhưng nói sự chính nghe nhẹ đi. Phàm ở đời cái dòng chủ lưu của một xã hội tuy do nhiều người nói và làm nhưng lại là cái gương cho thấy những con-người sống trong xã hội đó nói và sống theo kiểu nào, tà hay chính. Đơn giản vậy thôi mà. Cứ hễ con người mà ăn nói chính danh thì là sống ngay thẳng, con người trong đó biết giữ lấy lề, còn coi trọng sự sỹ nhục, biết mắc cở. Mà cứ biết sỹ nhục, biết mắc cở thì làm bậy ít. Cứ hễ biết giữ lấy lề thì ăn không to, nói không lớn, dao to búa lớn trở thành xa lạ. Sống là lấy chính danh canh lề tất ít lẻo lự, ăn nói tự nhiên như thở mỗi ngày, đi đường không dáo dác, không cần lận lưng cái chi hết.

    Hôm rồi đi họp ở phường thấy có hai chuyện tức cười quá xá. Một bà cứ mở miệng ra là nói mình tham gia “xã hội hóa giáo dục” thấy lạ, không hiểu mô tê răng rứa. Mãi một hồi mới thấu, trời ạ, bà mở trường tư dạy con nít kiếm tiền khi nghĩ hưu. Đi dạy học, dù tư hay công thì có sao? Có tiền thì chủ tư bổn, không tiền thì đào mồ chôn chủ. Đừng bán chữ là được, sao phải hô “xã hội hóa giáo dục”? Cho nó sang, cho nó đại trọng, cho đúng chủ trương? Biết chết liền! Cái rồi có một ông đề nghị biểu dương bà ABC vì tham gia “đấu tranh ngoại giao” !? Lạy Chúa lòng lành! xóm con có con cháu bà Trưng, bà Triệu thứ thiệt mà hỏng hay. Tội lỗi, tội lỗi! Thì ra nhà bà chứa mấy đứa thanh niên xứ người tới đất nầy chơi theo con tàu chi chi đó, tụi nó ở mấy bửa rồi dìa.

    *

    Ngẫm 5

    Hồi nào tới giờ cứ lầy cái công nghiệp của hai cụ Ngô và Huỳnh mà kính, nay đọc hai bài bên trên thấy … rụn đi ít nhiều. Dù để qua một bên mọi sự “hạn chế lịch sử” mà cứ thấy băng khoăng, tại cái mà làm sao lại ép vô miệng cụ Phạm những điều không nói, mà văn phong, giọng điệu thì … buồn quá. Nhưng cái sự rầu của người đọc bự nhứt là hai cụ “bỏ việc đánh người”. Vì cớ làm sao lại như vậy?

    Hóa ra dân Nam ta xưa nay rứa đó. Chèn đéch ơi, nào giờ kẻ hẻn nầy cứ nghĩ sự rầu nầy chỉ mấy mươi năm nay (cả trong và ngoài nước). Thì ra “xưa rồi Diễm”! Có phải vì vậy mà nước Nam chưa bao giờ có một nền phê bình, nền học thuật đúng nghĩa như thiên hạ? Chuyện học hành sao lại đem “mã tấu không xương ra chơi nhau, hả trời!

    Nhưng rồi, có vẫn con én lẻ loi an ủi (dù rẻ tiền). Đó là sự nho nhã đàm đạo của hai cụ Phan-Trần. Ai đúng, ai sai thì không biết với cái óc xíu xịu xìu xiu nhưng rõ là tâm phục khẩu phục bởi sự trình bày rõ ràng, khúc chiết, có lý có lẽ của một con người có ăn có học. Đọc mấy bài tranh qua luận lại đăm thèm, ước gì đời mình chỉ được đọc bài viết loại nầy để mà tập làm người, để mà không làm đười ươi.
    Và cũng có con én khác. Khái niệm Liên văn bản như một khái niệm lý luận phê bình văn học, như một phương pháp nghiên cứu đến giữa thập kỷ mới được chính thức ra đời khi Julia Kristeva đưa ra trong một ti6ẻu luận dù trước đó nó vẫn bàn bạc trong khắp cõi Đông-Tây, Kim-Cổ; vậy mà các tác giả khác nhau khi bênh vực ông Phạm Quỳnh và phê phán ông Nguyễn Văn Trung lại sử dụng rất tốt phương pháp khai thác tài liệu liên văn bản. Có lẽ ta cần nhìn nhận đây là một điểm son trong văn học sử nước nhà, là một điểm tựa tốt cho những ai còn biết trọng cái học.

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •