CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 2 của 5 Đầu tiênĐầu tiên 1234 ... CuốiCuối
Kết quả 11 đến 20 của 42

Chủ đề: Bài ca không quên

  1. #11
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết
    Trích dẫn Gửi bởi dongdoi_f2 Xem bài viết
    Tiếp với bác Như Thìn, về một khoảng thời gian còn để trống ở Fafim: Đó là khoảng năm 1986- gần 1990, hồi đó có phong trào các văn nghệ sĩ đi "đánh thuê", hay còn gọi là đánh "Pắc" (ý nhại cụm từ lính đánh thuê Pak chung hee), bên truyền hình hay tổ chức đánh pắc là mang phim video và máy chiếu băng betamax chuyên dùng, như loạt phim về điệp viên 007 (như phim Người tình báo yêu em), còn bên Fafim hay đánh pắc là tổ chức chiếu các phim mang danh là "nghiên cứu" để kinh doanh thu tiền, phim màu màn ảnh rộng, như các phim của Hong kong, phim chưởng với diễn viên Khương Đại Vệ, Lý Tiểu Long, hoặc các phim cao bồi Mỹ có Clint Eastwood..., trong đó địa chỉ Fafim - trại tù binh Mỹ - cũng được nhiều người biết đến, vì nổi tiếng với nhiều phim nghiên cứu hay, đặc sắc như loạt phim truyện ca nhạc múa của Ấn độ, lạ món với dân Hà nội!



    Chiến công của người lính thông tin trạm A10



    Chị Hà Tuyên Hà, nguyên trạm trưởng trạm thông tin A10, dặn đi dặn lại: “ Em nhớ đến nhé, đến dự buổi gặp mặt của các cựu chiến binh nhân kỷ niệm 40 năm trận “ Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không”, mà trạm A10 góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng. Em là tác giả tặng sách nên có mặt…Mà biết đâu em lại viết được cái gì đấy…”

    Tôi sẽ đến. Nhưng lậy trời hôm ấy đừng mưa. Lậy thì lậy thế thôi, chứ cái lão trời già khó tính, đỏng đảnh quá đàn bà chẳng biết đâu mà lần.

    Y như rằng hôm ấy mưa thật, một đợt gió mùa đông bắc bổ sung, rét ơi là rét. Người đơ ơi là đơ. Nhưng đơ cũng phải đi. Mấy bạn ở tận miền Nam còn ra nữa là mình, ngay đây.

    Một cuộc hội ngộ giữa các thế hệ CCB lính thông tin trạm A10 thật cảm động. Hai phần ba là nữ, tỷ lệ đăng đàn cũng như vậy. Chuyện các chị kể cũng thật phụ nữ. Có chị, trong 12 ngày đêm Hà Nội bị B52 oanh tạc ấy, đi nối dây giữa bãi sông Hồng, nhìn bom rơi sợ quá, hầm mình không trú, chạy sang hầm thủ trưởng. Hỏi tại sao? Kêu: “Nếu chết thì cũng đỡ buồn”…?

    Tôi đang chăm chú nghe một trong ba nhân chứng sống của trạm A 69 Quảng Bình, kể về cái ngày định mệnh, cả trạm hy sinh, hầu hết chết cháy rất thương tâm, bỗng có người vỗ vai. Ngoảnh lại, thì ra chú em họ tôi tên là Bình. Hắn nói: “Em cũng là lính A10 đây”. Thật ngạc nhiên. Đúng là trái đất tròn. Từ hồi rời Khương Trung, gần hai năm nay tôi không gặp lại hắn. Vẫn cao to, da rám nắng, rắn rỏi, khỏe mạnh, dáng dấp của người lao động chân chất.

    Vậy mà có một thời, cả làng cả họ nhà tôi đồn, hắn là một doanh nhân rất thành đạt.

    Thôi, tạm gác chuyện B52 trên bầu trời Hà Nội năm 1972 lại, tôi kể chuyện chú ấy trước vậy.

    Chuyện là, hơn mười năm trước, họ Nguyên nhà tôi bỗng rộ lên tin có một người mới về nhận họ. Anh ta giàu có lắm. Bố anh ta, từ nhỏ phiêu bạt ở Hà Nội quên cả đường về. Hơn nửa thế kỷ, tình cờ gặp người đi chợ chuối, hỏi ra đúng là người làng. May thế.

    Một lần về quê giỗ họ, tôi được gặp nhân vật ấy. Chính là chú Bình đang ngồi đây.

    Đố kỵ vốn là bản tính xấu của con người. Có lẽ tôi cũng không mất đi cái bản năng dở người ấy. Tôi không ưa gì hắn. Cũng từ Hà Nội về, mình thì đi chiếc xe máy ghẻ, góp giỗ 2 chục nghìn đồng. Còn hắn đi chiếc xe bốn bánh cáu cạnh, xỉa luôn ra 10 triệu tạm cho các cụ lát gạch men nhà thờ họ và cái sân để đi lại cho sạch sẽ. Đã thế hắn không biết đến thế nào là tế nhị. Mình vừa đưa cái phong bì mỏng như tờ pơ luya ra thì hắn đặt lên ban thờ cả một tập tiền dày như cục gạch. Trông hắn chẳng có vẻ gì là một doanh nhân. Nói năng ồn ã. Chắc lại làm ăn chụp giật, giàu xổi, về sĩ diện với họ hàng. Cũng tốt thôi, “ chú khỏe thì anh mừng”.

    Thỉnh thoảng về quê, họ mạc lại kể, chú Bình tiến cho nhà thờ họ, năm thì cái này, năm thì cái kia, tấm tắc ngợi khen. Ôi chuyện nhà quê, một đồn trăm, trăm thổi thành nghìn lạ gì. Không quan tâm.

    Rồi bố mẹ tôi cũng khuất bóng, anh em mỗi người chọn một khoảnh trời riêng. Tôi mua một ngôi nhà 4 tầng tại phố Khương Trung gần cơ quan để đi làm cho thuận tiện. Nhà xây theo kiến trúc Pháp khá đẹp, tám phòng thênh thang ở sao cho hết. Tôi khoan khoái, ngày mấy bận, ra ngắm lại vào nghía. Một lần đang ngắm nghía, bỗng nghe thấy một giọng nói ồm ồm phía sau :

    - Tưởng ai mua nhà này hóa ra là anh à?

    Quay lại, thì ra là hắn đứng lù lù sau lưng mình từ bao giờ. Hắn nói:

    - Em cũng ở gần đây, lúc nào anh lại chơi.
    Không biết anh có nhu cầu mua nhà, em để cho anh một cái. Không dám nói rẻ nhưng chắc chắn hơn cái này rất nhiều.

    Rồi hắn chê cái nhà của tôi. Chê từ bậc thềm đến tận xó xỉnh toilet. Tôi sa sẩm hết cả mặt mày. Ức nỗi, cái gì hắn nói cũng có lý. Hắn làm tôi mất hết cả hứng thú và hoang mang vì hóa ra mình bị hớ.

    À, mà chắc gì. Thói đời, hàng thịt nguýt hàng cá. Mua của chú có khi, càng quen càng lèn cho đau ấy chứ. Tôi nghĩ vậy.

    - Em vừa bán xong cái nhà thứ 60.

    Hắn nói tiếp. Cái gì? Hắn bán những sáu chục cái nhà à? Tôi có nghe nhầm không đấy?
    - Em mua đất, mua nhà cấp bốn, đập đi xây bốn năm tầng rồi bán. Mỗi năm vài ba cái, hơn 20 năm nay rồi anh ạ.

    Thảo nào trông hắn chẳng khác gì gã thợ xây.

    Nhưng phải kiểm tra xem hắn có chém gió không? Tối, tôi hỏi chuyện bác tổ trưởng. Bác ấy bảo : “ Vợ chồng Bình, Phương chứ gì, ai mà không biết. Vợ chồng chú ấy làm ăn đứng đắn lắm. Từ hai bàn tay mà nên. Nay có thương hiệu. Xây xong cái nhà nào là bán hết ngay cái nhà ấy…”

    Rồi một lần tôi cũng ghé qua nhà hắn chơi. Ngại quái gì? Mày giàu nhưng anh vẫn là chi trên, họ hàng vẫn phải có phép tắc.

    Nhà hắn đẹp thật, diện tích mặt bằng có dễ hơn trăm mét vuông, bốn tầng, phòng khách rộng thênh thang. Chỗ nào cũng sạch như lau, như li, đồ đạc gọn gàng ngăn nắp.

    Vợ hắn cao to như vận động viên bóng chuyền, sắc sảo và tháo vát. Rất đon đả:

    - Em còn lạ gì nhà anh.(Giọng to không kém gì chồng)

    Mẹ anh bán chuối cho khách sạn Sofitel Metropole từ thời Pháp thuộc cho đến tận những năm 80 của thế kỷ trước. Em thường vào nhà anh lấy hàng, em làm tiếp phẩm cho khách sạn mà. Nhà anh ở phố cổ nhưng rộng lắm. Có cái giếng trong sân, có cây bàng cổ thụ…

    Hà Nội bé như bàn tay, đi đâu cũng có người biết rõ tung tích nhà mình. Bực thật.

    Trong lúc chuyện trò, tôi thấy một người phụ nữ đã cứng tuỏi, nhưng không mất đi vẻ xuân sắc một thời, luôn tay dọn dẹp nhà cửa. Cái nhà này tinh tươm thế, chắc chắn phải nhờ đôi bàn tay nhỏ nhắn của người đàn bà kia. Đoán là người giúp việc, tôi khen xã giao:

    - Chú thím tìm đâu được người giúp việc tử tế thế?

    - Không hẳn là người giúp việc đâu anh. Chúng em móc từ bãi rác Đầm Hồng lên đấy. Chuyện hơi dài em kể anh nghe.

    Cô vợ nói:

    “Cách đây gần hai chục năm, có một phụ nữ trẻ, ôm một đứa con đỏ hỏn dặt dẹo qua nhà. Mặt mũi chị ta cũng sáng sủa, không đến nỗi nào, ra dáng người tử tế vậy mà sao đến nông nỗi này. Cả mẹ và con đều đói lả. Đứa bé khóc ngằn ngặt. Mẹ thế thì làm sao có sữa cho con được.

    Nhìn cảnh thật thương tâm, động lòng trắc ẩn, vợ chồng chúng em cho ăn rồi hỏi chuyện:

    - Chị ở đâu? Sao khổ thế này?

    Cô ta ngơ ngác chỉ vào tai. Hóa ra bị nghễnh ngãng. Phải nói to mới hiểu.

    - Em ở Đầm Hồng.
    Cô ta trả lời.

    Ồ, xóm bụi Đầm Hồng, toàn dân tứ chiếng. Vợ chồng chúng em lạ gì, mấy cái lều rách nát, cạnh bãi rác hôi thối, muỗi khủng khiếp, không điện, nước.

    - Thế chị tên là gì? Quê ở đâu?

    - Em tên Hồng. Quê không biết.

    Chị ta trả lời.

    Sao lại có người không biết cả quê mình thế nhỉ? Vốn cũng là dân tha phương cầu thực, chồng em chạnh lòng nói, chuyện ấy có gì là lạ.

    Vợ chồng em hồi ấy mải làm ăn, nhà cửa con cái ít có thời gian ngó ngàng, bàn nhau, hay để chị ta thử giúp việc nhà. Mà trông hoàn cảnh của hai mẹ con của chị ấy cũng không đành lòng. Em bảo:

    - Chị có thể ở lại giúp việc cho nhà tôi, công sá tôi trả đàng hoàng, con chị còn nhỏ quá không thể ở bãi rác ấy được đâu?

    Chị ấy gật đầu. Thế là từ đấy nhà em có người giúp việc.

    Được vài ba tháng, mẹ con đã có chút da, chút thịt. Có người xui: “ Chị còn trẻ, cũng tinh ranh đi ở mãi sao được, đi chợ rau có đồng ra đồng vào, tự do, sau này còn lo cho con …”

    Bùi tai, chị ấy nằng nặc xin nghỉ việc. Chúng em cũng chẳng giữ.

    Một lần vợ chồng em rẽ qua Đầm Hồng xem chị ta ăn ở thế nào, thật khổ không thể tưởng tượng được. Chợ rau đi từ ba giờ sáng, lúc thì cắp con theo, khi thì gửi vạ vật, con bé quặt quẹo như cái dải khoai, vết muỗi đốt khắp người như phát ban. Chẳng họ hàng, dây mơ rễ má gì mà chồng em rên rỉ như chính người ruột thịt lâm vào cảnh ngộ ấy.

    Từ hồi chị ấy không giúp việc nhà, tụi em cũng bí lắm. Cái máy giặt em cũng chẳng biết bật thế nào, chị ta giỏi lắm, cái gì cũng biết. Hai đứa con em suốt ngày nhắc đến cô Hồng, sốt hết cả ruột. Em bảo:

    - Một ngày chị đi chợ lãi được bao nhiêu? Tôi sẽ trả gấp đôi. Chị quay về giúp việc nhà cho tôi đi. Mà con bé nhà chị cũng không thể ở đây được, nó chết vì muỗi mất.

    Thế là, chị ấy khăn gói trở lại nhà em.

    Mấy đồng đội cũ của anh Bình ở trạm A10 có dịp ghé chơi. Trông thấy chị Hồng họ kéo chồng em ra hỏi: “Ông với cô ta thế nào? Cô ta không phải tên là Hồng đâu? Là lính thông tin của đơn vị X, có tiếng xinh gái. Bị hỏng tai vì đeo cáp nhiều quá, ra quân đã lâu sao lại dạt về đây?”.

    Nhà em ngớ người, thảo nào ngay từ đầu cứ thấy quen quen như đã gặp ở đâu? Chết thật, thì ra là một đồng đội thông tin.

    Từ đấy, chúng em coi chị ấy không chỉ là người giúp việc, mà còn là một đồng đội sa cơ lỡ vận cần được giúp đỡ. Chúng em không bao giờ đả động đến đời tư cuả chị ấy. Có những vết thương lòng cần chôn chặt, đế sống tiếp. Phải không anh?

    Mười lăm năm sau, con gái chị Hồng lớn lên xinh đẹp như một bông hoa dại bất chấp gió mưa.

    Chúng em mới giật mình. Thôi chết con bé cần phải có giấy tờ tùy thân, một cái chứng minh thư cho cuộc đời phía trước của nó. Nhưng muốn có chứng minh thư thì phải có hộ khẩu. Mà hộ khẩu của nó thì, nói vui chứ thuộc diện KT 2 ở cái Đầm Hồng, do mấy thằng đầu gấu quản. Đến cái giấy khai sinh còn chẳng có thì nói gì đến hộ khẩu kia chứ. Hỏi mẹ nó, chị ta chỉ ngồi ôm mặt khóc, chẳng nói gì. Chắc, lại đụng đến nỗi đau thầm kín. Chán ghê.

    Nhờ tay công an phường giúp đỡ, nhưng chỉ nhận được cái lắc đầu. Song, anh ta mách, về vùng quê nào đó nhờ nhập khẩu tạm vào đấy, rồi làm chứng minh thư. Ở nông thôn dễ hơn nhiều.

    “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền...” Cộng thêm một chút khả năng tài chính, chúng em cậy cục nhờ một người quen ở tỉnh Hà Tây, mãi tít gần chùa Hương, nhận cháu làm con nuôi, cam kết không đòi hỏi bất kỳ một quyền lợi gì.

    Tưởng xong việc, ai dè đến ngày làm thủ tục nhập hộ khẩu, ông chồng phản đối, không chịu ký vào giấy tờ, sợ mua chuyện rắc rối sau này . Thế có bực mình không?

    Bình nhà em tức quá, vợ chồng đành thất vọng quay về. Nhưng rồi, gần nửa đêm, chị vợ nhắn chúng em vào ngay. Có một ông bác nhân hậu, thông cảm với cảnh ngộ của hai mẹ con chị Hồng đã nói giúp. Ông chồng xuôi xuôi. Chúng em vội vàng đi luôn.

    Mọi chuyện từ đấy suôn sẻ. Con bé đã có chứng minh thư. Cái vụ ấy, chúng em tốn khối tiền. Hàng năm, vào những ngày lễ tết, vợ chồng vẫn phải về Hà Tây, quà cáp cám ơn . Chỉ sợ người ta trách, không biết ăn ở, phải có trước, có sau.

    Lo chứng minh thư cho cháu xong, lại lo đến việc làm. Em đã nhắm cho nó một chỗ ở khách sạn. Nhưng phải biết ngoại ngữ . Thế là chúng em bắt cháu học tiếng Anh như điên. Thậm chí sắp đến ngày phỏng vấn, thuê cả gia sư về kèm thêm. Giờ nó đã là một nhân viên làm bếp có biên chế đàng hoàng, lương lậu cũng rất khá. Chúng em chẳng lấy đồng nào, dạy cháu tiết kiệm, có chút vốn sau này mang về nhà chồng kẻo người ta coi thường.

    Một lần vợ chồng em nói chuyện nghiêm túc với chị Hồng:

    - Từ lâu chúng tôi coi chị như người nhà. Nếu chị không chê thì cứ ở đây với chúng tôi. Vợ chồng chúng tôi còn ngày nào thì lo cho mẹ con chị ngày ấy. Nếu chẳng may chúng tôi khuất bóng trước, thì con tôi, cháu tôi sẽ lo cho chị. Hãy yên tâm.

    Tai nghễnh ngãng nghe câu được câu chăng, nhưng chị ấy hiểu hết. Rơm rớm nước mắt khóc và nói:

    - Mẹ con em được như hôm nay phải cám ơn anh chị rất nhiều. Từ lâu em đã coi đây chính là nhà của em…Chết em cũng sẽ là ma nhà này. Anh chị đã nhặt mẹ con em từ bãi rác Đầm Hồng…Chị ấy nói thế làm chúng em cũng không cầm nổi nước mắt.

    Nhà em bảo, không cần phải cám ơn. Tôi biết chị đã từng là lính thông tin, đồng đội của tôi. Đồng đội giúp nhau là lẽ thường. Mà không có chị giúp việc nhà, chắc gì chúng tôi đã có được cơ ngơi như hôm nay”.

    Tôi nghe chuyện chú thím ấy kể mà cứ như truyện cổ tích. Thật khó tin.

    Cho đến giờ, chị Hồng đã là bà Hồng. Bà đang chăm sóc thế hệ thứ hai của nhà chú em tôi. Bà còn nhanh nhẹn và khỏe mạnh lắm. Tôi thấy bà còn nắn từng nét chữ cho thằng “Tít”, cháu đích tôn của chú Bình. Có dễ bà còn chăm sóc đến đời chắt nhà chú ấy chứ chẳng chơi. Vợ chồng chú em họ tôi thì đang bận rộn, chuẩn bị đứng ra tổ chức đám cưới cho cái “Bống” con gái của bà Hồng. Mươi hôm nữa là nhà trai bưng tráp tới.

    Kể cũng lạ. Một người lính thông tin, sa cơ lỡ vận, thân phận bọt bèo dạt vào nhà một người lính thông tin trạm A10 rồi coi như nhà mình. Một người lính lo cho đồng đội như chính anh em máu mủ ruột già. Cánh sóng nào dẫn họ đến với nhau. Chỉ có trời mới biết.

    Xin lỗi chị Hà, đáng ra em phải viết về chiến công của trạm A10, trong trận “Hà nội – Điện Biên Phủ trên không”. Song, em lại đi kể chuyện tào lao về chú em họ tên Bình. Nhưng em nghĩ, việc làm của chú ấy cũng đáng được coi như một “chiến công”.

    Chiến công của người lính thông tin trạm A10, có phải không hả chị?


    Tháng 12, năm 2012
    Như Thìn




    P/S
    Cho đến nay, không biết tên thực của bà Hồng là gì, cuộc sống riêng tư của bà vẫn còn là một ẩn số. Có lần bà nói, đời bà lắm truân chuyên. Bà lớn lên không có bố. Giờ đến đời con bà lại thế…Thật buồn!

    No Avatar

    Phong Quang

     17:43, 14th Dec 2012 #13054 

    Đúng là chiến công của lính A10 và cánh sóng nhân ái đã giúp họ gặp nhau

    No Avatar

    ONGBOM-K5

     15:42, 14th Dec 2012 #13048 

    Nghe bác kể mà thấy rưng rưng. Vẫn còn rất nhiều người giàu tình thương phải không bác Thìn.


    Sửa lần cuối bởi Nhữnguyên; 14-12-2012 lúc 02:26 PM.

  2. Có 4 người thích bài viết này


  3. #12
    Ngày tham gia
    11-10-2010
    Bài viết
    485
    Thích
    372
    Đã được thích 385 lần trong 222 bài viết
    Trích dẫn Gửi bởi Nhữnguyên Xem bài viết
    Chiến công của người lính thông tin trạm A10

    .......
    Xin lỗi chị Hà, đáng ra em phải viết về chiến công của trạm A10, trong trận “Hà nội – Điện Biên Phủ trên không”. Song, em lại đi kể chuyện tào lao về chú em họ tên Bình. Nhưng em nghĩ, việc làm của chú ấy cũng đáng được coi như một “chiến công”.

    Chiến công của người lính thông tin trạm A10, có phải không hả chị?


    Tháng 12, năm 2012
    Như Thìn
    ......
    Qúa chiến công ấy chứ.
    Cảm ơn bác Như Thìn, có 1 câu chuyện đẹp về tình yêu, tình cảm của lính.
    Xin lỗi chị Cả Hà và các bác, cá nhân tôi, thích nghe những chuyện này hơn, là chuyện bắn rơi B-52 (mà số liệu B-52 rơi, tôi chả tin cái con số 34 cái tẹo nào).

  4. #13
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết
    Trích dẫn Gửi bởi baoleo Xem bài viết
    Qúa chiến công ấy chứ.
    Cảm ơn bác Như Thìn, có 1 câu chuyện đẹp về tình yêu, tình cảm của lính.
    Xin lỗi chị Cả Hà và các bác, cá nhân tôi, thích nghe những chuyện này hơn, là chuyện bắn rơi B-52 (mà số liệu B-52 rơi, tôi chả tin cái con số 34 cái tẹo nào).
    Trước thềm năm mới 2013 và nhân sắp kỷ niệm 40 ngày ký Hiệp định Hòa bình Pa-ri ( tháng 1/1973- 1/2013), xin gửi anh em một bài:

    Người cắm cờ trên chốt Long Quang


    Gần 40 năm rồi, ông Lễ mới có dịp trở lại chiến trường Quảng Trị năm xưa. Nhiều lần ông cũng định về thăm lại nơi mà ông và bao đồng đội đã đổ xương máu giành giật, giữ gìn từng tấc đất. Nhưng ngặt nỗi, đường sá xa xôi, chi phí cho một chuyến đi cũng không phải ít. Đành chờ, đành đợi vậy. Từ khi ra quân rồi xây dựng gia đình riêng, ông cũng chẳng khá giả gì. Nuôi hai đứa con ăn học tử tế cũng là một cố gắng tột bậc của ông. Giờ hai đứa đã khôn lớn, có công ăn việc làm đàng hoàng. Thôi thì, trông lên cũng chẳng bằng ai, nếu có ngó xuống còn hơn khối người. Tự hài lòng với cuộc sống hiện tại, vậy là tốt lắm rồi.

    May sao lần này, hội cựu chiến binh phường tổ chức cho anh em cựu chiến binh thăm lại chiến trường, kinh phí 50/50. Có nghĩa, chỉ phải bỏ ra có một nửa. Không chần chừ gì nữa, ông khoác ba lô lên đường. Vẫn cái ba lô bạc màu ấy, ông cất vào tủ đã lâu, nay mới có dịp dùng lại. Trông nó cũ kỹ và nhàu nát làm sao, nhưng ông quí lắm. Nhiều lần vợ ông bảo bỏ đi cho rộng chỗ, song ông không chịu. Mỗi lần giở ra, ông như được xem lại một đoạn phim tài liệu quay chậm, ngược thời gian. Đây Đông Hà, Bích La, Chợ Sải, Tri Bưu. Kia An Tiêm, Linh Chiểu, Long Quang vv, những địa danh mà trung đoàn 64, sư 320 của ông từng tham chiến.

    Ông nhớ nhất cái lần thay chốt cho đơn vị bạn. Mấy thằng lính Thủy Quân Lục Chiến Cộng Hòa tưởng vẫn đánh nhau với đơn vị toàn lính mới, chúng thổi còi dậm chân, rung cây dọa khỉ, hô xung phong bắt sống “Bắc Bình”. Đúng là trò mèo, nhưng non gan nổ súng trước là dễ ăn ngay cối cá nhân M79. Ông cùng anh em bình tĩnh chờ chúng đến gần, chừng 20 thước mới xiết cò. Cứ hai viên một đều đặn, thỉnh thoảng lại bồi một phát B40, 41 như pháo đùng. Cái anh đạn lõm chống tăng ấy, anh em chơi cả bộ binh. Có thế chúng mới khiếp, lũ “Trâu điên” mới hết điên. Chúng kéo xác đồng bọn chạy tháo lui.

    Đêm, đại đội phó Hưng kéo ông mò sang chốt địch. Cũng sợ thật. Anh Hưng gan dạ có tiếng. Bò xuống hầm, sờ thấy mấy đôi giày cao cổ của lính Cộng Hòa xong anh mới leo lên thả liền hai quả US, rồi rút lẹ.

    Nhưng những người lính dạn dày như ông cũng rụng dần. Đại đội có lúc chỉ còn hơn chục tay súng. Đại đội phó Hưng cũng bị thương nặng, đành phải chuyển ra phẫu trung đoàn. Đen cho anh Hưng quá. Nhưng cũng may cho ông. Anh ấy mà kéo ông đi tập kích vài lần nữa thì ông cũng dính đạn mất. Bom đạn ác liệt thật. Vòng ngoài thì máy bay cường kích và bom B52 rải không theo một qui luật nào. Vô phúc trúng phải một quệt bom, có khi mất sức chiến đấu cả một tiểu đoàn. Sát chốt thì pháo bầy, pháo khoan, cối 106,7, đào xới đất tơi như xi măng. Thương vong quá nhiều, biết bao nhiêu sư đoàn cho đủ. Mà đánh nhau kiểu gì lạ thế. Cứ phơi lưng giữa ban ngày ban mặt cho hỏa lực Mỹ phát huy hết tác dụng. Chẳng cần tìm và diệt. Mang tiếng ông ở sư đoàn Đồng Bằng nhưng mấy khi đánh nhau ở đồng bằng. Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù. Rồi màn đêm vốn là đồng minh với quân Giải Phóng. Giờ những lợi thế ấy không còn nữa. Cứ kéo dài hàng tháng thế này thì sức mấy mà trụ nổi. Tám mốt ngày đêm, Thành Cổ đành thất thủ. Tiếp đến là những ngày dai dẳng giữ chốt. Tổn thất rất nặng nề. May đầu năm 1973 Hiệp Định hòa bình Pa- ri có hiệu lực, lính tráng thờ phào, thế là sống.

    Thỉnh thoảng vào những năm chẵn, người ta lại tổ chức kỷ niệm chiến thắng Quảng Trị thật rầm rộ. Ngồi nhà, ông Lễ xem truyền hình trực tiếp lễ kỷ niệm lại thấy ngứa ngáy hết cả người. Năm nào cũng vậy, mấy khuôn mặt quen thuộc xuất hiện. Họ kể chuyện trên trời, dưới đất mà sao nghe chẳng thấy giống chuyện của đơn vị ông chút nào. Có ông nói ngân nga như ca vọng cổ, rõ chán. Lính tráng gì mà nói năng dấm dớ thế. Lắm lúc tức như bị con bò kéo gạch của lão Hinh đầu ngõ đá trộm vậy. Bực thì tắt ti vi đi chứ làm sao mà cãi nhau được với đài. Vợ ông cằn nhằn, đang hay thì lại tắt. Ông gọi điện thoại cho mấy đồng đội cũ trút giận.

    Dứt khoát phải vào trong ấy một chuyến. Lần này thì ông vào thật. Cũng là để thắp mấy nén hương cho các đồng đội xấu số. Chúng nó chết cho ông sống mà, quên ơn làm sao được. Lịch trình cho chuyến đi kín mít. Sáng thăm nghĩa trang Trường Sơn và nghĩa trang Đường Chín. Chiều thăm bảo tàng Thành Cổ.

    Hai cái nghĩa trang bạt ngàn là mộ. Thông và mộ nhiều chẳng kém gì nhau. Tiếng thông reo rì rầm trong gió, như có cả binh đoàn Giải phóng đang tập hợp đội ngũ trước giờ xung trận. Thật bi tráng, khắp các tỉnh phía Bắc đều có mặt các liệt sĩ ở đây. Thôi các anh nằm đây cũng mát mẻ. Nườm nượp các đoàn đến viếng thăm. Một góc rừng miền tây Quảng Trị không mấy lúc ngớt khói hương.

    Chiều về, ông chen vai thích cánh vào bảo tàng chiến tích Thành Cổ xem hiện vật và nghe cô thuyết minh xinh đẹp trong bộ áo dài may khéo, phô những đường cong hút hồn đang ru khán giả bằng chất giọng miền Trung êm ái, nhẹ nhàng. Thả hồn theo những dòng ký ức trận mạc, ông Lễ bỗng giật mình, nghe thấy cô nhắc đến Chốt thép Long Quang và một trong 34 lá cờ cắm vào sáng ngày 28/1/1973 lịch sử. Ông còn lạ gì trận ấy. Chính ông là người cắm lá cờ đầu tiên. Mọi người vây quanh, cô thuyết minh trình bày diễn biến của trận đánh. Nhưng không hẳn như thế. Ông còn nhớ như in mà:

    Từ tháng 12 năm 1972, đơn vị ông được giao nhiệm vụ giữ chốt Long Quang, xã Triệu Trạch, huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị. Tiểu đội ông cắm trên một doi cát nhỏ nhô ra rất gần địch. Ngày 27 tháng 1 năm 1973, địch pháo kích bất thường và mở nhiều đợt tấn công vào chốt của ông. Nhưng tiểu đội ông vẫn đứng vững và gây nhiều tổn thất cho đối phương. Trận đánh kéo dài suốt đêm tới sáng ngày 28, bên kia chiến tuyến, ông thấy chúng phất rất nhiều cờ vàng. Có chuyện gì thế nhỉ? Quay lại phía sau ông báo cáo với Chính trị viên đại đội Nguyễn Văn Nguyên. Anh Nguyên cũng không hiểu chuyện gì, đành quay về gặp tiểu đoàn trưởng Cù Hoàng Liêu. Hóa ra, đúng 8 giờ sáng ngừng bắn, Hiệp định hòa bình Pa-ri có hiệu lực, hai bên cắm cờ khẳng định quyền kiểm soát lãnh thổ. Chết thật, vậy mà đại đội ông không hề hay biết. Cũng may, huyện đội trưởng Triệu Phong có mặt khi đó, vội đi kiếm một lá cờ giải phóng giao cho C viên Nguyên mang ra chốt. Ông cầm cờ, hai chiến sĩ trong tiểu đội, Nguyễn Văn Khà và Lê Văn Thu đều quê Nghệ An cắp hai khẩu AK yểm trợ cho ông tiến lên. Chỉ một rẻo cát chừng hai chục thước mà ông thấy dài thế. Cát và dốc dưới chân mới khó bước và mệt làm sao. Bỗng bên kia, lính Cộng Hòa hô to: “ Không được mang vũ khí”. Khà và Thu đành dừng lại, còn mình ông vẫn bước tiếp. Ông biết, hàng chục cặp mắt đang dõi theo ông, kèm theo là những họng súng đen ngòm của cả hai phía. Chỉ một cái nháy cò..thôi không dám nghĩ thêm nữa. Tim ông đập thình thịch. Hãy bình tĩnh, bình tĩnh, ông tự nhủ. Khoảnh khắc ấy, ông cảm thấy như cả không gian lẫn thời gian đều chết lặng. Nhấc bước chân nặng nề cuối cùng, ông cắm phập lá cờ giải phóng bên cạnh lá cờ vàng bé tẹo mà đối phương đã cắm từ bao giờ. Tất cả như vỡ òa trong tiếng reo vui của cả hai bên. Quân ta ào lên, quân địch ùa xuống. Hai kiểu quân phục. Hai giọng nói Bắc, Nam, nhưng chung một tiếng mẹ Việt Nam. Cảm xúc thật khó tả trào dâng trong lòng. Một viên sĩ quan Cộng Hòa, bên cạnh là mấy lính truyền tin, tự giới thiệu, thiếu tá Quang Hải người Cần Thơ. Để tỏ lòng thân thiện, ông ta nói, trước giờ ngừng bắn đã không nỡ cho nổ súng vào ba chiến sĩ Giải phóng đang cố tiếp cận tiêu diệt xe tăng. “Tôi cắm cờ cho vui thôi…” ông ta nói thế. Nhưng với ông thì khác. Mỗi tấc đất là xương máu của anh em. Kể cũng lạ, khi đối mặt trước trận tuyến thì một mất, một còn. Vậy mà, hòa bình rồi chúng cũng không quá tệ, ông nghĩ vậy. Cần phải tắm một cái và ăn một bát cơm nóng, đó là món quà đầu tiên ông muốn đựơc hưởng trong hòa bình. Đến tầm trưa, một hàng khoảng ba chục lá cờ giải phóng đã phần phật tung bay trong gió trước chốt Long Quang.

    Chuyện như vậy. Nhưng, những người đang vây quanh cô thuyết minh xinh đẹp kia làm sao mà biết được là như vậy?

    Trở về nhà, ông Lễ cứ day dứt mãi. Ông quyết định phải viết một bức thư gửi bảo tàng Thành Cổ Quảng Trị, kể rõ ngọn ngành.

    Ông đánh vật với từng câu chữ, viết rồi lại xóa. Viết rồi lại chữa, sao mà khó thế. Mãi cũng chỉ đươc mấy chữ: “Tôi Nguyễn Công Lễ, cựu chiến binh đại đội 3, tiểu đoàn 7, trung đoàn 64, F320, hiện đang ở phường Quang Trung, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam…”

    Nhưng rồi ông cũng hoàn thành xong bức thư, vội vàng gửi đi và thấp thỏm chờ hồi âm. Một tuần, hai tuần. Một tháng rồi hai tháng. Ba tháng rồi nửa năm, ông chẳng thấy thư trả lời. Hay là họ chưa nhận được thư của ông. Vô lý, nếu không có người nhận thì bưu điện sẽ trả lại người gửi. Ông còn ghi rõ cả số điện thoại đàng hoàng mà. Hay họ bận phải tiếp đón nhiều đoàn. Hay chuyện của ông cũng không quá quan trọng. Chẳng phải như cái xe tăng A hay xe tăng B húc đổ cổng Dinh Độc lập năm nào. Bây giờ sửa lại cũng phức tạp lắm. Mà chắc gì họ đã tin ông ngay. Còn phải kiểm chứng chứ. Nhưng ai kiểm, kiểm ai. Cũng khó thật. Với lại chuyện của ông kể, chắc gì với họ đã là hay. Nhất là cái tay thiếu tá Hải ấy. Không khéo sai phạm quan điểm chính trị ấy chứ. Viết và kể lịch sử cho đúng đường lối cũng không phải dễ. Chính ông đã xé bỏ đến chục tờ giấy chứ có ít đâu. Có khi lịch sử cũng phải nghệ thuật hóa. Có nghĩa là cũng phải ngân nga như ca vọng cổ tý chút. Ông là một người lính bình thường, nhìn ở góc độ bình thường, không ngân nga được. Mà đã ngân nga thì cũng dễ xa nguyên mẫu. Thế thôi. Chẳng nói đâu xa, ngay ở nhà, chẳng bao la, bát ngát gì, ông kể cho con bao nhiêu lần về cái chốt Long Quang ấy, thế mà chúng vẫn cứ gọi là Long Giang. .. . buồn cười thật! Buồn cười thật!

    Tự dưng ông lại thấy hài hài, ngồ ngộ, hết cả băn khoăn day dứt. Ngẫu hứng, ông ca một đoạn hát văn đặc sản Nam Hà với lời vừa tự chế: “Triệu Phong, Triệu Trạch, Long Quang,…Quê hương Quảng Trị í.. i..ì..i”.

    Từ đấy không thấy ông Lễ ngóng thư hồi âm từ Thành Cổ nữa.

    Tháng 11, năm 2012
    Như Thìn

    No Avatar

    ONGBOM-K5

     21:29, 28th Dec 2012 #13324 

    đơn vị bác Thìn là : e64-f320B (f390) chứ ? còn f320 thì đang ở B3 cơ mà !

    No Avatar

    Phong Quang

     14:55, 28th Dec 2012 #13323 

    ...Có khi lịch sử cũng phải nghệ thuật hóa.


    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 30-12-2012 lúc 11:34 AM. Lý do: Bác NT: em chèn ngắt câu cho dễ đọc chút nhé

  5. Có 5 người thích bài viết này


  6. #14
    Ngày tham gia
    11-10-2010
    Bài viết
    485
    Thích
    372
    Đã được thích 385 lần trong 222 bài viết
    Cảm ơn bác Như Thìn.
    E tin những câu chuyện như thế này, hơn hàng chục lần những câu chuyện được đăng chính thống trong hệ thống lề phải.
    Đọc bác và tiếc thay: những anh em chiến binh tham gia trận mạc, có đến hơn 90% không có điều kiện để viết -in-xuất bản.
    Vậy nên, kính các bác cựu binh trong các trang mạng về quân sử, các bác hãy viết nhiều hơn nữa đi ạ. Thời gian không còn nhiều.
    Kính bác Như Thìn và các bác.

  7. Có 1 người thích bài viết này


  8. #15
    Ngày tham gia
    29-09-2010
    Bài viết
    231
    Thích
    37
    Đã được thích 114 lần trong 48 bài viết
    Bác Thìn là lính 12,7 đã bao giờ hô khẩu lệnh bắn máy bay chưa, phim Hà Nội 12 ngày đêm có khẩu lệnh bắn máy bay : Trả thù cho đồng bào Hà Nội, Bắn!
    Bắn máy bay mà bác thêm câu đó thế nào chả hạ được máy bay. Nghệ thuật hoá như thế cũng chưa đến nỗi nào so với bịa sử, đạo văn bây giờ.

  9. Có 1 người thích bài viết này


  10. #16
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết
    Trích dẫn Gửi bởi Phong Quang Xem bài viết
    Bác Thìn là lính 12,7 đã bao giờ hô khẩu lệnh bắn máy bay chưa, phim Hà Nội 12 ngày đêm có khẩu lệnh bắn máy bay : Trả thù cho đồng bào Hà Nội, Bắn!
    Bắn máy bay mà bác thêm câu đó thế nào chả hạ được máy bay. Nghệ thuật hoá như thế cũng chưa đến nỗi nào so với bịa sử, đạo văn bây giờ.
    Báo An Ninh Thế Giới gần đây có bài ca ngợi chiến công của quân dân Quảng Bình và không quân VN xin trích một đoạn như sau:"...Năm 1971 sân bay dã chiến khe Gát(Tuyên Hóa). Bộ đội không quân đã ém máy bay Mig 21 ở đây và xuất kích tiêu diệt được 2 hàng không mẫu hạm của Mỹ tại biển Lý Hòa và Đồng Hới. Đó là chiến công có một không hai trong lịch sử chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình...."


    Trộm nghĩ tác giả bài viết trên đang tham gia cuộc thi nói phét. Hoặc anh ta là thằng ngu, hay anh ta coi bạn đọc là những thằng ngu. Bạn Phong Quang nghĩ sao?

    Trungsy1's Avatar

    Trungsy1

     17:17, 29th Dec 2012 #13340 

    Bạn đọc không ngu, tác giả cũng không ngu. Thế mới là chủ nghĩa anh hùng CM chứ bác!



  11. Có 1 người thích bài viết này


  12. #17
    Ngày tham gia
    29-09-2010
    Bài viết
    231
    Thích
    37
    Đã được thích 114 lần trong 48 bài viết
    Trích dẫn Gửi bởi Nhữnguyên Xem bài viết
    Báo An Ninh Thế Giới gần đây có bài ca ngợi chiến công của quân dân Quảng Bình và không quân VN xin trích một đoạn như sau:"...Năm 1971 sân bay dã chiến khe Gát(Tuyên Hóa). Bộ đội không quân đã ém máy bay Mig 21 ở đây và xuất kích tiêu diệt được 2 hàng không mẫu hạm của Mỹ tại biển Lý Hòa và Đồng Hới. Đó là chiến công có một không hai trong lịch sử chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình...."


    Trộm nghĩ tác giả bài viết trên đang tham gia cuộc thi nói phét. Hoặc anh ta là thằng ngu, hay anh ta coi bạn đọc là những thằng ngu. Bạn Phong Quang nghĩ sao?
    Kính Bác Thìn : Cỡ tiến sĩ, phó giáo sư, đại tá Trần Đăng Thanh tự xưng là lính Quảng Trị còn chả nhớ nổi thơ Lê Ba Dương ( cả tên tác giả cũng không nhớ nữa ) mà dám đọc, dạy cho các giáo sư các trường Đại Học toàn quốc. Em nghĩ, mấy vị giáo sư này cũng bị cho là ngu nốt, may còn có ông dám ghi âm lại dân tình mới hiểu
    Giờ nó đã là bộ phận không nhỏ bác ạ, ông Lễ chán chờ thư là phải. Bài ca không nhớ nổi bác ơi !

  13. Có 1 người thích bài viết này


  14. #18
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết
    Trích dẫn Gửi bởi baoleo Xem bài viết
    Cảm ơn bác Như Thìn.
    E tin những câu chuyện như thế này, hơn hàng chục lần những câu chuyện được đăng chính thống trong hệ thống lề phải.
    Đọc bác và tiếc thay: những anh em chiến binh tham gia trận mạc, có đến hơn 90% không có điều kiện để viết -in-xuất bản.
    Vậy nên, kính các bác cựu binh trong các trang mạng về quân sử, các bác hãy viết nhiều hơn nữa đi ạ. Thời gian không còn nhiều.
    Kính bác Như Thìn và các bác.
    Bạn ONGBOM ! Tôi ở tiểu đoàn 3 trung đoàn 101 sư đoàn 325, cũng trực tiếp tham gia trận ngày 27 sáng ngày 28/1 năm 1973, quanh Cửa Việt.

    Còn bác Lễ trong truyện ở sư 320 B, đúng như bạn nói. Song, vì tôn trọng lá thư của bác Lễ gửi Bảo tàng Thành Cổ nên tôi giữ nguyên.

    Đáp lại ý của bạn Baleo, kêu gọi các cựu chiến binh hãy tích cực viét trên các trang quân sử, tôi xin đăng lại bài dưới đây, có thể có bạn đã đọc rồi, nhưng cũng có bạn chưa đọc cùng chia sẻ:

    Hãy viết cho mình, cho mai sau


    Tôi có mấy thằng bạn lính, viết hùng hục như trâu cầy trên trang QSVN. Dân chuyên nghiệp như tôi cũng vô cùng thán phục. Chúng làm được cái việc mà, đáng tôi phải có nghĩa vụ làm từ lâu. Thank…chúng nó. Nhân đây tôi xin kể một chuyện vui:

    Vào khoảng năm 1978, khi tôi đang học năm thứ 3 khoa Ngữ Văn trường ĐHTH Hà Nội, chúng tôi phải học một chuyên đề: “Thơ và mấy vấn đề trong thơ VN hiện đại” của giáo sư Hà Minh Đức. Học xong thì phải thi. Ôi, mà thi thơ thì thật là mông lung. Gọi là “mấy vấn đề”, nhưng nó bát ngát, bao la không kém gì tâm hồn của mấy chàng thi sĩ say rượu. Nếu không khoanh lại một chút, chắc cả lũ, phải quay vòng tua hai, thi lại là cái chắc. Được sự đồng ý của Giáo Sư, lớp cử tôi đến nhà thày để nghe hướng dẫn ôn trọng tâm. Không khác gì như lính trinh sát đi trước tiền trạm, tôi lững thững thả bộ đến số nhà 3x… phố Hàng Đào. Ngoài là một cửa hàng bán quần áo và mỹ phẩm náo nhiệt, hỏi thăm, bà chủ chỉ vào cái ngõ, thực ra là cái ngách bên cạnh. Nó hẹp như hào chiến đấu mà cũng tối như hầm ngầm. Tôi đánh liều chui vào, mò mẫm trong bóng tối, rồi bất ngờ vấp phải một cái thang . (Hồi ấy ban ngày không có điện).Vẫn cứ trong bóng tối, tôi lên gác hai . Lại lần theo một cái ngách đầy bí ẩn nữa, tôi đâm sầm vào một bức vách, có lẽ bằng cót ép, tôi nghĩ vậy. Một tiếng cười trong trẻo phá lên, may trong bóng tối, nếu không cô gái nào đó sẽ phát hiện ra tôi đang đỏ mặt vì xấu hổ. Một giọng nói thanh nhẹ của một thiếu nữ chắc chắn gốc Hà Thành cất lên: “…gặp thày Đức phải không. ..cứ đi thẳng…”. Ôi may quá, đúng là gặp cứu tinh. Cuối cùng cũng thấy ánh sáng cuối đường hầm . Không gian như bị xé toang, sáng lòa. Một căn phòng đẹp, cổ kính, sàn lát lim hiện ra. Phía trứơc phòng là một cái sân thượng trông ra cả một ma trận nóc nhà. Nghe kể lại, mẹ tôi suýt đẻ rơi tôi khi đi chợ Hàng Bè. May, giữa phố Gia Ngư cạnh đây, số 14 có một nhà hộ sinh. Tôi lớn lên vẫn quanh quẩn ở khu này. Vậy mà không làm sao hình dung ra nổi những nóc nhà kia, đang ở đâu? Đón tôi vào nhà, pha một ấm trà thơm, khoan thai từ tốn thày hỏi chuyện :

    - Cậu cũng đi bộ đội về à? …Có phải trận mạc gì không?

    Tôi đáp lại :

    - Vâng, có ạ.

    - Chắc là gian lao vất vả lắm, cậu kể cho tôi nghe… Ông nói tiếp.

    Tôi lưỡng lự giây lát. Nhìn khuôn mặt đôn hậu, giọng nói chân tình cởi mở của thày, tôi mạnh dạn kể. Thực ra không phải là kể, mà là cởi hết nỗi lòng của những thằng thư sinh nếm mùi trận mạc. ..Khi thì hành quân vất vả, khiêng súng nặng như cùm. Lúc thì vượt sông dưới mưa bom bão đạn của kẻ thù. Những trận đánh đẫm máu…Rồi đói ăn, khát uống...Thày nghe chăm chú. Đôi mắt như cảm thông, chia sẻ và khuyến khích : Kể nữa, kể nữa đi…em. Bất chợt, nhìn đồng hồ, gần một tiếng trôi qua, tôi đã lạc đề, lỗi tối kỵ của những thằng cầm bút. Nhiệm vụ chính của tôi chưa hoàn thành. Nếu vác cái mặt về mà chỉ được dăm ba chữ thì, thằng Khanh lớp trưởng, vốn là lính trinh sát pháo sư đoàn 325 sẽ băm tôi làm đôi. Tôi vội vàng xin phép thày dừng chuyện. Nhìn tôi với ánh mắt trìu mến, thày nhẹ nhàng nói:

    - Cậu hãy viết đi. Viết những gì mà cậu vừa kể với tôi. Trút hết những kỷ niệm ấy lên trang giấy trắng. Thêm một vài thủ pháp tu từ. Một bố cục rõ ràng, một cảm xúc chân thực. Sẽ là một tác phẩm hoàn chỉnh. ..Các cậu không viết thì ai viết? Hãy viết cho mình và cho mai sau.

    Giật mình nhìn lại, thế mà đã mấy chục năm qua. Tóc đã bạc, sức đã yếu, quỹ thời gian chắc chẳng còn nhiều. Lúc này, có lẽ phải viết như chạy đồ cháy nhà. Có thể là một túi tiền, nhưng cũng có thể chỉ là một cái chổi cùn, rế rách. Nhưng không sao ...hậu xét. Nước Nga, hơn nửa thế kỷ sau cuộc Chiến Tranh Vệ Quốc Vĩ Đại lần thứ nhất, đại văn hào Lep-tôn-stôi mới cho ra đời bộ sử thi bất hủ Chiến Tranh và Hòa Bình.

    Vậy các bạn ơi! Hãy viết đi, trước hết là được trải lòng. Sau là, giúp cho các nhà văn, tài giỏi hiện tại và sau này, có tư liệu chân thực cho một bộ sử thi hoành tráng tương lai, xứng đáng với tầm vóc của dân tộc.

    Tháng 5 năm 2011
    Như Thìn


    Một đoạn vĩ thanh buồn. Lê Đỗ Khanh, nguyên trinh sát pháo sư đoàn 325 trong truyện đã mất mấy năm nay. Độc thân, đột tử trong một căn phòng cấp bốn khu tập thể Học viện Báo chí Và Tuyên Truyền, nơi anh công tác. Mấy hôm sau mới có người hay…Thật đau xót! Thương thằng bạn tôi “râu hùm, hàm én…mày ngài”. Chẳng hiểu hắn đã kịp viết gì chưa?... NT
    Sửa lần cuối bởi Nhữnguyên; 30-12-2012 lúc 07:53 AM.

  15. Có 4 người thích bài viết này


  16. #19
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết
    Bia liệt sĩ
    Rải rác biên cương mồ viễn xứ
    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
    ( Quang Dũng)

    Đầu tháng 12/2012 vừa qua, gia đình liệt sĩ Nguyễn Văn Minh, nguyên sinh viên K15 khoa Toán cơ trường ĐHTH Hà Nội, nguyên lính thông tin, trinh sát pháo sư đoàn 325, làm lễ gắn bia cho mộ anh ở Quảng Trị. Sau nhiều năm vất vả kiên trì, thân nhân của anh đã tìm thấy một ngôi mộ vô danh được xác định là của anh. Tôi chưa tin lắm nếu không thử AND. Nhưng thôi, gia đình đã tin như vậy thì là như vậy.

    Tấm bia đá thật đẹp, chữ tô đỏ chóí. Hơi tiếc tên đơn vị không chính xác. Đáng phải là D14 chứ không phải E 14 và phần cấp bậc, chức vụ lại bỏ trống. Dù sao đó cũng chỉ là tiểu tiết. Quê anh ở Thanh Hoá, đá đẹp khá sẵn và thợ tài hoa cũng nhiêù.

    Nhìn tấm bia rực rỡ, chạnh lòng tôi lại nhớ đến những tấm bia liệt sĩ một thời nằm rải rác khắp Quảng Trị năm nào.

    Cuối tháng 7 năm 1972, đơn vị của tôi từ miền tây Quảng Bình hành quân qua những dãy núi hiểm trở vào Vĩnh Linh rồi vượt qua giới tuyến chia cắt hai miền. Cuộc hành quân 5 ngày vất vả, khắc sâu vào ký ức của người lính trẻ lần đầu ra trận. Những ngọn núi leo nửa ngày mới lên đến đỉnh. Chẳng biết khi nào mới tới được binh trạm. Quân trang đi B nặng gầng 40 cân, cộng thêm với vũ khí. Đứng còn chẳng vững nói gì đến đi. Những cô gái giao liên trở thành bia trút giận cho những người lính kiệt sức và nóng nảy. Thật tội nghiệp.

    Thân gái ruổi theo gót lữ đoàn
    ………………………………..
    Tôi nhớ mang máng một câu thơ của tác giả nào đó thời kháng chiến chống Pháp. Thật hợp cảnh.

    Các chị âm thầm hứng chịu những tiếng chửi rất vô lý. Họ không có lỗi, những người lính đang nóng nảy kia cũng không có lỗi.

    Rớt lại bên con suối, tôi moi trong ba lô, cố tìm xem còn có thể vứt được cái gì. Một chiếc áo lót. Đúng rồi, một chiếc áo lót mẹ gửi cho từ hồi còn ở Hà Bắc. Tần ngần thả chiếc áo xuống suối. Nó bồng bềnh trên mặt nước giây lát, xoay ngang rồi xoay dọc, dùng dằng không nỡ chia tay. Nhưng rồi, chiếc áo nhanh chóng bị cuốn vào dòng nước xiết, buông trôi thân phận mỏng manh.

    Vĩnh biệt nhé. Tao cũng vậy mà thôi.

    Dọc đường hành quân, thỉnh thoảng tôi lại bắt gặp vài nấm mộ. Cái có bia, cái thì không. Có những tấm bia bằng gỗ đã mục nát theo thời gian, chữ trên bia chỉ còn là dấu vết. Các thế hệ đàn anh đã nằm lại đây, trong cuộc trường chinh thống nhất đất nước, trường kỳ.

    Ấn tượng nhất là một ngôi mộ, tấm bia chắc được làm bằng thân cây tươi. Gặp thời tiết thuận lợi, nó đâm chồi nảy lộc, vươn cao đón nắng giữa đại ngàn. Trên tấm bia “gốc cây”, chữ méo mó. Chỗ lồi lên, đoạn lõm xuống, nét chảy dài, chẳng khác gì bức thư pháp nổi mà tác giả là tạo hoá. Cái tài của các nhà thư pháp là biến cái đơn giản thành phức tạp. Tôi chịu không sao đọc nổi một dòng.

    Cuối tháng 8/1972, đơn vị tôi tham chiến trận đầu, thiệt hại rất nặng nề. Hàng trăm liệt sĩ được chôn cất vội vàng. Lần đầu tiên, tôi thấy những tấm bia bằng tôn. Tôn làm bằng hợp kim nhôm, mỏng như tờ giấy, dập vân nổi nên khá cứng. Tôn sắt tráng kẽm dầy hơn chút ít. Loại vật liệu này rất sẵn ở Quảng Trị. Tôn lợp mái nhà, nhưng chẳng một ngôi nhà nào còn tồn tại trong đạn bom. Những mảnh tôn được cắt thành hình chữ nhật, mỗi chiều khoảng 40cm x 50cm. Trên mặt bia, chữ được đục bằng đinh theo một mẫu nhất định như công thức toán học vậy:
    Họ và tên
    Năm sinh

    Quê quán

    Cấp bậc

    Chức vụ
    Đơn vị
    Hy sinh ngày


    Tuy nhiên, thứ tự từng dòng cũng có thể thay đổi, tuỳ theo người đục bia, hoặc bị bỏ trống vì không rõ thông tin.

    Bia bằng tôn, làm cũng tiện và nhanh. Nhưng nó mỏng manh quá, chỉ cần trúng một quả trái phá, nó sẽ bay như những chiếc lá đa. Mộ liệt sĩ trong tíc tắc, bỗng chốc thành một ngôi mộ vô danh, chẳng biết đằng nào mà lần nữa. Nhưng, liệt sĩ mỗi trận về một nhiều, đành chấp nhận bia thế thôi.

    Để mai táng liệt sĩ được nhanh gọn, các cán bộ, chiến sĩ quân lực có sáng kiến, đào sẵn huyệt và làm sẵn bia. Mỗi lần vào chốt, đi ngang qua mấy cái huyệt đào sẵn ấy tôi cứ thấy ghê ghê. Chẳng biết cái nào dành cho mình, cái nào dành cho bạn.

    Hồi ấy, tiểu đoàn của tôi lan một tin đồn, một cán bộ quân lực tên là X rất tài. Anh ta đoán từng trận, đào trước bao nhiêu huyệt là đủ. Sai số không nhiều. Sau này, chỉ huy tiểu đoàn cấm, không cho đào trước quá 20 huyệt một chỗ, sợ anh em mất tinh thần. Thế cũng phải.

    Cuối tháng 12/1972, trung đoàn bàn giao chốt Long Quang , Thanh Hội cho đơn vị bạn. Chúng tôi lui về tuyến sau chừng vài ba cây số. Ngày và đêm 26/1/1973, máy bay B52 oanh tạc bất thường vào khu vực đóng quân. Hết đợt bom này đến đợt bom khác. Cán bộ đại đội đi nhận lịch tránh B52, như nhận thời khoá biểu hồi còn đi học . Bom nổ bên phải hầm, bên trái hầm. Tiếng nổ lộng óc kèm theo là lửa điạ ngục. Khói bom khét lẹt. Chẳng hiểu sao, vẫn còn sống sót đến hôm sau. Đại đội hoả lực vội vã cùng bộ binh ra bãi biển lập tuyến phòng ngự mới. Đến tầm chiều, tình hình mỗi giờ một xấu thêm. Lác đác, các chiến sĩ bộ binh tuyến trên bỏ chốt chạy về. Nhiều chốt đã bị địch chọc thủng. Trận địa của chúng tôi bắt đầu hứng chịu những đợt pháo kích dữ dội. Pháo từ biển thổi vào. Pháo phía trước bắn tới và cả pháo của ta từ miền tây bắn lại. Mịt mù lửa đạn. Đang đứng bên khẩu 12.7 ly, tôi nghe thấy tiếng ằng ặc ngang tai. Cái quái gì thế nhỉ. Chúi vội xuống cát. Một tiếng nổ xé trời. Cách công sự chừng chục mét, một cái hố bằng miệng thúng vừa bị khoét. Thò lên mặt hố là một cái ống có dòng chữ: “ Chế tạo tại Liên Xô”. Tý nữa thì hy sinh vì “đồng chí” này. Thêm một kinh nghiệm tránh hoả tiễn 122 ly của ta.

    Đến tối thì không còn kiểm soát được tình hình nữa. Pháo của ta, pháo của địch, lính ta, lính địch, xe tăng của ta, xe tăng của địch trộn lẫn trong một dải cát dài. Phía mép nước chỉ thấy lửa, những dòng lửa đan chéo. Tiếng động cơ gầm rú. Mặt đất rung lên, đằng sau khẩu 12.7 ly bỗng xuất hiện một chiếc tăng đang tuôn ra từng luồng lửa. Xe tăng của ta, hay hay của địch ? Ồ, xe của ta. Cỗ máy phun lửa ấy lầm lũi hướng ra mép nước. Khẩu 12.7 của khẩu đội tôi cũng rung lên, tuôn những dòng đạn lửa phụ hoạ. Bắn hú hoạ thế thôi chứ chẳng còn biết đâu là ta, đâu là địch nữa. Đám lửa hỗn tạp sát mép nước vượt ngang qua tuyến phòng ngự của chúng tôi hứơng về phía cảng Cửa Việt.

    Đến sáng, tiếng súng thưa dần. Khoảng 7 , 8 giờ thì im hẳn. Quang cảnh chiến trường hiện ra như trên phim. Rải rác, dọc bãi biển, khoảng hơn hai chục chiếc xe tăng và thiết giáp của cả hai bên bị phá huỷ. Trước trận địa 12.7 của chúng tôi, xác hai người lính cộng hoà gục ngã. Cách trận địa DKZ 82 không xa, hai chiếc xe tăng của địch nằm bất động. Những cột khói đen nghịt vẫn tuôn lên từ những chiếc thiết giáp đang cháy dở. Một, hai, ba, bốn cột khói…Tôi lại gần một chiếc xe thiết giáp gắn súng 23 ly hai nòng của ta. Trên xe, bên mâm súng, một chiếc áo giáp cháy trơ, những mảnh kim loại cỡ ba ngón tay rơi vương vãi. Không biết xạ thủ trên xe có hy sinh không?

    Doi cát trước mặt, cờ vàng và cờ giải phóng cắm đan xen. Xa chút nữa, sát mép nước, hàng chục chiếc xe tăng và thiết giáp của quân đội VNCH đang co cụm lại, nom như những con bọ hung khổng lồ đang quay lưng ra biển. Chúng ham tiến quân quá, chui tụt vào vùng kiểm sóat của quân Giải Phóng, chẳng có đường lùi.

    Quá tò mò, tôi rủ một chiến sĩ trong tiểu đội lại gần xem. Bên đường quốc lộ hướng ra cảng, một chiếc chiến xa của ta toang ngực dạt bên đường. Loại xe gắn pháo 100 ly nhưng vỏ thép lại không được dầy. Nhìn chỗ vỡ toác bằng chiếc rá, tôi băn khoăn chẳng hiểu bị trúng đạn gì. Cách xe chừng dăm mét, bên kia đường, đập vào mắt tôi là hai nấm mộ còn rất mới. Của các chiến sĩ trên chiếc tăng kia chăng? Trên hai nấm mộ cát đắp vội vàng, có hai tấm bia trăng trắng.

    Bàng hoàng, không tin ở mắt mình nữa. Hai tấm bia bằng hai tờ giấy đúp “năm hào hai”. Nét chữ ngệch ngoạc, viết vội cái công thức “toán” chết người bất di bất dịch :
    Họ và tên…
    …………..
    …………..
    Hy sinh ngày 28/1/1973

    Có lẽ, họ đã ngã xuống chỉ vài giờ trước khi ngừng bắn, Hiệp định Hoà bình Pa-ri có hiệu lực.

    Tôi đã thấy những tấm bia bằng đá, bằng xi măng, bằng gỗ và bằng cả những tấm tôn mỏng manh tạm bợ. Nhưng, bia bằng giấy học trò thì quả là ngoài sức tưởng tượng. Hai tấm bia giấy như hai cái phướn trắng vật vờ trước gió. Nỗi buồn len lỏi, nhói buốt trái tim. Vào thời khắc ấy, đồng đội của các anh chỉ làm được có vậy mà thôi.

    Nhiều năm sau, trở lại giảng đường trường đại học. Đôi lúc, mở trang giấy trắng, giật mình, tôi lại nhớ tới hai tấm bia ở Cửa Việt năm nào.

    Nỗi đau nào rồi cũng có lúc nguôi ngoai. Năm tháng qua đi, bia đá thậm chí cũng phai mòn. Nhưng, hình ảnh hai tấm bia bằng giấy ấy cứ khắc sâu trong tâm thức của người lính giàu cảm xúc. Trong sâu thẳm tâm hồn, lắng đọng mãi một dư âm, như một nét nhạc trầm buồn trong bản hùng ca không bao giờ quên.


    Tháng một, năm 2013

    Như Thìn



    BinhBet's Avatar

    BinhBet

     20:11, 18th Jan 2013 #13763 

    có lẽ bác Thìn bận việc hay sao mà 3 tuần nay mới lên tiếng. Thêm nữa đi bác ơi


    Sửa lần cuối bởi Nhữnguyên; 19-01-2013 lúc 04:57 AM.

  17. Có 7 người thích bài viết này


  18. #20
    Ngày tham gia
    21-10-2012
    Bài viết
    26
    Thích
    0
    Đã được thích 88 lần trong 23 bài viết

    Khẩu AK M mang số hiệu A 091…

    Khẩu AK M mang số hiệu A 091…

    Mikhain Timofeyevich, hai lần anh hùng lao động Liên Xô, cha đẻ của khẩu súng trường tự động huyền thoại, nay đã ngoài 90 tuổi không còn được khỏe mạnh. Nhà máy Iznhevsk, nơi sản xuất súng AK, đứa con tinh thần của ông có lẽ cũng đang hấp hối đợi phút cáo chung. Khẩu AK 47 giờ chỉ còn là dĩ vãng trong ngành công nghiệp sản xuất vũ khí của Nga “… Nó là một đòn mạnh giáng vào những người ở tuổi ông…” như báo Matxcơva Izvestia đã viết.

    Thực ra, không chỉ “những người ở tuổi ông” mà thế hệ chúng tôi, những người línhđã từng gắn bó với khẩu súng trường tự động đầy uy lực ấy cũng cảm thấy ngậm ngùi… nuối tiếc.

    Tháng 7 năm 1975, tại căn cứ Nước Trong, tôi được liên lạc báo lên gặp ban chỉ huy đại đội. Lại có chuyện gì đây? Kỷ luật tiểu đội lỏng lẻo, mấy lính trốn ra thị trấn chơi, hay mấy thằng “bất trị” Hải Phòng lại dở trò bậy bạ? Ồ không phải! Chính trị viên thông báo tôi được ra quân, trở lại trường đại học. Không thể tin được dù đó là sự thật. Cảm giác thật nhẹ nhõm. Gánh nặng chiến tranh, chiếc balo với bộ quân phục nặng như chì giờ sắp trở thành kỷ niệm... Mai bàn giao tiểu đội cho A phó, ngày kia lên đường.

    Trở về tiểu đội, tôi đi như trong mơ. Anh em vui vẻ chúc mừng. Nhưng tôi hiểu, đằng sau những nụ cười, những lời chúc tốt đẹp ấy ẩn chứa một nỗi buồn, bao giờ họ mới được giã từ vũ khí như tôi.

    Cần phải có một bữa tươi chia tay với những đồng đội đã gắn bó hơn cả anh em ruột thịt, tôi bảo Cường “Mấu”: “ông mang mấy đôi giầy này ra Long Thành bán, lấy chút tiền mua cái gì về cho anh em liên hoan”. Căn cứ Nước Trong vốn là trường hạ sĩ quan bộ binh thiết giáp của quân lực VNCH. Giầy da sĩ quan mới tinh chất đầy trong kho. Quá trưa trở về, mồ hôi mướt mải, hắn bảo: “Em vứt hết cả xuống ruộng rồi, chả ma nào hỏi mua”. Tôi ngớ người. Xưa nay, trong lĩnh vực kiếm tiền, tôi vẫn là thằng hạng bét. Bây giờ, người ta giấu bỏ thân phận của kẻ bại trận còn chẳng được, ai lại mất tiền xỏ vào giầy lính Cộng Hòa, họa có mà mắc bệnh tâm thần.

    Thôi đành chia tay suông vậy. Chia tay với nhưng người anh em từng san cay, sẻ đắng, cùng vào chết, ra sống đằng đẵng mấy năm trời, sao tránh khỏi bùi ngùi cảm động. Đây A phó Mão “Mèo”, dân Vĩnh Bảo, sàng cát cả ngày vì một nhúm sái thuốc lào. Kia Bình “Méo”, chàng “Thạch Sanh” bắt trăn, xạ thủ khống chế địch dưới đường Một trận Phú Lộc đầu chiến dịch năm 1975. Bình và tôi là hai lính cũ duy nhất của tiểu đội còn lại từ ngày mới thành lập đơn vị. Tân “Vịt” bơi như cẩu. Cường “Mấu “ lì lợm. Hắn là lính sư 338, bổ sung về năm 1973, sở dĩ có biệt danh Mấu vì hay nói: “Em cũng mấu (máu) lắm” giọng Nam Hà rất đặc trưng. Bắt chặt tay Vĩnh, chú em út của tiểu đội không bỏ rơi tôi trong trận Long Thành. Hai anh em bên khẩu 12,7 ly, xả đạn vào cái đám lửa hỗn tạp, bên chiếc xe tăng của ta đang cháy ngùn ngụt trong đêm ngày 26/4/1975 đáng nhớ. Rồi Mộc, Qui, lính Hải Phòng với hình xăm cái mỏ neo to tướng trên cánh tay. Ngày nào còn lớ ngớ khi ra chốt, nay đã trở thành những người lính dạn dày lửa đạn.

    Và cuối cùng, đành chia tay với một “người bạn”, gắn bó với tôi suốt mấy năm trời chẳng nỡ rời xa: Khẩu AK M mang số hiệu A 091… Vuốt nhẹ từ nòng súng xuống tới báng bằng gỗ thông với những đường vân đẹp mắt, bóng loáng một lớp véc ni mầu máu sậm đen, tôi trao nó cho Mão. Bạn hỡi ở lại nhé ta đi đây. Ta trở về với cây bút quen thuộc, trở về với cuộc đời thật của ta.

    Mùa mưa Quảng Trị năm 1974, một chiều, tối sầm sì, đằng đông mây vần vũ báo trước một cơn giận dữ của đất trời. Đơn vị bắt đầu hành quân dã ngoại. Những hạt mưa như những viên sỏi lác đác ném vào mặt, mỗi lúc một mau dần. Gió ràn rạt quất vào tai, quật vào đầu không thương tiếc với những ngón đòn hiểm ác. Mưa, gió hiệp đồng như muốn hạ nốc ao những thằng lính mặt dày mày dạn, quá quen với những trận đấu tay đôi bất phân thắng bại kiểu này.

    Chúng tôi cứ lầm lũi tiến về hướng tây, tiến về phía những rặng núi và cánh rừng thăm thẳm. Hành quân trong mưa vẫn dễ chịu hơn nhiều so với hành quân dưới cái nắng như thiêu của miền Trung, gió Lào cát trắng. Động cơ sinh học luôn được làm mát. Nó hoạt động đều đều không dám nghỉ ngừng. Chỉ cần dừng chân mươi phút là rét run cầm cập. Nhưng sinh lực cũng bị vắt kiệt nhanh chóng. Đói và rét vốn là hai kẻ thù giấu mặt đồng hành luôn đe dọa những người lính chiến. Gần nửa đêm mới tới nơi tập kết bên cánh rừng già. Mưa vẫn không ngớt. Mắt cay sè vì nước. Cần phải được sưởi và ăn ngay. “Tổ một nhóm lửa, tổ hai cắt tranh, tổ ba chặt cây làm lán”, tôi đưa ra mệnh lệnh ngắn gọn và nhanh chóng hạ balo. Khó nhất là nhóm lửa trong điều kiện thời tiết này. Trong mưa bão tối như hũ nút. Trước hết phải căng một chiếc tăng thật thấp. Mò mẫm trong đêm kiếm những cành củi chắc cỡ bắp tay. Chẻ nhỏ ra thành những thanh mỏng như đóm. Những thanh củi chắc không bị ướt bên trong. Huy động trong balo ra những trang sổ và những tờ giấy còn khô. Che gió, bật lửa. Tắt, bật, bật rồi lại tắt, không biết đến lần thứ bao nhiêu, cuối cùng thì ngọn lửa cũng reo vui trong mắt những thằng lính đang lả đi vì đói rét.


    Sáng ra, bão đã tan, anh em vẫn ngủ li bì, mọi tư thế kỳ lạ trong cái lán tạm bợ dựng vội đêm qua. Đi một vòng qua khu vực đóng quân, các tiểu đội bạn còn thảm hại hơn rất nhiều. Chẳng lán trại gì. Có đứa quấn quanh chiếc nilon đi mưa, ngủ như chết.

    Đơn vị ở lại diễn tập đánh hợp đồng binh chủng. Nỗ lực xóa vùng da báo giành quyền kiểm soát của cả hai bên, với những trận nhỏ lẻ đã chấm dứt. Mở màn là trận Thượng Đức, sau đến Phứơc Long. Chúng tôi chắc cũng sắp vào cuộc nay mai. Đơn vị ráo riết chuẩn bị cho trận đánh lớn. Trước hết, cần phải chỉnh lại những khẩu AK bị va đập quá nhiều trong chiến trận năm 1972. Một nửa cơ số súng được để lại miền tây chỉnh sửa. Tiểu đoàn cử bốn xạ thủ giỏi nhất thực hiện nhiệm vụ này. Tôi là một trong số bốn tay súng ấy.

    Công việc chỉnh súng thật tỷ mỉ, rất mất thời gian, đơn điệu và buồn tẻ. Ngày ngày chúng tôi kéo một chiếc xe ba gác chất đầy súng đạn ra bãi bắn. Ba lính quân khí ngồi cạnh ba xạ thủ nằm sau bệ bắn. Mỗi khẩu AK được làm biên bản, ghi chép khá cẩn thận. Số hiệu, nước sản xuất, đơn vị quản lý vv... Mỗi xạ thủ bắn liền bốn viên vào bia số 4. Quân khí chọn ba viên chụm nhất nối thành hình tam giác. Họ đo từ trung điểm của tam giác tới hồng tâm. Khoảng cách ấy không được vượt mức cho phép. Nếu đạn ăn sang phải thì gõ đầu ruồi sang trái và ngược lại. Nếu đạn ăn lên thì vặn đầu ruồi lên, ăn xuống thì vặn xuống. Hoàn toàn tùy thuộc vào cữ tay của lính quân khí. Rất thủ công.

    Cứ mỗi lần áp má vào báng súng là tôi lại cảm giác như cómột luồng điện nhẹ lan khắp cơ thể. Toàn thân rơi vào một trạng thái kỳ lạ.Trạng thái nhập đồng vô thức. Hết khẩu AK này đến khẩu khác với mọi quốc tịch qua tay. Tốt nhất vẫn là những khẩu của Nga. Bắn rất chắc và ổn định. Những khẩu sản xuất từ Trung Quốc lê liền, thường rất dở. Nòng rỗng, không thể chỉnh nổi vì độ tản mát quá lớn.

    Đôi khi gặp một khẩu báng nhựa của Tiệp còn dở hơn. Súng quá nhẹ, giật tê cả má. Cả bốn xạ thủ, hàng ngày từ trường bắn trở về, mặt mũi sưng vù như bị ong đốt.

    Một buổi chỉnh súng thường lệ, đang nằm chờ quân khí giao bắn khẩu tiếp theo, lơ đãng ngắm cảnh núi rừng, bỗng nghe thấy tiếng vào sổ, số hiệu khẩu AK M quen thuộc: A 091….

    Ôi! Đích thị là mày rồi, bạn hỡi. Khẩu AK đầy duyên nợ của tôi…

    Cuối tháng 8 năm 1972, trong một vườn chuối tả tơi vì bom đạn, Khánh “Voi” ôm khẩu AK M đứng gác dưới đoạn giao thông hào nông choèn vừa đào vội đêm qua. Trong chớp mắt, một quả cối 81 biến Khánh thành ma không đầu. Khẩu AK rớt xuống đoạn hào ngập máu. Chúng tôi cố lau khẩu AK duy nhất của tiểu đội, không sao sạch hết vết máu. Những đường vân gỗ sáng màu trên báng súng cứ sậm dần, sậm dần. Máu đã thấm sâu vào từng thớ gỗ. Càng lau, càng đen bóng một lớp véc ni mới, vec ni bằng máu của bạn tôi. Từ đấy, mỗi lần áp má lên báng súng, tôi lại thấy phảng phất mùi mằn mặn, tanh tanh.

    Là tiểu đội hỏa lực, thường ở tuyến sau trợ chiến bộ binh, tôi ít có dịp sử dụng khẩu AK ấy. Suốt năm 1972, trận chiến ở Quảng Trị, hầu hết tôi bắn 12,7 ly các mục tiêu trên không và mặt đất. Có lúc, tôi dùng cả 12,7 ly, khóa tầm, hướng bắn tỉa bộ binh ở cự ly xa, rất hiệu quả. Nhưng có một lần, ở Thanh Hội cuối năm 1972, địch nã pháo suốt đêm, công sự phòng ngự bị cày nham nhở. Sáng sớm, ba chiếc xe tăng chia làm ba mũi tiến đánh các chốt của ta. Ở khoảng cách chừng hai cây số, bộ binh địch rồng rắn xếp hàng theo xe như vào chốn không người. Hỏa lực của ta đâu nhỉ? Đúng lúc ấy một quả bom từ trận địa bên ta bay vụt lên. Có thế chứ. Nhưng thật đáng buồn, nó bay chỉ được nửa quãng đường và nổ cách địch cả gần cây số. Quả thứ hai cũng chẳng khá hơn là mấy. Trận đánh diễn ra hết sức ác liệt. Công sự 12,7 ly của chúng tôi đắp lút đầu. Vậy mà, pháo bắn thẳng của địch phá chỉ còn cao ngang bụng. Đến quá trưa, chốt bộ binh phía trước rơi vào tay địch. Chỉ còn hai chiến sĩ sống sót bò qua khẩu đội tôi. Địch khá gần, không dám bắn 12,7 ly nữa, tôi xách khẩu AK ra bắn tỉa. Một, hai, rồi ba tên…, tôi lại ngửi thấy tanh tanh, mùi máu.

    Địch không tiến thêm nữa. Đến đêm bộ binh tổ chức phản công giành lại chốt.

    Sau Hiệp định hòa bình Pa-ri, chúng tôi giữ chốt giáp ranh ven biển Quảng Trị.
    Khoảng giữa năm 1973, một chiếc xe Doge của địch bất ngờ vượt qua phòng tuyến của hai bên. Tiếng súng AK nổ loạn xạ. Tôi lao vào công sự 12,7 ly ngắm chiếc xe kéo một tràng. Khói, bụi mù mịt không còn quan sát được gì nữa. Đấy là hậu quả của tối kiến, xây lô cốt cho súng 12,7 bằng bao cát. Dịp may thử nghiệm,nó sớm tỏ ra thật vô dụng. Vội bỏ khẩu 12,7 ly, xách khẩu AK M, bắn liền hai điểm xạ, tôi vẫy Tân “Vịt” chạy ra bãi biển đón đầu xe. Một tên lính từ trên xe nhảy xuống chạy thục mạng về bên kia hàng rào, để lại chiếc xe lốp bẹp dí và két nước đã bị thủng vì đạn. Tôi thu được một chiếc Balo quai ngắn màu oliu.

    Hôm sau, tướng Cao Văn Khánh ra tận tuyến giáp ranh thị sát. Ông ghé qua khẩu đội 12,7 ly của chúng tôi, hỏi tỷ mỉ mỷ về chiếc xe Dot đã vượt được qua phòng tuyến. Sau khi nghe báo cáo, ông quay sang tiểu đoàn trưởng đi cùng hỏi: “Thế đã thưởng cho khẩu đội này chưa?” Tiểu đoàn trưởng Thái “Sẹo” ngập ngừng. Tôi thấp thỏm chờ phần thưởng của ông cho đến tận khi rời ngũ.

    Hai tuần sau, trên báo Quân Đội Nhân Dân có đăng bài của tác giả Cao Tiến Lê. Ông tả lại sự kiện chiếc xe Dot vượt qua phòng tuyến, tố cáo quân đội VNCH xâm phạm Hiệp định hòa bình. Bài báo dành cho khẩu đội 12,7 ly của tôi đúng năm từ.

    Thôi, không sao, chúng tôi tự thưởng bằng năm hộp thịt trong chiếc balo chiến lợi phẩm. Chiếc balo ấy, năm 1974 tôi gửi Động, lính C17, nguyên sinh viên ĐH Xây Dựng, mang về làm quà cho anh trai tôi khi hắn được ra quân…

    Tôi đề nghị viên quân khí cho phép được bắn chỉnh khẩu AK M mang số hiệu A 091….

    Áp má vào báng súng, mùi tanh tanh quen thuộc, nhanh chóng lấy đường ngắm, tôi bắn liền bốn phát. Đạn rất chụm, điểm gần như tuyệt đối. Một trong số hiếm hoi, những khẩu AK không phải bắn loạt thứ hai. Viên quân khí hài lòng: “Giá khẩu nào cũng thế thì quá khỏe”.

    Vào lúc trưa rảnh rỗi, tôi lại mang súng ra bãi tập bắn găm, bắn gần. Sắp vào trận rồi, những kỹ năng ấy có lúc phải cần đến. Lấy thân cây làm mục tiêu giả định, tôi tập bắn trong mọi tư thế với thời gian nhanh nhất. Mặc dù AK M là phiên bản mới nhất lúc ấy, với miếng vát đầu nòng hạn chế đạn ăn lên, nhưng tôi vẫn thấy, viên thứ hai bao giờ cao hơn viên thứ nhất chừng mươi phân. Đó là lý do vì sao, điểm xạ là kỹ thuật bắt buộc đối với mỗi xạ thủ. Bởi, từ viên thứ ba trở đi, súng giật, đường đạn không còn chính xác nữa.

    Trong gần ba tuần, chúng tôi đã chỉnh xong hơn 300 khẩu AK của tiểu đoàn. Bắn hết một xe cải tiến đạn, làm cháy một vạt rừng. Tôi đã trở thành xạ thủ bắn AK chuyên nghiệp, mọi kỹ năng bắn xung phong và bắn đối kháng, tôi đều quá thuần thục.

    Trở về đơn vị, trung đoàn hội thao bắn đạn thật. Đại đội hỏa lực bắn mở màn.Trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Giảng tới thao trường động viên các chiến sĩ. Tôi làm nhiệm vụ dẫn bắn ở bệ số hai. Có lẽ muốn “khoe” một chút với cấp trên, đại đội trưởng yêu cầu tôi vào vịtrí nằm bắn. Tự tin, xách khẩu AK quen thuộc vào vị trí, tôi hít một hơi thật sâu, nín thở xiết cò, một loạt ba viên trong vòng vài phút. Báo hại thay, chẳng viên nào trúng bia cả. Nhưng lại có tới 6 viên ở bia bệ số 3. Ôi! Tôi đã mắc một lỗi tai hại, quá chủ quan, bắn nhầm bia. C trưởng đỏ mặt tía tai vì xấu hổ, không giữ nổi bình tĩnh, anh văng bậy tứ tung, bắt tôi bắn lại ngay lượt tiếp. Lần này thì tôi đã không làm anh thất vọng. Tròn ba mươi điểm. Có thế chứ, anh ném ngay một bao thuốc lá Tam Đảo thưởng nóng cho tôi.

    Đầu năm1975, chiến dịch xuân hè, trận Phan Rang, từ trên xe nhảy xuống, bằng động tác thuần thục tôi đưa mũi súng AK về phía đám lính Cộng Hòa ở cự ly rất gần định xiết cò. Nhưng rồi, mũi súng chếch lên trời nổ thị uy. Họ đang vội vàng cởi bỏ quân phục, trốn chạy vào nhà thờ ngay đấy, không một tấc sắt trong tay. Có lẽ chúa đã cứu họ khỏi cái chết trong gang tấc.

    Cho đến tận ngày 30/4/75, tôi không còn dịp nào thực hành những kỹ năng bắn súng đã dày công luyện tập. Mà cũng chẳng tiếc làm gì. Bất đắc dĩ mới phải ngửi cái mùi tanh tanh khó chịu.

    Giã từ vũ khí mấy chục năm rồi.
    Bạn hỡi, giờ bạn ở nơi nao? Hải đảo xa xôi hay biên cương địa đầu tổ quốc?

    Ta tin, dù đã hơn bốn mươi năm nhưng bạn vẫn hãy còn “chạy” tốt. Khẩu AK tanh tanh mùi máu của bạn tôi.

    Khách sạn Toàn Cầu , TP HCM, tháng 7 năm 2012
    Hà Nội,tháng 3/2013
    Như Thìn

    Mikhain Timofeyevich cha đẻ của khẩu súng trường tự động AK 47



    Khẩu súng trường tự động AK 47 được cho là dựa vào khẩu Stg 44 của Đức dưới đây, về hình thức là vậy, nhưng nguyên lý hoạt động và cỡ đạn hoàn toàn khác.

    NT

    khottabit59's Avatar

    khottabit59

     09:47, 1st May 2013 #18071 

    Vậy mà bài này em đọc trên báo, họ cắt búa xua hết cả!

    No Avatar

    linh7983

     19:23, 13th Apr 2013 #17161 

    Em lại thấy đắt nhất đoạn này : "Đầu năm1975, chiến dịch xuân hè, trận Phan Rang.....không một tấc sắt trong tay".... Thật đậm tình người dù ở hai bên chiến tuyến.

    No Avatar

    ONGBOM-K5

     16:40, 13th Apr 2013 #17155 

    nói đến AK là em vãi cả ra ...nhà

    No Avatar

    lixeta

     14:53, 13th Apr 2013 #17152 

    21.7.75 tôi cũng rời Long Bình ra Bắc. Có khi ta đi cùng chuyến đấy.

    No Avatar

    lixeta

     14:52, 13th Apr 2013 #17151 

    "... Lớp véc- ni bằng máu của bạn tôi"- Chi tiết đắt quá nhưng cũng xót xa làm sao.



  19. Có 7 người thích bài viết này


Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •