CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 2 của 4 Đầu tiênĐầu tiên 1234 CuốiCuối
Kết quả 11 đến 20 của 33

Chủ đề: Từ "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn..." tới Nam quốc trường thiên ai sự

  1. #11
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Bài đọc thêm 2:
    Trường hợp Phạm Qùynh


    1. MỘT CUỘC BÚT CHIẾN LÀM RẦM LÊN

    Một cuộc tranh luận vừa làm rầm lên. Giáo sư Nguyễn Văn Trung diễn thuyết với chủ đích tìm hiểu lý do sâu xa, thầm kín của cuộc tranh luận Phạm Quỳnh, Ngô Đức Kế qua Truyện Kiều.

    Một số cây bút đã đứng ra bên Phạm Quỳnh buộc tội giáo sư Nguyễn Văn Trung một cách vô bằng chứng, cũng như giáo sư Nguyễn Văn Trung đã kết án Phạm Quỳnh vô bằng chứng.

    Thực ra, chúng tôi đã đọc các bài đả kích giáo sư Nguyễn Văn Trung trước khi được đọc chính bài của giáo sư. Chính hôm nay (14/11/1962), lúc cầm bút viết bài này, tôi mới đọc bài của giáo sư Nguyễn Văn Trung. Sau khi đọc tất cả các bài của đôi bên, chúng tôi có hai cảm giác tương phản nhau: vừa vui vừa buồn.

    Vui vì thấy có những vấn đề văn học được đặt ra và được nỗ lực đem ra giải quyết. Ai mà chẳng nhận thấy tình trạng lắng động của văn học thế hệ chúng ta! Thực là một cảnh chợ chiều. Người đọc chẳng có được say sưa, đến người viết cũng chẳng hứng thú lắm để viết. Viết hay chẳng mấy ai tán thưởng, mà viết dở cũng chẳng ai buồn công kích. Trong tình trạng ấy, mà có một cuộc bút chiến vừa làm rầm lên kể ra cũn
    g là một điều đáng mừng, hy vọng đập vỡ được cảnh ao tù của văn học thế hệ chúng ta.
    Tuy nhiên thái độ các người cầm bút không khỏi làm cho độc giả phải băn khoăn. Riêng chúng tôi rất cảm kích những người đã đứng ra để bênh vực nhà văn Phạm Quỳnh mà chúng tôi vẫn coi như là ông tổ của văn học cận đại.(Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

    Cái tiếc là các vị đó đã không đứng trên cương lĩnh của nhà nghiên cứu văn học, sau khi trách giáo sư Nguyễn Văn Trung đã chụp mũ Việt gian lên đầu Phạm Quỳnh, thì các vị đó lại chụp mũ Cộng sản lên đầu giáo sư Nguyễn Văn Trung.

    (…)

    Chúng tôi thấy hai bản án mà người ta muốn đem chụp lên đầu giáo sư Nguyễn Văn Trung đều vô nghĩa và tỏ ra các tác giả của chúng ta có một quan niệm “rất chết” về sinh hoạt văn học.

    (…)

    Một tác phẩm văn học, phương chi một tác giả văn học, không phải là những đồ vật câm, những xác chết. Chính lúc cái xác sinh lý của nhà văn đi vào cõi chết thì nhà văn và tác phẩm của ông dần đi sâu vào cõi sống. Nguyễn Du cũng như tác phẩm Kim Vân Kiều của ông không có chết mà càng ngày càng sống hùng mạnh. Tiếng nói của Nguyễn Du, chí hướng của Nguyễn Du đang được nói rầm lên do tiếng nói củaĐoạn Trường Tân Thanh.
    Như vậy, Phạm Quỳnh và sự nghiệp của Phạm Quỳnh đâu có chết, tiếng nói của Phạm Quỳnh đâu có bị câm lặng. Sự nghiệp của PhạmQuỳnh cũng đang nói rầm lên cho ta nghe tiếng nói của Phạm Quỳnh, tài năng của Phạm Quỳnh…để biện minh cho ông hay để thú lỗi ông, dù muốn dù không ta chẳng làm gì được.

    Tư tưởng của một nhà văn, một khi đã phóng ngoại, nó thành ra đối tượng của địa điểm phóng ngoại là nhà văn, nhà văn chẳng tự mình rút về được, huống hồ là tha nhân của nhà văn. Do đấy, việc lo cho nhà văn không có tiếng nói, tưởng như bênh vực cho nhà văn mà tựu trung lại là một hành động mạ lị, hay sát hại nhà văn chưa biết chừng.

    Chúng tôi cho rằng những nỗ lực tìm hiểu các nhà văn, tìm hiểu ý nghĩa sâu xa của các sự kiện văn học, phân tích các khía cạnh của các cuộc đời văn học, như giáo sư Nguyễn Văn Trung chủ trương làm là một điều hay, đáng nên khuyến khích, hòng rọi ánh sáng vào hầm tăm tối bao phủ trên văn học Việt Nam.

    Tuy nhiên, chấp nhận việc làm khách quan của giáo sư Nguyễn Văn Trung không có nghĩa là chúng tôi tán đồng quan điểm của giáo sư Nguyễn Văn Trung về ý nghĩa vụ án Truyện Kiều, về giá trị sự nghiệp văn học của Phạm Quỳnh.

    Bài Văn học và chính trị… của giáo sư Nguyễn Văn Trung mới chỉ đặt ra vấn đề với những suy tư và phân tích chủ quan, chưa viện ra được những dữ kiện mới có giá trị biện minh.

    Quan điểm mà giáo sư Nguyễn Văn Trung gọi là quan điểm mới, thực ra không mới, đã từng có người chủ trương như vậy trước rồi. Vấn đề này, tôi đã có dịp đề cập đến trên tạp chí Đại Học số 9, tháng 5, năm 1959, trang 13-17, để trả lời nhà giáo Lữ Hồ về bài báo của ông đăng trên tạp chí Sáng Tạo, số 20 tháng 5 năm 1953. Tác giả bài báo Sáng Tạo viết: “Một mặt họ (chỉ chính phủ thuộc địa) khuyến khích việc phát huy tinh thần cố hữu qua chữ quốc ngữ, bọn học phiệt Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh với sự ám trợ của Vayrac, Schneider, Marty, Hoàng Trọng Phu, hăng hái cổ võ, ông Vĩnh hét: “Nước ta sau này hay hay dở là ở chữ quốc ngữ”, ông Quỳnh cũng lấy Truyện Kiềulàm thánh kinh và tuyên dương: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, nước ta còn”. Và họ đem dịch văn Tây ra quốc ngữ (mua lòng quan thày), dịch sách Tàu ra quốc ngữ (mua lòng nho sĩ, chí sĩ lãnh đạo). Trong Nam, Trương Vĩnh Ký, với sự giúp đỡ của Luro, Paul Bert, cũng hăng hái bội phần. Mấy mươi năm sau từ Đông Dương tạp chí qua Nam Phong tạp chí tới Tri Tân và nhiều tạp chí văn học tiếp tay nhau lần lượt phiên âm ra quốc ngữ những tác phẩm nôm từ đời Hàn Thuyên cho đến cận đại.”

    Như vậy, theo nhà giáo Lữ Hồ, chẳng riêng gì Phạm Quỳnh với Nam Phong đã làm văn hóa trong chánh sách ngu dân của Pháp mà hầu như tất cả các cây bút đã viết cho các báo kể từ Gia Định báo đến Đông Dương tạp chí tới Tri Tân và nhiều tạp chí văn học.

    Nhắc lại chi tiết này, chúng tôi chỉ có ý nhận định rằng quan điểm mà giáo sư Nguyễn Văn Trung coi là quan điểm mới, thực ra nó không mới lạ lắm.

    Bởi rất quan tâm đến các vấn đề văn học mà mình xét thấy còn bất lực trước quá nhiều vấn đề, nên mỗi khi thấy có người ta khêu ra một vấn đề là làm cho chúng tôi vui sướng. Đọc bài của giáo sư Nguyễn Văn Trung, tuy không đồng quan điểm, những chúng tôi vẫn hứng thú ở cái nỗ lực của ông trong việc phân tích và suy tư rất tỉ mỉ.

    Tiếc rằng các suy tư và phân tích ấy mới chỉ là những suy tư và phân tích thuần lý và chủ quan mà chưa được biện minh bằng các sự kiện.

    Trong phạm vi nhỏ hẹp của bài này chúng tôi chưa muốn bàn đến sự nghiệp văn học của Phạm Quỳnh. Trong tác phẩm về nền văn học thế hệ 1913 sắp xuất bản nay mai chúng tôi đã dành phần lớn của tất cả 10 chương để nói về sự nghiệp của Phạm Quỳnh mà chúng tôi cho là ông tổ của văn học cận đại, là vị lãnh đạo của văn học mới.
    Với bài này, chúng tôi chỉ muốn nói với giáo sư Nguyễn Văn Trung cùng nhìn lại một ít vấn đề mà chúng tôi thấy còn phủ đầy bóng tối chứ chưa được trong sáng thanh quang như giáo sư Nguyễn Văn Trung nghĩ tưởng và hy vọng giáo sư Nguyễn Văn Trung sẽ đào sâu cuốc bẫm cho vấn đề được minh xác hơn.

  2. #12
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Bài đọc thêm 2 (tiếp):

    2. MỘT ÍT NGHI VẤN TRƯỚC NHỮNG NHẬN ĐỊNH CỦA GIÁO SƯ NGUYỄN VĂN TRUNG


    Công việc chính yếu mà chúng tôi làm hôm nay là đọc kỹ bài diễn văn này, và dừng lại để gọi là đặt ra một ít nghi vấn trước những nhận định của giáo sư Nguyễn Văn Trung.

    - Giáo sư Nguyễn Văn Trung trích câu của Phạm Quỳnh: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn” và giáo sư Nguyễn Văn Trung đã viết mấy câu như vầy để chú thích ý nghĩa của câu nói trên: “Luận điệu của ông Phạm Quỳnh vừa là một xuyên tạc lịch sử, vừa là một ngụy biện có thể có một tác dụng chính trị rất tai hại. Ông Quỳnh nói Truyện Kiều là quốc hồn quốc túy, Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, nước ta còn và ông muốn hiểu nghĩa Truyện Kiều làm nên TẤT CẢ dân tộc và TẤT CẢ văn học Việt Nam.
    Vậy trong hiện tình mất nước, nếu Truyện Kiều vẫn còn (chứng cớ là chúng ta thời đó đang được đề cao, thưởng thức Truyện Kiều), thì tiếng mất cũng như còn, nước đã mất cũng như vẫn còn”.
    Tôi không dám khẳng định rằng câu nói của Phạm Quỳnh không thể hiểu được theo như lối chú giải của giáo sư Nguyễn Văn Trung. Tôi chỉ muốn cùng giáo sư Nguyễn Văn Trung chú giải lại xem câu nói của Phạm Quỳnh có thể hiểu được cách nào khác nữa hay không.

    Theo tôi, câu nói của Phạm Quỳnh:
    - Có thể hiểu thế này: Còn Truyện Kiều đấy, như là kiệt tác, chứng nhân của một mức độ văn minh, biện minh hùng biện nhất cho sự trưởng thành của ngữ ngôn Việt Nam, niềm tin tưởng mạnh mẽ vào sự trường cửu của quốc gia dân tộc, mặc dù hiện nay ta có tạm mất quyền.
    - Cũng có thể hiểu sâu xa và rất xỏ xiên đối với người Pháp như thế này: Ừ, thì chúng tôi hiện chấp nhận là dân mất nước, nhưng nước chúng tôi đâu phải dòng giống đê hèn, man rợ, cái dân tộc đã có một ngôn ngữ điêu luyện, phong phú, đã sản xuất ra được một kiệt tác như cuốn Kiều, có giá trị quốc tế, đặt ngang hàng với những kiệt tác ít ỏi của di sản văn học nhân loại, cái dân tộc ấy không thể tiêu diệt được: quyển Kiều là một bằng chứng, tiếng nói đã trưởng thành của dân tộc tôi là một bằng chứng bảo cho người Pháp các ông biết rằng các ông chẳng có gì là hơn chúng tôi, việc các ông có mặt ở đây chỉ là sự ức hiếp, một sự ức hiếp bằng bạo lực, chứ so tài chưa chắc ai hơn ai kém các ông phải coi chừng.

    Tiếng ta còn, mà còn ở trong những điều kiện hiên ngang, đấy không những là một điều cảnh cáo đối với Pháp, mà còn nhất là niềm tin tưởng vào tương lai, vào sức đấu tranh bền bỉ của dân tộc, vào sự trường tồn bất diệt của quốc gia: tiếng nói của một dân tộc là vận mạng của chính dân tộc ấy. Ý tưởng này được Phạm Quỳnh bàn đi, bàn lại nhiều lần. Trên Nam Phong số 2, trong bài Văn quốc ngữ, ông viết “Xin đồng bào ta chớ nhãng bỏ, chớ khinh rẻ văn quốc ngữ. Cái tương lai ta ở đó”; trên Nam Phong số 22, ta đọc những dòng như: “Nước sống về tiếng nói, tiếng nói còn, nước không thể mất được, tiếng nói đã mất, nước cũng khó lòng còn”.
    Trên Nam Phong số 101, ta đọc: “Tiếng là nước, tiếng còn thì nước còn, tiếng mất thì nước mất, mà mất đó mới thật là mất hẳn không sao vãn hồi được nữa”.

    Chữ viết của Phạm Quỳnh, như ta thấy bộc lộ ở nhiều nơi, nếu hiểu theo sự chú giải của giáo sư Nguyễn Văn Trung thì quả là méo mó, gò ép.

    Rất có thể là Phạm Quỳnh phản quốc, làm văn hóa trong chánh sách ngu dân của Pháp, là lợi khí tay sai đắc lực của Pháp; nhưng ghép cho Phạm Quỳnh nhà trí thức, nhà văn, một thứ lập luận có nhiều vẻ ngây ngô “Nếu Truyện Kiều vẫn còn, thì tiếng mất cũng như còn, nước đã mất cũng như còn” chúng tôi e rằng sự ghép ấy có nhiều miễn cưỡng, sợ không đúng lắm với thực tế lịch sử và văn học…

    - Duyệt lại tất cả các nhận định từ xưa đến nay về vụ án Kiều của các nhà làm văn học, giáo sư Nguyễn Văn Trung cho rằng các nhà ấy thảy đều không nhìn thấy thực chất chính trị của vấn đề mà chỉ nhìn đó như một cuộc tranh luận thuần túy văn học. Sự nhận định lại của giáo sư Nguyễn Văn Trung về các nhận định của các nhà làm văn học có điều hơi luẩn quẩn.

    Chúng tôi thiết nghĩ nếu mọi người đều đứng trên cương lĩnh văn học thuần túy, thì đã chẳng có chuyện Ngô Đức Kế chửi Phạm Quỳnh. Đang khi ông sau muốn làm văn học thuần túy, muốn thẩm định Kiều nhân danh các nguyên tắc thẩm mỹ, thì ngược lại, ông trước đã nhân danh đạo đức mà xét đoán Kiều, một thứ đạo đức chính trị. Nói Ngô Đức Kế bảo thủ, cố chấp, luyến tiếc dĩ vãng, không tất nhiên là chối bỏ lòng yêu nước rất thành thực của ông, sự nghiệp cách mạng của ông. Có thể có được không trường hợp Ngô Đức Kế ghép án Phạm Quỳnh là phản bội dân tộc là bán dân bán nước, mặc dầu Ngô Đức Ké vẫn biết Phạm Quỳnh không những không theo Pháp mà còn chống Pháp? Có thể được lắm. Theo quan điểm của các cụ xưa, người ta có thể phản dân phản nước bằng nhiều cách chứ không cứ gì phải làm tay sai cho ngoại bang mới là bán nước. Nếu các cụ quan niệm rằng luân lý và đạo đức là nền tảng của quốc gia dân tộc, rằng đả phá luân lý và đạo đức là đả phá tận nền tảng của quốc gia dân tộc, thì cho rằng Phạm Quỳnh lúc ấy có thực sự làm cách mạng chống Pháp đi nữa vẫn rất có thể bị Ngô Đức Kế đả kích. Điều ấy càng được biện minh nếu người ta hiểu rõ tâm lý của thời đại Ngô Đức Kế, mà có thể nói hầu hết dư luận đương thời đều kết án Kiều, đều coi việc đọc Kiều là một tai họa kinh tởm cho xã hội. Ngay từ trước thời Pháp thuộc, người ta đã kết án Kiều nặng nề:

    Đàn ông chớ kể Phan Trần
    Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều


    Một nhà nho tài tử như Nguyễn Công Trứ mà cũng kết án Kiều một cách rất nghiệt:

    Từ Mã giám Sinh cho đến chàng Từ Hải
    Cánh hoa tàn đem bán chôn thanh lâu
    Bây giờ Kiều còn hiếu vào đâu
    Mà bướm chán ong chường cho đến thế
    Bạc mệnh chẳng nhằm người tiết nghĩa
    Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm
    Bán mình trong bấy nhiêu năm
    Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai.


    Chứng cớ hiển nhiên hơn cả là lúc ấy các giới công giáo đối với Kiều đã tỏ ra vô cùng cay nghiệt, coi Kiều như là một thứ ôn dịch không những tàn phá quốc gia dân tộc mà còn tàn phá cả tôn giáo tín ngưỡng nữa: hồi ấy người công giáo nào mà đọc Kiều là tự nhiên bị rút phép thông công, nghĩa là bị coi như bỏ đạo hay chối đạo. Nếu đương thời coi việc đọc Kiều còn là một việc tội lỗi ghê tởm như vậy thì việc tuyên dương Kiều, việc đưa Kiều vào chương trình học, việc lấy Kiều làm sách giáo khoa dạy ở trường phải được coi như là một hành động phá hoại luân lý, tiêu diệt dân tộc tận nền tảng. Ngô Đức Kế rất có thể đã kết án Phạm Quỳnh, cho Phạm Quỳnh là bán dân hại nước ở điểm ấy không tất nhiên cho Phạm Quỳnh là theo Tây.

    (…)

    Như vậy dưới con mắt của Ngô Đức Kế, Phạm Quỳnh là con người nguy hiểm, không tất nhiên vì Phạm Quỳnh theo Tây, mà có lẽ chỉ vì Phạm Quỳnh đang được nhìn như là một tà thuyết hiện thân đánh thẳng vào nền đạo đức luân lý đang được Ngô Đức Kế quan niệm như là nền tảng của quốc gia, thiết yếu đến vận mạng của dân tộc.

    3. BỐN CHẶNG ĐỜI PHẠM QUỲNH

    Một điểm khác hình như không được giáo sư Nguyễn Văn Trung lưu ý là việc phân biệt những chặng đời hoạt động của Phạm Quỳnh.

    Đời Phạm Quỳnh có thể chia làm bốn chặng khác nhau:

    Chặng thứ nhất tính từ 1913 đến 1917.

    Chặng hai tính từ 1917 đến 1932.

    Chặng ba tính từ 1933 đến 1945.

    Chặng bốn tính từ ngày đảo chính Nhật 9/3/1945 đến ngày Phạm Quỳnh bị sát hại vào khoảng tháng 9 cũng năm 1945.

    Ở chặng nhất (1913-1917), trong lúc giữ chân nhân viên trường Viễn Đông Bác Cổ, Phạm Quỳnh có cộng tác với Nguyễn Văn Vĩnh chuyên giữ mục dịch thuật sách Pháp ra tiếng Việt và viết những bài biên khảo có tính cách thuần văn học, bộc lộ cái băn khoăn của một nhà văn hóa trẻ tuổi trước sự xung đột, kình địch giữa hai thế hệ già với trẻ…

    Ở chặng hai (1917-1932) Phạm Quỳnh tham gia đủ mọi hoạt động cả văn hóa lẫn chính trị. Năm 1919, ông lập hội Khai Trí Tiến Đức và giữ chân Tổng thư ký mãi cho đến năm 1932.

    Năm 1920, ông giữ chân hội viên tư vấn Hội đồng thành phố Hà Nội.

    Năm 1922, ông được cử đi dự cuộc triển lãm thuộc địa ở Marseille và giữ chân thuyết trình viên.

    Năm 1924, ông giữ chân giảng viên môn bác ngữ học và văn chương Hán Việt tại trường Đại Học Hà Nội.

    Năm 1925, làm chủ tịch Hội Khuyến học Bắc Kỳ.

    Năm 1926, hội viên Hội đòng Tư vấn Bắc Kỳ.

    Năm 1929 được bầu làm Phó chủ tịch Đại hội đồng kinh tế và tài chánh Đông Pháp.

    Năm 1930, giữ thêm chức Phó chủ tịch Hội Địa dư Hà Nội và Tổng thư ký Hội Bảo trợ xã hội Bắc Kỳ.

    Nhưng hoạt động chính yểu nổi bật của Phạm Quỳnh ở cái chặng thứ hai này (1917-1932) là hoạt động văn hóa, làm chủ tờ báo Nam Phong tạp chí.

    Ở chặng ba (1933-1945), Phạm Quỳnh đôi lúc có còn cầm bút, nhưng hoạt động chính yếu là làm chính trị, làm Thượng thư của Triều đình Huế.

    Ở chặng bốn (từ tháng ba đến tháng chín năm 1945), chẳng hiểu đã chán chính trị hay chưa, mà ta thấy bề ngoài ông như thôi mọi hoạt động chính trị. Từ sau ngày đảo chánh Nhật, lật đổ chính quyền Pháp, Phạm Quỳnh sống cuộc đời ẩn dật trong một căn nhà hẻo lánh trên bờ sông An Cựu (Huế).

    Sau khi dã ghi nhận các sự kiện trên đây, ta có thể đặt ra nhiều giả thuyết và cần phải giải quyết được các nghi vấn đặt ra thì mới khẳng định được công tội của Phạm Quỳnh.

    - Rất có thể Phạm Quỳnh là tay sai của Pháp ngay từ chặng đầu, hồi mới bắt đầu viết cho Đông Dương tạp chí. Riêng chúng tôi thì xin thú nhận là chưa nắm được trong tay một tài liệu nhỏ nào có thể biện minh cho giả thuyết buộc tôi Phạm Quỳnh là tay sai của Pháp.

    - Rất có thể, như giáo sư Nguyễn Văn Trung đã quả quyết, là ở chặng đầu, Phạm Quỳnh mới chỉ được người Pháp lưu ý và, vì sau này, từ khi ông được giao phó cho việc điều khiển tờ Nam Phong, Phạm Quỳnh mới trở nên tay sai của Pháp, làm văn hóa trong chính sách ngu dân của Pháp với mục đích đánh lạc ý hướng đấu tranh quốc gia.

    - Rất có thể lúc đầu Phạm Quỳnh chỉ làm văn hóa thuần túy, rồi dần dà, về sau này, chính Phạm Quỳnh đã nảy ra ý định dùng cơ quan ngôn luận Nam Phong để lấy lòng thực dân hòng mua chuộc chức vị trong tương lai.

    - Cũng rất có thể là Phạm Quỳnh đã chơi ngược lại đòn chính trị của Pháp, lợi dụng chính kế hoạch Pháp đề ra để lập mặt trận văn hóa mà Phạm Quỳnh có thể coi là không kém tầm quan trọng đối với mặt trận quân sự.

    Nếu giả thuyết này là đúng thì kế hoạch của Phạm Quỳnh là chính sách trường kỳ.

    - Cũng rất có thể là Phạm Quỳnh tự lượng sức mình chẳng làm nên anh hùng kiệt quái gì cho quê hương đất nước được, thì ít ra cố cứu vãn cái gì có thể cứu vãn được, cố làm một cái gì ích lợi cho dân tộc, còn hơn là bó tay, nằm ỳ ra đấy (Chúng tôi nhấn mạnh – PT).

    - Cũng rất có thể là Phạm Quỳnh chỉ là một người say mê với văn hóa, thích văn chương, coi nghề viết văn như là một nhu cầu, một thúc bách chứ chẳng có ngầm ý làm lợi cho chính trị Pháp hay chính trị quốc gia – chính trị hiểu theo nghĩa đấu tranh.

    Nguyên về hoạt động của Phạm Quỳnh ở chặng thứ hai, tức là trong thời làm Nam Phong, từ 1917 đến 1932, đã có thể đặt ra ngần ấy giả thuyết.

    Sang đến chặng thứ ba của cuộc đời Phạm Quỳnh (1932-1945), ta còn có thể đặt nhiều giả thuyết khác nữa.

    - Có thể là buổi còn làm Nam Phong, Phạm Quỳnh có ý hướng quốc gia, nhưng từ ngày vào Huế, bị lôi cuốn theo danh lợi và địa vị, Phạm Quỳnh đã trụy lạc bỏ mất lý tưởng của buổi đầu để làm tay sai cho Pháp.

    - Có thể là chủ trương buôn dân bán nước của Phạm Quỳnh đã có từ xửa xưa mà nay mới có cơ hội được tích cực thực hiện.

    - Cũng có thể là Phạm Quỳnh đã nhảy vào triều đình Huế với tất cả thiện chí muốn làm một cái gì cho dân tộc, mà rồi hoàn cảnh đã làm cho ông vỡ mộng, tiến chẳng được mà thoái cũng chẳng xong. Cuộc đời làm quan của Phạm Quỳnh như vậy là một đời gò bó, miễn cưỡng, giả dối, đau đớn.

    - Cũng có thể là Phạm Quỳnh muốn lợi dụng địch, dựa vào chính sách của địch để làm áp lực bắt địch phải thi hành các thỏa hiệp và các lời hứa hẹn đầy nhân đạo của Pháp (Chúng tôi nhấn mạnh – PT).

    Làm sao hiểu được tâm sự của Phạm Quỳnh?

    Thực là khó khăn! Tuy nhiên thái độ có vẻ chán chính trị được bộc lộ qua thái độ sống rút lui, ẩn dật trên bờ sông An Cựu, hình như biện minh phần nào cho Phạm Quỳnh.

    Phạm Quỳnh lúc ấy không tham gia chính phủ Trần Trọng Kim, không chạy theo thực dân Pháp, không theo một phe phái cách mạng nào, mà cũng chẳng gia nhập mặt trận Việt Minh. Hơn thế nữa, xem ra Phạm Quỳnh sống có vẻ vô tư, không lo sợ gì sự ám hại của các phe phái. Chứ nếu Phạm Quỳnh là tay sai của Pháp hay nhất nữa là mật thám của Pháp, thì thân phận Phạm Quỳnh tưởng chẳng đến nỗi sống lẻ loi để rơi vào tay Việt Minh một cách quá dễ dãi như vậy. (Chúng tôi nhấn mạnh – PT).

    Sau khi đã duyệt qua bốn chặng đời của Phạm Quỳnh và đặt đủ mọi giả thuyết, chúng tôi thú nhận chưa có đủ dữ kiện để nghiêng theo hẳn giả thuyết nào.

    Đây chưa phải là vấn đề thẩm định cả cuộc đời hoạt động của Phạm Quỳnh, chưa phải là lúc nhìn Phạm Quỳnh bằng một cái nhìn tổng lược. Vấn đề đặt ra ở đây là nhìn Phạm Quỳnh vào đúng năm 1924 là năm Ngô Đức Kế viết bài Chánh học cùng tà thuyết… để đả kích Phạm Quỳnh. Lý do ra đời của bài Chánh học cùng tà thuyết… của Ngô Đức Kế chỉ có thể lấy làm nguyên cớ cuộc đời của Phạm Quỳnh từ 1924 trở về sau này được.

    Theo giáo sư Nguyễn Văn Trung, Ngô Đức Kế trong bài Chánh học cùng tà thuyết, “không nhằm phê bình thái độ văn học của Phạm Quỳnh mà là tố cáo, đả kích thủ đoạn chính trị nấp dưới hình thức văn hóa suy tôn Truyện Kiều.” Cũng theo giáo sư Nguyễn Văn Trung thì đối với Ngô Đức Kế, Phạm Quỳnh “là người đầu hàng thực dân, theo Pháp”.

    Chúng tôi không dám chối là điều ấy không thể không có trong đầu óc của Ngô Đức Kế. Có thể Ngô Đức Kế có ý tưởng cho Phạm Quỳnh đầu hàng thực dân, theo Pháp, cũng có thể là Ngô Đức Kế không có ý tưởng ấy. Có thể là nhận định của Ngô Đức Kế đúng với sự thực mà cũng có thể sai lệch. Tìm ra tâm sự đích thực của Ngô Đức Kế là một chuyện, thẩm định giá trị khách quan của tâm sự ấy lại là một chuyện khác.

    Tại đây ta hẵng thử hỏi xem cho đến năm 1924, cuộc đời của Phạm Quỳnh đã có những gì có thể khiến Ngô Đức Kế ghép ông vào tội phản quốc.

    Căn cứ vào các hoạt động công khai của Phạm Quỳnh từ đầu cho đến năm 1924, chúng tôi chưa thấy có gì đáng cho dư luận nghi kỵ Phạm Quỳnh là bán dân hại nước cả.

    Hoạt động của Phạm Quỳnh, đặc biệt trong thời kỳ này, hình như mới chỉ có tính cách thuần văn hóa.

    Từ năm 1908, công tác chính yếu của ông chỉ là một chuyên viên của một cơ quan văn hóa chuyên môn tức Trường Viễn Đông Bác Cổ.

    Năm 1919, ông đứng ra sáng lập một cơ quan văn hóa có uy tín rất nhiều đối với quốc dân và giới văn học, đó là Hội Khai Trí Tiến Đức mà ông giữ chức Tổng thư ký.

    Năm 1922, trong khi giữ chân thuyết trình viên cuộc triển lãm thuộc địa ở Marseille, ông đã đọc nhiều bài diễn văn quan trọng tố cáo nhiều khuynh hướng lệch lạc của thực dân tại Việt Nam, lưu ý và làm sáng tỏ dư luận Pháp về nhiều vấn đề liên quan đến vận mệnh văn hóa và cả dân tộc Việt Nam. Chính nhờ vào sự tranh đấu ấy mà hai năm sau, 1924 Pháp cho lập tại Đại học Hà Nội một bộ môn mới, tức là môn Bác ngữ học và văn chương Hán Việt, một hình thức phôi thai của Đại học Văn khoa. Người được mời phụ trách môn học mới này là Phạm Quỳnh.

    Theo các tài liệu văn học mà chúng tôi tạm sử dụng thì thấy tất cả chúng đều hình như biện minh cho một Phạm Quỳnh nhà văn hóa có tinh thần quốc gia được mọi giới yêu kính.

    Chưa nói đến khuynh hướng chính trị thiên quốc gia của Phạm Quỳnh chống lại Nguyễn Văn Vĩnh khi ông này yêu cầu cho cả Trung và Bắc Kỳ cùng theo một chế độ trực trị như Nam Kỳ.

    Phạm Quỳnh, ngược lại, cương quyết yêu cầu Pháp thi hành đúng theo hòa ước 1884, trao trả Bắc Kỳ cho Nam Triều đồng thời cho Nam triều tự trị về nội bộ.

    Nguyên một việc báo Nam Phong của Phạm Quỳnh đã quy tụ được hầu hết các cây bút thuộc đủ khuynh hướng quốc gia, cách mạng, thì đủ biết thế giá của Phạm Quỳnh với công luận lúc ấy ra sao.

    Hầu hết các tay tân học, có tinh thần cầu tiến, không chấp nê, không nệ cổ, đều cộng tác với Phạm Quỳnh hay quý trọng ông; coi ông như một chiến sĩ, nếu không phải là chiến sĩ cách mệnh quốc gia thì cũng là một chiến sĩ văn hóa dân tộc.

  3. #13
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Bài đọc thêm 2 (tiếp)


    4. THỰC RA CHƯA CHẮC NGÔ ĐỨC KẾ GHÉT PHẠM QUỲNH VÌ “THEO TÂY”

    Trong khoảng này (1917-1932 – PT chú), hoạt động nói được là có hình thức chính trị, chỉ có việc Phạm Quỳnh giữ chân hội viên tư vấn Hội đồng thành phố Hà Nội (Năm 1920- PT chú).

    Nếu chỉ làm cái ông cố vấn của một hội đồng thành phố mà bị ghép vào tội phản dân hại nước thì chẳng riêng gì Phạm Quỳnh mà hầu hết các nhà văn hóa đương thời vẫn được quốc dân công nhận là đứng đắn như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Bá Học, và sau này, hầu hết các nhà văn như Tú Mỡ, Khái Hưng, Nhất Linh, Thế Lữ, đều là công chức của Pháp. Tôi nghĩ Ngô Đức Kế đả kích Phạm Quỳnh chắc không phải vì Phạm Quỳnh giữ chân hội viên tư vấn Hội đồng thành phố Hà Nội.

    Nếu không phải vì cái chức cố vấn mà lúc ấy, năm 1924, Phạm Quỳnh còn đang nắm giữ, thì phải chăng vì một bài báo viết ra mãi từ năm 1917, bài báo mà giáo sư Nguyễn Văn Trung đã trích một đoạn với lời buộc tội là Phạm Quỳnh “đề cao, biện hộ cho chế độ thực dân trong khi biết bao nhà ái quốc ngã gục trước họng súng của cái chủ nghĩa mà Phạm Quỳnh cho là nhân đạo, là xả kỷ”.

    Về cái bài Khái luận về văn minh học thuật nước Pháp này, điều thứ nhất ta cần nhận định đó là một nhận định không phải do Phạm Quỳnh viết ra mà chỉ là tường thuật bài La civilisation (Nền văn minh – PT chú) của ông Victor Giraud viết năm 1916. Có đọc cả cái bài khái luận này mới thấy rằng chủ trương của bài khái luận không phải là biện minh cho chế độ thực dân.

    Bài khái luận chia làm 6 phần, phân tích những đặc tính của nền văn minh của Pháp là một nền văn minh lấy “nhân đạo” làm cốt yếu. Giraud minh chứng tính cách nhân đạo ấy của nền văn minh Pháp được bộc lộ qua văn chương Pháp, qua triết học Pháp, qua tôn giáo Pháp, qua lịch sử Pháp. Chính do cái phần Victor Giraud phân tích tính cách nhân đạo của Pháp qua lịch sử của Pháp này mà giáo sư Nguyễn Văn Trung buộc tội Phạm Quỳnh là muốn biện hộ, đề cao chế độ thực dân.

    (…)

    Tôi chưa có dữ kiện đủ để biện hộ cho Phạm Quỳnh là một chiến sĩ quốc gia chống Pháp mà tôi cũng chưa thấy có gì đáng ghép Phạm Quỳnh vào tội buôn dân bán nước qua một đoạn văn viết như trên kia.

    (…) Do sự phân tích trên đây, tôi thấy không thể chỉ vì một đoạn văn vỏn vẹn có ngần ấy câu mà ghép Phạm Quỳnh vào tội buôn dân bán nước, là đề cao hay biện hộ cho chế độ thực dân.

    Và Ngô Đức Kế, khi đả kích Phạm Quỳnh năm 1924, chắc không phải vì các đoạn văn vỏn vẹn ấy viết ra từ năm 1917.

    Đàng khác, nếu chỉ căn cứ vào một đoạn văn mà buộc tội thì tôi thiết tưởng người ta có thể buộc tội cả Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là hai nhà cách mạng và anh hùng dân tộc ở đầu thế kỷ, vậy mà cả hai nhà đại cách mạng đều lâm thời chấp nhận sự kiện bảo hộ như là một sự kiện nếu không cần thiết thì cũng không thể tránh được.

    Phan Chu Trinh, trong bức thư gửi cho chính phủ Pháp ngày 15/8/1918, hình như không những chấp nhận sự kiện bảo hộ của Pháp mà còn coi đó như một điều cần thiết cho sự an toàn của dân ta trong hoàn cảnh lịch sử lúc ấy: “Ôi, ham mến tự do, mưu toan độc lập, xấu hổ làm nô lệ cho người, lấy cái đó mà ngờ cho dân tộc Âu châu là phải rồi, chớ còn như lấy đó mà ngờ cho dân An nam thì có khác gì ngờ người có bệnh tê bại leo tường ăn cắp, ngờ đứa con nít ba tuổi đốt nhà giết người; chẳng qua cái thói đa nghi đó mà thôi. Chớ cứ nói thật ra, trong một nước mà học thuật không ra sao, phong hóa bại hoại, liêm sỉ mất hết, kiến thức không có một chút gì, ngay đến trong một làng, một ấp mà cũng coi nhau như cừu địch thì còn mong mỏi gì liên kết đoàn thể mà chống giữ với ai? Mà ví thử có muốn đem võ lực để kháng cự với chính phủ bảo hộ đi nữa, thì không những đất dụng võ không có, tàu to súng lớn không có, lương thực không có, mà cứ nói ngay ra ví thử bây giờ người Pháp cho người Nam độc lập, giao cho mấy ngàn khẩu súng, cấp cho đất đai mấy tỉnh, rồi cho tự trị lấy, không hỏi gì đến nữa, thì chỉ trong vòng mấy năm là tranh giành tước vị, cướp bóc của cải, báo thù báo oán, chém giết lẫn nhau đến chết thì thôi, còn mong gì mở mày mở mặt với thế giới được; ấy mình đối với mình còn thế, còn mong gì đối với ai.” (Trích theo Thế Nguyên, Phan Chu Trinh , Tân Việt, trang 97-98).

    Qua đoạn văn trên này, Phan Chu Trinh nhận định hai điều:

    Điều thứ nhất là dân tộc ta trong hoàn cảnh đương thời không thể nào đánh lại được người Pháp.

    Thứ hai có vẻ cay đắng, bi đát hơn, đó là việc giả sử người Pháp có trao quyền tự trị hay độc lập cho dân tộc mình thì người mình lúc ấy cũng không cai trị nổi nhau mà chỉ có cấu xé lẫn nhau “chỉ trong mấy năm là tranh giành tước vị, cướp bóc của cải, báo thù, báo oán, chém giết lẫn nhau đến chết thì thôi”.

    (…) Đã có chủ trương rõ rệt như vậy, cho nên Phan Chu Trinh chống bạo lực, muốn thành tâm cộng tác với Pháp chứ không muốn nổi dậy làm cách mạng bạo động. Đó là ý tưởng ông bàn đến nhiều lần trong bài diễn văn Đạo đức và luân lý Đông Tây ông đọc tại Sài Gon đêm 19/11/1925.

    Trong bài đó tôi chú trọng đến đoạn sau này hơn cả:

    “Cái thương nước tôi nói đây không phải là xúi dân tay không nổi lên, hoặc đi lạy nước này cầu nước khác về phá loạn trong nước đâu! Tôi xin thưa: Nước ta đã hư hèn bị mắc trong tay người ta rồi, thì bây giờ ta phải đem lòng thương nước, bênh vực lẫn nhau, mà giúp cho nhau để cứu chuộc lại cái danh giá cùng lợi quyền của ta về sau. Hễ người ta làm việc gì bất công thì mình phải hiệp sức nhau lại mà chống, còn làm việc gì phải chăng thì mình cũng phải nhìn nhận, chớ có thấy chính quyền mình mất rồi mà đem lòng căm tức không kể đến việc hay của người ta. Thế thì lòng thương nước của dân Việt Nam có làm gì hại đến quyền lợi người Pháp không? Tôi xin thưa rằng: không!. Dân Việt Nam thấy người nào làm hại cho nước nó thì nó ghét, ấy là lẽ tự nhiên”.

    (Trích theo Thế Nguyên, Phan Chu Trinh, Tân Việt, trang 144).

    Theo Phan Chu Trinh, lòng yêu nước, tức tinh thần quốc gia, tức bổn phận làm một công dân yêu nước, một chiến sĩ quốc gia không cần phải xung đột với Pháp: “Thế thì lòng yêu thương nước của dân Việt Nam có làm hại gì đến quyền lợi của người Pháp không? Tôi xin thưa rằng: không!”

    Đây chưa phải là chỗ thẩm định tư tưởng của Phan Chu Trinh mà chỉ muốn trích hai văn kiện của một nhà Đại Cách Mạng Việt Nam được mọi giới yêu kính, văn kiện thứ nhất đề năm 1918, văn kiện thứ hai đề năm 1925, để minh chứng rằng, thuộc vào khung cảnh lịch sử của nó, những bài văn, bài báo như của Phan Chu Trinh hay của Phạm Quỳnh không thể hiểu thẳng băng theo ngữ ngôn của thời đại ta. Mà nếu hiểu theo ngữ ngôn của thời đại ta thì Phan Chu Trinh có vẻ còn đề cao, còn biện hộ cho chế độ thực dân mạnh hơn Phạm Quỳnh nhiều.

    Không những xem ra đề cao, biện hộ cho chế độ thực dân mà Phan Chu Trinh còn kết án cả cái lối làm cách mạng theo lối Ngô Đức Kế nữa kia, điều mà Phạm Quỳnh trong thâm tâm không biết ông nghĩ thế nào, chứ chưa hề công khai dám tuyên bố táo bạo như Phan Chu Trinh:

    “Cái thương nước tôi nói đây không phải xúi dân tay không nổi lên, hoặc đi lạy nước này, cầu nước khác về phá loạn trong nước đâu.”

    Nếu bài báo của Ngô Đức Kế ra đời sau năm 1924 là năm rồi đây Phạm Quỳnh sẽ tham gia nhiều hoạt động có tính cách chính trị, nhất nữa là ra đời vào khoảng sau năm 1933 là năm Phạm Quỳnh sẽ chìm sâu vào chính trị thì sự giải thích của giáo sư Nguyễn Văn Trung có lẽ mới thích hợp. Ngô Đức Kế viết bài Chánh học cùng tà thuyết vào thượng tuần tháng 9 năm 1924, nghĩa là hơn một tuần sau khi có cuộc lễ kỷ niệm Tiên Điền Nguyễn Du vào tuần cuối tháng 9 năm 1924. Tôi muốn nói: Từ năm 1924 trở về trước, cuộc đời của Phạm Quỳnh chưa có gì đáng cho Ngô Đức Kế hay dư luận nghi là buôn dân bán nước, là theo Tây.

    Hình như giáo sư Nguyễn Văn Trung đã bắt Ngô Đức Kế nhìn thấy cả đời chính trị của Phạm Quỳnh về sau này, khi ông viết bài Chánh học cùng tà thuyết năm 1924.

    Thực ra giáo sư Nguyễn Văn Trung biết Phạm Quỳnh đã làm chính trị, đã làm thượng thư, một thứ thượng thư Bộ Học rồi đến Bộ Lại mà chưa tranh đấu được gì cả cho dân tộc như người ta từng chờ mong, chứ Ngô Đức Kế thì không những năm 1925, ông không thể biết các việc ấy được, mà cho ngay sau này ông cũng chẳng có thể đoán được là Phạm Quỳnh có sẽ làm thượng thư hay không, vì Ngô Đức Kế chết năm 1930 mà mãi đến 1933 Phạm Quỳnh mới ra tham chính. Tôi nêu lên sự kiện này là có ý lưu ý giáo sư Nguyễn Văn Trung là rất có thể chúng ta đem ghép cho Ngô Đức Kết cái tâm tính của ta về Phạm Quỳnh. Thực ra tôi cũng như giáo sư Nguyễn Văn Trung, chúng ta chỉ biết Phạm Quỳnh như một đại thần của triều đình Huế, nghĩa là một người mà tuổi thanh niên chúng ta lúc ấy (khoảng năm 1938 – 1945) mong phải có những hành động kinh thiên động địa. Thú thật chính tôi cũng đã rất ghét Phạm Quỳnh hồi ông đang làm thượng thư. Chứ thời kỳ ông còn ở báo Nam Phong thì tôi còn nhỏ xíu, ngay đến năm 1924 khi xẩy ra cuộc cãi lộn giữa Ngô Đức Kế và Phạm Quỳnh, thì cả giáo sư Nguyễn Văn Trung lẫn tôi chưa một ai sinh ra.

    Như vậy Phạm Quỳnh có thể bị ghét về nhiều phương diện, chúng ta những người sinh sau, đã ghét Phạm Quỳnh về phương diện chính trị vì chỉ biết hay chỉ nghe nhiều về Phạm Quỳnh chính trị, Phạm Quỳnh Thượng Thư mà không ngờ rằng Phạm Quỳnh còn có thể bị ghét về nhiều phương diện khác nữa. Có thể ta đã bắt Ngô Đức Kế ghét Phạm Quỳnh theo phương diện của ta đang khi thực ra Ngô Đức Kế có thể ghét Phạm Quỳnh về một phương diện không giống chúng ta. Chúng ta ngày nay đã nhìn tổng lược cả cuộc đời của Phạm Quỳnh mà bị ám ảnh bởi cuộc đời làm quan của Phạm Quỳnh hơn là cuộc đời làm văn hóa của ông, nhưng Ngô Đức Kế lo sợ sẽ cuốn bay tất cả, phá hoại tất cả không phải là thái độ theo Tây hay chống Tây của các học giả mà là thái độ đề cao Kiều có vẻ quá mức của các ông hồi bấy giờ.

    Tôi còn tiếp tục đọc lại bài diễn văn của giáo sư Nguyễn Văn Trung và còn tiếp tục đặt ra các nghi vấn.

  4. #14
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Bài đọc thêm 2 (tiếp)

    5. TỘI CỦA PHẠM QUỲNH ĐỐI VỚI ĐẤT NƯỚC, CÓ ĐI NỮA, CŨNG CHẲNG NẶNG BẰNG CÁC NHÀ VĂN TRẺ

    Trong mặt trận phê bình thuận hay nghịch đối với Kiều, giáo sư Nguyễn Văn Trung chia ra làm ba hạng người:

    Hạng thứ nhất làm văn hóa trong chính sách ngu dân của Pháp.

    Hạng thứ hai làm văn hóa chống lại chính sách ngu dân của Pháp,

    Hạng thứ ba, làm văn hóa thuần túy.

    Giáo sư Nguyễn Văn Trung xếp Phạm Quỳnh vào hạng thứ nhất, xếp Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng vào hạng thứ hai, xếp Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư vào hạng thứ ba.

    Tiêu chuẩn để có sự sắp xếp ấy, theo như giáo sư Nguyễn Văn Trung là “Có sự khác biệt về chủ đích phê bình” - (Nguyên văn).

    Rồi giáo sư kết luận: “Căn cứ vào chủ đích đó, phải phân biệt cuộc tranh luận này thành hai, khác hẳn về thực chất: cuộc tranh luận giữa Phạm Quỳnh và Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng và cuộc tranh luận giữa những người tiếp sau đó. Một đàng, thực chất là một cuộc tranh đấu chính trị trên lãnh vực văn học, một đàng là một tranh luận văn học thực sự” (nguyên văn). Sự phân tích và nhận định của giáo sư Nguyễn Văn Trung rất có thể đúng. Chúng tôi không có ý bẻ bác gì mà chỉ có đặt ra mấy nghi vấn.

    Ta phải cần lược xét về ba hạng người làm văn hóa mà giáo sư Nguyễn Văn Trung đã sắp xếp.

    Về trường hợp Phạm Quỳnh, không riêng gì tôi mà chính giáo sư Nguyễn Văn Trung cũng thú nhận là “thật ra rất khó xác định thâm ý của Phạm Quỳnh khi cộng tác với Pháp, làm văn hóa trong chính sách của Pháp là chủ tâm theo Pháp hay chỉ để lợi dụng Pháp; làm sao mà phán đoán được lương tâm người”.

    Theo như câu ghi chú trên đây, giáo sư Nguyễn Văn Trung đã gạt qua một bên vấn đề tìm hiểu thâm ý, xét đoán lương tâm của Phạm Quỳnh. Vấn đề mà giáo sư Nguyễn Văn Trung muốn xét đến chính việc làm với các hậu quả của nó, nhất là với các chủ dích của những người đề xướng ra. Giáo sư Nguyễn Văn Trung đã có những phân tích và nhận định rất tế nhị và sâu sắc trên quan điểm của một triết gia đó là việc phân biệt “việc làm tự nó” với “chủ ý” của người làm việc ấy.

    Theo ý giáo sư Nguyễn Van Trung, việc làm văn hóa dưới thời thực dân là nằm trong chính sách của Pháp. Và chính sách của Pháp lúc ấy là cổ động cho dân bản xứ “làm văn hóa thuần túy và làm văn hóa thật, có kết quả tốt để cho quên chính trị”. (nguyên văn).


    Sau khi đã minh định chủ trương văn hóa Pháp như vậy, giáo sư Nguyễn Văn Trung đã phân biệt chủ tâm của Phạm Quỳnh với hành động của ông. Giáo sư Nguyễn Văn Trung kết án hành động của Phạm Quỳnh, vì lẽ hành động ấy nằm trong chính sách lấy việc “làm văn hóa thuần túy và làm văn hóa thật, có kết quả tốt để quên chính trị” (nguyên văn).

    Nếu hành động khách quan của Phạm Quỳnh đã nằm trong chính sách chung của Pháp, thì “ví dụ Phạm Quỳnh có không chủ tâm vẫn không xóa bỏ được hành động cộng tác với những ảnh hưởng thành quả tốt xấu của nó” (nguyên văn).

    Trích trường hợp của Pétain (Tổng thống Pháp thời phát xít Đức chiếm đất Pháp – PT chú), giáo sư Nguyễn Văn Trung viết: “Có lẽ không ai dám quyết Pétain chẳng hạn, đã chủ tâm cộng tác với Đức nhưng người ta vẫn kết án Pétain và có quyền làm như thế vì hành động cộng tác với những thành quả của sự cộng tác đó” (nguyên văn).

    Sau khi đã phân tích các khía cạnh một cách tế nhị và triết học như vậy, giáo sư Nguyễn Văn Trung lại một lần nữa kết luận để nhấn mạnh tội trạng của hành động cộng tác chứ chưa tất nhiên là tội trạng của chủ tâm: “Về Phạm Quỳnh, chúng tôi chưa dám quả quyết là ông chủ tâm theo Pháp như một người phản quốc, nhưng chúng tôi thẩm định ông có cộng tác với Pháp và khi làm Nam Phong dù muốn dù không cũng là làm trong một chính sách văn hóa của người Pháp muốn đề ra thời đó”. (nguyên văn).

    Do sự luận đi luận lại của giáo sư Nguyễn Văn Trung và cũng do sự nhắc đi trích lại lập luận của giáo sư Nguyễn Văn Trung, tôi muốn độc giả nhận thấy điều này: ở vào thời Pháp thuộc, khi mà Pháp đã đề ra một chính sách văn hóa thuần túy để làm cho ta quên chính trị thì người Việt Nam dù muốn dù không (bốn chữ “dù muốn dù không” của giáo sư Nguyễn Văn Trung rất quan hệ) chỉ có thể có hai con đường đi: một là làm văn hóa (cho dù thuần túy và chân thành) để cho quên chính trị, hai là làm văn hóa để nhớ chính trị. (nguyên văn).

    Đến đây, tôi thấy luận cứ của giáo sư Nguyễn Văn Trung chắc nịch và hành động khách quan, (khách quan hiểu theo quan điểm triết học nghĩa là tách ra khỏi chủ tâm) của Phạm Quỳnh như là một, theo đuổi thuận chiều với chủ trương văn hóa của Pháp, tất nhiên phải luận tội không thể tránh được.

    Sở dĩ chúng tôi thấy việc luận tội Phạm Quỳnh của giáo sư Nguyễn Văn Trung không đứng vững vì lý do căn bản mà ông nêu ra chỉ là dựa vào hành động khách quan của Phạm Quỳnh. Vậy mà sau khi nêu ra hai phe đối lập nhau, phe Phạm Quỳnh, phe Ngô Đức Kế, lại không nhắc đến một phe thứ ba là phe “phái trẻ” như Đào Duy Anh, Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư…

    Chính ra việc phân biệt Phạm Quỳnh với phe trẻ này – mà giáo sư Nguyễn Văn Trung cho rằng hành động khách quan của họ thực chất không phải là thực chất chính trị mà là thực chất thuần túy văn học, do sự phân biệt mới này, việc luận tội của giáo sư Nguyễn Văn Trung với bao nhiêu nhận định và phân tích tỉ mỉ, tế nhị nếu không trở nên mâu thuẫn thì cũng bị mất hiệu lực.

    Nếu chính sách Pháp, như giáo sư đã nhận định đi nhận định lại, là cổ động việc làm văn hóa thuần túy để cho người ta quên làm chính trị và nếu hành động của Phạm Quỳnh, trong khi ông làm văn hóa, dù muốn dù không, cũng là một hành động phù hợp với chính sách của Pháp, thì tại sao phái trẻ như Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư… lại có thể di vào mẹo trừ được?

    Tại làm sao riêng đối với Phạm Quỳnh, dù ông muốn, ông cũng không thể làm văn hóa thuần túy được, tại sao dù ông muốn, thực chất hành động của ông cũng không thể là một thực chất văn hóa mà cứ phải nhất thiết là một thực chất chính trị??

    Phải chăng chính sách của Pháp chỉ nhắm nguyên một Phạm Quỳnh?

    Cho ngay rằng Pháp chỉ nhắm một mình Phạm Quỳnh đi nữa, thì một cách luận lý để phân biệt hành động khách quan với chủ tâm, như giáo sư Nguyễn Văn Trung đã từng làm một cách rất tỉ mỉ và tế nhị cũng phải buộc tội luôn không những Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư hay Trần Trọng Kim, Nguyễn Tường Tam, Vũ Đình Long (nghĩa là những người ca ngợi Kiều) mà còn phải buộc tội tất cả phong trào làm văn nghệ thời ấy và sau này tức là phong trào văn nghệ rầm rộ của thế hệ 1932 (1932-1945). Tất cả các văn nghệ sĩ, có tới hàng trăm hàng ngàn hoạt động trong khoảng 1932 đến 1945 (còn đang thời Pháp thuộc) đối với họ, hành động khách quan mang thực chất chính trị hay mang thực chất văn học?

    Nếu chánh sách của Pháp là cố ý gây được trong toàn nước ta những phong trào làm văn hóa, làm văn học thuần túy, làm văn học thật, có kết quả tốt, để cho quên chính trị, nếu nhất nữa chính sách ấy còn kéo dài cho đến bây giờ (mà tôi nghĩ nó phải còn kéo dài), thì làm sao có thể gọi thực chất của sinh hoạt văn hóa của các nhà văn trẻ là thực chất văn học mà không phải thực chất chính trị. Nếu đối với Phạm Quỳnh, ta đã tách chủ tâm ra khỏi hành động khách quan và nếu hành động khách quan của Phạm Quỳnh dù muốn dù không cũng là hành động phù hợp vói chủ trương của Pháp (mà lý do duy nhất chỉ vì chính sách của Pháp là làm văn hóa để cho quên chính trị) thì đối với các nhà văn thuộc phái trẻ ta cũng phải lý luận như vậy, nghĩa là cũng phải phân biệt chủ tâm với hành động. Với những người chủ tâm làm văn hóa theo Pháp thì không thành vấn đề nữa. Nhưng đối với những người làm văn hóa mà không có chủ trương nào nhất định như làm văn hóa để giải buồn, để sinh nhai, để thỏa mãn một nhu cầu tinh thần, hay hơn thế nữa những người làm văn hóa thuần túy, làm văn hóa thực, làm văn hóa có kết quả tốt, với những người như vậy hành động khách quan của họ có bị hoen ố, bị kết án không? Nếu Phạm Quỳnh, nếu Pétain mặc dù không muốn cộng tác, mà chỉ bởi hành động của các ông nằm trong một chính sách nên bị kết án là phản bội, thì làm sao giáo sư Nguyễn Văn Trung lại có quyền tuyên bố trắng án cho những hoạt động văn hóa rầm rộ của cả thế hệ đến sau Phạm Quỳnh?

    Nếu hành động vô ý thức của Phạm Quỳnh bị kết án, bị luận tội thì hành động, cho dù với chủ tâm thuần văn hóa đi nữa, của phái trẻ, sao lại có thể mang thực chất thuần văn hóa, lúc mà không mang thực chất chính trị?

    Cứ theo lý đoán của giáo sư Nguyễn Văn Trung về Phạm Quỳnh thì cho dù các ông có không chủ tâm thành thực cộng tác đi nữa thì sự chủ tâm hay không chủ tâm vẫn không xóa bỏ được hành động cộng tác với những ảnh hưởng thành quả xấu của nó.

    Như vậy thiết tưởng chỉ có chiến lược tích cực ái quốc, muốn tương kế, tựu kế mới giải thoát cho các nhà văn đương thời khỏi mang tội là làm văn hóa trong chính sách của Pháp. Điều này sau khi đã phân tích và biện minh ở phần đầu bài diễn văn, giáo sư Nguyễn Văn Trung lại dành cả mấy trang liền ở phần giữa bài diễn văn để quảng diễn:

    “Trong cuộc tranh đấu, cái gì địch chủ trương, tất phải lợi cho địch và hại cho ta. Nhưng nếu cũng chủ trương đó mà do ta đề ra, tất lợi cho ta, hại cho địch”. (nguyên văn).

    Sau khi đã đặt vấn đề như vậy, giáo sư Nguyễn Văn Trung phân biệt chiến lược với chiến thuật. Theo giáo sư về phía chiến thuật, ta và Pháp giống nhau vì cùng cổ động sinh hoạt văn hóa. Nhưng về phía chiến lược, hai bên khác nhau hoàn toàn: Chiến lược của Pháp “là đập tan mọi hoạt động yêu nước, duy trì chế độ thuộc địa, còn chiến thuật của họ là hô hào làm văn hóa, hô hào cộng tác… Chiến lược của các nhà ái quốc là đập tan chế độ thực dân và mọi âm mưu củng cố chế độ đó, chiến thuật là tạm thời cộng tác, hòa hoãn, tranh đấu trên bình diện văn học, học cái hay của địch để đánh địch sau này.” (nguyên văn).

    Qua những đoạn tương tự như vậy, giáo sư đã bỏ phạm vi cuộc tranh luận về sự suy tôn truyện Kiều mà đi vào địa hạt rộng lớn của vấn đề văn hóa nói chung. Chính sách của Pháp không phải chỉ là cổ động cho Kiều để cho quên chính trị mà là gây nên một phong trào văn hóa rộng lớn để đánh lạc hướng chính trị quốc gia.

    Như vậy, trước sự bủa lưới bao vây của chiến lược Pháp, người ta đã hẳn là chỉ có thể có hai con đường để đi, làm văn hóa lợi cho chính trị Pháp hay làm văn hóa hại cho chính trị Pháp.

    Đã thế thì thực chất của sinh hoạt văn hóa không thể không là thực chất chính trị được. Cho nên, cũng như việc suy tôn Kiều, dù muốn dù không, các việc khác như việc viết tiểu thuyết đả phá nho giáo của Khái Hưng, Nhất Linh, việc viết phóng sự tả thực của Vũ Trọng Phụng, việc làm thơ lả lướt như Thế Lữ, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư, việc phê bình nghiên cứu của Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Văn Tố… Tất cả ngần ấy việc không thể không mang thực chất chính trị. vậy tất cả các nhà văn ấy và trăm ngàn nhà văn khác hoạt động trước năm 1945 là những người làm văn hóa lợi cho Pháp hay hại cho Pháp? Nếu giáo sư Nguyễn Văn Trung bảo tất cả các nhà văn khách quan (như là nằm trong chiến lược của Pháp, thuận hợp với chính sách rộng lớn của Pháp), cũng chẳng được nhân danh gì mà nói đến lòng yêu nước hơn Phạm Quỳnh.

    Nói tóm lại, cũng như Phạm Quỳnh, họ cũng phải bị ghép vào tội phản bội, tội bán dân, tội buôn nước, mặc dù chủ tâm của họ không muốn phản ai, buôn ai, hay bán ai cả. Nhưng nếu Phạm Quỳnh, do hành động khách quan, dù muốn dù không, vẫn phải ghép vào tội theo Tây, thì làm sao có thể tuyên bố là vô tội cái đoàn lũ nhà văn đông đảo kia đang khi hành động khách quan của họ là hành động tự nó lợi cho chính sách của Pháp vì thực sự nó làm cho người ta quên cách mạng, quên chống Pháp.

    Chính nhẽ ra cứ theo luận cứ đã đề ra từ đầu thì giáo sư Nguyễn Văn Trung phải kết án tất cả các nhà làm văn kia là phản quốc mới phải, nhưng xem ra giáo sư Nguyễn Văn Trung ân xá cho họ hết thì phải.

    Tại sao giáo sư Nguyễn Văn Trung lại ân xá cho họ? phải chăng vì họ là số đông? Tôi nghĩ hẳn con số đông không phải là một lý do để ân xá cho họ. Thực ra, sau khi đã gạt ra một bên chủ tâm của các ông hay chủ tâm của Phạm Quỳnh rồi thì việc làm khách quan của các ông không có khác gì việc làm khách quan của Phạm Quỳnh: hoàn cảnh đôi bên vẫn là một hoàn cảnh thời Pháp thuộc; chính sách đôi bên phải đương đầu vẫn là chánh sách của Pháp, chánh sách cổ động văn hóa để đánh lạc chính trị.

    Tôi chẳng hiểu giáo sư Nguyễn văn Trung đã nhân danh cái gì mà khẳng định rằng sinh hoạt văn học của họ là một sinh hoạt không có thực chất chính trị, cho nên không bị kết án, không bị luận tội theo Tây.

    Đối với Phạm Quỳnh, giáo sư Trung đã muốn gạt hẳn yếu tố chủ tâm ra ngoài vì thế cho dù Phạm Quỳnh có chủ tâm chỉ làm văn hóa thuần túy, chứ không có chủ tâm làm văn hóa lợi cho Tây thì hành động khách quan của ông cũng cứ có tội với đất nước. Lý do chỉ vì hành động ấy nằm trong chính sách văn hóa của Pháp. Lý đoán của giáo sư Trung cho đến đây rất chặt chẽ.

    Nhưng đến khi xét việc của phái nhà văn trẻ thì ông lại nại ra vấn đề chủ đích để mà thanh minh cho họ. Ông viết:

    “Giữa Phạm Quỳnh và những người như Đào Duy Anh và nhất là phái trẻ hồi đó như Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư… có một sự khác biệt về chủ đích phê bình”. (nguyên văn).

    Sau khi đã nại ra sự khác biệt về chủ đích (điều mà ông đã muốn gạt ra trong trường hợp Phạm Quỳnh) ông lại dựa vào chính cái chủ đích ấy để mà phân biệt thực chất sinh hoạt văn hóa của Phạm Quỳnh với sinh hoạt văn hóa của phái trẻ, ông viết: “Căn cứ vào chủ đích đó, phân biệt cuộc tranh luận này thành hai, khác hẳng nhau về thực chất: cuộc tranh luận giữa Phạm Quỳnh và Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng và cuộc tranh luận giữa những người tiếp sau đó. Một đàng thực chất là một cuộc tranh đấu chính trị trên lãnh vực văn học, một đàng là một cuộc tranh luận văn hóa thực sự.” (nguyên văn).

    Tôi rất đồng ý với giáo sư Trung mà nhận rằng các nhà văn trước năm 1945 – sao tránh khỏi có người làm văn theo Pháp – đa số là làm văn hóa thuần túy, là làm văn nghệ thực sự. Điều làm tôi bỡ ngỡ là ở chỗ giáo sư Trung quyết liệt cho rằng, đối với Phạm Quỳnh, không thể có sinh hoạt văn hóa không lợi cho Pháp. Mà lý do duy nhất ông viện ra chỉ là việc làm văn hóa lúc ấy nằm trong chính sách rộng lớn của Pháp.

    Chính trong khi nhận rằng lớp nhà văn học sau này làm văn hóa thuần túy, nghĩa là làm văn hóa mà không sa lầy vào chiến lược của Pháp, giáo sư Nguyễn Văn Trung đã lật nhào tất cả lý luận mà ông đã phân tích rất tế nhị để phân biệt chủ tâm với hành động khách quan.

    Khi nghe giáo sư Trung tuyên bố trắng án cho tất cả thế hệ làm văn hóa thời sau Phạm Quỳnh, người ta phân vân chẳng hiểu tại sao, do lòng khoan hồng hay bởi lúc ấy chính sách văn hóa của Pháp đã đình lại rồi. Tôi nghĩ nếu Pháp có một chính sách văn hóa ngu dân để đánh lạc hướng chính trị thì không phải chỉ được họ cổ võ trước năm 1932 mà còn cổ võ hơn nữa sau năm 1932. Đàng khác, nếu chính sách có thực như giáo sư Trung quả quyết, thì thành quả rực rỡ nhất mà họ thu lượm được không là trước năm 1932 mà là sau năm 1932. Là vì, dù sao, trước năm 1932, ý thức đấu tranh quốc gia vẫn mạnh mẽ hơn sau năm 1932 và các cuộc nổi dậy vẫn nhiều hơn là sau năm 1932.

    Nói cách khác, trước năm 1932, sinh hoạt văn hóa so với sinh hoạt cách mạng chính trị, ta thấy nó thua kém nhiều lắm. Như vậy ta thấy rằng, nếu Phạm Quỳnh có làm văn hóa để cho người ta quên chính trị đấu tranh thì ảnh hưởng của Phạm Quỳnh cũng chẳng thấm vào đâu, và như vậy, tội của Phạm Quỳnh đối với đất nước có đi nữa cũng chẳng nặng bằng các nhà văn trẻ (Chúng tôi nhấn mạnh – PT).

  5. #15
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Bài đọc thêm 2 (tiếp)

    6. KHÔNG LẼ TẤT CẢ CÁC NHÀ VĂN THỜI PHÁP THUỘC ĐỀU CÓ TỘI

    Sau năm 1932, khi mà Phạm Quỳnh thôi làm văn hóa, thì ta thấy hoạt động văn hóa đã lấn át hẳn hoạt động đấu tranh chính trị quốc gia, hay nói cách khác, sau năm 1932, sinh hoạt văn hóa rầm rộ, hào hứng đến nỗi làm cho người ta hầu như quên việc đấu tranh chính trị. Thanh niên say sưa đọc những truyện diễm tình, những vần thơ lãng mạn, chạy theo những mối tình ** le. Như vậy, ta phải đau đớn mà nhận rằng Pháp đã thành công chiến lược của họ sau năm 1932 hơn là trước 1932 và bởi đấy, nếu nhận định về những thành quả tốt xấu của hành động khách quan, thì tội của những người làm văn hóa sau năm 1932 nặng nề hơn tội của Phạm Quỳnh.

    Tôi nói họ nặng hơn vì trong thực tế hành động khách quan của Phạm Quỳnh chưa gây được một phong trào văn hóa rộng lớn như các phong trào văn hóa sau năm 1932. Thực vậy, sau năm 1932, mọi hoạt động văn hóa đều đi vào con đường cực thịnh. Tay sai đắc lực của Pháp do đấy không phải là Nam Phong Tạp chí mà là các báo Phong Hóa, báo Ngày Nay, báo Phổ Thông, báo Tri Tân, và tất cả các sách, các truyện, các thơ, các kịch bày la liệt, ngập ngụa các hiệu sách hồi ấy.

    Nếu căn cứ vào hành động khách quan của nhà làm văn hóa như là nằm trong chính sách văn hóa của Pháp, như là nằm trong chiến lược lấy văn hóa để mà tiêu diệt lòng yêu nước, thì ta thấy chiến thuật của Pháp đã thành công vẻ vang với những tay sai như Khái Hưng, Nhất Linh, Trần Tiêu, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Tản Đà, Hàn Mạc Tử, Trương Tửu, Dương Quảng Hàm hơn là những tay sai như Phạm Quỳnh hay Nguyễn Văn Vĩnh.

    Cứ theo lý luận của giáo sư Nguyễn Văn Trung sinh hoạt văn hóa càng rầm rộ thì chính sách của Pháp càng thành công, thì chiến lược của Việt Nam càng bị hại. Trong tình trạng ấy, những người làm cho chính sách của Pháp càng thành công, tội trạng của họ đối với tổ quốc, với dân tộc càng nặng. Vậy khách quan mà xét ta thấy sau năm 1932, người ta ít nói đến quốc gia đến đạo lý quốc gia, đến luân lý quốc gia. Thực vậy, sau năm 1932, người ta chủ trương nghệ thuật vị nghệ thuật chứ nghệ thuật không phải để phục vụ luân lý, phục vụ cách mạng hay phục vụ nhân sinh, phục vụ thực nghiệp, như Nguyễn Bá Học, Phan Kế Bính thường chủ trương thời xưa. Cái đẹp không phải là cái đề cao đạo đức, tuyên truyền chủ nghĩa quốc gia dân tộc, cái đẹp có tính cách tự tại, độc lập, hay hơn thế nữa, cái đẹp phải ly dị với tất cả mọi công thức, cho dù công thức ấy được gọi là luân lý hay được gọi là đạo đức, hay được gọi là tổ quốc.

    Văn học thế hệ sau 1932 đi tìm cái đẹp thuần túy ấy, cái đẹp thoát xác, ly dị mọi công thức, mọi ràng buộc ấy. Như vậy theo luận cứ của giáo sư Nguyễn Văn Trung, cái đẹp ấy hẳn phải là cái đẹp nằm trong chính sách văn hóa của Pháp, hẳn phải là cái đẹp mà Pháp muốn tung ra để huyền hoặc quốc dân ta, để làm quên thực tế quốc gia, thực tế mất nước.

    Nếu gọi là có công với nước Pháp, có công với chính sách Pháp, Phạm Quỳnh đâu có công bằng những Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư?

    Nếu bảo là đắc tội với tổ quốc thì tội Phạm Quỳnh đâu có bằng nghệ sĩ lớn tiếng tuyên truyền cho quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật, khiến cho nghệ thuật bỏ hẳn ý hướng phục vụ quốc gia dân tộc!

    Tôi không hiểu sao, đối với Phạm Quỳnh, cho dù không có chủ tâm cộng tác đi nữa thì nguyên một hành động cộng tác khách quan, dù muốn dù không, cũng bị kết án là làm văn học trong chính sách văn hóa của Pháp và bị luận tội đang khi hành động cộng tác khách quan của các nhà văn hóa về sau này lại không bị lên án, lý đoán kết tội hành động khách quan ngoài chủ tâm ấy. Giáo sư Trung đã lý luận đanh thép thế này:

    “Rất có thể không phải người Pháp bảo ông Quỳnh lấy truyện Kiều ra mà đề cao, làm rùm beng, nhưng việc làm của ông Quỳnh dù có nhận cho ông vì yêu thích truyện Kiều thật mà làm đi nữa, khách quan, vẫn phù hợp với chủ trương làm văn hóa thuần túy cho quên chính trị của Pháp. Do đó, việc suy tôn truyện Kiều vẫn còn có ý nghĩa chính trị và lợi cho chính sách của Pháp dù cho ông Quỳnh chủ tâm hay không chủ tâm. Ý nghĩa chính trị của việc suy tôn là: Thanh niên đọc truyện Kiều đi, thưởng thức văn chương Kiều đi, đừng nghĩ đến chính trị, lòng yêu nước…”.

    Giáo sư Nguyễn Văn Trung không lên án những nhà làm văn hóa sau Phạm Quỳnh, ông viện lẽ rằng họ đều là những người làm văn hóa như là một chiến thuật để thực hiện chiến lược chống Pháp, làm hại cho Pháp, thì tôi e không đúng lắm với thực tế. Tôi biết nhiều nhà phê bình, nhiều nhà viết truyện, nhiều nhà thơ, nhiều nhà biên khảo chỉ làm văn học mà không nghĩ đến chính trị chống Pháp.

    Nếu giáo sư Trung muốn gắn huy chương cách mạng cho tất cả các nhà văn thời này vì đã chủ trương làm văn hóa chống lại Pháp, hại cho chính trị Pháp, tôi e có nhiều vị sẽ tủi hổ và không dám nhận cái danh dự hão ấy.

    Còn như bảo rằng tất cả các văn gia nghệ sĩ trước năm 1945 đều làm văn hóa lợi cho Pháp, tức là đều theo Pháp, đều là tay sai của Pháp như Phạm Quỳnh thì tôi e rằng sự kết án toàn bộ như vậy đối với một thế hệ làm văn, sẽ gây sôi nổi ghê gớm lắm. Số người làm văn hóa trước năm 1945, tuy có nhiều người đã khuất, nhưng số người còn sống hãy còn nhiều lắm.

    Nếu “con người Phạm Quỳnh, cộng tác với Pháp, một cách khách quan” (nguyên văn), không có thể nói tới lòng yêu nước, thì các nhà văn kia, với hành động mà làm đi nữa, thì “khách quan, vẫn phù hợp với chủ trương làm văn hóa thuần túy cho quên chính trị của Pháp. Do đó, việc suy tôn Kiều vẫn có ý nghĩa chính trị và lợi cho chính sách của Pháp cho dù ông Quỳnh chủ tâm hay không chủ tâm” (nguyên văn).

    Tôi có thể, hay đúng hơn tôi bắt buộc phải mượn câu ấy mà nói về những nhà văn học này không, rất có thể không phải người Pháp bảo các nhà văn trẻ như Khái Hưng, Nhất Linh, Thế Lữ, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Vũ Trọng Phụng lấy quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật để làm tiêu chuẩn sáng tác rùm beng, việc làm của các ông có thể nhận cho các ông thích nghệ thuật mà làm đi nữa, thì khách quan, sinh hoạt văn hóa của các ông vẫn phù hợp với chủ trương làm văn hóa thuần túy cho quên chính trị của Pháp. Do đó, việc đề cao quan niệm nghệ thuật vì nghệ thuật vẫn có ý nghĩa chính trị và lợi cho chính sách của Pháp cho dù các nhà văn trẻ tuổi có chủ tâm hay không chủ tâm.

    Theo lý đoán của giáo sư Nguyễn Văn Trung, tôi thấy không những phải kết án mọi nhà văn hóa của các thế hệ sau mà còn cần phải kết án nặng nề hơn. Lý do là vì, dầu sao, hành động khách quan của Phạm Quỳnh, tuy có phù hợp và lợi cho chính sách của Pháp đi nữa, thì ít ra, nó cũng còn có lợi chút xíu cho quan điểm quốc gia, vì hành động khách quan, tức hoạt động văn hóa của Phạm Quỳnh, vẫn kêu gọi tình yêu nước, nghĩa chủng tộc, sự đoàn kết để xây dựng nền quốc học. Chứ hành động khách quan, tức sinh hoạt văn hóa của các nhà văn thuộc các thế hệ sau này, ngoài mỗi cái việc phù hợp và làm lợi cho chính sách của Pháp ở điểm làm quên chính trị quốc gia chẳng hề có đả động đến bổn phận với quốc gia; ý niệm nghệ thuật vì nghệ thuật, tự trong căn bản của lý thuyết, đã bắt buộc phải gạt bỏ mọi chủ hướng cho dù chủ hướng ấy là chủ hướng quốc gia, để chú mục vào một mục đích duy nhất là thể hiện cái đẹp thuần túy, siêu việt, siêu quốc gia.

    Tội của các nhà văn trẻ về sau này chẳng nặng nề hơn tội trạng của Phạm Quỳnh đấy ư?

    Như với những nghi vấn tôi đặt ra trên đây, có lẽ giáo sư Nguyễn Văn Trung sẽ trả lời rằng: “Không thể sắp hạng tất cả những người bênh vực truyện Kiều vào phe Phạm Quỳnh vì đến nhóm trẻ, tình thế chính trị đã khác hẳn; đây mới có tính cách văn học thực sự”.

    Tôi không hiểu với mấy chữ “đến nhóm trẻ, tình hình chính trị đã khác hẳn” giáo sư Nguyễn Văn Trung muốn hiểu như thế nào?

    Tuổi bao nhiêu thì gọi là nhóm trẻ mà tuổi bao nhiêu gọi là nhóm già?

    Phạm Quỳnh sinh năm 1892 thì lúc ông đứng ra chủ trương Nam Phong mới chẵn 24 tuổi đầu mà năm 1919 khi ông viết bài suy tôn truyện Kiều thì ông cũng mới có 26 tuổi. Với ngần ấy tuổi đầu Phạm Quỳnh làm gì được gọi là nhóm già?

    Còn như cái phong trào sùng mộ Kiều trên Nam Phong gồm các ông Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam, Nhất Linh, Trần Trọng Kim… chẳng hiểu giáo sư Trung cho họ thuộc nhóm già hay nhóm trẻ, và thuộc vào lúc tình thế chính trị đã thay đổi khác hẳn hay chưa. Nếu giáo sư Trung bảo họ thuộc nhóm già thì là sai lịch sử vì các ông ấy vào năm 1923, hãy còn trẻ cả.

    Có lẽ giáo sư Nguyễn Văn Trung bảo rằng các ông ấy bênh Kiều vào lúc tình thế chính trị đã thay đổi khác hẳn. Nếu nhận định như vậy thì càng sai lịch sử hơn nữa vì mấy tay đề cao Kiều như tôi vừa kể ra trên đều là người đồng thời với Phạm Quỳnh, hơn thế các ông còn viết về Kiều trước năm 1924, tức là năm kỷ niệm Tiên Điền, năm mà Phạm Quỳnh sẽ đọc thêm một bài diễn văn thứ hai nảy lửa về Kiều.

    Tôi chẳng hiểu giáo sư Nguyễn Văn Trung có luận tội các nhà văn tôi vừa kể không.

    Chẳng hiểu giáo sư Trung có luận tội tất cả các cây bút đã cộng tác với Nam Phong hay không. Xem ra giáo sư Trung không luận, lấy lý rằng các cây bút ấy khi viết cho Nam Phong là làm văn hóa thuần túy.

    Tôi nghĩ cái lý ấy không ổn mà bất cứ lý nào cũng chẳng có thể ổn được khi mà giáo sư Trung đã đứng trên quan điểm triết học để luận tội hành động cộng tác khách quan, tự tại không cần có chủ tâm hay không có chủ tâm. Cho ngay rằng Phạm Quỳnh không có chủ tâm làm văn hóa lợi cho Pháp, nhưng vì việc làm văn của Phạm Quỳnh nằm trong chính sách của Pháp, cho nên hành động làm văn hóa tự tại, khách quan, vẫn có tội. Như vậy, bất cứ ai nhúng bút vào Nam Phong cũng tất nhiên có lỗi, cho dù họ không có chủ tâm làm theo ý Pháp hay ý Phạm Quỳnh. Lý do là vì hành động khách quan, tự tại của họ giúp vào việc hoàn thành công tác văn hóa lợi cho Pháp mà Phạm Quỳnh chủ trương, Pháp giật giây. Bởi vì cái giây mà Pháp giật không phải chỉ giật một mình Phạm Quỳnh mà phải giật tới tất cả bất cứ ai đứng bên Phạm Quỳnh. Nếu họ không có lỗi trong lương tâm thì ít ra có lỗi trong việc làm, là vì nếu họ không cộng tác với Phạm Quỳnh, thì cho dù Phạm Quỳnh có quay cuồng thế nào mặc lòng Nam Phong cũng chẳng có thể thành công trong chiến lược làm quên chính trị. Sự cộng tác sốt sắng của họ đã khách quan đem đến sự thành công cho Nam Phong, khách quan làm lợi cho chiến lược của Pháp, khách quan thi hành đường lối phản cách mạng do Pháp nấp dưới chiêu bài văn hóa để mà giật giây. Nói rút lại, cho hợp lý và để trung thành với hệ thống tư tưởng và lý luận rất chặt chẽ, tỉ mỉ và tế nhị, giáo sư Nguyễn Văn Trung phải kết án bất cứ ai cộng tác viết bài cho Nam Phong, và hơn thế, bất cứ ai làm văn hóa hồi ấy, dù viết cho Nam Phong hay báo khác. Lý do là vì mọi hành động khách quan, tự tại của sự cộng tác đều nằm trong chính sách của Pháp, đều nhắm những thành quả văn hóa mà Pháp đang nhắm mặc dù mục đích của đôi đường có khác nhau…

    Giáo sư Nguyễn Văn Trung, nếu muốn trung thành với các nguyên tắc mà ông đã đặt ra, chỉ có quyền tha tội cho những người làm văn hóa theo kiểu Ngô Đức Kế mà thôi.

    Nếu đặt vấn đề như vậy, thì vấn đề không phải là nhỏ nữa, không phải là việc kết án một mình Phạm Quỳnh (vì kết án một mình Phạm Quỳnh là vô lý, bất công, và dung túng bao nhiêu đồng lõa) mà kết án bất cứ ai làm văn hóa ở thời ấy mà không tích cực kháng chiến như Ngô Đức Kế hay Huỳnh Thúc Kháng.

  6. #16
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Bài đọc thêm 2 (kết)

    7. KHÔNG CÓ BẰNG CHỨNG GÌ ĐỂ KẾT TỘI PHẠM QUỲNH LÀ PHẢN QUỐC

    Theo tôi dự đoán thì cái nhóm trẻ mà giáo sư Trung nói đến là để chỉ những người hoạt động văn hóa từ năm 1932, là năm mà ông cho là tình thế chính trị đã thay đổi hẳn.

    Điều thứ nhất tôi muốn ghi chú là những người mà giáo sư Trung gọi là nhóm trẻ và thuộc về sau năm 1932, thực ra chẳng trẻ gì hơn Phạm Quỳnh: Đào Duy Anh, Nguyễn Tường Tam đã suy tôn Kiều từ năm 1920 và vẫn suy tôn Kiều cả sau năm 1932, cho nên chẳng thể gọi họ là nhóm trẻ đến sau được.

    Điều thứ hai tôi muốn ghi chú là chẳng hiểu căn cứ vào đâu mà giáo sư Trung đặt ra giả thuyết tự Pháp sáng kiến đề ra chính sách làm văn hóa để cho quên chính trị.

    Giáo sư Nguyễn Văn Trung chưa minh chứng được điều đó.

    Tuy nhiên, nghĩ rằng, muốn minh chứng điều đó, tưởng cũng rất dễ. Nếu chúng ta cho rằng Pháp có cả một chiến lược trong vấn đề thực dân, vấn đề bình trị dân thuộc địa, thì việc khai thác, huy động toàn lực ra để đi đến thành công là điều dễ hiểu. Việc bình trị phải bao hàm cả quân sự, cả chính trị và dĩ nhiên cả văn hóa nữa. Chính sách làm văn hóa để cho quên chính trị thực ra chỉ là một hệ luận tất nhiên của một chính sách. Tôi đồng ý đối với giáo sư Trung rằng chính sách ấy có thể có.

    Điều làm tôi bỡ ngỡ không phải là sự hiện hữu của chính sách đó mà là ở chỗ giáo sư Nguyễn Văn Trung cho chính sách đó như chỉ bao vây có một mình Phạm Quỳnh, chinh phục có một mình Phạm Quỳnh, mua chuộc các hành động khách quan của một mình Phạm Quỳnh chứ không nhằm các nhà văn hóa khác.

    Tôi cũng chẳng hiểu tại sao, đột ngột, sau năm 1932, tình thế chính trị đã khác hẳn. Mấy tiếng “tình thế chính trị đã khác hẳn” ở đây nghĩa là gì? Phải chăng là Pháp thôi thi hành chính sách lợi dụng văn hóa để củng cố địa vị chính trị thực dân? Phải chăg vì nó bất lợi? Phải chăng vì nó thừa? Do tài liệu nào mà giáo sư Trung biết được rằng Pháp đình chính sách ấy lại từ năm 1932?

    Tôi ngỡ rằng không có sự cho đình chính sách ấy năm 1932, vì Pháp dại gì mà cho đình lại đang khi chính sách ấy đem lại thành quả tốt đẹp cho chiến lược của họ. Có chăng là lúc ấy chính sách của Pháp đã xây được cơ sở hoàn toàn vững chắc rồi, Pháp không cần phải vất vả, tung cán bộ trung kiên như thời xưa nữa, bởi vì mọi người đều coi việc văn hóa thuần túy để quên chính trị như là một việc tự nhiên, không có mặc cảm, không có nghi kỵ nữa.

    Có phải như vậy chăng? Nếu phải như vậy, thì cái tình thế mà giáo sư Trung bảo là khác hẳn ấy chỉ là một tình thế bi đát và những người hoạt động văn hóa để cái tình thế ấy được duy trì, được kéo dài càng có tội to hơn, càng phản bội hơn Phạm Quỳnh.

    Thực ra , tôi thấy trước năm 1932 hay sau năm 1932, tình thế chính trị không thể nói là khác hẳn nhau. Năm 1932 là năm Bảo Đại hồi loan, là năm Bảo Đại lập nội các mới. Nước Pháp lúc ấy tuyên bố là muốn áp dụng một đường lối chính trị mới hơn, mới ở đây là có nghĩa khoan hồng, rộng rãi hơn, cho tự do hơn. Cũng có một đôi phần thực là Pháp nới rộng chút ít tự do. Trước kia (nghĩa là trước năm 1932) tuy kiểm duyệt rất ngặt ngã, ngặt ngã đối với các vấn đề chính trị, đã vậy mà ngặt ngã nhất là đối với các vấn đề luân lý, những điều phạm thuần phong mĩ tục bị cấm nghiệt ngã. Nhưng từ sau năm 1932, Pháp cho tự do hầu như thả cửa trong vấn đề làm nghệ thuật vị nghệ thuật.

    Tội nghĩ rằng, cái chiến lược văn hóa rất lợi hại như vậy, vì nó có sức làm cho người ta, vì say mê nghệ thuận thuần túy mà quên chính trị, thì Pháp không dại gì mà bỏ nó.

    Nếu Pháp không bỏ nó thì tức là nó vẫn còn được Pháp giật giây, và những người lao mình vào con đường làm văn hóa, trước năm 1932 hay sau năm 1932, đều bị Pháp giật giây, đều là làm lợi cho chiến lược của Pháp và đều đáng tội với tổ quốc.

    Như vậy, thực chất của mọi hoạt động văn hóa dưới thời thực dân chỉ có thể là thực chất chính trị mà thôi. Bởi thế Pháp đã đề ra một chính sách văn hóa thì mọi sinh hoạt văn hóa chỉ có thể hoặc là bất lợi, ngược với chính sách ấy hoặc là có lợi, phù hợp với chính sách ấy. Không thể có một sinh hoạt văn hóa có thực chất thuần văn hóa được.

    Cũng như Phạm Quỳnh, có thể là các nhà văn hóa thời ấy không theo Pháp, không biết rằng có một chính sách văn hóa do Pháp đề ra, nhưng một việc họ khách quan tham dự vào sinh hoạt văn hóa, thì họ cũng khách quan ủng hộ chính sách của Pháp, khách quan làm lợi cho Pháp. Cho nên khách quan họ cũng theo Pháp, là tay sai của Pháp mà chủ tâm của họ có thể không nghĩ tới.

    Sự suy luận trên đây tất nhiên dẫn chúng ta đến kết luận là ta phải kết án là theo Tây, là phản bội, là bán nước, không riêng gì Phạm Quỳnh, không riêng gì các nhà làm văn trước năm 1932, mà tất cả các nhà làm văn trước năm 1945. Chỉ mỗi một hạng người được trắng án dó là hạng người làm văn hóa như Ngô Đức Kế với chủ đích rõ ràng là tương kế tựu kế. Nói cách khác, chỉ những người biết có sự lợi dụng của Pháp, biết có sự bủa lưới của Pháp trong địa hạt văn hóa, mà biết quyết định chống lại sự lợi dụng đó, tố cáo thủ đoạn nấp dưới hình thức văn hóa, chỉ những người như vậy mới có thể được coi là làm văn hóa đứng đắn không phản dân hại nước.

    Tôi không hiểu chủ tâm của giáo sư Nguyễn Văn Trung có quả quyết như vậy hay không chứ lý luận khách quan tự tại của bài diễn văn khiến độc giả phải hiểu như vậy.

    Tôi còn đọc tiếp bài diễn văn của giáo sư Nguyễn Văn Trung.

    Trong phần cuối bài diễn văn, giáo sư đề cập đến mấy điều sau đây:

    1. Tìm hiểu lý do tại sao Ngô Đức Kế mạt sát Kiều mà không mạt sát Hoa Tiên.

    2. Tìm hiểu lý do sâu xa khiến Ngô Đức Kế chống đối Phạm Quỳnh

    3. Quả quyết Ngô Đức Kế không phải là một hủ nho lạc hậu.

    4. Thẩm định toàn sự nghiệp văn học của Phạm Quỳnh.

    Theo giáo sư Nguyễn Văn Trung, Ngô Đức Kế khắc nghiệt với truyện Kiều không phải vì truyện Kiều mà chỉ vì Kiều đã bị Phạm Quỳnh lợi dụng. Rất có thể điều giáo sư Trung quả quyết là đúng. Tuy nhiên chứng cớ chưa có gì là minh bạch. Chứng cớ độc nhất mà ông nêu ra là đem Kiều so sách với Hoa Tiên để xác nhận, về phương diện luân lý, hai tác phẩm Kiều và Hoa Tiên cùng trình bày những vấn đề luân lý tương tự “cũng nửa đêm chạy sang nhà gái, cũng nhảy qua tường” (nguyên văn).

    Tôi đoán có lẽ ông lầm Hoa Tiên với Phan Trần chăng: các cụ ta xưa cấm con trai đọc Phan Trần và cấm con gái đọc Kiều.

    Cho ngay rằng, về tác dụng luân lý, hai tác phẩm ấy xấu xa ngang nhau đi nữa, thì có phải là Ngô Đức Kế không thích Hoa Tiên mà việc đả kích Kiều tất nhiên phải có lý do chính trị? Tôi nghĩ Ngô Đức Kế không đả kích Hoa Tiên hay Phan Trần không tất nhiên vì những tác phẩm ấy không bị chính trị lợi dụng, mà có lẽ chỉ vì chúng ít phổ thông, không được ai tuyên truyền cổ võ, cho nên được coi như là không có nguy hại gì cho đạo giáo. Và việc đả kích Kiều không tất nhiên vì Kiều bị chính trị lợi dụng mà có lẽ chỉ vì Kiều dễ hiểu, phổ thông trong dân gian, đã vậy mà lại còn được nhiều người cổ võ cho nó, ông có thể đánh nó và đánh tất cả những ai bênh vực nó vì sợ ảnh hưởng của nó tai hại cho đạo giáo, chứ không tất nhiên vì nó bị chính trị lợi dụng.

    Muốn bênh vực lập trường của Ngô Đức Kế, giáo sư Nguyễn Văn Trung quả quyết Ngô Đức Kế không phải là nhà nho thủ cựu như bọn hủ nho lạc hậu. Không những không phải là hủ nho, Ngô Đức Kế hay Huỳnh Thúc Kháng còn là những nhà nho tiến bộ, kịch liệt đả kích khoa cử, đề xướng tân học.

    Điều này không chối cãi. Tuy nhiên, có phải vì có tư tưởng tiến bộ về chính trị, về xã hội mà tất nhiên có tư tưởng tiến bộ về nghệ thuật, mà tất nhiên có khả năng thẩm định chính xác các giá trị nghệ thuật hay không? Những thẩm định chính trị, cho dù là chính trị quốc gia dân tộc gì đi nữa, không tất nhiên bảo đảm cho giá trị thực tại của các phán đoán nghệ thuật. Nói cách khác, không phải vì “tranh đấu cho chính trị yêu nước là tranh đấu cho văn học thực sự”, mà người tranh đấu như vậy tất nhiên phải là một nhà phê bình chân chính. Ngược lại tất cả mọi đam mê, phương chi là đam mê đạo đức luân lý thường là dễ xuyên tạc tình cảm nghệ thuật chân thành.

    Giáo sư Nguyễn Văn Trung không công nhận rằng Phạm Quỳnh có thể thành thực yêu quốc văn được. Ông luận thế này: “Tại sao ông Quỳnh yêu quốc văn, muốn lấy quốc văn làm phương tiện gây dựng độc lập, ông Kế cũng yêu quóc văn, cũng muốn lấy quốc văn làm phương tiện gây dựng độc lập, mà hai ông lại chống nhau. Nếu cùng một tâm hồn, một chủ đích, tại sao không gặp nhau được. Tại truyện Kiều, quốc văn một lợi khí bản chất là tốt đã bị địch lợi dụng mất rồi và ông Quỳnh lại phụng sự quốc văn trong phe địch” (nguyên văn).

    Thực ra người ta ghét nhau không phải vì mục đích mà xung đột nhau, mà thường khi mục đích càng gần nhau người ta càng ghét nhau vì quyền lợi hay đường lối tương phản nhau. Có thể Ngô Đức Kế và Phạm Quỳnh cùng chung nhau một mục đích là xây dựng một nền văn học dân tộc nhưng đường lối của hai ông khác nhau. Có thể Ngô Đức Kế chống Phạm Quỳnh vì đường lối của Phạm Quỳnh là đường lối cởi mở, thiên trọng về nghệ thuật vì nghệ thuật, còn đường lối của Ngô Đức Kế là nghệ thuật vì nhân sinh, vì đạo đức luân lý.

    Rất có thể vì cái khác ấy mà hai ông đánh nhau chứ không tất nhiên phải là Phạm Quỳnh phản dân hại nước.

    Còn như việc cho rằng “sự nghiệp văn hóa của Phạm Quỳnh là bậc thang chính trị đưa Phạm Quỳnh từ một thầy thông ngôn vô danh lên làm đến chức thượng thư triều đình”, tôi sợ điều nhận định ấy không đúng với sự thực và có thể oan cho Phạm Quỳnh. Không phải từ một “thầy thông ngôn vô danh” Phạm Quỳnh đã nhảy vọt lên chức thượng thư. Theo chỗ tôi biết thì Phạm Quỳnh có học trường thông ngôn và tốt nghiệp trường ấy năm 1908. Nhưng hình như ông không làm thông ngôn thì phải. Ngay khi tốt nghiệp, ông được tuyển vào làm nhân viên Trường Viễn Đông Bác Cổ. Năm 1917, ông đứng chủ trương Nam Phong; năm 1918, sáng lập Hội Khai Trí Tiến Đức và giữ chân tổng thư ký cho đến năm 1932; năm 1920 đến 1924, là hội viên Hội tư vấn Hội đồng thành phố Hà Nội; năm 1924 đến 1932 giảng viên môn Bác ngữ học và Văn chương Hán Việt tại trường Đại Học Hà Nội, từ 1925 đến 1928, Chủ tịch Hội Khuyến học Bắc Kỳ; từ 1926 đến 1932, hội viên Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ; từ 1926 đến 1931, phó chủ tịch Đại Hội đồng Kinh tế và Tài chánh Đông Pháp; từ 1931 đến 1932, phó chủ tịch Hội Địa dư Hà Nội và tổng thư ký hội Bảo trợ xã hội Bắc Kỳ.

    Với tất cả những huy hiệu oai danh lẫm liệt như vậy chứ đâu phải chỉ là một thầy thông ngôn vô danh mà Phạm Quỳnh tiến lên chức thượng thư.

    Nhưng điều quan hệ hơn cả mà giáo sư Nguyễn Văn Trung đề ra là yêu cầu duyệt lại vai trò của Phạm Quỳnh trong văn học sử: “Không thể vô tình cứ đề cao Phạm Quỳnh như một học giả, một đấng văn hào” (nguyên văn).

    Theo giáo sư Trung, có hai lý do khiến phải duyệt lại thái độ đối với Phạm Quỳnh của các nhà biên soạn văn học sử bấy lâu nay:

    Thứ nhất là lý do chính trị, thứ hai là giá trị tự tại của chính sự nghiệp văn hóa của Phạm Quỳnh.

    Theo giáo sư Trung, giá trị nghệ thuật bị gắn liền với chính trị. Tôi không hiểu rõ lắm thâm ý của giáo sư Trung, nhưng cứ nguyên văn thì xem ra ông muốn quả quyết rằng con người phản quốc không thể có một giá trị gì về nghệ thuật.

    Hành động phản quốc làm cho mọi công trình nghệ thuật tự nó mất hết giá trị nghệ thuật. Có thể đấy cũng là một quan niệm nghệ thuật. Mà thực quan điểm nghệ thuật ấy vẫn có từ xưa đến nay ở khắp vòm trời Đông Tây. Các cụ ta xưa đòi nghệ thuật phải gắn liền với luân lý đạo đức, vì thế không thể có nghệ thuật phi luân lý, huống hồ là nghệ thuật phản luân lý. Quan điểm ấy chẳng riêng gì Đông phương mình chủ trương mà ngay cả Tây phương đời xưa cũng như đời nay vẫn còn nhiều người bênh vực.

    (…) Tôi không bảo đấy là nên hay không nên làm mà chỉ có ý nêu lên rằng cái quan điểm bắt nghệ thuật phải lệ thuộc vào một chủ trương hoặc là tôn giáo, hoặc là luân lý, hoặc là chính trị… cũng là một quan điểm có thế lực.

    (…) Riêng về trường hợp Phạm Quỳnh, tôi thấy cho dù có muốn theo quan điểm nghệ thuật vì quốc gia đi nữa, ta cũng chưa có dủ dữ kiện để mà kết án.

    Giáo sư Trung cho rằng sở dĩ tất cả sự nghiệp của Phạm Quỳnh hỏng hoàn toàn là vì ông đã đứng ra “tiếp nhận một chính sách của địch và lãnh đạo thi hành chánh sách đó” .Tôi thấy chỉ mới là một suy luận chứ chưa phải là một biện minh lịch sử, cho nên sự nghiệp của Phạm Quỳnh chưa hẳn đã bị luận tội theo quan điểm nghệ thuật vì quốc gia.

    Sau khi đã lấy chính trị để mà chém vỡ mặt Phạm Quỳnh; sợ rằng bị hiểu lầm là thiên kiến, giáo sư Trung còn căn cứ vào chính sự nghiệp tự tại của Phạm Quỳnh để mà thẩm định ông.

    Không những sự nghiệp văn hóa của Phạm Quỳnh kém cỏi vì nó phản dân, hại nước mà còn chính bởi nó tầm thường về mặt giá trị. Theo giáo sư Trung, Phạm Quỳnh chỉ là một dịch giả, soạn giả phổ thông, không phải là một nhà nghiên cứu sâu sắc đề ra được một quan điểm nào về văn học hay đưa ra những ý kiến mới.

    Tôi nghĩ điều quả quyết trên đây có nhiều khắc nghiệt quá với Phạm Quỳnh. Phạm Quỳnh không phải chỉ là một dịch giả. Mà cho ngay rằng Phạm Quỳnh chỉ là một dịch giả có tài như ông đã làm kể ra cũng không đến nỗi tầm thường quá đáng. Phạm Quỳnh không hẳn là một nhà nghiên cứu sâu sắc, vì thường ra các bài biên khảo của Phạm Quỳnh như các bài về sử học, về triết học, về Khổng học, về Phật học, về tiểu thuyết hay kịch đều là tổng lược lại các bài nghiên cứu của các học giả Pháp. Điều ấy ai cũng có thể đồng ý với giáo sư Trung. Nhưng sự nghiệp của Phạm Quỳnh không phải chỉ có thế mà còn có cái gì hơn nữa.

    Xét đến sự nghiệp của Phạm Quỳnh ta phải xét về hai phương diện, nếu đứng về phương diện ảnh hưởng, về cái mà Phạm Quỳnh đã khua động được, tức là gây một phong trào văn học mới, là xây dựng được cơ sở cho nền văn học phôi thai thì công nghiệp của Phạm Quỳnh vô cùng to tát. Điều này tôi đã làm trong hơn 10 chương của bộ lịch sử văn học thế hệ 1913 (1913-1932), sắp xuất bản nay mai.

    Nếu đứng về giá trị tự tại của nó mà xét sự nghiệp nghệ thuật của Phạm Quỳnh có vô giá trị hoàn toàn không? Tôi thấy là không! Người ta có thể chối giá trị nghệ thuật của các bài biên khảo của ông chứ ai mà có thể chối giá trị nghệ thuật của các bài tùy bút trong đó Phạm Quỳnh đã để chan chứa những tình cảm say sưa. Phương chi các thiên hồi ký của ông như các thiên Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, Ba tháng ở Paris… thì ta phải công nhận là những tập hồi ký có giá trị, giá trị vì những nhận xét tỉ mỉ, những nét tả linh động, giá trị nhất là ở tình cảm say sưa của một nghệ sĩ chảy tràn lan trên giấy: Phạm Quỳnh là một nhà thơ viết văn xuôi.

    Có đọc các tập hồi ký ấy ta mới thấy Phạm Quỳnh không phải xa chúng ta lắm, xa dân tộc, xa quê hương đất nước như người ta tưởng.

    Nói như vậy tôi không có ý quả quyết trăm phần trăm rằng Phạm Quỳnh không thể là một người phản quốc.

    Tôi chỉ có ý nói rằng: với các dữ kiện và sự kiện như ta có bây giờ, chưa có gì bắt buộc ta phải coi Phạm Quỳnh là một tên phản bội, coi sự nghiệp của ông như là bùn đen hay phân bón. Công việc tôi làm trong mấy số báo Văn Học này chỉ là đọc lại kỹ lưỡng bài diễn văn của giáo sư Nguyễn Văn Trung và đặt ra các nghi vấn mà tôi chưa giải quyết nổi. Tôi mong giáo sư Nguyễn Văn Trung sẽ nghiên cứu để cho chúng tôi thấy nhiều dữ kiện mới để làm sáng tỏ vấn đề.

    Tôi vui mừng được tin giáo sư Nguyễn Văn Trung đang xoay trần ra để đọc tài liệu và sắp cho công bố một thiên nghiên cứu dày có trên 3,4 trăm trang về Phạm Quỳnh hay đúng hơn là về một giai đoạn lịch sử chính trị văn học.

    Giáo sư Thanh Lãng
    Tạp chí Văn Học, xuất bản tại Sài Gòn, các số 3,4,5,6 trong các tháng 1,2,3,4 năm 1963
    Sửa lần cuối bởi TQNam; 03-11-2012 lúc 10:13 PM.

  7. #17
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Bài đọc thêm 3:
    Thư ngỏ giáo sư Nguyễn Văn Trung

    Nguyễn Hòa Phong

    Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhân đăng lại bài Trường hợp Phạm Quỳnh của Thanh Lãng về cuộc tranh luận do Giáo sư Nguyễn Văn Trung khởi xướng “làm rầm lên” (chữ của Thanh Lãng), chúng tôi tình cờ đọc được trong mục Nói hay Đừng của báo Tự Do (Sài Gòn) một số bài có liên quan. Để rộng đường dư luận, xin trích đăng vài bài, mong các bạn vui lòng tham khảo. Sau đây là bài có nhan đề như trên của Nguyễn Hòa Phong, đăng trên báo Tự Do, ngày 19/10/1962, cách nay vừa nửa thế kỷ.
    *
    * *

    Thưa Giáo sư,

    (…) Chúng tôi đến vừa lúc giáo sư đang kể lại những cuộc tranh luận của các cụ hồi xưa.

    (…) Chúng tôi còn nhớ rõ giáo sư nhấn mạnh vào trí thông minh, cái “thực tài”, sự lợi hại về việc hợp tác với Pháp của Phạm Quỳnh. Rồi giáo sư nhắc lại sự diễn tiến trong cuộc đời Phạm Quỳnh: từ một viên thông ngôn…đã lên đến một vị thượng thư của triều đình để rồi giáo sư kết luận bằng cách đưa ra một sự việc là Phạm Quỳnh không được đặt tên đường trái với Ngô Đức Kế… đã được sử sách lưu danh, quốc dân ghi nhớ, nghĩa là đã được đặt tên đường.

    Thưa giáo sư, về cái kết luận nông nổi đó của giáo sư tôi “trộm nghĩ” công việc của giáo sư vừa làm đã giống công việc của một nhà đại hiền triết Tây phương. Nhưng ở đây giáo sư đã “đưa” từ trên trời xanh xuống tận đất đen. Dù ít tuổi, tôi cũng xin có quyền được nghĩ rằng hiện có khối kẻ xét kỹ ra chẳng có danh văn bằng Phạm Quỳnh mà vẫn được đặt tên đường thì giáo sư bảo sao? Qua những sự cân nhắc của giáo sư đối với công việc làm của Phạm Quỳnh, chúng tôi đoán chắc giáo sư công minh và rộng lượng lắm, nên bạo dạn mà nêu lên những thắc mắc thô thiển sau đây:

    Với đề tài: “Văn học và Chính trị, một quan điểm mới về cuộc tranh luận Phạm Quỳnh – Ngô Đức Kế qua Truyện Kiều”. Trong câu chuyện đã được hạn định trong vòng Truyện Kiều, nhưng vẫn không giảm hết tính chất rộng rãi, to tát. Có lẽ vì chúng tôi đã bị “ám thị” bởi những danh từ “văn học”, “chính trị”, “quan điểm mới” nên đã có những ý tưởng ngộ nghĩnh như sau: Đối với giáo sư – Mới và Cũ – Chính trị mà không chính trị- Văn học mà không văn học. Chúng tôi thiết nghĩ có lẽ cái “Mới” của giáo sư là sự không đặt tên đường Phạm Quỳnh chứ còn việc bài bác, nguyền rủa Phạm Quỳnh thì trước giáo sư đã có rất nhiều rồi. Theo chính giáo sư thì: nào là cụ Ngô Đức Kế, cụ Huỳnh Thúc Kháng, vân vân… Như vậy “quan điểm mới” là như thế nào? Chúng tôi đành phải chịu thua trước danh từ vậy. Giáo sư đã dầy công kết tội Phạm Quỳnh. Nhưng chúng tôi thiển nghĩ giáo sư chỉ là một vị quan tòa “quá bé bỏng” của một vụ án hồi tiền cách mạng (1945). Giáo sư cho Phạm Quỳnh là tên mật thám “chó săn” (…)

    Theo thiển ý của chúng tôi: Một giáo sư, nhất là một giáo sư triết học không phải là những “thợ vẽ” hay “thợ câu”. Cái mới của giáo sư phải là “thật mới” mới lắm, mới tinh và ý tưởng, quan điểm của giáo sư phải là “thực sự” của giáo sư, của một thế hệ, một thời đại gì đó mới phải!: Chính trị mà không phải chính trị – có lẽ “cái mới” của giáo sư ở đây là sự tương quan hỗ trợ giữa văn học và chính trị. Nghĩa là theo giáo sư thì Phạm Quỳnh nhờ theo Marty được lập ra tờ Nam Phong đề đầu độc tinh thần dân Việt mà được làm quan to, làm đến thượng thư Bộ Lại… Sự tương quan ấy thưa cụ Khoa trưởng nhà ta, có phải chính cụ đã gợi lên, đã nêu ra từ lúc “xửa xưa” nào đó trong Văn hóa và cách mệnh kia rồi?

    Có lẽ giáo sư lại cho rằng: “Cái Mới” nêu lên gợi lên cũng chưa đúng cái độ “Mới” và phải thực hành “cái mới” ấy. Chúng tôi đang nóng lòng chờ xem sự thực hành “quan điểm Mới” của giáo sư ra sao. Buộc tội Phạm Quỳnh về chính trị dầu muốn dầu không, giáo sư cũng đã có tham vọng làm một viên quan tòa của vụ án 1945.

    (…) Ý tưởng của giáo sư to tát thật, có lẽ từ đấy giáo sư sẽ thấy “mạnh dạn” và lên cân nhiều hơn… Hay là giáo sư muốn thanh minh cho cái lớp người hồi ấy bị gọi là “hủ nho”? Nếu thế cũng không “Mới” gì lắm vì đã có: Đông Kinh Nghĩa Thục, Phong trào Đông Du, báo Tiếng Dân và biết bao nhà Nho cách mạng khác…

    Nhìn vào thời đại của Phạm Quỳnh, thời đại của cuộc tranh luận Truyện Kiều, hậu sinh chúng tôi thấy qua bao thất bại chồng chất, các cụ đã nhận rõ cuộc phấn đấu của dân tộc Việt Nam phải đòi hỏi ở thời gian, phải mềm dẻo bền bỉ lâu dài…

    (…) Yếu tố thời gian và tiến bộ đã bắt đầu xâm nhập vào trận doanh đấu tranh chính trị của dân tộc Việt nam từ thời ấy.

    Bây giờ, xét về tài lực của Phạm Quỳnh, theo giáo sư: thì từ một viên thông ngôn đã đến chức vị một thượng thư Bộ Lại. Như vậy có lẽ Phạm Quỳnh cũng đã có tài thao lược lắm rồi đấy. Nhưng còn suốt một thời gian tại chức thượng thư của Phạm Quỳnh, giáo sư đã xét kỹ hành động và tư tưởng của Phạm Quỳnh trong lúc ấy chưa? Hoàn cảnh tạo anh hùng và hoàn cảnh cũng có thể thúc đẩy cho những hạng người đê tiện phơi bày dã tâm thấp hèn của họ. Nghĩa là tại chức vị thượng thư Bộ Lại mà giáo sư cho là tuyệt đỉnh, nếu Phạm Quỳnh cũng cho là nhất hạng rồi thì chính nơi chức vị ấy sẽ thể hiện những dã tâm đê hèn, bóc lột, nịnh bợ của Phạm Quỳnh. Còn nếu nói đây không phải là chốn tuyệt đỉnh của Phạm Quỳnh thì đó chỉ là một phương tiện để tiến lên để biểu dương ý chí.

    Tiến lên trong một hoàn cảnh mà cuộc đấu tranh cần phải bền bỉ, uyển chuyển như các cụ đã nhận định. Một người có chút ít tài thao lược, “biết học” và “biết làm” như Phạm Quỳnh, lại thêm những lần Pháp du, đã từng ca ngợi thành Paris, một người như vậy lẽ đâu không có một mảy may gì về nhận định thực trạng của các nước hậu tiến? Nhìn vào Phạm Quỳnh bên những thực trạng đó chúng tôi có thể đặt nghi vấn rằng: bên trong Phạm Quỳnh đã âm thầm mang một bảng điều trần như Nguyễn Trường Tộ chăng?

    Nỗi ** le của Phạm Quỳnh là không được có sẵn sức học rộng rãi, không có những giải khôi nguyên, những xiêm áo tiến sĩ cử nhân, không sẵn có những phương tiện, những khả năng để mà nói, để mà làm… như các cụ Cường Để, Phan Bội Châu…

    Trên đường lập thân, Phạm Quỳnh vừa là một người thợ nề xây cất vừa là một tiểu công cung cấp vật liệu…

    Căn cứ vào hoàn cảnh ** le đó và vào khoảng thời gian tại chức thượng thư mà giáo sư chưa xét đến của Phạm Quỳnh, chúng tôi đặt giả thuyết: có thể Phạm Quỳnh là một “vị gián điệp” bậc nhất của dân tộc Việt Nam ở trong hàng ngũ địch là thực dân Pháp – Phạm Quỳnh đang ngấm ngầm chuẩn bị một cuộc nội phản. Những thắc mắc, giả thuyết “tâm lý chính trị” tế nhị ấy chúng tôi thiết tha mong giáo sư giảng giải tường tận bằng những sự kiện lịch sử, bằng những công việc thực tế.

    Theo chúng tôi nghĩ, cuộc đời của Phạm Quỳnh đã gặp từ ** le này qua cái ** le khác. Mới trên 50 tuổi đầu đã phải là lúc chấm dứt “cuộc đời chính trị”? Đúng ra thì tuổi ấy mới là thời kỳ đủ khả năng bước lên đường chính trị mà thôi.

    (…) Giá như Phạm Quỳnh, vị thượng thư Bộ Lại ấy mà còn sống sót đến ngày nay thì có lẽ cả thời gian ấy tha hồ đủ để biện minh cho mọi hành động trở về trước, như mọi người khác của thời đại đó còn sống rơi rớt lại.

    (…)

    Chắc giáo sư đã chạnh nghĩ đến câu chuyện Câu Tiễn nước Việt xưa. Nếu chúng ta có mặt trong cung điện của Ngô Phù Sai thì tha hồ cho thầy trò chúng ta bài bác. Ấy một đấng quân vương mà còn như thế huống chi đây chỉ là một tên thông ngôn vô danh tiểu tốt trong tay không một chút lực lượng (…) Và còn điểm này lại là phản khoa học nữa: Xét hành động trong khi chưa thấu triệt cứu cánh, chưa tường tận tâm lý.

    (…) Chúng tôi muốn nhắc lại một lần nữa rằng chúng ta không nên vơ đũa cả nắm, ghép Phạm Quỳnh vào chung một loại với lũ Việt gian lưu manh đã “sống nhờ thực dân phong kiến và đã chết vì thực dân phong kiến”. Cuộc đời chính trị của Phạm Quỳnh là một cuộc đời chính trị “nửa đời nửa đoạn”, hoàn cảnh ** le của Phạm Quỳnh không cho phép chúng ta lượng được mục đích của Phạm Quỳnh (…) Đó chính là điểm mà chúng tôi đã trộm cho rằng giáo sư không mấy “chính trị”.

    Văn học mà không văn học. Một điều hiển nhiên mà mọi người đi dự buổi “diễn thuyết” đều phải công nhận, đó là giáo sư đã kết tội, đã bài bác Phạm Quỳnh…

    Như vậy giáo sư đã đứng trên “quan điểm mới” nào để buộc tội? Văn học hay chính trị? Hay là quan điểm “ba phải”, “góp gió”? Hay là giáo sư muốn chiết trung, trung lập một thực thể thứ ba khó mà “tồn tại vĩnh viễn được”… Giáo sư đã nhắc lại những lời bài bác của các cụ ngày xưa về câu nói của Phạm Quỳnh: Truyện Kiều là quốc hồn, quốc túy… là Thánh kinh là Phúc Âm… gì đó? nhắc lại với một thái độ thích thú…Nhưng thưa giáo sư, ngày xưa, khi bài bác câu nói ấy, các cụ dã khéo léo loại ra những lời lẽ đao to búa lớn mà ngày nay giáo sư đã dùng. Các cụ đã thẳng thắn tự xưng là những nhà chính trị, những nhà đạo đức để bài bác. Chứ không như giáo sư đứng trên bình diện tổng quát, vĩ đại: “Văn học và Chính trị” đẻ bài bác. Theo thiển ý, nếu trên bình diện văn học và chính trị thì “quốc hồn”, “quốc túy” là một thực trạng của văn học. Còn Truyện Kiều là Thánh Kinh, là Phúc Âm…gì đó… lại là những ngôn ngữ của “chính trị thủ đoạn” đấy. Như vậy, có lẽ giáo sư đã tựa vào một cái đỉnh hai chân. Tiếc thay! hai chân ấy đã mục gẫy rồi mà giáo sư không hay… Vả lại trên bình diện văn học một cuộc tranh luận về Truyện Kiều đâu đã đủ để kết tội Phạm Quỳnh.

    Bây giờ chúng tôi xin hỏi lại giáo sư một cách dứt khoát: Giáo sư có phục Nguyễn Du qua tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh hay không? Hình như (vì không đọc lại sách) hồi ấy Phạm Quỳnh ca ngợi toàn thể Truyện Kiều chứ không riêng nhân vật Thúy Kiều như một vài “thi sĩ Việt gian” khác đã gạt ra ngoài cái phần nghệ thuật, cái phần mà các cụ ngày xưa cũng như giáo sư, năm 1962 nay viện lẽ rằng: “Trong lúc quốc vận nhiễu nhương không nên nói chuyện tào lao”.

    Sang đến phần tư tưởng và hành động của nàng Kiều trong Truyện Kiều, phần mà giáo sư đã tập trung mũi dùi vào, chúng tôi nhắc lại quan điểm của chúng tôi: Đường lối tranh đấu của các cụ ngày xưa chưa phải là hoàn toàn hay hoàn toàn thích hợp. Xã hội Việt Nam chúng ta từ ngày lập quốc đến lúc xảy ra cuộc tranh luận Truyện Kiều hẳn không có một thay đổi nào để biến cải hoàn toàn cơ cấu chế độ. Mà thưa giáo sư, Truyện Kiều có phản ánh trung thực cái chế độ ấy không? Nếu đã phản ánh trung thục thì giáo sư đã chắc chắn là hiểu hết thâm ý cùng những uẩn khúc ** le của nhà văn học và chính trị Phạm Quỳnh khi ca ngợi Truyện Kiều chưa? (xin giáo sư đừng viện lẽ nhân vật Thúy Kiều đóng vai chính nên chỉ xét Truyện Kiều qua vai chính mà thôi).

    Bức thư đến đây cũng đã dài lắn rồi, chắc giáo sư không có thì giờ mà quan tâm đến. Nhưng người xưa hình như có nói “làm chính trị sai thì hại một nước, làm văn hóa sai thì hại cả muôn đời”… Ở đây giáo sư đã nói đến văn học và chính trị, vậy nếu lời nói của giáo sư đã tạo cho chúng tôi những ý nghĩ sai lầm thì sự sai lầm ấy biết đến bao giờ xóa cho hết được? Vậy kính xin giáo sư hãy vui lòng chiếu cố đến những thắc mắc này của chúng tôi.

    Tràng pháo tay vừa tiễn giáo sư ra khỏi diễn đàn thì máy phóng thanh đã vang lên giọng cụ Khoa trưởng ngâm bài thơ vịnh Thúy Kiều của Nguyễn Công Trứ. Thì ra giáo sư và cụ Khoa trưởng hôm nay đã rắp tâm “xử tử” cô Kiều. Than ôi! thật là oái oăm thay cho cô gái họ Vương ấy, đúng như câu:

    Hồng quân với khách hồng quần.

    Đã xoay đến thế còn vần chưa tha.

    (…) Trở lại Truyện Kiều với vấn đề “văn học và chính trị” trên “quan điểm mới”, chúng tôi phải trân trọng ghi ơn Nguyễn Du đã có công phơi bày đầy đủ những thực trạng thối nát bỉ ổi của chế độ phong kiến trong tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh. Cũng trên “quan điểm mới”, trong lúc có cuộc tranh luận về Truyện Kiều, bè lũ phong kiến thối nát đang câu kết với thực dân để đè đầu bóp cổ dân tộc Việt.

    Nàng Kiều chỉ là một nạn nhân của chế độ phong kiến. Ngay đến cái tính “tà dâm” mà cụ Nguyễn Công Trứ và cụ Khoa trưởng dè bỉu, bài bác cũng chỉ là “sản phẩm” của chế độ phong kiến. Thúy Kiều “tà dâm” sao được trong lúc chính Nguyễn Công Trứ còn thích lấy nhiều vợ, còn “chín tầng Thiên Tử đội lên trên…” Vậy trên phương diện văn học và chính trị, chúng ta có cần gì buộc tội một con đĩ huống hồ con đĩ đây hãy còn có chút ít lương tâm kia đấy. Hơn nữa, chúng ta đang đứng trên quan điểm “con người”, quan điểm “nhân bản” hoặc “nhân vị” gì đó, thì chúng ta lại cần cực lực bênh vực và giải thoát cho nàng Kiều và phải khắt khe buộc tội cả một lũ người “trí thức lưu manh hèn nhát” như Kim Trọng, Thúc Sinh… những lớp nhờ vào một con đĩ mà giữ vững ghế Công Hầu như Hồ Tôn Hiến, những loại người xây mộng bá vương như Từ Hải và rất nhiều… nghĩa là cả một chế độ phong kiến thối nát.

    Có lẽ chúng ta phải nhận rằng “về chính trị Truyện Kiều đã tiến quá sớm đối với thực trạng của chính trường Việt Nam và Truyện Kiều bên trong đã ngầm chứa một sức phản phong kiến mạnh mẽ và hiệu quả vô cùng!”

    Thưa giáo sư, giáo sư có chắc chắn rằng khi nhà “văn học chính trị” Phạm Quỳnh ca ngợi Truyện Kiều ông đã không có thâm ý ấy sao???

    Truyện Kiều là một sản phẩm văn chương có giá trị nghệ thuật vững chãi nên sẽ tồn tại được lâu dài.

    Bên trong Truyện Kiều còn có một sức phản phong mãnh liệt. Nếu biết cách sử dụng sẽ là một lợi khí vô cùng hiệu quả cho những cuộc cải cách… Bất cứ trong một thời điểm nào, trong một chế độ nào còn dầy xéo lên giá trị con người thì Truyện Kiều còn có hiệu lực chống đối. Nếu chúng ta khéo biết cách sử dụng…

    Chúng ta cũng không trách cứ các cụ ngày xưa về đường lối đấu tranh làm gì.

    Thêm vào đó, cuộc tranh luận Truyện Kiều cho chúng ta thấy các cụ ngày xưa đã khiếp nhược trước kẻ thù, nghĩa là không “tri kỷ, tri bỉ”, cứ khăng khăng cho rằng mọi cái gì của kẻ thù đưa ra đều là có hại cho ta, các cụ làm chính trị mà không hiểu thế nào là “trăm phương ngàn kế”, như vậy tránh sao khỏi những trận thua liểng xiểng hồi ấy? Sự việc đã qua, dân tộc cũng như các nhà trí thức Việt Nam đã không thiết nhắc lại làm gì. Đáng tiếc là một người tự xưng là có “quan điểm mới”, là con người “văn học và chính trị” lại đi gợi lên ý tưởng cũ rích như thế. Theo ngu ý chúng tôi, cái sự sai lầm của các cụ ngày xưa để rớt lại cho giáo sư nằm trong định kiến cho rằng người Pháp đã dùng giá trị nghệ thuật của Truyện Kiều để mê hoặc dân ta. Sự thật nghệ thuật khi đã qua con mắt của loài người thì khó mà đứng biệt lập được. Nhưng ở đây nói đến Truyện Kiều là nói đến vấn đề chính trị, nói đến một cuộc cách mạng chống phong kiến. Giáo sư lại nhắc lại “Pháp đã thành công trong việc đầu độc dân ta”, nhưng sự thật một cuộc tranh luận không đủ để đưa đến sự thành công của người Pháp đâu.

    (…)

    Trân trọng chào giáo sư.

    N.H.P.

  8. #18
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Bài đọc thêm 4:
    NHÂN BUỔI DIỄN THUYẾT CỦA ÔNG NGUYỄN VĂN TRUNG

    Tân Văn Hồng

    Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhân đăng lại bài Trường hợp Phạm Quỳnh của Thanh Lãng về cuộc tranh luận do Giáo sư Nguyễn Văn Trung khởi xướng “làm rầm lên” (chữ của Thanh Lãng), chúng tôi tình cờ đọc được trong mục Nói hay Đừng của báo Tự Do (Sài Gòn) một số bài có liên quan. Để rộng đường dư luận, xin trích đăng vài bài, mong các bạn vui lòng tham khảo. Sau đây là bài có nhan đề như trên của Tân Văn Hồng, đăng trên báo Tự Do, ngày 24/10/1962, cách nay vừa nửa thế kỷ.
    *
    * *

    Chúng tôi có đến nghe ông Nguyễn Văn Trung, giáo sư Triết học và Văn học trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn diễn thuyết tại trường Quốc Gia Âm Nhạc hồi 10 giờ ngày chúa nhật 6/10/1962 với đề tài: “Chính trị và Văn học. Một quan điểm mới về cuộc tranh luận Phạm Quỳnh – Ngô Đức Kế qua Truyện Kiều”.

    Có nhiều tờ báo đã tường thuật buổi diễn thuyết này rồi, nên ở đây chúng tôi mạn phép không nhắc lại nội dung bài đó nữa để khỏi mất thì giờ quý vị độc giả.

    Chúng tôi không giáo đầu dông dài khách sáo làm chi và xin trình bày ngay ý kiến thô thiển như sau:

    Theo chỗ hiểu biết rất nông cạn của chúng tôi thì không chắc Ngô Đức Kế đã đả kích Truyện Kiều là đả kích cái chủ trương chánh trị của Phạm Quỳnh như ông Nguyễn Văn Trung đã nhận định….

    Nếu Phạm Quỳnh có chủ định dùng cơ quan ngôn luận làm liều thuốc ru ngủ khiến cho quốc dân quên ý chí đối kháng thì tất nhiên cái chủ định đó có từ khi Louis Marty giao cho ông chủ trương biên tập tạp chí Nam Phong vào năm 1917. Và lúc viết bài Nghiên cứu truyện Kiều[1] trên Nam phong năm 1919 chắc chắn ông đã có cái chủ định đó rồi. Viết bài này Phạm Quỳnh đã cực tán Truyện Kiều về mọi mặt: tác giả, văn chương, nhân vật, luân lý, tâm lý… Ông cho rằng: “Có lẽ không văn chương nào có quyển truyện bộ thơ mà phổ cập bằng Truyện Kiều ở nước Nam ta”[2]… “Trước Truyện Kiều không có sách gì hay bằng Truyện Kiều mà sau Truyện Kiều cũng không có sách gì hay hơn Truyện Kiều nữa”[3]… “Phong tình mà tiết nghĩa, cả tâm lý cô Kiều là gồm trong 4 chữ ấy.[4]

    Sau khi Phạm Quỳnh viết bài trên 3 năm, Vũ Đình Long[5], Nguyễn Tường Tam[6], Trần Trọng Kim[7] lần lượt cực tán Truyện Kiều, bàn rộng những điểm mà Phạm Quỳnh đã đề cập trong bài của ông (1919) trên Nam Phong. Ngô Đức Kế không đả kích Pham Quỳnh và Truyện Kiều ngay để đập tan từ buổi đầu cái chủ định sâu độc về chính trị của Phạm Quỳnh mà mãi 5 năm sau trên báo Hữu Thanh số 21 ngày 1/9/1924 cụ mới vết bài Luận về chánh học cùng tà thuyết. Quốc văn Kim Vân Kiều, Nguyễn Du? Theo thiển ý, Ngô Đức Kế không viết bài công kích Phạm Quỳnh, vì có lẽ cụ cho là một bài báo không ảnh hưởng sâu rộng trong quốc dân bao nhiêu. Khi cụ nhận thấy ngoài Phạm Quỳnh còn nhiều người viết bài tán dương Truyện Kiều thái quá, nhất là về phương diện luân lý, nên phải lên tiếng. Không những Ngô Đức Kế đả kích Phạm Quỳnh mà đả kích cả Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam, Trần Trọng Kim,v.v… những người mà ông Nguyễn Văn Trung cho là không thể xếp vào phái Phạm Quỳnh được, vì họ làm văn hóa thuần túy và không bị Ngô Đức Kế chỉ trích. Chính Ngô Đức Kế đã viết: “Một anh giả dối lóp lép đứng đầu sùng bái Kiều, mà một bọn u mê hờ hững gào hơi ráng sức để họa theo; còn một lớp chỉ nghe lóm nhìn mồm thì vỗ tay tán thưởng, khiến người bịt tai bưng mũi phải nhức đầu long óc vì tiếng to “Quốc văn! Kim Vân Kiều! Nguyễn Du!”.[8]

    “Bọn u mê” mà Ngô Đức Kế ám chỉ không nói ai cũng biết rồi. Nhưng thử hỏi các ông Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam, Trần Trọng Kim,v.v…khi bình phẩm tán dương Truyện Kiêu có chủ định chính trị thầm kín như chủ định mà ông Nguyễn Văn Trung gán cho Phạm Quỳnh không? Hẳn là không. Chúng tôi không biết ông Nguyễn Văn Trung có tài liệu gì về vấn đề này không. Phần chúng tôi chúng tôi chưa nghe thấy ai công kích đứng đắn về hoạt động chính trị của ba ông Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam, và Trần Trọng Kim trước năm 1945.

    Như vậy, quan điểm của ông Nguyễn Văn Trung theo đó Phạm Quỳnh “làm văn học để người ta quên chính trị” không được vững lắm!

    Có thể nói một cách giản dị Ngô Đức Kế là một nhà chính trị uyên thâm Nho học. Cụ phê bình nghiệt ngã Truyện Kiều vì tấm lòng ái quốc thúc đẩy. Cụ nhắm Phạm Quỳnh nhiều vì Phạm Quỳnh đứng đầu việc phê bình sùng mộ Truyện Kiều chớ không phải vì Phạm Quỳnh có xu hướng chính trị khi phê bình văn chương.Nếu một người nào khác đứng đầu việc này vẫn bị Ngô Đức Kế đả kích như thường dù người đó có chủ định chính trị xấu hay không.

    Còn Phạm Quỳnh, khi phê bình Truyện Kiều, ông lấy con mắt của nhà nghệ sĩ để nhìn một tác phẩm nghệ thuật..

    Vì cảm hứng mạnh trong khi đọc nên Phạm Quỳnh đã cực tán Truyện Kiều như thế. Có thể nói đó là lời phê bình có ấn tượng chủ quan. Cái thâm ý chính trị dẫu có thật đi nữa cũng không thể đem ghép liền với việc phê bình văn học được (…) Huống chi con người đâu phải chỉ có một bản ngã?

    Còn như việc diễn giả cho rằng Phạm Quỳnh đi vào văn học với cái ý định xấu, do đó sự nghiệp văn học của ông không đáng kể, chúng tôi nhận thấy sự phê phán của diễn giả hơi vội vàng và quá đáng. Chúng tôi trộm nghĩ dù cho nhận định của ông Nguyễn Văn Trung có đúng đi nữa, cũng không thể chỉ bằng cứ vào một cuộc tranh luận về Truyện Kiều mà phủ nhận một cách vội vàng sự nghiệp văn học cho cả một đời của Phạm Quỳnh. Ông Nguyễn Văn Trung có biết chăng từ năm 1917 là năm Phạm Quỳnh chủ trương tạp chí Nam Phong cho đến năm 1932 là năm Phạm Quỳnh được vời vào Huế tham chính, trong vòng 15 năm dài đó Phạm Quỳnh đã hoạt động văn hóa không ngừng? Đó là chưa kể khoảng thời gian Phạm Quỳnh cộng tác với Đông Dương tạp chí trước năm 1917. Không lẽ lúc Phạm Quỳnh dịch một tác phẩm ngoại quốc nào ra quốc văn, sáng tác một văn phẩm nào, viết một bài nghiên cứu hay bình luận văn học nào ông cũng mặc bộ áo chính trị xấu xa hết hay sao?

    Khi phẩm bình về thái độ, tâm sự thầm kín, nỗi ** le, u uất của một người đã khuất không bao giờ trả lời cho mình được, chúng tôi thiết tưởng cần phải thận trọng. Nhiều người muốn làm một cái gì mới lạ khác thiên hạ. Điều đó không đáng trách. Nhưng muốn tự làm nổi bật mà vô tình hay hữu ý phủ nhận công trình của người xưa thì không được vì cứu cánh không thể biện minh cho phương tiện xấu.

    T.V.H.
    ……….
    [1] Nam Phong số 30 Décembre 1919, trang 480.
    [2] Thượng Chi Văn Tập III, 1962 trang 80.
    [3] Thượng Chi Văn Tập III, 1962, trang 81
    [4] Thượng Chi Văn Tập III, 1962, trang 127
    [5] Nam Phong số 68,69,70,81,83,85,87, 1923
    [6] Nam Phong bài Mấy lời bình luận vè Văn chương Truyện Kiều, số 79 Janvier 1924, trang 30-37.
    [7] Bài diễn thuyết nhân lễ kỷ niệm Tiên Điền Nguyễn Du (1924)
    [8] Kim Vân Kiều dưới mắt 2 cụ Ngô Đức Ké và Huỳnh Thúc Kháng, Anh Minh xuất bản, Huế 1958, trang 12.

  9. #19
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Bài đọc thêm 5:

    QUAN ĐIỂM PHÊ BÌNH MỚI CỦA ÔNG NGUYỄN VĂN TRUNG
    Song Thai

    Lời dẫn của Phạm Tôn: Chúng tôi trích đăng bài có nhan đề như trên của Song Thai đã đăng trên mục Nói hay Đừng của báo Tự Do (xuất bản tại Sài Gòn) các ngày 4,5 và 6 tháng 11-1963 để bạn đọc rộng đường tham khảo về một vấn đề văn học lớn trong lịch sử nước ta. Bài này viết ngay trong lúc cuộc tranh luận về Phạm Quỳnh do giáo sư Nguyễn Văn Trung khởi xướng năm 1962 đang diễn ra sôi nổi tại miền Nam thời chế độ cũ.
    —-o0o—

    Kẻ viết bài này xin tự giới thiệu là một người đọc trung thành của tác giả các tập Nhận Định, Xây Dựng tác phẩm tiểu thuyết và những loạt bài biên khảo đăng tải ở tạp chí Đại Học, Thế kỷ Hai mươi, Sáng Tạo, Bách Khoa trong những năm tháng gần đây (tức Nguyễn Văn Trung – PT chú). Cũng cần nói thêm rằng trong một bài so sánh tình hình văn nghệ giữa hai miền Bắc Nam đăng trên một nhật báo số ra ngày 13 và 14 tháng 1 năm 1961 tác giả bài này đã đề cao: “Một Nguyễn Văn Trung đang bắt đầu cống hiến những sáng tạo giá trị làm giàu thêm kho tàng lý luận phê bình văn nghệ Việt Nam”. Nhắc lại như vậy là muốn được bảo đảm tính chất vô tư của người thảo luận hôm nay.

    Trước hết, phải công nhận rằng trong những sinh hoạt văn học gần đây tại Thủ Đô (tức Sài Gòn – PT chú) buổi nói chuyện sáng 7/10/1962 tại trường Quốc gia Âm nhạc đã lôi cuốn được sự chú ý tích cực của dư luận bởi lẽ diễn giả là một giáo sư triết Đại học Văn Khoa, đồng thời là một nhà phê bình tín nhiệm trong giới văn nghệ. Mặt khác bản thân vấn đề trình bày chứa đựng nhiều ý nghĩa hệ trọng liên quan trực tiếp đến ý thức hệ hiện đại của những người cầm bút. Dựa vào cơ sở ba bài thảo luận của Đồ Lăng, Nguyễn Hoà Phong, Tân Văn Hồng và một phần bài nói chuyện đăng trên 5 số nhật báoTự Do[1], tôi xin phát triển một số ý kiến của “ba tiếng chuông” trước đây và chủ yếu là khai thác một vài khía cạnh gọi là “một quan điểm mới về tranh luận giữa Phạm Quỳnh – Ngô Đức Kế quaTruyện Kiều” của ông Nguyễn Văn Trung.

    Nói đến Nguyễn Văn Trung, không mấy ai phủ nhận nhiệt tình nghiên cứu, tìm tòi, phát hiện không ngừng của ông trong địa hạt văn chương nghệ thuật. Có người trách ông đã nông nổi khơi lại một vấn đề xưa cũ mà nội dung vấn đề ấy lại phức tạp, tế nhị. (…) Theo ý chúng tôi, điều đó không quan trọng mà cái quan trọng là cách nhìn, là lập trường, là thế giới quan của diễn giả trước vấn đề được “xét lại”. Tôi hoàn toàn nhất trí với ông về việc khẳng định sự tương quan mật thiết giữa văn học và chính trị. Bởi vì trong thực tế, mỗi hoạt động văn hoá, xã hội, v.v… đều bị tình hình chính trị chi phối hay nói cách khác, khó mà có một thứ văn học thuần tuý xuất hiện trong không gian. (…) Những người làm văn học lại càng phải vận dụng công tác của mình để làm nền tảng lý luận soi sáng nhằm phát huy tính tự giác, chủ động để xây dựng tư tưởng tình cảm cho quần chúng. Xuất phát từ cơ sở nhận thức đó, chúng tôi thấy quan điểm mới của ông Nguyễn Văn Trung cần được thảo luận chu đáo hơn ngõ hầu rút ra những bài học kinh nghiệm về tư tưởng nghệ thuật. Bài học mà tôi muốn đề cập tới là việc phủ nhận hoàn toàn thành tích văn học và hậu quả của thái độ phê phán nghiêm khắc một người đã từng có địa vị khả quan trong lịch sử văn học Việt Nam.

    Nói đến thành tích văn học của Phạm Quỳnh, linh mục Thanh Lãng đã từng viết: “Chúng ta biết từ ngày có Đông Dương tạp chí mà nhất là Nam Phong tạp chí ra đời, Phạm Quỳnh không bỏ một cơ hội nào mà không tranh đấu cho quốc văn: nào là bênh vực nó, nào là ca ngợi nó, đặt nó ngang hàng với nhiều nền văn học tiên tiến trên thế giới. Chứng cớ hiển nhiên mà ông muốn đưa nó ra là Truyện Kiều. Bởi vậy, hễ có dịp là ông không tiếc lời ca tụng[2].” Nhận xét này có thể coi như là đại diện cho tiếng nói của những nhà phê bình có uy tín nhất. Nhưng ông Nguyễn Văn Trung lại cho rằng “linh mục Thanh Lãng chỉ thấy sự kiện của cuộc tranh luận mà không thấy thực chất…”

    Về thái độ kết tội nhà học giả họ Phạm, dù ở phần mở đầu, tác giả Nhận Định đã dè dặt và khiêm tốn cho biết “chỉ là những ý kiến giả thuyết của những người bây giờ khi nhìn về một thời kỳ mà mình chưa ra đời”, song mấy dòng rào đón ngắn ngủi và yếu ớt đó đã bị tan loãng dần so với các phần buộc tội đanh thép và những nụ cười châm biếm trong buổi hùng biện (NHP) cộng với những từ ngữ mỉa mai thỉnh thoảng điểm trong toàn bài (ví dụ Quỳnh là nhà văn học tân tiến “yêu nước”…) ví như một điếu thuốc ban đầu chỉ le lói đốm lửa nhưng về sau, bỏ vào cái bếp có sẵn dầu xăng và củi tốt đã làm bùng cháy cả một ngôi nhà.

    Ông Nguyễn Văn Trung chưa dám quả quyết là Phạm Quỳnh chủ tâm theo Pháp nhưng lại tuyên bố rằng “có quyền phê phán Phạm Quỳnh về hành động và những hậu quả văn học chính trị của nó”. Đến đây, vấn đề đặt ra là Phạm Quỳnh đắc tội với lịch sử không? Và việc Phạm Quỳnh tán dương, sùng bái Truyện Kiều có phải là âm mưu thâm độc nằm trong khuôn khổ chủ trương của Pháp đầu độc thanh niên không? Rồi một bài báo của Ngô Đức Kế đã đủ làm cơ sở vững chắc để buộc tội Phạm Quỳnh không? Trước lúc đi sâu vào chi tiết chúng tôi nghĩ rằng người phê bình hôm nay nên đặt mình vào hoàn cảnh lịch sử của thời kỳ xảy ra cuộc tranh luận. Chẳng hạn ngày nay, đối với chúng ta,Truyện Kiều là một tác phẩm cổ điển lớn, một đỉnh cao chói sáng trong nền văn học Việt Nam xứng đáng được xếp vào các loại tác phẩm ưu tú trên thế giới không hẳn là vì bản thân nó đề cập đến vấn đề truyền thống tốt đẹp: Truyền thống nhân đạo chủ nghĩa. Nhưng đối với Ngô Đức Kế hồi ấy, vì hạn chế bởi nhân sinh quan phong kiến và bị trói buộc trong các quan niệm “văn dĩ tải đạo” hẹp hòi, nên trong lúc đả kích Phạm Quỳnh ông đã phê phán cả bản thân Truyện Kiều bằng những luận điệu đậm màu sắc nho giáo. Tiếp đến Phạm Quỳnh đề cao Truyện Kiều có phải bắt nguồn từ một động lực chính trị nào không?

    Bình tĩnh mà xét thì suốt thời gian cộng tác với “chính phủ Bảo hộ” người ta cũng không hề tìm thấy một hành động “chó săn” cụ thể nào của ông (không kể những tài liệu bịa đặt) ngoài một số bài báo, chủ yếu là diễn văn ca tụng Truyện Kiều nhân dịp lễ kỷ niệm Nguyễn Du do ban Văn học của hội Khai Trí Tiến Đức tổ chức vào tháng 8/1924. Mà phân tách nội dung bài diễn văn ấy, trước sau ta chỉ thấy toát lên những khí thế bừng bừng do nhiệt tình đối với một tác phẩm và thi hào vĩ đại của dân tộc. Nhiệt tình ấy được phản ảnh rõ rệt trong bài báo đầu tiên viết về Truyện Kiều như: “Các nước Âu Mỹ trọng những nhà văn sĩ hơn các bậc đế vương vì cái công nghiệp về tinh thần còn giá trị quí báu và ảnh hưởng sâu xa hơn là những sự nghiệp nhứt thời về đường chính trị. Tên vua Louis XIV, vua Nã-Phá-Luân (tức Napoléon – PT chú) đệ nhất có ngày mai một được mà tên những danh sĩ như Pascal, Corneille, Racine thời trong thiên hạ còn có người học chữ Pháp, còn có người nói tiếng Pháp, còn có người biết tư tưởng sâu xa thì còn không bao giờ quên được.[3]

    Và qua bài diễn văn kỷ niệm Nguyễn Du, nhiệt tình ấy lại được thể hiện minh bạch hơn…
    Trong mấy nghìn năm ta chôn nhau cắt rốn, gửi thịt gửi xương ở cõi đất này mà ta vẫn hình như một giống ăn trọ ở nhờ, đối với đất nước non sông vẫn chưa từng có một văn tự, văn khế phân minh chứng nhận cho ta cái quyền sở hữu chính đáng. Mãi đến thế kỷ mới rồi, mới có một đấng quốc sĩ, vì nòi giống, vì đồng bào, vì tổ tiên, vì hậu thế, rỏ máu làm mực “tá tả” một thiên văn khế tuyệt bút, khiến cho giống An Nam được công nhiên, nghiễm nhiên, rõ ràng, đích đáng làm chủ nhân ông một cõi sơn hà gấm vóc.

    “Đấng Quốc sĩ ấy là ai? Là Cụ Tiên Điền ta vậy. Thiên văn khế ấy là gì ? Là quyển Truyện Kiều ta vậy !… Có nghĩ cho xa xôi, cho thấm thía mới hiểu rằng Truyện Kiều đối với văn nước ta có một cái gì quí báu vô cùng. Một nước không thể không có quốc hoa. Truyện Kiều là quốc hoa của ta. Một nước không thể không có quốc túy. Truyện Kiều quốc tuý của ta. Một nước không thể không có quốc hồn. Truyện Kiều là quốc hồn của ta …”

    Những dòng trích dẫn này dù có phần nặng về chủ quan về cảm tính (rung cảm của nghệ sĩ nên cường điệu hoá cao độ), nhưng nói chung vẫn biểu lộ được một cái gì tha thiết với đất nước, giống nòi,v.v…

    Mặt khác, trong kho tàng tài liệu còn tồn tại hiện nay người ta cũng cũng khó tìm thấy một tang chứng rõ rệt để qui định tính chất chính trị của Phạm Quỳnh trong cuộc tranh luận..

    Tuy nhiên về sau này, ta cũng thấy loé ra một tia sáng qua bài trả lời đăng trên Phụ Nữ Tân Văn, Phạm Quỳnh viết: “…Ông Ngô thấy người ta hoan nghênh Kiều mà có ý căm tức nên viết bài phản đối, chứ ông Ngô cùng tôi không có hiềm khích gì cả”.[4]

    Ngoài ra còn có một tài liệu khác có thể soi sáng cho chúng ta tìm hiểu một cách chính xác. Đó là bài của nhà học giả Phan Khôi, có thể coi như một tiếng nói hoàn toàn trung lập (nên nhớ đã có lần Phan Khôi cảnh cáo Phạm Quỳnh là nhà học phiệt). Bài đó viết: “Muốn đánh giá Truyện Kiều và cái công nghiệp văn chương ông Nguyễn Du cho vừa phải, đừng cao quá, đừng hạ quá thì trước hết phải hiểu trong cõi văn học của thế giới ngày nay, có hai cái khuynh hướng trái nhau mà cũng có thế lực ngang nhau. Ấy là một phái chuyên trọng về nhân sinh, một phái chuyên trọng về nghệ thuật. Hai phái ấy cũng có cái lý thuyết của mình để mà thành lập… Nếu cho văn chương Truyện Kiều là đẹp là hay thì cái người (yêu) quốc ngữ mà cổ động cho Truyện Kiều, kỷ niệm ông Nguyễn Du chẳng phải là làm một việc không có ý thức. Vì trong khi làm việc ấy, người ta đứng về phái nghệ thuật, người ta chỉ sùng bái cái đẹp mà thôi, mà tự họ lại nghĩ rằng cái đẹp ấy chẳng có thể nào gây ra ảnh hưởng xấu cho xã hội, Tôi không rõ lúc bấy giờ Phạm Quỳnh có bảo đem Truyện Kiều mà làm sách học không? Nếu vậy thì đáng công kích thật. Còn lấy danh nghĩa “văn học ban” của hội Khai Trí Tiến Đức khuynh hướng về cái thuyết nghệ thuật mà cổ động cho Truyện Kiều, kỷ niệm ông Nguyễn Du thì tôi chẳng thấy chỗ nào đáng công kích hết mà tôi cho là việc ai thích thì làm chẳng hại gì cả”.[5]

    Nếu những trích dẫn dài dòng trên đây khả dĩ chứng minh phần nào cho tính cách trong sạch của Phạm Quỳnh trong cuộc tranh luận với ông Ngô Đức Kế thì buộc tội nhà học giả họ Phạm “làm tay sai cho Pháp” kể cũng “bất công thật!” (…)
    Riêng chúng tôi thì nghĩ rằng quan điểm phê bình mà ông Nguyễn Văn Trung mệnh danh là mới kể ra chẳng có gì là mới cả.
    (…)
    Và nếu ông Nguyễn Văn Trung mới đây đã mạt sát:Truyện Kiều còn, tiếng ta còn… sự thực khẩu hiệu đó từ miệng ông Quỳnh, cái loa của thực dân Pháp chỉ có ý nghĩa như một mánh khoé chính trị và thực chất của nó là nguỵ biện”để rồi ngang nhiên chỉ rõ: “Phạm Quỳnh cộng tác với Pháp tức là công nhận sự mất nước… làm sao có thể tự coi như một người cổ võ lòng yêu nước bằng văn học? Dưới thời Pháp thuộc, nước mất, tiếng nói cũng mất, văn chương cũng mất…”
    (…)
    Đối với chúng ta, cái chủ trương hợp lý “không nên tách rời văn học và chính trị” không có nghĩa là chỉ nhận xét đơn thuần về mặt chính trị mà bỏ quên mất văn học mà phải quan niệm rằng đó là hai mặt của một vấn đề, tuy có quan hệ hữu cơ với nhau song không thể nhập cục lại làm một được. Nếu nghĩ rằng công tác phê bình là một loại công tác tinh vi, hữu hiệu, có khả năng tác động tới ý chí, tình cảm của quần chúng thì những lời phê phán nặng nề có giá trị một bản cáo trạng đối với Phạm Quỳnh của ông Nguyễn Văn Trung rất có thể ảnh hưởng bất lợi đến với thế hệ trẻ ra đời sau 1945 vậy! (…) Trước khi chấm dứt bài này, tôi muốn ghi lại dây một cảm tưởng chân thực rằng không hiểu sao cho đến phút này, tôi vẫn nghĩ rằng ông Nguyễn Văn Trung không chối bỏ thành tích mười lăm năm văn học của Phạm Quỳnh, bởi lẽ rất có thể, những biên khảo công phu của Phạm Quỳnh về phạm trù triết học cũng như trong lĩnh vực văn chương đã ít nhiều giúp ích cho sự trưởng thành của một số lớn trí thức chân chính Việt Nam ngày nay.

    Rất mong tác giả Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết thông cảm cho rằng đây chỉ là phản ứng tất nhiên của một thanh niên yêu tiếng mẹ và thường đặt nhiều kỳ vọng tốt đẹp nơi một Nguyễn Văn Trung già dặn, sâu sắc… sôi nổi yêu đời và … thương người ta thiết.

    S.T.


    [1] Kẻ viết bài này không có may mắn tham dự buổi nói chuyện.
    [2] Trường hợp Phạm Quỳnh(Thanh Lãng, Văn Học, 1963)
    [3] Nam Phong, 1919
    [4] Phụ Nữ Tân Văn, số 28/8/1930
    [5]Đọc bài “Chiêu tuyết cho một nhà chí sĩ” của ông Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi báo Trung Lập, số 6266,6267,6268 các ngày 7,8,9/10/1930.

  10. #20
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Bài đọc thêm 6:

    ĐẶT VẤN ĐỀ VỚI ÔNG NGUYỄN VĂN TRUNG VỀ VĂN HỌC VÀ CHÍNH TRỊ

    Ái Linh

    Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài báo này của bạn Ái Linh đăng trên mục Nói hay Đừng của báo Tự Do(Sài Gòn) từ ngày 11/11 đến ngày 2/12 năm 1962.
    Chúng tôi đăng lại trên blog để bạn đọc quan tâm đến văn học nước nhà rộng đường tham khảo về một vấn đề lớn từng xảy ra trong những năm 1930 và dư âm còn kéo dài mãi đến những năm 60 thế kỷ trước và xem ra còn đến cả những năm đầu thế kỷ 21 của chúng ta nữa.
    Vì bài khá dài, chúng tôi chia làm nhiều phần và đặt nhan đề cho từng phần đó.

    —-o0o—-

    Phần 1: Diễn biến của “Vụ án Truyện Kiều”


    Nhật báo Tự Do vừa rồi có đăng nguyên văn bài diễn thuyết của ông Nguyễn Văn Trung.

    Chúng tôi từ lâu vốn có chút nhiệt thành với những vấn đề văn học và nghệ thuật, nay nhân đọc bài ấy có một vài nhận xét nhỏ xin đưa trình độc giả để công luận thẩm định.

    Chúng tôi nghĩ có ba đức tính cần phải có khi muốn phê bình cho chính xác về một vấn đề gì, đó là: NHÂN, THÀNH, TRÍ.
    NHÂN để thông cảm đúng chân lý.
    THÀNH để trung thực, công bằng với chính mình cũng như với người.
    TRÍ để có khả năng kỹ thuật diễn tả cho đúng.

    Với quan niệm đó, chúng tôi đã đọc kỹ bài của ông Nguyễn Văn Trung để thử tìm hiểu giá trị xây dựng của bài và chủ ý của ông.

    Trước hết phải chính danh. Ngay về đề tài bài diễn thuyết, chúng tôi đã thấy có chỗ gượng ép, không được hài lòng lắm: Ông Nguyễn Văn Trung muốn trình bày quan điểm của ông về cuộc “tranh luận” Phạm Quỳnh – Ngô Đức Kế qua Truyện Kiều.

    Theo thiển kiến chúng tôi, phàm đã gọi là tranh luận, thế tất phải có hai phe cùng tham dự đối đáp nhau. Về vụ này, ta chỉ thấy ông Ngô Đức Kế lên tiếng mạt sát ám chỉ ông Phạm Quỳnh, gián tiếp muốn mở cuộc bút chiến, còn về ông Phạm Quỳnh tuyệt không có lấy nửa lời đáp lại. Sau này, trong bài trả lời ông Phan Khôi, ông Phạm Quỳnh cũng không hề đả động tới nội dung bài của ông Kế. Như thế, khách quan mà nói thì không có một cuộc tranh luận Phạm Quỳnh – Ngô Đức Kế.

    Tuy nhiên, có một mối liên quan giữa những bài của các ông: Phạm Quỳnh, Ngô Đức Kế, Phan Khôi, Huỳnh Thúc Kháng, mà nhân duyên là Truyện Kiều.

    Bởi thế, Linh mục Thanh Lãng đã gọi chung là “Vụ án Truyện Kiều”, thiết tưởng phải lẽ hơn. Chính vì có mối liên quan ấy, tạm bỏ qua cái danh đặt không hợp lý trong đề tài, ta vẫn có thể theo dõi lập luận của ông Nguyễn Văn Trung để xem xét quan điểm của ông.

    Mở đầu, ông nói không được thỏa mãn với những ý kiến của hầu hết các nhà văn học đã trình bày; do đó, ông muốn “nhận định lại” mong hiểu sự thực hơn mà không bất công với những tác giả. Kế tiếp ông trình bày sự kiện tranh luận.

    Chúng tôi nhận thấy, đối với độc giả, “trình bày lại” câu chuyện xung khắc này cần phải Công minh chính trực; bởi vì có như thế độc giả mới thấu đáo vấn đề và tránh một ấn tượng thiên lệch khi đi sang phần phê phán. Ông Nguyễn Văn Trung đã thuật không được đầy đủ về những việc cũ. Chúng tôi xin trình bày cùng bạn đọc Tự Do tất cả nội vụ để làm căn bản lập luận sau này:

    Buổi lễ kỷ niệm Nguyễn Du:

    Gần 40 năm trước vào ngày mồng 10 tháng 8 năm 1924, Ban Văn Học Hội Khai Trí Tiến Đức (hội này do ông Phạm Quỳnh sáng lập năm 1919) muốn nhân ngày giỗ cụ Tiên Điền Nguyễn Du đặt một cuộc kỷ niệm với mục đích: “Nhắc lại cho quốc dân nhớ đến công nghiệp một người đã gây dựng cho quốc âm ta thành văn chương, để lại cho chúng ta một cái “hương hỏa” rất quí báu, đời đời làm vẻ vang cho cả giống nòi”.

    Chương trình buổi lễ có hai mục quan trọng:

    1. Ông Phạm Quỳnh thay lời “Văn Học Ban” diễn thuyết về mục đích cuộc kỷ niệm, rồi lại diễn thuyết bằng tiếng Pháp cho các hội viên Pháp nghe (tất cả khoảng nửa giờ).
    2. Ông Trần Trọng Kim diễn thuyết về lịch sử cụ Tiên Điền và văn chương Truyện Kiều (khoảng một giờ).


    Trong bày diễn văn tiếng Việt, ông Phạm Quỳnh nêu rõ sự thực là: “Suốt quốc dân ta, ai ai cũng biết, cũng thuộc, cũng kể, cũng ngâm, cũng lẩy Truyện Kiều, như vậy thời ai ai cũng đều hưởng cái công nghiệp của cụ Tiên Điền ta, ai ai cũng phải nhớ ngày giỗ cụ và nghĩ đến cái ơn của cụ tác thành cho tiếng nước nhà”. Ông nhấn mạnh vào cái hay của Truyện Kiều, đem cái hay ấy so sánh với những nền văn chương Tàu và Pháp để nêu cao giá trị toàn bích của Truyện Kiều. Cuộc kỷ niệm không những chú ý “hình ư ngoại” tấm lòng cảm mộ đối với cụ Tiên Điền, nhưng còn có một ý nghĩa nữa là:
    Nhân ngày giỗ này, đốt lò hương, so phím đàn, “chiêu hồn quốc sĩ” thác là thể phách, còn là tinh anh… xin chứng nhận lời của đồng nhân đây, thề rằng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin rầu lòng giốc chí cố công trau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh tao, quốc bộ ngày một tấn tới, quốc văn ngày một vẻ vang, ngõ hầu khỏi phụ cái chí hoài bão của tiên sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây!”
    Tất cả những bài diễn văn của các ông Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim đều có đăng nguyên văn trong báo Nam Phong số 86 năm 1924.

    Bài của ông Ngô Đức Kế:

    Sau đó, báo Hữu Thanh (cơ quan ngôn luận của Hội Trung Bắc Nông Công Thương Tương Tế), trong số 21, ngày 1/9/1924 có đăng một bài của ông Ngô Đức Kế nhan đề: “Luận về Chánh học cùng Tà Thuyết, Quốc Văn, Kim Vân Kiều, Nguyễn Du”.

    Mở đầu, ông Ngô Đức Kế bàn về chánh học cùng tà thuyết và mối tương quan tới sự thịnh, suy của vận nước.

    Trong quá nửa sau của bài, ông không còn giữ được bình tĩnh, giọng văn gay gắt, mỉa mai, ám chỉ Phạm Quỳnh, ông viết:
    Những người học thức kiến văn chưa được một nắm, nhân cách giá trị chẳng đáng là bao, mới lóm lém những học thuyết ông Mạnh (Montesquieu) ông Lư (Rousseau), bập bẹ những cách ngôn họ Trang, họ Liệt thì đã nghiễm nhiên tự lập làm một đấng văn hào, tự xưng khai hóa quốc dân mà không ngó lại mình đã khai hóa hay chưa; thôi thì tán xằng, tán nhảm, nói bậy, nói càn, không còn có nghĩa lý chính đáng chi nữa…”.

    Ám chỉ quang cảnh buổi lễ kỷ niệm, ông tả:
    Một anh giả dối lóp lép, đứng đầu sùng bái Kiều, mà một bọn u mê hờ hững gào hơi ráng sức để họa theo, còn một lớp người chỉ lóm nhìn mồm thì vỗ tay tán thưởng, khiến người phải bịt tai bưng mũi, rức đầu, long óc vì những tiếng hô to: “Quốc Văn!! Kim Vân Kiều !! Nguyễn Du!!!”

    Ông trích dẫn lời sau đây của Phạm Quỳnh như là một bằng chứng để ông lên án
    Học Hán văn là học mượn, học Pháp văn là học mượn, học Quốc văn mới là học nhà, Truyện Kiềutức là sách nhà đó…”

    Về Truyện Kiều, ông viết:
    Kim Vân Kiều là sách gì?, chỉ nhắc đến cái tên sách, thi nghe đã không thế nào ngửi được…”

    Rồi vẫn ám chỉ Phạm Quỳnh, ông mạt sát:
    Con oanh học nói, xằng xiêng bậy bạ, rồ dại điên cuồng, tà thuyết vu dân đến thế là cực”.

    Cuối bài, sau khi đã ký tên, ông còn thêm một câu:
    Bài luận này chắc chắn nhiều người phản đối, ai phản đối xin cứ gửi thư đến bản chí”.

    Đối với bài đả kích một cách gián tiếp ấy, ông Phạm Quỳnh đã giữ thái độ yên lặng.

    Bài của ông Phan Khôi
    Sáu năm sau, 1930, nhân bộ sách Nho Giáo của ông Trần Trọng Kim ra đời, ông Phan Khôi viết một bài phê bình nhan đề Đọc cuốn Nho giáo của Ông Trần Trọng Kim đăng trong tuần báo Phụ Nữ Tân Văn, số 54, tháng 6/1930. Phụ Nữ Tân Văn số 60, ngày 10/7/1930 đăng bài ông Trần Trọng Kim trả lời: Mấy lời bàn với Phan tiên sinh về Khổng Giáo.

    Bởi đó, trong Phụ Nữ Tân Văn số 62 ngày 24/7/1930, ông Phan Khôi mới viết một bài nhan đề: Sau khi đọc bài trả lời của Trần Trọng Kim tiên sinh, cảnh cáo các nhà học phiệt.

    Ông định nghĩa qua thế nào là học phiệt và nêu nhận xét rằng ở nước ta đang có một hạng học phiệt, rồi viết về thái độ tự cao của hạng người “làm thinh, tỏ ra là họ phục, nhưng làm thinh, tỏ ra là họ không thèm nói với, thế mới đáng ghét…”

    Ông tiếp: “Tôi chẳng nói gần nói xa chi hết, tôi nói ngay rằng hạng học phiệt ấy ở nước ta chẳng bao lăm người, mà Phạm Quỳnh tiên sinh là một”. Ông lấy ví dụ về Phạm Quỳnh làm thinh đối với bài của ông Ngô Đức Kế dẫn chứng.
    Ông đứng ngoài nhận xét:

    Nói có vong linh Ngô Tiên sinh! Không biết làm sao mà ông này có ác cảm với Phạm quân quá. Hồi đó tôi ở Hà Nội, tôi đi lại với cả hai đằng, đầu đuôi làm sao tôi rõ hết. Vì sự tự ý đó nên trong bài “chánh học với tà thuyết” của Ngô Đức Kế có chỗ không được công bằng tuy vậy lấy đại thể cái bài mà nói, thì cách công kích như vậy là chánh đáng. Và nó là một vấn đề lớn, có quan hệ với học phong sĩ tập, dầu phải dầu chăng, cũng không có thể nào bỏ qua đặng…”

    Tiếp theo, ông cho rằng Phạm Quỳnh không nối lời, đứng về mặt làm báo thì là hay; nhưng sự im lặng ấy có ảnh hưởng không tốt về mặt học thuật vì nó tạo ra cái cảnh nguội lạnh, im lìm trong học giới. Về điểm này, ông lấy vụ độc giả “nguội lạnh” đối với 21 bài phê bình Khổng Giáo của ông đăng trong báo Thần Chung hồi cuối năm 1929 làm dẫn chứng.

    Ông nhận định:
    Nước Việt Nam sau này mà gọi được là có học thuật họa là từ nay về sau chăng. Sự đó, cái trách nhiệm ở chúng ta, là những kẻ có học mà ở vào cái thời đại văn hóa Đông Tây giao hội với nhau này…
    … Vậy thì hai bên, cái ý kiến đại để đồng nhau; có khác nhau chỉ là cái thái độ. Chúng tôi thì muốn, về sự học phải cho ngôn luận được công khai. Còn các ông, theo như cái thái độ đã vẽ ra trên kia, thì hình như muốn chuyên chế”.

    Ông Phạm Quỳnh trả lời ông Phan Khôi
    Phụ Nữ Tân Văn số 67, ngày 28/8/1930 đăng bài của ông Phạm Quỳnh: Trả lời bài cảnh cáo các nhà học phiệt của Phan Khôi tiên sinh.

    Bài này cũng đăng nguyên văn ở Nam Phong số 152, tháng 7/1930.

    Phạm Quỳnh bày tỏ: “Phan tiên sinh với tôi là chỗ quen biết cũ… Và việc là việc quan hệ lớn, không phải chỉ thiết đến một cá nhân tôi mà thiết đến cả học giới nước nhà, tất tôi phải cùng tiên sinh phân trần mấy lời, không thể để cho độc giả ngộ nhận được”.

    Ông xác định thái độ với Ngô Đức Kế:
    Ông Nghè Ngô nay là người thiên cổ rồi. Kẻ khuất người còn chuyện bao năm cũ kể ra làm gì? Nhưng Phan tiên sinh đã dở dói ra thì tôi cũng phải nối lời mà phân trần cho có lẽ: xin vong linh ông Ngô chứng giám! Họ Ngô với tôi vốn không có hiềm khích gì. Tôi thủy chung vẫn coi ông như bực đàn anh”.

    Ông phân trần với Phan Khôi:
    Truyện Kiều là một nền văn chương kiệt tác, xét Truyện Kiềuphải đứng về phương diện văn chương mà xét, nay họ Ngô lại đứng về phương diện đạo đức – mà là cái đạo đức rất hẹp hòi của phái hương nguyện – thì ra là chủ ý lập luận thiên di để có chỗ mà công kích người ta. Như vậy, thì không phải là một vấn đề học vấn văn chương gì nữa, chỉ là một vấn đề cá nhân mà thôi.” Và: “Vả lại tự ý tôi cũng không muốn tranh luận với ông, nếu đã thành ra cuộc cãi lộn, thì tất phải dùng những lời nặng tiếng nhẹ, ông một mực cho tôi là “văn sĩ lóp lép” thì tôi nể gì mà không tặng cho ông tên nọ tên kia, thành ra một cuộc đấu khẩu hàng rau hàng cá, còn có sự thể gì nữa!”.

    Ông đính chính:
    “Làm thinh là không muốn cãi lộn vô ích, chứ không phải là khinh hay sợ gì dư luận”.

    Ông minh xác thái độ chính trị:
    Chẳng biết từ nay về sau vì thời thế bắt buộc có phải thực lực ra làm chính trị hay không- đó là một nghĩa vụ, nếu phải làm thì cũng không dám từ – chứ từ trước đến nay thì sở chí sở sự không phải chuyên chú về mặt chính trị, dầu có tham dự vào chút đỉnh, cũng chỉ là tham dự một cách gián tiếp, đứng về địa vị khách quan, để làm một món khảo cứu mà thôi. Tôi vốn là nhà làm văn, nhà học vấn. Cái chủ nghĩa, tôi phụng sự bấy lâu nay, kể có trên dưới mười lăm năm trời, thật là dốc một lòng, chuyên một dạ – chính là chủ nghĩa quốc gia, nhưng chỉ mới phụng sự về phương diện văn hóa, chưa hề chuyển di sang phương diện chính trị.”

    Trong đoạn cuối, ông kết luận:
    Phải nên cùng nhau hiệp lực cố gây dựng cho nước nhà một nền “quốc học” đích đáng, không Tây mà không Nho, có cái tính cách đặc biệt, tiêu biểu được cho cái tinh thần cố hữu của nòi giống. Cái ý tưởng đó, ngày nay Phan tiên sinh mới đề xướng, mà về phần tôi chủ trương đã lâu năm rồi. Vậy ngày nay chúng ta có nên cổ động lập một hội “Chấn hưng quốc học” họp tập những người có chí học vấn trong Nam, ngoài Bắc, mỗi năm hội nghị một lần để bàn các kế hoạch nên thi hành cho nước nhà mau có một nền quốc học đích đáng không?… Thiết tưởng như thế còn hơn là cãi nhau vô ích. Phan tiên sinh nghĩ sao?”

    Sau bài Phạm Quỳnh trả lời, ông Phan Khôi có phúc đáp một bài đăng báo Phụ Nữ Tân Văn số 70 ngày 18/9/1930 nhan đề: “Về cái ý kiến lập hội “Chấn hưng quốc học” của ông Phạm Quỳnh.

    Bài của ông Huỳnh Thúc Kháng:
    Ông Huỳnh Thúc Kháng nhân đọc bài Phạm Quỳnh trả lời Phan Khôi về “học phiệt”, viết một bài đăng trên báo Tiếng Dân nhan đề: Chánh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không?(Chiêu tuyết những lời bài báng cho một nhà chí sĩ mới qua đời).

    Bài này lời lẽ rất gay gắt, đại ý biện minh, bênh vực quan điểm Ngô Đức Kế kết án Truyện Kiều và công kích thái độ của Phạm Quỳnh đối với Ngô Đức Kế.
    Ông viết: “Độc giả thử xem, một bài biện luận xác đáng rạch ròi như vậy, sao gọi là câu chuyện cá nhân, quyền lợi, mà không quan hệ đến học vấn tư tưởng? Sao gọi là lập luận thiên di (dời đi chỗ khác – PT chú)?” Như vậy mà cho là không quan hệ thì những lối trèo tường, trổ ngõ, quạt ước trăng thề, ép liễu nài hoa, cắp hương trộm ngọc kia mới là quan hệ với học vấn tư tưởng sao? Lập luận ấy mới là chánh sao?”

    Cuối cùng ông kết thúc về giá trị Truyện Kiều:
    Truyện Kiều chẳng qua là một lối văn chương mua vui mà thôi, chứ không phải là thứ sách học; mà nói cho đúng ra, Truyện Kiều là một thứ dâm thơ, rõ không ích mà có hại”.

    Và: “Hiện xã hội ta ngày nay diễn ra những tuồng thương phong bại tục kia, cái giống độc con đĩ Kiều gieo vào tư tưởng không phải là ít”.

    Phạm Quỳnh im lặng không bắt lời. Điểm này cũng tỏ rằng không có một cuộc “tranh luận” giữa Phạm Quỳnh –Huỳnh Thúc Kháng. Bởi ông Huỳnh Thúc Kháng cũng chỉ đọc bài Phạm Quỳnh trả lời Phan Khôi rồi viết ý kiến của ông ra, thế thôi.

    Các nhà phê bình văn học đã nhận xét tường tận, phê phán nhiều về vụ này, nhưng tựu trung không ai dù đương thời Phạm Quỳnh hay thuộc lớp sau, nhìn nhận tính chất chính trị ẩn sau vấn đề văn học nói trên.

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •