CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 4 của 5 Đầu tiênĐầu tiên ... 2345 CuốiCuối
Kết quả 31 đến 40 của 42

Chủ đề: Bài ca không quên

  1. #31
    Ngày tham gia
    06-10-2010
    Bài viết
    171
    Thích
    129
    Đã được thích 65 lần trong 35 bài viết
    Theo tôi biết đây là bài thơ của tác giả Lê Bá Dương, CCB của trung đoàn 18. Bài thơ đã được ghi vào bức tranh Chiến sỹ Thành Quảng Trị mà trung đoàn tặng cho anh em nhân lần gặp mặt 26 tháng 3 năm 2011 tại Phú Thọ.

  2. #32
    Ngày tham gia
    10-10-2010
    Bài viết
    183
    Thích
    33
    Đã được thích 36 lần trong 23 bài viết
    Vâng! Tất nhiên rồi ạ! Bài thơ quá hay mà người lính nào cũng biết, có điều tác giả thì không phải ai cũng biết cho nên trên tấm bia khắc bài thơ cũng nên để lại tên tác giả



    sưu tầm trên net bức hình này chả biết thế nào ạ .


    No Avatar

    Phong Quang

     18:18, 6th Jun 2013 #19969 

    Theo đại tá giáo Xư Trần Đăng Thanh thì không phải của Lê Bá Dương mà là của anh tên Giữu Sổ Lương

    trucngon's Avatar

    trucngon

     14:38, 6th Jun 2013 #19963 

    Chính xác đấy ạ! Bác Lê Bá Dương!

    No Avatar

    Phong Quang

     12:20, 6th Jun 2013 #19959 

    Anh Dương trung đoàn 27 Quang à, tên tác giả bị xoá có lẽ người ta không muốn cho mai sau biết



  3. #33
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết
    Trăng khuyết


    Hắn ngồi thế, ngày nào cũng vậy, tay cầm con rựa mài sáng loáng, chẻ lạt, chuốt nan, đan rổ, rá. Tre cũng chẳng còn nhiều, bom đạn cày hết, chặt được cây tre bánh tẻ để đan không phải dễ. Vậy mà hễ đan được cái nào, hàng xóm thích, hắn cho luôn. Họa hoằn còn vài chiếc vợ hắn đem ra chợ bán thêm chút tiền. Mà lúc nông nhàn vậy thôi, chứ vào vụ, mấy công đất, hai vợ chồng đầu tắt mặt tối không hết việc. Chiến tranh hay hòa bình cũng thế thôi, vẫn phải sống, phải gieo trồng gặt hái. Trừ lúc ác liệt quá thì đành chịu chứ hơi yên một chút là sự sống lại nảy nở như thường.
    Ngồi đan, chăm chút từng thanh nan, hắn vẫn đưa cặp mắt sắc chẳng kém gì lưỡi dao đang cầm tay canh chừng mấy lính Giải Phóng đang đóng quân nhờ nhà hắn đã mấy tháng ni. Không canh chừng răng được. Con Sen nhà hắn 16 tuổi rồi chứ có ít đâu. Phổng phao, khuôn mặt đầy đặn, nước da trắng thừa hưởng của mạ nó. Mái tóc óng mượt chấm ngang lưng, đôi mắt như biết nói. Lính Giải Phóng nào gặp cũng phải sững lại mấy giây. Tuổi này là lớ ngớ lắm. Nhỡ xẩy ra chuyện gì thì khốn. Lính tráng thì vẫn cứ là lính tráng. Bên nào cũng vậy, thấy gái đẹp là mê tít, buông lời tán tỉnh ngay.
    Mà mấy chú lính Giải Phóng ni cũng kỳ. Trẻ măng, gặp vợ chồng hắn là chào ba, mạ rối rít như con cháu trong nhà vậy. Họ có vẻ lành quá, không bặm trợn như mấy lính Cộng Hòa, xăm trổ đầy người, nói tục, chửi thề luôn miệng. Nghe nói có đứa còn là sinh viên đại học. Sinh viên vào lính trơn kể cũng lạ. Bên Quốc Gia là đi học sĩ quan Đà Lạt ngay. Sớm muộn gì rồi cũng ra chỉ huy.
    Hắn nghĩ, những chú lính trẻ này có khi cầm bút còn thạo hơn cầm súng. Làm sao họ đấu được với đám lính Thủy Quân Lục Chiến, Trâu Điên với Thần Điểu vv, suốt năm 1972 được nhỉ. Không biết lúc xung trận nom họ ra sao? Chứ thấy họ tập tành cũng thường, nhưng làm báo tường với văn nghệ lại rất giỏi.
    Thằng Nam, cái thằng trẻ nhất tiểu đội, chữ đẹp thật. Tờ báo tường nó trang trí và viết đẹp như tranh. Chữ đều tăm tắp, nghe nói nó học năm thứ nhất hay thứ hai đại học gì đó. Giờ cầm súng, thế có hoài không?
    Thằng ấy tính tình như con gái vậy, mỗi lần gặp con Sen là mặt lại đỏ như vụng trộm cái gì, lúng ta lúng túng như gà mắc tóc. Mà con Sen nhà hắn thì tinh quái, biết vậy càng trêu tợn làm cu cậu mất tự nhiên. Đồng đội lại xúm vào thêm khiến nó chỉ còn nước chui xuống đất.
    Nghe chừng con Sen nhà hắn cũng có cảm tình với thằng Nam. Không được. Cần phải ngăn chặn ngay từ đầu. Không thể để nó yêu thằng ni được. Rồi lại cực thôi. Lính tráng nay đây mai đó. Chiến sự tạm lắng vậy chứ nhiều nơi nào đã yên tiếng súng. Cả hai bên Giải Phóng và Quốc Gia vẫn tranh thủ giành đất, kiểm soát những vị trí then chốt.
    Người ngoài trận đối mặt với sống chết đã đành, người ở hậu phương khốn khổ, không lúc nào hết nơm nớp lo âu. Hắn không muốn con Sen lại rơi vào cảnh ấy. Kinh nghiệm cho hắn biết, hòa bình năm 1973-74 chỉ là tạm thời, rồi chiến sự sẽ lại xảy ra chẳng kém gì năm Mậu Thân hay 1972 vậy. Vả lại, lính tráng vui đâu chầu đấy, tình cảm biết có thực lòng không? Tốt nhất là không để chuyện gì xảy ra. Có lần hắn dằn mặt con Sen:
    - Tau cấm mi đó. Không thương yêu chi hết.
    - Cha kỳ vậy, con mần chi mô.
    Con Sen nhấm nhẳn trả lời.
    - Là tau cứ nói rứa.
    Xem chừng mấy lính Giải Phóng thấy hắn không cởi mở cũng ngại. Thằng Nam liếc con rựa trên tay hắn bần thần. Hắn cứ lầm lầm như thế chẳng ai dám lại gần.
    Phức tạp lắm, cái cô thợ may xóm trên nghe nói có thai với một anh lính Giải Phóng nào đó. Chồng o thì đang đi lính Cộng Hòa. Đơn vị kỷ luật anh lính Giải Phóng kia rồi chuyển đi đâu không rõ, o thợ may khóc hết nước mắt.
    Chẳng nói đâu xa ngay thôn ni. Nhà cô Táo, năm nay cũng gần 40 tuổi chứ có ít đâu? Chồng chết trận, được cái, mặt mũi coi vẫn còn sáng sủa, hay mắt. Có chú lính đóng quân trong nhà mê tít, viết ngay lá thư tỏ tình. Chết nỗi, cô Táo không biết chữ nhờ một chú trong nhà đọc hộ, chuyện vỡ lở. Cô ấy bảo: “Khổ lắm, thấy các chú ấy cực chăm sóc vậy thôi chứ có chi mô, mà chú ấy cũng chỉ hơn đứa con đầu tui mấy tuổi chứ bộ…”
    Nghe nói chú lính Giải Phóng ấy mồ côi từ nhỏ, chưa được bàn tay phụ nữ chăm sóc bao giờ, nên tình cảm phức tạp nảy sinh. Kể cũng tội. Nhưng mấy chú lính nhất quỉ nhì ma lại không tha. Thỉnh thoảng có chú lại gào lên: “Táo em thương!”. Chả là đầu lá thư tỏ tình tai hại trên mở đầu như vậy. Cả hội lại cười nghiêng ngả. Hắn cũng không nín được cười. Nhưng cười thì cười thế thôi chứ chuyện con Sen không đùa được.
    Nhưng con Sen lại nghĩ khác. Eng hiền quá, đẹp trai, tốt bụng lại có học. Âu cũng là duyên số. Không có chiến tranh, mần răng eng đến cái làng nghèo khổ nhất Quảng Trị ni, để mỗi lần gặp eng là con tim của nó lại đập xốn xang. Cái tuổi trăng tròn của nó không sao giấu được tình cảm. Thấy eng ấy tập tành vất vả nó thương lắm. Có quả chuối củ khoai, nó cũng giấu cha để dành cho eng.

    Có lần eng bạo dạn cầm tay nó nói:
    - Sao em tốt với anh thế. Làm vợ anh nhé?
    - Không được mô. Nghén cha chém chết.
    Nó giẫy nẩy. Eng vội vã thanh minh, là anh nói sau này kia chứ không phải bây giờ.
    Nó đỏ mặt, xấu hổ chạy vụt đi, nói với lại:
    - Cha không cho mô.
    Trước mặt nó chỉ toàn là màu hồng. Nó chưa biết thế nào là chia ly, là chờ đợi chứ đừng nói gì đến mất mát, đau thương.
    Nhưng mạ nó thì quá hiểu nỗi khổ của vợ lính. Chiến sự bao nhiêu năm là bấy nhiêu năm bà khắc khoải trông chờ tin chồng nơi trận tuyến. Nhất là năm 1972, dân Quảng Trị người chạy ra Bắc kẻ lánh vô Nam, giữa hai làn đạn, thiệt mạng biết bao nhiêu. Quê bà thành vùng oanh kích tự do của đồng minh Hoa Kỳ và quân lực VNCH. Bà chẳng chạy ra cũng không chạy vô. Bà còn ngóng tin chồng đang đồn trú tại Cam Lộ. Truớc sức tấn công như vũ bão của quân Giải Phóng, bà chỉ biết cầu trời khấn phật cho chồng bà tai qua nạn khỏi. May mắn ông vẫn an lành.
    Mấy ngày liền, căn cứ Tân Lâm chìm trong lửa đạn của pháo binh Giải Phóng. Thương vong rất nhiều. Tiểu đội của hắn tử trận hai, bị thương bốn. Những cứ điểm vòng ngoài như 241, Đầu Mầu, Ba Hồ, Động Toàn lần lượt bị triệt hạ. Căn cứ Tân Lâm, hay còn gọi là Caroll, nơi trung đoàn 56 của hắn chốt giữ trơ trọi một mình, bị cô lập khỏi sư 3 BB. Sư đoàn mệnh danh “Trừng Giới” rất nhiều lính ô hợp, đào binh, vô kỷ luật vv, được thành lập vội vàng đã mất tinh thần chiến đấu ngay từ những ngày đầu xảy ra chiến sự.
    Hắn là lính cựu, các chiến hữu khá nể trọng. Chả gì cũng là thượng sĩ nhất, được giao khẩu M60, lính tráng quen gọi là đại liên 3. Súng khá nặng, khi khai hỏa dễ bị lộ. Không tinh ranh cơ động là ăn B40, 41 như bỡn.
    Những lính quê Quảng Trị chẳng ngu gì mà đâm đầu vào cái sư đoàn tân lập, lại trấn giữ nơi đầu sóng ngọn gió ở vùng I chiến thuật này. Chẳng qua hắn muốn gần vợ con, vậy thôi.
    Vùi đầu dưới đống bao cát, gần sáng hắn nghe thấy pháo chuyển làn bắn cầm chừng, kiểu này là sắp hứng chịu một biển lính Giải Phóng tràn lên căn cứ đây.
    Nhưng lạ thật, không thấy động tĩnh gì, pháo cũng ngưng hẳn. Hôm sau thì hắn mới biết, tay trung tá trung đoàn trưởng trẻ tuổi đã khôn ngoan kéo cờ trắng đầu hàng. Anh ta đã hy sinh danh dự của một quân nhân, cứu 1500 binh sĩ thuộc cấp khỏi cái chết vô ích. Một ngàn năm trăm gia đình đã thoát cảnh tang tóc trong gang tấc. Hầu hết các chiến hữu và hắn đều cám ơn viên thượng cấp mới tròn ba chục tuổi, đã có một quyết định sáng suốt.
    Mà bên Giải Phóng họ cũng khá tử tế. Đã hứa ngưng pháo kích là ngưng. Khi hai chiếc trực thăng tới cắp hai viên cố vấn Mỹ đi, họ cũng để cho bay thoát. Nếu họ trút lửa vào căn cứ lúc ấy thì chắc chắn hai sĩ quan Mỹ thiệt mạng kéo theo cả mạng của hàng chục lính VNCH đã xin ngưng chiến, chết oan uổng.
    Nhưng ngược đời, chừ con Sen lại yêu chú lính Giải Phóng. Chưa biết sau này trận mạc sống chết ra răng? Nhưng hắn thấy cứ kỳ kỳ. Cha đi lính Cộng Hòa tý chết vì đạn của bên kia. Mà biết đâu chính đơn vị của cái chú lính Giải Phóng nom như học trò trói gà không chặt kia lại tấn công vào đơn vị của cha nó cũng nên.
    Cái chú lính Giải Phóng kia có khi cũng chưa biết cha con Sen là lính Cộng Hòa, nếu biết chắc chi nó đã thương con hắn. Thật phức tạp quá.
    Mạ con Sen trông đôi trẻ, lúc nào mắt cũng ngời sáng, chúng đang tắm trong hào quang của hạnh phúc, bà chẳng nỡ can ngăn.
    Của đáng tội, con Sen lấy được chồng như thằng Nam thì cũng quá tốt. Ngặt nỗi quê thằng Nam quá xa. Nghe nói tận Nghệ An chi đó, xa lắm, sau này nếu có nên vợ nên chồng răng bà thăm con được. Là nghĩ mọi chuyện tốt đẹp chứ chiến tranh nào đã hết mô. Ai mà nói trước được. Những người lính trông hiền lành thế kia khi ra trận, họ không giết bên kia thì bên kia cũng chẳng tha cho họ. Con Sen lại thấp thỏm như bà trước kia thôi. Cha nó cũng có lý. Không muốn cho nó yêu chú Giải Phóng kia cũng chỉ vì thương nó . Nó còn trẻ quá nào đã biết gì. Nhưng bà không làm được như ông, thấy cứ nhẫn tâm thế nào ấy.
    Thằng Nam đâu phải không biết cha con Sen từng là lính Cộng Hòa. Nhưng đấy là việc của ông ấy, đâu phải việc của con Sen. Nó chỉ thấy một tâm hồn trong trắng như thiên thần. Một cô gái đẹp đến mê hồn, bé bỏng như em gái nó ở mãi tận quê nhà. Hết thảy mọi thứ ngự trên người cô gái ấy đều hết sức tuyệt vời. Đôi bàn tay nhỏ nhắn, dịu dàng chăm chút cho nó.
    “ Dù eng đi mô, em cũng chờ. Dù eng có sao em cũng yêu. Dù eng ở chân trời góc biển nào em cũng tìm cho bằng được, nếu eng không về với em …”Nghe con Sen nói thế, nó không đành. “ Về chứ, nhất định anh sẽ về mà”. Nó hứa.
    - Thế em không sợ cha sao?
    Thằng Nam hỏi con Sen.
    - Cha thương em lắm, ông chỉ lo cho em thôi. Ông lo eng không thực lòng, lo eng phải ra trận. Lo em chờ đợi, lo âu….
    Nói đến đấy con Sen không cầm nổi nước mắt, sụt sùi…
    Mấy hôm nay con Sen cứ thẫn thờ, bỏ ăn, đêm ôm gối khóc. Có chuyện chi, mạ nó gặng hỏi cũng không kêu. Mãi mới tức tưởi vừa nói vừa khóc: “Eng sắp đi rồi”.
    Cha nó vẫn ngồi đan rổ ngoài hiên nhưng ruột rối như tơ vò. Biết mà, rồi khổ thôi con ơi. Thảo nào hắn thấy lính Giải Phóng có biểu hiện rất lạ. Từng là quân nhân, hắn biết, cho dù họ rất bí mật. Lại sắp có bão rồi. Chừ là cuối năm 1974, Cộng Sản thường đánh lớn vào dịp xuân hè. Bên Quốc Gia sớm muộn gì cũng thua thôi. Mỹ rút quân rồi, viện trợ cắt giảm, tinh thần lính Cộng Hòa xuống quá trời. Ấy là chuyện quốc gia đại sự, còn nhà hắn, nom con Sen ủ rũ hắn không đành lòng. Cần phải nói chuyện với thằng Nam.
    Khuya, hắn ngoắc thằng Nam vô buồng nói:
    - Thiệt tình ta không muốn cho con Sen thương mi, nhưng không ngăn được. Nếu mi thực lòng thì chớ có phụ nó. Ta chỉ có mụn con, bao năm chinh chiến không chăm nom được nó. Mi không cần nói, ta biết mi lại sắp ra trận. Nói thiệt, nếu mi thiệt mạng thì đành, nhưng nếu mi còn sống mà không về với nó ta sẽ tìm mi bằng được cho dù mi trốn nơi mô.
    Thằng Nam lặng thinh không nói gì. Kỷ luật quân đội không cho phép nó hé răng. Còn tình cảm của nó với con Sen thì chẳng cần nói thêm điều chi.
    Thấy thằng Nam không nói gì, hắn lại tiếp lời:
    - Chẳng giấu chi mi, ta nguyên là lính của trung đoàn 56 sư đoàn 3 bộ binh quân lực Việt Nam Cộng Hòa. May nhờ có trung tá Đính đầu hàng quân Giải Phóng nên ta mới thoát chết năm 1972. Năm ngoái trao trả tù binh theo Hiệp định Hòa Bình, ta xin hồi hương.
    Chừ ta thấy mi thương con Sen không đành lòng, sắp vào trận, cần kêu mi mấy vụ. Khi quân Cộng Hòa tấn công, thiết xa thường dừng ngoài tầm B 40- 41 kích pháo, đa phần lính Giải Phóng chạy vô hầm Triều Tiên. Chỉ chờ có vậy, thiết xa rồ máy chèn lên làm sập hầm, bộ binh ùa theo. Mi không được vô hầm, phải nằm dưới hào. Nếu xe có chèn qua cũng không sao. Ta đã thấy một lính Giải Phóng thoát chết như vậy, anh ta đứng dậy bắn B41 vào sau xe tăng và quay lại cản lính Cộng Hòa rất dũng cảm.
    Khi bên Giải Phóng tấn công, lính Cộng Hòa thất thủ rút lui thường vứt lại những quả M26 nổ tức thì. Đó là một cái bẫy. Nhiều lính Giải Phóng thiếu kinh nghiệm dùng luôn lựu đạn ấy tấn công nên thiệt mạng.

    Còn nhiều tình huống bất ngờ cần tỉnh táo, ta không nói mi cũng biết vì mi cũng đã trải qua trận chiến năm 72 rồi.
    Thằng Nam quá ngỡ ngàng, một người lính Cộng Hòa lại phổ biến kinh nghiệm chiến đấu cho một lính Giải Phóng. Thật kỳ!
    Hôm sau, đơn vị thằng Nam chuyển quân, đúng đêm trăng khuyết. Con Sen khóc tức tưởi, nó ngóng theo người lính cuối cùng khuất bóng sau rặng tre đầu làng. Gió lay nhè nhẹ, những chiếc lá tre lóng lánh dưới ánh trăng thượng tuần.
    Đại đội thằng Nam đã vào vị trí chờ giờ G. Khi pháo chuyển làn, xung kích phá hàng rào, đại đội chủ công của nó sẽ xung phong lên cao điểm 301 trên dãy núi hình yên ngựa này. Đêm nay là đêm 22 tháng 3 năm 1975, đúng đêm mùng 10 tháng 2 âm lịch, mãi nó mới thấy bóng trăng khuyết lấp ló dưới kẽ tán lá rừng già.
    Sẽ có nhiều người phải nằm lại ở cửa mở. Thằng Nam hy vọng, trong số đó không có nó. Nhìn trăng khuyết, nó lại nhớ đến Sen. Chia tay với em đã ba tuần trăng.
    Vầng trăng ai xẻ làm đôi.
    Nó chợt nhớ đến câu Kiều , thật hợp người, hợp cảnh.
    Cho đến lúc ánh chớp lóe lên, giờ G đã điểm. Nó không còn nhớ gì nữa, trước mặt chỉ thấy toàn lửa. Lửa đỏ rực một góc trời.

    Tháng 6, năm 2013

    NT

    No Avatar

    ONGBOM-K5

     12:29, 23rd Jun 2013 #20994 

    Hay quá bác ơi. Nhưng em cũng nhiệt liệt phê bình bác bỏ đi chơi lâu quá



  4. Có 7 người thích bài viết này


  5. #34
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết
    Hồi ức tháng bẩy


    Lỡ hẹn mấy bận, giữa tháng bẩy vừa rồi tôi mới có dịp qua thăm chị Thanh như đã hứa. Chuyện tiểu đội tải ba thông tin trạm A69, Quảng Bình hy sinh gần hết vào ngày 2/7/ 1972 định mệnh cứ ám ảnh tôi gần năm nay. Thật khủng khiếp 13 đồng chí, hy sinh 10, đa phần là chị em, tất cả đều chết cháy. Chị Thanh là một trong số ba người may mắn còn sống sót.


    Kém gì mười cô gái TNXP ở Ngã Ba Đồng Lộc. Vậy mà hiếm người biết đến sự hy sinh của các anh, chị. Trạm thông tin A69 là điểm trung chuyển liên lạc quan trọng giữa chiến trường Quảng Trị nói riêng và Miền Nam nói chung năm 1972 với bộ tổng tham mưu, trong thời khắc đầy khó khăn, khốc liệt, quyết định việc thành bại của sự nghiệp thống nhất đất nước.

    Gia đình chị Thanh ở một căn hộ xinh xắn tầng hai trong khu tập thể Hội liên hiệp phụ nữ Trung ương, phố Pháo Đài Láng, gần đường Nguyễn Chí Thanh. Tôi muốn đến thăm chị vào buổi sớm để tránh nắng, cái nắng tháng 7 thật khủng khiếp. Mặt đất, bầu trời bị căng ra trước sức nóng điểm đỉnh của mùa hạ. Cảm giác như quả bóng bay bị thổi đến ngưỡng cuối sắp nổ tung. Không biết 41 năm trước, mặt trời có giận dữ đến thế không, có thiêu đốt các chị ở cái trạm thông tin nhỏ nhoi nằm vắt vẻo lưng chừng vách núi đá hiểm hóc thế không?

    Chị đi chợ chưa về, nghe chồng chị nói: “Khoảng một tiếng nữa mời anh đến”. Một tiếng sau, tôi đã có mặt trong căn phòng nhỏ, tiện nghi đơn giản, mội thứ đều “rất lính”, nhưng tất cả đều toát lên vẻ ấm cúng của một gia đình hạnh phúc, an bình. Anh con lớn của chị đang sửa chiếc máy tính, đứa cháu nội bi bô. Chị đang trong bếp tranh thủ luộc mớ trai, tay thoăn thắt, vừa làm vừa nói:

    - Trời nóng quá, anh nhà tôi thích ăn canh trai với cá diếc rán giòn. Tôi phải đạp xe mãi ra tận chợ Thành Công mới mua được, chứ ở gần đây không có.

    Chị là một người vợ tuyệt vời. Tôi nghĩ vậy, chẳng cần nem công, chả phượng gì, một món ăn dân dã chồng thích, bất chấp thời tiết khắc nghiệt, đường xá xa xôi, lặn lội mang về cho anh vui. Còn gì hơn thế. Anh quả là may mắn. Gia đình anh, chị thật hạnh phúc.

    Hỏi chuyện, tôi mới biết, anh cũng là lính thông tin, nhận nhiệm vụ đến giải quyết hậu quả cái trận bom quái ác đã xóa sổ gần hết tiểu đội tải ba năm ấy.

    Tôi nói đùa:
    - Anh giải quyết hậu quả, tiếp quản luôn cả chị phải không?

    Anh cười:

    - Đấy là duyên số anh ạ. Nhưng nhìn cô ấy nhỏ bé, khiếp sợ trước sự tàn khốc của chiến tranh, chẳng khác gì đứa em gái bé bỏng của tôi tại quê nhà không sao cầm được lòng. Tôi chỉ muốn ôm lấy cô ấy, vỗ về, che chở. Bản năng tự nhiên của người đàn ông mà.

    Gần hai tiếng đồng hồ trôi đi nhanh chóng, tôi chăm chú nghe chuyện chị kể bằng một giọng mộc mạc, chân tình. Hình ảnh chi tiết của cái ngày tháng bẩy khó quên ấy hiện về rõ mồn một trong ký ức của người lính thông tin đã lên chức bà nội từ nhiều năm nay. Tôi là người lính chiến từng trải. Chứng kiến không biết bao nhiêu sự hy sinh mất mát của đồng đội. Vậy mà cũng không sao cầm nổi nước mắt.

    Tôi không có ý định kể lại cái sự kiện đau lòng ấy. Thương xót sự mất mát quá to lớn, nuối tiếc vô bờ bến nên chị Thanh cứ nhắc đi nhắc lại với tôi mãi một câu: Giá như!

    Ừ đúng thật. Giá như anh trạm trưởng không vì trách nhiệm trước đồng đội. Anh đi kiểm tra trạm thủy điện cách đấy gần cây số cấp điện cho trạm xong, nghỉ lại chiều về. Nhưng anh thấy sốt ruột. Mới về nhận công tác được hai tuần, không thể bỏ mặc anh chị em được, anh gọi điện về trạm nói vậy. Giữa trưa anh quay về và hy sinh.

    Giá như chị Lan, vừa hết thời gian phục vụ tại trạm, chờ chồng chưa cưới đón về quê lúa Thái Bình tổ chức đám cưới, sớm một ngày. Thì chị cũng sẽ có một gia đình hạnh phúc kém gì chị Thanh đây?

    Còn anh Sây, vừa tuần trước nhận thư nhà báo tin anh đã lên chức bố. Không kìm nổi sung sướng, giữa trạm anh hét lên: “Tao có thằng chống gậy rồi. Chết cũng không ân hận!”

    Phải chăng chết không ân hận. Vui quá thì nói vậy thôi chứ làm sao mà không ân hận. Đứa con lớn lên ngỡ ngàng nhìn ảnh bố trên ban thờ. Người đàn ông mặc bộ quân phục có ngôi sao trên ve áo ấy chưa một lần được thấy mặt con. Mẹ nó bảo cha con đấy. Nhưng nó chưa một lần được thấy cha nó bằng xương bằng thịt chứ đừng nói gì đến được mua cho đồ chơi hay dắt nó đến trường. Sau này trưởng thành, ai sẽ là người chắp cánh cho nó bay xa?...

    Mười người con của trạm thông tin A69, cũng như hàng trăn nghìn người con ưu tú khác đã ngã xuống vì sự nghiệp thống nhất đất nước. Cho tổ quốc hình chữ S liền một dải hôm nay, hàng núi xương sông máu của các anh chị đã đổ xuống.

    Cám ơn chị Thanh đã kể cho tôi những dòng hồi ức vẫn còn cháy bỏng nắng tháng 7 năm ấy.

    Nhân ngày 27/7 sắp tới, tôi xin dâng một nén hương, kính cẩn nghiêng mình trước vong linh của các liệt sĩ trạm A69 năm xưa.

    Tháng 7, năm 2013
    Như Thìn

    No Avatar

    quany103

     21:52, 9th Aug 2013 #22512 

    Cám ơn anh đã viết về các chiến sĩ TT ,tải ba năm xưa,Đây là những người bạn củng thời đi lính ,thật đau lòng người còn người mất ,thắp 1 ngàn nén nhang cho các anh chi ười

    No Avatar

    huuthanh

     19:57, 23rd Jul 2013 #21767 

    Cám ơn.



  6. Có 3 người thích bài viết này


  7. #35
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết
    Họa – Phúc


    Mới lọt lòng, ba má mong hắn luôn gặp điều tốt lành, bởi thế đặt cho hắn tên là Phúc. Cho đến giờ, đã sáu mấy tuổi rồi, cái tuổi coi như bước nốt chặng cuối của cuộc đời, hắn chẳng hiểu mình gặp họa hay phúc nữa.
    Gia đình hắn thuộc tầng lớp công chức quèn. Ba hắn tằn tiện gắng cho hắn ăn học nên người. Ngặt nỗi hắn ham chơi. Chẳng dại gì mà không chơi. Đất nước binh lửa liên miên, tâm trí nào mà học hành. Mấy thằng bạn vừa đầu quân năm ngoái nghe nói đã thiệt mạng. Cố mà hưởng chút mùi đời. Học hành chểnh mảng, nhuận mất mấy niên học, cuối cùng hắn cũng không thoát khỏi quân dịch. Cũng may, hắn được chọn vào binh chủng thiết giáp chứ không phải xách súng chạy bộ. Sau ba tháng trong quân trường đầy cam go thử thách, hắn được biên chế vào đơn vị thiết kỵ trấn giữ miền biên thùy. Ấy là một cái họa. Đầu năm 1972, Cộng Sản mở cuộc tấn công ồ ạt qua giới tuyến, chiếc M113 của hắn trúng đạn ngay trận đầu. Hắn kịp nhảy ra khỏi xe thoát chết nhưng không thoát khỏi mấy họng AK như chực sẵn, đón hắn về trại giam. Ừ mà thôi, trong cái rủi có cái may, coi như giữ được cái mạng, chịu khó nằm trong trại vài năm chờ ngày hòa bình.
    Nhưng nghe nói, chế độ tù đày của Cộng Sản khắc nghiệt lắm, ăn uống thiếu thốn, lao dịch khổ sai, liệu hắn có qua nổi không? Đầu óc rối bời, hắn mường tượng ra viễn cảnh tương lai thật đen tối. Hồi còn đi học, hắn có đọc một tài liệu nào đó nói về công ước của Hội Hồng Thập Tự thế giới đối xử với tù binh chiến tranh. Sĩ quan tù binh được tôn trọng hơn hạ sĩ quan và binh lính. Hắn là một trung sĩ quèn bị bạc đãi là cái chắc. Bỗng dưng một ý nghĩ lóe trong đầu: Cứ nhận đại mình là sĩ quan, Cộng Sản làm sao mà biết được. Hắn sẽ được đối xử tử tế.
    Nghĩ là làm, mấy tay quản giáo không hề nghi ngờ. Trong tích tắc, hắn tự phong cho mình từ trung sĩ lên trung úy. Cái quyết định điên rồ trong phút giây nông nổi đã đưa đẩy cuộc đời hắn vào những tình huống thật bi hài.
    Trong trại giam, hắn chẳng được ăn uống gì hơn mấy tay lính quèn. Mà có lần, vô tình hắn thấy suất ăn của mấy quản giáo cũng vô cùng đạm bạc. Lương thực đa phần là mì, vài cọng rau rừng. Họ còn khó khăn thế thì làm sao mà hắn được đầy đủ. Thôi bỏ qua miếng ăn, nhưng là sĩ quan hắn bị theo dõi với chế độ đặc biệt. Cái món học tập chính trị làm hắn sợ hết hồn. Cả ngày ra rả nghe kể tội ác của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, rồi chính sách khoan hồng của chính phủ Cách Mạng. Tiếp đến là học về chủ nghĩa Mác. Đầu óc hắn căng như dây đàn. Thà đi cắt tranh, lấy gỗ làm lán, hay trồng mì, lao lực còn hơn lao tâm. Càng nghĩ càng cay, không cái dại nào giống cái dại nào. Nhưng trót rồi kêu ai bây giờ. Một ngày ở tù bằng nghìn thu ở ngoài, khổ cực trăm bề, mới một năm mà hắn tưởng phải đến cả chục năm trời.
    Nhưng một biến cố bất ngờ đã đưa hắn rẽ vào ngả đường đầy hoa thơm trái ngọt. Ấy là cái phúc. Hiệp đình Hòa bình Ba-lê được ký kết đầu năm 1973, mấy tháng sau hắn được đưa tới bờ bắc sông Thạch Hãn trao trả tù binh. Trường hợp của hắn thật lôi thôi, Cộng Sản trao trả trung úy Trần Đình Phúc, nhưng bên Quốc Gia chỉ công nhận có trung sĩ Phúc mà thôi. Lằng nhằng chuyện giấy tờ mãi, cuối cùng hắn cũng được trả về bên kia sông.
    Chuyện của “trung úy” Trần Đình Phúc được báo cáo ngay lên thượng cấp. Các phương tiện thông tin không bỏ lỡ cơ hội. Tên tuổi hắn được đánh bóng. Bỗng dưng hắn trở thành người hùng, đối mặt với lao tù Cộng Sản, tự nhận là một sĩ quan của quân lực VNCH, khí phách hiên ngang vượt qua mọi gian truân.
    Các tướng lãnh từ Sài Gòn bay ra gắn luôn lên ve áo cho hắn hai bông mai sáng bóng kèm theo một chiếc mề đay đỏ chói. Đặc cách phong sĩ quan cho hắn lên trung úy thật chứ không hề rởm chút nào.
    Gõ đế đôi giầy da bóng loáng xuống mặt đường, miệng huýt sáo, chân bước theo nhịp quân hành, trở về doanh trại, hắn vô cùng sung sướng. Tên là Phúc làm sao mà họa mãi được.
    Nhưng ở đời mấy ai học được chữ ngờ, “cuộc vui ngắn chửa tày gang”, đầu năm 1975, chỉ một đòn của Cộng Sản tại Cao Nguyên, quân lực VNCH vỡ trận, phản ứng dây chuyền tan rã nhanh chóng, kéo theo sự sụp đổ của chế độ Cộng Hòa. Sao cái họa lại đến nhanh đến thế.
    Nếu còn là trung sĩ, hạ sĩ quan và binh lính chỉ phải ra trình diện có ba bốn ngày chính quyền mới, rồi về với gia đình. Còn hắn, Trung úy, diện sĩ quan, chuẩn bị tư trang khăn gói, kèm theo mấy chục ký gạo tập trung đi cải tạo. Thoạt đầu nghe phổ biến chỉ một vài tháng, không ngờ kéo dài ngót chục năm. Khốn nạn, mụ vợ không tha thứ cho cái quyết định tự phong sĩ quan xuẩn ngốc năm 1972 của hắn, có dịp lại chì chiết.
    Đã có kinh nghiệm trong trại tù binh Cộng Sản, nhưng hắn không khỏi ngỡ ngàng trước qui mô và bài bản của lần học tập cải tạo này.
    Thoạt tiên là cái lý lịch tự khai. Khai thế nào nhỉ? Nếu khai thực cái vụ tự phong quân hàm, thì chỉ làm trò cười cho quản giáo. Mà nếu nhận là sĩ quan thực thụ thì lại phải bịa ra trăm thứ chuyện vốn gây cho hắn vô vàn rắc rối đủi đen. Hắn viết đi viết lại mãi không xong cái bản lý lịch ba đời nhà hắn, từ trước năm 1945 đến nay. Thôi khôn ngoan chẳng lại thực thà. Có thế nào cứ khai như thế vậy.

    Tay quản giáo gọi hắn lên, chìa cái lý lịch tự khai của hắn ra, nghiêm sắc mặt:
    - Anh chưa thành khẩn trước Cách mạng, yêu cầu khai lại. Đừng coi chúng tôi là con nít.
    - Thưa cán bộ, hoàn toàn trung thực. Xin cán bộ cho thẩm tra ạ.
    Hắn khẩn khoản giải thích, thế nào cũng không xong, vẫn phải về viết lại. Lần này hắn cứ viết thế. Nghe nói, Cộng Sản thu được ở bộ Tổng tham mưu quân đội VNCH, tài liệu điện toán, ghi chi tiết từng người lính đến sĩ quan cấp tướng. Không thể bịa được.
    Cũng may, trường hợp của hắn khá nổi tiếng, họ thẩm tra và cho qua. Nhưng cải tạo học tập thì vẫn không tránh khỏi. Sáu, bẩy năm trời phiêu bạt, hết trại này đến trại khác. Ăn uống thiếu thốn, lao động vất vả nhiều chiến hữu của hắn không trụ nổi đã bỏ mạng. Chẳng hiểu sao, hắn vẫn tồn tại. Giờ hắn đã quá quen với việc khẩn hoang, trồng mì, cắt tranh, lấy gỗ, đào giếng v.v Nhưng hắn không thể quen được với việc học tập chính trị, tuần hai ngày.
    Sao họ nói giỏi thế, những tràng ngôn ngữ như những viên đạn nóng bỏng cứ xóay vào tai hắn, nhức nhối không sao chịu nổi. Sau mỗi buổi học phải viết thu hoạch. Hắn có nhập tâm đâu mà viết cơ chứ. Thành thử, bản thu hoạch của hắn đọc trước tổ, trước đội luôn bị đánh giá loại yếu. Tên là Phúc mà sao lắm họa thế này.
    Nhưng rồi hắn cũng được thả tự do, có lẽ họ thấy hắn không còn khả năng gây hại gì cho chính quyền mới nữa. Trở về căn nhà nhỏ trong một con hẻm ở Sài Gòn, nhìn căn nhà trống trơn mà ngao ngán. Vợ hắn đã bán sạch những gì có thể bán được để nuôi mấy miệng ăn và thỉnh thoảng tiếp tế cho hắn. Mấy viên gạch bông lát nền nếu cậy lên bán được, chắc cũng chẳng còn mà nhăn răng ra cười như trêu ngươi hắn thế kia. Về được là may rồi, nhưng biết sống bằng gì đây? Nhiều người cùng cảnh ngộ phó thác số phận cho biển cả, ra khơi tìm chân trời mới. Những chuyện rùng rợn nộp mạng cho hải tặc hay bỏ xác giữa trùng khơi nghe quá đau lòng. Nhưng hắn cũng chẳng có vàng đóng cho chủ tầu mà ra đi như vậy...(còn tiếp)


    Tháng 7, năm 2013
    NT

  8. Có 3 người thích bài viết này


  9. #36
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết
    Họa - Phúc
    ( phần cuối)

    ... Giữa lúc ấy, “Chương trình ra đi có trật tự” và “Tái định cư mới” giữa chính phủ hai nước Việt - Mỹ được thực hiện. Hắn là một sĩ quan đủ thời gian cải tạo theo qui định, diện HO, thế là ok. Lũ bạn khốn kiếp, chẳng thấy mặt mũi đâu khi hắn thất thế bỗng ùn ùn kéo đến chúc tụng. Họ mạc, người thân, kẻ sơ trước kia lạnh nhạt, nay đều thân tình. Họ xúm vào giúp hắn tiền bạc, thủ tục giấy tờ, chuần bị hành trang cho cả gia đình hắn chờ ngày lên đường sang Hoa Kỳ. Ôi nước Mỹ, thế giới tự do! Niềm ao ước của cả triệu người trên hành tinh, đúng là phúc lớn. Hắn còn may hơn vì có chú em, hiện là nhân viên không lưu cho một phi trường bên Mỹ, đã định cư từ lâu rồi. Hắn vội thông báo cho chú em ngày đoàn tụ. Trái với vẻ hồ hởi của hắn, chú em không mấy mặn mà với tin này. Thông cảm cho nó thôi, có lẽ do áp lực công việc.
    Những ngày đầu chân ướt chân ráo tới đất nước xa lạ, hắn đưa cả vợ con tới tá túc nhà chú em cho đỡ tốn kém. Gặp lại anh sau bao năm lưu lạc, em hắn buông một câu xanh rờn: “Bên này thất nghiệp đầy rẫy, anh chị còn sang đây làm gì?” Câu nói như một gáo nước lạnh dội vào cái đầu đầy nhiệt huyết, hăm hở bước vào chân trời mới của hắn. Sao nó bạc bẽo và vô tình thế nhỉ? Chả gì cùng một giọt máu đào. Hắn tự ái nói:
    - Anh chị nhờ chú dăm bữa rồi sẽ đi thuê nhà.
    Giận quá thì nói liều thế thôi chứ tiền đâu mà đi thuê bây giờ.
    Thằng em hắn đã thế, vợ con nó còn lạnh nhạt hơn. Sau màn chào hỏi lấy lệ, ai đi việc nấy, cấm cậy thêm nổi một lời. Cả nhà hắn đều chưng hửng, cảm giác thật bơ vơ xa lạ.
    Nhà có bốn, năm buồng rộng thênh thang. Cả gia đình hắn được xếp vào một buồng bé tí lại không có toillet khép kín. Thật bất tiện. Sáng ra, mấy cái phòng vệ sinh, vợ con thằng em mỗi đứa ôm một cái cho kịp giờ đi làm. Cũng đúng thôi, vợ con hắn thì vội gì. Nhưng với hắn lại là một vấn đề lớn. Vốn bị bệnh đại tràng mãn tính do nhiều năm ăn uống linh tinh, sáng nào hắn cũng đi nhanh về chậm vài ba bận. Nay thì nín nhịn. Không có gì khốn nạn đến thế. Hắn gồng người lên, nghiến răng lại cố kìm hãm cái lẽ tự nhiên của tạo hóa. Hắn cũng nếm trải nhiều cơ cực, nhưng có lẽ cực hình này là oái oăm hơn cả.
    Phải thuê nhà thôi. Hắn chạy đôn chạy đáo nhờ bạn bè giúp đỡ, vay mượn chút tiền. Nhưng có tiền cũng khó thuê bởi không có income ( Giấy chúng nhận thu nhập thực tế). Mà mượn thì rất khó. Ai dám cho hắn mượn bây giờ. Cũng may những người đồng hương hảo tâm lập ra một tổ chức thiện nguyện giúp đỡ những người mới định cư như hắn sớm ổn định cuộc sống. Cuối cùng hắn cũng thuê được nhà với tiện nghi tối thiểu và bắt đầu một cuộc sống mới. Lũ trẻ không phải lo, đã có chính phủ trợ cấp học phí và miễn phí bữa trưa. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng khá ổn, đã có chương trình trợ cấp bán phần. Hắn vẫn còn độ tuổi lao động, cần tìm việc làm. Đó là một thử thách cam go, nếu không có tiếng Anh và xe hơi. Không biết tiếng, chả nhẽ lại thuê phiên dịch đi kèm. Mà muốn biết tiếng thì phải đầu tư thời gian và tiền bạc. Đào đâu ra tiền bạc bây giờ. Vốn sinh ngữ của hắn quá nghèo nàn, chỉ đủ chào và trao đổi thời tiết trong ngày. Giờ phải học lại từ đầu. Tuổi hắn mà phải ngồi như con nít ê a thì sao chịu đặng. Thôi chọn lấy việc gì cần biết tiếng Anh tối thiểu, sau trau dồi thêm vậy. Nhờ cậy người quen tìm việc giúp, cuối cùng hắn cũng kiếm được một chân chạy bàn trong quán ăn của người Việt. Đành chấp nhận thôi, nước Mỹ không phải thiên đường cho những kẻ lười biếng và sĩ diện. Thỉnh thoảng mấy người quen đi xe hơi sang trọng đến quán ăn, hắn muối mặt phục vụ. Trông họ thật thành đạt, nếu chịu khó, cuộc đời hắn có lẽ cũng sẽ như họ trong tương lai. Trong lúc làm việc, hắn tranh thủ giao tiếp với đồng nghiệp và người bản xứ bằng vốn tiếng Anh ít ỏi, hy vọng sớm được cải thiện khá hơn. Nhưng có một lần, chủ quán thân tình khuyên: “Ông mới sang chưa hiểu khác biệt văn hóa. Bên này họ rất ghét hỏi về đời tư của nhau. Giả dụ anh hỏi về vợ đồng nghiệp, biết đâu họ vừa đưa nhau ra tòa li hôn. Anh hỏi về con cái, mấy thằng vừa bị thất nghiệp cũng nên v.v . Tóm lại gặp nhau, anh chào một câu, hỏi thời tiết là đủ. Đặc biệt chớ có hỏi thu nhập hàng tháng. Ông thấy đấy, họ giấu như mèo chôn chất thải. Bị trừ hết rồi còn đâu. Cái gì cũng mua chịu…”
    Từ đấy hắn ngậm tăm, mấy năm rồi mà vốn liếng tiếng Anh của hắn cũng chỉ quanh quẩn dăm câu “ form” giao tiếp.
    Ấy là tiếng Anh, còn xe hơi thì sao? Vay mượn, dành dụm, hắn mua được một chiếc xe còn tàm tạm, giá có 2000 USD để tiện đi làm. Hôm đi nộp đơn xin trợ cấp, nhân viên tiếp đơn nhìn chiếc xe chòng chọc. Mụ ta không tin chiếc xe chỉ có 2 ngàn. Phải 3 ngàn chứ không ít. Hắn phải viện đủ chứng từ ra mới khỏi bị làm khó dễ. Sau này hắn mới biết xe trên 2 ngàn sẽ không được trợ cấp của chính phủ. Tiền đâu ra mà dám mua hơn, mua thêm bảo hiểm một phía xe đã đội giá lên bao nhiêu rồi. Nếu bảo hiểm hai chiều thì còn tệ hơn nữa. Thật lắm rắc rối.
    Nghe bạn bè mách, ông có thẻ xanh rồi, nên làm đơn xin nhập quốc tịch. Sau này hết tuổi lao động, nghiễm nhiên được trợ cấp hưu trí. Cạy cục nộp đơn, phải thi mấy môn. Địa lý, lịch sử và hệ thống tư pháp Hoa Kỳ cố cày cũng có thể, nhưng môn tiếng Anh thì hắn chịu, không nhồi thêm được nữa. Thành thử, nhiều dịp đi thi mà kết quả chẳng có nổi một lần.
    Đã trải qua nhiều khổ ải, được như thế này cũng quá tốt rồi. Ở nước Mỹ, lo miếng ăn, chốn ở không thành vấn đề. Nhưng con hắn sớm hòa nhập với văn hóa Phương Tây, chúng có nhiều nhu cầu vô hình và hữu hình cho bằng trang lứa. Hắn nai lưng lao động cũng không làm chúng thỏa mãn được. Nhưng sốc nhất vẫn là văn hóa. Hắn không tưởng tượng đứa con gái hắn mới mười lăm tuổi đã đưa bạn trai về phòng đóng sập cửa lại. Hắn đập cửa, con hắn bảo hắn là quê, xâm phạm vào tự do cá nhân, vi phạm pháp luật. Điên ruột hắn bớp cho một cái. Hai hôm sau cảnh sát đến hỏi thăm. Khốn nạn! Nó dám kêu kiện cả cha nó à?
    May quá, không phải vậy. Mụ hàng xóm thóc mách, thấy con bé có cái bớt nhỏ bên má nghi hắn đánh con tím mặt đã gọi cảnh sát. Sau vụ ấy, hắn hoàn toàn tôn trọng tự do của các con. Hắn rất buồn, con cái ngày càng xa lạ, cảm giác cô đơn ngay chính trong ngôi nhà của mình.
    Nhiều lúc hắn nhớ quê hương da diết, loáng một cái đã gần hết một đời người. Những kỷ niệm buồn nhiều, vui ít lại ập về vò xé tâm can, ruột gan cứ cồn cào. Mảnh đất hình chữ S ở tận bên kia bờ đại dương, nơi hắn tưởng như không sống nổi phải khăn gói ra đi, vậy mà nay lại có ý nghĩa với hắn đến thế. Hắn nhớ con hẻm nơi hắn sinh ra và lớn lên. Nhớ Sài Gòn những trận mưa chiều bất chợt, đỏng đảnh như cô bạn mới lần đầu hò hẹn. Nhớ hàng me sân trường…Nhớ cả những buổi trốn học lượn phố.
    Nhớ đấy mà đâu dám về. Dành dụm được tiền vé máy bay rồi, chả nhẽ tay không có vài trăm biếu bà con, họ mạc. Trong nước, họ cứ tưởng hắn giàu sang lắm. Thư từ gửi sang, hỏi han thì ít, thầm trách móc thì nhiều. Phần mộ của ba, má hắn, của dòng tộc ai lo? Thỉnh thoảng cố gửi một vài trăm về như muối bỏ biển, hắn càng bị trách móc hơn. Các người cứ thử sang đây xem có nhặt được tiền từ trên trời rơi xuống không? Bực quá có lúc hắn nói thẳng toẹt.
    Mà trong nước những năm gần đây, bà con, bạn bè hắn làm ăn chụp giật kiểu gì mau giàu thế. Mấy thằng giờ cũng bày đặt đại gia, sắm xe mắc tiền, cho con du học ngày một nhiều. Mỗi năm chúng chi cho lũ con ăn bám năm sáu chục ngàn đô chứ có ít đâu. Số tiền bằng hắn làm quần quật mấy năm trời mới có được. Hồi tiễn hắn ra phi trường, chúng ngậm ngùi than thân trách phận vì không đủ tiêu chuẩn “Ra đi có trật tự”. Nay chúng được dịp nói dóc, biết tránh trước nỗi cực của kẻ tha hương. Có thằng, mấy năm trước còn viết thư xin hắn giúp chút tiền cho con ăn học. Hắn chẳng giúp được gì thì nặng lời trách móc. Nay cũng cho con sang đây. Thằng bé tìm đến tận nhà hắn, biếu bác chút quà ba gửi. Thật trớ trêu. Cầm cái phong bao nó đưa, tay hắn run run, mắt tối sầm.
    Ở đời, chẳng ai học được chữ ngờ, từ cái ngày lính thiết kỵ mất chiến xa, như “Tái ông thất mã”, hắn chua chát nghĩ đến thân phận bọt bèo : Họa- Phúc biết về đâu?

    Tháng 7, năm 2013
    Như Thìn





  10. Có 3 người thích bài viết này


  11. #37
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết
    Lê Minh – Người lính trinh sát dẫn đường


    Tôi với Lê Minh( Tích Tường Như Lệ), cùng nhập ngũ một ngày( 6/9/1971). Anh học khoa Lý, tôi học khoa Toán trường ĐHTH Hà Nội. Khi huấn luyện tân binh ở Hà Bắc, tôi với anh cùng tiểu đoàn 6 nhưng anh ở đại đội 23, tôi ở đại đội 24 vì thế nên không biết nhau.

    Tháng 7 năm 1975 tôi được ra quân về đoàn 8/69 nằm chờ giải quyết chế độ chính sách và lấy giấy tờ trở lại trường đại học. Tôi gặp Lê Minh cũng ra quân cùng kỳ. Hồi ấy lính sinh viên các trường tề tựu ở đoàn 8/69 chờ ra quân khá đông. Nhưng tự nhiên chúng tôi hình thành một nhóm sớm thân nhau gồm: Lê Minh trinh sát sư đoàn, Đông nguyên sinh viên khoa Sinh, lính bộ binh C10, Hiền nguyên sinh viên khoa Địa, lính đại đội pháo 14, Trung sinh viên Đại Học Thủy Lợi, quản lý đại đội 9 và tôi. Vì rảnh rỗi chúng tôi thường kéo nhau ra quán nước tán phét, kể chuyện trận mạc. Tôi khoái nghe chuyện Minh kể vì anh là trinh sát. Có lần một nhóm trinh sát của anh nằm trong trận địa của địch nắm tình hình. Một tên lính Cộng Hòa đến chỗ các anh nằm vạch quần ra tè ngay trên người các anh. Chỉ một tích tắc nữa, hắn sẽ phát hiện ra các anh mất. Buộc phải nổ súng. Anh chỉ kịp nghe thấy tiếng thốt lên bất chợt: “Sao lại bắn tui”, kèm theo cái xác đổ vật. Các anh vùng chạy thoát khỏi hiểm nguy. Có lần, vừa rẽ khỏi cánh rừng các anh chạm trán luôn một nhóm thám báo, cả hai bên đều ù té chạy ngược trở lại. Quá bất ngờ chẳng một phát súng nào, ai đi đường nấy. Có lần…Tóm lại rất nhiều tình huống hiểm nguy mà người lính trinh sát có nụ cười hiền khô đang ngồi trước tôi đây đã trải qua.

    Sau này trở lại trường học, chúng tôi vẫn duy trì mối quan hệ. Thỉnh thoảng Hiền lại rủ tôi đến nhà Lê Minh đánh cờ, hoặc chuyện phiếm. Tôi thấy góc nhà anh có dựng khẩu các bin M 2, nhà có cả Telephon. Hồi ấy chỉ cán bộ cao cấp của đảng và nhà nước mới có điện thoại riêng. Nghe nói của ông già anh. Đem thắc mắc hỏi Hiền, hắn bảo : “ Ông không biết à? Bố Lê Minh là Lê Giới, từng lái xe cho Bác Hồ, nay là cục trưởng cục đường bộ, hồi chiến tranh cụ mang quân hàm đại tá phụ trách việc vận tải chi viện cho tiền tuyến”.

    Ra thế. Một lần gặp cụ tôi cứ thấy quen quen như đã gặp ở đâu rồi thì phải…

    Một bận, Hiền bảo tôi, độ này tao thấy Lê Minh hay trinh sát gần nhà tao ( Hiền ở phố Trần Quốc Toản). Lắm lúc giáp mặt, chỉ thấy hắn chào qua loa rồi tâm trí lại để đi đâu ấy”. Thời gian sau hắn bảo : “ Mục tiêu trinh sát của Lê Minh là cô giáo trẻ tên Châu ở số nhà…” Ồ thảo nào. Kết quả của những chuyến trinh sát đầy bí ẩn ấy là một thiếp mời đám cưới mà tôi nhận được chẳng lâu la gì. Tôi bảo Hiền : “ Thôi coi như nó trinh sát trước cho anh em mình biết, lấy vợ có hay ho gì không?” Nó tiên phong trong đám lính về ở đoàn 8/69 năm 1975.

    Bẵng đi thời gian dài, bận làm ăn trong thời buổi hết sức khó khăn, chúng tôi ít có dịp gặp nhau. Có lần Lê Minh rẽ qua nhà tôi chơi, anh bảo đang tham gia một trung tâm luyện thi đại học ở Bách Khoa, cũng kiếm được. Tự cứu mình thôi, ông tính lương giảng viên đại học ăn thua gì. Anh bảo tôi, có muốn tham gia một lớp dạy ngữ văn anh giới thiệu. Thú thực, tính tôi hay tếu táo không hợp với nghề giáo. Đành chịu đói vậy.

    Cuối năm 2005, tôi bị một căn bệnh quái ác quật ngã, nằm bẹp giường. Lê Minh đến thăm, tặng tôi hai cuốn tiểu thuyết đang khá hót của một nhà văn Mỹ. Anh bảo tôi: “Lúc nào bớt chóng mặt thì đọc”. Tôi nghe anh, thỉnh thoảng đọc vài trang. Sau không dừng được nữa, nhân vật chính trong hai cuốn tiều thuyết đầy nghị lưc, đối mặt với hoàn cảnh khó khăn để tồn tại. Tôi thầm cám ơn Lê Minh tiếp cho tôi thêm sức mạnh chống chọi với bệnh tật.

    Thời gian sau, anh lại đến thăm tôi, cho tôi một túi tướng nấm linh chi bảo: “Ông uống cái này tốt cho sức khỏe đấy”. Anh còn tặng tôi một tập “ Những chuyện không thể quên-cười ra nước mắt” của anh. Tôi cho anh xem chiếc ba lô, ba cuốn nhật ký thời chiến, và bộ đồ trận của tôi. Anh giới thiệu với tôi trang Quân sử Việt Nam và nói: “ Khi nào ông đỡ, hãy tham gia trang này. Nó hợp với sở trường của ông. Hơn nữa những tư liệu sống của ông không thể nằm mãi trên gác xép được, rất phí”…

    Anh lại đóng vai người lính trinh sát, đưa những dòng hồi ức trận mạc lên trang. Trên trang tôi thấy anh luôn đi đầu…không hổ danh là người lính trinh sát của đại đội 20 năm xưa. Nhờ có anh tôi chập chững bước vào trang Quân Sử với những bài viết đầu tay, ngay khi còn trên giường bệnh.

    Tháng trước anh cùng đoàn cựu chiến binh trở lại chiến trường xưa. Tôi không tham gia được vì sức khỏe không cho phép. Nhìn ảnh anh trầm tư bên mộ các đồng đội. Tôi biết anh đang nén bao tâm trạng trong trái tim đầy nhân hậu cuả người lính từng trải.

    Tuần trước hay tin anh ốm, tôi cố gắng đến thăm anh ở bệnh viện Bạch Mai. Độ này thời tiết khắc nghiệt khiến tôi lúc nào cũng cảm thấy chao đảo. Thăm được anh rồi về. Không còn sức ra 19 Ngọc Hà với anh em.

    Sáng nay bỗng nhận được tin dữ. Tôi choáng. Hiền ở Sài Gòn gọi ra cho biết. Tệ thật! Đáng trách thật! Mình lại là người phía sau, biết muộn.

    Tích Tường Như Lệ ơi! anh lại đi trước trinh sát dẫn đường. Chúng tôi rồi sớm muộn cũng theo anh. Rồi sẽ lại được nghe anh kể những “ Chuyện cười ra nước mắt” ở thế giới bên kia. Có điều anh đi vội quá chắng nhắn lại anh em lấy một lời. Tôi giận anh, tôi trách anh. Năm ngón tay, năm thằng ra quân năm ấy thế là đã mất hai, Đông và anh.

    Ông trời thật không công bằng. Chí ít cũng cho anh được cầm sổ hưu, cho anh nghỉ công tác lấy một ngày, an nhàn bên con, cháu.

    Giận mà giận, thương mà thương. Lòng này ai tỏ. Thướng tiếc bạn vô chừng.


    11h, ngày 22/8/2013
    NT

  12. Có 2 người thích bài viết này


  13. #38
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết
    KỶ NIỆM 42 NĂM NGÀY NHẬP NGŨ 6/9/1971-6/9/2013



    G I ỗ t r ậ n


    Quê tôi xã Đông Tảo, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Trên văn bản ghi là Đông Tảo, nhưng dân địa phương hay gọi là Đông Cảo. Nhiều cuộc tranh cãi không ngã ngũ Cảo hay Tảo. Thôi thì gọi thế nào cũng được, miễn là gợi đến một địa danh có giống gà nổi tiếng cả nước. Nghe nói, năm ngoái có một đại gia tận tỉnh Đồng Nai ra mua một đôi gà giống tốt nhất làng giá 70 triệu. Mục thị sở tại, tôi đã thấy một đôi 30 triệu, một người bà con bán được.

    Ngoài giống gà khổng lồ có đôi chân vĩ đại, quê tôi còn nổi tiếng quanh vùng bởi một sự kiện xảy ra hồi kháng chiến chống Pháp. Đấy là ngày 23/10 năm Mậu Tý( 23/11/1948), được chỉ điểm, giặc Pháp bất ngờ vây càn bắt 42 đàn ông, trai tráng trong làng theo Việt Minh. Người chỉ huy du kích bị chúng cho chó dữ xé xác ngay tại chỗ. Chúng treo cổ luôn năm người lên cây đa giữa chợ để thị uy. Còn lại chúng đem ra sông cái bắn chết vứt xác trôi sông. Cha tôi là một trong số bốn người may mắn không bị bắn. Chúng bắt bốn người làm phu khiêng vác và bia đỡ đạn khi chúng đi càn. Hai người vấp phải mìn của Việt Minh thiệt mạng, cha tôi cùng một người bà con họ xa, may thoát chết bị giải về tống giam ở Nhà Tiền Hà Nội. Mãi một năm sau, mẹ tôi mới hay tin ông còn sống.

    Kể từ đấy, cứ đến ngày 23 tháng mười âm lịch, cả làng lại làm giỗ trận. Đi đâu quanh thôn cũng thấy khói hương nghi ngút.

    Đã gần 70 năm trôi qua, cây đa lịch sử đã bị chặt bỏ để xây chợ đầu mối hai tầng. Thời buổi kinh tế thị trường, cây đa tốn đất lắm, mà lại chẳng sinh lời nên sớm bị bức tử.

    Nhưng, ngày giỗ trận quê tôi vẫn được duy trì. Hàng năm, đến ngày ấy, người già thì đăm chiêu, còn con trẻ thì vô cùng sung sướng vì cả làng được ăn cỗ. Thanh niên tụ tập đánh bài…vv.


    Những tưởng sự kiện đau lòng trên của quê tôi nhiều người biết đến, vậy mà hỏi mấy người ở Hà Nội chẳng ai hay. Hóa ra cũng thường thôi, họ bảo đâu mà chẳng có.

    Chị tôi làm dâu một gia đình gốc Vân Tảo, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây( nay là Hà Nội). Ngoài bố mẹ chồng, anh chị còn phải cưu mang một bà bác già đơn thân ở quê nhà. Thực ra, trước kia bà cũng có gia đình riêng. Nhưng một ngày, giặc Pháp đi càn, một quả mortier (đạn cối), rơi trúng nơi gia đình bà ẩn náu, giết chết hai đứa con trai đang tuổi ăn tuổi lớn. Chồng bà mắt mở trừng trừng, chẳng nói một câu, vác con dao thái thân chuối to bản, sắc như nước, canh xác hai con đặt giữa nhà. Ông lấy chai rượu sủi tăm nút lá chuối ra tu một hơi hết sạch rồi cứ thế chặt hết các chi của mình cho đến khi gục chết bên xác các con.

    Hàng năm, chị tôi về quê chồng làm giỗ cho ông. Ngày giỗ ông cũng là ngày giỗ trận của cả làng. Nghe người già kể lại, cả làng trắng khăn tang. Ai cũng có bà con, ruột thịt bị sát hại.

    Hàng xóm của tôi là một cô giáo trẻ dạy một trường THCS, quê mãi tận Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh. Một sáng, thấy cô không lên lớp mà khăn gói chuẩn bị lên đường. Tôi hỏi thay một lời chào buổi sớm. Không ngờ cô giữ lại kể lể. Hôm nay là ngày giỗ trận ở quê cô. To lắm, không thể không về….Ôi! lại giỗ trận, sao mà lắm giỗ trận thế?

    Dịp rằm tháng bẩy năm nay, mưa sụt sùi bất thường. Có lẽ ông trời cũng khóc than cho những cô hồn vật vờ nơi đất khách. Có việc phải ra đường, đi đâu cũng thấy nhà nhà hương khói, cảnh vật thật sầu thảm y như ngày giỗ trận quê tôi.

    Sáng ngày mười sáu, hay tin Lê Minh đột ngột ra đi đêm qua, buồn quá. Nó thiêng quá, ra đi đúng ngày giỗ trận của trung đoàn tôi, trận rằm, mười sáu, tháng bẩy, năm Nhâm Tý, tức ngày 23- 24 tháng 8 năm 1972. Trung đoàn của tôi phản công, hòng phá thế bị cô lập cho đơn vị bạn giữ Thành Cổ Quảng Trị ở hướng đông, nhưng không thành. Hàng trăm chiến sĩ đã hy sinh. Tôi có gen “may mắn” của cha nên thoát chết.

    Dịp 27/7 vừa rồi Lê Minh còn trở lại chiến trường thắp hương cho các liệt sĩ hy sinh trận ấy ở nghĩa trang Triệu Long, Triệu Thành, vậy mà nay đã thành người thiên cổ.

    Sang năm, dịp này, gia đình Minh lại làm giỗ, hương khói cho anh cũng giống như gia đình anh Châu, thằng Hồng, thằng Đợi.. vv, hòa chung hương khói của cả một “trung đoàn” liệt sĩ.

    Ngồi nhà, nhìn ra ngoài trời mưa rơi, vẩn vơ, tôi nghĩ ngợi. Ngược dòng lịch sử, có ai bỏ công sưu tầm, thống kê những ngày giỗ trận của cả nước, sẽ là môt con số vô cùng lớn.

    Có thể nói, lịch sử “Dựng nước- Giữ nước” hào hùng của dân tộc ta gắn liền với lịch sử của những ngày giỗ trận. Danh sách những ngày giỗ trận ấy có thể còn nối tiếp, khi mà ngoại bang đang ngày đêm còn dòm ngó biên cương.


    Tháng 8/2013
    NT

    No Avatar

    quany103

     13:14, 6th Sep 2013 #22716 

    Bài viết buồn quá bác ơi,khóc cho người xưa ,nay khóc cho người nay.Lê Minh học Trỗi khóa 5 với ba tụi nhỏ nhà em .Cuộc đời dẫu biết lá rụng vơi đi nhưng lá rụng lòng vẫn buồn đau bác nhỉ bố



  14. Có 1 người thích bài viết này


  15. #39
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết
    Thìn ,Tỵ, Ngọ


    Thói quen cha mẹ đặt tên cho con theo những con giáp của năm âm lịch ở nước ta có từ rất lâu đời. Đến nay tuy không phổ biến nữa nhưng vẫn còn. Đặt tên theo con giáp thật tiện vì sau này, chỉ cần réo tên lên là biết ngay tuổi tác, năm sinh của con mình. Tuy nhiên cũng có chút phiền toái vì nhiều người trùng tên quá.
    Đại đội của tôi vào năm 1972 ở chiến trường Quảng Trị có tới 2 thằng tên là Thìn, 2 thằng tên là Tỵ và hai thằng tên là Ngọ. Ngọ DKZ 82 và Ngọ 12,7 ly. Chúng tôi đại diện cho tới 90% quân số đại đội đều sinh vào những năm con giáp ấy. Đều 18, đôi mươi cả. Cái tuổi đẹp nhất của cuộc đời. Nếu không có chiến tranh, có lẽ mỗi đứa chọn cho mình một nghề để mưu sinh, một cô gái để gắn bó suốt cuộc đời. Nhưng chiến tranh đã không cho phép chúng tôi có những lựạ chọn hòa bình như thế. Bị ném vào cuộc chiến tàn khốc, nhiều người đã “Mãi mãi tuổi hai mươi”, mười chín, thậm chí chỉ mười tám. “ Chưa bao giờ được cầm tay một người con gái”, chị Nga, chị của liệt sĩ Phạm Vũ Hồng, khóc nấc lên vì thương em đã nói như vậy trong buổi lễ đón di hài của Hồng về nghĩa trang Tây Tựu năm nào.
    Chưa bao giờ được cầm tay người con gái nói chi đến được chạm vào cái “ấy” của phụ nữ. Chửa biết cái chi chi. Không dung tục chút nào. Đó là quy luật của nhân loại, duy trì nòi giống, tồn tại và phát triển.
    Tôi là một trong số bốn người lính cũ, lành lặn, hiếm hoi còn lại của đại đội từ ngày thành lập đơn vị cho đến hết cuộc chiến,30/4/1975 toàn thắng .

    • Bốn thằng tuổi Thìn
    • Tám thằng tuổi Tỵ
    • Bảy thằng tuổi Ngọ

    Hy sinh.
    Còn lại đa phần là bị thương, tai nạn khi đi kiếm ăn, tự thương, chuyển đơn vị khác và đào ngũ.
    Rất nhiều hy sinh mất mát để lại ấn tượng đậm nét trong tâm trí một cựu binh đã quá tuổi lục tuần. Còn “ rồng” Phạm Vũ Hồng đạn găm trúng ngực, con “rắn” Lê Trung Khánh ( Khánh “Voi”) mất đầu, con “ngựa” Ngọ DKZ chết cháy và con “ngựa” Ngọ 12.7 ly cụt chân.
    Năm kia, Nhâm Thìn, Ngọ”Cụt” tập tễnh từ Phố Cao, huyện Phủ Cừ,tỉnh Hưng Yên về Hà Nội họp mặt anh em đồng đội, nhân ngày lễ mừng chiến thắng 30/4/1975.
    Gặp tôi, hắn cười rất to nói:

    • Tớ là “Ngựa” cả đời nhờ vào bộ vó. Trận đêm 23, ngày 24 tháng 8 năm 72, tớ phi nước đại vượt qua mảnh ruộng trống trải, đạn địch như vãi trấu thoát chết. Nhưng một tuần sau, đi khiêng thương binh, một quả trái phá 105 đã tiện luôn một vó không cho tớ kịp mã đáo. Cũng may nhờ vó cụt, tớ bị loại khỏi cuộc chơi và giữ được cái gáo cho đến nay. Mà cái vó tớ để lại ở Quảng Trị có giá đắt hơn vàng. Bốn mươi năm rồi vẫn lĩnh tiền thương tật đều đều, ăn mãi không hết của.

    Về nhà tớ mở một xưởng mộc, làm ăn phát đạt. Mấy tay thuế vụ và quan tham đến kiếm chuyện, lơ mơ tớ dùng luôn chân gỗ đá cho chạy mất dép. Vó cụt lợi lắm. Khi tham gia giao thông không an toàn, chẳng may có xe nào chẹt phải cái chân giả cũng vô can. Ấy là chưa kể nhỡ có phạm luật giao thông tý chút, mấy cháu cảnh sát cũng xí xóa cho cái thằng già có cái chân gỗ chẳng giống ai.
    Hắn cười hơ hớ vẻ mãn nguyện vì chẳng may, hay may mắn bị đạn pháo tiện cụt một chân.
    Chuyện hắn kể thật lạ!
    Sống gần hết đời rồi mà vẫn thấy ngỡ ngàng.
    Năm ngoái Quí Tỵ, thất hứa không về Phủ Cừ thắp nén nhang cho Khánh “Voi” được. Trước thềm năm Ngựa, tôi gọi điện cho Ngọ “Cụt” hứa dứt khoát năm nay sẽ về, về thăm những đồng đội năm xưa tuổi Ngọ, Tỵ, Thìn.

    Tháng 1, năm 2014
    Như Thìn

    Tranh Ngựa của họa sĩ Lê Trí Dũng nhân năm Ngọ

    Họa sĩ Lê Trí Dũng tặng bức tranh ngựa cho Như Thìn tại quán café Lâm


    No Avatar

    lixeta

     08:33, 18th Jan 2014 #23616 

    Bác phải bảo hẳn tặng thêm con rông nữa.



  16. Có 3 người thích bài viết này


  17. #40
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết
    “Bầm ơi

    Họ là những người lính chiến, mỗi đại đội, một hai người được chọn về. Dù muôn vẻ nhưng tất cả đều hốc hác, bẩn thỉu, mệt mỏi và dễ cáu giận. Hơn ba tháng trời họ không biết đến đánh răng, rửa mặt, tắm giặt là gì. Nằm trong các chốt hướng đông ven Thành Cổ Quảng Trị, họ giành giật giữ gìn từng tấc đất. Đầu đội bom, pháo, chân đạp dây thép gai và mìn, trước mặt là những họng súng sẵn sàng tuôn ra những đường đạn nóng bỏng . Những trận đấu súng dai dẳng chẳng theo qui luật thời gian. Những nắm cơm, vốc gạo rang được chăng hay chớ. Và chết chóc. Cái chết bất chợt rình rập mọi nơi khiến thần kinh của họ căng như những sợi dây đàn, sẵn sàng rung lên chỉ vì một va chạm nhẹ.
    Họ được lui ra tuyến sau an dưỡng mươi ngày. Hà Thượng, một làng nhỏ xơ xác thuộc huyện Gio Linh. Nó cũng rách bươm vì bom đạn như bao làng quê khác ở Quảng Trị năm 1972. Nhưng rất kỳ lạ, chỉ ngót hai chục cây số đường chim bay cách chiến tuyến, vậy mà cuộc sống ở đây dường như thuộc thế giới khác. Mọi sinh hoạt của người dân vẫn bình thường. Còn dăm nóc nhà không hề dính thương tật. Có cả một lớp học, một cô giáo người địa phương mới từ Bắc vào, ngày ngày đứng lớp. Học trò của cô mươi đứa đủ lứa tuổi. Chúng là những đứa trẻ theo gia đình di tản bị kẹt lại giữa đường. Có đứa tận mãi Mỹ Chánh chạy ra. Những đứa trẻ ngây thơ sớm nhuốm mùi thuốc súng. Nom chúng như những con chim non sớm bị đẩy ra giàng, già dặn rất nhiều so với tuổi.
    Bếp ăn của đơn vị an dưỡng được đặt trong một ngôi nhà khá rộng. Chủ nhà là một người phụ nữ luống tuổi, khuôn mặt phúc hậu, tóc đã điểm sương. Bà ở với cô con dâu còn khá trẻ, chị ta ẵm một đứa con còn đỏ hỏn trên tay. Chốc chốc chị lại vạch áo cho con bú rất tự nhiên. Đứa trẻ rúc vào bầu sữa căng tròn của mẹ bú ngon lành. Bà chủ nhà chỉ vào cô con dâu nói:
    - Tại mạ nó đến cữ đúng ngày chạy loạn nên mắc kẹt. Chồng nó cũng đi bộ đội như các chú chừ chẳng biết nơi mô. Thật tội nghiệp. Chắc hắn nóng ruột lo cho vợ con ở nhà lắm.
    Tiêu chuẩn ăn của các lính nghỉ dưỡng khá tốt. Thịt và rau được cung cấp khá đầy đủ. Nhưng ngặt nỗi, thiếu chất đốt. Ở đây chỉ sẵn cát. Chẳng có cây cối gì. Vài gốc phi lao nham nhở còn sót lại sau những đợt oanh kích của phi, pháo.
    Thời tiết rất xấu, những đợt gió mùa đông bắc tràn về kéo theo những cơn mưa rả rích suốt ngày đêm. Người và vật đều ướt át, lạnh lẽo và buồn tẻ.
    Để khắc phục tình trạng thiếu chất đốt, các lính an dưỡng được huy động đi kiếm củi tại một căn cứ quân sự của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, gần Quán Ngang. Phải mất hàng tiếng mới tới nơi. Mọi người hối hả săn tìm những thùng đạn, cọc rào, những thanh gỗ chống hầm bị bom đaò phơi trên mặt đất. Gỗ bị ngâm nước mấy ngày trời, đầy bùn đất và nặng như chì.
    Gần trưa, bị đói rét hành hạ, người ít kẻ nhiều, chất củi kiếm được lên vai, tất cả lục tục kéo nhau trở về. Cũng con đường ấy mà sao dài thế. Họ cố rảo bước, hy vọng một bữa ăn ngon đang đợi ở phía trước.
    Quá ngọ mới về tới nhà, nhưng thật bất ngờ, bữa ăn chưa sẵn sàng đón họ. Bên chái nhà nơi đặt bếp, mái tôn thủng lỗ chỗ, những giọt nước mưa rơi tý tách. Mấy tay anh nuôi mặt mũi nhem nhuốc thi nhau quạt bếp khói mù mịt. Chẳng biết khi nào mới được ăn. Một anh nuôi cầm chiếc đũa cả như cái mái chèo ra sức ngoáy gạo vẫn còn như hồ trong nồi quân dụng to tướng.
    Không đủ kiên nhẫn một chiến sĩ hỏi :
    - Bao giờ mới được ăn đồng chí ơi?

    - Sắp rồi.
    Tay anh nuôi nhanh nhẩu trả lời.

    - Sắp cái con khỉ, từ sáng đến giờ các ông làm gì?

    Một người lính già, tóc bù xù không giữ nổi bình tĩnh sẵng giọng.

    Tay anh nuôi mặt lấm lem cáu bẳn quát lại:

    - Ông đui hay sao mà không thấy chúng tôi làm gì? Mưa thế này, củi thế kia thì đến giời cũng phải chịu.

    - Có mày mù thì có. Củi ướt thì phải chuẩn bị từ sớm chứ. Không nấu được cơm thì cầm súng ra chốt. Đồ ăn hại.

    Tay anh nuôi không vừa. Hắn ném toẹt cái quạt tự chế bằng miếng bìa xuống đất nói:

    - Ông bảo ai ăn hại, không phải thách, thằng này đã từng cầm AK rồi. Mẹ kiếp công thần vừa thôi, chẳng biết đánh đấm có ra gì…

    - Thằng ranh, mày bảo ai công thần?
    Người lính già sấn lại .
    Tay anh nuôi hua cái đũa cả mái chèo lên :
    - Ông muốn gì.
    Mọi người xúm lại.
    Giữa đám lính trận đói rét vừa đi lấy củi về và đám anh nuôi lời qua tiếng lại ầm ĩ. Không khéo xảy ra đánh lộn tới nơi.
    Trong nhà, đứa trẻ sơ sinh đang ngủ trong nôi giật mình khóc ré. Mạ nó đi đâu không rõ, chỉ còn bà nội nó ở nhà.
    Bà lại gần đứa trẻ bế nó lên vỗ nhè nhẹ, mắt như dõi về chốn xa xăm và cất tiếng hát ru:
    Ai về thăm mẹ quê ta .. a..a…a ….a.
    Chiều nay có đứa con xa …a…a….nhớ.. thầm…
    Chất giọng miền Trung trong vắt cất lên. Âm vực lời ca cao vút vượt lên những tiếng cãi nhau ồm, ào. Tiếng ca khéo léo lách vào khoảng lặng hiếm hoi của cuộc cãi vã ngoài sân sắp đến phút cao trào ẩu đả. Bất chợt một vài người lính đang đỏ mặt tía tai nghe thấy những âm thanh lạ điệu ấy. Họ thẫn thờ. Rồi tất cả đều nghe thấy. Không gian bỗng chùng xuống. Tiếng ca mang một sức mạnh siêu nhiên nhanh chóng làm nguội đi những cái đầu vài phút trước còn nóng bỏng. Họ hớp từng lời ca tuôn ra ào ạt lẫn tiếng ngân nga và thậm chí cả quãng nghỉ. Không ai bảo ai, họ hướng vào gian trong nơi phát ra những âm thanh đầy ma lực.
    Bà chủ nhà hát chỉ vừa đủ nghe, tay vỗ nhè nhẹ đứa cháu. Lời ca da diết ngọt ngào. Lúc khoan thai như mái chèo xuôi dòng Thạch Hãn. Lúc rộn ràng như lên thác, xuống ghềnh.
    Những người lính đang ngây người kia, nhiều người không lạ gì bài “ Bầm ơi” của nhà thơ Tố Hữu ngay từ hồi còn trên ghế nhà trường. Nhưng chắc chắn lần đầu tiên họ mới được nghe trực tiếp một nghệ sĩ “ nhân dân” ca theo làn điệu dân ca miền Trung mượt mà đến thế.
    Vạn vật đều chết lặng. Chỉ còn tiếng lép bép của lửa cháy trong lò. Tiếng cơm sôi đều đặn, nhịp nhàng, như dàn nhạc đệm làm nền cho tiếng ca thêm sâu lắng.
    ……………………………..
    Con đi đánh giặc… mười năm
    Không bằng khó nhọc đời bầm… sáu mươi.
    Con ra tiền tuyến xa xôi
    Yêu bầm , yêu nước cả đôi… mẹ hiền…
    Người lính già tóc bù xù chùi vội giọt nước mắt. Những khuôn mặt đờ đẫn ngấn lệ. Họ đang nhớ mẹ, nhớ hình ảnh người mẹ tần tảo đang mãi ở tít mù xa. Bom đạn, chết chóc, đói khát, nhọc nhằn làm họ lãng quên nay bất chợt ùa về trong một hoàn cảnh không ngờ.
    Lời ca đã làm họ như bị thôi miên, những tràng đạn âm thanh xuyên thẳng vào những trái tim tưởng như đã chai sạn, với sức công phá thật ghê gớm.
    Tất cả như chìm trong trạng thái chết lâm sàng.
    Mẹ già tóc bạc hoa râm…âm…
    Chiều nay chắc cũng nghe thầm …tiếng con.
    Những âm thanh cuối cùng của bài ca khép lại. Đứa trẻ đã ngủ từ lâu. Mấy phút sau, những người lính hóa đá vẫn không hề lên tiếng. Họ quên mất từ sáng đến giờ chưa có hạt cơm nào trong bụng. Nhu cầu ăn uống trở nên quá tầm thường với họ lúc này.
    - Kìa các chú, cơm chín lâu rồi mà.
    Bà chủ nhà lên tiếng.
    Mọi người dường như mới sực tỉnh.
    Họ cắm cúi ăn, ai nấy rất kiệm lời. Mỗi người đều mang trong mình một tâm trạng, chắc chắn hình ảnh Người Mẹ đang hiện hữu trong lòng những người lính trận này.
    Dăm hôm nữa họ lại ra chốt. Hành trang họ mang theo sẽ có lời ca của người phụ nữ luống tuổi có khuôn mặt phúc hậu, tóc đã điểm sương, y hệt như hình ảnh những người mẹ của họ ở mãi quê nhà.
    Con đi đánh giặc mười năm….
    Chưa bằng khó nhọc ….đời bầm sáu mươi
    Con ra tiền tuyến xa xôi…
    Yêu bầm, yêu nước, cả đôi …mẹ hiền…

    Tháng 2, năm 2014
    Như Thìn

    baogt's Avatar

    baogt

     21:24, 26th Feb 2014 #23816 

    Chú Thìn cho cháu hỏi bài này đăng ở báo nào chưa ạ?



  18. Có 3 người thích bài viết này


Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •