CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 1 của 2 12 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 14

Chủ đề: Lịch sử Việt Nam qua những bài viết bất hủ

  1. #1
    Ngày tham gia
    08-10-2010
    Bài viết
    596
    Thích
    414
    Đã được thích 176 lần trong 119 bài viết

    Lịch sử Việt Nam qua những bài viết bất hủ

    Nam Quốc sơn hà
    Hịch Tướng sĩ - Trần Quốc Tuấn
    Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi

    Những bài thơ, bài hịch như đều quá quen thuộc với mỗi người dân Việt. Tôi mở topic này để góp nhặt lưu giữ những truyền thống dựng nước giữ nước của cha ông
    Sửa lần cuối bởi Dongdoi_D406; 16-10-2012 lúc 12:10 PM.
    GHÉT SỰ GIẢ DỐI

  2. Có 1 người thích bài viết này


  3. #2
    Ngày tham gia
    08-10-2010
    Bài viết
    596
    Thích
    414
    Đã được thích 176 lần trong 119 bài viết
    NAM QUỐC SƠN HÀ


    Bài thơ Nam Quốc Sơn Hà - Được coi là
    Bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước Việt


    Nam Quốc sơn hà Nam đế cư
    Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
    Như hà nghịch lỗ lai xâm phậm
    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

    Sông núi nước Nam vua Nam ở
    Rành rành định phận tại sách trời
    Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
    Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời




    Dongdoi_D406's Avatar

    Dongdoi_D406

     12:02, 16th Oct 2012 #10902 

    Hì hì, em sửa lại chút cho phù hợp chủ đề

    khottabit59's Avatar

    khottabit59

     12:01, 16th Oct 2012 #10901 

    Ơ, vừa đọc xong lại mất rồi!


    Sửa lần cuối bởi Dongdoi_D406; 16-10-2012 lúc 12:03 PM.
    GHÉT SỰ GIẢ DỐI

  4. Có 1 người thích bài viết này


  5. #3
    Ngày tham gia
    08-10-2010
    Bài viết
    596
    Thích
    414
    Đã được thích 176 lần trong 119 bài viết
    NAM QUỐC SƠN HÀ

    Sinh ra trong binh lửa, bất tử cùng chủ quyền non sông, lời thơ "Thần” - "Nam quốc sơn hà” chỉ với 28 từ (thất ngôn tứ tuyệt) mà nội dung ý tứ sâu xa. Để bảo vệ đất nước, tất thảy người dân Việt quyết đánh tan ngoại xâm dù chúng có mạnh đến mức nào. Ngày nay, lời thơ "Thần” khắc trên bia trong am thờ ở đảo Đá Tây thuộc quần đảo Trường Sa của Tổ quốc vẫn ngày đêm vọng vang cùng sóng nước.




    Tranh minh họa Lý Thường Kiệt và bài thơ "Thần”
    Tranh TL
    Tháng giêng năm 1072, triều đình nhà Lý "lục đục”. Vua Lý Thánh Tông băng hà, vua Lý Nhân Tông 6 tuổi nối ngôi. Phe theo Thái hậu Thượng Dương và Thái sư Lý Đạo Thành, phe kia theo Thái phi Ỷ Lan và Thái úy Lý Thường Kiệt. Tuy Thái hậu Thượng Dương và Thái sư Lý Đạo Thành xét về vị trí chức tước trong triều thì hơn hẳn Thái phi Ỷ Lan cùng Thái úy Lý Thường Kiệt nhưng "vị thế” lại không bằng. Vì lẽ: Thái phi là thân mẫu của vua Lý Nhân Tông còn Thái úy thì nắm giữ quân đội. Việc tranh giành quyền lực tột độ đã nảy sinh sự biến. Đại Việt sử ký toàn thư viết, Thái phi Ỷ Lan nói với vua trẻ: "Mẹ già đã khó nhọc nuôi nấng con, mới có ngày nay. Bây giờ đã được phú quý thì người khác giành mất chỗ, biết đặt mẹ già vào chỗ nào”. Vua Lý Nhân Tông bèn sai giam Thái hậu Thượng Dương và 72 thị nữ rồi ép phải chết theo vua Lý Thánh Tông. Lý Đạo Thành bị giáng chức làm Tả Gián nghị đại phu phải ra coi châu Nghệ An. Ỷ Lan trở thành Thái hậu nhiếp chính còn Lý Thường Kiệt được phong làm Phụ Quốc Thái úy, trông coi cả việc văn lẫn việc võ trong triều.
    Bị giáng chức "đày” ra Nghệ An, Lý Đạo Thành lập Viện Địa tạng trong thờ tượng Phật và vị hiệu vua Lý Thánh Tông.
    Xưa nay, ngẫm lịch sử: Cứ mỗi khi nội bộ triều chính của nước ta "bất hòa” thì mối nguy họa ngoại xâm phương Bắc là điều rất dễ xảy ra. Vào thời điểm những năm sau 1072 này, nhà Tống quyết định thôn tính nước ta vì mấy nguyên nhân sau: Thứ nhất, việc mất đoàn kết trong triều đình nhà Lý khiến thế nước suy giảm. Thứ hai, nhà Tống lo ngại việc thay đổi "nhân sự” trong triều đình Đại Việt sẽ ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của họ. Và điều thứ ba còn quan trọng nữa: Tháng 2 năm 1075, nước Liêu đe dọa biên giới phía Bắc nước Tống. Liệu thế không cự nổi, Tể tướng Vương An Thạch hiến kế với vua Tống cắt 700 dặm đất Hà Đông biếu nước Liêu để hòa hoãn, tiếp đó, tập trung binh lực đánh Đại Việt để tăng cường thế mạnh áp đảo lại nước Liêu. Đó cũng là kế sách đẩy mâu thuẫn từ bên trong ra bên ngoài của Vương An Thạch khi bị các phe phái khác trong triều công kích... Trước khi động binh, nhà Tống "xúi giục” Chiêm Thành quấy nhiễu phía Nam nước ta.
    Trước tình cảnh này, Thái hậu Ỷ Lan và Thái úy Lý Thường Kiệt đã làm được một điều vĩ đại mà ít người nhắc đến: Hòa hợp phe phái, đoàn kết nhân tâm cùng nhau bàn cách chống họa ngoại xâm.
    Thái úy Lý Thường Kiệt nhận mệnh vua đích thân vào Nghệ An phong chức Thái Phó, Bình chương quân quốc trọng sự cho Lý Đạo Thành và mời ông trở lại kinh đô. Chức quan này của Lý Đạo Thành trông coi tất cả việc triều chính trong nước. Còn với Lý Thường Kiệt, ông nắm quân đội lo việc đối phó với giặc ngoại xâm.

    Bài thơ Nam Quốc Sơn Hà - Được coi là
    Bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước Việt
    Gạt bỏ thù hận, Thái Phó Lý Đạo Thành mạnh dạn "đề xuất” nhiếp chính Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông thực hiện việc tuyển chọn hiền tài giúp nước. Đây cũng là thực hiện tiếp nguyện ước còn dang dở của ông với vua Lý Thánh Tông từ năm 1070 khi lập Văn Miếu. Năm 1075, ở kỳ thi Nho học đầu tiên của dân tộc đã tuyển được mười người hiền tài nhất, trong đó Lê Văn Thịnh là người đỗ đầu và được giao việc giúp Vua học. Chỉ chưa đầy một năm sau, khi ngọn lửa chiến tranh bắt đầu, Lê Văn Thịnh được Vua tin tưởng phong ngay chức Binh bộ Thị lang (tương đương Thứ trưởng Bộ Quốc phòng bây giờ). Như thế, bên cạnh vị võ tướng kiệt xuất có vị quân sư văn lược tinh thông.
    Lịch sử nước ta từ cổ chí kim thường chống giặc ở tư thế tự vệ khi địch đã xâm phạm bờ cõi. Duy chỉ có Lý Thường Kiệt dám nghĩ tới việc "Tiên phát chế nhân”, ông khẳng khái tâu Vua: "Ngồi im đợi giặc không bằng chủ động đem quân ra trước để chặn thế mạnh của giặc”.
    Phán đoán quân Tống vào đánh nước ta qua hai đường chính: Đường bộ từ Ung Châu và đường thủy từ cửa bể Khâm, Liêm, Thái úy Lý Thường Kiệt chủ động tấn công trước. Từ Vĩnh An (Hải Ninh, Móng Cái, Quảng Ninh), đại quân đường thủy do Thái úy Lý Thường Kiệt trực tiếp chỉ huy đánh vào ven biển Quảng Đông. Cánh quân bộ từ biên giới miền Quảng Nguyên kéo sang đánh Tống ở vùng Quảng Tây do Nùng Tôn Đản quản lĩnh. Vùng Môn Châu có Hoàng Kim Mãn thống lĩnh, vùng Lạng Châu có phò mã Thân Cảnh Phúc và vùng Tô Mậu do Vi Thủ An cầm quân. Hành quân táo bạo, bất ngờ, thêm mưu lược tài tình, quân đội nhà Lý mau chóng phá tan các cứ điểm xung yếu chứa lương thực, vũ khí. Đại quân do Thái úy Lý Thường Kiệt chỉ huy chỉ trong 7 ngày là đã tới vây thành Ung Châu (Nam Ninh, Trung Quốc). Để tránh xung đột với dân Tống và bất lợi về lương thực, Lý Thường Kiệt đã tìm một danh nghĩa cho cuộc tiến công. Ông yết bảng "Phạt Tống lộ bố văn” kể tội quân Tống, nêu cao đại nghĩa tự thủ chủ quyền và giúp dân Tống chống lại phép Thanh Miêu, Trợ dịch hà khắc của triều đình nhà Tống. Người dân Tống đọc lời lộ bố vui mừng đem lương thực tới giúp quân đội nhà Lý... Với chất lượng vũ khí hơn hẳn nhà Tống cộng với mưu lược tài trí, chỉ trong 42 ngày đêm công kích, thành Ung Châu kiên cố đã thất thủ. Đại quân nhà Lý thừa thắng kéo tiếp lên phía Bắc phá thành Tân Châu rồi mau chóng kéo quân về, trước khi quân nhà Tống đang ồ ạt kéo xuống.
    Sau gần một năm khắc phục thiệt hại, quân đội nhà Tống do Nguyên soái Quách Quỳ và Triệu Tiết (Phó Nguyên soái) chỉ huy tiến đánh Đại Việt. Đó là tháng 11 năm Bính Thìn (1076).

    Tranh minh họa Thái úy Lý Thường Kiệt dẫn quân đánh giặc Tống
    Tránh thế giặc cuồng bạo, Lý Thường Kiệt đã sớm chuẩn bị. Ông cho nhiều toán quân tập kích giặc trên đường hành quân nhằm tiêu hao lực lượng. Thời gian này, phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu) được xây dựng kiên cố để cố thủ. Nếu địch vượt qua được chiến tuyến này, lăng tẩm nhà Lý sẽ bị san phẳng, Thăng Long có thể thất thủ trong chốc lát, vì phòng tuyến chỉ cách Thăng Long 20 km. Phòng tuyến dài ngót 100 km được đắp đất và rào tre làm giậu (nay là đoạn từ huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang) sang Đa Phúc (Sóc Sơn, Hà Nội) đến Phả Lại). Hỗ trợ phòng tuyến, thuỷ quân Đại Việt đóng ở Lục Đầu Giang sẵn sàng tiếp ứng cùng các cánh quân thuỷ khác ở sông Thương, sông Bạch Đằng... Các cánh quân người thiểu số do Lý Kế Nguyên, Thân Cảnh Phúc, Lưu Kỷ, Nùng Trí Cao, Nùng Thuận Linh chỉ huy sẽ quấy nhiễu hậu phương địch.
    Quân Tống đổ dồn tụ tập trước phòng tuyến từ địa phận Hiệp Hòa, Việt Yên, Yên Dũng (Bắc Giang) với chiều dài khoảng 30 km. Do lực lượng địch áp đảo, cũng có lúc phòng tuyến tưởng chừng khó giữ, nhưng bằng quyết tâm sắt đá, phòng tuyến luôn luôn được củng cố. Trong một lần tập kích sang trại giặc, hai hoàng tử Hoằng Chân và Chiêu Văn cùng hơn 500 quân ta tử trận. Thế giằng co tới mùa hè năm sau. Thời tiết nóng nực khiến quân Tống mỏi mệt, bệnh tật lan tràn, tinh thần suy sụp còn lương thực sắp cạn. Quân tướng Tống tiến thoái lưỡng nan.
    Thời cơ phản công đã đến. Vào một đêm, từ đại bản doanh trên núi Thất Diệu (đền Núi, Yên Phong, Bắc Ninh) Lý Thường Kiệt sai người tới ngôi đền thiêng thờ Thánh Tam Giang (Trương Hống, Trương Hát) ở ngã ba Xà (nơi hợp lưu sông Cà Lồ, Như Nguyệt) nơi gần đại bản doanh Triệu Tiết, tựa như thần nhân đọc vang lên bài thơ mắng giặc:
    Nam Quốc sơn hà Nam đế cư
    Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
    Như hà nghịch lỗ lai xâm phậm
    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
    Dịch nghĩa:
    Sông núi nước Nam vua Nam ở
    Rành rành định phận tại sách trời
    Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
    Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
    Khí thơ hùng tráng, quật cường này sống mãi trong lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, được coi là Bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước Việt ta.
    Phút chốc, lời thơ "Thần" như một liều thuốc tinh thần cực mạnh, nhuệ khí quân dân Đại Việt vụt bùng lên, ngược lại, quân Tống thất vía kinh hồn. Quân Đại Việt bất ngờ tập kích. Sau ngót ngàn năm, đến nay, nhân dân vùng Hiệp Hòa vẫn còn gọi một cánh đồng rộng là cánh đồng Xác – nơi xác giặc chết la liệt ngày xưa và có một ngôi chùa Xác – ngôi chùa cầu siêu cho vong linh lính bại trận năm nào.
    Tổng kết chiến tranh, không tính thiệt hại vô kể của lần bị quân Đại Việt sang đánh, Chính Thúc, sử gia nhà Tống viết: "8 vạn phu vận lương và 11 vạn chiến binh chết vì lam chướng. Còn được 28 ngàn người sống sót về, mà trong đó còn ốm yếu nhiều. Kể cả số trước bị địch giết thêm mấy vạn, cả thảy không dưới 30 vạn”. Phí tổn tiền vàng tính ra là 5 triệu 190 ngàn lượng vàng”.
    Chiến thắng vang dội, thế nước cường thịnh, Đoàn ngoại giao do Binh bộ Thượng thư Lê Văn Thịnh (tương đương Bộ trưởng Quốc phòng) sang trại Vĩnh Bình đàm phán thắng lợi, giành lại cương thổ đã mất về tay nhà Tống trước và trong chiến tranh.
    Lập võ công hiển hách, nhưng để giữ hòa khí bang giao (nhà Tống đòi xử người cầm đầu cuộc chiến ở Đại Việt), Lý Thường Kiệt tự nguyện rời triều đình vào Thanh Hóa trấn nhậm. Song đó cũng là sách lược để giữ yên cương thổ phía Nam Tổ quốc.

    Từ Khôi

    Dongdoi_D406's Avatar

    Dongdoi_D406

     17:02, 16th Oct 2012 #10915 

    Thực ra đã dùng tới từ "được coi" ở đây rồi bác ạ, vì trước đó chưa có bài nào khẳng định rõ ràng chủ quyền mà được truyền bá rồng rãi

    No Avatar

    dksaigon

     16:08, 16th Oct 2012 #10912 

    Đâu phải đến lúc LTK mới "tuyên ngôn"! Thực chất bài thơ là 1 thư tuyên chiến thứ cứ gọi đúng vậy, cớ gì phải "tuyên ngôn" này nọ?

    No Avatar

    dksaigon

     16:06, 16th Oct 2012 #10911 

    Nói "được coi là tuyên ngôn độc lập đầu tiên" là không ổn! Nhà Lý Đại Việt thực sự là 1 nước độc lập rồi!

    Dongdoi_D406's Avatar

    Dongdoi_D406

     12:11, 16th Oct 2012 #10904 

    Em vừa xem lại rồi

    khottabit59's Avatar

    khottabit59

     12:04, 16th Oct 2012 #10903 

    Mới đây lại có dư luận rằng bài " hịch " này không phải của LTK!


    GHÉT SỰ GIẢ DỐI

  6. Có 1 người thích bài viết này


  7. #4
    Ngày tham gia
    08-10-2010
    Bài viết
    596
    Thích
    414
    Đã được thích 176 lần trong 119 bài viết
    HỊCH TƯỚNG SĨ

    Hưng Đạo Đại Vương

    (phổ biến đến toàn thể quân đội Đại Việt trong
    cuộc kháng Nguyên lần thứ hai 1284-1285)



    Ta thường nghe: Kỷ Tín đem thân chết thay, cứu thoát cho vua Cao Đế; chìa lưng đỡ ngọn dáo, che chở cho vua Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoát chặt tay mong cứu nạn cho nước; Kinh Đức một chức quan nhỏ mà liều mình cứu vua Thái Tông thoát khỏi vòng vây của Thế Sung; Cảo Khanh là bề tôi xa, dám mắng Lộc Sơn, quyết không mắc mưu kẻ nghịch tặc. Ngày xưa, các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào mà chẳng có? Giả thử các bậc đó cứ khư khư giữ thói «nhi nữ thường tình», đến phải chết già ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách, cùng với trời đất muôn đời bất hủ!

    Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện xưa, nửa tin, nửa ngờ. Thôi, những chuyện xưa, ta chẳng nói đến nửa. Nay ta chỉ kể chuyện đời Tống, Nguyên mới đây: Vương Công Kiên là người thế nào? Tỳ tướng của ông là Nguyễn Văn Lập là người thế nào? Mà giữ thành Điểu Ngư nhỏ bằng cái đấu, đường đường chống với quân Mông-Kha đông hàng trăm vạn, khiến cho nhân dân Tống đến nay còn đội ơn sâu! Cốt Đãi Ngột Lang là người thế nào? Tỳ tướng của ông là Xích Tu Tư là người thế nào? Dám xông pha vào chỗ lam chướng xa xôi ngàn dặm, đánh bại quân Nam Chiếu trong vài tuần, khiến cho quân tướng đời Nguyên, đến nay còn lưu tiếng tốt!
    Huống nữa, ta cùng các ngươi, sinh nhằm thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan, nhìn thấy lũ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ; ỷ thế Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thỏa lòng tham không cùng; mượn danh hiệu Vận Nam vương để thu vàng bạc, vơ vét hết của khó có hạn. Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, tránh sao khỏi tai vạ về sau?
    Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xẻ thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.
    Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền cũng đã lâu ngày, thiếu áo mặc ta cho áo, thiếu cơm ăn ta cho cơm, quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít ta cấp thêm bổng lộc, lúc di chuyển ta cho thuyền, đi bộ ta cấp cho ngựa, khi xông pha trận mạc, sống chết bên nhau; những lúc khao thưởng thì cùng nhau nói cười vui vẻ. Cách cư xử so với Vương Công Kiện, Cốt Đãi Ngột Lang ngày trước nào có kém gì?
    Nay các ngươi thấy chủ bị nhục mà không biết lo, nhìn quốc sĩ mà không biết thẹn. Làm tướng một nước, phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc thái thường để thết tiệc sứ mà không biết căm. Hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc vui thú vườn ruộng, hoặc quyến luyến vợ con, hoặc chỉ nghĩ kế sinh nhai tư lợi mà quên việc nước, hoặc ham săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát.
    Nếu có giặc Mông Thát tràn sang, thì cựa gà không thể đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, tấm thân quí ngàn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bịu con đìu, việc quân cơ trăm sự ích chi; tiền của tuy nhiều không thể mua được đầu giặc; chó săn khỏe, không đuổi được quân thù; chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết; tiếng hát hay, không thể làm cho giặc điếc tai. Lúc bấy giờ, ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc các ngươi cũng mất; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi, mà vợ con các ngươi cũng nguy khốn; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị giày xéo, mà mồ mả cha mẹ các ngươi cũng bị phát quật; chẳng những thân ta kiếp này bị nhục, mà đến trăm năm sau, tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tướng bại trận. Lúc ấy, các ngươi dẫu muốn vui chơi phỏng có được không?
    Ta bảo thật các ngươi: phải cẩn thận ngừa sự nguy hại như «châm mồi lửa trong đống củi», nên lấy điều tự răn như «kiêng canh nóng mà thổi rau nguội». Các ngươi hãy huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở chốn Cảo Nhai. Như vậy, chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng những gia quyến của ta được êm ấm gối chăn, mà vợ con các ngươi cũng được trăm năm sống xum họp hòa vui; chẳng những tông miếu của ta được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngưoi cũng được quanh năm thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm năm về sau tiếng thơm lưu truyền; chẳng những danh hiệu ta không bị mai một, mà đến tên họ các ngươi cũng lưu truyền sử sách. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui vẻ phỏng có được không ?
    Nay ta chọn lấy binh pháp của các danh gia, soạn làm một quyển, gọi là BINH THƯ YẾU LƯỢC. Các ngươi hãy chuyên chú luyện tập theo sách này, vâng lời ta dạy, thì mới phải đạo thần tử, bằng khi bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, suốt đời sẽ là kẻ nghịch thù.

    Vì sao vậy? Bởi giặc Nguyên với ta là kẻ thù không đội trời chung, các ngươi cứ điềm nhiên, không biết rửa nhục, không lo trừ hiểm họa, không biết dạy quân sĩ; chẳng khác nào quay mũi giáo mà quy hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc, nếu như sau trận Bình Lỗ mà ta phải tiếng xấu muôn đời thì còn mắt mũi nào đứng trong trời đất nữa!

    Ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ lòng ta».

    tuaans's Avatar

    tuaans

     08:01, 17th Oct 2012 #10942 

    nhê = nghe

    tuaans's Avatar

    tuaans

     08:00, 17th Oct 2012 #10941 

    Bài này học, thầy cô phân tích nhê còn trúc trắc nữa là toàn thể binh sĩ hầu hết không biết chữ ...

    muctau's Avatar

    muctau

     03:05, 17th Oct 2012 #10933 

    Ngày trước học '' trích giảng văn học '' có bài này. Bây giờ đọc lại thấy ''nhạy cảm '' quá !


    Sửa lần cuối bởi Dongdoi_D406; 16-10-2012 lúc 06:01 PM.
    GHÉT SỰ GIẢ DỐI

  8. Có 1 người thích bài viết này


  9. #5
    Ngày tham gia
    27-09-2010
    Bài viết
    152
    Thích
    194
    Đã được thích 145 lần trong 89 bài viết
    em cũng có những cảm nghĩ bất văn hủ
    -Thứ nhất : Vợ dại trong nhà
    -Thứ nhì : Nhà dột
    -Thứ 3 : nợ đòi
    ============
    Con vua rồi vẫn làm vua
    Con sãi ờ chùa, cứ quét lá đa
    Rồi xong mấy bận họp qua
    Con sãi cứ thế mà ra quét chùa

    tuaans's Avatar

    tuaans

     08:04, 17th Oct 2012 #10943 

    Trước có ông quét lá đa mãi rồi làm vua đó bác. Lại có ông làm vua chán bỏ đi quét lá trên Yên tử ...



  10. #6
    Ngày tham gia
    08-10-2010
    Bài viết
    596
    Thích
    414
    Đã được thích 176 lần trong 119 bài viết
    Bác Tuấn sờ nói rằng khó hiểu "Hịch tướng sĩ" của vị tướng đại tài Trần Quốc Tuấn, vậy em dẫn ra đây bài "Hịch tướng sĩ 2012" cho dễ hiểu

    HỊCH TƯỚNG SĨ 2012

    Ta cùng các ngươi Sinh ra phải thời bao cấp Lớn lên gặp buổi thị trường.

    Trông thấy:
    Mỹ phóng Con thoi lên vũ trụ chín tầng
    Nga lặn tàu ngầm xuống đại dương nghìn thước
    Nhật đưa rô bốt na nô vào thám hiểm lòng người Pháp
    Anh dùng công nghệ gen chế ra cừu nhân tạo…

    Thật khác nào:
    Đem cổ tích biến thành hiện thực
    Dùng đầu óc con người mà thay đổi thiên nhiên!
    Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa.
    Chỉ giận chưa thể đuổi kịp nước Nga, vượt qua nước Mỹ,
    mà vẫn chỉ hơn Lào, hao hao Băng la đét.
    Dẫu cho trăm thân này phơi trên sao Hỏa, nghìn xác này bọc trong tàu ngầm nguyên tử, ta cũng cam lòng.

    Các ngươi ở cùng ta,
    Học vị đã cao, học hàm không thấp
    Ăn thì chọn cá nước, chim trời
    Mặc thì lựa May Mười, Việt Tiến
    Chức nhỏ thì ta… quy hoạch
    Lương ít thì có lộc nhiều.
    Đi bộ A tít, Cam ry
    Hàng không Elai, Xi pic.

    Vào hội thảo thì cùng nhau tranh luận
    Lúc tiệc tùng thì cùng nhau “dô dô”.
    Lại còn đãi sỹ chiêu hiền
    Giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ, cử nhân, ai cũng có phần, không nhiều thì ít.
    Lại còn chính sách khuyến khoa Doanh nghiệp, giáo viên, trí thức, nông dân nhận cúp, nhận bằng còn thêm tiền thưởng.

    Thật là so với:

    Thời Tam quốc bên Tàu, Lưu Bị đãi Khổng Minh, Buổi hiện đại bên Nga, Pu tin dùng Mét vê đép, Ta nào có kém gì?

    Thế mà, nay các ngươi:

    Nhìn khoa học chậm tiến mà không biết lo
    Thấy công nghệ thụt lùi mà không biết thẹn
    Giáo sư ư? Biết “Thần đèn” chuyển nhà mà chẳng chạnh lòng
    Tiến sỹ a? Nghe “Hai lúa” chế tạo máy bay sao không tự ái?
    Có người lấy nhậu nhẹt làm vui
    Có kẻ lấy bạc cờ làm thích
    Ham mát xa giống nghiện “u ét đê”
    Ghét ngoại ngữ như chán phòng thí nghiệm

    Chỉ lo kiếm dự án để mánh mánh mung mung
    Không thích chọn đề tài mà nghiên nghiên cứu cứu
    Ra nước ngoài toàn muốn đi chơi
    Vào hội thảo chỉ lo ngủ gật
    Bệnh háo danh lây tựa vi rút com pu tơ
    Dịch thành tích nhiễm như cúm gà H5N1
    Mua bằng giả để tiến sỹ, tiến sy
    Đạo văn người mà giáo sư, giáo sãi.

    Thử hỏi học hành như rứa, bằng cấp như rứa, thì mần răng hiểu được chuyện na niếc na nô?
    Lại còn nhân cách đến vậy, đạo đức đến vậy, thì có ham gì bút bút nghiên nghiên.

    Cho nên:

    "Tạp chí hay” mà bán chẳng ai mua “Công nghệ tốt” mà không người áp dụng.
    Đề tài đóng gáy cứng, chữ vàng, mọt kêu trong tủ sắt
    Mô hình xây tường gạch, biển xanh, chó ị giữa đồng hoang.
    Hội nhập chi, mà ngoại ngữ khi điếc, khi câm?
    Toàn cầu chi, mà kiến thức khi mờ, khi tỏ?
    Hiện đại hóa ư? vẫn bám đít con trâu
    Công nghiệp hóa ư? toàn bán thô khoáng sản
    Biển bạc ở đâu, để Vi na shin nổi nổi chìm chìm, lưỡi bò liếm liếm
    Rừng vàng ở đâu, khi bô xít đen đen đỏ đỏ

    Thật là:

    “Dân gần trăm triệu ai người lớn Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”!

    Nay nước ta:
    Đổi mới đã lâu, hội nhập đã sâu
    Nội lực cũng nhiều, đầu tư cũng mạnh
    Khu vực có hòa bình, nước ta càng ổn định
    Nhân tâm giàu nhiệt huyết, pháp luật rộng hành lang
    Thách thức không ít, nhưng cơ hội là vàng!

    Chỉ e:

    Bệnh háo danh không mua nổi trí khôn
    Dịch thành tích chẳng làm nên thương hiệu.
    Giỏi mánh mung không lừa nổi đối tác nước ngoài
    Tài cờ bạc không địch nổi hắc cơ quốc tế.
    Cặp chân dài mà nghiêng ngả giáo sư
    Phong bì mỏng cũng đảo điên tiến sỹ.

    Hỡi ôi,

    Biển bạc rừng vàng, mà nghìn năm vẫn mang ách đói nghèo
    Tài giỏi thông minh, mà vạn kiếp chưa thoát vòng lạc hậu.

    Nay ta bảo thật các ngươi:

    Nên lấy việc đặt mồi lửa dưới ngòi pháo làm nguy
    Nên lấy điều để nghìn cân treo sợi tóc làm sợ
    Phải xem đói nghèo là nỗi nhục quốc gia
    Phải lấy lạc hậu là nỗi đau thời đại
    Mà lo học tập chuyên môn
    Mà lo luyện rèn nhân cách
    Xê mi na khách đến như mưa
    Vào thư viện người đông như hội
    Già mẫu mực phanh thây Gan ruột, Tôn Thất Tùng chẳng phải là to
    Trẻ xông pha mổ thịt Bổ đề, Ngô Bảo Châu chỉ là chuyện nhỏ

    Được thế thì:

    Kiếm giải thưởng “Phiu” cũng chẳng khó gì
    Đoạt Nô ben không là chuyện lạ
    Không chỉ các ngươi mở mặt mở mày, lên Lơ xút, xuống Rôn roi
    Mà dân ta cũng hưng sản, hưng tâm, vào Vi la, ra Rì sọt.
    Chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu
    Mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng,
    Chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí,
    Mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm.
    Chẳng những tên tuổi ta không hề mai một,
    Mà thương hiệu các ngươi cũng sử sách lưu truyền.
    Trí tuệ Việt Nam thành danh, thành tiếng
    Đất nước Việt Nam hóa hổ, hóa rồng
    Lúc bấy giờ các ngươi không muốn nhận huân chương, phỏng có được không?

    Nay ta chọn lọc tinh hoa bốn biển năm châu hợp thành một tuyển, gọi là Chiến lược
    Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này theo lời ta dạy bảo thì suốt đời là nhà khoa học chính danh.
    Nhược bằng không tu thân tích trí, trái lời ta khuyên răn thì muôn kiếp là phường phàm phu tục tử.

    Vì:
    Lạc hậu, đói nghèo với ta là kẻ thù không đội trời chung
    Mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn trừ hung, không lo rửa nhục
    Giữ một ngọn cỏ, cành cây, giọt nước của giang sơn cũng làm ta quên ăn mất ngủ
    Mà các ngươi cứ điềm nhiên lo tranh quyền đoạt lợi
    Chẳng khác nào quay mũi giáo mà đầu hàng, giơ tay không mà thua giặc.
    Nếu vậy rồi đây không biết dân Việt ta đi về đâu nữa, ta cùng các ngươi há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất này nữa?

    Trí thức là nguyên khí quốc gia Cho nên ta mới thảo Hịch này Xa gần nghiên cứu Trên dưới đều theo!

    Dongdoi_D406's Avatar

    Dongdoi_D406

     20:12, 17th Oct 2012 #11010 

    Bác mượn mang về đây đi

    tuaans's Avatar

    tuaans

     19:47, 17th Oct 2012 #11008 

    Trên mạng có bài hịch của bạn Lừa nghe tâm huyết hơn nhiều ...


    GHÉT SỰ GIẢ DỐI

  11. Có 1 người thích bài viết này


  12. #7
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,248
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết
    Hình như nội dung dần chuyển sang...quán nước của bác Dê rồi!8->

    tuaans's Avatar

    tuaans

     22:32, 18th Oct 2012 #11060 

    Bác Dê xem tạm bạn Lừa viết ở chỗ này: http://ttvnol.com/gdqp/p-18643575

    Dongdoi_D406's Avatar

    Dongdoi_D406

     19:28, 18th Oct 2012 #11052 

    Tại vì các bác ấy còm nên em lấy ví dụ mình họa thôi :D



  13. #8
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết
    Chính sử nhà Nguyễn viết gì về “đối thủ” Quang Trung? (1)


    - Sau khi lên cầm quyền, triều đình nhà Nguyễn đã rất tích cực trong việc thủ tiêu các di tích và sách sử về nhà Tây Sơn - kẻ thù không đội trời chung của họ.

    Kỳ 1: Vừa là “ngụy” vừa là anh hùng.

    Chỉ đến thời vua Tự Đức, Đại Nam liệt truyện - một tài liệu chính sử của Sử quán triều Nguyễn mới có những ghi chép về các vị vua Tây Sơn trong một thiên có nhan đề “Ngụy Tây liệt truyện” (có nghĩa là Truyện về sự tiêu vong của ngụy quyền Tây Sơn).

    Điều đáng chú ý là dù bị coi là “ngụy”, nhưng hình ảnh của hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ hiện lên trong Ngụy Tây liệt truyện như một con người phi thường, với khí phách và tài năng của một vị anh hùng lịch sử.

    Theo mô tả của Ngụy Tây liệt truyện, ngay từ ngoại hình, Nguyễn Huệ đã một con người phi phàm với “tiếng nói như tiếng chuông to, mắt lập lòe như tia lửa”. Ông là người “đánh giặc rất giỏi, người người đều sợ”.

    Bằng những lời lẽ không giấu giếm sự nể phục, tác phẩm cho biết: “Nguyễn Huệ đã bốn lần đánh phá Gia Định, lâm trận đi đầu các binh sĩ, hiệu lệnh rất nghiêm minh, quân sĩ đều kính phục”.
    Tài cầm quân của Nguyễn Huệ được miêu tả khá kỹ trong trận đánh Vị hoàng ở vùng Thanh Nghệ trên đường ra Bắc dẹp quân Trịnh:

    “Khi Nguyễn Huệ đã tiến tới Vị Hoàng, kinh thành Thăng Long chấn động. Trịnh Khải sai Trịnh Tự Quyền đen bộ binh xuống Sơn Nam, sai Đinh Tích Nhưỡng đem chiến thuyền chặn ngang sông Lỗ Giang lập thế trận hình chữ nhất. Lúc đấy nước lụt vừa yên, đang đêm Nguyễn Huệ cho năm chiếc thuyền chiến Mông xung (thuyền cơ động dùng để đột kích) trước hết tiến bức Lỗ Giang mà đánh.

    Binh của Đinh Tích Nhưỡng Tranh nhau bắn, nhưng chiến thuyền của địch lặng lờ không động đậy gì. Đến sáng binh của Đinh Tích Nhưỡng mới biết đó là thuyền không, thì thuốc đạn đã hết. Chiến thuyền của Nguyễn Huệ ụp tới thuận theo gió, súng nổ rền trời, đạn bay đoạn ngang cây cổ thụ…”.

    Đến cuộc chiến chống sự xâm lược của quân Thanh, khí phách và tài năng của Nguyễn Huệ càng được tỏ rõ.

    Khi Tôn Sĩ Nghị đưa quân vào Thăng Long, tuyên phong Lê Chiêu Thống làm An Nam quốc Vương (1788) và bày tỏ sự coi thường quân Tây Sơn, Nguyễn Huệ đã vô cùng phẫn nộ. Ngụy Tây liệt truyện viết:

    “Ngô Văn Sở bỏ các trấn ở Bắc thành. Vua Chiêu Thống sai quan đến nhậm chức các nơi. Các quan văn võ lục tục kéo đến đô thành Thăng Long bái Yết. Họ đều xin Sĩ Nghị ra quân. Sĩ nghị bảo: Năm sắp hết, việc gì mà vội? Không cần đánh gấp. Quân giặc ốm. chúng ta chính đang nuôi chúng mập béo để chúng tự đến nạp thịt vậy.

    Sĩ Nghị truyền lệnh cho các đội quân hạ trại nghỉ ngơi, hẹn ra xuân mùng 6 tháng Giêng ra quân.

    Nguyễn Huệ được cấp báo mắng to: Chó Ngô là quân gì mà dám tung hoành?”.

    Ngay sau đó Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Quang Trung và tiến hành cuộc hành quân huyền thoại ra đất Bắc.

    Vị anh hùng của Tây Sơn đã chứng tỏ mình là một người có trí tuệ sáng suốt khi hành xử thấu tình đạt lý với hai bại tướng không chặn được quân Thanh. Theo Ngụy Tây liệt truyện thì:

    “Ngày 20 tháng Chạp vua Quang Trung đến núi Tam Điệp. Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân phủ phục bên đường xin nhận tội. Vua Quang Trung nói: Tội của các ngươi đáng muôn lần chết. Nhưng ta lại nhớ Bắc Hà mới dẹp yên, lòng người chưa phụ vào. Bọn ngươi bảo toàn được quân đội để tránh mũi dùi nhọn của giặc, trong thì kích thích chí khí của quân sĩ, ngoài thì làm kiêu căng lòng giặc. Đó cũng là cái kế dụ địch. Ta cho bọn ngươi lập công chuộc tội để xem chiến tích của bọn ngươi sau này”.

    Tài năng quân sự của hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ không chỉ thể hiện ở việc đánh trận mà còn ở nghệ thuật truyền dũng khí cho quân sĩ, được kể lại như sau:

    “Vua Quang Trung đãi quân sĩ ăn uống no say rồi nói với toàn quân: Nay chúng ta hãy ăn Tết trước, đợi sang xuân mùng 7 vào thành Thăng Long rồi ta mở yến tiệc một lần nữa. Bọn ngươi hãy nhớ xem ta nói có ngoa hay không”.

    Dưới sự dẫn dắt của hoàng đế Quang Trung, đội quân Tây Sơn nhanh chóng nhổ bật các chướng ngại để bước vào trận đánh sinh tử ở đại bản doanh của kẻ thù.

    Trận Ngọc Hồi được Ngụy Tây liệt truyện mô tả:

    “Hừng sáng ngày mùng 5 quân Nam tiến đánh lũy Ngọc Hồi. Trên lũy đạn bắn xuống như mưa. Vua Quang Trung ra lệnh cho quân sĩ lấy ván gỗ núp mà xung trận. Vua Quang Trung tự đánh voi đốc quân ở phía sau.

    Quân Nam đã phá được cửa lũy, liền bỏ ván gỗ xuống đất, dùng đoản đao đánh giết. Quân Thanh chống không nổi, tan rã bỏ chạy tứ phía mắc vào bẫy ngầm, địa lôi phát nổ, tử thương rất nhiều. Vua Quang Trung giục trống thúc quân truy đuổi, phá luôn mấy đồn Văn Điển, An Quyết…

    Ngày ấy vua Quang Trung xua quân vào thành. Chiếu bào của vua biến thành màu sạm đen vì thuốc súng”.

    Đọc những đoạn trên, khó có thể hình dung Ngụy Tây liệt truyện đang nói về một kẻ tử thù của triều Nguyễn. Người ta chỉ thấy hình ảnh vua Quang Trung hiện lên như một đấng anh hùng kiệt xuất.

    Ngụy Tây liệt truyện cũng ghi nhận sự khiếp sợ của người phương Bắc trước uy thế của vua Quang Trung:

    “Vua Quang Trung cho quân đuổi theo đến cửa ải Lạng Sơn, và lên tiếng sẽ giết sạch không sót mạng nào để tìm tung tích vua Chiêu Thống. Người nhà Thanh kinh khủng, từ cửa ải trở về Bắc, già trẻ dìu nhau trốn chạy. Hàng mấy trăm dặm tuyệt nhiên người và khói bếp lạnh tanh”.

    tuaans's Avatar

    tuaans

     08:38, 5th Nov 2012 #11746 

    Ngụt Tây liệt truyện = Truyện chép về Ngụy Tây



  14. Có 2 người thích bài viết này


  15. #9
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết
    Chính sử nhà Nguyễn viết gì về “đối thủ” Quang Trung? (2)

    Ngụy Tây liệt truyện đã đề cập khá chi tiết chuyến “công du” thành công rực rỡ của “vua giả” Phạm Công Thiện trên đất nhà Thanh.

    Chiến lược ngoại giao xuất sắc
    Hoàng đế Quang Trung.
    Với tầm nhìn của mình, hoàng để Quang Trung hiểu rằng để có thể tránh họa binh đao, dân chúng được hưởng thái bình lâu dài thì phải thiết lập quan hệ ngoại giao hòa hảo với chính kẻ thù của mình.

    Ngụy Tây liệt truyện viết: “Khi Tôn Sĩ Nghị dìu dắt nhau chạy về Bắc, các sắc thư của hắn mang theo rơi rớt dọc đường. Vua Quang Trung thu được, nói với Ngô Thì Nhậm: Ta xem thư của vua Thanh, chẳng qua là họ xem thế mạnh yếu mà giúp vậy thôi. Việc giúp nhà Lê không phải ở bản tâm chân thật, mà chỉ mượn đó làm danh nghĩa để mưu lợi. Nay sau khi thua trận, họ tất cho là nhục, hẳn là không chịu dứt can qua. Nhưng hai nước giao binh cũng không phải là cái phúc cho nhân dân. Nay chỉ khéo ở lời thù tiếp ngoại giao mới có thể dứt được đao binh”.

    Vì vậy, ngay sau khi đánh đuổi quân Thanh ra khỏi bờ cõi, vua Quang Trung đã “làm mềm lòng” vua Thanh bằng cách ra lệnh cho người quân binh nhà Thanh bị bắt làm tù binh đều được cấp lương phạn và được chọn nơi cho tạm trú.

    Sứ giả nhà Thanh đã đưa thư sang gợi ý vua Quang Trung hãy “nhận ân huệ” của nhà Thanh, nhưng thực bụng là tỏ ý muốn giảng hòa. Vua Quang Trung nhận được thư, trong lòng khinh bỉ, nhưng ngoài mặt vẫn sai người dâng biểu cho nhà Thanh xin làm An Nam Quốc vương.

    Tờ biểu được viết bằng những lời lẽ rất khiêm nhường, trần tình về cuộc chiến vừa xảy ra và xin lỗi vua Thanh vì đã lỡ tay… diệt sạch quân thiên triều. Nhưng ẩn sau các lời lẽ đó là những hàm ý hết sức cứng rắn, khiến sứ giả nhà Thanh thất kinh khi tiếp nhận.

    Theo Ngụy Tây liệt truyện, tờ biểu có các đoạn sau:

    “Ôi, đường đường là thiên tử lại đi so hơn thua với nước bé thì ắt là muốn chinh chiến mãi không thôi để cùng khốn binh sĩ, lạm dụng vũ lực hầu sướng khoái cái lòng tham tàn bạo thì thật lòng Đại hoàng đế không nhẫn”

    “Vạn nhất can qua mãi không dứt, tình thế đến nỗi nào thật không phải do thần muốn và không dám biết đến”

    Đoạn trên chẳng khác nào câu lời chửi xéo vào cái sự tham tàn của vua Thanh, trong khi đoạn dưới là một thông điệp đầy thách thức, tỏ ý sẵn sàng đánh đến cùng với nhà Thanh, bất chấp kết cục ra sao thì ra.

    Dù vậy, với việc hoàng đế Quang Trung chấp nhận giảng hòa và xin phong vương, vua Thanh đã vui mừng chuẩn y. Để khẳng định uy thế thiên triều, vua Thanh yêu cầu Quốc vương An Nam đích thân sang chiêm cận ở cửa ải.

    Vua Quang Trung đã từ chối khéo đề nghị này. Theo Ngụy Tây liệt truyện, thư hồi đáp vủa vua Quang Trung viết: “Vốn đích thân đến cửa khuyết của triều đình để tỏ tình xin tội, nhưng vì trong nước vừa bị chiến tranh, lòng người chưa yên, thần kính cẩn sai đứa cháu ruột là Nguyễn Quang Biểu theo tờ biểu vào chiêm cận”.

    Vua Thanh chuẩn y cho Nguyễn Quang Biểu lên kinh đô, nhưng vẫn nhất quyết yêu cầu vua Quang Trung sang chiêm cận để bày tỏ thành tâm.

    Nguỵ Tây liệt truyện viết: “Vua Quang Trung lại dâng biểu tạ ơn, xin sang năm vào chiêm cận. Vua Thanh tin thật, liền sắc phong vua Quang Trung làm An Nam quốc vương, sai Thanh Lâm, quan hậu bổ Quảng Tây làm lễ thụ phong”.

    Sau nhiền lần trì hoãn theo dụng ý của vua Quang Trung, buỗi lễ đã được tiến hành. Nhưng người xuất hiện trong buổi lễ không phải vua Quang Trung mà là người đóng thế Phạm Công Trị.

    Ngụy Tây liệt truyện đã mô tả khá chi tiết chuyến “công du” thành công rực rỡ của “vua giả” Phạm Công Thiện trên đất nhà Thanh. Dưới đây là trích đoạn trong Ngụy Tây liệt truyện:

    “Mùa xuân năm Canh Tuất (1790), Phúc An Khang (Tổng đốc Lưỡng Quảng) giục Quang Trung sửa soạn sang chầu.

    Vua Quang Trung lại mượn cớ có tang mẹ xin cho con là Quang Thùy thay mình vào chiêm cận. phúc An Khang không chịu, bí mật sai người đến cửa quan đem theo nỗi niềm ẩn khuất bày vẽ nếu bất đắc dĩ không đi được thì nên tìm người giống mình mà thay thế.

    Vua Quang Trung bèn cho Phạm Công Trị giả mạo lấy tên mình và sai bề tôi là Ngô Văn Sở, Đặng Văn Chân, Phan huy Ích, Vũ Huy Tấn, Vũ Danh Tiêu, Nguyễn Tiến Lộc, Dỗ Văn Công với ngoại lệ hai thớt voi đực để làm khổ bọn quan Tàu dọc đường dịch trạm.

    Lưỡng Quảng tổng đốc Phúc An Khang và Quảng Tây Tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh đưa phái đoàn đến kinh đô. Vua Thanh bao thưởng rất trọng hậu để biểu thị ý đặc biệt...

    Vua Thanh cho giả vương y phục chén bát cũng đồng bậc như thân vương. Vua Thanh lại thưởng thêm vạn bạc lượng.

    Khi giả vương đến cáo từ để trở về nước, vua thanh lại cho giả vương đến bên sạp ngự và vỗ vai giả vương an ủi dạy bảo ôn tồn rồi sai họa công vẽ chân dung mà ban thưởng (nay còn bức ảnh truyền lại).

    Khi giả vương đã trở về rồi, vua Thanh sai đưa sang ban cho chữ Phúc và đồ trân ngoạn của ngự dụng. Sứ giả qua lại không ngớt”.

    Như vậy, bằng tài ngoại giao của mình, vua Quang Trung đã biến một kẻ thù hùng mạnh thành bằng hữu mà không hề hạ thấp vị thế của mình, cũng như của cả triều đại và dân tộc. Đây thực sự là một chiến công lớn mà không cần dùng đến gươm giáo của người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ.

    tuaans's Avatar

    tuaans

     10:35, 7th Nov 2012 #11838 

    Bác dksg: em nhớ đến cuốn "Sử liệu chiến tranh Thanh - Tây Sơn". Để bữa nào lục lại post lên ...



  16. #10
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,509
    Thích
    470
    Đã được thích 1,296 lần trong 560 bài viết
    Ông Thái Bá Tân thì dạy Lịch Sử cho trẻ em như thế này, không giống với kiểu SGK của Bộ Giáo dục. Các bác cho ý kiến nhé:

    THƠ SỬ VIỆT - 13 phần đã viết
    Người viết: Thái Bá Tân
    14/12/2012
    Thái Bá Tân
    SỬ VIỆT CHO HỌC SINH
    ___________

    1
    LỜI MÀO ĐẦU

    Chào các cháu thân mến.
    Ông là Thái Bá Tân,
    Còn gọi Ông Tân Béo,
    Nghề - làm thơ, viết văn.

    Trước ông cũng dạy học,
    Nhưng lâu rồi, hôm nay
    Ông có chuyện muốn nói
    Với các cháu thế này.

    Người ta bảo các cháu
    Ngại môn Sử, đúng không?
    Thế thì thật đáng tiếc,
    Vì môn ấy, theo ông

    Là môn rất bổ ích,
    Dễ học và cực hay.
    Ông ngày bé, thú thật,
    Mê học nó hàng ngày.

    Vì sao? Vì học nó
    Như một chuyến đi xa,
    Ngược thời gian, tìm hiểu
    Lịch sử của nước nhà.

    Mà chuyến đi vui lắm,
    Chẳng tốn kém một đồng.
    Ông sẽ dẫn các cháu,
    Ta cùng đi, thích không?

    Vừa đi ông vừa kể,
    Bảo đảm không ai buồn.
    Kể bằng thơ dễ hiểu.
    Nếu cần, ông thề luôn.

    Sẽ lâu và xa đấy.
    Bốn nghìn năm cơ mà.
    Bốn nghìn năm lịch sử
    Đất nước Việt Nam ta.

    Ông sẽ theo trình tự
    Kể từ những ngày đầu
    Nhân dân ta dựng nước
    Rồi kể tiếp về sau.

    Suốt bốn nghìn năm ấy
    Tổ Quốc ta thân yêu
    Trải qua bao biến cố.
    Nhiều lắm, nhiều, rất nhiều.

    Nhiều triều đại tiếp nối.
    Nhiều chiến thắng vẻ vang.
    Nhiều anh hùng, hào kiệt.
    Nhiều trang sử huy hoàng…

    Tất cả những cái ấy
    Ta phải biết, đúng không?
    Biết để hiểu đất nước,
    Tự hào về cha ông.

    Lần lượt ông kể hết.
    Hơn thế, dọc đường đi
    Ông kể xen cổ tích,
    Toàn truyện hay, li kỳ.

    Hoặc có thể là truyện
    Các danh nhân, anh hùng.
    Nước ta, người như thế
    Thì ôi, nhiều vô cùng.

    Các cháu đồng ý chứ,
    Sao cứ phải chờ lâu?
    Làm gì là làm tới.
    Nào, chúng ta bắt đầu.
    Dậm chân tại chỗ....Dậm !
    <marquee direction="left" scrolldelay="0"></marquee>

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •