CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 2 của 2 Đầu tiênĐầu tiên 12
Kết quả 11 đến 14 của 14

Chủ đề: Lịch sử Việt Nam qua những bài viết bất hủ

  1. #11
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    740
    Thích
    845
    Đã được thích 186 lần trong 115 bài viết
    Về bài thơ thần : NAM QUỐC SƠN HÀ của Thái Úy Lý Thường Kiệt trong trận đánh chống quân xâm lược nhà Tống trên phòng tuyến Như nguyệt năm 1077, có những ý kiến khác nhau về xuất xứ của bài thơ thần này. Tôi đọc được đâu đó rằng bài thơ xuất hiện từ cuộc chống quân xâm lược nhà Tống lần thứ nhất ( năm 981 ) do vua Lê Đại Hành lãnh đạo.
    Nay tôi tìm được bài viết dưới đây trên mạng, xin đưa vô đây để các bạn có thêm một thông tin bổ ích.


    BÀI THƠ “NAM QUỐC SƠN HÀ” CÓ TỪ BAO GIỜ?

    “Nam Quốc Sơn Hà” (1) là một bài thơ với nội dung khẳng định nền độc lập tự chủ của dân
    tộc ta với nhà Tống phương bắc. Đây là bài thơ mà nhiều người đã từng nghe qua, nhưng
    có vài điều liên quan đến bài thơ mà hậu thế chúng ta đến nay vẫn chưa biết. Những nghi
    vấn như: bài thơ trên do ai sáng tác? Bài thơ xuất hiện lần đầu tiên vào thời gian nào? Bối
    cảnh lịch sử liên quan đến nội dung của bài thơ ra sao?

    Nghi vấn về thời điểm xuất hiện của bài thơ
    Nhiều người cho rằng bài thơ trên xuất hiện lần đầu tiên vào thời vua Lý Nhân Tông (2)
    trong trận đánh Tống trên sông Như Nguyệt năm 1076-1077 (3). Lý Thường Kiệt đã cho
    người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát (4) đọc lên vào lúc nửa đêm, nhằm mục đích
    làm giảm tinh thần chiến đấu của quân Tống và cũng nhân đó làm tăng thêm tinh thần
    đánh giặc của quân ta.
    Thế nhưng, trong quyển sách “Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn
    do nhóm tác giả thuộc Hội Sử học Hà Nội, nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng bài
    thơ này ra đời vào thời Tiền Lê và đã được Lê Hoàn sử dụng trong trận đánh Tống năm
    981. Ngoài ra, trong Tạp chí Hán Nôm số 5, năm 2005, bài “Nam Quốc Sơn Hà và Quốc Tộ
    - Hai kiệt tác văn chương chữ Hán ngang qua triều đại Lê Hoàn”, phó Giáo Sư Bùi Duy
    Tân cũng đã khẳng định rằng bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” có từ thời Tiền Lê.
    Hơn nữa, trong bài “Lịch sử, sự thật và sử học” được đăng trong báo Tổ Quốc, số 401
    tháng 1-1988, Giáo Sư Hà Văn Tấn có viết rằng: “Không một nhà sử học nào có thể chứng
    minh được rằng bài thơ Nam quốc sơn hà là của Lý Thường Kiệt. Không có một sử liệu
    nào cho biết điều đó cả”. Không những thế, trong bài “Pháp Thuận và bài thơ thần nước
    Nam sông núi”, một lần nữa thiền sư Lê Mạnh Thát cũng đã khẳng định bài thơ này xuất
    hiện dưới thời vua Lê Đại Hành (5) đánh Tống.Vậy đâu là sự thật?

    Nội dung bài thơ
    Nhằm giúp tìm hiểu xem bài thơ trên có từ thời nào, trước hết chúng ta hãy xem xét nội
    dung của bài thơ. Mặc dù hầu hết mọi người đều hiểu ý nghĩa của bài thơ này, tuy nhiên
    có những điều mà nhiều người thuộc bài thơ trên vẫn chưa hiểu hết. Nhất là hai chữ
    “Thiên Thư” đã được hầu hết các dịch giả xem là danh từ chung, trong khi có ý kiến cho
    rằng “Thiên Thư” chính là tên của một bộ kinh bên Trung Hoa; và hai chữ “Thiên Thư”
    trong “Nam Quốc Sơn Hà” chính là danh từ riêng để chỉ bộ sách đó (6).
    Như vậy, nội dung của bài thơ trên tạm diễn giải như sau: sông núi nước nam là của vua
    nam, ranh giới Tống - Việt đã được phân định rõ ràng trong kinh “Thiên Thư”. Như các
    người đã biết, đây là bộ sách do Trời gửi xuống dạy như vậy. Tại sao các người dám cãi lại
    Sách Trời, dám sang đây xâm phạm ranh giới mà Trời đã phân chia? Cãi lại Sách Trời tức
    là cãi lại Ý Trời, mà cãi lại Ý Trời thì hậu quả thế nào các người sẽ biết: bị đánh tơi bời chứ
    chẳng phải chơi!

    Việc Lý Thường Kiệt cho người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát đọc thật to để nhắc
    lại cho quân Tống biết rằng việc làm của họ là trái với Thiên Thư, trái với những điều mà
    họ tin tưởng trong Sách Trời thì trước sau gì họ cũng sẽ bị quân Việt đánh bại. Mục đích
    của Lý Thường Kiệt nhằm làm nhụt nhuệ khí của quân Tống, dẫn đến việc bại trận mà sau
    đó quân Tống đã phải rút lui khỏi nước ta.

    Nguồn gốc và ý nghĩa của hai chữ “Thiên Thư” trong bài thơ
    Thiên Thư là tên của một bộ sách được soạn dưới thời vua Tống Chân Tông (7). Vào thời
    này, nước Tống bị nước Liêu phía bắc uy hiếp, bắt phải cắt đất dâng và cống nạp thường
    xuyên. Phía tây, Tống bị Tây Hạ nhiều lần đưa quân tấn công. Phía nam thì Đại Cồ Việt
    mạnh lên nên không chịu thần phục. Thay vì triều đình nhà Tống tìm cách củng cố lại đất
    nước, làm cho dân giàu, binh hùng, tướng mạnh…để các nước xung quanh thần phục,
    nhưng vua Tống Chân Tông đã không làm như vậy. Vua Tống nghe theo lời của Tể tướng
    Vương Khâm Nhược cho làm lễ tế cáo trời đất, trấn phục bốn phương để các nước xung
    quanh sợ mà thần phục.
    Năm tên gian thần thời đó mà Tống sử gọi là “ngũ quỷ”, đó là Vương Khâm Nhược, Đinh
    Vị, Trần Nghiêu Tẩu (8), Lưu Thừa Khuê (9) và Trần Bành Niên (10) đã hiến kế rằng: để
    cho việc cúng tế được linh nghiệm và cũng để cho dân chúng thật lòng tin tưởng vào
    chuyện này, cần phải có bộ sách do nhà trời ban xuống, đó là “Thiên Thư”. Vua Tống đã
    đồng ý cho soạn bộ sách này; đến năm 1019 thì “Thiên Thư” đã được soạn xong, vua cho
    người đem giấu trong hang núi Càn Hựu, phía nam Trường An. Rồi sau đó cho người loan
    tin rằng: “từ xưa, trời có ban cho chúng ta một bộ sách, đó là Thiên Thư, được cất giữ
    trong hang núi Càn Hựu” (11).
    Nội dung bộ Thiên Thư nói rằng: vua Tống là con của trời, do trời sai xuống trần gian để
    cai trị thiên hạ. Vì vậy, dân chúng ở phía bắc là Địch, phía tây là Nhung, phía nam là Man
    và phía đông là Di là các sắc dân phải nghe theo lời của trời mà quy phục thiên tử, tức vua
    Tống Chân Tông thời bấy giờ. Sách cũng định rõ biên giới giữa Trung Hoa với các nước
    xung quanh như: đông, tây, nam, bắc. Sau đó, vua Tống Chân Tông cho người trốn vào
    trong các đền thờ linh hiển nhất nước để đọc cho dân chúng nghe, làm cho người dân tin
    rằng không những trời gửi sách xuống mà còn sai thiên tướng xuống đọc. Vì vậy dân
    chúng khắp nơi rất tin tưởng và ghi lại những điều do trời dạy dỗ.
    Kế đến, vua Tống cho người làm lễ tế cáo trời đất khắp nơi, trước tiên là lập đàn tế lễ ở
    những chỗ linh hiển nhất nước như miếu Khổng Tử (12), núi Thái Sơn (13). Rồi người dân
    ở các châu, các quận huyện khắp nơi trên cả nước đều lập đàn tế cáo trời đất. Mọi người
    đều tin tưởng rằng bộ sách kia là do trời ban xuống, rằng những lời trong sách là những
    lời dạy của trời.

    Bài thơ có từ thời vua Lê Đại Hành đánh Tống?
    Có thuyết cho rằng bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” có từ thời Tiền Lê khi vua Lê Đại Hành
    đánh Tống năm 981. Những người ủng hộ thuyết này dựa vào câu chuyện trong “Lĩnh
    Nam Trích Quái” có tựa đề “Truyện hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt” (14).
    Theo câu chuyện này thì khi vua Tống Thái Tổ (15) sai Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng
    (16) đem quân sang xâm lược nước ta, vua Lê Đại Hành nằm ngủ thấy hai vị thần hiện về
    báo mộng. Hai vị thần nói với vua, đại ý như sau: anh em thần tên là Trương Hống,
    Trương Hát, là tướng của Triệu Việt Vương. Anh em thần vì nghĩa mà chết nên được phong
    làm tướng trong các thần linh, thống lĩnh quỉ binh. Nay quân Tống xâm phạm nước ta, anh
    em thần đến yết kiến, cùng giúp vua đánh giặc để cứu dân chúng.

    Vua Lê Đại Hành tỉnh dậy mừng rỡ vì tin rằng có thần giúp đỡ. Đêm sau vua lại nằm mơ
    thấy hai người, một người dẫn đoàn quỉ áo trắng từ phía Bình Giang kéo lên, còn một
    người dẫn đoàn quỉ áo đỏ từ phía sông Như Nguyệt kéo xuống, cả hai đoàn quân xông vào
    trại giặc mà đánh. Sau đó thần còn ngâm bài thơ như sau:
    Nam quốc sơn hà nam đế cư
    Hoàng thiên dĩ định tại Thiên Thư
    Như hà bắc lỗ xâm nam chí
    Bạch nhận phiên thành phá trúc dư
    Dịch là:
    Sông núi nước nam, vua nam ở
    Sách Trời định phận rõ non sông
    Cớ sao giặc bắc sang xâm phạm?
    Bây hãy chờ gươm chém bại vong
    Quân Tống nghe vậy nên hoảng sơ, đạp lên nhau mà chạy. Một số thì bị quân ta giết, một
    số thì bị bắt sống. Nhờ vậy mà quân ta phá được Tống.

    Bài thơ có từ thời Lý Thường Kiệt đánh Tống?
    Nhiều người cho rằng bài thơ “Nam quốc sơn hà” xuất hiện vào thời Lý. Những người ủng
    hộ thuyết này dựa vào câu chuyện tương tự như vậy đã được sử gia Ngô Sĩ Liên chép lại
    trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Năm 1076, vua Tống Thần Tông (17) sai Quách Quỳ (18)
    và Triệu Tiết (19) mang quân sang đánh nước ta. Đầu năm 1077, quân Tống đang đóng
    phía bên kia bờ sông Như Nguyệt và chuẩn bị tấn công, nhằm phá tan phòng tuyến này
    trước khi kéo quân về đánh Thăng Long với ý định bắt sống vua Lý Nhân Tông , thái hậu
    Ỷ Lan và Lý Thường Kiệt. Nửa đêm trước khi quân Tống tấn công phòng tuyến Như
    Nguyệt, Lý Thường Kiệt cho người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát ở bên này
    sông, giả làm thần và đọc thật to bài thơ như sau:
    Nam Quốc Sơn Hà nam đế cư
    Tiệt nhiên định phận tại Thiên Thư
    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
    Nghĩa là:
    Sông núi nước nam, vua nam ở
    Rành rành đã định tại Sách Trời
    Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
    Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời
    Lý Thường Kiệt cho người giả làm hai vị thần Trương Hống, Trương Hát đọc bài thơ với
    mục đích uy hiếp tinh thần quân Tống, làm cho quân Tống tin rằng họ đang bị thần “quở
    trách” về việc sang xâm lược nước ta. “Thần” cũng khiển trách việc làm của quân Tống là
    cãi lại Ý Trời, bởi vì Sách Trời, tức Thiên Thư, đã phân định lãnh thổ rõ ràng, đất phương
    nam là của dân nam nên quân Tống không có quyền xâm phạm. Bài thơ đã góp phần giúp
    quân ta đánh thắng quân Tống trên sông Như Nguyệt.

    Bối cảnh ra đời và sự giống nhau giữa hai câu chuyện:
    Câu chuyện về sự ra đời của bài thơ ở cả hai thuyết trên đều được lấy từ những truyền
    thuyết dân gian. Những người cho rằng bài thơ ra đời vào thời vua Lê Đại Hành đánh
    Tống năm 981 thì dựa vào câu chuyện “Hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt”. Đây là câu
    chuyện do dân gian truyền lại và đã được Trần Thế Pháp ghi trong “Lĩnh Nam Trích Quái”
    vào thế kỷ 15. Còn những người tin rằng bài thơ trên ra đời vào thời kỳ Lý Thường Kiệt
    thống lãnh ba quân đánh Tống bên sông Như Nguyệt năm 1076-1077 thì dựa vào câu
    chuyện mà sử gia Ngô Sĩ Liên ghi lại trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư vào thế kỷ 15, và cả
    hai câu chuyện đều do dân gian truyền lại.
    Xét về bối cảnh ra đời của bài thơ ở hai thuyết nêu trên có nhiều tình tiết giống nhau.
    Cũng vẫn là cuộc kháng chiến chống quân Tống, cũng do hai vị thần là hai anh em
    Trương Hống, Trương Hát, là tướng của Triệu Việt Vương đọc bài thơ và câu chuyện cũng
    xảy ra trên cùng một nơi, đó là sông Như Nguyệt. Về nội dung, mặc dù giữa hai bài thơ có
    vài từ khác nhau nhưng nội dung chính giống nhau, nhất là cả hai bài thơ đều có hai chữ
    “Thiên Thư”, nói lên việc vi phạm “Sách Trời” của quân Tống.
    Điều này có thể giải thích rằng hai câu chuyện trong “Lĩnh Nam Trích Quái” và “Đại Việt Sử
    Ký Toàn Thư” là một, nhưng vì do dân gian truyền lại nên có đôi chút khác nhau, nhất là
    sự khác nhau về thời điểm ra đời của bài thơ: một thuyết cho rằng câu chuyện trên xảy ra
    vào thời quân ta đánh Tống năm 981, dưới thời vua Lê Đại Hành, còn thuyết kia thì cho
    rằng câu chuyện xảy ra khi quân ta đánh Tống đầu năm 1077 vào thời vua Lý Nhân Tông,
    do Lý Thường Kiệt chỉ huy.

    Đâu là sự thật?
    Có lẽ rất khó phân biệt thuyết nào đúng hơn nếu chúng ta không hiểu hết nội dung của
    bài thơ. Như đã nói ở trên, tác giả bài thơ đã dựa vào kinh “Thiên Thư” dưới thời vua Tống
    Chân Tông để chống giặc Tống, cho nên bài thơ trên chỉ có thể xuất hiện sau khi bộ kinh
    Thiên Thư hoàn thành. Như vậy, có hai giả thuyết:
    1. Nếu cho rằng bài thơ trên có từ thời vua Lê Đại Hành phá Tống thì kinh “Thiên Thư”
    phải được viết trước thời này, tức là trước năm 981.
    2. Nếu cho rằng bài thơ xuất hiện vào thời Lý Thường Kiệt đánh Tống, sau thời vua
    Lê Đại Hành đánh Tống và kinh Thiên Thư có trước bài thơ, vậy thì kinh Thiên Thư chỉ có
    thể xuất hiện trong khoảng thời gian từ năm 982-1077.
    Giả thuyết thứ nhất bị loại vì trong Tống sử, Chân Tông bản kỷ, quyển VII, do Thuyết
    Thuyết chủ biên, có nói rõ việc vua Tống Chân Tông cho soạn Thiên Thư xong năm 1019
    như đã nói trên. Vì vậy, Thiên Thư không thể viết trước năm 981.Giả thuyết thứ hai, Thiên
    Thư được viết xong năm 1019 sau khi vua Lê Đại Hành phá Tống năm 981 và trước khi Lý
    Thường Kiệt đánh Tống trên sông Như Nguyệt năm 1077. Như vậy, bài thơ trên chỉ có
    thể xuất hiện vào thời Lý Thường Kiệt đánh Tống bên sông Như Nguyệt đầu năm
    1077 mà thôi.

    Đinh Ngọc Thu
    28-10-2008

    Ghi chú:
    1. Bài thơ này có khoảng trên dưới 10 dị bản khác nhau. Bài viết này chỉ giới thiệu hai
    bản được nhiều người biết nhất.
    2. Lý Nhân Tông: (1066-1127) là con vua Lý Thánh Tông và bà Ỷ Lan, trị vì từ năm
    1072-1027. Lý Nhân Tông là vua thứ tư nhà Lý: 1. Lý Thái Tổ - Lý Công Uẩn, 2. Lý Thái
    Tông – Lý Đức Chính, 3. Lý Thánh Tông – Lý Nhật Tôn, 4. Lý Nhân Tông – Lý Càn Đức.
    3. Trận Như Nguyệt: quân Tống đóng quân ở phía bắc sông Như Nguyệt từ ngày 23
    tháng chạp năm Bính Thìn (1076) và bắt đầu rút về nước ngày 29 tháng giêng năm Đinh
    Tỵ (1077). Như vậy trận Như Nguyệt xảy ra trong khoảng thời gian này.
    4. Trương Hống, Trương Hát: là hai anh em và là tướng của Triệu Việt Vương
    (Triệu Quang Phục) khi còn sống. Triệu Quang Phục là tướng của vua Lý Nam Đế (503-
    548) và được vua trao nắm giữ binh quyền. Sau khi vua mất, Triệu Quang Phục xưng
    vương. Lý Phật Tử là người trong họ của vua Lý Nam Đế, đã dùng gian kế diệt Triệu Việt
    Vương. Sau đó Lý Phật Tử cho người chiêu dụ anh em Trương Hống, Trương Hát, nhưng
    hai ông là những trung thần, chỉ thờ một vua nên đã tự tử chết. Đến thời Ngô, Nam Tấn
    Vương – Ngô Xương Văn (trị vì 950-965) đã phong cho Trương Hống chức “Đại Dương
    giang đô hộ quốc thần vương” và Trương Hát làm “Tiểu Dương giang đô hộ quốc thần
    vương”.
    5. Lê Đại Hành: (941-1005) là vua đầu tiên thời Tiền Lê, nối tiếp nhà Đinh. Tên thật
    của ông là Lê Hoàn. Đại Hành không phải là thuỵ hiệu của ông, “đại hành” có nghĩa là
    “chuyến đi xa”, dùng để chỉ vị vua vừa băng hà. Thường thì sau khi vua mất người ta gọi là
    “Đại Hành hoàng đế”, rồi sau đó vị vua kế tiếp nối ngôi sẽ đặt thuỵ hiệu cho ông vua vừa
    mất. Nhưng con ông, Lê Long Đĩnh đã không đặt thuỵ hiệu cho vua cha, vì thế cho đến
    bây giờ mọi người vẫn gọi ông là vua Lê Đại Hành và xem Đại Hành là thuỵ hiệu của ông.
    6. Theo GS Trần Đại Sĩ luận bàn về hai chữ “Thiên Thư” trong “Nam Quốc Sơn Hà”.
    7. Tống Chân Tông: trị vì 997-1022, tên thật là Triệu Hằng, là vua thứ ba nhà Tống.
    Ông là con của vua Tống Thái Tông – Triệu Khuông Nghĩa và là cháu gọi vua Tống đầu
    tiên, Tống Thái Tổ – Triệu Khuông Dẫn, bằng bác. Tống Chân Tông là cha của vua Tống
    Nhân Tông – Triệu Trinh với bà Lý thần phi mà chúng ta biết trong vụ án “Bích Vân cung”:
    bà Lưu hoàng hậu vợ vua Tống Chân Tông đã hoán đổi thái tử Triệu Trinh (tức vua Tống
    Nhân Tông sau này), con của Tống Chân Tông với bà Lý thần phi, tức Lý thái phi sau này.
    8. Trần Nghiêu Tẩu: còn có tên khác là Trần Nghiêu Tá, được vua Tống Thái Tông
    ban chức Quảng Tây chuyển vận sứ năm 996.
    9. Lưu Thừa Khuê: còn có tên khác là Lưu Thừa Hoa.
    10. Trần Bành Niên: có sách ghi Trần Hằng Niên, người đã cùng với các tác giả khác
    biên soạn bộ “Đại Tống trùng tu Quảng vận”, ra đời năm 1008.
    11. Xem Tống sử, quyển VII, “Chân Tông Bản Kỷ” do Thuyết Thuyết biên soạn.
    12. Miếu Khổng Tử: còn gọi là Khổng Miếu hay Văn Miếu. Văn Miếu dùng để chỉ
    Khổng Miếu ở Khúc Phụ và Phu Tử Miếu ở Nam Kinh. Khổng Miếu nằm ở thị xã Khúc Phụ,
    tỉnh Sơn Đông, Trung quốc, là nơi thờ cúng Đức Khổng Tử vì Khúc Phụ là quê hương của
    ông.
    13. Núi Thái Sơn: là ngọn núi được xem là linh thiêng nhất trong năm ngọn núi (Ngũ
    Đại Danh Sơn) thuộc nhóm núi Lão Giáo. Xin xem bài “Vì sao ví ‘công cha như núi Thái
    Sơn’”, cùng người viết: http://hungsuviet.us/vanhoa/ConchanhunuiThaiSon.html
    14. Câu chuyện thứ 19 trong “Lĩnh Nam Trích (Chích) Quái”:
    http://vi.wikisource.org/wiki/L%C4%A...3%A1i/Truy%E1%
    BB%87n_hai_v%E1%BB%8B_th%E1%BA%A7n_%E1%BB%9F_Long_ Nh%C3%A3n,_Nh%
    C6%B0_Nguy%E1%BB%87t
    15. Đúng ra là Tống Thái Tông. Tống Thái Tổ trị vì từ năm 960-976. Hầu Nhân Bảo và
    Tôn Toàn Hưng đưa quân sang đánh nước ta tháng 2 năm 981 thì vua Tống lúc đó phải là
    Tống Thái Tông vì Thái Tông trị vì từ 976-997.
    16. Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng: là hai trong nhiều tướng nhà Tống kéo quân
    sang đánh nước ta năm đầu năm 981. Các tướng khác là: Quách Quân Biện, Triệu Phụng
    Huân, Hắc Thủ Tuấn, Trần Khâm Tộ, Thôi Lượng, Lưu Trừng, Giả Thực, Vương Soạn.
    Trong trận này Hầu Nhân Bảo bị giết tại trận, Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân bị
    bắt sống. Các tướng khác hay tin bỏ chạy về nước nhưng sau đó hầu hết đều bị vua Tống
    ra lệnh giết chết vì bại trận.
    17. Tống Thần Tông: tên là Triệu Húc, trị vì từ năm 1067-1085, Thần Tông là con
    của vua Tống Anh Tông – Triệu Thự. Tống Thần Tông là vua thứ 6 nhà Tống. Ông là cha
    của hai vua thứ 7 và 8 triều Tống là: Tống Triết Tông – Triệu Hú và Tống Huy Tông –
    Triệu Cát. Tống Huy Tông và con là Tống Khâm Tông – Triệu Hoàn là hai vua đã bị nhà
    Kim bắt giữ năm 1127, chấm dứt triều Bắc Tống sau 167 năm cai trị. Con của Tống Huy
    Tông là Triệu Cấu đã trốn về miền nam, lập nên triều Nam Tống và lên làm vua, tức Tống
    Cao Tông sau này.
    18. Quách Quỳ: dòng dõi Quách Quân Biện, người đã bị quân của Lê Hoàn bắt sống
    trong lần xâm lược nước ta năm 981. Quách Quỳ được cử làm Kinh lược chiêu thảo sứ,
    Nguyên soái, trong cuộc chiến chinh phạt Đại Việt.
    19. Triệu Tiết: phó tướng của Quách Quỳ trong cuộc chiến xâm lược Đại Việt.


    Tài liệu tham khảo:
    - “Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn” do nhóm tác giả thuộc Hội
    Sử học Hà Nội. Nhà xuất bản Hà Nội, tháng 1-2006.
    - Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, “Bản Kỷ Toàn Thư” quyển I: Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên,
    Ngô Sĩ Liên soạn thảo năm 1272 – 1697, do Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam dịch (1985 -
    1992).
    - Đại Việt Sử Lược, quyển I và II, tác giả: khuyết danh, 1377-1388.
    - Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục – chính biên, quyển I, và quyển III, Quốc
    Sử Triều Nguyễn, biên soạn năm 1856-1881 và do Viện Sử Học dịch năm1957-1960.
    - “Lịch sử, sự thật và sử học”, báo Tổ Quốc, số 401 tháng 1-1988, GS Hà Văn Tấn.
    - “Nam Quốc Sơn Hà và Quốc Tộ - Hai kiệt tác văn chương chữ Hán ngang qua triều
    đại Lê Hoàn”, PGS Bùi Duy Tân đăng trong Tạp chí Hán Nôm số 5, phát hành năm 2005.
    - “Nam Quốc Sơn Hà”, của GS Trần Đại Sĩ. Viện Pháp – Á Paris xuất bản, 1996.
    - “Pháp Thuận và bài thơ thần nước Nam sông núi”, của thiền sư Lê Mạnh Thát:
    http://www.talawas.org/talaDB/showFi...=12626&rb=0302
    - “Tác giả bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta”, của Phúc Trung:
    http://www.ahvinhnghiem.org/tuyenngondoclap.html
    - Tống Sử, phần “Chân Tông bản kỷ”, quyển VII, và “Thần Tông bản kỷ”, quyển XV,
    do Thuyết Thuyết biên soạn xong năm 1345.
    - Việt Nam Sử Lược, phần IV. Trần Trọng Kim.
    - Việt Sử Tiêu Án, phần “nhà Lê” và “nhà Lý” của Ngô Thời Sĩ. 1775.
    - “Lĩnh Nam Trích Quái” trong Wikisource.

    Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
    Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

    Dịch nghĩa
    Núi sông nước Nam thì vua Nam ở,
    Cương giới đã ghi rành rành ở trên sách trời.
    Cớ sao lũ giặc bạo ngược kia dám tới xâm phạm?
    Chúng bay hãy chờ xem, thế nào cũng chuốc lấy bại vong.

    Dịch thơ
    Nước Nam Việt có vua Nam Việt,
    Trên sách trời chia biệt rành rành.
    Cớ sao giặc dám hoành hành?
    Rồi đây bay sẽ tan tành cho coi.

    Nguyễn Đổng Chi dịch
    (Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam)
    Núi sông Nam Việt vua Nam ở,
    Vằng vặc sách trời chia xứ sở.
    Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?
    Chúng mày nhất định phải tan vỡ.

    Lê Thước – Nam Trân dịch
    Dĩ hòa vi quý!

  2. Có 1 người thích bài viết này


  3. #12
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    424
    Thích
    0
    Đã được thích 101 lần trong 68 bài viết
    Trích dẫn Gửi bởi Trungsy1 Xem bài viết
    Ông Thái Bá Tân thì dạy Lịch Sử cho trẻ em như thế này, không giống với kiểu SGK của Bộ Giáo dục. Các bác cho ý kiến nhé:
    Không có gì mới, rất xưa cũ cho con nít.
    Vô vọng thôi khi mà môn lịch sử cũng như toàn bộ nền giáo dục chưa trả lời được câu hỏi: học để làm gì? Học để thi, học để biết, hay học để sống? Chưa trả lời chính xác câu hỏi nầy thì mọi cố gắng đều ... "bà kể cháu nghe chơi".

  4. Có 1 người thích bài viết này


  5. #13
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết
    "BÀI THƠ “NAM QUỐC SƠN HÀ” CÓ TỪ BAO GIỜ?"

    ***
    Kể ra tác giả cất công tìm kiếm sử liệu để chứng minh xuất xứ cũng là đáng trân trọng.
    Có điều, các vị học giả ta hay mắc phải cái định kiến là cứ sử, truyền thuyết của Việt thì phải được so, chứng minh bằng...sử Tàu?!
    Bởi cũng vì vậy thì phải bắt đầu từ cái yếu tố Tàu là "thiên thư", mà "may thay" sử Tàu có nói đến "kinh thiên thư" gì đó đời Tống, chuyện còn lại là xác định cái thiên thư này ra đời vào lúc nào là..."kết luận" thôi!

    Ô! Thế sao lại không nghĩ là khi người sáng tác ra bài thơ này với câu đầu khẳng định: "Nam quốc sơn hà nam đế cư" thì phải nói thêm cái lý lẽ này từ đâu, phải từ ý Trời thì mới xác quyết là không thể tranh đoạt, cũng như thời nay con người vẫn viện dẫn đến Tạo hóa (Trời) khi khẳng định một điều tự nhiên như nói về quyền con người chẳng hạn. Thế thì đã là tuyên ngôn bằng thể thơ thì phải có niêm luật vậy vần cuối chữ "thiên" không thể thiếu thì ghép thêm chữ "thư" cho đúng vần là hợp và truyền tải được nội dung muốn nói vậy.

    Nếu vậy thì chữ "thiên thư" trong bài thơ chẳng liên quan gì đến cái thiên thư gì đó của ông vua Tống bên Tàu và người sáng tác bài thơ là người Việt (tất nhiên) giả dụ theo ý kiến là lấy ý từ cái thiên thư của Tàu thì không lẽ không biết trong đó nó nói gì? nó nói (theo tác giả bài viết) là "vua Tống là con của trời, do trời sai xuống trần gian để cai trị thiên hạ. Vì vậy, dân chúng ở phía bắc là Địch, phía tây là Nhung, phía nam là Man và phía đông là Di là các sắc dân phải nghe theo lời của trời mà quy phục thiên tử"
    , vậy lý nào người Việt lại viện vào cuốn "kinh" này để nói "Nam quốc sơn hà nam đế cư" mà không trái "đạo thiên tử" của vua Tống, đạo "chư hầu" của "man, di, nhung, địch". Chắc chắn là cha ông ta không đếm xỉa đến cái "đạo" của thiên triều trong cái "thiên thư" đó, cái lý đơn giản là đang chống lại thiên triều bằng sức mạnh quân sự trên đà chiến thắng.

    Câu "Nam quốc sơn hà nam đế cư" xuất hiện vào thời Lê hay thời Lý cũng không quan trọng bởi cũng có thể nó đã có từ...thời mới dựng nước không chừng (biết đâu được) và tiếp tục được khẳng định bằng ý chí của dân tộc Việt mãi trường tồn mới là điều phải khắc ghi vậy.

  6. #14
    Ngày tham gia
    26-05-2015
    Bài viết
    3
    Thích
    0
    Thanked 2 Times in 1 Post
    Ta thường nghe: Kỷ Tín đem thân chết thay, cứu thoát cho vua Cao Đế; chìa lưng đỡ ngọn dáo, che chở cho vua Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoát chặt tay mong cứu nạn cho nước; Kinh Đức một chức quan nhỏ mà liều mình cứu vua Thái Tông thoát khỏi vòng vây của Thế Sung; Cảo Khanh là bề tôi xa, dám mắng Lộc Sơn, quyết không mắc mưu kẻ nghịch tặc. Ngày xưa, các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào mà chẳng có? Giả thử các bậc đó cứ khư khư giữ thói «nhi nữ thường tình», đến phải chết già ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách, cùng với trời đất muôn đời bất hủ!

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •