CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 5 của 5 Đầu tiênĐầu tiên ... 345
Kết quả 41 đến 48 của 48

Chủ đề: Tìm hiểu phiên hiệu và các đơn vị quân đội nhân dân Việt Nam

  1. #41
    Xin tu xoa Guest
    Thông tin sơ lược về Sư đoàn 325B chi viện cho chiến trường miền Nam

    Sư đoàn 325B được thành lập đầu năm 1965, sau khi Sư đoàn 325A đi vào miền Nam.

    1. Trung đoàn 95B: Trung đoàn 95B huấn luyện tại rừng Tuyên Hóa Quảng Bình. Trung đoàn 95B tham gia tấn công Trại của Lực lương đặc biệt tại Ashau tháng 3/1966. Sau khi vào đến Tây Nguyên, Trung đoàn 95B chuyên đánh phá giao thông trên QL19 và 14 và có tên là Trung đoàn Mang Yang sau này.
    2. Trung đoàn 101B: Bắt đầu xuất phát vào Nam tháng 7/1965 và đến tháng 9/1965 thì đến Tây Nguyên, sau đó tham gia chiến dịch Pleime giữa tháng 10/1965. Tại đây, Trung đoàn được đổi tên thành Trung đoàn 33 – Mặt trận Tây Nguyên. Giữa năm 1968, Trung đoàn được bổ sung cho chiến trường B2 và biên chế về Sư đoàn 5, sau đó khoảng đầu năm 1969 Trung đoàn 33 được biên chế về Quân khu 7.
    3. Trung đoàn 18B: Xuất phát vào Nam tháng 12/1965. Tháng 7/1966 Trung đoàn 18B được biên chế về Nông trường 5 và hoạt động cùng Trung đoàn 95A tại Phú Yên. Khoảng giữa năm 1968, Sư đoàn 5 và các đơn vị trực thuộc (Thông tin, vận tải) di chuyển từ Phú Yên lên Tây Nguyên. Sau một thời gian huấn luyện và củng cố tại Tây Nguyên, Trung đoàn 18B lại tiếp tục di chuyển vào chiến trường B2 trong đội hình Sư đoàn 1 (Sư đoàn 325C).

  2. #42
    Xin tu xoa Guest
    Chút thông tin về Sư đoàn 6/ Mặt trận Tây Nguyên

    Quý II năm 1968, Chiến trường Tây Nguyên được Bộ Tổng tư lệnh tăng cường Sư đoàn 325C (Sư đoàn 325C vào Tây Nguyên đổi tên thành Sư đoàn 6, trong Sư đoàn có 2 trung đoàn bộ binh 95C, 101D và một số phân đội hoả lực bảo đảm.), 2 trung đoàn pháo binh 208 và 158 (Hai trung đoàn pháo binh 208 và 158 đến Tây Nguyên sáp nhập vào Trung đoàn pháo binh 40. Ban chỉ huy Trung đoàn pháo binh 40 gồm các đồng chí Tô Thuận (trung đoàn trưởng), Lê Ngọc Tuệ (chính ủy), Võ Khắc Phụng (trung đoàn phó), và Phạm Việt Thọ (phó chính ủy).); đồng thời một số đơn vị bộ binh cũng lần lượt rời Tây Nguyên vào miền Đông Nam Bộ (B2).
    Mùa khô năm 1968, Bộ Tổng tư lệnh điều động một số đơn vị của Sư đoàn 325C (tức Sư đoàn 6) từ Tây Nguyên vào miền Đông Nam Bộ và Sư đoàn bộ ra miền Bắc; một số tiểu đoàn binh chủng của B3 được chuyển về Quân khu 5 và các chiến trường khác. Vì vậy kế hoạch thành lập Đoàn 1 đứng chân ở nam Tây Nguyên và Lữ đoàn 1 (gồm Trung đoàn 66, 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo cối) của Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên đều không thực hiện được.

  3. #43
    Xin tu xoa Guest
    Phân chia địa bàn tại chiến trường Thừa Thiên và Quảng Trị - Quân khu Trị Thiên năm 1967



    1. Để phù hợp với nhiệm vụ trong tình hình mới, ngay từ tháng 5/1967, TW Đảng đã chuẩn y việc giải thể Tỉnh ủy và Tỉnh đội Quảng TRị, thành lập Khu ủy Trị - Thiên – Huế. Các huyện ủy chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Khu ủy.



    1. Về tổ chức chiến trường, trên các hướng thành lập các đoàn trực thuộc Bộ tư lệnh quân khu Trị Thiên. Cụ thể:



    • Đoàn 4 có nhiệm vụ đánh giao thông từ Nam Phú Lộc đến bắc đèo Hải Vân, lực lượng có tiểu đoàn 804B bộ binh và 2 tiểu đoàn công binh.



    • Đoàn 5 phụ trách Huế và 3 huyện vùng ven Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vang, lực lượng gồm 3 tiểu đoàn bộ binh 804A, 810 và 845 [815?], 2 tiểu đoàn đặc công K1 và K2, và 14 đội biệt động. Đoàn 5 được chia thành cánh là cánh Bắc và cánh Nam sông Hương. Cánh Nam do đ/c Thân Trọng Một làm chỉ huy trưởng, đ/c Nguyễn Vạn làm chính ủy.



    • Đoàn 6 phụ trách 3 huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Điền, có Trung đoàn 6 bộ binh.



    • Đoàn 7 phụ trách các huyện Triệu Phong, Hải Lăng, thị xã Quảng Trị, Đông Hà. Lực lượng có Trung đoàn 9, hai tiểu đoàn bộ binh 808 và 814, tiểu đoàn đặc công K10 và 2 đại đội bộ đội địa phương huyện. Cuối năm 1967, Trung đoàn 9 được rút về làm lực lượng cơ động của Quân khu, trung đoàn 2/ Sư đoàn 324 được điều về thay thế.



    • Đoàn 31 phụ trách khu vự từ đường số 9 đến giới tuyến quân sự tạm thời bao gồm địa bàn 2 huyện Gio Linh và Cam Lộ. Hoạt động khu vực này có 2 tiểu đoàn bộ binh đặt dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh mặt trận đường 9 bắc Quảng Trị (B5).



    • Các huyện miền Tây của 2 tỉnh tổ chức thành Đảng ủy miền Tây.



    • Các đoàn được sử dụng lực lượng tại chỗ, kể cả chủ lực của quân khu đóng trên địa bàn.

  4. #44
    Tự xin xóa Guest
    KÝ HIỆU CÁC XÃ CỦA BA KHU 4, 5, 7 (GIA LAI) THỜI KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ (1954-1975)

    [Thông tin do bạn ChanhY2 đưa lên tại http://khucquanhanh.vn/diendan/threa...8626#post38626]

    Trích dẫn Gửi bởi chanh Y2 Xem bài viết


    Khu
    (huyện)
    Ký hiệu
    Nay thuộc xã
    Tỉnh Gia Lai
    Ghi chú
    Khu 4
    B1
    Xã Ia Khươl, huyện Chư Pah
    T. Gia Lai
    ok
    B2
    Xã Ia Phi, huyện Chư Pah
    //
    ok
    B3
    Xã Ia Mơnông, huyện Chư Pah
    //
    ok
    B4
    Xã Ia Ka, huyện Chư Pah
    //
    ok
    B5
    Xã Ia Sao, Ia Yok, huyện Ia Grai
    //
    ok
    B6
    Xã Ia Hrung, huyện Ia Grai
    //
    ok
    B7
    Xã Ia Pếch, Ia Kênh huyện Ia Grai
    //
    ok
    B8
    Xã Ia Din, huyện Đức Cơ
    //
    ok
    B9
    Xã Ia Krêt, huyện Đức Cơ
    //
    ok
    B10
    Xã Ia Dom, Ia Dơk, huyện Đức Cơ
    //
    ok
    B11
    Xã Ia Chia, huyện Ia Grai
    //
    ok
    B12
    Xã Ia O, huyện Ia Grai
    //
    ok
    B13
    Xã Ia Krãi và Ia Khai, huyện Ia Grai
    //
    ok
    B14
    Xã Ia Tô, huyện Ia Grai
    //
    ok
    B15
    Xã Ia Dêr, huyện Ia Grai
    //
    ok
    Khu 5
    E1
    Xã Ia Pnôn và Ia Nan, huyện Đức Cơ
    //
    ok
    E2
    Xã Ia Kriêng, huyện Đức Cơ
    //
    ok
    E3
    Xã Ia Lang và Ia Krông, huyện Đức Cơ
    //
    ok
    E4
    Xã Thăng Hưng, Bình Giáo, huyện Chư Prông
    //
    ok
    E5
    Xã Ia Phin, Thị Trấn Chư Prông, Bàu Cạn, huyện Chư Prông
    //
    ok
    E6
    Xã Ia Puch, Ia Ó, huyện Chư Prông
    //
    ok
    E7
    Xã Ia Boòng, Ia Drang, huyện Chư Prông
    //
    ok
    E8
    Xã Ia Mơ, Ia Lâu, Ia Piơr, huyện Chư Prông
    //
    ok
    E9
    Xã Ia Pia, Ia Me, Ia Ga, huyện Chư Prông, Ia Ko, huyện Chư Sê
    //
    ok
    E10
    Xã Ia Tôr, Ia Ky, huyện Chư Prông
    //
    ok
    E11
    Xã Ia Glai, huyện Chư Sê và xã Ia Băng, huyện Chư Prông
    //
    ok
    E12
    Xã Ia Vê, Ia Bang, huyện Chư Prông
    //
    ok
    E13
    Xã Ia Le, huyện Chư Sê
    //
    Xem lại
    E14
    Xã Chư Don, Thị Trấn Nhơn Hòa, huyện Chư Sê (xã E14(khu 5, nay là xã Ia Hlốp, huyện Chư Sê)
    //
    Xem lại
    E15
    Xã Ia Hlốp, Ia Blang, Ia Hru, Thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê (xã E15 là chị HYăp làng Tel, chị Siu Meh làng Bôch Ă)
    //
    Xem lại
    Khu 7
    A1
    Xã Yang Bắc, huyện Đắk Pơ
    //
    A2
    Một phần xã An Trung và xã Kông Yang, huyện Kông Chro
    //
    A3
    Xã Chư Krêy, huyện Kông Chro
    //
    A4
    Một phần xã Yang Trung, và Yang Nam, huyện Kông Chro
    //
    A5
    Một phần xã Yang Trung và thị trấn Kông Chro, Đăk Pơ Pho huyện Kông Chro
    //
    A6
    Xã Yang Nam, huyện Kông Chro
    //
    A7
    Xã Chơ long, huyện Kông Chro
    //
    A8
    Xã ....(làng Bă chớ), huyện Kông Chro
    //
    Bổ xung
    A9
    Xã Đăk Tơ Pang và một phần xã Kông Yang, huyện Kông Chro
    //
    A10
    Xã Yama, huyện Kông Chro
    //
    A13
    Xã Sró, Xã Đăk Kơ Ning, huyện Kông Chro
    //
    A14
    Xã Đăk Sông, Đăk Pling, huyện Kông Chro
    //
    A15
    Xã PơTó, Huyện Ia Pa

  5. #45
    Tự xin xóa Guest
    Trên báo Dân trí http://dantri.com.vn/xa-hoi/liet-si-...ung-746104.htm có nói về 1 trường hợp LSỹ trở về sau 40 năm lưu lạc. Một đoạn trên báo Dân trí:

    Ông Nguyễn Hồng Thái, nguyên là trợ lý quân lực của binh đoàn 340, nơi ông Được chiến đấu và “hy sinh” cho biết, khi cuộc chiến vào giai đoạn ác liệt nhất của những năm 1972, việc vận chuyển vũ khí trên sông Mê Kông ngày một khó khăn và trở nên trọng yếu trong việc chi viện cho chiến trường miền Nam. Rất nhiều thuyền trưởng xuống tàu trong đêm và sáng hôm sau đã hy sinh. Tàu mất, người chết quá nhiều. Trước tình hình đó, cấp trên phải cấp thêm tàu mới để tiếp tục chiến đấu. Cam go là thế nhưng đúng lúc đấy Được đã can đảm xung phong nhận tàu mới với vai trò thuyền trường để đi tiên phong trước sự ngỡ ngàng và khâm phục của hàng trăm chiến sĩ trong đơn vị. Tàu gồm 3 người, trong đó có ông Điềm.

    ....

    Ông Điềm kể thêm: “Chúng tôi ở C3, cung đoạn từ Ca Na Chê đến Xúc Chung Cheng mà Được phải lái con tàu về phía nhận tiếp tế, rất nguy hiểm, vì đó là khúc sông toàn thác chảy dốc. Nhiều khi đi hơn 10 phút mà tàu vẫn xoay tại chỗ do sức nước cản quá mạnh và liên tục xuất hiện các hốc nước xoáy. Trong màn đêm đen chúng tôi chỉ biết nín thở chờ sự xoay chuyển đầy sáng tạo của Được. Khi địch phát hiện ra, chúng nã rốc két liên tục về phía tàu nhưng thuyền trưởng Được chưa bao giờ vội vàng bỏ tàu nhảy xuống sông như nhiều người khác. Đồng chí bình tĩnh động viên mọi người giúp sức lái tàu áp sát vào bờ rồi nhanh chóng giấu tàu, đảm bảo tính mạng cho đồng đội”. Nói đến đây ông Điềm lại khóc nghẹn: Chiến tranh quá tàn khốc, chiến tranh đã biến một người lính đẹp trai, vạm vỡ và dũng cảm như ông Được thành một ông già ngớ ngẩn lang thang kiếm ăn nơi đầu đường cuối chợ suốt 40 năm dài!
    Bác này chắc chắn ở tiểu đoàn vận tải đường sông của Đoàn hậu cần 340. Chút thông tin về Đoàn hậu cần 340 trong KCCM hoạt động trên đất Campuchia

    Về đoàn hậu cần 340 hoạt động trên đất Campuchia trong Kháng chiến chống Mỹ cứu nước

    Ngày 30/12/1970, Đoàn Hậu cần 340 hình thành trên cơ sở sát nhập hai cánh hậu cần C300 và C400.
    Là một đoàn hậu cần khu vực, tuyến sau của Cục hậu cần Miền hoạt động trên đất Campuchia. Đoàn vừa làm nhiệm vụ hậu cần chiến lược vừa làm nhiệm vụ hậu cần chiến dịch và chiến thuật. Đoàn trực tiếp bảo đảm hậu cần cho căn cứ của Miền nối liền với hậu cần các quân khu địa phương C10, C20 và 2 đoàn hậu cần 500 và 700.

    Địa bàn hoạt động cua Đoàn 340 là dọc sông Mekong từ Kratie về tới Bưng Dồn, nằm ở bên kia sông Mekong tiếp giáp với Đoàn 500, lên đến Đoàn 770 ở Stung Treng.
    Sau khi đoàn hậu cần 770 rút sang Mondokiri, đầu cầu tiếp nhận được chuyển cho Đoàn hậu cần 340. Như vậy địa bàn hoạt động của Đoàn hậu cần 340 dọc theo sông Mekong từ StungTreng xuống tới cây số 0 biên giới Lộc Ninh sang lộ 7, sang lộ 22 lên tới Sa Mát qua Kong Pom Cham.
    Lực lượng của Đoàn 340 khá lớn, bao gồm: Bốn cánh quân nhu (Cánh 1 ở Kratie, cánh 2 ở Tà Bao, cánh 3 ở Xuông Chúp, cánh 4 ở nam sông Tê trên đường 13 về đến Snoul sau chuyển về Mimot). Ba tiểu đoàn vận tải (1 tiểu đoàn vận chuyển đường sông, 1 tiểu đoàn ô tô tăng cường, 1 tiểu đoàn xe thồ). Năm liên trạm đường dây nối liền từ Stungtreng với đầu cầu tuyến 559. Đường dây này xuống đến Bắc Kratie thì chia làm 2 ngả, 1 ngả về Lộc Ninh, 1 ngả về Sa Mát (Các liên trạm gồm 5, 6, 7, 11 và 12), bốn bệnh viện lớn là K21, K53, K54, K50), một tiểu đoàn công binh và 1 số đơn vị khác.
    Khi thành lập, quân số của Đoàn 340 có 1717 người, đến năm 1971 tăng lên 3036 người. Năm 1972 quân số tăng đến 4189 người (20 tiểu đoàn).

  6. #46
    Ngày tham gia
    14-08-2013
    Bài viết
    1
    Thích
    0
    Đã được thích 0 lần trong 0 bài viết
    Trích dẫn Gửi bởi Xin tu xoa Xem bài viết
    Thông tin như thế này:



    Viện 211 đóng trên đất Cam - tỉnh Ratanakyry từ khi mới thành lập.

    Năm 1973-1974 đóng tại phía Tây Nam dãy núi Hổ, trên đất Campuchia.

    Năm 1975 sau giải phóng, viện chuyển về Pleiku.

    Thông tin chính xác đấy.
    Các anh chị cho em hỏi về địa điểm Viện 2 như trường hợp của liệt sỹ:


    Họ tên liệt sĩ:Hoàng Trọng Lượng
    Nguyên quán:Kim Trung, Duyên Hà, Thái Bình
    Năm sinh :0
    Năm hy sinh :09/11/1966
    Đơn vị chiến đấu:D28, quân đoàn 3, Chưa xác định
    Trường hợp hy sinh:Sốt rét ác tính
    Nơi hy sinh thực tế:Viện 2
    CẢM ƠN CÁC ANH CHỊ RẤT NHIỀU Ạ!

  7. #47
    Ngày tham gia
    31-12-2014
    Bài viết
    1
    Thích
    0
    Thanked 2 Times in 1 Post
    Các Bác cho em hỏi về Trung đoàn 101: Có tài liệu ghi là Trung đoàn 101, thuộc Sư đoàn 1 (Phước Long) tiền thân của lữ đoàn 101 Hải quân đánh bộ Vùng 5; Có tài liêu lại ghi Trung đoàn 101, thuộc Sư đoàn 325. Vậy tài liệu nào đúng ạ? Thực tế em muốn tìm liệt sỹ Nguyễn Văn Luyện thuộc tiểu đoàn 8, E 101 vận tải Phước long B2. Hy sinh 8/4/1970. Các bác giải thích rõ hơn để em lần tìm đơn vị cũ, nơi chiến đấu, nơi hy sinh. Em xin cảm ơn nhiều ạ.

  8. Có 2 người thích bài viết này


  9. #48
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Theo một số tài liệu thì trung đoàn 101 thuộc sư 325 và sau này qua nhiều lần đổi phiên hiệu thành lữ 126 và quyết định số 49 của BQP năm 2002 đã trả lại tên cho nó thành lữ đoàn 101 hải quân đánh bộ.

    No Avatar

    doan

     19:04, 27th Oct 2015 #24935 

    em tìm thông tin giùm bố em . các bác cho em hỏi ở đây có ai biết thông tin về C1-D3-E141-F312 quân đoàn 1 đóng quân ở đâu từ năm 1981 đến 1988 không ạ . e xin cám ơn các bác nhiều



Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •