CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 3 của 5 Đầu tiênĐầu tiên 12345 CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 42

Chủ đề: Bài ca không quên

  1. #21
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết
    Tháng năm, ngày ấy



    Tìm nhà liệt sĩ Phạm Vũ Hồng không được, cả một đoạn phố Khâm Thiên bị xóa sổ trong mùa giáng sinh kinh hoàng năm ngoái, mang tâm trạng nặng nề, tôi trở lại trường Lục Quân.

    Trường Sĩ Quan Lục Quân, còn gọi tắt là trường 200, ở huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội chừng 50 km về hướng tây. Trường nằm trong một khuôn viên rất rộng, cây cối um tùm. Có những cây cổ thụ tuổi đời chắc hơn cả tuổi của trường. Đa phần là những dẫy nhà một tầng nhưng được qui hoạch rất đẹp, xung quanh rất nhiều vườn hoa, cây xanh.
    Căng tin của trường bán nhiều dứa hộp, rất ngon, hơn hẳn những hộp hoa quả hỗn hợp, hàng quân tiếp vụ của lính Việt Nam Cộng Hòa, chiến lợi phẩm, thỉnh thoảng chúng tôi thu được ở chiến trường.
    Sau vài ngày nghỉ ngơi, chúng tôi được khám sức khỏe và biên chế vào lớp học viên sĩ quan khóa dài hạn ba năm, đào tạo cán bộ đại đội. Tốt ! Chí ít ba năm mình cũng tránh xa được hòn tên, mũi đạn. Tôi thầm nghĩ vậy. Những cán bộ cấp trung đội, cùng ra đợt này với chúng tôi thì học một khóa ngắn hạn chừng tám, chín tháng gì đấy, rồi được phong quân hàm.
    Một lần đang đứng trong hàng quân, nghe cán bộ phổ biến một vài nội qui của nhà trường, tôi sa sẩm mặt mày, người ớn lạnh không chịu nổi. Rồi lại nóng và sốt hầm hập. Anh em trong đơn vị vội đưa tôi đến bệnh xá của trường.
    Một bác sĩ đến khám bệnh cho tôi. Anh ta đo nhiệt độ, bắt tôi thè lưỡi, vạch mắt, nắn bụng rất kỹ càng. Sau đó anh kết luận, tôi bị sốt rét tái phát. Lấy một tờ bệnh án, anh ta viết lia lịa những ký tự lằng nhằng chỉ riêng của ngành y mới hiểu nổi. Hết sức ngỡ ngàng vì chưa bao giờ bị sốt rét cả, rụt rè tôi nói:

    - Thưa bác sĩ tôi chưa bao giờ bị số rét cả, sao lại tái phát ạ?

    Chẳng buồn nhìn lại, anh ta đưa mắt ngắm hai con thạch sùng đang đuổi nhau trên trần nhà giây lát, rồi lại cắm cúi viết lia lịa. Khi nét bút cuối cùng kết thúc cái tờ sớ nhằng nhịt ấy, anh ta quay lại hỏi:

    - Tôi là bác sĩ, hay đồng chí là bác sĩ?

    Tôi ú ớ…

    Ngày ngày, sáng, chiều, tôi được cô y tá cho uống mấy viên Quinint, vài viên thuốc vitamint. Nhưng khoái nhất được tợp một chén rượu bổ tăng lực A.P.C.
    Cùng buồng tôi nằm có một tay, nguyên là lính của trung đoàn 95, cũng là học viên sĩ quan đang điều trị bệnh mất ngủ. Đêm đêm, anh ta đi lại như ma, thỉnh thoảng lại lẩm bẩm gì đấy, rất khó chịu. Anh ta bảo, ở chiến trường gác suốt đêm thành quen, đêm cứ chong chong, không sao chợp được mắt. Trông anh lúc nào cũng bơ phờ thật tội nghiệp.
    Nhưng có một lần anh ta kể: “Hồi ở Quảng Trị, một đêm gác, mệt quá anh ngủ thiếp lúc nào không hay. Thám báo bò lên tống lựu đạn vào hầm, ba đồng đội của anh hy sinh rất thương tâm. Ôm xác các bạn khóc vật vã. Từ đấy bệnh mất ngủ phát sinh”. Tôi cho rằng, anh bị sang chấn tâm thần sau cú sốc ấy.
    Bệnh xá 200 hồi ấy không hiểu sao rất lắm muỗi. Đêm giắt màn kỹ thế mà sáng ra thế nào cũng có dăm con mọng máu ngủ chung màn.

    Tay lính cũ của trung đoàn 95 ấy có một thú tiêu khiển rất kỳ lạ. Vì hắn không ngủ được, đêm đêm chui ra, chui vào màn hàng chục lần, thành thử số muỗi mọng máu ngự trong màn của hắn cũng tăng theo tỷ thuận với số lần trở dậy. Hắn bắt sống những con muỗi mọng máu ấy miết vào tường. Vết muỗi máu đen bầm, dần hình thành một cái bàn cờ vuông vuông. Thỉnh thoảng tôi lại thấy hắn nhìn trân trân vào cái bàn cờ ấy hàng giờ, mặt ngây ngây, dài dại như đang nghiên cứu một thế cờ. Không khéo tay này bị điên mất. Mà mất ngủ cũng là triệu chứng của bệnh tâm thần… rất rõ ràng.
    Một hôm thằng Tâm, nguyên sinh viên trường Đại Học Nông Nghiệp, tiểu đội trưởng tiểu đội DKZ 82 và Hùng “Điếc” cùng đại đội hỏa lực cũ, cũng ra học khóa sĩ quan đợt này ghé thăm tôi ở bệnh xá. Thằng Tâm quê Bình Định rất giỏi võ và cũng là một cầu thủ bóng đá có hạng của đơn vị tôi. Chúng mang cho tôi 9 quả trứng vịt làm quà và nói: “Chúng tao chỉ đủ tiền mua thế thôi”.
    Tôi mượn cái xoong chuyên luộc xi lanh và kim tiêm của cô y tá, bỏ tất cả trứng vào bắc lên bếp. Trứng chín, tôi kéo hai đứa ra bụi cây sau bệnh xá, không quên nhón luôn cả chai rượu thuốc .
    Sức khỏe quả là kém thật, mới tu được ba bốn ngụm, có nhiều nhặn gì đâu mà tôi đã chóng hết cả mặt, chân nam đá chân chiêu, mò về giường nằm thẳng cẳng, bữa trưa chẳng buồn đụng đến thìa cháo nào.
    Đến chiều, giờ uống thuốc, cô y tá hỏi tôi có biết chai rượu bổ A.P.C đâu không? Tôi gãi đầu. Cái mặt đỏ của tôi đã tố cáo tất cả. Cô ấy giận lắm nói:
    - Vô kỷ luật, tôi sẽ báo cáo việc này cho viện trưởng Nghiệm.
    Bệnh xá trưởng tên là Nghiệm, chắc là phải nghiêm lắm. Tôi thấp thỏm chờ phán quyết. Nhưng mãi chẳng thấy gì. Có lẽ cô y tá chỉ dọa thế thôi.
    Có điều, mỗi lần uống thuốc, không còn được tợp một chén rượu đầy hưng phấn ấy nữa, tôi cứ thấy thiêu thiếu… thế nào.
    Khoảng hơn hai tuần sau, dứt cơn sốt, tôi ra viện. Chia tay với tay lính cựu trung đoàn 95, bệnh hắn không hề thuyên giảm. Hắn chỉ vào cái bàn cờ lúc này thêm rất nhiều những họa tiết nhằng nhịt, nom như cái triện của vua chúa ngày xưa, bảo:
    - Thành Cổ đấy, chỗ kia là chốt của tao.
    Tôi ngớ người, thì ra hắn không hề “điên” tí nào.
    Bắt chặt tay hắn, mắt rưng rưng, tôi thì thầm, có lẽ cho cả nó lẫn cho tôi:
    - Cần quên bớt đi ông ạ.

    Nói vậy thôi chứ quên làm sao được, tôi ái ngại nhìn hắn đứng bên bức tranh Thành Cổ bằng máu đen sì.
    Trở lại lớp sĩ quan dài hạn, anh em đang trên lớp, doanh trại vắng tanh. Tay trợ lý đại đội bất ngờ báo tôi lên gặp Ban Cán bộ. Sau một hồi vòng vo Tam quốc, hỏi thăm tôi đủ thứ, sức khỏe, gia đình, vv… viên sĩ quan quân lực tuyên bố, tôi không đủ điều kiện sức khỏe tiếp tục học tập. Anh chỉ lên dãy núi xanh xanh, ngay sau trường nói:
    Liệu bây giờ đồng chí có thể khoác 30 kg, ngày hai lần leo lên, leo xuống không?
    Chúng tôi sẽ gửi trả đồng chí về đơn vị cũ.

    Tôi choáng váng. Lúc này, khoác 30 kg lên núi và quay lại chiến trường đối với tôi đều quá sức.
    Cũng chẳng thiết tha gì quân hàm thiếu úy sau ba năm, nhưng biết nói thế nào với mẹ tôi đây.
    Hôm ở Quảng Trị ra, lại biết tôi được cử đi học lớp sĩ quan, bà mừng quýnh quáng. Thỉnh thoảng lại từ chợ Hàng Bè về, tay cầm, lúc thì cái bánh chưng, khi thì bánh dầy giò, bắt tôi bóc ra, ăn luôn. Bà ngắm tôi ăn, nét mặt rạng rỡ, ngon lành như chính bà đang thưởng thức bánh vậy. Bà cứ ngồi thế canh tôi ăn, như thể sợ tôi bay ngay đi mất. Cả chợ đều biết con bà từ chiến trường trở về và sắp làm sĩ quan đến tướng tá chứ không ít.

    Cha tôi là một người đàn ông nghiêm khắc và kiệm lời. Lúc từ cõi chết trở về, tôi chào ông. Ông nói:
    - Tốt.
    Thấy ông thay đổi nhiều quá, tóc bạc hết. Tôi hỏi vì sao bạc nhanh thế. Ông nói:
    - Khi nào con có hai con trai đang cầm súng ngoài mặt trận con sẽ hiểu vì sao.
    Tôi chào ông lên trường SQLQ, ông nói:
    - Tốt.

    Có lẽ tạm giấu cả nhà về chuyện phải trở lại chiến trường.
    Tệ hơn, trong lúc tâm trạng còn rối bời, tay trợ lý yêu cầu tôi thu xếp ba lô, chuyển ra nhà khách ngay, chờ lấy giấy tờ và một ít tiền trợ cấp rồi lên đường.
    Nhà khách nằm ngoài khuôn viên của trường. Đó là một dãy nhà cấp bốn đơn sơ, nằm phía bên trái cổng trường, vật liệu đa phần là cót.

    Gian bên cạnh, có một người vợ lính lên thăm chồng. Hết giờ hành chính, anh chồng mới được ra với vợ. Họ tiếc từng giây bên nhau, chẳng ý tứ gì, tình cảm biểu lộ thật mãnh liệt. Cái bức vách mỏng manh chẳng thể nào ngăn nổi tiếng thở gấp gáp, tiếng giừơng ọp ẹp kêu than. Đêm họ dậy bật đèn, pha sữa lạch cạch, rồi những âm thanh ma quái lại tiếp diễn.
    Mặc dù tâm trạng đang ngổn ngang trăm mối, lại vừa cắt cơn sốt rét, lượng hồng cầu trong tôi có lẽ dưới mức tối thiểu, nhưng những âm thanh “chết người” ấy vẫn làm tôi nóng bừng cả người, cứ như bị sốt tái phát thật. Không thể chịu nổi, tôi ra đầu hồi dội mấy gáo nước, mệt quá gần sáng ngủ thiếp đi lúc nào không hay.

    Sáng ra gặp chị vợ bên giếng nước, cô ta đỏ mặt nói lí nhí:
    - Chồng em mới ở chiến trường ra.
    Khổ quá, nào tôi có hỏi han, hay trách móc gì đâu… Nhìn con chim bồ câu đang bị chị ta xử lý để nấu cháo, tôi thất kinh… lại một đêm trắng là cái chắc.

    Hôm sau, tôi sang Ban Hậu cần nhận giấy tờ và phụ cấp đi đường. Ba khoản rành mạch: Phụ cấp hạ sĩ quan-12 đ, tiền ăn tháng 5-18 đ + 18 kg tem lương thực, 10 đ tiền tầu xe. Tôi hỏi viên sĩ quân hậu cần có biết đơn vị tôi giờ đóng quân ở đâu không? Anh ta nói không rõ. Tôi lại hỏi, thế sao anh lại biết tính tiền tầu xe 10 đồng cho tôi. Liệu có đủ cho chuyến đi không? Anh ta bảo, đấy là trợ cấp thôi. Đồng chí có biết hàng sư đoàn đi bộ dọc Trường Sơn vào chiến trường mà có nhận đồng nào đâu?

    Anh ta nói rất có lý, tôi chịu thua.

    Bọn thằng Tâm, Hùng “điếc” buổi trưa nghỉ, tranh thủ ra chia tay. Tôi cho chúng 10 đồng và nói:

    -Giờ tao giầu rồi. Về nhà ăn chực cơm của ông bà già vài bữa, chúng mày cứ yên tâm.
    Ngay chiều hôm ấy tôi mua vé ô tô ngược về Hà Nội, nói dối cả nhà được về phép.
    Mẹ tôi mừng khôn xiết, ruột gan tôi càng thêm rối.
    Bố tôi bảo:

    - Tốt. Thế bao giờ con phải trả phép.
    - Độ tuần sau bố ạ.

    Tôi trả lời.

    Hà Nội đang trong không khí lễ hội, dân chúng háo hức chờ đến ngày 1/5 xem duyệt binh mừng chiến thắng sau Hiệp định Hòa bình Pa-ri. Mọi người trong gia đình tôi hết sức vui vẻ, lâu lắm mới đông đủ cả nhà. Dĩ nhiên vẫn còn thiếu anh trai cả của tôi, chẳng biết ở nơi nào ngoài mặt trận, bặt tin đến sáu năm rồi. Thỉnh thoảng mẹ tôi nhắc đến anh, lại khóc.
    Duyệt binh năm ấy hơi khác so với những năm trước. Sau khi các khối qua Quảng trường Ba Đình, sẽ diễu hành qua các tuyến phố chính ở Hà Nội.
    Đúng ngày lễ, tôi đi xuôi phố Lý Thái Tổ, qua ngân Hàng Nhà Nước, đến phố Tràng Tiền đón đoàn duyệt binh từ Tràng Thi đi lên. Hai bên đường, đông nghịt dân chúng, có nhiều người từ những tỉnh lân cận đổ về Thủ Đô xem duyệt binh, họ đứng chờ cả tiếng đồng hồ.

    Kia rồi, từng làn sóng mũ Kêpi tăm tắp, nhịp nhàng lên xuống theo nhịp khúc quân hành:

    Vừng đông hửng sáng

    Núi non xanh ngàn trùng xa
    Tổ quốc bao la hiền hòa
    Tô thắm bóng cờ….

    Các khối của các trường sĩ quan, Pháo binh, Hậu cần, Công binh, Lục quân, … lần lượt diễu qua. Đẹp quá, những người lính kiêu hãnh hiên ngang ngẩng cao đầu. Họ đón nhận những tràng vỗ tay không ngớt hai bên đường. Những bước chân rầm rập, đều đặn, oai hùng.

    Nhìn những bộ quân phục mới tinh của họ, chạnh lòng tôi lại nhớ đến bộ quân phục vàng khè, cứng như mo nang của mình từ chốt trở về. Anh em đặt cho tôi biệt danh “Công an” từ đó.

    Nhìn những người lính đang hiên ngang, đều bước, chạnh lòng tôi lại nhớ đến những đồng đội chui rúc trong những căn hầm ngập nước, dưới làn pháo kích của đối phương.

    Nhìn những người lính “bọc đường” kia tôi dám chắc, nhiều người chưa từng phải khom lưng chạy dưới làn đạn của quân thù.

    Tự dưng ứa nước mắt, tôi khóc. Khóc thương cho chính mình, sắp quay trở lại nơi hòn tên mũi đạn. Khóc thương cho những đồng đội đã chết và còn sống, đang ngày đêm giữ gìn từng tấc đất nhỏ nhoi, đánh đổi cả bằng núi xương, sông máu mới có được. Cho những người lính kia bước lên bục vinh quang.

    Hàng quân nhòe đi trong nước mắt. Qua lăng kính bằng tinh thể lệ, tôi thấy thấp thoáng bóng anh Châu, anh Tẹo, thằng Hồng, Định “Xịt”, Khánh “Voi”, thằng Đợi... những bóng ma xiêu vẹo cuối hàng quân.

    - Cháu làm sao thế?
    Tôi nghe có tiếng quen, quen bên tai. Giật mình quay lại, bà thím của tôi đã đứng cạnh bên từ lúc nào.
    Chùi vội những giọt nước mắt, tôi nói:
    - Cháu hơi bị xúc động.

    Quay sang mấy bà bạn đi cùng, thím chỉ tôi nói:
    - Cháu tôi mới ở Quảng Trị ra.

    Một bà, mắt vụt sáng đầy hy vọng, hỏi tôi:

    - Cháu có gặp thằng Thụy nhà cô không? Nó vào trong ấy gần năm nay chẳng thấy tin tức gì. Cô lo lắm.
    Tôi xin lỗi bà, rất tiếc không gặp Thụy.

    Thụy ơi mày ở đâu? Liệu mày có sống sót sau những trận bom B52 kinh hoàng?

    Liệu mày có qua được những trận pháo kích như đổ lửa?

    Liệu mày có vượt qua được những trận đánh trực diện với Thủy Quân Lục Chiến, với Biệt Động Quân, hay Lính Dù?

    Liệu mày có may mắn như tao?... Gần năm nay chẳng có tin tức gì. Lành ít dữ nhiều.

    Vội xin phép mấy bà, quay đi, tôi lẩn tránh cặp mắt đau đáu của người mẹ đang ngóng tin con ngoài mặt trận. Dường như trách móc, tôi có lỗi một phần vì không gặp con bà…

    Trở về nhà, âm thầm chuẩn bị cho chuyến đi vào chiến trường, quan trọng nhất là lương thực, tôi đưa 5 kg tem, nhờ chị tôi mua hộ 5 kg biscot (bánh mì sấy khô), dự trù ăn trong 10 ngày. Chị kêu trời, “Cậu có biết 5 kg gần nửa bao tải không”. “Vậy thì, bốn cân vậy, để em ăn sáng”, tôi nói quấy quá. Trong đầu, phác thảo kế hoạch cho chuyến đi. Đi tầu vào Vinh, đi ô tô khách vào Hà Tĩnh, đến Kỳ Anh, đi bộ theo đường 22 vào Kỳ Sơn, khoảng 20 km đường rừng, tìm hậu cứ của sư đoàn. Chắc họ biết nơi đóng quân đích xác của đơn vị, sau đó sẽ đi tiếp, phương tiện tùy cơ ứng biến.

    Vào một chiều hạ, tháng năm, ngày ấy, tôi đeo bộ đồ trận, khoác balo nhét đầy lương thực, chào bố mẹ lên đường “trả phép”. Mẹ tôi lo lắng, nhìn chòng chọc vào con dao găm, hỏi: “Bao giờ con lại về”. Tôi cố nén lòng khỏi bật khóc, trả lời: “Chưa biết ạ. Nhưng con sẽ về”. Nhìn nét mặt tội nghiệp của bà, tôi chỉ muốn quẳng tất cả đi, lao vào lòng bà như thủa còn ấu thơ.
    Cha tôi, gắt khẽ, “Đừng làm con bịn rịn… Tốt, con đi đi”.

    Tôi biết đằng sau câu “tốt” nhẹ bẫng của ông là cả một gánh nặng tâm tư.

    Tôi đi như chạy, chạy khỏi ngôi nhà đầy ắp những kỷ niệm tuổi thơ, chạy khỏi những đôi mắt đã sinh ra tôi, nuôi dưỡng tôi, dõi theo từng bước tôi đi.

    Chẳng ai đưa tiễn, chỉ có nắng quái chiều hôm đuổi theo tôi đến tận sân ga. Một tiếng sau, con tầu già nua, lười nhác, cựa mình, miễn cưỡng rời ga, đưa một thằng lính vừa qua cơn sốt rét, 21 tuổi, có 21 đồng trong túi, về phương Nam.


    Hà nội, tháng 5 / 1973-2013

    Như Thìn

    P/S
    Năm 1975, trở về, tôi được biết nhà bà bạn của thím tôi mới nhận một bằng Tổ quốc ghi công liệt sĩ Thụy. LS Thụy có họ với Dũng “Bạc” lính C1, sinh viên trường ĐHXD, Thụy gọi Dũng là chú thì phải.

    NT



    Trở về miền Bắc, tháng 7/1975

    No Avatar

    Phong Quang

     10:38, 1st May 2013 #18075 

    Bác Thìn sức khỏe thế nào rồi, mấy cô bạn Huế có giúp được gì không ? Cảm ơn bác vì bài viết này, tâm tư nói hộ nhièu người.

    khottabit59's Avatar

    khottabit59

     09:57, 1st May 2013 #18072 

    Bác viết xúc động quá!



  2. Có 7 người thích bài viết này


  3. #22
    Ngày tham gia
    06-10-2010
    Bài viết
    171
    Thích
    129
    Đã được thích 65 lần trong 35 bài viết
    Cảm ơn Anh Nhưnguyen. Những dòng tâm sự đúng với tâm trạng tôi những năm 1976. Từ QT ra học SQPB ở Sơn Tây. Phong Quảng đưa tôi ra bến xe Kim Mã để lên trường. Sốt rét và bệnh đau đầu hành hạ. Cũng phải tranh đấu rất nhiều giữa ở lại học và trở lại đơn vị. Khác với Anh, sau 4 năm tôi đã trở thành SQ và đi lên BG phía Bắc. Bây giờ mỗi khi nghĩ lại những ngày ấy toc vẫn còn "dựng ngược" lên

    No Avatar

    Phong Quang

     10:58, 1st May 2013 #18077 

    Trở lại đơn vị thì lên Khánh Khê Lạng Sơn, học xong thì đi Simacai tha hồ lựa chọn.



  4. #23
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết


    Còn đây là bằng Tổ quốc ghi công của nhà tôi.

    Anh trai tôi, liệt sĩ Nguyễn Như Phong. Giấy báo tử đợt vét năm 1977, cho các gia đình có thân nhân mất tích coi như hy sinh trong chiến tranh chống Mỹ. Không đơn vị, không nơi hy sinh, ngày hy sinh thì họ tự điền vào (tôi nghĩ vậy). Mẹ tôi khóc hết nước mắt. Cha tôi càng ít nói hơn. Cho đến khi mất, không bao giờ còn thấy ông nói câu “Tốt” nhẹ như “chì” nữa. Mấy năm sau ông bị tai biến mạch máu não, cấm khẩu bẩy năm rồi qua đời.
    Anh trai tôi đi chiến trường cuối năm 1965, đi bộ 6 tháng mới đến Tây bắc Bác Ái, thuộc Ninh Thuận thì phải và biệt tích đến nay. Tôi đã lên Bộ Quốc phòng xin mở hồ sơ Cục 2, nhưng chẳng có thông tin gì. Họ đành sorry. Rất mất công tìm kiếm nhưng vô vọng, cha mẹ tôi đến lúc chết vẫn ân hận không tìm được mộ anh. Các bạn nào ở miền Trung và Tây Nguyên thử để ý hộ. Hình như Tây Nguyên cũng có địa danh Bác Ái. Tôi giờ lực bất tòng tâm. Anh em mỗi người một hoàn cảnh, kiến giả nhất phận. Rất buồn…
    -------------------------------------------------------------------------------------------------
    Tôi với nhà văn Phạm Viết Đào vừa là đồng nghiệp lại là đồng niên, mặc dù anh vào nghề trước tôi độ dăm năm. Phạm Viết Đào là một cây bút thông minh và sắc sảo. Những người viết được như anh ở cơ quan tôi quả là hiếm. Có lẽ vì thế anh hơi kiêu. Bài tôi viết có khi anh không buồn đọc. Hoặc vô tình đọc được thì anh cũng coi chẳng ra gì. Mặc dù tôi viết cũng không đến nỗi nào. Không ngẫu nhiên, có lần giám đốc thưởng cho tôi và anh vì một loạt bài viết tốt. Cũng không ngẫu nhiên tôi và anh được cử làm phó chủ nhiệm hai lớp Lý luận phê bình điện ảnh bậc đại học do Fafilm phối hợp với trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh, tổ chức đào tạo. Và, cũng không ngẫu nhiên tôi được phân công làm biên tập chính cho tờ nội san Phim Mới (Tập san Fafilm) của nghành Phát hành phim.
    Nhưng trong mắt anh tôi vẫn chỉ là con số không.
    Phạm Viết Đào quê Nghệ Tĩnh, tính cương cường “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”, anh thường đưa ngòi bút sắc bén vào những chỗ nhạy cảm hiếm người dám đụng vào. Lãnh đạo gặp anh, vẫn tay bắt mặt mừng, ”Vui là vui gượng kẻo mà…”, thưc ra anh là cái gai trong mắt các sếp.
    Nhưng trong lĩnh vực tổ chức, lãnh đạo vẫn là bậc thầy. Họ gặp anh nói rằng, anh là một tài năng hiếm có, cơ quan là cái áo quá chật so với cơ thể anh. Anh lại rất có sở trường ở những bài viết chống tiêu cực, vậy anh nên về Ban thanh tra của Bộ Văn Hóa. Họ làm quyết định chuyển công tác cho anh. Phạm Viết Đào vui vẻ vác bút lên 51 Ngô Quyền làm việc.
    Thật là nhất cử lưỡng tiện, vừa được tiếng đề bạt anh lên vị trí công tác cao hơn lại hy vọng sóng yên biển lặng từ đây.
    Nhưng họ lại quá lầm. Ở Ban thanh tra Bộ VH, anh càng nhiều thông tin hơn. Từ cao và xa anh nhìn rõ hơn toàn cảnh không chỉ Văn Hóa mà còn cả Xã hội. Ngòi bút anh thọc vào những vấn đề nhức nhối hơn và vĩ mô hơn.
    Để tiện đăng đàn, anh lập Blog riêng, Blog Phạm Viết Đào nhanh chóng được cộng đồng mạng hưởng ứng đón đọc. Rất lắm người yêu, nhưng cũng nhiều người ghét. Bốn lần Blog của anh bị hacker đánh sập.
    Cuối năm ngoái tình cờ gặp anh trong một bữa tiệc, tôi hứa gửi tặng anh một cuốn “Nó và Tôi, một thời hoa lửa”. Mấy ngày sau nhận được sách, anh đọc một lèo và gọi điện cho tôi. Tôi biết, từ nay tôi không còn là con số không trong mắt anh…
    Nhân dịp kỷ niệm ngày lễ 30/4 và mồng 1/5 vừa qua, anh giới thiệu cuốn sách của tôi trên Blog của anh. Xin chia sẻ với anh em về bài viết này.


    ĐỌC “NÓ VÀ TÔI“ CỦA NGUYỄN NHƯ THÌN (Phần 1)


    Chủ blog và Nguyễn Như Thìn cùng công tác với nhau tại Phòng Tuyên truyền Fafilm Việt Nam từ 1980-1990; Hồi đó chúng tôi có 2 việc: Đọc và biên tập lại các bản dịch thuyết minh các bộ phim nước ngoài do anh chị em Phòng Xuất nhập khẩu dịch; Sau đó viết một bài giới thiệu bộ phim đó trên Tập san Fafilm phát hành tới các đơn vị chiếu bóng cơ sở…
    Một công việc vừa hành chính có pha chút báo chí-phê bình điện ảnh…
    Sống với Nguyễn Như Thìn gần 10 năm nhưng tôi không thấy Thìn có thiên hướng hay khả năng gì đặc biệt trong chuyện viết lách; Đọc các bài viết giới thiệu film của Thìn thấy nhàn nhạt, nghèo ý, nghèo cách diễn đạt, ít chất phát hiện… Đọc các bài viết của anh thấy có vẻ viết cho có bài cho đủ định mức…
    Hồi đó chúng tôi ít tìm hiểu chuyện trò với nhau về những chuyện riêng tư vì tôi học ở nước ngoài về và vào nghề trước Thìn 5 năm; Còn Thìn là lính trở về từ chiến trường… Hồi đó ở Fafilm lớp lính với Thìn về rất đông; vì thế nên tôi cũng chẳng hay ho gì đem chuyện sống ở nước ngoài ra kể; Còn Thìn chắc cũng không thích thu đem chuyện đời lính của mình ra mà kể công… Chính vì thế mà chúng tôi ít biết và hiểu về nhau…
    Bẵng đi gần 20 năm gặp lại Thìn trong dịp cuối năm vừa qua do Hội Điện ảnh tổ chức, Thìn mang tặng tôi tập Nó và tôi, một tập hồi ức ghi chép những năm tháng chiến tranh mà anh đã trải nghiệm với tư cách là một người lính thực thụ…
    Tôi đọc một mạch và tập ký ức chiến tranh của Thìn; Cuốn sách đã thật sự làm cho tôi choáng và bất ngờ; phải qua những ký ức bom đạn của anh do anh kể lại, tôi mới hiểu đúng thực chất con người Thìn; Điều mà suốt 10 năm sống làm việc với Thìn tôi không nhận ra…
    Những người lính qua tập sách của Thìn hiện rõ ra được cái chất lãng mãn, hiệp sĩ của cả một thế hệ của một thời máu lửa; Điều mà trong thời bình cái chất đó khó lòng nhận thấy… Có những tố chất đó họ mới vượt qua được sự khốc liệt, chết chóc của chiến tranh…
    Những trang viết về những năm tháng chiến tranh mà Thìn đã trải nghiệm được anh kể lại trong Nó và tôi thật sự làm cho tôi xúc động, quý trọng và kính trọng Thìn và đồng đội của anh, những người cùng trang lứa với tôi…
    Điều quý nhất mà tôi rút ra sau khi đọc Nó và tôi của Nguyễn Như Thìn: Chỉ khi nào con người ta sống cho tới bến bờ cuối cùng của hiện thực của cuộc sống; bị dồn tới chân tường của đời sống thì lúc đó những cảm xúc, ấn tượng đó bật ra, nếu được ghi lại thật trung thành, chân thực thì nó tự khắc trở thành văn chương thứ thiệt… Đó là cái đáng quý, đáng trọng của Nó và tôi…


    Tôi đã đọc nhiều cuốn sách viết về chiến tranh của nhiều nhà văn đã thành danh, đã nổi tiếng nhưng khi đọc họ chủ yếu để tôi tìm hiểu về thông tin, để hiểu để trải nghiệm một tình huống, lát cắt của một giai đoạn nào đó của cuộc chiến; Thú thực khi đọc những cuốn sách, trang sách đó ít khi làm tôi xúc động. Đọc Nó và tôi những điều Thìn viết ra làm cho tôi thật sự xúc động, thật sư tin và hơn thế những ghi chép của anh làm cho tôi quý trọng và kính trọng “chủ nhân“ của những con chữ thật sự như được viết ra từ máu, từ gan ruột… của chính mình chứ không phải là sản phẩm của công nghệ bàn phím…
    Chúc mừng Nguyễn Như Thìn đã ghi lại được những ký ức, những cảm xúc, những trải nghiệm của một chặng đường trai trẻ đầy thử thách nghiệt ngã của một người lính thật sự; Tập sách của Nguyễn Như Thìn đã ghi lại những ký ức của ngày tháng anh từng có mặt tại chiến trường Quảng Trị năm 1972 cho tới ngày 30/4/1975 anh có mặt tại Sài Gòn; cùng với những ký ức chiến tranh dai dẳng bám theo anh cho tới mãi sau này…
    Nhân dịp 30/4 xin trân trọng giới thiệu một số chương trong tập sách của bạn tôi, anh Nguyễn Như Thìn: tập ký ức chiến tranh Nó và tôi do Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 2012.
    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 10-05-2013 lúc 10:12 PM. Lý do: Bỏ in đậm, chính tả và định dạng phù hợp

  5. Có 2 người thích bài viết này


  6. #24
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,509
    Thích
    470
    Đã được thích 1,296 lần trong 560 bài viết
    Cuốn sách "Nó và Tôi" này phải bảo cô hàng lưu niệm móc ra mới mua được ở Thành cổ, anh PQ kể chuyện rồi, không nói nữa. Cuốn sách đã được đặt lên ban thờ Thành cổ, nơi chiến địa cũ, để anh em đồng đội bác Như Thìn bay về xem mình được tái hiện trên dương thế qua những con chữ tự trái tim như thế nào? Chắc các anh ấy mát lòng vì hương hoá bốc to lắm.

    Em mua thêm một cái huy hiệu Thành cổ, đựng trong một cái hộp xinh xắn. Anh Phong Quảng bảo mày đeo huy hiệu Thành cổ thì được, chứ đừng có kể chuyện Thành cổ đấy nhé! Anh em phì cười với nhau. Trên đường đi tiếp, thằng ku con ngồi phía sau cứ dán mắt đọc cuốn sách này. Em bảo tối nghỉ hẵng đọc, đừng đọc trên xe đang chạy hại mắt. Vả lại cũng muốn cho nó ngắm phong cảnh miền Trung trong lần đầu tiên xuyên Việt. Nó vâng vâng, nhưng khi xe chạy đến Đà Nẵng lúc tối thì nó đã kịp ngốn xong cuốn sách rồi. Còn với em, có lẽ cùng là lính nên em đọc thấy thấm hơn đọc bác Đào

    Cái huy hiệu của em thì tìm mãi không thấy đâu. Lúc bay ra Bắc, lộn trái cả ba lô cũng không thấy. Tiếc quá gọi vào Sg nhờ anh PQ lục lại xe ô tô và các túi đồ đi bụi xem có bị rơi lẫn vào đâu không nhưng tuyệt nhiên mất tích. Hay tại lúc sắp lễ mình đánh rơi xoài nên các anh ấy cáu 8-> Hoặc các ông ấy "tịch thu" vì nghĩ rằng ai cho phép mày đeo cái này

    Chắc em sẽ phải quay lại Quảng Trị, Huế một chuyến nữa mất thôi !
    Dậm chân tại chỗ....Dậm !
    <marquee direction="left" scrolldelay="0"></marquee>

  7. #25
    Ngày tham gia
    08-10-2010
    Bài viết
    596
    Thích
    414
    Đã được thích 176 lần trong 119 bài viết
    Trích dẫn Gửi bởi Trungsy1 Xem bài viết
    Cái huy hiệu của em thì tìm mãi không thấy đâu. Lúc bay ra Bắc, lộn trái cả ba lô cũng không thấy. Tiếc quá gọi vào Sg nhờ anh PQ lục lại xe ô tô và các túi đồ đi bụi xem có bị rơi lẫn vào đâu không nhưng tuyệt nhiên mất tích. Hay tại lúc sắp lễ mình đánh rơi xoài nên các anh ấy cáu 8-> Hoặc các ông ấy "tịch thu" vì nghĩ rằng ai cho phép mày đeo cái này

    Chắc em sẽ phải quay lại Quảng Trị, Huế một chuyến nữa mất thôi !
    Chắc vậy, nếu bác mua được cái huy hiệu chiến trường K thì sẽ không mất đâu
    Có những cái bị mất đi mà không lý giải nổi, như cái thẻ nhớ ghi lại hình ảnh bốc mộ LS của gia đình em, do em giữ để định chuyển qua máy tính, em cũng chỉ để trong cặp laptop mà mất không thể tìm thấy được, đến giờ nhắc lại vẫn còn tiếc
    GHÉT SỰ GIẢ DỐI

  8. #26
    Ngày tham gia
    22-12-2010
    Bài viết
    639
    Thích
    487
    Đã được thích 210 lần trong 128 bài viết
    ĐÀ NẴNG DÁM LÀM !?

    Việc này thì nên làm, dù có tốn kém một chút cũng phải làm bằng mọi cách !

    muctau's Avatar

    muctau

     02:03, 12th May 2013 #18598 

    Nó cắt mẹ nó rồi !



  9. #27
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết
    Tháng năm, ngày ấy (tiếp)

    Con tầu già nua không chỉ lười biếng mà còn tùy tiện, đi nghỉ thất thường. Ngồi trên tầu, trên đường thiên lý xuyên màn đêm, vẩn vơ tôi nghĩ đến ông cha từ thủa mang gươm đi mở cõi, nghĩ đến chúa Trịnh bao phen chinh Nam, nghĩ đến thế hệ cha anh trên con tàu Nam tiến giúp Nam Bộ kháng chiến chống Pháp, thủa quốc gia độc lập còn trứng nước. Nghĩ đến thế hệ chúng ta, không biết bao nhiêu đoàn tầu chở thanh niên trai tráng ra tiền tuyến, quyết tâm thống nhất đất nước? Vẩn vơ nhớ đến đồng đội, gia đình, cha mẹ, anh em. Đầu óc chẳng phút thảnh thơi. Thỉnh thoảng tôi lại lấy một nắm biscot, bỏ từng miếng vào miệng nhai chậm rãi rồi tợp một ngụm nước. Hết nước thì ra chỗ vòi nước trên tàu lấy đầy bi đông. Với lính chiến, nước đun sôi là một khái niệm rất xa lạ. Kinh nghiệm trận mạc dạy tôi cách ăn lương khô. Không ăn thành bữa, rất khó nuốt. Ăn thế này, không lúc nào cảm thấy đói, lại không mất thì giờ vì bữa ăn.

    Gần trưa hôm sau, tầu mới đến Vinh, tôi vội vã hỏi đường ra bến ô tô. Bến xe khách đông nghịt. Nhìn cửa bán vé đi Hà Tĩnh mà buồn. Một cái bảng viết cẩu thả bằng phấn hai chữ: “Hết vé” như trêu ngươi. Những chuyến tiếp đều đã bán hết vé, thôi đành chờ đến mai vậy. Tôi ném ịch chiếc balo sau hàng dài mũ, nón, gạch để xếp hàng chờ mua vé. Có hai lính quân phục cáu bẩn, ngực đeo chiếc huy hiệu thương binh lại gần, hỏi tôi có muốn đi ngay không? Họ còn thừa một vé. Tôi vội nhỏm đậy, đúng là buồn ngủ gặp chiếu manh. May thế! Nhưng họ bảo, cho họ thêm mấy đồng gọi là tiền thuốc nước. Thì ra, họ lợi dụng cái huy hiệu trên ngực, ưu tiên mua vé để kiếm lời. Chẳng biết chúng có phải thương binh thật không? Nhìn mặt rất bất lương, tôi lắc đầu buông sõng một câu: Không có tiền. Họ thất vọng quay đi, nhưng vẫn lảng vảng quanh chỗ tôi ngồi. Thỉnh thoảng lại đưa cặp mắt, nhìn chiếc balo căng phồng của tôi. Bọn này mà “đá” chiếc balo thì gay. Mà có một mình làm sao căng mắt suốt đêm được. Chiếc balo đầy cứng biscot, chắc chúng tưởng nhiều của lắm. Tốt nhất để chúng xem trong có gì. Tôi mở balo, động tác dềnh dang, lấy một nắm bánh khô, chậm rãi bỏ vào miệng một miếng. Hai tên mắt đảo như lạc rang, nhìn chiếc balo đầy nghi hoặc. Chắc chúng không tin toàn chứa đồ ít giá trị như thế. Cần phải thay đổi chiến thuật. Tôi rút con dao găm sáng loáng ra, thỉnh thoảng lại quyệt vào đế dép như chùi bụi. Trò diễn này tỏ ra khá hiệu nghiệm, hai tên liếc con dao một lúc rồi lảng đi. Có lẽ chúng nghĩ, cũng không dễ sơi lắm đâu.

    Tuy vậy, đêm tôi vẫn phải gối đầu lên chiếc balo, ngủ ngay tại chỗ. Nửa đêm bật dậy vì có động trên đầu. Hóa ra mấy chú chuột cống tấn công. Chúng đã khoét một lỗ trên nắp balo. Chết tiệt! Từ đấy cứ chập chờn cho đến sáng. Cuối cùng, sau một hồi tả xung hữu đột, tôi cũng có một chiếc vé đi Hà Tĩnh trong tay.

    Qua phà Bến Thủy, hành khách xuống xe, bên kia sông, dãy Hồng Lĩnh đứng sừng sững như chắn đường vô Nam. Sườn núi, một khẩu hiệu khổng lồ “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, có lẽ được ghép bằng đá, đứng xa vài ba cây số vẫn đọc rõ.
    Những ai qua đây đều khắc cốt, ghi xương câu này.

    Xe chạy được chừng một tiếng, tôi bảo tay phụ xe, khi nào đến Kỳ Anh cho xuống nhờ. Anh ta nhìn tôi như từ trên trời rơi xuống nói:

    - Xe chỉ đến Hà Tĩnh thôi, không vào Kỳ Anh.

    Tôi phát hoảng, thì ra mình học môn địa lý không cẩn thận. Cứ nghĩ phải qua Kỳ Anh, mới đến Hà Tĩnh, ai dè còn hơn 50 km nữa thì mới tới được cái thị trấn bé nhỏ nghèo nàn kia. Thôi thế là lại một chặng xe khách tiếp. Rủa thầm sự dốt nát đã tự làm khó mình, chán không tưởng tượng nổi.

    Đến Hà Tĩnh, bến xe lại đông nghịt. Thôi không xếp hàng mua vé nữa, tôi quyết định vẫy xe tải. Cứ lững thững trên đường một, thỉnh thoảng tôi lại vẫy một chiếc xe đang vượt qua. Chỉ hứng bụi mù trên đường, chẳng kết quả gì. Hầu hết ca bin đã chật người. Lái xe chẳng dại gì mà không bắt vài “nghĩa quân”, kiếm chút tiền tiêu xài. Hy vọng còn chỗ cho mình quá mỏng manh.

    Trời nắng như đổ lửa, không khí đăc quánh vì bụi đường. Hai bên, nhan nhản những hố bom to như những chiếc giếng đầu làng. Những chiếc xe tải cháy trơ khung còn sót lại rải rác, dấu tích sau những trận oanh kích của không lực Mỹ vào vùng cán xoong miền Bắc, chặn đường tiếp viện cho tiền phương.

    Sức khỏe chưa hồi phục hẳn, cộng thêm dinh dưỡng không đầy đủ, thời tiết khắc nghiệt, tôi không còn bước thêm được nữa, đành dừng lại, nhìn con đường hun hút phía trước, như có khói vì sức nóng của mặt trời mà nản lòng.

    Đằng sau có tiếng động cơ, một chiếc Com măng ca đang tiến lại. Tôi vẫy tay hú họa. Chiếc xe biển đỏ tạt bên lề đường. Trên xe có ba người, một lái xe, còn lại hai người lính ngồi sau, một già, một trẻ. Tôi xin đi nhờ. Người lái xe nhanh nhẹn mở cửa cho tôi lên.

    Người lính già, tóc đã bạc, khuôn mặt cương nghị, cặp mắt sáng, giọng trầm ấm hỏi tôi về đâu?

    - Thủ trưởng cho em về Kỳ Anh ạ.

    Tôi trả lời. Tôi cứ gọi bừa thủ trưởng vì, người như ông chắc phải giữ một cương vị quan trọng nào đó trong quân đội. Ông gật đầu.

    Ông hỏi tôi ở đơn vị nào, là lính của sư 325, tôi trả lời. Ông hỏi thăm sư trưởng của tôi. Tôi thú thực với ông chỉ nghe tên thôi chưa bao giờ gặp mặt. Tôi nói:

    - Lính chiến chúng em, cấp tiểu đoàn còn chẳng biết mặt nữa là trung với cả sư đoàn .
    Ông cười, hỏi tôi vì sao đi một mình thế này.

    Tôi chẳng giấu chuyện gì, kể với ông từ trường SQLQ tìm đường về đơn vị cũ. Ông hỏi tôi chuyện trận mạc. Ôi! Chuyện gì chứ trận mạc thì tôi sẵn lắm. Ông chăm chú nghe, gật gù. Tay lính trẻ, tôi đoán là cần vụ cứ há hốc mồn ra. Không biết có phải tôi có năng khiếu kể chuyện, hay chuyện tôi kể quá dị thường, mà cậu ta cứ như bị thôi miên. Chẳng mấy chốc xe đã tới Kỳ Anh.

    Mắt chợt buồn, người lính già nói:

    - Ta rất muốn có một người lính dưới quyền như con, nhưng thôi, ta chia tay.

    Quay sang tay lính trẻ ông nói gì đó, anh ta mở balo lấy ra hai hộp thịt, hai gói lương khô đưa cho tôi. Ông nói:

    - Con cầm lấy mà ăn đường, chúc con may mắn, ta đi đây.

    Chiếc xe nổ máy lao vút đi, tôi ngẩn ngơ nhìn, cuộn bụi cuốn theo, chiếc biển đỏ mờ dần rồi mất hút. Người lính già là ai, cấp bậc gì? Tôi tự trách mình đã không kịp hỏi tên ông. Già vậy rồi mà ông vẫn dấn thân vào miền cát bụi, nóng bỏng lửa đạn này. Ông đã tiếp cho tôi nhiều sinh lực, chân nhẹ tênh tôi rẽ vào đường đi Kỳ Sơn.

    Cần phải tranh thủ đi một hai tiếng trước khi trời tối, mai lại đi tiếp, những hơn hai chục cây số chứ có ít đâu?

    Đường rừng chiều không một bóng người, tiếng chim cũng thưa dần, lác đác đâu đó tiếng lá rơi sào sạc. Không gian thật yên tĩnh. Mặt trời cũng đã rúc sau rặng núi xanh xanh phía xa xa. Có tiếng suối reo reo róc rách khá gần. Cần tìm chỗ nghỉ đêm. Cũng tầm này năm ngoái, ở Hà Tĩnh, nghe cánh lái xe nói, đường này còn nhiều thú dữ. Có khi hổ nhảy cả lên thùng xe, chẳng hiểu có đúng không hay họ chỉ dọa vậy, nhưng tốt nhất vẫn mắc võng thật cao để đề phòng bất trắc. Lần theo tiếng nước chảy tôi tìm thấy một dòng suối nhỏ, rất lý tưởng để nghỉ lại. Cần phải kiếm một chút rau rừng. Mấy hôm nay chẳng được ăn chút rau nào, xót ruột quá. Dọc hai bên ven bờ suối, không thấy một ngọn môn thục nào. Ra gần bìa rừng cũng không tìm được một nhánh rau tầu bay. Đang thất vọng, may sao tôi tìm được một cây chút ngút. Tốt, lá nấu canh chua với thịt hộp thì tuyệt. Con dao găm thật đắc dụng. Loáng một cái tôi đã phát xong đám cây lúp xúp, tạo một khoảng trống, dưới hai thân cây vừa tầm mắc võng. Chặt hai chạc cây cỡ cổ tay, đóng xuống đất, gác một cành tươi ngang qua, treo ăng go lên tôi nhóm lửa.

    Nửa tiếng sau thì nghiệm thu thành quả lao động, tôi húp từng thìa canh sao mà tuyệt vời thế. Chúng nhanh chóng ngấm vào thành ruột, trộn vào máu, đến từng ngóc ngách, từng tế bào trong cơ thể. Cảm nhận rất rõ ràng, canh tới đâu, tỉnh người tới đó.

    Bố lính già tốt bụng chẳng khác gì ông bụt, bất thần xuất hiện, giúp tôi thật đúng lúc. Chắc ông cũng có con trai tầm tuổi mình. Biết đâu cũng đang cầm súng ở phương trời nào đó? Không ngẫu nhiên ông gọi mình là con trìu mến đến vậy.

    Từ hôm rời Hà Nội, nay mới được một bữa nóng, lại có chất, sức khỏe được cải thiện rõ rệt. Ăn uống xong, trèo lên võng buông màn tôi ngủ ngay. Mai phải đi sớm, trước lúc mặt trời mọc, tránh nắng thiêu đốt giữa mùa hè vùng gió Lào cát trắng này. Một phần vì đi bộ quá mệt, lại ấm bụng tôi đánh một giấc ngon lành.

    Tảng sáng, tiếng con chim “bắt tép kho cà” xé toang màn đêm, mở lối cho vừng sáng yếu ớt gượng dậy trên nền trời. Bản nhạc rừng tinh khôi bắt đầu. Tiếng chim ríu rít mọi cung bậc. Muôn loài thi nhau cùng hòa tấu. Tiếng nước chảy róc rách như làm nền cho bản nhạc càng thêm êm ái. Khung cảnh thật thanh bình. Dường như chiến tranh chỉ là chuyện của ngày xửa, ngày xưa.

    Một đôi chim gáy vỗ cánh đậu trên một nhánh cây rất gần. Hơi dung tục, tôi nghĩ giá có khẩu AKM ở đây thì thể nào cũng được một bữa tươi. Nhanh chóng thu xếp đồ đạc, ăn nốt nửa hộp thịt hôm qua với chút biscot, cần nạp kỹ trước khi lên đường, lấy đầy bi đông nước, luyến tiếc nhìn con suối thơ mộng, tôi cất bước, dấn thân vào con đường hun hút còn mờ hơi sương. Được vài tiếng, trời mỗi lúc một nóng. Mặt trời dọi xuống con đường bụi đỏ. Con đường trước kia vốn được rải đá cấp phối, nay chỉ còn vết tích. Thỉnh thoảng gặp một vài người đi ngược chiều. Dân địa phương mang sản vật rừng núi ra thị trấn trao đổi hàng hóa. Có lẽ còn dăm, bẩy cây số nữa là đến Kỳ Sơn. Nghỉ một chút đã.

    Đang dốc ngược bi đông, uống từng ngụm nước nhỏ, chợt tôi thấy phía trước có một chiến sĩ khoác balo đi ngược trở ra. Biết đâu anh ta là lính của hậu cứ sư đoàn?

    Đầy hy vọng, tôi chờ anh đến gần cất tiếng chào. Anh ta đáp lại. Tôi hỏi anh có biết hậu cứ sư đoàn 325 ở đâu không? Liệu sắp đến chưa?

    Không vội trả lời, anh ta nhìn tôi từ đầu đến chân rồi hỏi:

    - Ông tìm cứ sư 325 có việc gì?

    - Tôi là lính 101, tìm đường về đơn vị cũ.

    Tôi trả lời.

    -
    Thế thì ông quay lại đi, tôi vừa ở đấy ra, chẳng có ma nào cả.

    Rồi hắn tự giới thiệu tên là Tố, lính trung đoàn 18, vì không đủ sức khỏe nên trường SQLQ trả về đơn vị cũ. Ôi! Một thằng có hoàn cảnh y hệt mình. May gặp nó ở đây, nếu không cuốc dăm, bẩy cây nữa vào Kỳ Sơn thật vô ích.

    Cũng thú vị thật, vậy là có bạn đường.

    Hắn kể một tuần nay rồi, một mình từ Vĩnh Phúc vào đây, tiền sắp hết. Đơn vị thì chẳng biết giờ ở đâu?

    Tôi nói, ông là lính chiến không biết lo xa, bảo nhà chuẩn bị cho một ít lương khô đi đường. Cầm vài chục đồng rải từ ngoài ấy vào đến đây mà còn thì cũng tài. Hắn tần ngần nói:

    - Nhưng chẳng ai lo cho tao cả. Bố tao mất năm ngoái, nhà tao trúng bom, còn mẹ già em dại. Trước khi đi, tao còn phải bớt chút tiền cho mẹ tao.

    Tôi nghe nó nói, thương quá chỉ muốn khóc. Thằng này số còn “khốn nạn” bằng mấy mình. Tôi bảo nó, thôi ông cứ đi với tôi, có gì ăn nấy đừng lo. Nó bảo:

    - Không, tao sẽ quay ra bắc, về nhà, thương mẹ tao quá.

    - Tùy ông thôi.

    Nói vậy, nhưng trước mắt, tôi với nó vẫn thành đôi bạn đường lý tưởng, nhanh chóng trở nên thân tình. Ngược ra Kỳ Anh, hắn nói nhiều quá, đúng là cả tuần nay chẳng được nói chuyện với ai.

    Hắn chìa đôi quân hàm hạ sĩ ra khoe với tôi:

    - Hồi ra Bắc tao tranh thủ chụp một kiểu ảnh, trông oai ra phết, về làng các em chạy theo cả đám. Mê tít thò lò. Có đứa hỏi một sao một gạch là thiếu úy à. Ngu thế. Tao bảo ba năm nữa. Mà nhiều em quá tao chẳng biết chọn đứa nào. Mẹ tao giục lấy đại một đứa đỡ đần mẹ tao lúc neo đơn. Nhưng mày tính, lấy vợ chứ có phải đánh nhau đâu mà ngắm bừa một đứa rồi bóp cò. Mà chúng nó bạo quá tao đâm sợ. Ngồi gần, mùi bồ kết thoang thoảng từ tóc bay ra, tim tao đập thình thịch, hơn cả giáp mặt với bọn Thủy Quân Lục Chiến.

    Tôi bảo nó:

    - Mày kiếm đâu được đôi quân hàm thế. Khi ra bắc, tao cũng được phong hạ sĩ nhưng chỉ trên giấy thôi. Lúc nào ra Kỳ Anh, mày cho tao mượn tranh thủ chụp một kiểu ảnh làm kỷ niệm.

    Hắn vui vẻ đưa ngay. Ngược đến đoạn có con suối, nơi tôi nghỉ lại đêm qua, trời cũng về chiều, tôi bảo nó, đêm nay hai đưa nghỉ lại đây, mai đi tiếp. Nó gật đầu.

    Lần này nhiều thời gian hơn, chúng tôi kiếm được một mớ rau tầu bay, lập tức nhóm lửa nấu ăn. Tôi mở nốt hộp thịt, bố lính gìa cho hôm qua, hai đứa liên hoan mừng hội ngộ.

    Đêm, hắn kể chuyện đánh nhau của đơn vị hắn, chẳng khác gì chúng tôi, đủ cung bậc, vui ít buồn nhiều.

    Sáng hôm sau, hai đứa ra Kỳ Anh. Tôi sẻ cho nó ít biscot nói:

    - Tiền tao còn một ít để đi đường, mày cầm chút này phòng khi đói.

    Nó cám ơn, vẫy xe ngược ra Bắc.

    Hắn đi rồi, tôi giật mình quên chưa trả đôi quân hàm hạ sĩ.

    Cho đến giờ tôi vẫn còn giữ đôi quân hàm ấy, sau này có thoáng gặp lại hắn một lần nữa rồi bặt tin. Chẳng biết nó có vượt qua được trận chiến năm 1975 không? Tôi muốn gửi trả nó đôi quân hàm mà chẳng biết tìm nó ở phương trời nào….

    Tháng năm, 2013
    NT

    Mấy tuần trước có gặp TTNL ở 19 Ngọc Hà, tôi hỏi Tháng năm, ngày ấy, ông già ông có qua Hà Tĩnh không? Minh nói không rõ. Sau năm 1975, trở về trường học tiếp, một lần qua nhà M chơi, thấy ông già nó, cứ ngờ ngợ như đã gặp ở đâu? Tôi thấy khẩu Cac bin M2 dựng góc nhà, mê tít. Cứ thấy súng lại ngứa ngáy hết cả người.

    BinhBet's Avatar

    BinhBet

     06:41, 24th May 2013 #19070 

    bác Như Thìn truy nã giúp chúng em xem bác AK báng xếp đi tu nghiệp ở đâu mà thấy mất tăm



  10. Có 3 người thích bài viết này


  11. #28
    Ngày tham gia
    29-09-2010
    Bài viết
    231
    Thích
    37
    Đã được thích 114 lần trong 48 bài viết
    Bác làm em nhớ và thương ông cụ nhà em quá ! Năm 1974 ông từ B2 ra Hà Nội, mới biết em đã ở Trị Thiên. BTTM có đoàn cán bộ quân lực vào Trị Thiên, ông có nhờ hỏi thăm tin tức. Thông tin báo lại : Con anh nó tự thương...
    Người lính già nghe tin này chắc buồn và đau lắm, sau 30/4/1975 một số đồng đội về trước mới minh oan được.

  12. #29
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết
    Tháng năm, ngày ấy (phần cuối)

    Còn lại một mình, chẳng bụng dạ nào mà chụp ảnh, tôi lững thững đi dọc thị trấn. Ở đây họ bán nhiều nem rán mà dân địa phương gọi là ram. Tôi nhớ đến món nem hôm về nhà mẹ cho ăn lại rất thèm. Tôi quyết định mua hai chiếc giá 3 hào. Ôi sao dai thế, vỏ không phải là bánh đa nem mỏng tang như mẹ tôi mua ở chợ Hàng Bè, mà là thứ bánh đa nướng dầy cộp, lại nguội nên rất dai. Nhưng, đây là Kỳ Anh chứ không phải là chợ Hàng Bè, quận Hoàn Kiếm. Lúc này còn kén cá chọn canh gì. Tôi nhai rất ngon lành, mặc dù nhân họ làm bằng những nguyên liệu gì ăn rất lạ.

    Ăn xong, tôi lên đường, biết đâu lại gặp một ông bụt khác. Lại điệp khúc, vẫy tay phải, mỏi, đổi tay trái, các lái xe chẳng đếm xỉa gì đến thằng lính quần áo bê bết mồ hôi lẫn bụi đường.

    Đi chừng 3 cây số, mệt quá nghỉ một chút. Có một chiếc xe Giải Phóng đỗ bên đường, hình như trục trặc máy móc gì đó. Lái và phụ xe đang loay hoay sửa chữa, mồ hôi mướt mải. Sau một hồi nỗ lực, xe cũng nổ được máy. Tôi đến gần đánh bạo hỏi họ về đâu? Có đi Đông Hà không, cho quá giang? Dường như chưa hết bực vì xe gặp sự cố, lái xe xua tay, buông một câu: Không đi.

    - Vậy các anh về đâu, cứ cho tôi đi nhờ, được đoạn nào hay đoạn đó.

    Tôi nói.

    Lái xe nhìn tôi vẻ ngao ngán, nói:

    - Vào Hồ Xá thôi.

    Hồ Xá cách Đông Hà chỉ 30 km, quá tốt. Tôi cố năn nỉ.

    - Vy các anh làm ơn cho tôi theo, HXá cách Đông Hà cũng không xa.

    - Được thôi, thế ông có tiền không đấy?

    Lái xe hỏi, có vẻ như muốn đánh đố. Tôi moi trong túi ra còn tất cả 15 đồng và một chút tiền lẻ đưa tất cho hắn nói:

    - Tt cchcó thế, anh cho tôi đến đưc đến đâu thì tùy.

    Hắn đút tọt 15 đồng vào túi lẩm bẩm: “Gần hai trăm cây, không ít đâu”.


    Tôi thở phào nhẹ nhõm. Tới được Hồ Xá coi như tới Quảng Trị, vài cây số nữa là đến cầu Hiền Lương thôi.

    Xe lăn bánh. Trái với vẻ khó gần ban đầu, lái xe là một tay vui tính, hay chuyện. Hắn bảo:

    - Mkiếp, thy ông nhếch nhác quá thương tình cho đi thôi ch, lính tráng các ông móc by ngày chng thy v. Bt kha là my chbuôn đưng dài là sưng nht, va có tin, đưc ăn có khi còn đưcy.

    Hắn khoe, có lần vớ được một ả trắng trẻo, thôi rồi Lượm ơi. Hắn hành cho suốt đêm, mong cho thị mệt quá ngủ mê đi mà quên túi tiền dầy như cái bánh chưng, lúc nào cũng kè kè bên nách. Nhưng ả quả là cao thủ, dạn dĩ, tình thì cho chứ tiền thì không thể. Mẹ kiếp, không làm sao moi thêm được đồng nào. Hắn luôn mồn văng tục chửi thề…

    Cũng đã nghe nhiều về nhân cách của đám lái xe, giờ mới mục thị sở tại, vẫn không sao tránh nổi ngạc nhiên, ngỡ ngàng.

    Buổi trưa xe tạt vào một quán ven đường. Chủ quán là một cô bé dễ thương đang ngồi bán những nẹp cá nướng dở. Lái xe bước xuống hỏi mua cá và nhờ nấu bữa cơm trưa. Hắn buông giọng bỡn cợt:

    - Xinh nh, bao nhiêu tui ri, yêu chưa, yêu anh nhé.

    Cô bé bẽn lẽn nói:

    - Cháu mi mưi sáu thôi.

    - Kh
    ông sao, anh ch.

    Lái xe nhanh nhẩu bật lại luôn, hắn vui vẻ trêu chọc cô bé.

    Thông thường những người đi nhờ xe, phải lo ăn cho lái, phụ xe, tôi chẳng còn đồng nào, biết điều lảng ra một góc, lấy biscot trong balo ra nhai chậm rãi.

    Khi cơm chín, hắn gọi tôi lại nói:

    - Thôi vt mnó my miếng bánh mì khô ca ông đi, li đây ăn vi chúng tôi, đng ngi.

    Trộm nghĩ, mình giờ trên răng dưới cát tút, mất gì của bọ, tôi xoa chân ngồi vào mâm chén tì tì.


    Lái xe hỏi tôi, đã mấy ngày không ăn cơm? Tôi trả lời:

    - Mi có ba ngày thôi, còn toàn biscot.

    - Tôi chu ông.

    Hắn nói vậy. Cuối cùng thì hắn cũng hỏi vì sao tôi lang thang một mình thế này. Tôi kể vắn tắt vì sao. Hắn trợn tròn mắt nói:


    - Tôi như ông vmnó nhà, chng đơn vđơn viếc gì hết. Yếu sc không hc đưc thì vnhà, sao li vào chiến trưng, tht không hiu ni.

    Đến chiều thì tới Hồ Xá, xe dừng lại. Tôi xuống xe. Lái xe bảo tôi:


    - Chc ông coi thưng ti tôi lm phi không?

    Tôi chưa kịp nói gì, hắn móc trong túi ra 15 đồng của tôi. Nói tiếp:

    - Ly ông 5 đng tưng trưng, kính biếu ông 10 đng, chúc ông thưng lbình an.

    Hắn nhét vào tay tôi 10 đồng, đóng sập cửa lại nổ máy đi luôn.


    Tôi sững sờ, hóa ra lái xe cũng không quá tệ như tôi nghĩ.


    Thị trấn Hồ Xá thực ra chỉ là hai dãy nhà cao tầng, trước kia, khá kiên cố. Nay chỉ còn trơ lại những khối bê tông, đổ nát, tất cả đều bị phá hủy. Rất nhiều hàng quán tạm bợ, nhanh chóng mọc lên sau Hiệp định hòa bình năm 1973. Cảnh quan mau chóng thay đổi kể từ hai tháng trước, khi tôi mới ra Bắc. Giờ đây, là nơi trung chuyển ra Bắc vào Nam, nườm nượp, người, xe. Bên kia sông Hiền Lương, là tỉnh Quảng Trị mới được giải phóng năm 1972.

    Tôi tạt vào một ngôi nhà đổ nát tránh nắng, bên cạnh là một hàng bán dưa hấu. Cánh lái xe và khách qua đường xúm vào ăn. Họ đưa những miếng dưa đỏ mọng nước lên miệng cắn, những dòng nước hồng hồng chảy xuống cằm, xuống áo cũng không buồn chùi. Vẻ mặt đầy mãn nguyện.

    Khát cháy cổ, vừa nhấp mấy ngụm nước trong bi đông xong vẫn không đỡ, tôi cảm thấy xấu hổ vì bị ám ảnh mấy lát dưa, không giấu nổi sự thèm thuồng, như trẻ con thấy bạn ăn quà vậy.

    Cũng muốn ăn một lát dưa, nhưng họ không bán lẻ. Làm sao ăn hết cả quả được. Mà mình cũng chẳng khá giả gì mà mua cả một quả dưa như thế. Nếu tay lái xe không tỏ ra hào hiệp thì trong túi mình cũng chỉ còn mấy hào. Phía trước đường còn dài. Cần phải tìm một chiếc xe nào đó xin đi tiếp.


    Lại gần một lái xe có vẻ mặt khá dễ chịu, tôi hỏi anh có đi Đông Hà không, làm ơn cho đi nhờ? Tôi sẽ gửi tiền bồi dưỡng. Anh ta nói đang chờ đóng hàng, sáng mai mới đi. Mai cũng được, anh cho tôi đi nhé, tôi nói tiếp. Anh gật đầu, nói:

    - Vy tý na ông đi đóng hàng cùng tôi.

    Lại một đêm vạ vật dưới gầm xe tải. Tôi không sao chợp được mắt. Ban chiều trót uống một bát chè tươi đặc, giờ lĩnh đủ.

    Nằm ngửa, ngắm bầu trời đầy sao, tôi tìm chùm Con Gấu, Cái Gầu, lại bật cười nhớ những đêm gác năm ngoái. Không có đồng hồ, anh em toàn dựa vị trí sao mà đổi gác. Làm sao mà chính xác được, tôi thường phải phân xử những vụ đôi co gác ít, gác nhiều. Chỉ mong ra Bắc, được ngủ một đêm cho trọn giấc.

    Nhìn ngôi sao phương Bắc, tôi lại nhớ nhà da diết. Giờ này mẹ có ngủ được không, hay trằn trọc thương hai đứa con còn tại ngũ? Chí ít bà cũng an tâm có một thằng đang “học” sĩ quan. Con có lỗi với mẹ. Con đã nói dối mẹ, mong mẹ tha lỗi cho con. Nhưng liệu mình có trở về để bà tha lỗi cho không? Cũng khó nói trước lắm. Đất nước vẫn chưa về một mối…


    Sáng hôm sau, mãi 10 h xe mới chuyển bánh. Tay lái xe dùng dằng mãi mới chia tay được với cô bạn ở Hồ Xá. Hắn bảo nhiều bạn gái lắm, nhưng cô này hắn quí nhất. Không biết có nên tin không?

    Một tiếng sau, tôi đã có mặt ở Đông Hà. Một trưa tháng năm, ngày ấy, Đông Hà như chảo lửa, tôi loanh quanh thị trấn. Những ngôi nhà mệt mỏi đứng tựa nhau, cửa khép hờ bên hàng hiên nham nhở vì bom đạn.

    Rẽ qua chợ, tầm này vẫn đông nghịt người mua kẻ bán. Sự sống hồi sinh thật mãnh liệt. Nửa năm trước đây, thị trấn chết chóc này nồng nặc mùi xú khí, mùi bom đạn, gạch vữa ngổn ngang. Vậy mà, nó nhanh chóng trở thành “thủ đô” của vùng mới giải phóng.

    Gần cổng chợ, có một quán nước chanh. Chủ quán là một cô gái xinh đẹp, nước da trắng mịn, luôn tay pha nước cho khách ghé quán. Tôi mạnh dạn bước vào. Có lẽ cũng nên tự thưởng một cốc nước mát, sau một hành trình dài coi như tới đích. Cô chủ quán không chỉ xinh đẹp mà còn dịu dàng, giọng nói nhẹ như sương buổi sớm. Tôi nhấp từng ngụm nước ngọt, mát lạnh thơm lừng. Cô ta đã khéo léo cắt thêm chút vỏ chanh vào cốc nước. Cô gái xinh đẹp, dáng đi uyển chuyển, cất tiếng như chim đã hớp hồn thằng lính trẻ, mệt mỏi, còn vương bụi sau một chặng đường dài. Sau này, máu thi sĩ nổi lên, tôi mạnh dạn phóng bút:
    ………………

    Đông Hà, một trưa tháng năm nắng nằm chen hè phố.
    Có một chỗ mưa, quán bán nước chanh.

    Dù sao cũng không thể gắn keo mãi ở quán nước được, tôi quay ra chợ. Cần phải hỏi thăm nơi đóng quân của đơn vị. Nhưng hỏi ai bây giờ. Nếu có biết, chưa chắc họ đã nói vì bí mật quân sự. Mà ai biết đây? Chợ có nhiều bóng quân phục, tìm một người hỏi hú họa vậy. Đang kiếm mục tiêu để hỏi đường, bỗng nghe thấy có tiếng gọi. Ngoảnh lại, là một thằng nhóc chừng lên mười.

    Tôi nhớ ra rồi, hồi tháng 12 năm ngoái tôi đi an dưỡng ở Lại An, Gio Linh, gia đình nó tản cư từ Hải Lăng ra. Nó bảo đang theo mẹ đi chợ. Nó hỏi tôi đi đâu? Chú đang tìm đường về đơn vị, chẳng biết giờ ở đâu? Tôi trả lời. Không ngờ thằng bé thông minh thế, nó bảo tôi:

    - Chú thhi chú tiếp phm đang mua rau kia xem.

    Ừ nhỉ, sao tôi không nghĩ ra, tiếp phẩm chắc chắn cho đơn vị nào đó, mà biết đâu đúng đơn vị mình.

    Quả là gặp may, tay tiếp phẩm của sư đoàn bộ sư 325, không chút lăn tăn vui vẻ nhận lời dẫn tôi về đơn vị. Anh ta bảo, đang lo sốt vó khoản thực phẩm phục vụ hội nghị. Nhiều thực khách lắm.

    Tôi lên quân lực sư đoàn đưa giấy tờ đi đường và hỏi đường về trung đoàn. Một viên sĩ quan quân lực nói, đơn vị tôi vẫn đóng quanh vùng Cửa Việt. Vài hôm nữa sẽ gửi tôi về đơn vị cũ, còn bây giờ tạm trưng dụng đồng chí phục vụ Hội nghị tổng kết của sư đoàn. Được thôi. “Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua”, lời thề người lính mà.

    Tôi trở thành lính loong toong, sai vặt cho mấy chiến sĩ, vốn là sinh viên trường Mỹ Thuật Yết Kiêu. Dán khẩu hiệu, treo băng rôn, tôi trổ tài leo trèo như khỉ, trang trí hội trường. Mấy “họa sĩ đẻ non” thiếu tháng, cứ trố mắt nhìn. Một gã hơi kênh kiệu, chiếu cố hỏi tôi quê ở đồng rừng nào. Tôi bảo, đẻ rơi trên đường nhựa gần Bờ Hồ. Hắn lắc đầu không tin.

    Hôm sau, ngày khai mạc hội nghị, tôi được điều xuống phục vụ tổ cấp dưỡng. Thỉnh thoảng rỗi, tôi lại tạt qua hội trường nghe các gương điển hình của sư đoàn báo cáo thành tích chiến đấu. Rất nhiều gương dũng cảm, thật đáng khâm phục. Cũng là lính chiến, mà sao tôi không bao giờ mất cảm giác lo sợ, hồi hộp trước giờ nổ súng. Đến khi súng nổ rồi, thì người cứ mê đi, hành động thật bản năng, như đã được lập trình. Chẳng có ý thức, lòng căm thù trút lên nòng súng gì cả.

    Báo cáo tiếp theo là của một xạ thủ DKZ, một mình bắn cháy hai xe tăng trận Cửa Việt. Ai thế nhỉ? Ồ hóa ra là thằng T, cùng đơn vị. Nghe anh em nói, hắn cũng thường thôi. Sáng 28/1, trận Cửa Việt, lệnh ngừng bắn có hiệu lực, hắn đánh dấu hai chiếc xe tăng cháy gần trận địa của chúng tôi tuyên bố, chính hắn tiêu diệt bằng hai phát đạn. Trong cái đêm mịt mù lửa đạn ấy. Có giời mới biết đúng hắn bắn hay của lính xe tăng? Nhưng từ đấy hắn bay lên như diều gặp gió. Được cái hắn to con, nói năng khá lưu loát. Nhưng nghe hắn kể thì tôi không sao chịu nổi. Một mình hắn tả xung hữu đột, chẳng khác gì Triệu Tử Long phò A Đẩu, trong truyện Tam Quốc của Tầu vậy. Cả hội trường vỗ tay rào rào.

    Đến bữa trưa, trông thấy tôi, hắn gật đầu, gõ xuống bàn ra hiệu, mâm này còn thiếu đĩa thịt. Tôi đang bưng mấy đĩa thịt, thú thật chỉ muốn ụp vào cái mặt đầy tự đắc của hắn.

    Từ đấy không bao giờ tôi gặp lại hắn nữa, nghe đâu hắn còn ra Bắc đi báo cáo thành tích, rồi được bổ nhiệm làm chỉ huy một đơn vị hỏa lực nào đấy.

    Ngay chiều hôm hội nghị, tôi gặp tay cán bộ quân lực nằng nặc đòi về đơn vị.

    Anh ta bảo, thôi được, mai tôi gửi đồng chí theo xuồng vận tải về Cửa Việt.

    Sáng hôm sau, tôi lên một chiếc xuồng, máy nổ giòn tan, lướt êm ru xuôi dòng Thạch Hãn. Trời nước mênh mông, phong cảnh tuyệt vời. Tôi cố căng mắt tìm xem chỗ nào là bến Vượt, nơi đơn vị tôi qua sông, dưới làn pháo kích, thỉnh thoảng bầu trời lại sáng rực dưới ánh hỏa châu ma quái của đối phương.

    Tôi cố căng mắt tìm nơi khẩu đội giá súng bắn bộ binh và được nghe thằng Định “Xịt” kể chuyện tình đẹp như mơ của nó.

    Tôi cố căng mắt tìm nơi tôi và thằng Tâm DKZ, đêm rằm tháng tám năm ngoái, bơi qua sông sang bờ bắc. Ban ngày chúng tôi phát hiện ra một vườn thuốc lá, đêm qua lấy cho anh em hút. Tý nữa, cả hai thằng bị lính E18 bên bờ bắc bắn chết khi cập bờ.

    Một chiếc xuồng ngược chiều ngang xuồng tôi. Nghe có tiếng gọi tên mình. Quay sang, hóa ra thằng Tố. Nó vẫy tay rối rít. Tôi không tin ở mắt mình nữa. Tưởng nó ra Bắc rồi, ai dè lại vào đây. Vẫy tay chào nhau, người xuôi kẻ ngược. Bạn về trung đoàn 18, tôi xuôi về 101, từ đấy bặt tin nhau.

    Thò tay, vốc nước xoa lên mặt, vị tanh tanh.

    Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
    Đáy sông còn đó bạn tôi nằm…

    Nước sông hay nước mắt, mằn mặn bên khóe miệng.

    Chiều hôm ấy tôi về đến đại đội. Sáng hôm sau ra chốt giáp ranh, nhận lại tiểu đội. Tay tiểu đội trưởng mới, lạ hoắc lập tức được điều đi đơn vị khác. Mấy lính Hải Phòng nhìn thấy tôi mắt sáng ngời.

    Tôi nhẩy vào công sự pháo, quay khẩu 12.7 đúng nửa vòng, đưa mắt ngắm mặt biển, bầu trời, mặt đất, đồng đội, tất cả đều như rất lạ, lại rất quen…


    Tháng năm, năm 2013
    Như Thìn

  13. Có 7 người thích bài viết này


  14. #30
    Ngày tham gia
    10-10-2010
    Bài viết
    183
    Thích
    33
    Đã được thích 36 lần trong 23 bài viết
    (Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
    Đáy sông còn đó bạn tôi nằm…

    Nước sông hay nước mắt, mằn mặn bên khóe miệng.)


    bác ơi ! Em thấy người ta nói bài thơ này tác giả là "nhân dân" phải không bác ???

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •