CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 1 của 10 123 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 95

Chủ đề: Hồ sơ Tư liệu

  1. #1
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết

    Hồ sơ Tư liệu

    Hồ sơ chiến tranh thế giới thứ II:

    Trận không kích vào Schweinfur - Waterloo của nước Mỹ
    -Kỳ 1: “Mắt xích” của ngành sản xuất vũ khí



    Trận Waterloo năm 1815 là một trận đánh nổi tiếng trong lịch sử quân sự thế giới. Trong trận chiến này, quân Pháp dưới sự chỉ huy của Napoleon đã bị liên quân, do Công tước Wellington, người Anh, chỉ huy, đánh bại; từ đó, châu Âu thoát khỏi ách bá quyền của Napoleon.

    Trận không kích vào Schweinfur (Đức) của quân đồng minh vào năm 1943 cũng được ví như trận Waterloo năm xưa. Tại trận này, các cơ sở sản xuất vũ khí, đạn dược của phát xít Đức đã bị phá hủy nặng nề. Trong bối cảnh Hồng quân Liên Xô gia tăng các đợt tấn công phát xít, sức mạnh quân sự của Đức bị suy giảm và Chiến tranh Thế giới lần II cũng bước vào giai đoạn cuối…

    Kỳ 1: “Mắt xích” của ngành sản xuất vũ khí

    Nếu không vì bạc đạn của động cơ (bạc đạn là cách gọi chung cho "ổ lăn", tức là ổ đỡ sử dụng ma sát lăn làm giảm phát sinh hao mòn và phá hủy trong ổ trục, thành phần không thể thiếu trong sản xuất vũ khí), có lẽ Schweinfur vẫn là một thị trấn nhỏ, thanh bình ở xứ Bavaria, Đức. Tuy nhiên, vào năm 1883, một người thợ cơ khí ở đây, Friedrich Fischer, đã phát minh ra một chiếc máy có thể sản xuất hàng loạt bạc đạn động cơ. Rồi năm 1906, con trai của ông thành lập công ty Kugelfischer, đặt nền móng cho ngành công nghiệp sản xuất bạc đạn trong tương lai và biến Schweinfurt thành “thủ phủ” của ngành sản xuất bạc đạn.


    Nguyên soái không quân Anh Arthur T. Harris (giữa).

    Chiến tranh Thế giới lần thứ hai đã tạo ra nhu cầu lớn đối với các bạc đạn động cơ. Chỉ tính riêng ngành công nghiệp hàng không Đức đã cần đến 2,4 triệu bạc đạn động cơ trong một tháng. Hoạt động sản xuất bạc đạn động cơ được tập trung chủ yếu ở Schweinfurt. Sản lượng bạc đạn của 5 nhà máy ở đây chiếm gần 2/3 sản lượng của toàn nước Đức. Trong khoảng từ năm 1922 đến năm 1943, sự gia tăng hoạt động sản xuất bạc đạn động cơ đã khiến dân số thị trấn tăng gấp ba lần, lên đến 50.000 người.

    Mùa hè năm 1943, các sĩ quan tham mưu của Mỹ và Anh làm việc tại Bộ Tư lệnh ném bom chiến lược xác định ngành công nghiệp sản xuất bạc đạn động cơ là mục tiêu tấn công số một. Nếu ngành công nghiệp này bị tàn phá, ngành công nghiệp chiến tranh có thể bị đình đốn và cuộc chiến tranh có thể được rút ngắn. Nhưng Nguyên soái Không quân Arthur T. Harris, chỉ huy bộ tư lệnh ném bom chiến lược của Không quân Hoàng gia Anh, một mực phản đối.


    Hoạt động trong những nhà máy sản xuất bạc đạn.

    Ngay từ những ngày đầu của cuộc chiến tranh, Không quân Hoàng gia đã biết rằng họ không thể tấn công chính xác các mục tiêu riêng lẻ và sẽ bị thiệt hại nặng nề nếu cứ cố tiến hành. Năm 1942, họ quyết định chuyển sang ném bom vào các khu vực tập trung vào ban đêm, nhằm vào các thành phố của Đức. Việc làm này đồng thời hỗ trợ cho chính sách “tiêu thổ” trên nước Đức, làm nhụt ý chí của phát xít Đức. Harris phản đối việc coi ngành công nghiệp sản xuất bạc đạn động cơ và một số địa điểm trọng yếu khác là các mục tiêu tấn công chủ yếu. Ông cho rằng vào ban đêm các máy bay ném bom của Không quân Hoàng gia sẽ không thể tìm thấy một thị trấn nhỏ như Schweinfurt, chứ chưa nói đến các nhà máy.

    Trong khi đó, Schweinfurt lại chính là mục tiêu mà không đoàn số 8 của Mỹ muốn tấn công để chứng tỏ hiệu quả của kỹ thuật ném bom chính xác vào ban ngày mà lực lượng không quân Mỹ thường xuyên áp dụng. Lực lượng máy bay ném bom B -17 của không đoàn số 8 đã bay đến Anh kể từ tháng 9/1942, nhưng hiếm khi tiến hành các chiến dịch lớn. Thiếu tướng Ira C. Eaker, chỉ huy không đoàn số 8, không thể tiến hành các trận đánh lớn. Nhiều trong số các máy bay thuộc đơn vị ông phải chuyển sang thực hiện các chiến dịch ở Bắc Phi. Hơn nửa lực lượng còn lại được giao nhiệm vụ tấn công các bến tàu ngầm của Đức, một ưu tiên chính đối với nước Anh, cho dù thiệt hại gây ra không đáng kể.


    Những mục tiêu chính của trận không kích.

    Eaker chịu áp lực lớn phải tạo ra một thành công mang tính chiến lược. Tháng 8/1943, ông đã có thể tập hợp đủ số lượng máy bay B -17 cần thiết để tiến hành một chiến dịch lớn. Theo kế hoạch, gần như toàn bộ 400 máy bay ném bom sẽ tiến hành không kích các nhà máy sản xuất bạc đạn động cơ ở thị trấn Schweinfurt và nhà máy Messerschmitt thuộc thành phố Regensburg.

    Chiến dịch bị hoãn một lần do thời tiết xấu nhưng được khởi động lại vào ngày 17/8/1943. Lực lượng tham gia tấn công được chia làm hai bộ phận. Sư đoàn không quân số 3, dưới sự chỉ huy của Đại tá Curtis E. LeMay, sẽ xuất phát trước và ném bom thành phố Regensburg. Sư đoàn không quân số 1, dưới quyền chỉ huy của Chuẩn tướng Robert B. Williams, sẽ xuất kích sau đó 8 phút, có nhiệm vụ đánh phá thị trấn Schweinfurt. Williams chỉ huy lực lượng lớn hơn, 230 máy bay B -17 so với 146 máy bay của LeMay.

    Cả hai sư đoàn sẽ bay theo cùng một đường trong hầu hết cuộc hành trình, nhưng đến không phận Frankfurt, sư đoàn 1 sẽ chuyển hướng về phía thị trấn Schweinfurt. Ý định của kế hoạch là cả hai sư đoàn sẽ tiếp cận mục tiêu vào cùng một thời điểm. Việc xuất kích cách nhau 9 phút là bởi vì vị trí của Schweinfurt gần hơn Regensburg 120 km. Những quả bom đầu tiên dự kiến sẽ được ném xuống thị trấn Schweinfurt lúc 10 giờ 12 sáng và xuống thành phố Regensburg một phút sau đó.

    Mặc dù nhà máy Messerschmitt có ý nghĩa rất quan trọng - sản xuất đến 400 máy bay chiến đấu Me 109 trong một tháng - nhưng nó không phải là mục tiêu chính. Với việc xuất kích trước, sư đoàn của LeMay dự kiến sẽ thu hút các máy bay chiến đấu của Đức để tạo điều kiện cho lực lượng của Williams dễ dàng đánh phá các nhà máy sản xuất bạc đạn ở thị trấn Schweinfurt.

    Đình Vũ (tổng hợp)
    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 04-05-2012 lúc 07:36 PM.

  2. #2
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Trận không kích vào Schweinfur - Waterloo của nước Mỹ
    -Kỳ 2: Cú “trời giáng”... không đau



    Các máy bay thuộc đơn vị của Williams sẽ đương đầu với lực lượng chủ đạo của không quân phát xít Đức khi bay trở về, trong khi đó các máy bay B-17 của LeMay tiếp tục bay về hướng nam, vượt qua dãy Alps và Địa Trung Hải để hạ cánh xuống các căn cứ ở Angiêri. Lực lượng máy bay ném bom tầm trung của Mỹ và Anh sẽ hỗ trợ đánh lạc hướng quân Đức bằng cách tấn công các mục tiêu ở dọc bờ biển Manche vào cùng thời điểm mà các máy bay B-17 xuất kích.


    Các máy bay B-17 ném bom xuống Schweinfurt ngày 17/8/1943.

    Từ trước đến nay, các máy bay ném bom B-17 chưa từng bao giờ bay sâu vào lãnh thổ nước Đức như vậy, nhưng Eaker vẫn cho rằng “máy bay B-17 với các khẩu pháo cỡ nòng 12,5 mm có thể đối đầu với máy bay chiến đấu của phát xít Đức nếu chúng giữ được cự ly đội hình trong khi bay” và rằng “một lực lượng lớn các máy bay ném bom có thể tiến hành không kích vào bất kỳ mục tiêu nào trên đất Đức mà không cần sự yểm trợ của các máy bay chiến đấu mà không phải chịu những tổn thất lớn”.

    Hầu hết các máy bay ném bom tham gia chiến dịch đánh phá thành phố Regensburg và Schweinfurt là loại máy bay B-17F. Các khẩu pháo của chúng tạo ra những chùm hỏa lực đan xen nhau từ phần giữa thân lên đến nóc, bụng và đuôi, nhưng máy bay B-17F không có hệ thống pháo ở phần đầu. Không quân Đức biết rõ và tận dụng điểm yếu này trong các lần đối đầu trực diện.


    Me 109, một trong những chiến đấu cơ tốt nhất của phát xít Đức.

    Bù lại, theo các nguồn tin tình báo gửi về, các máy bay chiến đấu của phát xít Đức tập trung chủ yếu ở gần bờ biển. Các máy bay chiến đấu tốt nhất, máy bay chiến đấu một động cơ Me 109 và Focke-Wulf 190, có thể cũng được triển khai ở đó. Trong nội địa, quân đồng minh sẽ chỉ phải đương đầu với các máy bay chiến đấu hai động cơ di chuyển chậm hơn như Me 110, loại máy bay được chế tạo để thực hiện các chiến dịch vào ban đêm. Không đoàn số 8 không biết rằng không quân Đức mới chuyển sang chiến lược phòng ngự chiều sâu và rút các máy bay Me 109 và Focke-Wulf 190 từ mặt trận Nga về để bảo vệ phía nam nước Đức.

    Sáng 17/8/1943, một màn sương mù dày đặc bao phủ khu vực phía đông Anglia, nơi đặt căn cứ của các máy bay B-17. Theo kế hoạch, sư đoàn của LeMay sẽ xuất kích lúc 5 giờ 45. Trước đề xuất của không đoàn số 8, kế hoạch được lùi lại một giờ, rồi lại thêm một giờ nữa. Nếu tiếp tục trì hoãn, khi các máy bay đến được các căn cứ ở châu Phi thì trời đã chuyển sang tối. May mắn thay, các phi công ở sư đoàn của LeMay đã được huấn luyện cất cánh trong điều kiện thời tiết xấu trong vòng một tháng và chiếc máy bay đầu tiên xuất kích lúc 7 giờ 15.

    Các phi công lái máy bay đi đánh phá thị trấn Schweinfurt, do không thành thục với việc cất cánh chỉ dựa vào các thiết bị điều khiển, bị vướng lại trên mặt đất. Cuối cùng, họ xuất kích chậm hơn 4 tiếng sau khi sư đoàn của LeMay xuất kích. Các máy bay của sư đoàn này gần như đã đến được Regensburg trước khi chiếc máy bay đầu tiên đi làm nhiệm vụ ở Schweinfurt cất cánh.

    LeMay là phi công phụ trên chiếc B-17 bay đầu đội hình. Sư đoàn của anh tập hợp ở độ cao ném bom trước khi rời nước Anh. Bảy chiếc gặp sự cố, còn lại 139 chiếc vượt qua bờ biển Hà Lan lúc 9 giờ 35. Quân Đức ban đầu kháng cự khá yếu ớt, nhưng khi các máy bay hộ tống quay trở lại Eupen, các máy bay Me 109 và Focke-Wulf 190 bu lại và tiếp tục kéo đến, đôi khi thành từng bầy lên đến 25 chiếc.

    Sự tấn công dồn dập của các máy bay phát xít Đức khiến cho việc đối phó rất khó khăn, nhất là với những máy bay nào không thể đánh trả - Chuẩn tướng tham mưu trưởng không đoàn số 8 Hayward S. Hansell nhớ lại.

    Các máy bay bắt đầu oanh kích thành phố Regensburg lúc 11 giờ 43 và đều đánh trúng mục tiêu. Họ không chỉ đánh phá các khu nhà xưởng chính mà còn phá hủy 37 chiếc máy bay Me 109 vừa mới ra khỏi dây chuyền lắp ráp. Ngoài ra, họ còn phá hủy phần lớn các giá đỡ loại chiến đấu cơ phản lực bí mật Me 262 lúc đó đang trong giai đoạn phát triển. Phải mất vài tháng sau, các nhà máy này mới khôi phục được khả năng sản xuất ban đầu.

    Sau khi hoàn thành nhiệm vụ oanh kích vào các mục tiêu đã định, các máy bay ném bom B-17 bay về hướng nam và sau khoảng 11 giờ thì hạ cánh xuống các căn cứ ở Bắc Phi.

    Phi đội máy bay ném bom tầm trung tiến hành các cuộc tấn công nghi binh dọc theo bờ biển Manche lúc nửa buổi sáng, quá muộn để giúp đỡ lực lượng của LeMay và quá sớm để giúp ích cho sư đoàn của Williams.

    Chiếc B-17 làm nhiệm vụ tấn công vào thị trấn Schweinfurt cất cánh lúc 11 giờ 20 và một đoàn gồm 222 chiếc lần lượt bám đuôi nhau vượt qua bờ biển hướng vào nội địa. Các máy bay chiến đấu của phát xít Đức được tiếp nhiên liệu và lấy thêm đạn dược đang đợi sẵn họ. Williams chỉ mất một máy bay ném bom khi vượt qua vòng bảo vệ của các máy bay chiến đấu nhưng không quân Đức đã bắn rơi 23 chiếc trong quãng đường bay từ Eupen đến Schweinfurt và vài chiếc khác khi chúng đang bay phía trên mục tiêu.

    Bản thân Williams điều khiển một khẩu súng máy cho đến tận khi nòng của nó bị toác ra. Đội hình tấn công đến Schweinfurt lúc 14 giờ 59 chiều. Độ chính xác của các đợt oanh kích không được như mong đợi. Ngoài những vấn đề phức tạp khác mới nảy sinh, các nhóm đi đầu đến được vị trí đầu tiên muộn hơn vài phút nên các nhóm sau đã bám rất sát phía sau đuôi họ.

    Một số tổ lái bối rối bởi sự thay đổi hướng tiếp cận mục tiêu. Ba nhóm đầu tiên ném hết được số bom mang theo nhưng sáu nhóm khác gặp trục trặc và nhiều quả bom không rơi trúng mục tiêu.

    Trận đánh vào thị trấn Schweinfurt được coi là không thành công. Hầu hết các loại máy móc lớn ở các nhà máy vẫn còn nguyên vẹn. Một phần lý do là bởi chưa đến một phần ba số bom được ném xuống là loại có trọng lượng 1.000 pound (454 kg). Những quả bom còn lại có trọng lượng nhẹ hơn và không gây nhiều thiệt hại.

    Đình Vũ (tổng hợp)

  3. #3
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Trận không kích vào Schweinfurt - Waterloo của nước Mỹ:
    Kỳ cuối: Đòn quyết định


    Sau thất bại của đợt không kích đầu tiên, quân đồng minh lại lên kế hoạch tiếp tục không kích vào thị trấn Schweinfurt, với quyết tâm làm cho ngành sản xuất vũ khí của phát xít Đức bị đình trệ. Quả nhiên, đợt không kích sau này đã khiến cho Schweinfurt đại bại. Vào thời điểm đó, thế giới bước vào giai đoạn cuối cùng của Thế chiến II.

    Trận không kích đầu tiên của quân đồng minh vào thị trấn Schweinfurt chỉ gây thiệt hại không đáng kể cho ngành sản xuất vũ khí của Đức. Trong khi đó, về phía quân đồng minh, LeMay mất 24 máy bay, còn Williams mất 36 chiếc. Nhiều máy bay khác bị hỏng đến mức chúng sẽ chẳng bao giờ cất cánh trở lại được. Trong số những phi công tham gia chiến dịch này có tới 102 người thiệt mạng, 381 người bị bắt làm tù binh... .



    Không kích vào các nhà máy sản xuất bạc đạn ở Schweinfurt, Đức ngày 14/10/1943.

    Các pháo thủ trên các máy bay ném bom B - 17 khẳng định đã bắn rơi 288 máy bay địch và các chiến đấu cơ hộ tống thông báo họ bắn rơi 19 chiếc khác. Tuy nhiên, thực tế, không quân phát xít Đức chỉ mất khoảng từ 25 đến 35 máy bay chiến đấu.

    Sau khi kết thúc đợt không kích đầu tiên không lâu, nguồn tin tình báo cho biết phát xít Đức đang khẩn trương khôi phục hoạt động sản xuất ở Schweinfurt và tìm kiếm các nguồn cung bạc đạn động cơ khác để thay thế, bao gồm cả Thụy Điển. Theo kế hoạch của quân đồng minh, Không đoàn số 8 sẽ quay trở lại Schweinfurt trong đợt không kích lần 2. LeMay, chỉ huy chiến đấu giỏi nhất của không đoàn số 8, đã được thăng cấp và bổ nhiệm vị trí cao hơn. Lần này anh sẽ không đi cùng lực lượng tấn công.


    Vào ngày khởi sự, 14/10/1943, lần này cũng lại có sương mù vào buổi sáng nhưng chúng tan rất nhanh. Lúc 9 giờ sáng, một máy bay trinh sát Mosquito của Anh báo về thời tiết ở Đức rất thuận lợi.



    67% năng lực sản xuất của thị trấn Schweinfurt bị phá hủy sau đợt không kích ngày 14/10/1943.

    Lực lượng tham gia trận đánh gồm 317 máy bay ném bom B - 17 của hai sư đoàn, đặt dưới sự chỉ huy của Đại tá Budd J. Peaslee và Đại tá Archie J. Old. Ngoài ra, họ còn được bổ sung thêm 60 máy bay ném bom B - 24. Tuy nhiên, số máy bay này gặp rắc rối trong việc liên lạc với hai sư đoàn trên nên đã phải chuyển hướng đi đánh phá các mục tiêu khác ở quần đảo Frisian.

    Các máy bay B - 17 bắt đầu xuất kích lúc hơn 10 giờ sáng một chút và chẳng mấy chốc 377 máy bay đã bay lượn trên bầu trời nước Anh. Tuy nhiên, vì những sự cố kỹ thuật, số lượng máy bay giảm xuống chỉ còn 291 chiếc trước khi chúng đến được bờ biển Hà Lan. Các máy bay hộ tống P - 47 quay đầu trở lại trong khoảng giữa Aachen và Duren, ngay bên trong biên giới nước Đức. Máy bay phát xít Đức tấn công với số lượng lớn và từ mọi hướng.


    Lịch sử không quân của lục quân miêu tả cuộc tấn công của các máy bay chiến đấu của không quân Đức là “lớn chưa từng có về mặt quy mô và mức độ khốc liệt”. Quân đồng minh ước tính rằng không quân Đức có 800 máy bay chiến đấu ở châu Âu. Trong thực tế, có tổng số 964 máy bay và chúng vẫn tấn công dồn dập các máy bay ném bom của quân đồng minh khi Schweinfurt đã hiện ngay trước mắt các phi công.



    Các đám cháy lan rộng khắp thành phố trong trận không kích diễn ra ngày 14/10/1943.

    Dẫn đầu đội hình là Trung tá T. R. Milton, sĩ quan tác chiến của liên đoàn 91. Anh dẫn đầu đội hình máy bay ném bom bay đến Schweinfurt lúc 2 giờ 39 phút chiều.
    Độ chính xác đã được cải thiện hơn rất nhiều so với trận không kích diễn ra hồi tháng 8. Ba nhà máy sản xuất bạc đạn động cơ lớn nhất bị đánh phá nhiều lần. Theo Albert Speer, Bộ trưởng Hậu cần Đức, trận oanh kích lần này phá hủy 67% năng lực sản xuất của thị trấn Schweinfurt. Tuy nhiên, mức độ thiệt hại mà quân đồng minh phải gánh chịu cũng vô cùng nặng: Trong số 291 máy bay B - 17 rời nước Anh buổi sáng hôm đó, 60 chiếc đã bị bắn rơi.


    Trong quãng thời gian còn lại của năm, không đoàn số 8 chỉ đánh phá những mục tiêu nằm trong phạm vi bảo vệ của các máy bay chiến đấu. Nó không tiếp tục tấn công vào Schweinfurt cho đến tận tháng 2/1944, khi mà các máy bay chiến đấu tầm xa ra đời.


    Về phần Bộ Tư lệnh ném bom chiến lược của Không quân Hoàng gia Anh, lực lượng này không tấn công vào Schweinfurt cho đến tận sau lần oanh kích thứ ba của không đoàn số 8. Đến lúc đó, phát xít Đức đã phân tán các cơ sở sản xuất bạc đạn động cơ ra các khu vực khác.


    Frankland, nhà sử học của Bộ Tư lệnh ném bom chiến lược thuộc Không quân Hoàng gia, đánh giá Schweinfurt như là “trận Waterloo của nước Mỹ”. Những người khác lại nhấn mạnh đến những sai sót trong tác chiến. Nhà sử học Mỹ Alan J. Levine viết: “Việc lựa chọn ngành công nghiệp sản xuất bạc đạn động cơ làm mục tiêu tấn công là một sai lầm và không đoàn số 8 đã rơi vào cơn bĩ cực nhất”.


    Đầu năm 1944, không đoàn số 8 thay đổi trọng tâm chiến lược sang tập trung tiêu hao lực lượng không quân Đức. Chỉ trong vài tháng, không quân Đức đã bị tổn thất nặng nề. Quân đồng minh có thể tiến hành cuộc đổ bộ chiến lược lên đất Pháp vào tháng 6/1944 mà không gặp trở ngại nào từ trên không. Các máy bay ném bom của Anh và Mỹ có thể tự do đánh phá các mục tiêu. Chiến tranh Thế giới lần thứ Hai bước vào giai đoạn cuối cùng.


    Đình Vũ (tổng hợp)

  4. #4
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Hồ sơ chiến tranh Lạnh
    Số phận hai người ký Hiệp ước thống nhất nước Đức
    - Kỳ I: Đại diện CHDC Đức


    Nước Đức đã thống nhất được hơn 20 năm. Cơ sở pháp lý của quá trình hợp nhất này là Hiệp ước thống nhất được ký kết giữa CHDC Đức và CHLB Đức dày 900 trang. Tuy nhiên, đây không phải là sự hợp nhất giữa hai nhà nước Đức, mà sự thống nhất được thực hiện theo điều 23 Hiến pháp CHLB Đức, có nghĩa là CHDC Đức tự giải thể, chia thành 5 bang và từng bang này nộp đơn xin gia nhập CHLB Đức. Hai miền Đông và Tây Béclin cũng hợp nhất thành một bang và trở thành thủ đô của nước Đức thống nhất. CHLB Đức tiếp quản tài sản cũng như chịu trách nhiệm về các khoản nợ của CHDC Đức. CHDC Đức tiếp quản Hiến pháp CHLB Đức...

    Bản Hiệp ước đồ sộ như vậy mà chỉ được thương lượng, soạn thảo trong vòng 8 tuần, từ đầu tháng 7/1990, sau khi đồng D-mark được đổi và lưu hành tại CHDC Đức. Ngày 31/8/1990, Bộ trưởng Nội vụ Wolfgang Schaeuble (CDU), Trưởng đoàn đàm phán CHLB Đức và Quốc vụ khanh Guenter Krause (CDU), Trưởng đoàn đàm phán CHDC Đức đã thay mặt hai nhà nước chính thức ký Hiệp ước thống nhất nước Đức. Từ đó tới nay, nước Đức đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ và số phận của hai người ký Hiệp ước thống nhất cũng trải qua nhiều biến cố, thăng trầm khó tưởng tượng nổi.



    Kỳ I: Đại diện CHDC Đức



    Guenter Krause năm 2009.
    Ông Guenter Krause sinh năm 1953, tại Halle, là tiến sĩ khoa học trên lĩnh vực kiến trúc và xây dựng. Về quá trình hoạt động chính trị: Năm 1975, ông gia nhập Liên minh Dân chủ Cơ đốc giáo (CDU) ở CHDC Đức. Từ 1987 tới 1989, ông là Chủ tịch CDU ở huyện Bad Doberan. Năm 1989, ông trở thành Chủ tịch CDU tỉnh Mecklenburg và từ 1990 cho tới khi từ chức năm 1993, ông là Chủ tịch CDU bang Mecklenburg-Vorpommern.

    Từ tháng 3 tới tháng 10/1990, Krause là nghị sĩ Quốc hội cuối cùng của CHDC Đức và là Quốc vụ khanh bên cạnh thủ tướng CHDC Đức, từ 3/10/1990 ông Krause là nghị sĩ Quốc hội nước Đức thống nhất và được Thủ tướng Helmut Kohl bổ nhiệm làm Bộ trưởng phụ trách những nhiệm vụ đặc biệt. Sau cuộc bầu cử Quốc hội nước Đức thống nhất tháng 12/1990, ngày 18/1/1991, ông Krause được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Giao thông.

    Trong thời gian giữ những chức vụ trong chính quyền, Krause đã dính líu vào những vụ việc bê bối, bị coi là mờ ám như việc bán những nhà hàng quốc doanh nằm tại nơi nghỉ bên đường cao tốc ở Đông Đức năm 1990, việc để vợ thuê người giúp việc nhà nhưng dùng tiền nhà nước để chi trả, cũng như việc chuyển nhà riêng cũng thanh toán với Nhà nước. Những vụ việc bê bối này đã dẫn tới việc Krause bị chỉ trích nặng nề và phải từ chức ngày 6/5/1993, mất đi mức lương tháng 27.000 mark.

    Cuộc hôn nhân của ông bị đổ vỡ vì vợ có quan hệ ngoại tình với một đối tác làm ăn. Sau đó, ông thành lập ngân hàng và mở công ty riêng chuyên về xây dựng, nhưng làm ăn thua lỗ dẫn tới phá sản và ngày 23/12/2002, Tòa án Rostock đã kết án ông 3 năm và 9 tháng tù về tội gian lận, lừa đảo và trốn thuế. Nhưng tới ngày 7/7/2004, Tòa án liên bang đã đình chỉ bản án vì một số tội đã quá thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự, hủy bỏ một số điều trong bản cáo trạng và yêu cầu xử lại. Ngày 30/10/2007, Tòa án Rostock lại tuyên phạt ông 14 tháng tù cho hưởng án treo vì những tội lỗi dẫn tới công ty bị phá sản và gian lận lương của công nhân khi công ty phá sản.

    Gần đây, tạp chí "Stern" (Ngôi sao) và báo "Hình ảnh" (Bild) đã có cuộc trao đổi với Guenter Krause:

    ´Bà Angela Merkel và ông cùng bước vào chính trường một thời gian. Giờ đây, bà Merkel là Thủ tướng Đức, còn ông thì ngồi ở làng quê. Ông thấy thế nào?

    Guenter Krause (phải) và Wolfgang Schaeuble (trái) ký Hiệp ước thống nhất nước Đức.

    - Tôi vẫn còn quan tâm tới chính trị, nhưng vui mừng là không phải làm chính trị nữa. Tôi giờ đây đứng đầu một doanh nghiệp giám sát và tính toán tiền sưởi các khu nhà chung cư cho thuê ở Đông Âu. Tôi hay đi tới Kiev, Sôphia và St. Petersburg. Tôi cố vấn cho các chính phủ quá trình chuyển đổi nền kinh tế quốc doanh thành kinh tế tư nhân. Và tôi cũng nghiên cứu về nguyên liệu có thể tái tạo. Ví dụ như tôi hợp tác với hai giáo sư ở Rostock và Hamburg trong việc nghiên cứu làm ra dầu thô từ rơm, một loại vàng đen.

    ´Ông đã từng tìm cách làm ăn rất mạo hiểm, kể từ khi ông từ chức Bộ trưởng Giao thông, trong đó ông đã làm thua lỗ 11 triệu mark vay của Ngân hàng bang Bavaria…

    - Đừng vội thế! Tôi đã mất tiền với 3 kẻ lừa đảo và chúng đã phải vào tù. Khi đó, tôi nghĩ mình được tư vấn tốt. Tôi có một chuyên gia tài chính bên cạnh, người trước đó đã 5 năm thực hiện công việc kinh doanh của Ngân hàng UBS của Thụy Sĩ tại Arập Xêút. Đó là một người có kinh nghiệm, nhưng rồi ông ta cũng bị lừa. Ngay cả Ngân hàng UBS cũng bị thiệt hại, tổng cộng có 200 triệu mark biến mất. Những người khác cũng không nhìn thấu, chứ không phải mình tôi.

    ´Làm sao mà ông nảy ra ý nghĩ vay tín dụng tới 11 triệu mark?

    - Là người Đông Đức trước đây, tôi không có sự nhạy cảm về giá trị đồng tiền. Trong Bộ Giao thông, tôi quản lý một ngân sách 60 tỉ mark thì 11 triệu mark có nghĩa lý gì.

    ´Bà Merkel từng nói, ông là một người thông minh, nhưng không phải là người hiểu biết con người. Những người xa lạ có thể bắt chuyện ông vào ban đêm và đề xuất chuyện làm ăn thế mà ông vẫn quan tâm, chú ý lắng nghe!

    - Về một khía cạnh, bà ta nói đúng. Tôi luôn cho rằng người ta thực thà với bạn, như bạn thực thà với người ta. Nhưng rồi tôi phải nhận ra rằng chủ yếu người ta gặp phải những kẻ không đàng hoàng.

    ´Mất vợ, mất chức, mất nhà, nợ nần chồng chất và những lời nhạo báng. Làm sao mà ông chịu nổi?

    - Bên cạnh nhiều người bạn sai trái, tôi cũng có một số ít bạn thực sự. Thêm vào đó, tôi cho rằng có ba câu nói đúng: Nếu bạn có niềm tin sắt đá, bạn có thể chuyển núi dời non. Không có đấu tranh thì không có chiến thắng - trong đó cũng có thất bại. Và: Trong yếu thế cũng có lợi thế.

    ´Phải chăng mọi việc đều đúng đắn?

    - Đáng tiếc là Viện Công tố Rostock vẫn tiếp tục truy bức tôi. Từ 1996 đã như vậy rồi. Mặc dù năm 2002, tôi đã bị kết án, nhưng Tòa án Liên bang đã hủy bỏ bản án. Bà Chánh án khi đó Monika Harms, nay là Tổng công tố liên bang. Tôi muốn rằng mọi vụ án chống lại tôi phải bị đình chỉ. Cho dù tôi bị kết án thì bản án không liên quan gì đến việc kéo dài sự truy bức đối với tôi. Một phần ba cuộc đời doanh nghiệp của tôi phải chịu đựng những định kiến. Vì vậy, tôi sẽ kiện lên Ủy ban nhân quyền châu Âu.

    ´Với nhiều gió ngược chiều như vậy, người ta không thể chèo chống chỉ với lòng tin.

    - Tháng 4/2004, tôi đã lại lấy vợ, đó là một hạnh phúc lớn. Ba con riêng của tôi và ba con với người vợ mới thân thiết với nhau, thêm vào đó tôi có 4 đứa cháu. Tôi thực sự có niềm vui với các cháu. Ngoài ra, tôi chẳng cần gì nhiều trong đời. Bên cạnh gia đình thực ra chỉ cần có chiếc đàn dương cầm và chơi đàn organ của nhà thờ.

    Vũ Long (Tổng hợp theo báo chí Đức)

  5. #5
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Hồ sơ chiến tranh Lạnh
    Số phận hai người ký Hiệp ước thống nhất nước Đức
    - Kỳ cuối: Đại diện CHLB Đức


    Bộ trưởng Tài chính Wolfgang Schaeuble.

    Ông Wolfgang Schaeuble sinh năm 1942 tại Freiburg. Ông tốt nghiệp Đại học Luật và sau này bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về luật. Từ 28/10/2009, Schaeuble là Bộ trưởng Tài chính trong chính phủ của bà Merkel.


    Trước đó, từ năm 2005 tới năm 2009, ông là Bộ trưởng Nội vụ, đồng thời là bộ trưởng đương chức duy nhất là thành viên nội các trước khi nước Đức thống nhất.


    Từ năm 1984 tới 1989, ông Schaeuble là Bộ trưởng phụ trách những nhiệm vụ đặc biệt cũng như Chánh văn phòng Phủ Thủ tướng. Từ 1989 tới 1991, ông giữ chức Bộ trưởng Nội vụ. Trong thời gian này, ông là trưởng đoàn thương lượng và ký kết Hiệp ước thống nhất nước Đức. Từ năm 1991 đến năm 2000, ông là Chủ tịch Nhóm nghị sĩ Quốc hội CDU/CSU và từ 1998 đến 2000 còn là Chủ tịch CDU toàn liên bang.

    Năm 2000, vì dính líu vào một vụ bê bối quyên góp bất hợp pháp 100.000 mark cho CDU của Karl Schreiber, một kẻ buôn bán vũ khí, Schaeuble đã phải từ bỏ cả hai chức vụ trên trong đảng và bà Merkel được bầu lên làm Chủ tịch CDU, ông Friedrich Merz được bầu làm Chủ tịch Nhóm nghị sĩ Quốc hội CDU/CSU. Từ đó tới nay, Schaeuble vẫn là ủy viên đoàn Chủ tịch và Ban chấp hành CDU toàn liên bang. Wolfgang Schaeuble là nghị sĩ Quốc hội liên tục từ năm 1972 tới nay.

    Tối 12/10/1990, sau khi nước Đức thống nhất chưa được 10 ngày, trong một cuộc vận động tranh cử ở Oppenau, một kẻ có tiền sử tâm thần đã dùng súng bắn 3 viên đạn vào Schaeuble từ cự li chưa tới 50 cm, làm cho ông bị liệt, phải ngồi trên xe lăn cho tới nay.



    Vụ mưu sát này đã làm thay đổi số phận của Schaeuble. Người ta cho rằng nếu không bị liệt, Schaeuble, một chính khách giàu kinh nghiệm nhất trong Nội các của bà Merkel, đã có thể trở thành Thủ tướng hoặc Tổng thống Đức.


    Thủ tướng Helmut Kohl và ông Wolfgang Schaeuble, người được ông Kohl năm 1997 giới thiệu sẽ kế nhiệm mình.

    Ngôi làng nhỏ Oppenau nằm trong khu vực bầu cử của Schaeuble. Ông sống ở thị trấn nhỏ Gengenbach chỉ cách đó vài cây số. Việc đi vận động tranh cử trong khu vực bầu cử của mình đối với vị chính khách khi đó 48 tuổi là chuyện thường ngày và quá đỗi quen thuộc. Schaeuble sinh ra và lớn lên trong vùng.



    Cho tới ngày nay, nhiều nhân chứng còn nhớ rõ vụ mưu sát xảy ra trong nhà hàng "Brauerei Bruder". Hôm đó, Schaeuble đọc một bài diễn văn tranh cử. Sau đó, ông còn ngồi nán lại trò chuyện với cử tri, vì nhiều người trong đó thân quen với ông, một nhân vật thân tín của Thủ tướng Kohl. Không khí thân mật, ấm áp. Mới trước đó 6 tuần, Schaeuble đã ký Hiệp ước thống nhất nước Đức, một đỉnh cao trong sự nghiệp chính trị và ông được coi là kiến trúc sư của Hiệp ước thống nhất.

    Sau 22 giờ, ông Schaeuble ra về với nhiều người bao quanh. Không ai để ý tới một người vẫn ngồi im lặng trong đám đông thính giả nghe ông diễn thuyết, cũng đi ra theo ông. Tới cửa ra vào, người đàn ông lạ mặt 37 tuổi đó rút ra một khẩu súng lục bắn 3 phát vào Schaeuble. Viên đạn đầu tiên trúng hàm và phá tan hàm bên phải của Schaeuble, viên thứ hai bắn trúng lưng và kẹt lại ở đốt sống lưng. Viên thứ ba bắn trúng vào người vệ sĩ lao vào che chở cho Schaeuble, lúc này đã bị ngã xuống đất. Người vệ sĩ 28 tuổi đã bị thương nặng ở bụng.


    Bộ trưởng Nội vụ Schaeuble tháng 11/1990 trong thời gian điều dưỡng sau khi bị mưu sát.
    Một cộng sự của Schaeuble có mặt khi đó nhớ lại: "Tất cả mọi người choáng váng, sau đó là một sự hỗn loạn". Tính mạng của Schaeuble lúc đó như ngàn cân treo sợi tóc. Xe cấp cứu nhanh chóng đưa Schaeuble vào bệnh viện huyện Oberkirch, sau đó, một máy bay trực thăng cấp cứu chở ông tới Bệnh viện trường đại học Freiburg, nơi các bác sĩ tiến hành phẫu thuật khẩn cấp trong 5 giờ đồng hồ và nỗ lực hết sức mình trong những ngày sau đó để giành giật lại cuộc sống cho ông. Nhưng người ta nhanh chóng nhận ra rằng từ nay không bao giờ Schaeuble có thể đi lại được nữa. Ông đã bị liệt từ lưng trở xuống.

    Thủ tướng Helmut Kohl đã vội vàng tới thăm Schaeuble ở bệnh viện và tỏ ra bị "sốc" vì tình trạng sức khỏe của vị Bộ trưởng quan trọng nhất của mình.


    Cả ứng cử viên thủ tướng của SPD khi đó là Oskar Lafontaine, người trước đó chưa đầy nửa năm cũng bị mưu sát, cũng tới Freiburg thăm và tỏ ra choáng váng. Nhưng Schaeuble không chịu khuất phục. Với một kỷ luật sắt, chỉ vài tháng sau vụ mưu sát, Schaeuble đã lại ngồi xe lăn đi làm việc.



    Cũng may là ông còn trẻ và rất tích cực hoạt động thể thao nên sức khỏe phục hồi khá nhanh. Ngoài ra, ông được coi là có một ý chí sắt đá. Khi gia đình khuyên ông nên rời bỏ chính trường, ông khăng khăng từ chối và nói: "Đừng có lấy nốt của tôi điều đó". Schaeuble được coi là cống hiến cả đời mình cho chính trường.

    Hung thủ mưu sát Schaeuble là Dieter Kaufmann, một người có tiền án, y cũng như nạn nhân đều là người trong vùng. Trước vụ mưu sát, y đã phải đi điều trị bệnh tâm thần. Sau khi bắn, y đã bị khống chế và bị bắt. Tháng 5/1991, y đã bị xét xử và kết án.



    Nhưng vì Tòa án xác định y bị bệnh hoang tưởng nên đã đưa y vào điều trị tại một bệnh viện tâm thần có canh gác. Cho tới nay, y vẫn tiếp tục được điều trị. Hung thủ đã lấy trộm súng và đạn từ tủ vũ khí của người cha, một thị trưởng trong vùng. Sau này, hung thủ đã viết thư và khi trả lời phỏng vấn của đài phát thanh đã xin Schaeuble tha lỗi. Người vệ sĩ lao vào che chở cho Schaeuble và cứu sống tính mạng ông đã qua đời cách đây 7 năm vì căn bệnh ung thư.

    Sau này, hung thủ Kaufmann cho biết, lý do y muốn ám sát Schaeuble là muốn báo thù "sự khủng bố tâm lý và thân thể" mà nhà nước tiến hành với y. Y lựa chọn Schaeube làm mục tiêu cho sự báo thù này, vì coi Schaeuble là nhân vật biểu tượng của CHLB Đức.

    Chỉ trong phút chốc, con đường công danh chính trị rạng rỡ của Schaeuble tưởng chừng tan vỡ. Nhà báo Hans-Peter Schuetz nhận xét: "Năm 1990, ông ta là niềm hy vọng của Thủ tướng Helmut Kohl và ở cả cuộc vận động tranh cử này. Trước đó, ông ta đã từng là Chánh văn phòng Phủ Thủ tướng, giờ đây ông ta là Bộ trưởng Nội vụ, ông ta đã tổ chức sự thống nhất nước Đức. Rõ ràng khi đó Wolfgang Schaeuble là nhân vật quan trọng nhất trong CDU sau Helmut Kohl".



    Nhưng chỉ sau 6 tuần, Schaeuble đã lại lao vào công việc. Việc nhanh chóng trở lại chính trường đã giúp Schaeuble chịu đựng được hình huống mới khó khăn trong cuộc đời và chấp nhận sự thương tật là một đòn của số phận. Chính Schaeuble năm 2009 đã nói: "Cuộc đời là như vậy. Mọi sự có thể thay đổi từng giây từng phút!".

    Vũ Long (tổng hợp từ báo chí Đức)
    Sửa lần cuối bởi trucngon; 05-05-2012 lúc 09:28 AM.

  6. #6
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Hé lộ tổn thất cụm tàu sân bay Mỹ trong chiến tranh Việt Nam



    Trong những năm 1960-1970, tàu sân bay Mỹ quần thảo ngang dọc trên biển Đông. Tuy nhiên, lực lượng này cũng chịu nhiều tổn thất.

    Những gã khổng lồ trên biển

    Trong thập niên 1960 Mỹ có tới 14 - 15 tàu sân bay, mỗi tàu chở được 60 - 100 máy bay các loại, trong đó có một tàu sân bay năng lượng hạt nhân USS Enterprise (CVN-65) hạ thủy 1961.


    Sân bay nổi trên đại dương



    Đây là các căn cứ không quân cơ động có thể di chuyển với tốc độ tới 800 km/ngày tới bất cứ khu vực nào trên đại dương và tác chiến phối hợp với các căn cứ không quân ven biển hoặc hoạt động hoàn toàn độc lập khi cần thiết.

    Năm 1965, lực lượng không quân của hải quân Mỹ có gần 6.000 máy bay các loại bố trí trên các tàu sân bay và căn cứ không quân ven biển. Tới 1969 do nhu cầu chiến tranh Việt Nam số lượng này đã được tăng lên tới 8.500 chiếc (trong đó có 1.600 trực thăng).

    Ngay từ đầu các tàu sân bay đã được đưa tới bờ biển Việt Nam từ năm 1964, rất lâu trước khi các lực lượng bộ binh xuất hiện trên chiến trường miền Nam.

    Ngày 5/8/1964, máy bay từ 2 tàu sân bay USS Constellation (CV-64) và USS Ticonderoga (CV-14) đã tấn công các mục tiêu ở miền Bắc, mở đầu cuộc chiến tranh bằng không quân kéo dài 8 năm.

    Tới tháng 2/1965 trên biển Đông đã có 4 tàu sân bay Mỹ, mỗi tàu sân bay đều có 6-8 tàu bảo vệ các loại như tàu khu trục, tàu ngầm, tàu hộ vệ chống ngầm (chưa kể các tàu hậu cần, chở dầu, cứu hộ) đi kèm. Các cụm tàu sân bay này hoạt động tác chiến liên tục trong 30 - 45 ngày, sau đó thay nhau trở về căn cứ bảo dưỡng và nghỉ ngơi.

    Lúc đầu, các tàu sân bay được triển khai ở 2 khu vực: vịnh Bắc Bộ (2 chiếc) và ngoài khơi Nha Trang (một chiếc), di chuyển cách bờ 150 - 200 hải lý và khi máy bay chuẩn bị xuất kích thì vào sát bờ 40 - 120 hải lý (70 - 210 km). Sau khi có thêm máy bay B-52 tham chiến thì từ tháng 8/1966 chỉ còn bố trí ở vịnh Bắc Bộ (thường xuyên có 3 - 4 tàu sân bay).

    Tàu sân bay năng lượng hạt nhân đầu tiên thế giới - USS Enterprise. Ảnh: U.S. Navy
    Trong chiến tranh Việt Nam, các tàu sân bay Mỹ đã phải hoạt động với cường độ rất căng thẳng, tới 75 - 80% thời gian ở trên biển và chỉ còn khoảng 20% thời gian được ở căn cứ.

    Tất cả các tàu sân bay Mỹ đều lần lượt tham chiến ở Việt Nam, thông thường mỗi tàu 3 tháng nhưng có khi phải kéo dài đến 6-8 tháng. Tùy theo thời tiết, không quân trên hạm thực hiện từ 2.000-8.000 phi vụ mỗi tháng, tức là trung bình mỗi phi công phải bay 20 giờ/tháng.

    Tổn thất máy bay cũng rất nặng nề: mỗi tàu sân bay hàng tháng bị mất 10-15 chiếc khi vào đánh phá miền Bắc Việt Nam. Các tàu sân bay không bị tấn công do luôn nằm ngoài tầm bắn của các loại pháo bờ biển và phía Việt Nam chưa có tên lửa đối hạm. Tuy vậy, cường độ hoạt động cao, kéo dài và sự mệt mỏi, căng thẳng của các nhân viên trên tàu sân bay đã không ít lần dẫn đến tai nạn cháy nổ, gây thiệt hại nặng về cả người và vũ khí, trang bị làm nhiều tàu hư hỏng lớn, phải sửa chữa kéo dài và rất tốn kém.

    Vụ cháy nổ chấn động nước Mỹ



    Nổi tiếng nhất là vụ cháy nổ trên tàu USS Forrestal (CV-59), trọng tải 80.000 tấn, chở 70 75 máy bay, xảy ra vào sáng 29/7/1967 khi đang ở trong vịnh Bắc Bộ. Nguyên nhân theo điều tra là do động cơ của quả tên lửa Zuni 127 mm treo dưới cánh chiếc F-4 bất ngờ hoạt động và tên lửa lao thẳng vào thùng nhiên liệu của chiếc máy bay cường kích A-4 rồi phát nổ.

    Nhiên liệu cháy lan ra khắp sàn tàu tới các máy bay đang chuẩn bị cất cánh rồi kích nổ hàng loạt bom đạn và tên lửa mang theo, tạo ra 4 lỗ thủng rất lớn trên mặt boong và phá hủy nhiều thiết bị, máy móc cùng với cơ cấu cất, hạ cánh máy bay.




    Vụ cháy nổ trên tàu sân bay Forestol ở Vịnh Bắc Bộ năm 1967. Ảnh: tư liệu

    Đám cháy nổ dữ dội kéo dài 13 giờ liền mới dập tắt được và đã làm 134 lính Mỹ thiệt mạng, 162 lính khác bị thương cùng với 29 máy bay phản lực chiến đấu bị phá hủy hoàn toàn, 42 chiếc khác hư hỏng nặng.

    Tàu USS Forrestal bị loại khỏi vòng chiến đấu và phải sửa chữa kéo dài 7 tháng liền. Đây là thiệt hại nặng nề nhất về người và vũ khí, trang bị của tàu sân bay Mỹ (tổn thất theo báo cáo của quân đội Mỹ ước tính 72 triệu USD theo thời giá lúc bấy giờ) và chưa từng có trong lịch sử hải quân từ trước tới nay.


    Một vụ cháy nổ lớn khác cũng đã xảy ra trên tàu sân bay hạt nhân USS Enterprise (91.000 tấn, chở 90 máy bay) vào tháng 1/1969 với lý do tương tự: 1 quả tên lửa MK-32 Zuni 127 mm tự phát nổ dưới cánh chiếc F-4 rồi kích nổ tiếp 9 quả bom loại 300-400 kg ở các máy bay bên cạnh làm chết 27 lính Mỹ và phá hủy hoàn toàn 15 máy bay chiến đấu cùng 32 chiếc khác bị hư hỏng nặng. Tàu USS Enterprise hỏng nặng và phải sửa chữa khôi phục mất hơn 3 tháng.


    Trong toàn bộ cuộc chiến Việt Nam, trên các tàu sân bay Mỹ đã xảy ra 20 vụ cháy nổ lớn và trung bình, thiêu rụi hoàn toàn tới 60 máy bay chiến đấu các loại (chưa kể số bị hư hỏng nặng), làm hàng trăm lính Mỹ chết và bị thương. Điều đó đã gây ra khá nhiều chỉ trích đối với loại căn cứ không quân nổi này nhưng cũng không thể phủ nhận được sự cần thiết của tàu sân bay trong các cuộc xung đột quân sự và chiến tranh cục bộ.

    Chính từ đây bắt đầu xuất hiện chính sách ngoại giao mới trên thế giới được gọi là "ngoại giao tàu sân bay ". Và từ năm 1968 chính quyền Mỹ đã quyết định xây dựng thế hệ tàu sân bay mới - tàu sân bay hạt nhân với lượng dãn nước hơn 100.000 tấn, không phải nạp nhiên liệu trong suốt thời gian vận hành và sức chở lớn hơn (tới 100 máy bay hiện đại hơn và mang theo 3.000 tấn vũ khí các loại).

  7. #7
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Một chút sự thật về 'nhị đại' (Kỳ I)


    (Petrotimes) - Trong lịch sử cận đại Trung Quốc có 2 cuộc đại cách mạng về sản xuất và chính trị được coi là lớn nhất trong lịch sử từ cổ chí kim, đó là Đại nhảy vọt và Đại cách mạng văn hóa. “Nhị đại” này đã làm chết hàng chục triệu người dân Trung Quốc và những hệ lụy của nó cho đến nay vẫn còn. Các nhà nghiên cứu đặt ra nhiều câu hỏi là tại sao một bộ máy nhà nước hoàn chỉnh như vậy lại bị Mao Trạch Đông lũng đoạn. Sự duy ý chí của Mao Trạch Đông khi tiến hành “nhị đại” này xuất phát từ đâu?

    Kỳ I: Mao Trạch Đông phát động Đại nhảy vọt để làm gì?

    Từ số này, Báo Năng lượng Mới xin giới thiệu với bạn đọc một chút sự thật về “nhị đại”.
    Sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1/10/1949), những tưởng từ đây ước mong được sống yên ổn, hòa bình của người dân sẽ thành hiện thực, nhưng chẳng bao lâu sau khi Mao Trạch Đông chính thức đưa ra đường lối "Ba ngọn cờ hồng'' với “Đường lối chung”, “Đại nhảy vọt” (trong công nghiệp) và “Công xã nhân dân” (trong nông nghiệp), Trung Quốc từng bước bị lún sâu vào một cơn khủng hoảng trầm trọng. Đại nhảy vọt được sinh ra từ sự duy ý chí của Mao Trạch Đông khi Chủ tịch cho rằng, có thể giải phóng năng suất chưa từng có từ nền kinh tế Trung Quốc và bản thân là người lãnh đạo Cộng sản tốt nhất và vĩ đại nhất.
    Ngày 15/6/1953, Mao Trạch Đông chủ trì định ra đường lối chung của Đảng trong thời kỳ quá độ - một bước ngoặt sang tả - Trung Quốc đi theo con đường chủ nghĩa xã hội không tưởng dựa vào bạo lực. Sau đó, Mao Chủ tịch phát động Đại nhảy vọt - tiến hành cuộc thực nghiệm chủ nghĩa xã hội không tưởng lớn chưa từng thấy.
    Trong cuộc họp Ban Bí thư ngày 20/4/1955, Mao Trạch Đông cho rằng, cả nước đã có 670.000 hợp tác xã nên cần ngừng phát triển để củng cố. Nhưng chỉ hơn 10 ngày sau, Mao Trạch Đông lại thay đổi ý kiến, yêu cầu tăng gấp rưỡi số hợp tác xã hiện có vào cuối năm 1957. Hơn 1 tháng sau lại đưa ra mục tiêu mới: tăng gấp đôi (lên 1,3 triệu) vào mùa xuân năm 1956. Cơ sở để Mao Trạch Đông đưa ra quyết định kể trên là cao trào xã hội chủ nghĩa đang xuất hiện ở nông thôn Trung Quốc.
    Tại Hội nghị Trung ương 6 khóa 7 bàn về hợp tác hóa nông nghiệp (tháng 10/1955), Mao Trạch Đông kêu gọi phải làm cho phong kiến, đế quốc, tư bản và sản xuất nhỏ “tuyệt chủng” trên trái đất. Sau hội nghị trên, những ai dám nói thẳng, nói thật, nêu lên hiện trạng sản xuất và đời sống ở nông thôn đều bị phê phán, bị quy là hữu khuynh, nhiều người bị cách chức.
    Do đó, mới đến cuối tháng 11/1955, cả nước đã thực hiện hợp tác hóa với 116,74 triệu hộ nông dân tham gia hợp tác xã, chiếm 96,1% số hộ nông dân. Thế là kỳ tích xuất hiện: chỉ 4 năm đã hoàn thành kế hoạch cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, vốn dự định làm trong 15 năm.
    Sau mùa hè năm 1955, cao trào hợp tác hóa nông nghiệp ảnh hưởng mạnh mẽ đến công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trong ngành thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh. Đến cuối năm 1956, ngành này đã cơ bản hoàn thành việc chuyển sang kinh tế tập thể, 92% số người làm nghề thủ công đã được tổ chức trong gần 10.000 hợp tác xã.
    Từ cuối năm 1955, Thượng Hải, tiếp đó là Bắc Kinh, Thiên Tân, cùng nhiều tỉnh và thành phố khác đã xuất hiện cao trào công ty hợp doanh trong toàn ngành công thương. Đến tháng 6/1956, đã hoàn thành toàn diện công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản trong cả nước.


    Trùng khánh tổ chức diễu hành trong thời cách mạng văn hóa
    Giới học giả cho rằng, động cơ cá nhân khiến Mao Trạch Đông vội vã từ bỏ lý luận đúng đắn là nôn nóng muốn làm lãnh tụ của phong trào Cộng sản quốc tế. Sau khi Stalin từ trần, Mao Trạch Đông cho rằng, trời sẽ trao nhiệm vụ lớn cho ông ta. Muốn lãnh đạo phong trào cộng sản và phe xã hội chủ nghĩa, mà Trung Quốc lại thực hiện hình thái xã hội lạc hậu so với các nước xã hội chủ nghĩa khác thì không đủ tư cách làm lãnh tụ, do đó, phải nhanh chóng trở thành một nước XHCN hùng mạnh. Đó là nguồn gốc khiến Mao Trạch Đông mắc phải chứng bệnh nóng vội trong việc giải quyết những vấn đề hữu quan.
    Ngoài ra, muốn làm lãnh tụ thế giới, làm người cầm cờ của phong trào cộng sản, phải làm tốt mọi việc của Trung Quốc, tạo ra kỳ tích chấn động thế giới trong một thời gian ngắn. Khi đó, Mao Trạch Đông đã quyết tâm tập trung lương thực có trong tay để chi viện cách mạng thế giới, giúp ông trở thành lãnh tụ vĩ đại của phong trào Cộng sản quốc tế.
    Giới bình luận cho rằng, đường lối “Ba ngọn cờ hồng” là biểu hiện của tư tưởng duy ý chí, nóng vội, chủ quan, muốn đốt cháy giai đoạn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc. Đường lối này đã gây ra hậu quả nghiêm trọng. Cuối năm 1958, nạn đói diễn ra trầm trọng nhưng đồng ruộng lại bị bỏ hoang, các nhà máy, xí nghiệp phải đóng cửa vì thiếu nguyên liệu.
    Năm 1958 và 1959, Trung Quốc bị chấn động bởi các dự án lao động phá hủy khổng lồ và điên cuồng nhảy vào sản xuất gang thép. Nông nghiệp bị gián đoạn do sự chuyển đổi lao động và áp dụng sai các chương trình trồng trọt với mật độ dày hơn, khôi phục lại vùng đất khó trồng trọt và tưới tiêu quá mức. Nhưng lãnh đạo địa phương lại cho rằng, sản lượng nông nghiệp sẽ tăng lên do hệ thống xã hội chủ nghĩa mới, các con số bị thổi phồng khi báo cáo lên lãnh đạo. Mọi chuyện trở nên đen tối rất nhanh khi cán bộ địa phương làm sạch kho thóc để đáp ứng mục tiêu trưng dụng và chứng minh khả năng, lòng nhiệt huyết và sự trung thành của họ đối với cấp trên.
    Từ năm 1956, khi cách mạng Trung Quốc có những bước phát triển mạnh mẽ thì nội bộ Đảng và không ít lãnh đạo bắt đầu nảy sinh những bất đồng trên các vấn đề về đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, cũng như các vấn đề quốc tế. Tình trạng bất ổn định của Trung Quốc thực sự bắt đầu từ năm 1958, khi Mao Trạch Đông chính thức phát động “Ba ngọn cờ hồng”.
    Chủ tịch Mao Trạch Đông cho rằng, con người vững được nhờ có bộ xương sống, đất nước phải mạnh về gang thép - Trung Quốc phải vượt Liên Xô và Mỹ trong lĩnh vực này. Tư tưởng “giản dị” này đã khiến 100 triệu người, chủ yếu là nông dân phế bỏ ruộng mùa trong năm đầu của Đại nhảy vọt để xây dựng hàng trăm nghìn lò đúc gang, thép. Nhưng vì không hiểu biết về kỹ thuật đúc gang, thép và không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật nên sản phẩm làm ra không dùng được phải vứt bỏ.
    Mao Trạch Đông biết rõ Chu Ân Lai là người có lương tâm, mà dựa vào một Thủ tướng như vậy thì không thể hoàn thành Đại nhảy vọt. Để vô hiệu hóa Chu Ân Lai, Mao thành lập 5 tổ trực thuộc Bộ Chính trị và Ban Bí thư, đó là Tổ Kinh tế - Tài chính do Trần Vân làm Tổ trưởng, Tổ Chính pháp do Bành Chân làm Tổ trưởng, Tổ Ngoại sự do Trần Nghị làm Tổ trưởng, Tổ Văn giáo do Lục Định Nhất làm Tổ trưởng, Tổ Khoa học do Nhiếp Vinh Trăn làm Tổ trưởng. Mao Trạch Đông trực tiếp chỉ huy 5 tổ trên và điều này đồng nghĩa với việc vai trò của Thủ tướng Chu Ân Lai trở nên mờ nhạt, bị tước quyền lãnh đạo, nhất là việc xây dựng kinh tế đất nước.
    Đại nhảy vọt đã đưa ra một loạt chính sách phi lý như “đạt sản lượng lương thực 75.000 kg/ha”, “nhân đôi sản lượng thép” và “vượt Anh trong vòng 10 năm và Mỹ trong vòng 15 năm”. Đại nhảy vọt đã khiến người dân tham gia sản xuất thép, nông dân bỏ hoang ruộng vườn. Những chính sách này đã gây ra nạn đói khắp đất nước, nhưng lại được giải thích một cách chính thức là “3 năm thiên tai”.
    “Ba năm thiên tai” 1960, 1961 và 1962 được nói đến trong sách giáo khoa thực chất là hậu quả trực tiếp của những chiến dịch nhằm gia tăng sản lượng lúa gạo trên toàn quốc. Nạn đói lớn được miêu tả: Nhiều ngôi làng nhỏ bị chết sạch vì người dân bị chết đói. Người ta ăn tất cả mọi thứ, gia đình nào cũng có người chết. Xác chết nằm ngổn ngang khắp nơi khiến người ta bắt đầu ăn thịt lẫn nhau, kể cả người còn sống và thân nhân. Nhưng tin tức bị bưng bít, dân quân canh gác ngày đêm để không cho người dân đi xin ăn và báo cáo với giới chức cấp cao. Khi nông dân cướp ngũ cốc trong kho lương thực vì quá đói thì họ bị bắn với lý do “phần tử phản cách mạng”.
    Theo chỉ thị của Mao Trạch Đông. Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng họp tại Bắc Đới Hà từ ngày 17 đến 30/8/1958 để thảo luận 17 vấn đề, chủ yếu là công xã nhân dân về luyện gang thép. Ngày 29/8/1958, Hội nghị Bắc Đới Hà ra nghị quyết về thành lập các công xã nhân dân. Cơ sở thành lập công xã nhân dân là hợp tác liên xã, liên huyện, tổ chức quân sự hóa, hành động chiến đấu hóa, sinh hoạt tập thể hóa, nâng cao hơn nữa giác ngộ cộng sản chủ nghĩa của 500 triệu nông dân. Quy mô công xã nói chung 2.000 hộ là thích hợp, cũng có thể nhiều xã hợp nhất, khoảng 7.000 hộ, thậm chí trên 20.000 hộ.
    Thành phần tổ chức là phát triển toàn diện nông lâm ngư nghiệp, nghề phụ, chăn nuôi kết hợp công - nông - thương - học - binh. Theo đó, các hợp tác xã hợp nhất thành công xã phải nộp toàn bộ tài sản công hữu. Xã viên phải nộp lại đất phần trăm, toàn bộ tư liệu sản xuất của xã viên thuộc sở hữu của công xã, song có thể giữ lại một ít gia súc, gia cầm. Căn cứ vào nhu cầu, công xã có thể dỡ dần nhà riêng của xã viên để lấy vật liệu sử dụng, nhà mới dựng thuộc sở hữu của công xã, xã viên ở phải trả tiền thuê nhà. Do nhận toàn báo cáo không trung thực, sai sự thật nên Mao Chủ tịch tưởng lương thực quá nhiều, ngoài nuôi người và gia súc, chẳng biết để làm gì.
    Ngày 19/11/1958, Mao Trạch Đông quyết định giảm diện tích trồng lương thực từ 122 triệu ha xuống 100 triệu ha, trong đó diện tích trồng lúa nước giảm 9,1%, tiểu mạch giảm 8,5%. Hai ngày sau, tại Hội nghị Vũ Xương, Mao nêu vấn đề “quá độ lên chủ nghĩa cộng sản”. Khắp mọi nơi, trên các bức tường ở đường phố nhiều áp phích chữ lớn như "Công xã Nhân dân, đó là gia đình của chúng ta. Không nên đặc biệt quan tâm đến gia đình nhỏ bé", "Cha mẹ là người gần gũi nhất, yêu thương nhất trên đời, nhưng làm sao có thể so với Mao Chủ tịch và Đảng Cộng sản", "Cuộc sống riêng tư là thứ yếu, vì thế phụ nữ không thể đòi hỏi chồng phải hiến dâng quá nhiều năng lực” kêu gọi công nhân, nông dân, viên chức và sinh viên học sinh hăng hái tăng gia làm việc và tình nguyện hưởng ít lương hơn. Người dân cùng nhau tập họp từ trong nhà ra đồng và từ ngoài đồng ngoan ngoãn theo lệnh người chỉ huy trở về làng. Xã hội tiến hành theo lối sống tập thể, những hình thức quan hệ cá nhân và xã hội có từ trước đều bị thủ tiêu. Tất cả đều là của chung, từ nhà đất, vườn tược đến cả bàn chải đánh răng cũng là của chung.
    Trong 8 tháng (từ 11/1958 đến 6/1959), Mao Trạch Đông triệu tập Hội nghị Trung ương 6 và Hội nghị Trung ương 7 khóa 8 cùng các Hội nghị Trịnh Châu, Vũ Xương, Thượng Hải để “tổng kết, rút kinh nghiệm”, đồng thời giải thích sự cần thiết phải cưỡng chế mấy chục triệu người làm gang thép, cũng như không cho nêu ý kiến khác đối với nhà ăn tập thể.
    Nhưng tại Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng họp ở Thượng Hải (từ 25/3 đến 1/4/1959), Bành Đức Hoài đã dám nói thẳng những điều mắt thấy, tai nghe. Theo đó, Đại nhảy vọt đã sai từ gốc rễ và hậu quả của nó chẳng những ảnh hưởng đến việc không có cách nào huấn luyện quân đội chuẩn bị chiến tranh, mà nghiêm trọng hơn là ảnh hưởng đến vận mệnh và tương lai của đất nước. Sau cuộc họp, Chu Ân Lai sợ Bành Đức Hoài quá thẳng thắn sẽ mang vạ vào thân nên đã gặp riêng để góp ý: Tình hình bây giờ không còn như thời kỳ chiến tranh, do đó phương pháp công tác và tư tưởng đều phải thay đổi cho phù hợp.
    Ngày 10/7/1959, Chủ tịch Mao Trạch Đông đã triệu tập cuộc gặp những người lãnh đạo địa phương để nhấn mạnh: Đảng chỉ có thể giải quyết các vấn đề của mình bằng sự thống nhất về tư tưởng, đường lối chung, Đại nhảy vọt để đuổi kịp nước Anh trong vòng 15 năm tới. Mao Trạch Đông quyết định triệu tập Hội nghị công tác tại Lư Sơn để khẳng định, phải kiên trì đường lối chung, Đại nhảy vọt, công xã nhân dân.
    Chiều 14/7/1959, “Thư gửi Chủ tịch” của Bành Đức Hoài được chuyển đến bàn làm việc của Mao và sau khi đọc kỹ ông đã chuyển Ban Thư ký Hội nghị in phát cho từng người, làm văn kiện của hội nghị.
    Từ ngày 17 đến 22/7/1959, các tổ thảo luận thư của Bành Đức Hoài và Mao Trạch Đông quyết định hy sinh Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng, nguyên soái thứ hai, anh hùng đánh thắng đế quốc Mỹ vì dám đề cập đến sai lầm của Đại nhảy vọt.
    Với tư cách cá nhân, ngày 14/7/1959, Bành Đức Hoài đã gửi cho Chủ tịch Mao Trạch Đông một lá thư viết tay khá dài, trong đó cho rằng, những lò luyện gang thép gia đình có những mặt tích cực và tiêu cực. Bởi đã huy động người để tìm kiếm những khoáng sản cần thiết cho việc luyện gang thép trong cả nước. Nhiều người lĩnh hội được kỹ thuật mới và cán bộ được trau dồi thêm khả năng tổ chức của họ. Nhưng một số lượng lớn người được huy động tìm kiếm khoáng sản đã dẫn đến tình trạng phung phí quá nhiều sức lao động. Bành Đức Hoài cho rằng, tiêu cực nhiều hơn tích cực, đồng thời nhấn mạnh, phải rút kinh nghiệm Đại nhảy vọt bởi kế hoạch này đã khuyến khích những khuynh hướng quá tả, bóp méo ghê gớm những con số thống kê trong sản xuất và sự lạc quan tếu, do đó Đảng phải phân định rạch ròi đúng sai và nâng nhận thức về tư tưởng lên một mức độ cao hơn nhằm tránh ảnh hưởng xấu đến sự thống nhất và những chính sách sau này của đảng.
    Được biết, mở đầu sự công kích của Bành Đức Hoài tại Hội nghị Lư Sơn là nhằm vào Mao Trạch Đông, sau đó là sự phản công của phái thân Chủ tịch chống lại Bành Đức Hoài để đưa Lâm Bưu lên giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng.
    Ngày 16/7/1959, mặc độc chiếc quần ngủ trắng, chân đi dép, không tất. Chủ tịch Mao Trạch Đông đã họp với Thường vụ Bộ Chính trị. Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức và Trần Vân là những thành viên duy nhất có mặt ở Lư Sơn lúc đó. Đặng Tiểu Bình và Lâm Bưu vắng mặt trong cuộc họp này vì bị ốm. Tại cuộc họp này, Chủ tịch Mao Trạch Đông đã chỉ trích bức thư của Bành Đức Hoài cùng lời đe dọa: Nếu đảng bị chia bè kéo cánh, ông sẽ thành lập một đảng mới của nông dân, nếu quân đội bị phân hóa, ông sẽ xây dựng một đội quân khác. Sau cuộc họp kể trên, lá thư của Bành Đức Hoài được gửi đến đảng bộ địa phương các cấp để thảo luận. Rất ít người dám đồng tình với Bành Đức Hoài, nhưng cũng có một vài người tỏ ra can đảm.
    Ngày 19/7/1959, Hoàng Khắc Thành, Tổng tham mưu trưởng và cũng là bạn thân của Bành Đức Hoài đã liên kết với Châu Tiểu Châu, Bí thư thứ nhất tỉnh Hồ Nam, người từ lâu lo ngại về cuộc khủng hoảng kinh tế, đã lên tiếng ủng hộ Bành Đức Hoài. Cả hai đều ca ngợi dụng ý của lá thư, tuy một số đoạn trong thư lời lẽ khá gay gắt. Ngoài ra còn có Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trương Văn Điền, người dám công kích quyết liệt phong cách lãnh đạo của Chủ tịch Mao Trạch Đông và Đại nhảy vọt trong một bài phát biểu dài vì cho rằng, thà nói lên sự thật rồi chết còn hơn sống thảm hại như một vật vô tri, vô giác.
    Ngày 23/7/1959, Chủ tịch Mao Trạch Đông lại triệu tập cuộc họp mở rộng Bộ Chính trị để lên án một số thành phần trong và ngoài đảng đang câu kết với nhau để công kích sự lãnh đạo của đảng, đồng thời bác bỏ từng điểm trong lá thư của Bành Đức Hoài. Bành Đức Hoài đã chất vấn Chủ tịch Mao Trạch Đông: Tại sao lại phân phát bức thư của mình cho những người tham dự cuộc họp mà không được sự đồng ý của ông, bởi lá thư này được gửi với tư cách cá nhân. Chủ tịch Mao Trạch Đông nói, Bành Đức Hoài không cấm ông làm chuyện này. Sau đó, một quyết định nghiêm khắc của đảng đã được thông qua, theo đó Bành Đức Hoài, Hoàng Khắc Thành, Châu Tiểu Châu, Trương Văn Điền bị quy là hữu khuynh. Tư tưởng bức thư của Bành Đức Hoài gửi Chủ tịch Mao Trạch Đông đã bị bóp méo đến mức không nhận ra. Phó thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng không phát biểu một lời nào chống đảng, chống Mao Trạch Đông, nhưng Chủ tịch lại đưa bức thư này ra như một bằng chứng của âm mưu thâm độc chống đảng. Do đó, Bành Đức Hoài và những người ủng hộ ông phải giải thích khi nào và với mục đích gì họ đã tham gia âm mưu chống đảng?
    Sáng 27/7/1959, Lưu Thiếu Kỳ họp các tổ trưởng truyền đạt chỉ thị của Mao Chủ tịch “tiếp tục phê phán tập đoàn chống đảng Bành Đức Hoài”. Uông Đông Hưng tuyên bố với lực lượng bảo vệ: Bành Đức Hoài không được tự tiện đi vào nơi ở của Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ. Với lời lẽ gay gắt, Lâm Bưu phê phán Bành Đức Hoài là kẻ có dã tâm, có âm mưu, độc đoán chuyên quyền, giả dối, háo danh, chẳng coi ai ra gì, lợi dụng hình thức thẳng thắn để mê hoặc người khác, trong và ngoài đảng, trong và ngoài nước bàn tán Bành Đức Hoài là phần tử đầu cơ…
    Ngày 16/8/1959, Hội nghị ra nghị quyết nêu rõ: Cần đưa Bành Đức Hoài, Trương Văn Thiên, Hoàng Khắc Thành, Chu Tiểu Châu ra khỏi các cương vị công tác của họ trong Bộ Quốc phòng, Ngoại giao và tỉnh Hồ Nam, song vẫn giữ các chức vụ của họ trong Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương. Hội nghị Lư Sơn chứng minh: Ai không đi theo Mao Chủ tịch, người đó sẽ mắc sai lầm.
    Ngày 17/8/1959, Mao Trạch Đông triệu tập Hội nghị công tác Bộ Chính trị, các cán bộ cấp cao có mặt tại Lư Sơn đều tham gia. Mao Trạch Đông chỉ nói về tầm quan trọng của lãnh tụ. Sau đó, theo gợi ý trước của Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ nói nhiều về sự cần thiết và đúng đắn của sùng bái cá nhân, phê phán Bành Đức Hoài. Bất chấp các nỗ lực phối hợp của lãnh đạo địa phương trong việc che đậy, nhưng sự thật vẫn bị phơi bày cho dù Chủ tịch Mao Trạch Đông đã đưa ra giải thích phục vụ mục đích của mình: Việc thiếu hụt thóc lúa là kết quả của sự trỗi dậy phản cách mạng ở nông thôn, địa chủ cũ và phú nông thông đồng để che giấu nhà nước về việc bội thu thóc lúa của họ. Tình hình phát triển tới mức nhiều lãnh đạo không hài lòng đối với chính sách của Chủ tịch Mao Trạch Đông. Nhưng Chủ tịch Mao Trạch Đông đã đảo ngược tình thế cho dù tại Hội nghị Lư Sơn hè năm 1959, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Bành Đức Hoài và “lão thần” Trương Văn Thiên chỉ trích Đại nhảy vọt.
    (Xem tiếp kỳ sau)
    Hồng Thất Công - Tuấn Quỳnh
    (Năng lượng Mới số 142, ra thứ Ba ngày 31/7/2012)
    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 10-08-2012 lúc 08:45 AM.

  8. #8
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Một chút sự thật về 'nhị đại' (Kỳ II)


    (Petrotimes) - Đại nhảy vọt tuy là một thảm họa bởi đã tạo ra nạn đói lớn giết chết hàng chục triệu người, kéo nền kinh tế đi xuống, nhưng vẫn đẻ ra “Cách mạng văn hóa”. Có người nói rằng “Cách mạng văn hóa” là thời kỳ cực tả điên cuồng nhất tại Trung Quốc.


    Kỳ II: "Cách mạng văn hóa" - Bước sửa sai của Đại nhảy vọt!
    Tháng 11/1956, Mao Trạch Đông tuyên bố chuẩn bị chỉnh phong, chống các bệnh chủ quan, bè phái, quan liêu. Ngày 27/4/1957, Trung ương Đảng chính thức ra chỉ thị tiến hành chỉnh phong. Ngày 30/4/1957, Mao Trạch Đông gặp lãnh đạo các đảng phái dân chủ và đại diện giới trí thức, động viên họ góp ý kiến, giúp chỉnh phong, sửa chữa khuyết điểm, sai lầm. Nhiều cuộc họp đã được tổ chức để lấy ý kiến phê bình. Đông đảo trí thức ngoài đảng từ giáo viên tiểu học tới giáo sư đại học, nhiều nhân vật có tên tuổi không những ở Trung Quốc mà cả trên thế giới đã thẳng thắn, chân thành, thiện chí chỉ ra những yếu kém, sai lầm của đảng từ trung ương đến địa phương. Nhưng khi nghe báo cáo thì Mao Trạch Đông lại nổi giận bởi ông chỉ định thông qua cuộc vận động này để từng bước xác lập vị trí lãnh đạo tư tưởng của mình trong giới trí thức, nhưng họ lại coi ông là “tiểu trí thức”.
    Thế là Mao Trạch Đông quyết tâm đánh đổ “những phần tử đại trí thức của giai cấp tư sản”. Theo thống kê, trong cuộc đấu tranh này, có 552.877 trí thức bị quy là phái hữu, bị đày đọa trong 20 năm. Đến khi sửa sai (1980), chỉ có 96 người thật sự là phái hữu, chiếm 1,8 phần vạn. Hậu quả của đường lối “ba ngọn cờ hồng” buộc các nhà lãnh đạo Trung Quốc phải tìm biện pháp để khắc phục. Trước tình hình khẩn cấp, Hội nghị Trung ương Vũ Xương (tháng 12/1958) đã thành lập các tổ sửa sai để sửa chữa những sai lầm do “Ba ngọn cờ hồng” gây nên và cử Lưu Thiếu Kỳ thay Mao Trạch Đông làm Chủ tịch nước. Từ đây trong nội bộ Đảng và Nhà nước, Chính phủ đã diễn ra những bất đồng và tranh chấp quyền lực rất quyết liệt, phức tạp giữa các phe phái.
    Ngày 3/9/1958, Mao Trạch Đông tuyên bố, sản lượng lương thực năm nay có thể tăng xấp xỉ gấp 2 lần năm ngoái, từ 185 triệu tấn lên khoảng 370 triệu tấn, nếu năm 1959 lại tăng gấp 2 lần năm nay, sẽ lên 750 triệu tấn. Nhưng sau vụ thu hoạch, đột nhiên các tỉnh báo cáo không nộp đủ lương thực như dự định khiến Mao Chủ tịch sốt ruột nên viết thông tri gửi toàn quốc với nhận định: Vấn đề phổ biến trong cả nước là đội trưởng sản xuất che giấu sản lượng, chia nhau lương thực, tình hình nghiêm trọng, phải giải quyết ngay. Hơn nữa, phải tiến hành một đợt giáo dục kiên quyết mới giải quyết được.

    Mao Trạch Đông cùng các lãnh đạo thời kỳ mới lập nước
    Mùa xuân 1960, nạn đói tràn lan, nhiều người chết đói hoặc bỏ đi nơi khác kiếm ăn, nhưng Bí thư Khu ủy Lộ Hiến Văn vẫn lên giọng: Không phải thiếu lương thực bởi lương thực rất nhiều, 90% là vấn đề tư tưởng. Lộ Hiến Văn chỉ thị cho cán bộ cơ sở và dân quân phong tỏa mọi nẻo đường, không cho dân chúng bỏ đi nơi khác, chỉ thị cho các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, trường học ở các thị trấn không được đón tiếp người từ vùng nông thôn lên. Bưu cục Tín Dương đã giữ lại trên một vạn lá thư của cán bộ và quần chúng xin cứu đói. Sau khi sự kiện Tín Dương bị phơi bày, để bảo vệ mình, Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Hà Nam Ngô Chi Phố đã ra lệnh bắt Lộ Hiến Văn cùng một số lãnh đạo khác, đồng thời cách chức 982 cán bộ cấp dưới, bắt và đưa ra xét xử 275 người, kết án tử hình Dương Thủ Tích, Bí thư Huyện ủy Cố Sử và Mã Long Sơn, Bí thư Huyện ủy Quang Sơn.
    Sự kiện kể trên làm chấn động Bắc Kinh, nhưng sau khi xem báo cáo Mao Chủ tịch định hướng: Đây là sự kiện phản cách mạng, do địa chủ, phú nông lọt lưới chui vào đội ngũ cách mạng, phá hoại quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất. Đại nhảy vọt tuy là một thảm họa bởi đã tạo ra nạn đói lớn giết chết hàng chục triệu người, kéo nền kinh tế đi xuống, nhưng vẫn đẻ ra “Cách mạng văn hóa”. Có người nói rằng “Cách mạng văn hóa” là thời kỳ cực tả điên cuồng nhất tại Trung Quốc. Giết chóc đã trở thành một cách đua tranh để người ta bày tỏ vị thế cách mạng của mình bởi mục đích chính của Chủ tịch Mao Trạch Đông trong việc này là tái chiếm quyền lực sau thất bại Đại nhảy vọt.
    Sau thất bại của Đại nhảy vọt, Mao Trạch Đông vẫn không từ bỏ dã tâm làm lãnh tụ cách mạng thế giới. Trong 5 năm (1957-1962), Trung Quốc đã viện trợ cho nước ngoài tổng cộng 2,36 tỉ NDT. Riêng trong 2 năm 1961-1962 là 1,37 tỉ NDT, nhưng Mao Trạch Đông vẫn không trở thành lãnh tụ của phong trào cộng sản quốc tế mới bởi họ chỉ thừa nhận Mao Trạch Đông là lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Trung Quốc.
    Trước khi “Cách mạng văn hóa” diễn ra, Trung Quốc chịu tác động rất lớn của tình hình thế giới, trong đó có cả tích cực và tiêu cực. Tích cực là thúc đẩy nhân dân nỗ lực xây dựng và củng cố đất nước về mọi mặt, còn tiêu cực là làm xuất hiện trong nội bộ đảng tư tưởng chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn gây hậu quả nghiêm trọng cho đất nước. “Cách mạng văn hóa” bùng nổ không phải là một lẽ ngẫu nhiên, mà là một quá trình tích hợp của nhiều yếu tố, trong đó mâu thuẫn nội tại có vai trò quyết định, thúc đẩy “Cách mạng văn hóa” diễn ra nhanh chóng hơn.
    “Cách mạng văn hóa” được chia làm 3 giai đoạn và đột phá khẩu là bài viết phê phán vở kịch “Hải Thụy bãi quan” của Ngô Hàm. Thất bại của Đại nhảy vọt trở thành cơn ác mộng của Mao Trạch Đông và nếu Lưu Thiếu Kỳ giơ tay hô to “Ba ngọn cờ hồng là sai lầm” thì toàn đảng, toàn dân sẽ cùng hỏi tội Mao Chủ tịch. Không thể ngồi chờ Lưu Thiếu Kỳ triệu tập Đại hội 9 để “thanh toán sai lầm của ba ngọn cờ hồng” nên Chủ tịch Mao quyết định phát động “Cách mạng văn hóa”.
    Sau Tết nguyên đán năm 1965, Giang Thanh xuống Thượng Hải gặp Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư thứ nhất Thành ủy Thượng Hải Kha Khánh Thi, phần tử tích cực của Đại nhảy vọt. Khi biết Mao Chủ tịch cần tổ chức viết bài phê phán Ngô Hàm để tiếp tục thanh toán Bành Đức Hoài, Kha Khánh Thi mừng lắm, lập tức giới thiệu Trương Xuân Kiều, Bí thư kiêm Trưởng ban Tuyên truyền Thành ủy Thượng Hải với Giang Thanh.
    Sau Quốc khánh năm 1965, Bành Chân gặp Mao Chủ tịch báo cáo công việc của Tổ “Cách mạng văn hóa” được thành lập từ tháng 7/1964 do ông làm Tổ trưởng, Lục Định Nhất làm Tổ phó, ba thành viên còn lại là Khang Sinh, Chu Dương và Ngô Lãnh Tây. Đồng thời can ngăn Mao Chủ tịch đừng phê phán Ngô Hàm bởi ông là chuyên gia sử học, Phó thị trưởng Bắc Kinh, một trí thức được Bành Chân đánh giá là trung thành với đảng, nhưng bất thành.
    Sau khi Mao Trạch Đông sửa đến lần thứ ba, ngày 7/11/1965, bài bình vở kịch lịch sử “Hải Thụy bãi quan” ký tên Diêu Văn Nguyên được đăng trên tờ “Văn Hối” Thượng Hải. Vì bảo vệ Ngô Hàm nên Bành Chân đã bị Mao Chủ tịch hạ bệ, Thành ủy Bắc Kinh và Ban Tuyên truyền Trung ương tê liệt, Tổ “Cách mạng văn hóa” 5 người kể trên bị giải tán. Tổ “Cách mạng văn hóa” mới được thành lập với 13 thành viên, gồm Tổ trưởng Trần Bá Đạt, cố vấn Khang Sinh, Tổ phó thứ nhất Giang Thanh, Tổ phó Vương Nhiệm Trọng, Lưu Chí Kiên, Trương Xuân Kiều… Nhưng qua mấy lần thử việc, Giang Thanh đã đuổi hết những người không vừa ý, chỉ để lại Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Vương Lực, Quan Phong, Thích Bản Vũ trong Tổ “Cách mạng văn hóa” mới.
    Tối 26/11/1965, Giang Thanh gặp La Thụy Khanh, yêu cầu giúp tổ chức cuộc tọa đàm về tình hình văn nghệ trong quân đội, cấp cho bà quân phục và cho đăng lại bài của Diêu Văn Nguyên phê “Hải Thụy bãi quan”, nhưng chỉ được đáp ứng yêu cầu thứ 3 nên rất tức giận. Vì việc này nên mới có cuộc hội kiến giữa Mao Chủ tịch với Lâm Bưu đêm 1/12/1965 và số phận của Lưu Thiếu Kỳ, Bành Chân và La Thụy Khanh được định đoạt.
    Tại Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị mở rộng tại Thượng Hải (từ 8 đến 15/12/1965), Diệp Quần đăng đàn tố cáo La Thụy Khanh âm mưu cướp quyền lãnh đạo quân đội, ép Lâm Bưu nhường ghế Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Hội nghị ra quyết định tước hết chức vụ của La Thụy Khanh (Bí thư Trung ương Đảng, Phó thủ tướng, Tổng tham mưu trưởng) cho dù “bị cáo” đang đi kiểm tra công tác ở biên giới Tây Nam. Khi nhận được thông báo, La Thụy Khanh cùng vợ đáp máy bay đến Thượng Hải liền bị giam lỏng ngay.
    Ngày 4/3/1966, Quân ủy Trung ương lập Tổ chuyên án thẩm tra, phê đấu La Thụy Khanh khiến ông tức quá, ngày 18/3/1966, ông nhảy lầu tự sát, nhưng chỉ bị gãy chân. Tháng 4/1966, Mao Trạch Đông yêu cầu họp Bộ Chính trị mở rộng để giải quyết “vấn đề Bành Chân, Lục Định Nhất, La Thụy Khanh, Dương Thượng Côn” bởi Chủ tịch nắm quân đội, quyết tâm dùng “súng chỉ huy đảng” khi cần thiết.
    Ngày 4/5/1966, Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng họp tại Bắc Kinh, các thành viên Tổ “Cách mạng văn hóa” trung ương đều tham gia. Sau khi chắc chắn thao túng được Ban Chấp hành Trung ương, Mao Chủ tịch ra lệnh triệu tập Hội nghị Trung ương 11 khóa 8 (từ 1 đến 12/8/1966). Trước cuộc họp, Mao Chủ tịch gọi Chu Ân Lai, Đào Chú, Trần Bá Đạt, Khang Sinh đến hỏi ý kiến về người thay thế Lưu Thiếu Kỳ và mọi người nhất trí chọn Lâm Bưu. Tại cuộc họp Thường vụ Bộ Chính trị, Mao Chủ tịch tuyên bố muốn thay người kế vị và giới thiệu Lâm Bưu. Lưu Thiếu Kỳ sớm nhìn ra nước cờ này nên tán thành ngay.
    Theo Nghị quyết hôm 12/8/1966 của Hội nghị lần thứ 11 khóa 8, tất cả những đảng viên và quan chức chính phủ đi theo con đường tư bản chủ nghĩa đều bị “đánh” và nhiều lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội từ trung ương đến địa phương đã bị cáo buộc đang thực hiện “chế độ độc tài của giai cấp tư sản”. “Cách mạng văn hóa” đã khiến cho bộ máy hành chính Trung Quốc tê liệt. Một số cơ quan “cách mạng” mới được thành lập như Hồng vệ binh được toàn quyền “phá hoại, tra tấn và sỉ nhục” khiến trường học bị đóng cửa, kinh tế gián đoạn, nhiều đảng viên bị thanh trừng, giới trí thức bị đàn áp. Đối với hàng triệu Hồng vệ binh, “Cách mạng văn hóa” là đợt nghỉ lễ kéo dài. Theo số liệu thống kê, số nạn nhân trong thời kỳ “Cách mạng văn hóa” lên tới khoảng 100 triệu người.
    Ngày 18/8/1966, Hội nghị Trung ương XI khóa VIII chính thức thông qua quyết định của Bộ Chính trị về “Cách mạng văn hóa” (gọi tắt là Nghị quyết 16 điều). Đây là văn kiện chính thức đầu tiên của Ban Chấp hành Trung ương về “Cách mạng văn hóa”. Theo đó, tất cả trường trung học và đại học ở Bắc Kinh đều thành lập Hồng vệ binh và phong trào này nhanh chóng lan ra cả nước.
    Theo thống kê, từ 18/8 đến 26/11/1966, Mao Chủ tịch đã 8 lần tiếp tổng cộng 13 triệu Hồng vệ binh từ các nơi trong cả nước đến Bắc Kinh. Theo luận điểm của Mao Trạch Đông, “Cách mạng văn hóa” là một cuộc cách mạng nhằm phát động quảng đại quần chúng một cách công khai, toàn diện, từ dưới lên trên nhằm đập tan lực lượng phản động theo chủ nghĩa tư bản trong chính phủ, quân đội và nhiều tầng lớp xã hội khác.
    Mười năm “Cách mạng văn hóa” đã tàn phá không thương tiếc những thành tựu mà nhân dân Trung Quốc đã tạo dựng trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội… để lại nhiều di hại có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của nhân dân Trung Quốc suốt một thời gian khá dài. Trong thời kỳ “Cách mạng văn hóa”, Trung Quốc cũng áp dụng chính sách đối ngoại bạo lực: Hồng vệ binh làm mưa làm gió trước Đại sứ quán Liên Xô tại Bắc Kinh, gây căng thẳng trên tuyến biên giới với Liên Xô dẫn đến xung đột vũ trang. Thậm chí Trung Quốc còn coi Liên Xô là kẻ thù chính của Trung Quốc, là pháo đài của chủ nghĩa xét lại.

    Lưu Thiếu Kỳ - Mao Trạch Đông
    Sau khi nắm được đại cục, Tổ “Cách mạng văn hóa” thọc tay vào quân đội khiến Lâm Bưu giãy nảy và cuộc đấu đá nhằm vào các tướng lĩnh nổ ra. Từ 25/2 đến 18/3/1967, Bộ Chính trị mở rộng họp 7 lần, phê phán Trần Nghị, Đàm Chấn Lâm, Từ Hướng Tiền, Lý Phú Xuân, Lý Tiên Niệm, Diệp Kiếm Anh, Nhiếp Vinh Trăn. Giang Thanh chỉ huy việc đấu tố 7 người kể trên, đồng thời tổ chức các cuộc biểu tình thị uy trên đường phố Bắc Kinh chống “Dòng nước ngược tháng 2”.
    Sự kiện này khiến 4 nguyên soái và 3 Phó thủ tướng trong tình trạng “nửa bị đánh đổ”. Câu nói của Mao Chủ tịch “vị trí của Lâm Bưu cũng không vững” đã ly gián quan hệ giữa Lâm Bưu với các nguyên soái khác, xóa bỏ sự tồn tại Lâm Bưu liên minh với Diệp Kiếm Anh, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn để làm đối trọng với Tổ “Cách mạng văn hóa”. Nhưng khi Lâm Bưu chĩa mũi nhọn vào Từ Hướng Tiền và Phương diện quân số 4 thì Mao Chủ tịch lại đứng ra bảo vệ khiến Lâm Bưu bị cô lập trong quân đội. Trong “Cách mạng văn hóa”, Lâm Bưu từng nói một câu nổi tiếng: Không biết mấy trăm năm nữa Trung Quốc mới có một Mao Chủ tịch vĩ đại!
    Ngày 1/8/1967 nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập quân đội Trung Quốc, tuy Lâm Bưu là Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nhưng Mao Chủ tịch lại giao cho Quyền Tổng tham mưu trưởng Dương Thành Vũ đọc diễn văn tại tiệc chiêu đãi. Xã luận của tạp chí Hồng Kỳ ngày 1/8/1967 viết: Quân đội do Mao Trạch Đông đích thân sáng lập, Lâm Bưu trực tiếp chỉ huy. Khi đọc những dòng chữ này Mao Chủ tịch sầm mặt và chỉ thị cho Chu Ân Lai truyền đạt cho Tổ “Cách mạng văn hóa” việc phải thay đổi phương châm cách mạng văn hóa trong quân đội.
    Ngày 22/8/1967, Mao Chủ tịch bảo Dương Thành Vũ: Vương Lực, Quan Phong, Thích Bản Vũ phá hoại “Cách mạng văn hóa”, không phải người tốt, cần báo cáo riêng với Chu Ân Lai để bắt 3 tên đó, yêu cầu Thủ tướng phụ trách xử lý. Dương Thành Vũ mấy lần theo Mao Chủ tịch đi các tỉnh, thực hiện các chỉ thị của Chủ tịch, mỗi lần về Bắc Kinh chỉ báo cáo Chu Ân Lai, không báo cáo Lâm Bưu khiến ông ta không thể chấp nhận.
    Tới tháng 3/1968, Lâm Bưu cùng Giang Thanh ép Mao Trạch Đông tán thành đánh đổ Quyền Tổng tham mưu trưởng Dương Thành Vũ, cử Hoàng Vĩnh Thắng, Tư lệnh Đại quân khu Quảng Châu làm Tổng tham mưu trưởng.
    Ngày 12/12/1972, Mao Chủ tịch triệu tập cuộc họp Bộ Chính trị, kiến nghị để Đặng Tiểu Bình tham gia Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và giữ chức Tổng tham mưu trưởng. Mao Chủ tịch không những muốn Đặng Tiểu Bình thay thế Lâm Bưu, mà còn muốn thay thế Chu Ân Lai. Bởi Mao Chủ tịch biết rõ Chu Ân Lai là trở ngại lớn nhất trong việc hoàn thành bố cục gia đình trị.
    Ngày 9/4/1973, khi vợ chồng Đặng Tiểu Bình đến thăm Chu Ân Lai ở núi Ngọc Tuyền, Thủ tướng đã cho Đặng Tiểu Bình biết những hiểm ác của môi trường công tác, đồng thời nói rõ: Trương Xuân Kiều là tên phản bội, nhưng Mao Chủ tịch không cho điều tra. Mao Trạch Đông hy vọng, Đặng Tiểu Bình có thể hợp tác với Giang Thanh bởi Chủ tịch không có cách nào giải thích với toàn đảng và toàn dân về 8 năm “Cách mạng văn hóa” đã làm chết và đánh đổ bao nhiêu cán bộ.
    Nhưng ngay từ đầu Đặng Tiểu Bình đã không nghĩ đến việc hợp tác với “bè lũ bốn tên”. Sau khi bị ép tỏ thái độ về việc phê bình Chu Ân Lai trong sự kiện “tàu vận tải Phong Khánh 10.000 tấn” cuối tháng 9/1974, Đặng Tiểu Bình đã to tiếng với Giang Thanh và đó là xung đột công khai đầu tiên giữa 2 người sau khi Đặng Tiểu Bình trở lại công tác. Lập tức Giang Thanh cử Vương Hồng Văn báo cáo với Mao Trạch Đông, nhưng sau khi nghe xong Chủ tịch liền phê bình ngay. Sau đó, Mao Chủ tịch còn nói với Vương Hải Dung: Giang Thanh có dã tâm, muốn để Vương Hồng Văn làm Chủ tịch Quốc hội để mình làm Chủ tịch Đảng. Sau đó, mặc dù nằm trên giường bệnh, Mao vẫn chỉ thị: Tước mọi chức vụ của Đặng Tiểu Bình, để Hoa Quốc Phong làm Thủ tướng. Việc này diễn ra sau khi Mao Viễn Tân báo cáo với Chủ tịch: Cháu thấy thái độ của Đặng Tiểu Bình đối với “Cách mạng văn hóa” rất không bình thường.
    Ngày 25/3/1976, Giang Thanh tự ý triệu tập cuộc họp những người lãnh đạo 12 tỉnh và thành phố và gọi Đặng Tiểu Bình là “bậc thầy phản cách mạng”, “đại Hán gian”, “đại diện cho giai cấp tư sản mại bản và địa chủ”.
    Nhưng ngày 7/4/1976, để phòng ngừa “bè lũ bốn tên” xúi giục phái tạo phản hãm hại Đặng Tiểu Bình nên Mao chỉ thị Uông Đông Hưng di chuyển vợ chồng ông đến một nơi ở bí mật, bảo vệ nghiêm ngặt. Sở dĩ Mao làm như vậy vì Chủ tịch biết Đặng Tiểu Bình có cơ sở vững chắc trong quân đội, có cơ sở xã hội, được quân đội bảo vệ.
    Ngày 15/6/1976, khi biết bệnh nặng khó qua, Mao gọi Giang Thanh, Hoa Quốc Phong, Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Uông Đông Hưng và Vương Hải Dung đến dặn dò. Mao rất chú trọng tên tuổi của mình sau khi chết bởi Lưu Thiếu Kỳ từng nói với Chủ tịch: Để xảy ra thảm kịch người ăn thịt người, ông và tôi sẽ bị ghi vào sử sách. Có học giả thống kê, số người chết đói dưới thời Mao còn nhiều hơn tổng số người chết đói trong hơn 2.000 năm dưới mọi triều đại, nên mỗi khi nghĩ đến điều này, Chủ tịch lại rùng mình ớn lạnh.
    (Xem tiếp kỳ sau)
    Hồng Thất Công - Tuấn Quỳnh
    (Năng lượng Mới số 143, ra thứ Sáu ngày 3/8/2012)
    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 10-08-2012 lúc 09:02 AM.

  9. #9
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Một chút sự thật về 'nhị đại' (Kỳ III)


    (Petrotimes) - Theo đánh giá của Trần Vân, một trong những “đại thần nguyên lão” thì Mao Trạch Đông dựng nước có công, xây dựng mắc sai lầm và có tội trong “Cách mạng văn hóa”.


    Kỳ III: Những cái chết gây chấn động dư luận
    Mặc dù là nhân vật thứ 4 trong Thường vụ Bộ Chính trị (giữ các chức vụ: Thường trực Ban Bí thư, Phó thủ tướng, Trưởng ban Tuyên truyền, Cố vấn Tổ “Cách mạng văn hóa”), nhưng Đào Chú, lão thần với biệt danh “con trâu có cặp sừng mạnh, dám chọi lại bất cứ ai”, người từng phê bình Lưu Thiếu Kỳ, vẫn bị loại sau khi Giang Thanh thấy “ngứa mắt”. Một trong những sai lầm của Đào Chú là chỉ coi Tổ “Cách mạng văn hóa” là một tổ chức lâm thời của Bộ Chính trị, phản cảm với Giang Thanh, muốn khôi phục hoạt động của Ban Bí thư.
    Sau khi bị đấu tố, Đào Chú bị đánh thương tích đầy người vì dám phản kháng lại Hồng vệ binh. Đầu tháng 8/1968, các bác sĩ phát hiện Đào Chú bị ung thư tuyến tụy phải cắt tá tràng. Trong khi cơ thể chưa bình phục, nhưng ngày 18/10/1969, ông vẫn bị đưa đi đày ở An Huy nên chỉ 43 ngày sau thì ông qua đời. Việc Đào Chú bị đánh đổ với tội danh “phái bảo hoàng lớn nhất” đã khiến không ai dám đứng ra bảo vệ các đảng ủy nữa. Bí thư Tỉnh ủy và Tỉnh trưởng bị cô lập hoàn toàn, bộ máy đảng và chính quyền các cấp bị Hồng vệ binh đánh cho tơi tả.
    Sau khi khai hỏa “Cách mạng văn hóa”, Mao Chủ tịch bỏ xuống Hàng Châu nghỉ ngơi, mặc cho Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình chủ trì công tác trung ương. Đây là một âm mưu lớn bởi Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình làm kiểu gì cũng sai, cũng bị Mao Chủ tịch nắm thóp. Khi Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình bị đánh đổ, Ban Bí thư tê liệt, Mao Chủ tịch đã lấy Tổ “Cách mạng văn hóa” Trung ương thay thế Ban Bí thư, vị trí và vai trò thực tế của Giang Thanh tương đương Tổng Bí thư.
    Sau Hội nghị Trung ương 11 khóa 8, đông đảo cán bộ và quần chúng không sao hiểu nổi việc Mao Trạch Đông phát động “Cách mạng văn hóa” và phê phán đường lối tư sản phản động của Lưu Thiếu Kỳ. Nhưng trước sức ép của Hồng vệ binh, Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình buộc phải thừa nhận “mắc sai lầm về đường lối”. Hồng vệ binh Đại học Thanh Hoa đã tổ chức đại hội phê phán Vương Quang Mỹ, vợ Lưu Thiếu Kỳ cùng hơn 300 cán bộ thuộc “phái đi con đường tư bản chủ nghĩa” trong đó có Bành Chân, Bạc Nhất Ba, Lục Định Nhất, Tưởng Nam Tường. Lưu Thiếu Kỳ bị giam ngay trong Văn phòng Chủ tịch nước bởi Mao muốn giày vò ông trước mắt mình, muốn thấy ông từng bước suy sụp về tinh thần và thể chất cho dù ông vẫn là Chủ tịch nước.

    Mao Trạch Đông - Lâm Bưu thời kỳ Đại cách mạng văn hóa
    Từ ngày 13 đến 31/10/1968, Hội nghị Trung ương 12 khóa 8 họp tại Bắc Kinh. Trong 97 ủy viên Trung ương khóa 8 có 10 người chết, 47 người bị đánh đổ, chỉ còn 40 người đến họp. Mao Chủ tịch đã bổ sung thêm 10 ủy viên dự khuyết lên chính thức cho quá bán (50/97). Mao Trạch Đông chủ trì hội nghị, thông qua báo cáo thẩm tra về “tội ác” của Lưu Thiếu Kỳ do Giang Thanh đệ trình. Dưới sức ép của Mao Chủ tịch và Lâm Bưu, bằng cách giơ tay biểu quyết, Hội nghị “nhất trí thông qua nghị quyết vĩnh viễn khai trừ Lưu Thiếu Kỳ ra khỏi đảng”, chỉ có một phụ nữ không giơ tay là bà Trần Thiếu Mẫn, Phó chủ tịch Tổng Công hội Trung Quốc.
    Nghị quyết công bố ngày 31/10/1968, nhưng ngày 24/11/1968, đúng sinh nhật lần thứ 70 của Lưu Thiếu Kỳ, Giang Thanh mới cho công bố băng ghi âm nghị quyết này khiến Chủ tịch nước run bắn toàn thân, mồ hôi ra đầm đìa, thở dốc, huyết áp đột ngột lên 260/130, sốt cao tới 40oC.
    Tối 17/10/1969, Lưu Thiếu Kỳ trong tình trạng bệnh nặng nhưng vẫn bị cáng ra máy bay quân sự, bí mật đưa đến Khai Phong và nơi giam giữ cuối cùng của Chủ tịch nước là kho bạc cũ của một ngân hàng trước năm 1949. Hai trung đội được cử canh giữ ngày đêm cùng 4 khẩu súng máy đặt trên các nóc nhà xung quanh đề phòng bất trắc. 6 giờ 40 phút sáng 12/11/1969, Lưu Thiếu Kỳ qua đời trong tình trạng không được cấp cứu. Khi vệ sĩ Lý Thái Hòa của Chủ tịch nước đến nhận xác, thi hài Lưu Thiếu Kỳ đặt trên nền đất dưới gian hầm, chân tay khẳng khiu, đầu tóc rối bời, miệng mũi méo xệch, máu ứ bên khóe mép. Sau đó, người ta đặt thi hài Lưu Thiếu Kỳ trên xe quân sự nhỏ, chân thò ra ngoài, bí mật đưa đi hỏa táng, dưới cái tên “Lưu Vệ Hoàng, không nghề nghiệp”. Gần 3 năm sau, ngày 16/8/1972, mấy người con của Lưu Thiếu Kỳ xin thăm bố mẹ, Mao Trạch Đông phê vào báo cáo: Bố đã chết, có thể thăm mẹ.
    Mối quan hệ và liên minh giữa Mao Trạch Đông và Lâm Bưu bị rạn nứt và trở mặt sau khi lợi ích của họ mâu thuẫn với nhau. Ngòi nổ cho việc Mao Trạch Đông và Lâm Bưu chống nhau đến từ việc Lâm Bưu để con trai Lâm Lập Quả mới 23-24 tuổi trở thành “lãnh tụ tương lai”. Sau khi nghe báo cáo về tình hình Không quân tâng bốc Lâm Lập Quả, Mao Chủ tịch cho gọi Giang Thanh, Khang Sinh, Trương Xuân Kiều đến thư phòng để tính kế.
    Ngày 8/3/1970, Uông Đông Hưng truyền đạt với Bộ Chính trị ý kiến của Mao Chủ tịch về việc họp Quốc hội bầu lãnh đạo nhà nước, sửa đổi hiến pháp. Theo đó, Mao Chủ tịch dứt khoát không làm Chủ tịch nước; nếu đặt chức Chủ tịch nước chỉ có Lâm Bưu đảm đương chức vụ này; hoặc tốt nhất không đặt chức Chủ tịch nước nữa.
    Ngày 11/4/1970, Lâm Bưu nêu 3 ý kiến với Thường vụ Bộ Chính trị: Kiến nghị Mao Trạch Đông làm Chủ tịch nước; về chức danh Phó chủ tịch, có thể đặt, có thể không, có thể nhiều, có thể ít; bản thân không thích nghi với chức Phó chủ tịch. Sau khi Mao Trạch Đông và Lâm Bưu trở mặt thành thù, Lâm Bưu đã nói với gia đình: Mọi người không thấy hắn (Mao Chủ tịch) giống một tên lưu manh sao! Nếu sau này ta thua hắn, thì chỉ thua ở chỗ không đủ lưu manh bằng hắn mà thôi!
    Trước cuộc họp chính thức tại Hội nghị Lư Sơn tháng 8-1970, Lâm Bưu đã có cuộc nói chuyện riêng rất dài với Mao Chủ tịch và vẫn cho rằng, Giang Thanh giới thiệu Trương Xuân Kiều làm Thủ tướng, để làm Chủ tịch Đảng là dã tâm của bà ta, chứ không phải ý đồ của Mao Chủ tịch.
    Ngày 6/11/1970, Mao Chủ tịch cho công bố quyết định thành lập Tổ Tuyên truyền - Tổ chức Trung ương do Khang Sinh làm Tổ trưởng cùng 5 thành viên: Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Kỷ Đăng Khuê và Lý Đức Sinh với nhiệm vụ phụ trách công tác của Ban Tổ chức Trung ương, Trường Đảng Trung ương, Nhân dân nhật báo, Tạp chí Hồng Kỳ, Tân Hoa Xã, Cục Phát thanh - Truyền hình, Quang minh nhật báo, Cục Biên dịch Trung ương. Đây chính là Tổ “Cách mạng văn hóa” bị xóa sau Đại hội 9 nay sống lại dưới tên gọi khác.
    Sau thất bại ở Hội nghị Lư Sơn, Lâm Bưu muốn sử dụng vũ lực để chiếm quyền và việc này càng trở nên cấp bách sau quyết định cải tổ Đại quân khu Bắc Kinh ngày 24/1/1971 của Mao Chủ tịch.
    21 giờ ngày 8/9/1971, Lâm Lập Quả lên máy bay Trident số 256 về Bắc Kinh, mang theo lệnh viết tay của Lâm Bưu: “Làm theo mệnh lệnh do các đồng chí Lâm Lập Quả và Vũ Trì truyền đạt”.
    23 giờ 30 ngày 8/9/1971, tại cứ điểm bí mật trong sân bay Tây Giao (Bắc Kinh), Lâm Lập Quả thông báo quyết định của Lâm Bưu: Tình hình rất khẩn cấp, chúng ta đã quyết định ra tay tại Thượng Hải, đề nghị nghiên cứu 3 biện pháp: dùng súng phun lửa, B.40 tấn công đoàn tàu hỏa của Mao, của Lâm Bưu, hoặc dùng pháo cao xạ 100 ly bắn thẳng vào chuyên xa, hoặc điều Vương Duy Quốc mang theo súng ngắn, nhân lúc gặp Mao Chủ tịch để hạ thủ trên xe lửa. Sau đó, Lâm Lập Quả quay sang nói với Giang Đằng Giao: Ông phải xuống ngay Thượng Hải thống nhất chỉ huy, để Vương Phi chỉ huy tiểu đoàn cảnh vệ trực thuộc Bộ Tư lệnh Không quân đánh vào Điếu Ngư Đài.
    Trong khi Lâm Bưu “mài dao”, Mao Chủ tịch cũng cho gọi Tư lệnh Đại quân khu Nam Kinh Hứa Thế Hữu đến ngay Thượng Hải. Sáng 11/9/1971, Hứa Thế Hữu vừa xuống máy bay liền cùng Vương Hồng Văn tới gặp Mao Chủ tịch.
    13 giờ 12 phút ngày 11/9/1971, Mao Chủ tịch ra lệnh đoàn tàu lập tức rời Thượng Hải chạy như bay trên tuyến đường sắt Phố Khẩu - Thiên Tân, không cho một ai biết khiến Vương Duy Quốc và đồng đảng không kịp trở tay bởi họ còn đang do dự, đùn đẩy nhau về các phương án mưu sát.
    18 giờ 35 phút đoàn tàu đến Nam Kinh, dừng lại 15 phút, Hứa Thế Hữu đứng trên sân ga chỉ huy bảo vệ đoàn tàu.
    13 giờ 10 phút ngày 12/9/1971, đoàn tàu về đến ga Phong Đài và khi đó Tư lệnh Đại quân khu Bắc Kinh Lý Đức Sinh, Chính ủy thứ hai Kỷ Đăng Khuê, Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng Bắc Kinh Ngô Đức, Tư lệnh khu cảnh vệ Bắc Kinh Ngô Trung đã có mặt. Sau khi hỏi tình hình, Mao Chủ tịch ra lệnh cho Lý Đức Sinh điều một sư đoàn thuộc Quân đoàn 38 đến cửa Nam Bắc Kinh chờ lệnh.
    16 giờ 5 phút ngày 12/9/1971, đoàn tàu về đến ga Bắc Kinh trong sự bảo vệ nghiêm ngặt và Mao Chủ tịch lên ôtô về Trung Nam Hải an toàn.

    Chu Ân Lai
    Sau khi biết tin từ Vương Duy Quốc (đêm 11/9/1971), Lâm Lập Quả bật khóc, còn Lâm Bưu tái mặt bởi kế hoạch mưu sát Mao Trạch Đông đã hoàn toàn phá sản. Lâm Bưu quyết định thực hiện phương án 2: đem theo 5 ủy viên Bộ Chính trị xuống Quảng Châu lập Trung ương riêng để đối kháng với Mao Chủ tịch. Tám máy bay, trong đó có 2 chiếc Trident, 2 chiếc Il-18, 1 chiếc lên thẳng Skylark được chuẩn bị để thực thi phương án này. Uông Đông Hưng báo cáo với Chu Ân Lai khi đó đang họp tại trụ sở Quốc hội về tình hình đột biến của Lâm Bưu khiến Thủ tướng cho ngừng ngay cuộc họp để gọi điện bảo Ngô Pháp Hiến làm rõ những động thái của cha con họ Lâm.
    Sau đó Chu Ân Lai gọi điện cho Lý Tác Bằng yêu cầu: Phải có 4 người Chu Ân Lai, Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến và Lý Tác Bằng cùng ra lệnh, chiếc máy bay ở Sơn Hải Quan mới được cất cánh. Cú điện thoại kể trên của Chu Ân Lai đã phá tan âm mưu của Lâm Bưu chạy xuống Quảng Châu lập Trung ương riêng. Sau khi biết đã hết đường, Lâm Bưu yêu cầu mọi người trong gia đình và thuộc hạ nhanh chóng lấy đồ đạc để đào tẩu. Chiếc xe Hồng Kỳ chống đạn cỡ lớn của Lâm Bưu lao với tốc độ trên 100 km/giờ rời biệt thự và 14 phút sau, chiếc Trident số 256 chở gia đình Lâm Bưu và thuộc hạ do phi công Phan Cảnh Diễn điều khiển cất cánh bay về hướng Irkutsk, trong tình trạng không có lái phụ, hoa tiêu và nhân viên báo vụ.
    Sân bay điện báo cáo Lý Tác Bằng và sau khi biết chuyện Chu Ân Lai đã lệnh cho Sở chỉ huy Không quân liên lạc với Phan Cảnh Diễn, yêu cầu bay trở lại. 1 giờ 50 sáng ngày 13/9/1971, chiếc Trident số 256 vượt biên giới, bay vào vùng trời Mông Cổ. Chu Ân Lai ra lệnh cấm không một máy bay nào được cất cánh, nếu không có lệnh của Chủ tịch Mao Trạch Đông, Phó chủ tịch Lâm Bưu, Thủ tướng Chu Ân Lai, Tổng tham mưu trưởng Hoàng Vĩnh Thắng và Tư lệnh Không quân Ngô Pháp Hiến liên danh ký tên.
    Chiều 14/9/1971, Thủ tướng Chu Ân Lai nhận được báo cáo của Đại sứ Trung Quốc tại Mông Cổ: khoảng 3 giờ sáng 13/9/1971, chiếc máy bay Trident số hiệu 256 của Hãng Hàng không Dân dụng Trung Quốc đã bị rơi tại Mông Cổ, cả 9 người trên máy bay đều chết.
    Ngày 6/1/1972, Nguyên soái Trần Nghị từ trần vì bệnh ung thư, tang lễ được tổ chức vào chiều 10/1. Vì có Mao Chủ tịch dự nên sau khi biết tin Chu Ân Lai đã quyết định nâng cấp lễ tang và báo cho tất cả ủy viên Bộ Chính trị có mặt tại Bắc Kinh cùng đi. Ban đầu Mao Trạch Đông nghi ngờ Trần Nghị ăn ở hai lòng, nhưng sau cái chết của Lâm Bưu, Chủ tịch mới thay đổi cách nhìn đối với Nguyên soái. Nhưng vì “đại cục” nên Mao Trạch Đông vẫn không đứng ra bảo vệ Trần Nghị.
    Ngày 26/12/1974, Chu Ân Lai gặp riêng Mao Trạch Đông để nói: Trong lịch sử Giang Thanh và Trương Xuân Kiều đều đã phản bội và Chủ tịch tỏ ý đã biết. Và 2 người đạt được thỏa thuận: Mao Trạch Đông bảo đảm quyền lãnh đạo của chính phủ khóa này không rơi vào tay “Bè lũ bốn tên” và Chu Ân Lai giữ kín vấn đề lịch sử của Giang Thanh, Trương Xuân Kiều.
    Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa 4 đã bầu Chu Đức làm Chủ tịch Quốc hội, Chu Ân Lai làm Thủ tướng cùng 12 Phó thủ tướng, đứng đầu là Đặng Tiểu Bình. Vì muốn loại bỏ Chu Ân Lai nên sau khi bác sĩ phát hiện Thủ tướng bị ung thư tế bào thượng bì bàng quang, thông qua Uông Đông Hưng, Mao yêu cầu: Phải giữ kín, không cho vợ chồng Thủ tướng biết; Không kiểm tra; Không phẫu thuật; Tăng cường chăm sóc và dinh dưỡng. Vì việc điều trị bị buông trôi tới 9 tháng nên đến tháng 2/1973, Chu Ân Lai tiểu tiện ra máu rất nhiều khiến Diệp Kiếm Anh phải gặp Mao trình bày. Tuy miễn cưỡng cho điều trị, nhưng Mao lại hạn chế các biện pháp trị liệu nên thượng tuần tháng 5/1974, tế bào ung thư di căn, cần nhập viện phẫu thuật. Nhưng Trương Xuân Kiều thay mặt Mao tuyên bố: Không thể phẫu thuật vì không ai có thể làm thay công tác của Chu Ân Lai khi đó.
    Mãi đến 1/8/1974, Chu Ân Lai mới được đưa vào Bệnh viện 305 để phẫu thuật. Tuy đã cắt hết khối u, vết mổ mau lành, nhưng chỉ 2 tháng sau, Chu Ân Lai lại đi tiểu ra nhiều máu, dấu hiệu tế bào ung thư tiếp tục di căn.
    Ngày 8/10/1974, Chu Ân Lai phải phẫu thuật lần hai và sau khi nghe báo cáo, Mao biết rằng những ngày còn lại của Thủ tướng không nhiều. Để thực hiện giấc mơ gia đình trị, Mao Trạch Đông quyết không cho Chu Ân Lai yên tâm dưỡng bệnh, liên tiếp tổ chức đả kích, muốn ông phải ra đi trong sợ hãi. Nhưng “sự kiện ngày 5/4/1975” trên thực tế là một cuộc bỏ phiếu toàn dân “cần Chu Ân Lai, không cần Mao Trạch Đông”. Trước khi bước vào cuộc phẫu thuật lần thứ 4, Chu Ân Lai nắm chặt tay Đặng Tiểu Bình, ráng sức nói lớn trước mặt mọi người: Công tác hơn một năm qua chứng tỏ đồng chí mạnh hơn tôi rất nhiều.
    Khi bánh xe lăn tới sát cửa phòng mổ, Chu Ân Lai dùng hết sức bình sinh nói: Tôi trung thành với Đảng, trung thành với nhân dân, không phải là phái đầu hàng. Đứng bên chồng, Đặng Dĩnh Siêu bình tĩnh nói với Uông Đông Hưng: Đem lời Chu Ân Lai báo cáo với Chủ tịch. 9 giờ 57 phút ngày 8/1/1976, Chu Ân Lai qua đời, Ban lễ tang gồm 107 người, trong đó có Mao Trạch Đông, nhưng quy cách lễ tang đã bị hạ thấp và Chủ tịch không dự lễ truy điệu.
    Sau khi Chu Ân Lai qua đời, Mao yêu cầu Bộ Chính trị thảo luận nhân sự Thủ tướng và hội nghị đưa ra 3 người: Hoa Quốc Phong, Lý Tiên Niệm, Trương Xuân Kiều. Hội nghị còn bầu Giang Thanh làm Phó chủ tịch Đảng, theo đề nghị của Uông Đông Hưng, được Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Ngô Quế Hiến phụ họa.
    Nhưng vì Giang Thanh hoàn toàn không tôn trọng ý kiến của Mao Trạch Đông khi gạt Hoa Quốc Phong, Uông Đông Hưng, Trần Tích Liên ra khỏi hạt nhân lãnh đạo, buộc họ ra tay trước, nhưng phải đợi đến khi Chủ tịch chết. 0 giờ 10 phút ngày 9/9/1976, Mao Trạch Đông qua đời, tang lễ được tổ chức siêu trọng thể. Khi lễ truy điệu Mao Trạch Đông vừa kết thúc, cuộc đấu tranh quyền lực gay gắt đã diễn ra. Được phái nguyên lão đứng đầu là Diệp Kiếm Anh ủng hộ, tối ngày 6/10/1976, Hoa Quốc Phong và Uông Đông Hưng bí mật bắt Giang Thanh, Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên và Mao Viễn Tân.
    “Bè lũ bốn tên” bị bắt đánh dấu chấm hết cho “Cách mạng văn hóa”. Sau khi “bè lũ bốn tên” bị bắt, người ta thu được bản danh sách lãnh đạo Trung ương theo dự kiến của Giang Thanh: Chủ tịch Đảng: Giang Thanh, Phó chủ tịch Đảng: Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên, Tôn Ngọc Quốc, Mao Viễn Tân. Thường vụ Bộ chính trị, ngoài 6 người kể trên, thêm: Tạ Tĩnh Nghi, Trương Thu Kiều, Vương Tú Trân. Chủ tịch Quốc hội: Vương Hồng Văn. Thủ tướng: Trương Xuân Kiều.
    Theo đánh giá của Trần Vân, một trong những “đại thần nguyên lão” thì Mao Trạch Đông dựng nước có công, xây dựng mắc sai lầm và có tội trong “Cách mạng văn hóa”.
    (Xem tiếp kỳ sau)
    Hồng Thất Công - Tuấn Quỳnh
    (Năng lượng Mới số 144, ra thứ Ba ngày 7/8/2012)

    P/s: Về cái chết của họ Lâm, còn một thuyết nữa là quân cảnh vệ của Uông Đông Hưng đã phục kích, dùng súng phóng lựu bắn vào xe chở Lâm Bưu và con trai, ngay khi mới rời nhà riêng ở Trung nam Hải để ra sân bay quân sự Tây Giao ở Bắc kinh. Sau đó các xác Lâm Bưu và Lâm Lập Quả vẫn được đưa lên máy bay chạy trốn, để rồi có màn bị bắn rơi trên đất Mông cổ.
    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 10-08-2012 lúc 11:07 AM.

  10. Có 1 người thích bài viết này


  11. #10
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết
    Mãi mãi Hoàng Sa


    Tiếp nối những đội hùng binh Lý Sơn một thuở, những chàng trai trẻ đất Quảng Nam, Đà Nẵng... trước 1975, đã vượt sóng gió ra Hoàng Sa giữ đảo. Đến bây giờ, những ký ức ở đảo xa vẫn còn in mãi trong tim mọi người.

    Quần đảo tươi đẹp của Tổ quốc

    Mỗi khi nhớ đến Hoàng Sa, tôi nghĩ có một ngày nào đó sẽ có dịp bước chân trở lại đảo với niềm tự hào đó là một phần của đất nước chúng ta và thuộc chủ quyền của ta (Ông Nguyễn Văn Đức, nhà ở Q.5, TP.HCM, ra Hoàng Sa đợt 37, tháng 10.1969) - Trích từ Kỷ yếu Hoàng Sa 2012
    Giữa mùa thu năm 1971, chàng trai trẻ Lê Lan, nguyên quán ở Điện Trung, Điện Bàn (Quảng Nam) lúc bấy giờ mới 19 tuổi, là y tá theo đoàn ra đảo. Ông Lan nhớ lại: “Đợt tôi ra Hoàng Sa là đợt 45. Ra để đổi cho anh em đợt 44 đã hết nhiệm vụ. Chuyến đi xuất phát ở cảng Tiên Sa - Đà Nẵng từ 16 giờ hôm trước, tàu chạy luôn đêm đến khoảng 6 - 7 giờ sáng hôm sau là đến Hoàng Sa”. Ban đầu nhận lệnh ra giữ đảo, ông Lê Lan cũng như những người trong đoàn hết sức lo lắng: “Phải nói rằng, được công tác tại Hoàng Sa là một vinh dự lớn. Song cũng có ít nhiều lo lắng và băn khoăn nhất định. Vì Hoàng Sa cách xa đất liền, mênh mông biển nước và ở đó những 3 tháng”. Tàu đến Hoàng Sa hạ neo ngoài khơi, rồi dùng tàu cao su gắn máy đưa vào đảo. “Đặt chân lên đảo tôi thật sững sờ. Đường vào đảo như hang động, bởi hai bên san hô chất cao quá đầu, dây leo phủ kín. Giữa đường đi có đường ray xe goòng từ hồi Pháp để lại” - ông Lan nhớ lại.
    Còn ông Phạm Khôi, hiện ở P.Thạch Thang (TP.Đà Nẵng) kể: “Tôi nhớ như in ngày tôi ra Hoàng Sa là ngày bà con ta đưa ông Táo về trời năm 1969. Lúc đó tôi rất hăm hở, háo hức vì mong muốn chinh phục, khám phá vùng đất mới của đất nước và vì khát vọng của người thanh niên đi bảo vệ biển đảo quê hương”. Ở Hoàng Sa lúc đó yên bình, thậm chí nhiều người còn tếu táo với nhau là đi Hoàng Sa để an dưỡng, chứ không phải đi làm nhiệm vụ. Bởi, không khí nơi đây trong lành, biển xanh, cát trắng, hải sản dồi dào. “Khi màn đêm buông xuống, anh em chúng tôi tụ tập lại bên nhau để nghe tin tức ở quê nhà. Cuộc sống biển xa muôn vàn khó khăn, nhưng vì mục đích lớn phải bảo vệ đảo, vì vùng đất máu thịt của Tổ quốc nên mọi người đều cố gắng vượt qua” - ông Phạm Khôi nói. Ông Nguyễn Văn Cúc, nhà ở P.Phước Mỹ (Q.Sơn Trà) có 3 lần ra Hoàng Sa từ năm 1973. Công việc của ông là khảo sát, sửa chữa và xây thêm bể ngầm chứa nước ngọt, đồng thời lấy mẫu đất, thực địa để chuẩn bị xây dựng sân bay. “Giờ nghĩ lại tôi thấy mình may mắn được làm việc, được cống hiến tại mảnh đất thiêng liêng ấy và tôi muốn chia sẻ để mọi người được biết, để con cháu thế hệ mai sau luôn biết rằng Hoàng Sa vô cùng tươi đẹp, là một phần của Tổ quốc Việt Nam”.


    Cột hải đăng Hoàng Sa năm 1937 - Ảnh chụp từ tư liệu của Bảo tàng Đà Nẵng
    Cúng đảo cầu bình yên
    Ở ngoài đảo sợ nhất là cảnh thiếu nước, ông Phạm Khôi nói: “Chúng tôi sử dụng nước mưa được chứa ở các bể ngầm xung quanh nhà khí tượng. Khi tôi sống ở trên đảo thì chứng kiến 3 lần bị thiếu nước ngọt, mỗi lần kéo dài khoảng 10 ngày. Khát quá, nên chúng tôi lấy nước ở giếng lên để dùng, nhưng nước giếng chỉ uống được khi còn nóng, chứ để nguội rất khó uống. Uống nước giếng liên tục 3 ngày sẽ bị đau bụng”. Do thuốc men thiếu thốn, thành ra việc chữa trị bệnh cũng chỉ sử dụng đường và sữa mà thôi. “Những lúc như vậy mới thấm được tình cảm của anh em xa nhà” - ông Khôi tâm sự. Trong bao thứ vật dụng, nhu yếu phẩm, thuốc men mang ra Hoàng Sa, trên tàu bao giờ cũng có mấy chú heo để cúng đảo, một tập tục được truyền lại từ bao thế hệ người Việt từng giữ đảo Hoàng Sa. Nhiều người khi gặp gỡ, trò chuyện với PV Thanh Niên đều nhớ và kể rằng, bao giờ cũng vậy, trước khi đưa hàng hóa, thực phẩm, gạo, muối... xuống tàu để ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ, anh em cũng chuẩn bị 2 - 3 con heo, con lớn cỡ 50 - 70 kg và 2 con nhỏ hơn. Khi tàu vừa cập Hoàng Sa, theo thông lệ và tập tục truyền lại, những người ra đảo phải làm thịt một con heo để cúng đảo. Mục đích việc cúng tế này được lý giải là để cầu mong biển đảo phù trợ cho mọi người được bình yên. Những con còn lại, được nuôi nấng kỹ lưỡng để khi hoàn thành nhiệm vụ, về đất liền làm thịt con heo cúng tạ ơn đảo đã chở che để mọi người được mạnh khỏe, an lành trở về nhà với người thân, bạn bè...


    Ông Phạm Khôi, nhân chứng từng sống, làm việc ở Hoàng Sa trao kỷ vật là vỏ ốc hoa ở Hoàng Sa cho UBND H.Hoàng Sa - Ảnh do Bảo tàng Đà Nẵng cung cấp
    Theo nhiều người từng ở đảo, Hoàng Sa chỉ có dương liễu, dừa và cây nhàu, rất khó để trồng được loại cây rau quả nào để cải thiện thêm. Theo ông Khôi, bên bãi trồng cây dương liễu có một cái miếu rất thiêng, được xây dựng từ thời nhà Nguyễn, bên trong có tượng đồng đen, xung quanh miếu có hàng chục ngôi mộ đắp bằng đất được cho là nơi yên nghỉ của nhiều thế hệ người Việt giữ đảo Hoàng Sa. Nói về miếu thờ ở Hoàng Sa, nhiều người từng ra đây kể vanh vách: “Phía nam của đảo có một cái miếu xây tường, lợp ngói, cao 3 m, dài 3,5 m, ngang chừng 2,5 m quay về hướng nam. Chính giữa thờ tượng Phật, một tượng Quan Ông và hai bệ thờ. Trước tượng Phật có bàn nhỏ bày những quyển kinh, có một cái chuông và một cái mõ để tụng kinh, niệm Phật”. Người ở đảo thường kể cho nhau nhiều câu chuyện ly kỳ về sự linh thiêng của ngôi miếu, về chuyện mỗi khi hoàng hôn buông xuống, từng đàn cá lớn kéo về vũng nước gần miếu như để chầu; chuyện có người muốn nổ lựu đạn vào đàn cá, song đã bị tử vong vì lựu đạn nổ ngay trên tay; trong đó có chuyện một ông thuyền trưởng vào năm 1968 có ý định đưa tượng Phật bằng đồng đen lên tàu về đất liền. Khi tượng đã lên thuyền, nhưng rồi thuyền cứ xoay tròn, không tiến lui gì được. Thấy vậy, thuyền trưởng sợ quá, bèn mang tượng đặt lại trên miếu, đốt nhang lạy lục van xin thì thuyền mới yên ổn rời đảo.

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •