CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 1 của 5 123 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 42

Chủ đề: Bài ca không quên

Xem kiểu ghép

  1. #1
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết

    Bài ca không quên

    Nhân dịp ngày phụ nữ VN, cũng nhân VTV2 phát chương trình "Dấu ấn tuổi xuân", xin gửi anh em một bài



    NỖI BUỒN MÀU DA CAM



    Tin bà Thảo được hưởng trợ cấp phơi nhiễm chất độc màu da cam lan nhanh hơn tốc độ âm thanh. Hôm kia, bà vừa ở huyện về, dựng cái xe đạp cà khổ ở hiên nhà, giở vội cái quyết định hưởng trợ cấp với tiền truy lĩnh tháng trước ra, đọc đi đọc lại, cứ ngỡ trong mơ, rồi bà cất biến vào tủ khóa lại.

    Từ nay bà đổi đời rồi. Mỗi tháng được gần hai triệu chứ có ít đâu? Làm ruộng cả tháng cũng chẳng được đến thế. Bà tính: 500 gửi tiết kiệm phòng lúc nhỡ nhàng này. 500 nghin đồng đong luôn ba yến gạo cho chắc ăn. Còn lại bà mua thêm thuốc thang tẩm bổ, lo tiền hiếu hỷ quanh năm.. Cứ tạm tính thế. Bà thấy người cứ lâng lâng, nhẹ nhõm làm sao. Thật cũng bõ công những năm tháng vất vả ở một cung đường đông Trường Sơn ác liệt năm nào. Những trận bom như cơm bữa, những cơn sốt rét rụng gần hết tóc. Mùa mưa, quần áo lúc nào cũng ướt át hôi hám. Những ngày đến tháng thật khốn khổ. Ghẻ lở, hắc lào, đứa nào đứa ấy trông như hoa gấm. Rồi hy sinh mất mát. Chính bà đã chôn cất bao đồng đội. Giờ đây tuổi già bệnh tật, chẳng biết ai còn ai mất. Nghe nói, cái Hường cái Thúy chẳng chồng con gì, cứ quanh năm đi lại sớm khuya một mình. Bà còn may mắn gấp vạn chúng nó, chồng con đàng hoàng. Mà dạo ấy, bom đạn đã đành, nhưng khổ nhất vẫn là thiếu thốn tình cảm. Cả một trung đội Thanh Niên xung Phong chẳng có một mống đàn ông nào. Thỉnh thoảng một vài đoàn quân đi qua, đêm đêm những chiếc xe bịt bùng vượt ngầm dưới ánh chập chờn của pháo sáng, của lửa cháy rần rật bên cánh rừng vì bom tọa độ. Chỉ nghe thấy tiếng đàn ông chứ có mấy khi nhìn thấy mặt. Mà sao tiếng đàn ông nghe trầm hùng và ấm áp thế. Những lúc ấy cả trung đội như hóa rồ, cười nói giòn tan . Mệt mỏi và bom đạn biến đi đâu hết. Cũng có mấy mối tình đơm hoa với mấy chàng lái xe ngổ ngáo nhưng chẳng bao giờ kết trái. Những chiếc xe cứ lầm lũi chui vào màn đêm rồi mất hút. Những ngày dài khắc khoải đợi chờ. Những đêm mưa rừng, lạnh lẽo, nằm ôm nhau đứa khóc, đứa cười chẳng hiểu ra làm sao cả.

    Mươi năm nay bà Thảo bị bệnh tiểu đường hành hạ. Ban đầu bà chỉ thấy khát nước . Càng uống càng khát, người cứ rộc đi, mệt chẳng buồn cầm cái chổi. May có cái thẻ bảo hiểm, đi khám, họ bảo bà bị rối loạn chuyển hóa đường huyết, khuyên bà không nên ăn nhiều. Bệnh này là bệnh của nhà giàu. Khốn nạn, bà có giàu có và tham ăn tục uống gì cho cam. Nghe cô bác sĩ đáng tuổi con bà nói như dạy trẻ bà lộn cả ruột. Bệnh này không chữa được, sống chung thân với nó, thuốc thang đều đặn, nếu không, bị biến chứng, rụng chân, mù mắt, tắc tim đột quị vv. Nghe mà rợn hết cả người.

    Nhưng trong cái rủi lại có cái may. Đúng là “ Tái Ông thất Mã”, họa phúc biết về đâu? Đùng một cái, bệnh tiểu đường được liệt vào hơn chục căn bệnh do bị phơi nhiễm chất độc hóa học trong chiến tranh.

    Bà Thảo cậy cục đủ mối quan hệ, quà cáp, làm hồ sơ xin hưởng trợ cấp chất độc màu da cam, nộp lên xã, huyện rồi thành phố. Đắng đẵng hơn hai năm trời, đi lại không đếm được bao nhiêu lần. Riêng tiền thử máu cũng dễ đến mấy tạ thóc. Cũng may, cuối cùng giời cũng thương tình…

    Cũng lạ, sao cả làng biết tin nhanh thế. Có lẽ tại con Thơm ruột để ngoài da, chắc lại khoe với mấy đứa cùng sinh họat thanh niên đây. Về bà cho một trận. Mà cái làng này cũng thật đáng ghét. Toàn rỗi hơi. Bất kể nhà ai có chuyện gì, chó chết, gà toi, hôm trước chưa đến hôm sau người già con trẻ đã biết cả.

    Ôi! Chỉ tại mấy cái quán đầu làng thôi. Từ hồi rộ lên phong trào bán đất, vùng ven đô quê bà thay đổi nhiều quá. Những thằng choai choai tóc vàng hoe phóng xe máy bạt mạng trên đường. Quán xá mọc lên như nấm. Đâu cũng thấy “Bia hơi Hà Nội”. Lũ đàn ông lười nhác ngồi cả ngày, mặt đỏ phừng phừng miệng nói oang oang. Ông nào cũng như đại gia. Tiêu hết tiền bán đất rồi thì ăn cám. Mà bia Hà Nội gì chứ, sáng nào bà chả thấy mấy thằng chở bia từ Phủ Lỗ xuôi về. Lại còn mấy cái quán gội đàu , Ka ra kê kê gì đó ầm ĩ cả làng. Gội đầu gì. Đầu thì ít mà đít thì nhiều. Đám đàn ông cứ thập thò trước cửa hàng có mấy con bé mắt xanh mỏ đỏ như từ trên trời rơi xuống vậy.

    Tự dưng thấy bực mình, bà Thảo lững thững ra cái quán chè xanh còn lại duy nhất đầu làng làm một cốc cho hạ hỏa. Đi ngang qua mấy cái quán, bà nghe thấy tiếng gọi ơi ới, ngoảnh lại. Thì ra con mẹ Phấn bán tạp hóa. Ngày thường có nhỡ nhàng, bà mua chịu chai dầu lạng muối, mặt mụ nhăn như khỉ. Hôm nay sao lại đon đả thế.

    - Bà Thảo ơi, không mở hàng cho em chút gì à…

    - Không dám, sợ dữ vía bà lại trách
    Bà Thảo đáp lại giọng mát mẻ.

    - Gớm, có tiền rồi có khác, chẳng thèm nhìn mặt ai

    Mụ Phấn cố với thêm một câu.

    Thế có lộn ruột không? Hơn triệu bạc chứ có nhiều nhặn gì mà vênh mặt với ai. Chẳng buồn đáp lại bà Thảo bước vội.

    Lão Dần bán bia thò đầu ra nhăn nhở:

    - Bà chị vào làm một vại cho mát ruột. Bom mới đấy, có tiền tiết kiệm làm gì, không khéo anh nhà lại mang đi gội đầu hết.

    Nói xong hắn cười hềnh hệch rất thô bỉ.

    Ngữ ấy nói làm gì cho phí lời, bà ngồi xuống cái ghế băng quán trà xanh. Cụ Thanh “Điếc” ngồi bán nước dưới gốc bàng này có đén nửa thế kỷ rồi. Từ hồi bà Thảo còn cắp sách đến trường. Giờ bà Thanh đã thành cụ già nhăn nheo, răng rụng gần hết, đã thế còn nghiện trầu. Lúc nào cụ cũng có cái cối đồng con con, luôn tay ngoáy ngoáy.

    Thấy bà Thảo cụ nói oang oang, gớm răng còn vài chiếc mà sao nói khỏe thế:

    - Nghe nói chị được hưởng trợ cấp, mấy triệu một tháng sống hết đời. Sướng thế?

    - Có hơn triệu thôi cụ ạ, người ta cứ vống lên thế.
    Bà Thảo đáp lại.

    - Thôi cũng mừng cho chị, khối người cũng hết thời son trẻ ở chiến trường mà có được đồng nào đâu?

    - Cũng còn phải căn cứ vào ché độ chính sách cụ ạ.

    Bà Thảo đáp lại.

    Đưa cốc nước chè xanh nghi ngút khói cho bà Thảo, cụ Thanh lại tiếp lời:

    - Nhưng tôi hỏi khí không phải, nghe nói cái chất độc ấy ảnh hưởng đến đời con đời cháu phải không?

    Bà Thảo giẫy nẩy:

    - Ấy chết, ai bảo cụ thế. Tôi chỉ bị tiểu đường không ảnh hưởng gì đến con cháu cả.

    Cụ Thanh lại nói:

    - Không ảnh hường gì sao người ta cho chị nhiều tiền thế. Mà tôi có biết đâu, nghe thằng Dự con lão Dần bảo thế. Nó bảo con cái sau này đẻ ra mắt to như ốc nhồi, miệng dãi dớt, đầu như cái ấm giỏ ủ chè. Chính vì thế mà nó không yêu cô Thơm nhà chị nữa..

    Bà Thảo ức nghẹn tới cổ. Thằng mất dậy. Từ hồi bố nó bán mảnh đất ra mở quán bia, nó cứ nhông nhông chẳng làm ăn gì. Nghe nói còn ăn trộm cả tiền của bố nó đánh bạc hết. Đã thế còn suốt ngaỳ chui vào cái quán gội đầu. Con Thơm nhà bà sợ quá cắt đứt quan hệ . Thế mà nó lại còn dám dựng đứng dựng ngược lên như vậy. Bà phải làm cho ra nhẽ. Bực quá bà đứng dậy ra về. Tý nữa thì quên cả trả tiền cốc chè tươi.

    Về đến nhà, bà nghe tiếng con Thơm đang thút thít trong buồng. Thấy bà, nó càng khóc to hơn. Bà Thảo chẳng hiểu chuyện gì. Nó chạy ra vừa nói vừa khóc :

    - Mẹ trả ngay cái sổ trợ cấp chất độc da cam cho huyện đi. Thế này thì con chết mất, cả làng cả xã họ bảo con sẽ đẻ ra quái thai. Còn ai dám lấy con nữa.

    Ôi tưởng chuyện gì, bà mắng con:

    - Mày ngu lắm. Da cam cũng có dăm bẩy dường. Mẹ mày chỉ bị tiểu đường tuyp II, y bạ ghi rõ rành rành đây này, làm sao mà quái thai được.

    - Con lạy mẹ, làm sao mà mẹ đi giải thích cho cả làng cả tổng được. Cái thằng Dự mất dậy đi đâu nó cũng bô bô: “ Bỏ của chạy người, rồi tý nữa thì bị lừa”.

    Con Thơm tức tưởi

    Đến nước này thì bà Thảo không chịu nổi nữa. Bà cầm cuốn sổ y bạ chạy đến quán bia nhà lão Dần.

    Thằng Dự đang khua tay múa chân với một lũ bạn cùng phường ngưu, mã. Trông thấy bà nó im bặt.

    Bà chỉ vào mặt nó chửi:

    - Đồ khốn nạn. Không ăn được thì đạp đổ. Mày vu oan giáng họa gì nhà bà. Mày đọc cuốn y bạ này xem bà bị bệnh gì nào…

    Thằng Dự vênh mặt lên:

    - Tôi việc chó gì phải đọc. Bà bị bệnh gì thì bà biết. Tôi chỉ biết khoa học người ta bảo thế.
    - Khoa cái mả mẹ may, câm mồm đi

    Điên tiết xông vào nó bà gào lên. Những người hiếu kỳ xúm lại can ngăn.

    Bà Thảo chìa cuốn sổ y bạ ra trước mọi người :

    - Bà con xem này, tiểu đường tuyp II .

    Những khuôn mặt mụ mị vì bia cứ ngơ ngác, chẳng hiểu cái gì. Thôi thừa hơi mà nói với chúng. Quay lại thằng Dự bà đe:

    - Con bà có trắc trở gì thì bà không để yên cho mày đâu.

    Bà quay về. Không khí trong nhà nặng nề như có tang. Chẳng ai nói với ai câu gì. Thế có bực mình không, người nhà còn vậy thì biết nói với ai bây giờ.

    Từ đấy hễ có việc phải qua mấy cái quán đầu làng, bà Thảo cứ thấy ngài ngại. Người ta đang chuyện trò rôm rả, tay chỉ trỏ. Hình như họ đang nói chuyện về bà về chất độc màu da cam ảnh hưởng đến cả đời chắt chít…

    Đi đâu bà Thảo cũng mang theo cuốn sổ y bạ. Hễ có dịp là bà lại giải thich cho người gặp bất chợt trên đường về căn bệnh đái đường. Họ kiên nhẫn nghe bà nói. Nghe vậy thôi chứ họ có hiểu gì đâu. Mà không ảnh hưởng gì thì sao chính phủ lai cho bà ấy nhiều tiền thế ?

    Một sớm, con Thơm khăn gói rời nhà ra đi. Nó bảo vào Bình Dương xin việc…Ở ngoài này thì chết già mất. Ai còn dám lấy nó nữa kia chứ.

    Bà Thảo buồn lắm. Chiều chiều người ta lại thấy bà ra hàng chè xanh dưới gốc cây bàng, tay lúc nào cũng cầm cái túi trong có cuốn sổ y bạ.

    Bà ngồi thế, dễ đếm gần năm nay, từ khi cành bàng khẳng khiu nhú những chiếc búp xanh biêng biếc. Cho đến lúc, những chiếc lá ngả sang mầu da cam, ưỡn ẹo rời cành gieo mình trong gió sớm báo hiệu mùa thu về, mang theo một nỗi buồn man mác, nỗi buồn màu da cam.


    Ngày 20, tháng 10 năm 2012
    Nhữ Nguyên

    namquanluc's Avatar

    namquanluc

     21:41, 30th Nov 2012 #12527 

    Đúng là không có nổi đau nào giống nổi đau nào ! Đọc bài của bác cái đau trong em tuy âm ỉ nhưng không kém phần dữ dội.

    BinhBet's Avatar

    BinhBet

     16:43, 8th Nov 2012 #11868 

    ông bạn vong niên của em thì vội vã quá nên nhà giai họ biết và mang trả lễ . Con gái để lại vài câu "ba ham tiền đến thế cơ à" rồi bỏ đi mấy năm nay

    No Avatar

    Phong Quang

     06:14, 22nd Oct 2012 #11191 

    Đơn vị tôi có ông chờ con cái lấy chồng, lấy vợ xong mới dám làm, được hơn năm thi chết, Khổ thế !

    Trungsy1's Avatar

    Trungsy1

     17:35, 21st Oct 2012 #11175 

    Chúc mừng bác gia nhập diễn đàn!


    Sửa lần cuối bởi Nhữnguyên; 21-10-2012 lúc 03:18 PM.

  2. Có 4 người thích bài viết này


  3. #2
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết
    Thịt là “nhục”

    Sau công cuộc cải tạo tư thương của chính phủ, gia đình tôi rơi vào cảnh bần hàn. Cha mẹ tôi đều tần tảo chiụ khó, vậy mà không sao xoay xở đủ cho mười cái “tầu há mồm” đang tuổi ăn tuổi lớn. Bữa cơm thường rất đạm bạc, thức ăn đa phần là thực vật. Thỉnh thoảng cũng có vài miếng thịt mỏng ghé qua cái mâm đồng lúc nào cũng bóng loáng với bộ bát đĩa có hình mấy cô tiên bằng sứ của Nhật rất đẹp. Những lúc ấy, chúng tôi sáng cả mắt. Nhưng “tiểu đội anh em” chúng tôi kỷ luật lắm. Loáng một cái, ông anh cả đã chia bình quân mỗi người được mấy miếng. Nếu có số lẻ, ưu tiên từ em út trở lên. Cứ thế mà thực hiện. Tôi phục sát đất phép tính nhẩm của anh, chả trách anh luôn là một học sinh giỏi toán.

    Để lấp phần nào khoảng thiếu thịt trong dạ dày của chúng tôi, cha tôi thường cho tráng miệng thêm một món ăn tinh thần. Người nói:

    - Các con có biết không? Thịt chữ nho là “nhục “ . Các cụ ngày xưa thâm thúy lắm. Miếng thịt là miếng “nhục”, các con phải biết tự trọng, không thèm.

    Tôi còn bé lắm, chưa hiểu hết sự thâm thúy của các cụ, cho nên hễ bữa cơm có miếng “nhục” là không sao kiềm chế nổi sự hân hoan.

    Cứ tưởng miếng “nhục” ấy chỉ ám ảnh tôi trong những năm thơ ấu, nhưng không phải vậy. Lớn lên, đất nước trong hoàn cảnh chiến tranh thiếu thốn, đi sơ tán, vào đại học, rồi đi bộ đội, miếng “nhục” vẫn hành hạ trong tâm trí của cả một thế hệ.

    Hồi còn huấn luyện tân binh ngoài Bắc, bữa cơm thường có thịt nhưng quá ít. Anh nuôi chia đại khái theo mâm. Tiểu đội trưởng của tôi không có kỹ năng như anh trai tôi, thành thử bao giờ cũng có những chiến sĩ chịu hy sinh quyền lợi trước anh em. Tuy thế, chúng tôi đa phần đều có học, thừa lịch sự. Người nọ thường chờ người kia hạ đũa, trước khi đến lượt mình. Bữa ăn dềnh dang, người này đi một nước, người kia đi một nước như đánh cờ, rất mệt. Tôi lĩnh hội sâu sắc bài học của cha thời thơ ấu, thành thử thường chịu thua thiệt trong những ván cờ ẩm thực ấy.

    Nhưng tôi ngộ ra rằng, sau những bữa ăn tươi, thường vào ngày lễ, tết, thịt dồi dào, sức khỏe được cải thiện trông thấy, tập tành khiêng vác súng đạn không biết mệt. Nếu muốn tồn tại, có sức để vượt qua rèn luyện cam go và trận mạc, không thể cứ ngồi chờ hậu cần cung cấp được chăng hay chớ. Lập tức, lính tráng cải thiện tình hình bằng tất cả vốn tự có. Khi là bộ quần áo, đổi lấy con gà, con vịt của dân. Lúc thì mò cua bắt ốc, tát cá vv thêm vào khẩu phần quá thiếu chất “nhục” . Hậu quả thái quá của tinh thần tự túc đó, tiểu đội của tôi, chẳng mấy thằng có đủ hai bộ quần áo dài tử tế.

    Dạo qua A sầu, A Lưới, chúng tôi đem một bộ quần áo rung rúc vào một bản dân tộc đổi gà.

    Rút cái tẩu chung thân phả khói khét lẹt ra khỏi miệng, một cụ già Vân Kiều nói:

    - Một bộ quần áo thơm “mùi chính phủ” lấy một gà “hết lớn”

    ( Rất khó nghe, dịch ra âm phổ thông là như vậy)

    Ông ta ngửi ngửi bộ quần áo, chê cũ, lắc đầu. Vô cùng thất vọng, tôi cố giải thích rằng áo quần để trong balo lâu ngày, ẩm mốc nên hết “mùi chính phủ”.

    Sau một hồi thuyết phục, chúng tôi cũng đem được về một con gà “hết lớn” cỡ nửa cân.

    Năm 1972, đánh nhau ở Quảng Trị, hậu cần càng khó khăn. Suất ăn của mỗi chiến sĩ chỉ một nắm cơm với chút muối rang. Cứ thế này, không chết vì bom đạn cũng kiệt sức mất. Ngoài nhiệm vụ giữ chốt, lúc yên một chút, anh em lại đi kiếm ăn. Một lần sục sạo, chúng tôi phát hiện ra xác của hai người lính Cộng Hòa đang bị phân hủy, xú khí nồng nặc nằm trước cửa một căn hầm. Dứt khoát trong hầm phải có thứ gì đó. Nhắm mắt bịt mũi, chúng tôi lôi hai cái xác sang một bên chui vào. Đúng là một mỏ vàng. Hai ba lô hơn chục hộp thịt.

    Đêm ấy cậu liên lạc mò ra chốt thấy tiểu đội đang “liên hoan”, tròn xoe mắt. Được thể một cậu bốc phét:

    - Đêm qua chúng tao mò sang chốt của địch, lấy được hai ba lô thịt hộp đem về.

    Hôm sau, tham mưu tiểu đoàn ra lệnh cho chúng tôi về báo cáo vị trí bố phòng của địch vì nghe nói chúng tôi đã vượt qua được chiến tuyến. Sợ quá, đành phải thú thật.

    Năm 1973, sau Hiệp định Hòa bình Pa-ri, đơn vị giữ chốt giáp ranh ven biển Quảng Trị, sau những ngày biển động, nước rút ra xa, để lại ven biển những vũng nước trong vắt có rất nhiều cua cá. Chúng tôi thỏa sức bắt. Mùa moi đỏ rực một vạt mặt nước biển. Ngư dân giăng lưới đánh bắt cá nục vào ăn moi. Cá vun từng đống ven bờ, anh em mang bao cát ra xin, đem về luộc phơi khô ăn dần. Dinh dưỡng đầy đủ, lính tráng rất khỏe mạnh.

    Mùa mưa bão, nước mênh mang, chuột chạy từng đàn lên những cồn cát nhỏ ẩn náu. Tiểu đội cử hai chiến sĩ đi săn. Chỉ một hai tiếng, anh em đã khiêng về cả bao tải chuột. Những con chuột ăn xác thối to khủng khiếp.

    Giữa năm 1974 về Gia Độ, thiếu chất đốt trầm trọng, đơn vị cử 4 chiến sĩ lên miền tây khai thác củi. Tin dữ bay về, hai chiến sĩ bị thiệt mạng vì đánh cá bằng thuốc nổ, dùng nhầm kíp nổ tức thì. Quân pháp về đại đội làm việc mấy ngày trời. Miếng thịt miếng cá quả là miếng nhục.

    Cuối năm ấy chúng tôi chuyển lên miền tây Quảng Trị. Lán của trung đội dựng trên đồi. Một buổi sớm, thấy nhốn nháo dưới chân đồi, không hiểu chuyện gì, hai lính phi xuống. Thì ra có một con trăn khổng lồ bị Phùng đánh một gậy đang cố trườn vào đám cỏ tranh. Thằng Bình sợ mất miếng mồi ngon nhảy sổ vào chộp lấy cái cổ con trăn cố vác lên vai, thằng Tân đỡ phần đuôi. Hai đứa phóng thẳng về tiểu đội trước bao con mắt thán phục xen lẫn tiếc nuối của đội bạn. Trông thằng Bình chẳng khác gì chàng Thạch Sanh dũng mãnh trong truyện cổ tích. Có khác chăng chỉ ở mục đích của hành động dũng cảm ấy. Con mãng xà lập tức được xả thịt đựng đầy hai nồi quân dụng. Còn cái mật, không biết nghe ai bảo bổ lắm, thằng Sơn cho ngay vào mồm nuốt chửng.

    Không biết có bổ thật hay không mà mặt nó lúc nào cũng đỏ phừng phừng. Đến nay, bản thành tích sức khỏe của nó ghi nhận, chính thức qua ba đời vợ, thêm nếm không kể. Vợ nó thường đóng vai thợ săn trên đường phố ...

    Chiến dịch Xuân Hè năm 1975, đang đánh nhau ở Phú Lộc, Thừa Thiên Huế, trên cao điểm, xác một chú cẩu dính đạn nằm chềnh ềnh. Tiểu đội vừa khống chế địch dưới đường vừa xả thịt chó rang vội vàng. Nhiệm vụ nào cũng quan trọng như nhau. Lâu lắm chẳng được miếng “nhục” nào, anh em oải lắm, không biết có tới được Sài Gòn không?

    Mấy chục năm rồi, chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng. Người dân được tự do kinh doanh, đất nước nhanh chóng đổi thay. Nhất là ở thành thị. Miếng “nhục” không còn là nỗi ám ảnh của cả một thế hệ. Nhưng trớ trêu thay, nó lại sang một trạng thái đối lập: Khủng hoảng thừa. Tiệc tùng liên miên, ăn uống vô độ. Nhiều người cứ phát phì ra, kéo theo cả hàng toa tầu bệnh tật.

    Cha tôi đã khuất núi từ lâu. Thỉnh thoảng tôi lại về quê, thắp cho ông mấy nén hương. Đứng trước mộ, tôi lại nhớ đến món ăn tinh thần của người ngày nào. Cha nói đúng : “ Miếng thịt là miếng nhục”, thời nào cũng vậy, ngay cả trong chiến tranh, khốn khó cũng như lúc no đủ, hòa bình.

    Tháng 9 năm 2012
    Như Thìn

    BinhBet's Avatar

    BinhBet

     16:32, 8th Nov 2012 #11867 

    Lại thêm 1 ông bác cánh Quảng Trị vào kể chuyện quá hay. Chúc bác cố gắng đều đều cho chúng em nghe

    baoleo's Avatar

    baoleo

     15:08, 8th Nov 2012 #11864 

    Bác Nhữnguyen có phải là bác Như Thìn ko đấy. Chào bác nhé. À, cái thuật ngữ "thơm mùi chính phủ", baoleo em tưởng chỉ còn mỗi em dùng, hoá ra, hôm nay lại thấy trong bài văn của bác. Hi hi


    Sửa lần cuối bởi Nhữnguyên; 08-11-2012 lúc 04:47 PM.

  4. Có 6 người thích bài viết này


  5. #3
    Ngày tham gia
    29-09-2010
    Bài viết
    231
    Thích
    37
    Đã được thích 114 lần trong 48 bài viết
    Chuyện của bác làm em nhớ về một thời, nhưng khi đọc những dòng đầu tiên về cái " tiểu đội " ở nhà bác thì em nhớ thằng em đồng hao, nó kể thời bao cấp nhà nó ăn cơm chỉ có lạc rang muối, ông già lệnh chỉ được dùng đũa gắp lạc, cấm dùng thìa.

    baoleo's Avatar

    baoleo

     09:49, 9th Nov 2012 #11873 

    Em nhớ là muối nó bọc ngoàii viên lạc, dầy như mứt lạc trứng chim ngày Tết. Hụ hụ



  6. Có 2 người thích bài viết này


  7. #4
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,509
    Thích
    470
    Đã được thích 1,296 lần trong 560 bài viết
    "Nó và Tôi" của tg Như Thìn trước lư hương thành Cổ

    Dậm chân tại chỗ....Dậm !
    <marquee direction="left" scrolldelay="0"></marquee>

  8. #5
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết
    Hôm trước tôi nghe được bạn Phongquang yêu cầu bảo tàng chiến tích Thành Cổ phải để sách của tôi ở vị trí dễ nhìn của tủ sách, chưa kịp cám ơn. Hôm nay lại được bạn Trungsy 1 cho xem bức ảnh này tôi xúc động rới nước mắt, không biết nói gì hơn, thật cám ơn các bạn rất nhiều. Các bạn giúp tôi được thoả nguyện. NT

  9. #6
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết
    Thêm đôi điều về bài “ Thịt là nhục”


    Tôi đưa chuyện một miếng thịt có vẻ nhỏ mọn tầm thường, nhưng nó là một vấn đề xã hội không nhỏ kéo dài trong thời kỳ khốn khó của đất nước. Nó hành hạ mọi tầng lớp, từ những người lao động chân tay thấp kém, bộ đội chúng ta đến cả những người có địa vị cao trong xã hội như các vị giáo sư đáng kính. Xin trích một đoạn đối thoại giữa hai giáo sư Hoàng Xuân Nhị và giáo sư Ngụy Như Kontum( thày Tum làm hiệu trưởng trường ĐHTH suốt 25 năm, năm 1982 nghỉ hưu) trong bài : “Thày hiệu trưởng của tôi”, của anh bạn tôi Phạm Thành Hưng, nguyên sinh viên K15 ngữ văn, nguyên lính chiến QT 1972:

    “…Một lát sau đôi bạn già tiễn nhau ra cửa. Thày Tum bảo bạn:
    - Về hưu rồi, tôi đói lắm anh ạ.
    - Anh nói gì nghe kỳ vậy. – Thày Nhị ngạc nhiên.
    Thày Tum trả lời nho nhỏ tôi nghe rất rõ.
    - Tất nhiên không phải là đói gạo mà là đói, đói…đạm ấy. Lúc làm hiệu trưởng hay được anh em mời dự tiệc. Nay về hưu ít tiệc lắm, sống chỉ bằng lương hưu, người lúc nào cũng hao háo thèm đủ thứ.
    Tôi nghe thày nói mà sống mũi cay cay, thương thày quá đỗi…Nếu thày không nghe nhà bác học J Curie khuyên thày về nước, thì chắc chắn ở Pa-ri nhà vật lý Việt kiều yêu nước sẽ không biết phát âm chữ “đói” nghe nặng lòng đến vậy…”.

    Cũng vào những năm ấy, Phạm Thành Hưng, Nguyễn Bá Thành, hai giáo viên của trường ĐHTH đói quá bèn đèo nhau bằng xe đạp đi lĩnh giải thưởng của P T Hưng do báo Văn nghệ QĐ tặng, nhân một cuộc thi viết. Dự tính bán đi chén một bữa.

    Đèo nhau đến phố Lý Nam Đế, nhận giải, hai thày lén lút ra góc phố mở tặng phẩm. Hóa ra là tượng Bác Hồ. Đành nhịn đói quay về. Đi hai lại về ba vì đèo thêm cả Bác…N B Thành trút giận lên cái xe thỉnh thoảng lại tuột xích…

    Chuyện trên được kể trong bài “Giải thưởng đầu tiên” của Phạm Thành Hưng đăng trên báo Văn Nghệ số 39-2009.

    Đúng là cười ra nước mắt!

    Cả hai nay đều là phó giáo sư, tiến sĩ công tác tại trường ĐHQG Hà Nội.

    No Avatar

    huuthanh

     18:49, 11th Nov 2012 #11910 

    Thời tôi (K14) và anh PT.Hưng thì đúng thầy NNK.Tum là hiệu trưởng. Phải có "thời" mới nói là "ai" được chứ f2 ui.

    No Avatar

    dongdoi_f2

     18:22, 11th Nov 2012 #11909 

    Có lẽ là GS Hoàng Xuân Nhị là Hiệu trưởng trường ĐHTH HN


    Sửa lần cuối bởi Nhữnguyên; 12-11-2012 lúc 07:45 AM.

  10. Có 3 người thích bài viết này


  11. #7
    Xin tu xoa Guest


    huuthanh

    3 Giờ trước #11910 Thời tôi (K14) và anh PT.Hưng thì đúng thầy NNK.Tum là hiệu trưởng. Phải có "thời" mới nói là "ai" được chứ f2 ui.





    dongdoi_f2

    3 Giờ trước #11909 Có lẽ là GS Hoàng Xuân Nhị là Hiệu trưởng trường ĐHTH HN




    Cháu hiểu ý bác F2 là thầy hiệu trưởng Nhị họ Hoàng, không phải họ Lương.

    No Avatar

    huuthanh

     22:54, 11th Nov 2012 #11922 

    À ra thế



  12. #8
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết
    Cám ơn các bạn đã sửa cho. Già rồi cũng hay nhầm đúng là giáo sư Hoàng Xuân Nhị. Chết thật trò quên cả tên thày. Từ hồi bị bệnh tật "đơ" nửa người, đôi khi đầu cũng hơi đơ luôn.

    No Avatar

    ONGBOM-K5

     10:18, 12th Nov 2012 #11929 

    bác Thìn cứ yên tâm, gặp các đàn em cỡ như dongdoi_f2 thì hắn soi sợi tóc chẻ 10



  13. #9
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết
    KỶ NIỆM 40 NĂM TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG THÁNG
    12/1972 – 12/2012



    Sở thú” Hà nội


    Vào những năm chống chiến tranh phá hoại cuả không quân Mỹ ở miền Bắc, nhà tù Hỏa Lò Hà Nội được chọn làm nơi giam giữ phi công Mỹ bị bắt làm tù binh. Các phi công tù binh hài hước gọi là “khách sạn Hilton”. Nhưng ở Hà Nội còn hai nơi giam giữ phi công Mỹ nữa mà ít người biết đến. Một ở số nhà 17 phố “nhà binh” Lý Nam Đế, phi công Mỹ đặt biệt danh :“Đồn điền”. Địa điểm thứ hai ở 73 Nguyễn Trãi, trong khuôn viên của Quốc doanh Phát hành phim và Chiếu bóng Trung ương, gọi tắt là Fafim, nay là Công ty Xuất nhập khẩu và Phát hành phim Việt Nam. Chẳng hiểu lý do gì, tù binh giặc lái gọi là “Sở Thú”.

    Năm 1980, tôi được phân công về làm việc tại phòng biên tập tuyên truyền Công ty Fafim Việt Nam. Kế bên là phòng biên dịch, nơi đạo diễn Đặng Nhật Minh có một thời từng làm việc. Lần đầu tiên đến cơ quan, tôi không khỏi ngỡ ngàng, trong bốn quận nội thành chật hẹp mà vẫn có một “công viên mini” đẹp đến thế. Một không gian rộng tới vài nghìn mét vuông, cây cối um tùm. Những cây xà cừ cổ thụ hai người ôm không xuể, tỏa bóng mát khắp sân vườn. Ở giữa khuôn viên, một chiếc bể hình chữ nhật, được xây chìm theo kiểu bể bơi khá rộng, dài. Xung quanh bể là vườn hoa, cây cảnh. Đan xen, thấp thoáng với những cây ăn quả, hồng xiêm, vú sữa vv, được chăm sóc rất cẩn thận.

    Phòng làm việc là những dãy nhà cấp bốn xếp theo hình chữ nhật ở vòng ngoài. Bên hiên nhà, những dãy nhãn thẳng tắp, quả trĩu cành. Phía đông và nam của khuôn viên là Xí nghiệp bánh mì và Nhà hát múa rối Trung ương nằm trên đường Tàu Bay (Nay là đường Trường Chinh), bị tách biệt với Fafim bởi hai cái ao rất rộng và những bờ tường cao ken kín thép gai. Nhưng ngạc nhiên hơn cả là những tháp canh đứng sừng sững, phá vỡ sự thanh bình vốn có của một công viên .

    Bước vào phòng làm việc, đập vào mắt là hai cánh cửa, phía trước và sau, được ghép bằng những tấm gỗ dày, nặng nề đu mình trên nhưng chiếc bản lề ngoại cỡ. Trên mỗi cánh cửa có một lỗ vuông như kiểu trại giam. Thật lạ!

    Đem thắc mắc hỏi các đồng nghiệp lớn tuổi. Họ nói:


    • Cậu mới về không biết, cơ quan trước đây đã từng được trưng dụng làm trại giam phi công Mỹ trong chiến tranh.


    Ngạc nhiên thật. Một cơ quan văn hóa bỗng chốc thành nhà tù và rồi từ nhà tù lại trở về cơ quan văn hóa mà chẳng cần thay đổi công năng cả về xây dựng lẫn tổng quan kiến trúc.

    Chả trách, sau khi bình thường hóa quan hệ Việt –Mỹ, nhân một chuyến công tác, cục trưởng cục điện ảnh Nguyễn Thụ tới Ha-oai, trước diễn đàn ông phát biểu: “ Trụ sở của ngành phát hành phim Việt Nam chính là trại giam phi công Mỹ trước kia và nay vẫn nguyên vẹn như xưa ”. Cả hội trường ồ lên kinh ngạc. Ta còn thấy lạ nữa là Tây.

    Có lẽ duy chỉ có mấy cái nhà vệ sinh được thay đổi. Một cái ngay đầu hồi phòng làm việc của tôi. Nó được một họa sĩ biến thành cái xưởng vẽ Apphich quảng cáo, nhưng giữa phòng, vẫn còn một chiếc bệt vô duyên ngoan cố không chịu di dời. Cho dù, vị họa sĩ nọ đã khéo léo giấu nó dưới gầm bàn. Thời gian sau, ông chuyển công tác, tôi tiếp quản cái xưởng vẽ đó. Thật là tiện, một mình đọc sách, học ngoại ngữ, ăn trưa và sáng tác. Tha hồ bay bổng chữ nghĩa trong không gian chật hẹp đó. Mỗi tháng định mức một bài giới thiệu phê bình phim. Gần mười năm, ngót trăm bài từ cái toilet ấy mà ra. Bây giờ đọc lại vẫn thấy “được”. Còn hơn khối bài của các bạn trẻ ngồi phòng máy lạnh đương thời.

    Nhiều lúc tôi cứ lăn tăn tự hỏi, không biết vì sao ta lại chọn nơi này để giam giữ phi công. Nó rất gần bộ não của quân chủng phòng không không quân, đặt ngay sát sân bay Bạch Mai, dọc đường Tàu Bay. Phải chăng ta muốn không quân Mỹ mỗi lần định oanh kích vào căn cứ quân sự ấy không dám vội vàng. Vào những năm 1966-1967 khi không quân Mỹ tập trung đánh cầu Long Biên, tôi đã thấy các phi công tù binh được huy động ra đầu cầu đào tăng-xê. Mặc dù bị một chiến sĩ mang quân hàm xanh đuổi, tôi vẫn cố nán lại xem viên phi cồng đang đào hầm trú ẩn bằng một chiếc xẻng cá nhân bé như chiếc thìa và vét đất bằng nắp của một chiếc ăngo lớn cỡ bàn tay. Người hắn vừa cao lại vừa to. Có lẽ phải một tháng mới xong được một cái hầm. Cũng chẳng cần vội vàng mà làm gì. Những ngày ấy bầu trời rất yên ắng.

    Một lần tha thẩn trong vườn sau dãy nhà, tôi nhặt được một chiếc còng. Ừ, có lẽ đôi khi cũng phải dùng biện pháp mạnh với lũ giặc lái này để cho chúng vào khuôn phép. Nhưng có một biện pháp nhẹ nhàng và hữu hiệu hơn mà anh hùng không quân Phạm Tuân kể, nhân một dịp rẽ qua phòng làm việc của chúng tôi. Anh bảo: “Mấy thằng giặc trời hồi giam ở đây cũng bướng lắm. Để đưa chúng vào kỷ luật cũng không dễ. Một lần, một chiến sĩ trong tổ hậu cần và cấp dưỡng hiến kế. Bọn phi công rất sợ món bí đỏ. Cứ mỗi lần thấy món bí đỏ trên bàn ăn là chúng lại rú lên. Vậy thì khi chúng “láo lếu”, ta lại liên tục phục vụ lũ con giời này món súp bí ngô”.

    Quả thật, tù binh phi công Mỹ sợ màu đỏ của món bí này chẳng kém gì màu đỏ của đạn súng phòng không. Chúng rất thông minh nên hiểu ngay vấn đề. Anh em quản giáo chẳng cần nhiều lời. Món bí đỏ chẳng khác gì cái thẻ đỏ trong môn thể thao bóng đá, anh em chỉ việc “show” ra, các “cầu thủ trên không Hoa Kỳ” biết ngay đã phạm luật.

    Chính ngài Peter Peterson, đại sứ đặc mệnh toàn quyền Hoa Kỳ đầu tiên tại CH XHCN Việt Nam sau khi hai nứơc bình thường hoá quan hệ ngoại giao, cũng đã từng bị phạt món bí đỏ ấy.

    Một lần ghé lại thăm nơi “lưu trú” khi xưa, ông vào phòng làm việc của chúng tôi, đóng cửa lại kêu: “My dear! Help me, save me please!”( Em yêu, làm ơn giúp anh, cứu anh với). Chả là hôm ấy phu nhân ngài đại sứ cũng đi cùng. Tất cả đều cười rất vui vẻ.

    Thỉnh thoảng một vài đoàn làm phim nước ngoài ghé qua cơ quan tôi, họ làm phim về tù binh phi công bị giam giữ trong chiến tranh. Lúc ấy chúng tôi tạm phải nghỉ việc mất cả buổi. Mà cũng lạ, chẳng thấy đoàn làm phim trong nước nào ghé qua. Có lẽ “Sở Thú” chẳng có ý nghĩa gì với các nghệ sĩ Việt Nam. Đáng tiếc!

    Nhờ có các cựu phi công tù binh đi cùng các đoàn làm phim Mỹ, tôi cũng biết thêm nhiều thông tin khá thú vị. Chẳng hạn như, phòng làm việc của chúng tôi, dưới nền xi măng có những vết đục thành hàng chéo đều đặn mà tôi cứ ngỡ để tăng ma sát. Hóa ra không phải. Tù binh đục để đánh dấu từng ngày bị giam giữ, khắc khoải đếm từng ngày, mong ngóng được tự do. Hay cái bể giữa khuôn viên không phải dành cho họ bơi lội, mà để phòng hỏa hoạn, Fafim trước kia còn nhiều phim cháy, phim không an toàn vv.

    Vào giữa những năm 1990, tôi được chuyển lên làm thư ký tổng giám đốc. Đang thời kỳ đổi mới rầm rộ, tổng giám đốc được điều từ miền Nam ra. Ông quyết định mở cửa cơ quan ra mặt đường số 19 Nguyễn Trãi, sẽ xây một trụ sở mới sáu tầng. Cơ quan bàn hướng kinh doanh dựa vào lợi thế đắc địa và diện tích rộng của khuôn viên. Tôi hiến cho ông một kế. Hay là biến khuôn viên thành một địa điểm du lịch lịch sử, nơi đã từng giam giữ phi công Mỹ, khối khách du lịch trong và ngoài nước hiếu kỳ tới thăm, ta mở dịch vụ có thu phí. Ông nhìn tôi đầy kinh ngạc nói: “Cậu có điên không đấy. Một khi thành di tích lịch sử cấp quốc gia, bị quản lý thì có mà mất không cả đất”. Tôi tịt ngòi. Từ hồi cận kề với tổng giám đốc đầy quyền uy, tôi mới hiến được một cái kế hay ho đến thế. Từ đấy, hễ bàn đến kinh doanh, tôi lại tránh xa như tù binh phi công Mỹ nhìn thấy canh bí đỏ.

    Cuối năm 1999, công viên mini cơ quan tôi bị phá bỏ để xây một trung tâm văn hóa, thể thao hiện đại. “Sở Thú” Hà Nội bị xóa sổ.

    Giờ đây, Trung tâm văn hóa thể thao lại được thay thế bằng một quần thể kiến trúc hoành tráng. Một tòa nhà 23 tầng sừng sững mọc lên.

    Tôi cũng đã về hưu, mỗi lần có việc đi ngang qua Ngã Tư Sở lại ngước mắt ngắm tòa nhà chọc trời. Đúng là “xây dựng hơn mười” ngày xưa. Nhưng tôi vẫn thấy tiêng tiếc và thầm so sánh. Một tòa nhà 23 tầng với một di “tích lịch sử cấp quốc gia” cái nào giá trị hơn?

    Nhưng thôi, buồn làm chi, tiếc làm chi. Đến “Khách sạn Hilton” còn bị tháp Hà Nội đè nữa là cái “Sở Thú” mấy ai biết tới này.

    Hoài cổ đến lẩn thẩn, rõ là chuyện của mấy cụ về hưu.


    Tháng 11, năm 2012
    Như Thìn




    Dưới đây là ảnh “Sở Thú” Hà Nội chụp cuối năm 1999. Phần nhiều cây đã bị chặt bỏ, ao bị lấp để xây trụ sở mới kế bên.







    No Avatar

     22:29, 30th Nov 2012 #12529 

    Ở Trung tâm văn hóa đó, có 1 rạp chiếu phim và 1 bể bơi. Em đã xem phim ở đó rồi.



  14. Có 1 người thích bài viết này


  15. #10
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Tiếp với bác Như Thìn, về một khoảng thời gian còn để trống ở Fafim: Đó là khoảng năm 1986- gần 1990, hồi đó có phong trào các văn nghệ sĩ đi "đánh thuê", hay còn gọi là đánh "Pắc" (ý nhại cụm từ lính đánh thuê Pak chung hee), bên truyền hình hay tổ chức đánh pắc là mang phim video và máy chiếu băng betamax chuyên dùng, như loạt phim về điệp viên 007 (như phim Người tình báo yêu em), còn bên Fafim hay đánh pắc là tổ chức chiếu các phim mang danh là "nghiên cứu" để kinh doanh thu tiền, phim màu màn ảnh rộng, như các phim của Hong kong, phim chưởng với diễn viên Khương Đại Vệ, Lý Tiểu Long, hoặc các phim cao bồi Mỹ có Clint Eastwood..., trong đó địa chỉ Fafim - trại tù binh Mỹ - cũng được nhiều người biết đến, vì nổi tiếng với nhiều phim nghiên cứu hay, đặc sắc như loạt phim truyện ca nhạc múa của Ấn độ, lạ món với dân Hà nội!
    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 30-11-2012 lúc 08:31 PM.

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •