CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 9 của 10 Đầu tiênĐầu tiên ... 78910 CuốiCuối
Kết quả 81 đến 90 của 95

Chủ đề: Hồ sơ Tư liệu

  1. #81
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,238
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết
    Bí mật liên quan tới cái chết Chủ tịch Kim Nhật Thành

    Kỳ 1: Kim Nhật Thành - nhà ngoại giao cơ trí và linh hoạt



    Để chuẩn bị cho chuyến thăm CHDCND Triều Tiên của cựu Tổng thống Mỹ Jimmy Carter, Bộ Ngoại giao Mỹ đã phái chuyên gia phụ trách các vấn đề châu Á, Selig S. Harrison, đến Bình Nhưỡng. Ngày 9/6/1994, Harrison tiếp kiến Chủ tịch Kim Nhật Thành. Lúc này, mặc dù đã bước sang tuổi 82, nhưng Kim Nhật Thành vẫn tráng kiện, vẻ mặt hồng hào, tiếng nói sang sảng, đặc biệt là tinh lực rất dồi dào. Điều làm nhà ngoại giao kỳ cựu của nước Mỹ này ngạc nhiên là Kim Nhật Thành hoàn toàn không giống một nhân vật cố chấp bậc nhất như trong tưởng tượng trước đó của ông ta. Bởi trên thực tế Kim Nhật Thành đã thể hiện là một nhà ngoại giao linh hoạt và đầy cơ trí.

    Kim Nhật Thành
    Trong buổi gặp gỡ với Harrison ngày 9/6, Kim Nhật Thành khẳng định Bình Nhưỡng hoàn toàn có thể ngừng chương trình hạt nhân, nhưng Oasinhtơn phải đưa ra một số hành động cụ thể trước như công nhận CHDCND Triều Tiên về mặt ngoại giao. Kim Nhật Thành còn nói một cách hài hước rằng: Bình Nhưỡng phát triển vũ khí hạt nhân hoàn toàn là để bảo vệ mình và nếu Mỹ cung cấp cho CHDCND Triều Tiên lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ thì khi có khả năng sản xuất vũ khí hạt nhân rồi, Bình Nhưỡng ngược lại còn đảm bảo an ninh cho bán đảo Triều Tiên. Sau khi phân tích những nội dung trao đổi với nhà lãnh đạo Triều Tiên, Harrison rút ra một kết luận quan trọng là Kim Nhật Thành không muốn hành động trong vấn đề vũ khí hạt nhân, thậm chí còn hy vọng tăng cường khơi thông quan hệ và sự hiểu biết lẫn nhau với các nước Âu, Mỹ. Tin này lập tức được báo cáo về Nhà Trắng.

    Cũng trong ngày 9/6, tại Bắc Kinh, Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kỳ Thâm đã có cuộc hội đàm với Ngoại trưởng Hàn Quốc Han Sung-joo. Xơun hy vọng Trung Quốc, nước giữ vai trò Uỷ viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ sẽ ủng hộ việc áp dụng biện pháp chế tài đối với Bình Nhưỡng. Tuy nhiên, yêu cầu này đã gặp phải sự cự tuyệt của Bắc Kinh. Ngoại trưởng Tiền Kỳ Thâm cho rằng việc duy trì tình trạng phi hạt nhân cũng như hoà bình và ổn định trên bán đảo Triều Tiên là cần thiết, nhưng cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên phải được giải quyết thông qua đàm phán.

    Selig Harrison
    Ngày 12/6, từ Hàn Quốc, cựu Tổng thống Mỹ Jimmy Carter đi qua giới tuyến ngừng bắn, bắt đầu chuyến thăm CHDCND Triều Tiên. Một ngày sau, cuộc khủng hoảng hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên đột nhiên có sự thay đổi.

    Ngày 13/6, Bình Nhưỡng tuyên bố lập tức rút khỏi Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IEAE). Hành động này được giới phân tích nhìn nhận là phía Triều Tiên muốn bắn đi tín hiệu rằng nước này sẵn sàng chiến đấu nếu bị trừng phạt và các cơ sở hạt nhân bị thanh sát. Không ai dám coi những tuyên bố của Chủ tịch Kim Nhật Thành là lời nói đùa. Cho dù lúc đó thiên tai khiến Bình Nhưỡng rơi vào cảnh thiếu hụt lương thực nghiêm trọng, nhưng thực tế cho thấy tốc độ đổi mới vũ khí trang bị của Quân đội Nhân dân Triều Tiên không hề giảm. Carter cũng như các nhân vật tai to mặt lớn trên chính trường Mỹ khác một mặt theo dõi nhất cử nhất động của Kim Nhật Thành, một mặt hết sức quan tâm chú ý tới thái độ của Trung Quốc.

    Trong khi đó, ngay từ tháng 10/1991, Kim Nhật Thành đã sang thăm Trung Quốc, hội đàm với Giang Trạch Dân và Dương Thượng Côn. Với tư cách một người bạn cũ, Đặng Tiểu Bình cũng có cuộc hội kiến với Kim Nhật Thành. Nhà lãnh đạo Triều Tiên cho rằng trong bối cảnh Liên Xô sụp đổ, Đông Âu chuyển hướng, Oasinhtơn lại vừa giành chiến thắng trong Chiến tranh Vùng Vịnh, người Mỹ rất có thể sẽ có những sách lược đánh bại, buộc các nước xã hội chủ nghĩa còn lại tuân theo sự chi phối của mình. Trung Quốc nên gánh vác trách nhiệm là lãnh tụ của phong trào cộng sản quốc tế để đấu tranh với Mỹ. Kim Nhật Thành cũng yêu cầu Trung Quốc giúp đỡ Triều Tiên phát triển tên lửa đạn đạo. Giang Trạch Dân đã trả lời Kim Nhật Thành rằng Trung Quốc quyết không đứng ở hàng đầu. Nhiệm vụ cấp bách của Trung Quốc hiện nay là phát triển kinh tế. Thế giới đã bước vào thời đại đa nguyên hóa, Mỹ không thể muốn làm gì thì làm. Trung Quốc sẽ không đứng nhìn trong trường hợp Triều Tiên đi đe dọa quân sự. Trong cuộc hội đàm lần này, Chủ tịch Kim Nhật Thành cũng thông báo với phía Trung Quốc rằng, do vấn đề tuổi tác, ông sẽ rút dần khỏi tuyến đầu và việc chủ trì công tác sẽ do con trai cả Kim Chính Nhật đảm nhiệm.


    Minh Thành (Tổng hợp từ báo chí Trung Quốc)

  2. #82
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,238
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết
    Làng Vây 1968: tăng PT-76 “đứng vững” trước 100 phát M72?


    (Kienthuc.net.vn) - Tại sao trong trận Làng Vây 1968, quân Mỹ bắn khoảng 100 phát đạn chống tăng M72 vào xe tăng PT-76 của Việt Nam nhưng không phá hỏng được chiếc nào?
    "Sát thủ diệt tăng" không xuyên nổi giáp dày 20mm

    Năm 1968, bước vào chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, lực lượng Tăng – Thiết giáp lần đầu tiên ra trận sau gần 10 năm ra đời (5/10/1959, Binh chủng Tăng – Thiết giáp ra đời với sự kiện Trung đoàn xe tăng 202 được thành lập).


    Ngày 5/8/1967, Tiểu đoàn 198 thuộc Trung đoàn 203 được lệnh vào Nam chiến đấu. Tiểu đoàn 198 gồm 2 đại đội (đại đội 3 và 9) trang bị 22 xe tăng lội nước PT-76.


    Ngày 14/10/1967, Tiểu đoàn 198 từ Lương Sơn – Hòa Bình bắt đầu hành quân vào Nam theo đường Trường Sơn. Để đảm bảo yếu tố bất ngờ trong lần đầu tiên ra trận của các xe tăng, công tác ngụy trang trong hành quân rất được chú trọng.

    Sau 50 ngày đêm hành quân dưới bom đạn đánh phá ác liệt của địch, tiểu đoàn đã đến các điểm tập kết. Đại đội 3 vượt 813 km tập kết ở Nậm Khang, Đại đội 9 vượt 1.438 km tập kết ở ngã ba Mường Noọng, phía nam đường 9.

    Lần đầu xuất hiện tại chiến trường, đơn vị xe tăng 198 được giao nhiệm vụ hiệp đồng với bộ binh tiêu diệt địch tại căn cứ Làng Vây – một tiền đồn của Khe Sanh.

    Xe tăng lội nước hạng nhẹ PT-76 của quân đội ta chỉ bọc giáp dày 20mm (vị trí dày nhất).

    Cứ điểm Làng Vây là một tiền đồn của của căn cứ Khe Sanh nằm trên đường 9. Tại đây có 4 đại đội Ngụy quân cùng với một số sĩ quan Mỹ chỉ huy, được trang bị hỏa lực rất mạnh gồm nhiều pháo cối, pháo không giật ĐKZ, súng phóng lựu M-79 và súng chống tăng M72.

    Trong số các loại vũ khí ở Làng Vây, đáng lưu ý là có sự xuất hiện của súng chống tăng M72 LAW được đưa vào trang bị trong quân đội Mĩ năm 1963. Súng có cỡ 66mm, dài 0,89m, nặng 2,5kg. Tầm bắn hiệu quả 150-170m, tầm bắn tối đa lên đến 1.000m, khả năng xuyên giáp được cho là lên đến 300mm.

    Khi tham chiến ở Việt Nam, M72 LAW được tuyên bố là có tính năng kĩ chiến thuật ngang với súng chống tăng RPG-7 (Việt Nam gọi là B-41) của Liên Xô.

    Trước một loại xe tăng hạng nhẹ như PT-76 (nơi giáp dày nhất chỉ là 20mm), rõ ràng M72 LAW chỉ cần đạt được một phần nhỏ những tính năng lí thuyết là đã có thể hạ gục được đối phương.

    Những thực tế diễn biến lại khác, trận đánh bắt đầu lúc 23h30 ngày 6/2/1968 với lực lượng ta gồm: Trung đoàn bộ binh 24, 2 tiểu đoàn công binh, 1 tiểu đoàn pháo và 2 đại đội đặc công cùng với Tiểu đoàn xe tăng 198.

    Sau loạt đạn của pháo binh bắn chế áp mục tiêu, các mũi tiến công xông lên tấn công cửa mở từ 3 hướng. Ở hướng Tây và Nam, xe tăng lần đầu xuất hiện đã tỏ rõ giá trị đột kích của nó. Các hàng rào trước đây bộ binh phải vất vả mở bằng bộc phá thì nay chẳng khác gì mạng nhện với xe tăng. Các lô cốt hoặc bị hỏa lực của pháo từ xe tăng bắn sập hoặc bị xe lao vào húc đổ, dùng xích sắt nghiền nát.

    Nhờ sức đột kích lớn của xe tăng, đến 1h ngày 7/2, các cánh quân ta đánh vào đến trung tâm cứ điểm và nhanh chóng đánh chiếm nốt các khu vực còn lại. Đến sáng ngày 7/2, ta đã làm chủ hoàn toàn căn cứ Làng Vây, diệt và bắt sống toàn bộ quân Mỹ - Ngụy và Lào chốt giữ ở đây.

    PT-76 đã đánh bại được "sát thủ diệt tăng" M72 và "nghiền nát" cứ điểm Làng Vây.

    Trong trận đánh này ta cũng bị địch đáng hỏng vài xe tăng, nhưng “tác giả” không phải là “sát thủ diệt tăng” M72 LAW mà là vũ khí khác.

    Theo một số tài liệu, trong trận đánh Làng Vây, trước xe tăng PT-76, súng chống tăng M72 đã thể hiện rất tồi. Hơn 100 phát đạn bắn ra, hoặc bắn trượt, hoặc trúng vào lớp giáp nghiêng của PT-76 và … bật ra ngoài.

    Vậy tại sao một loại vũ khí diệt tăng của nền quốc phòng tiên tiến bậc nhất thế giới lại thua thảm hại trước xe tăng bọc giáp dày 20mm PT-76.

    Tại sao M72 LAW vô dụng?


    Sự tệ hại của súng chống tăng M72 LAW nằm ở cơ cấu điểm hỏa, điểm hỏa từ dưới lên. Trong khi đó, súng chống tăng B-41 sử dụng trạm truyền nổ chữ U.

    Với trạm truyền nổ chữ U trên đạn B41, khi nổ thì khối vật chất năng lượng cao tạo bởi tấm tích năng lượng nổ được dồn thành một hình cầu nhỏ, tập trung năng lượng ở cả chiều ngang và chiều dài. Khối vật chất nén có mật độ rất cao, với tấm tích năng lượng bằng đồng, có mật độ 20-30 tấn/m3. Chính vì vậy, nó tạo lỗ khoan nhỏ (xuyên vào giáp xe), ít tốn năng lượng cho mỗi đơn vị chiều sâu và nhờ đó xuyên sâu hơn. Điều này cũng lí giải vì sao ngay cả xe tăng M1 Abrams hiện đại nhất của Mĩ cũng bị đạn B41 xuyên thủng.

    Còn với loại đạn có trạm truyền nổ từ dưới lên như M72, phản ứng nổ vượt trước khối vật chất năng lượng cao, vì tốc độ nổ là 9km/s, trong khi đó tốc độ dòng vật chất năng lượng cao chỉ đạt cao nhất 2km/s. Điều này khiến việc nổ phía trước cản trở chuyển động của vật chất năng lượng cao đi chậm hơn.

    Với cơ cấu truyền nổ này, khối vật chất năng lượng cao không dồn thành một hình cầu như trạm truyền nổ chữ U, mà kéo dài thành hình “que đũa”. Mỗi đoạn của “que đũa” dài có năng lượng thấp, sẽ bị giáp nghiêng đẩy ra ngoài phần lớn năng lượng, và cả “que đũa” không tập trung sẽ có các đoạn lần lượt bị đẩy ra ngoài. Đây chính là điều đã “hạ nhục” M72, khiến nó trở thành “thùng rỗng kêu to” khi tính năng được cho là tương đương B-41, nhưng không xuyên qua nổi giáp dày 20mm của xe tăng PT-76.

    Binh sĩ Mỹ với súng chống tăng M72 LAW.

    Không chỉ có sức xuyên kém mà tầm bắn hiệu quả của M72 cũng rất thấp. Do đây là loại súng dùng một lần, không có kính ngắm. Trong khi đó, xạ thủ B-40, B-41 lại phải nắm rất nhiều công thức ước lượng tầm, ước lượng cự li, có yếu lĩnh bắn nên đương nhiên súng phải chính xác hơn.

    Tuy nhiên, M72 lại có một mặt mạnh về chiến thuật. Đây là một súng dùng một lần, dễ sử dụng. Với B-41 thì cả tiểu đội mới có một khẩu, còn M72 thì bất cứ lính bộ binh nào cũng có thể mang theo như một vũ khí dùng thêm. Trong chiến đấu, khi xe tăng địch vào gần thì đồng loạt khai hỏa, hỏa lực của tiểu đội sẽ tăng lên rất mạnh. Nếu cần, cũng có thể sử dụng nhiều M72 bắn đồng loạt như một dàn hỏa tiễn, để áp chế đội hình địch.

    Nhìn chung, M72 LAW là một “nỗi xấu hổ” với nền công nghiệp quốc phòng Mĩ. Khẩu súng tự cho là tương đương súng chống tăng B-41, nhưng không bắn xuyên được giáp của xe tăng hạng nhẹ PT-76.

    Lương Minh

    Bác Tài tăng có nghĩ thế không ạ? Theo em thì lần đầu tiên thấy PT-76 đột kích nên nó...hoảng và bắn trượt thôi!8->

  3. #83
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,899 lần trong 1,027 bài viết
    Thực ra, đây cũng là một vấn đề khó hiểu đối với những ai đã từng quan tâm nghiên cứu về trận Làng Vây- trong đó có mình8->.
    Ngay sau khi xe tăng ta xuất hiện trong trận đánh Tà Mây (thuộc căn cứ Huội San) bên Lào ngày 24.01.1968 thì quân địch đã biét có sự hiện diện của xe tăng tại chiến trường này. Chính vì vậy chỉ huy trưởng căn cứ LV đã xin tăng cường 100 khẩu LAW M72. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng của số M72 này trong trận Làng Vây rất thấp. Không chỉ quân ta nói (như TG bài báo) mà cả phía các sử gia QLVNCH cũng phải thừa nhận điều đó. Ví dụ, TĐC đã viết:
    "Tuy Đại Úy Willoughby có đôi chút cảnh giác, yêu cầu cung cấp khoảng 100 hỏa tiễn chống chiến xa LAW, nhưng ông cho rằng chiến xa của địch quân nếu có cũng chỉ được dùng để yểm trợ như súng cối pháo kích từ ngoài hàng rào, thay vì trực tiếp tấn công như đã xảy ra. Sự lượng giá sai lầm này không đáng ngạc nhiên vì địa thế vùng Khe Sanh hiểm trở với nhiều đồi núi khe suối, không thuận tiện cho chiến xa di chuyển. Về vũ khí chống chiến xa, các quân nhân HK đã tự tay bắn thử một số hỏa tiễn LAW, quân nhân VN được thực tập hầu như không có; số hỏa tiễn còn lại không được phân phối cho các tổ chiến đấu nơi hàng rào phòng thủ mà tập trung trong hầm chỉ huy. Vì vậy, khi chiến xa địch phá hàng rào xâm nhập mặt Nam, ĐĐ DSCĐ 104 không có vũ khí để chống lại. Ngoài ra, cho dù chiến xa địch có bất ngờ lọt được vào trại, nhưng với chừng 75 trái LAW còn lại, nếu hoạt động bình thường có hiệu quả, cũng dư sức bắn hạ 11 chiếc PT-76, nhất là trong tầm không xa. Rất tiếc, tuy toán diệt chiến xa do Trung Tá Schungel đích thân thành lập đã xử dụng nhiều LAW, nhưng một tỷ số rất caođến 90% đã không nổ, số còn lại tuy khai hỏa trúng chiến xa nhưng không gây thiệt hại. Đây là điều rất đáng ngạc nhiên vì LAW được chế tạo để bắn hạ chiến xa hạng trung như T-54 có vỏ thép dầy hơn PT-76 nhiều. Sau này, có dư luận cho rằng vì LAW được thả bằng đường hàng không nên không hữu hiệu."

    Theo thiển nghĩ của mình thì thế này:

    1- Về khả năng xuyên thép của M72: Đạn M72 cũng như B41 đều dùng nguyên lý đạn lõm và điểm chung của nó là đầu đạn không xuyên vào mục tiêu mà chỉ có "luồng xuyên"- tức là khối plasma được hình thành sau vụ nổ lõm với khối lượng rất lớn và nhiệt độ rất cao sẽ xuyên vào mục tiêu. Sau khi xuyên qua lớp vỏ thì nó tiếp tục phá hủy các bộ phận bên trong hoặc kích nổ cho đạn dược bên trong để phá hủy mục tiêu.
    Trong bài báo, TG đã phân tích nguyên nhân sự kém cỏi trong khả năng xuyên thép của M72 so với B41. Về đoạn này mình không dám có ý kiến gì vì không có kiến thức chuyên sâu song mình nghĩ các nhà KH Mỹ chắc cũng biết điều đó chứ(?). Nhưng dù nó có kém so với B41 thì với nguyên lý ấy có thể nói chắc chắn là đạn M72 thừa sức xuyên qua vỏ thép xe PT76 chỉ dày có 14 mm.
    Tuy nhiên, hiệu lực xuyên của các loại đạn lõm này cũng còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác mà quan trọng nhất là "góc chạm". Với góc chạm lớn nhất (90 độ) thì khả năng xuyên đạt cao nhất. Góc chạm càng nhỏ khả năng xuyên càng giảm đi và thậm chí luồng xuyên có thể bị "trượt" đi. Mũi xe PT76 có dạng vát như mũi thuyền. Vì vậy, nếu bắn chính diện vào đây, góc chạm rất nhỏ dẫn đến giảm đáng kể hiệu lực xuyên.
    Thực tế chiến đấu ở miền Nam đã cho thấy đã có cả tăng T54, T59 bị bắn hạ bởi M72. Chẳng hạn tại An Lộc, rất nhiều xe đã bị BB địch nấp trong các ngõ hẻm bắn M72 vào sườn xe. Hoặc trên chiếc 377 tại Đắc Tô thì phát đạn bắn vào giáp trước (gần lỗ bắn đại liên) không thể là đạn gì khác ngoài đạn M72. Hoặc chiếc 703 trong trận Nước trong 27.4.1975, một phát đạn cũng trúng vào giáp trước và xuyên vào trong xe nhưng không gây cháy xe mà chỉ làm lái xe bị thương...
    Vì vậy, chỉ vì nó sử dụng kém hiệu quả trong trận LV mà chê bai nó quá lời như trong bài trên thì kể ra cũng hơi quá thích tự sướngX_X!

    2- Về những nguyên nhân sử dụng M72 không hiệu quả tại Làng Vây:
    Để viết BT tập 1 mình cũng đã phải tìm hiểu khá kỹ về chuyện này song nói chung cũng chỉ là phỏng đoán thôi. Theo mình, có mấy nguyên nhân sau:
    - Sau khi được bổ sung 100 khẩu M72 song binh sĩ không được tập huấn cách sử dụng, bảo quản. Vì vậy, khi chiến sự nổ ra chỉ có 1 trung tá cố vấn Mỹ sử dụng thành thạo và trực tiếp thành lập tổ diệt tăng để sử dụng súng này mà thôi.
    - Do không được tập huấn nên khi sử dụng còn lúng túng, không đúng quy tắc, thao tác không đúng quy trình nên bắn không nổ hoặc không biết bắn vào chỗ hiểm của mục tiêu.
    - Trong quá trình vận chuyển hoặc bảo quản có vấn đề gì đó không đúng quy trình (để tập trung trong hầm làm ẩm thuốc đạn chẳng hạn) dẫn đến đạn "thối" nhiều.
    - Ngoài các yếu tố trên thì còn yếu tố tinh thần khi lần đầu gặp chiến xa đối phương, thần hồn nát thần tính, lại tác xạ trong điều kiện ban đêm... nên bắn không trúng mục tiêu.

    Đại loại vậy! Cá nhân mình chẳng dám chê nó đâuX_X

    baoleo's Avatar

    baoleo

     16:27, 9th Jul 2013 #21466 

    Em tán thành ý kiến của bác Lixeta.


    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  4. Có 1 người thích bài viết này


  5. #84
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Có bài trên Tiền phong online:

    Nga rầm rộ tập trận 'nắn gân' đối thủ nào?


    TPO -Nga đã đẩy các siêu kỳ thủ chính trị khác như Washington, Tokyo, Bắc Kinh vào thể phòng thủ bị động, vừa phải đối phó với những thế cờ khó, vừa phải tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế của Nga...
    Rầm rộ tập trận
    Nửa đầu tháng 7.2013, trên biển Nhật Bản tình hình trở lên vô cùng căng thẳng. Nguyên nhân của sự kiện này là cuộc diễn tập “ Hiệp lực trên biển – 2013” của Hải quân Nga và Trung Quốc, diễn ra dưới sự quan sát vô cùng cẩn trọng của Mỹ và Nhật Bản, khi hai nước này cũng đang tiến hành các hoạt động diễn tập lực lượng không quân trên khoảng cách vài trăm km.

    Cuộc tập trận chung Nga – Trung tiến hành vào ngày 8 – 10.7 tại Vịnh Peter Great bên bờ biển Vladivostoc là một cuộc tập trận lớn nhất mà Trung Quốc được tham gia với các cường quốc quân sự nước ngoài. Trong cuộc tập trận này, cả hai nước đã thể hiện mối quan hệ song phương, trong một góc độ nào đó, được coi là định hướng nhằm ngăn chặn tiến trình trở lại châu Á của Mỹ. Dưới khái niệm “trọng tâm chiến lược châu Á – Thái Bình Dương” hơn 60% lực lượng hải quân Mỹ và lực lượng không quân chiến lược – chiến dịch được điều động sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã xác định đối tượng tác chiến rất rõ ràng khiến Trung Quốc vô cùng lo ngại.
    Trong cuộc diễn tập “Hiệp lực trên biển – 2013” có sự tham gia của 11 chiến hạm nổi và một tàu ngầm của Nga, trong đó có kỳ hạm tên lửa "Varyag" của hạm đội Thái Bình Dương, 7 chiến hạm nổi của Trung Quốc, được đóng sau năm 2000, hải đoàn của Trung Quốc bao gồm 7 chiến hạm, trong đó có Liên đoàn chiến hạm hải quân PLA bao gồm 7 chiến hạm thuộc quyền chỉ huy của tư lệnh phó Hạm đội Biển Bắc Hải quân Trung Quốc Chuẩn đô đốc Yang Tszunfeya. Các khu trục hạm tham gia bao gồm "Thẩm Dương", "Thạch Gia Trang", "Vũ Hán", "Lan Châu" tàu khu trục hạng nhẹ mang tên lửa "Yên Đài", "Diêm" và tàu hậu cần kỹ thuật "Hundzhu." Chuẩn đô đốc Yang Tszunfeya tuyên bố đây là “lực lượng hải quân mạnh nhất tham gia trong lịch sử tiến hành các cuộc diễn tập trên biển”.

    Hải quân Nga-Trung chuẩn bị cho cuộc tập trận "Hiệp lực trên biển 2013" ở khu vực Viễn Đông.
    Cuộc diễn tập của Hải quân hai nước trên thực tế là định hướng chống lại các đòn tấn công từ hướng biển của lực lượng hải quân các thế lực thù địch, chứ có rất ít các nội dung mang tính chống hải tặc hoặc khủng bố trên biển, như những gì đã được phát ngôn viên của lực lượng hạm đội Thái Bình Dương công khai với các phóng viên. Các phương tiện thông tin đại chúng Trung Quốc hùng hồn tuyên bố: “Trên các chiến hạm của Trung Quốc có tới 160 tên lửa phòng không, thừa đủ để đối phó với các máy bay từ các hàng không mẫu hạm Mỹ”.
    Máy bay cường kích đánh chặn Su – 24 được sử dụng như quân xanh, thực hiện những đòn tấn công vào hạm đội, các chiến hạm Trung Quốc và Nga tiến hành những hoạt động chống ngầm chống lại quân xanh là tàu ngầm lớp Kilo, được coi là tàu ngầm có độ ồn thấp nhất trên thế giới. Nga và Trung Quốc cũng lên kế hoạch thực hiện các đợt diễn tập hải quân trên đất liền và trên không, được tiến hành vào khoảng từ 27.7 đến 15.8.2013 trong vùng núi Urals khu vực Chelyabinsk với định hướng là chống lực lượng khủng bố.
    Cùng trong cùng những ngày đó, 8-12.07 Mỹ và Nhật Bản tiến hành những hành động đáp trả bằng các cuộc diễn tập chung của lực lượng không quân hai nước quanh vùng đảo Hokkaido. Các hoạt động diễn tập là một thông báo cho Trung Quốc và Nga hiểu một vấn đề, quyền lực thống trị vùng nước khu vực Thái Bình Dương vẫn thuộc Hoa Kỳ và không ai khác. Trong cuộc diễn tập không quân kéo dài 24 giờ trong ngày, có sự tham gia của 8 F-15 và 8 F-16 từ mỗi nước. Các đại diện chính thức của Nhật Bản xác nhận, trong quá trình diễn tập đã theo dõi chặt chẽ các hoạt động của “ Hiệp lực trên biển – 2013” Nga Trung.

    Đây chỉ là một mắt xích trong hàng loạt những hoạt động có mục đích răn đe, ngăn chặn của Mỹ. Không hoàn toàn quan tâm đến vấn đề Trung Quốc đang trở thành một đe dọa quân sự trong khu vực, bản thân Mỹ đang sử dụng sức mạnh quân sự của mình trong ý đồ chiến lược ngăn chặn sự tụt dốc của nền kinh tế, đồng thời tăng sức ép lên Trung Quốc. Trong tháng 4.2013, xoay quanh cuộc khủng hoảng hạt nhân của đồng minh Trung Quốc là Triều tiên, Washington đã đưa máy bay ném bom B-2 và B-52 đến trực chiến, những máy bay này có khả năng mang các đầu đạn hạn nhân.
    Trong tháng trước, Nhật Bản và Mỹ đã tiến hành cuộc tập trận chung hai tuần tại California, cuộc diễn tập mang tên “Chớp nhoáng trước bình minh” được định hướng chiến thuật là giải phóng một hòn đảo đã bị chiếm giữ. Yêu cầu hủy bỏ cuộc tập trận của Trung Quốc đã không được để ý. Trong lúc tranh chấp giữa Nhật Bản và Trung Quốc về quần đảo Senkaku đang diễn ra căng thẳng trên biển Hoa Đông, chính quyền Obama đã chính thức gửi một thông điệp cho Bắc Kinh biết nếu vì quần đảo đó mà xảy ra chiến tranh, Washington sẽ đứng về phía Nhật Bản chống lại Trung Quốc.
    Dường như để đối phó với những đe dọa ngày càng tăng từ phía Mỹ, Trung Quốc đã thúc đẩy Nga đã tăng cường các mối quan hệ song phương. Trung Quốc đã nỗ lực kết hợp với Nga phát triển mạnh Tổ chức hợp tác Thượng Hải, tổ chức mà Trung Quốc hy vọng sẽ kéo Nga vào cùng một phía để chống lại sự can thiệp của Mỹ vào khu vực Trung Á, bắt đầu từ thời điểm năm 2001 khi Mỹ và các đồng minh bắt đầu cuộc chiến chống lại Afghanistan. Những hoạt động quan hệ song phương càng thêm chặt chẽ từ khi Washington ủng hộ chính quyền Gruzia thực hiện chính sách chống Liên bang Nga, để dẫn đến một cuộc chiến tranh khu vực 5 ngày với sự thảm bại của Gruzia.

    Nga-Trung đang bắt tay nhau nhằm tạo đối trọng với sức mạnh của Mỹ.
    Tháng 3.2013, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, với mục đích nhằm nhấn mạnh "ưu tiên hàng đầu” và “mối quan hệ đặc biệt” với chính quyền của tổng thống Tổng thống Nga Vladimir Putin đã chọn Nga là điểm dừng chân đầu tiên trong đợt công du nước ngoài đầu tiên ở vị trí lãnh đạo cao nhất Trung Quốc. Ông Tập cũng là lãnh đạo cao cấp đầu tiên trên thế giới được mời vào Trung tâm chỉ huy điều hành tác chiến các lực lượng vũ trang ở Moscow, cũng tại trung tâm chỉ huy chiến lược này, ông được xem mô phỏng trên máy tính về hệ thống đánh chặn tên lửa toàn cầu của Mỹ đã phá hoại sự cân bằng lực lượng hạt nhân thế giới thế nào.
    Cùng với sự phát triển và mong muốn từ phía Trung Quốc, Bắc Kinh và Moscow đã tăng cường hợp tác kinh tế bằng các hợp đồng cung cấp nhiên nhiệu cho Trung Quốc trong 25 năm với tổng giá trị lên đến 270 tỷ USD. Lượng dầu cung cấp hàng năm là 46 triệu tấn – bằng 1/9 lượng dầu mà Nga khai thác được hàng năm. Nga được hưởng 70 tỷ USD trả trước. Điều kiện này được đặt ra do Trung Quốc đang cố gắng bằng mọi giá đảm bảo cho mình nguồn nhiên liệu do phải đối mặt với nguy cơ không hề che giấu của Mỹ là sẽ cắt con đường thương mại vận tải nhiên liệu trên biển Đông và biển Hoa Đông trong khi thực hiện ý đồ “xoay trục trọng tâm chiến lược” của tổng thống Mỹ Obama.
    Trong nỗ lực lôi kéo nước Nga vào liên minh đối phó Mỹ, theo những nguồn tin không chính thức Trung Quốc đã cố gắng đạt được hợp đồng mua đến 100 máy bay chiến đấu phản lực hiện đại Su–35 với những yêu cầu khắt khe về vấn đề bản quyền, thế hệ 4++ của dòng Su 27 Flanker nổi tiếng, từ những khẳng định rằng thế hệ máy bay này có những ưu điểm vượt trội hơn F-35J của Nhật Bản và F-22 của Mỹ.
    Cuộc diễn tập khổng lồ và thâm ý của Nga

    Những nỗ lực và cố gắng của Trung Quốc trong nửa đầu năm 2013, đặc biệt tính từ thời điểm ông Tập Cận Bình lên vị trí lãnh đạo cao nhất Trung Quốc dường như đã có kết quả, đặc biệt sau cuộc tập trận chung “Hiệp lực trên biển -2013” gây căng thẳng cho cả Mỹ và Nhật Bản. Nhưng tình hình nhanh chóng thay đổi đến kinh hoàng khi chỉ sau chưa đầy 12 giờ đồng hồ tính từ thời điểm lực lượng Hải quân Trung Quốc quay trở về căn cứ quân sự của mình.
    Cuộc kiểm tra khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân khu phía Đông và quân khu Trung tâm Liên bang Nga bất ngờ được tiến hành với quy mô không thể dự kiến. Cùng một lúc, quân đội Nga tiến hành một cuộc diễn tập lớn chưa từng có trong một tình huống hoàn toàn bất ngờ với một lực lượng rất lớn. Câu nói của tổng thống Nga V.Putin: ”Cuộc diễn tập kiểm tra khả năng sẵn sàng chiến đấu lớn chưa từng có tính từ thời kỳ Xô viết” gợi cho cộng đồng quốc tế nhớ đến cuộc tập trận thực binh của quân đội Liên bang Xô viết diễn ra vào tháng 3/1979 với tổng quân số 20 sư đoàn binh chủng hợp thành và không quân.


    Vừa kết thúc cuộc tập trận chung với Trung Quốc chưa đầy 12 giờ, Nga lập tức tổ chức tập trận với quy mô chưa từng có kể từ thời Xô Viết với nhiều thâm ý.
    Quân số tham gia diễn tập lần này lên đến 200 nghìn quân nhân, 2.600 xe tăng, 900 máy bay và 80 chiến hạm. Cuộc kiểm tra khả năng sẵn sàng chiến đấu ngày 13/07 diễn ra trong tình huống vô cùng khẩn cấp, trong vòng 12 tiếng đã huy động 160 nghìn quân nhân, 5.000 xe tăng xe thiết giáp, 130 máy bay chiến đấu các loại bao gồm cả không quân chiến lược, 70 chiến hạm của hạm đội Thái Bình Dương. Chưa tính đến con số các phương tiện giao thông như máy bay không quân vận tải, phương tiện vận tải đường sắt và phương tiện vận tải đường thủy. Cùng với lời tuyên bố của Cục trưởng cục hợp tác quân sự quốc tế Bộ Quốc phòng Liên bang Nga Sergey Koshelev: “Nga không có bất cứ ràng buộc nào về việc phải thông báo các cuộc diễn tập kiểm tra sẵn sàng chiến đấu đối với nước ngoài, ngoại trừ đối với Trung Quốc theo hiệp ước Tổ chức hợp tác kinh tế Thượng Hải, các hoạt động này sẽ được thông báo trước, trong một số trường hợp sẽ được báo trước đến 30 ngày".
    Đồng thời mọi hoạt động tác chiến diễn tập đều nằm ngoài khu vực biên giới Nga – Trung 100 km, nên không cần thiết phải thông báo. Nhưng đối với Nga, những vấn đề có thể gây lo lắng cho các nước láng giềng có ý nghĩa rất quan trọng. Chính vì vậy, trước ngày tiến hành tổng kiểm tra khả năng sẵn sàng chiến đấu quân khu phía Đông, thứ trưởng Bộ Quốc phòng ông Anatoly Antonov đã có cuộc họp với các tùy viên quân sự nước ngoài và thông báo về quy mô, mục đích, yêu cầu cuộc tổng kiểm tra sẵn sàng chiến đấu của quân đội Nga. Trên thực tế đấu tranh đối ngoại chính trị quân sự, cuộc kiểm tra sẵn sàng chiến đấu cũng là một lời cảnh báo sớm rất cứng rắn với mọi ý đồ có thể xâm hại đến chủ quyền, an ninh lãnh thổ và những lợi ích của Nga trên đất liền vùng Viễn Đông cũng như vùng biển Thái Bình Dương.
    Đồng thời sau cuộc diễn tập khổng lồ này, quân đội Nga tiến hành với quân đội Mỹ một cuộc diễn tập chung mang tên “Atlas Vision” dự kiến diễn ra tại thị trấn Auerbach, Đức từ ngày 18 tới 22.7 với mục đích chủ yếu là chống khủng bố.
    Từ những sự kiện đã nêu, có thể thấy rất rõ. Trong tháng 7.2013 nóng bỏng của vùng biển Nhật Bản, cùng với rất nhiều sự kiện liên tiếp xảy ra có thể nhớ lại một trích đoạn trong bài viết của V. Putin trước thềm cuộc bầu cử tổng thống Nga "Khả năng nắm bắt được ngọn gió Trung Quốc trong cánh buồm kinh tế của Liên bang Nga”. (Trích bài viết “Nước Nga và một thế giới đang thay đổi đăng trên báo Tin tức Moscow ngày 27/02/2012) cho thấy Nga đứng đầu là tổng thống V.Putin đã thực hiện một chính sách ngoại giao chính trị quân sự với một tầm cao nằm ngoài suy nghĩ của tất cả các siêu cường trên Thái Bình Dương, đồng thời cùng một thời điểm giành được vị thế chủ động và hiệu quả kinh tế thật sự trong một thế giới đang liên tục thay đổi với những biến động không dự đoán trước được.
    Trên bàn cờ kinh tế chính trị và quân sự châu Á - Thái Bình Dương, cùng với những kỳ thủ siêu cường, bằng cuộc diễn tập Nga – Trung và cuộc diễn tập kiểm tra năng lực tác chiến của hai quân khu. Nước Nga đã đẩy các siêu kỳ thủ chính trị khác như Washington, Tokyo, Bắc Kinh vào thể phòng thủ bị động, vừa phải đối phó với những thế cờ tiếp theo của nhau, vừa phải tạo điều kiện tối ưu cho sự phát triển kinh tế của Nga đồng thời hy vọng vào một tương lai không rõ ràng, nước Nga có hình thành một liên minh nào đó hay không?

    Tàu tuần dương khổng lồ lớp Kirov trọng tải 28.000 tấn của Nga vừa tham gia tập trận.
    Trước những tham vọng “Giấc mơ Trung Quốc” trên thực tế nước Nga đã đặt Bắc Kinh vào vị thế của ngọn gió đẩy cánh buồn kinh tế nước Nga và ngăn chặn mọi mục đích lôi kéo hoặc gây áp lực. Với những hiệu quả kinh tế khổng lồ đạt được trong các thỏa thuận trên cả lĩnh vực kinh tế lẫn quân sự, Trung Quốc dưới một góc độ nào đó đã phụ thuộc vào nền kinh tế năng lượng của nước Nga trong ít nhất 2 thập kỷ sắp tới. Đồng thời Trung Quốc cũng phải đặc biệt quan tâm đến nền công nghệ quốc phòng của Nga do còn yếu kém, đặc biệt là chế tạo động cơ máy bay và phòng không. Nga chính là nước cung cấp tàu ngầm lớp Kilo và tiêm kích Su-30MK cho một số nước Đông Nam Á. Dự kiến mua tiêm kích tàng hình F-35 của Nhật Bản với công cuộc đầu tư nâng cao sức mạnh quân sự của Philippines cũng đưa Trung Quốc vào thế khó khăn, buộc phải phụ thuộc.
    Với sự tham gia các chiến hạm chủ lực của hạm đội Thái Bình Dương và 4 máy bay mang tên lửa chiến lược Tu – 95MS tuần tiễu trên vùng nước quốc tế của biển Nhật Bản. Washington và Tokyo cũng hiểu được lời cảnh báo từ phía Moscow và chắc chắn trong tương lai gần sẽ có những bước xích lại gần hơn với Nga, đặc biệt là Nhật Bản. Trong sự đối đầu ngày càng tăng với Trung Quốc và duy trì sức mạnh của liên minh quân sự Mỹ, Nhật Bản sẽ có những bước tiến mới trong quá trình hợp tác với Nga về phát triển kinh tế vùng Viễn Đông, tham gia các dự án với Nga, những vấn đề liên quan đến 4 đảo thuộc quần đảo Kuril cũng cần có một thời điểm thuận lợi trong một không gian phát triển chung, đôi bên cùng có lợi ích kinh tế và quan hệ đối ngoại chính trị.
    Nước Mỹ trong khát vọng phục hồi kinh tế và vị trí thống trị Thái Bình Dương, với những quan hệ liên minh quân sự với nhiều nước trên biển Đông và biển Hoa Đông, biển Hoàng Hải. Trước những diễn biến và sự cứng rắn của Nga, cũng sẽ phải có những bước đi nhượng bộ với Moscow trong nhiều vấn đề liên quan đến tình hình an ninh chính trị trên thế giới, trong đó có khu vực Trung Đông và nhiều khu vực có ảnh hưởng của nước Nga, đặc biệt trên biển Bắc và Địa Trung hải.
    Với mục đích kiềm chế Trung Quốc, Mỹ cần có sự ủng hộ hoặc im lặng của nước Nga trong một loạt các hoạt động nhằm thực hiện chính sách “trở về châu Á” của mình. Liên minh Á - Âu, những vấn đề của nước Nga mà các chính trị gia Mỹ hay chỉ trích, các ý kiến cứng rắn của Nga về vấn đề Trung Đông sẽ được bỏ qua nhằm vào việc giải quyết những sự kiện gai góc mà Mỹ đang phải đối phó. Mỹ buộc phải coi Nga như một đối tác ngang tầm trong các mối quan hệ đối ngoại quân sự - chính trị và một quan hệ kinh tế song phương ổn định.
    Có thể nhận thấy, những chính sách đối ngoại của Nga dưới quyền của Tổng thống V.Putin, như những gì ông đã vạch ra trong bài viết “Nước Nga và một thế giới đang thay đổi” đã được thực hiện khá chính xác với những hiệu quả kinh tế - chính trị và đặc biệt là hiệu quả quân sự cả về mặt đối nội và đối ngoại. Tháng 7.2013 đánh dấu một thắng lợi rất lớn trong chính sách đối ngoại chính trị của Nga, khẳng định một cách chắc chắn sự trở lại và phát triển mạnh mẽ của “chú gấu Nga” trong khu vực Thái Bình Dương luôn nổi sóng.
    Trịnh Thái Bằng

  6. #85
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,238
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết
    Giải mật chiến tranh điện tử Mỹ ở Việt Nam (kỳ I)


    TPO - Trang thiết bị khí tài điện tử được triển khai trên mọi phương tiện tác chiến, bao gồm từ không quân, không quân hải quân, bộ binh, trên tất cả các không gian tác chiến, từ trên không, trên mặt đất và trên mặt nước...
    Sự xuất hiện trong lực lượng vũ trang và hạm đội các trang thiết bị điện tử (trang thiết bị thông tin liên lạc, các đài radar, các thiết bị dẫn đường, định vị, trang thiết bị điều khiển hỏa lực và các phương tiện tác chiến khác…), các hoạt động và khả năng của trinh sát, tình báo điện tử trong mọi lĩnh vực cũng như các hoạt động đánh lừa, gây nhiễu loạn hoặc chế áp ngày càng được tăng cường cả về chiều rộng và chiều sâu.
    Các hành động công kích hay phòng ngự trong lĩnh vực điện tử có ảnh hưởng mang tính quyết định đến hiệu quả tác chiến trên chiến trường. Ngày này, trong lĩnh vực tác chiến không gian ảo ngày càng hoàn thiện hơn các phương pháp và trang thiết bị, khí tài nhằm tăng cường hay bảo vệ các hoạt động tác chiến của các lực lượng trinh sát điện tử và chế áp điện tử đối phương. Trong lĩnh vực radar – điện tử, thông tin và truyền thông hàng ngày (thời bình và thời chiến) đang diễn cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt, cuộc đấu tranh trong không gian điện tử được gọi là “chiến tranh điện tử” các hoạt động nhằm dành quyền thống trị trong không gian electron được gọi là “tác chiến điện tử”.
    Các cường quốc quân sự thế giới phát triển mạnh các phương pháp và các phương tiện, khí tài trang bị trinh sát điện tử và chế áp điện tử nhằm mục đích tấn công chiếm đoạt thông tin và gây tổn thất nặng nề cho các phương tiện, vũ khí, khí tài của đối phương, bao gồm các phương tiện điện tử. Các lực lượng đối kháng cũng sử dụng các phương tiện, vũ khí và trang thiết bị khác nhau nhằm chống lại các hoạt động công kích điện tử của đối phương. Cuộc đấu tranh này được mang thuật ngữ “Chiến tranh điện tử”. Như vậy, chiến tranh điện tử là “ tập hợp các hoạt động tác chiến nhằm giảm thiểu tối đa hiệu quả sử dụng không gian điện từ để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu của đối phương đồng thời đảm bảo hoạt động hiệu quả các trang thiết bị, khí tài điện tử của phía bên mình” trích điều lệ tác chiến của quân đội Mỹ. Theo quan điểm của Bộ tổng tham mưu liên quân Mỹ, các hoạt động tác chiến được thực hiện trong “chiến tranh điện tử” là:
    - Trinh sát điện tử, nắm bắt thông tin, phát hiện mục tiêu và chỉ thị dẫn đường các lực lượng hoặc hỏa lực tiêu diệt mục tiêu.
    - Làm đứt đoạn và làm rối loạn các hoạt động điều hành lực lượng chiến đấu và vũ khí trang bị đối phương;
    - Giảm hiệu quả trinh sát của địch và hiệu quả sử dụng vũ khí trang bị, phương tiện chiến tranh;
    - Duy trì và đảm bảo khả năng hoạt động ổn định của các trang thiết bị, khí tài điều hành tác chiến và điều khiển hỏa lực.
    Như vậy: “Tác chiến điện tử” được hiểu là tập hợp tất cả những hành động theo mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ, vị trí và thời gian cùng với các lực lượng tham gia chiến đấu phát hiện được hệ thống và các phương tiện, khí tài điều hành các đơn vị chiến đấu và các phương tiện tác chiến của đối phương, thực hiện các đòn tiến công tiêu diệt các tranh thiết bị, khí tài điều hành tác chiến và điều khiển hỏa lực, chiếm đoạt thông tin và chế áp thông tin đối phương, gây nhiễu loạn và mất khả năng hoạt động của hệ thống điều hành binh lực và điều khiển hỏa lực. Cùng lúc bảo vệ các trang thiết bị, khí tài của hệ thống điều hành tác chiến và điều khiển hỏa lực quân ta, ngăn chặn mọi khả năng trinh sát điện tử, dẫn đường hỏa lực và chỉ thị mục tiêu của đối phương.
    Các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của Tác chiến điện tử (TCĐT):
    1- Tình báo, trinh sát, cảnh báo sớm phát hiện mục tiêu đối phương, thu thập thông tin, chỉ thị dẫn đường lực lượng hoặc vũ khí, phương tiện chiến đấu tiêu diệt mục tiêu.
    2- Chế áp điện tử - đánh lừa, gây nhiễu , phá hủy hoặc làm nhiễu loạn, đứt đoạn hệ thống điều hành tác chiến và điều khiển hỏa lực đối phương.
    Các cuộc chiến tranh hiện đại từ sau đại chiến thế giới lần thứ II, cùng với những diễn biến căng thẳng của chiến tranh lạnh mà trong cuộc đối đầu giữa hai hệ tư tưởng, cả hai phía đã tiến hành một cuộc chiến tranh điện tử - thông tin với cường độ rất cao, huy động hầu hết những thành tựu khoa học công nghệ đương thời vào cuộc chiến hiện đại nay. Những tổn thất cho cả hai bên hầu như không được tuyên bố, nhưng kết quả cuối cùng hầu như toàn thế giới đều đã rõ ràng. Cũng trong thời gian này, đã có nhiều cuộc xung đột vũ trang, chiến tranh khu vực xảy ra trên toàn thế giới, mà trong đó, chiến tranh điện tử đóng vai trò trọng yếu trong mọi hoạt động của chiến trường. Cuộc chiến tranh điện tử phức tạp nhất, đa dạng nhất và cũng là cuộc đối đầu không cân sức nhất giữa lực lượng tham chiến hiện đại nhất thế giới và lực lượng vũ trang nhân dân non trẻ nhất tại Việt Nam.
    Cuộc chiến trên đường Trường Sơn và chiến trường miền Nam Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là cuộc đối đầu tàn khốc giữa ý chí của một dân tộc chống ngoại xâm – thống nhất đất nước và một lực lượng quân sự hùng mạnh nhất trên thế giới. Để phá hoại phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, tiêu diệt lực lượng vũ trang nhân dân non trẻ, đồng thời ngăn chặn con đường vận chuyển vũ khí trang bị, phương tiện chiến đấu, binh lực và cơ sở vật chất từ miền Bắc vào Miền Nam, quân đội Mỹ đã sử dụng những phương tiện trinh sát điện tử hiện đại chưa từng có với những quy mô sử dụng cũng chưa từng có trong lịch sử chiến tranh.
    Trang thiết bị khí tài điện tử được triển khai trên mọi phương tiện tác chiến, bao gồm từ không quân, không quân hải quân, bộ binh đến những người lính cuối cùng, trên tất cả các không gian tác chiến, từ trên không, trên mặt đất và trên mặt nước. Trinh sát điện tử trong chiến tranh ở Việt Nam đã phát triển lên đến đỉnh cao nhất của khoa học công nghệ cả về tốc độ nghiên cứu cũng như tốc độ ứng dụng. Những hoạt động trinh sát điện tử diễn ra rộng rãi cả trên hai miền Nam Bắc Việt Nam, một trong những chiến trường dữ dội nhất và cũng tàn bạo nhất là trên tuyến đường Trường Sơn “đường mòn Hồ Chí Minh” anh hùng.
    Tác chiến điện tử trên đường mòn “Hồ Chí Minh” chiến dịch Igloo Whate

    Giai đoạn những năm 1960-x đến 1970-x, những cuộc tấn công liên tiếp của Quân giải phóng đã đập tan huyền thoại sức mạnh quân sự Mỹ, lực lượng vũ trang miền Nam càng ngày càng lớn mạnh. Để ngăn chặn những đoàn quân và những chuyến hàng vận tải vào Nam dọc tuyến Trường Sơn, người Mỹ đã triển khai một chiến dịch tác chiến điện tử rộng khắp trên toàn bộ tuyến đường Trường Sơn. Bước đầu tiên, để phát hiện được những đoàn xe và các đơn vị hành quân vào Nam, không quân hải quân Mỹ sử dụng các sensors thu âm, được dùng trong các phao thủy âm chống ngầm.
    Những chiếc sensor thu âm "Akvabuy" có chiều dài 91 cm đường kính 12 cm và nặng 12 kg. Các cảm biến âm thanh này được ném xuống từ máy bay bằng dù ngụy trang xuống các cánh rừng nhiệt đới. Dù sẽ treo lơ lửng các khí tài thu âm này trên cây, thu âm thanh tiếng động và truyền về trung tâm xử lý thông tin của Hải quân Mỹ, bình điện ắc quy cho phép nuôi khí tài trong 30 – 45 ngày. Nhưng do dù bay thường không định hướng nên các thiết bị này rơi tản mát, hiệu quả trinh sát rất thấp. Chương trình trinh sát điện tử được phát triển tiếp theo với phương án sử dụng rộng rãi các sensor được đặt mật danh là Igloo White nhưng nổi tiếng với tên gọi thông thường là Hàng rào điện tử McNamara, sensor được nâng cấp và cải tiến là thiết bị tổ hợp đo địa chấn, từ trường và tiếng động "ADSID" (Air Delivered Seismic Intrusion Detector) - Cây nhiệt đới, có khối lượng 11 kg được ném xuống bằng dù định hướng. Các Cây nhiệt đới (ADSID) này cắm sâu xuống đất, xòe các ăn ten thu tín hiệu được sơn mầu ngụy trang. Thế hệ thứ 3 của “ADSID” là các cây nhiệt đới thu cả âm thanh, địa chấn và từ trường có khối lượng đến 17 kg. Micro được tự động bật lên khi có từ trường hoặc địa chấn tương đương xe ô tô chạy, từ đó đã tăng được thời gian bình điện ắc quy lên đến 90 ngày liên tục truyền tín hiệu.
    Chương trình " Igloo White "hoặc “Hàng rào điện tử McNamara” ban đầu được nghiên cứu triển khai dọc khu phi quân sự đến tận biên giới Việt Nam – Lào một hệ thống hàng rào điện tử dày đặc bao gồm tất cả các loại radars, cảm biến điện từ, âm thanh và nhiệt độ kết hợp với hàng rào dây thép gai, các trận địa mìn và các cụm hỏa điểm dày đặc. Hàng rào điện tử dưới sự chi viện mạnh mẽ của các căn cứ và lực lượng quân đội Mỹ và Sài Gòn được cơ giới hóa và trực thặng vận cấp độ cao.

    Dự án hàng tỷ USD này được hy vọng có thể chặn đứng sự chi viện của miền Bắc XHCN cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Miền Nam Việt Nam.
    Hệ thống các sensors trinh sát, bãi mìn và hàng rào dây thép gại trong “Hàng rào điện tử McNamara”.
    Chương trình này bắt đầu từ năm 1966 khi tình hình cách mạng Miền Nam phát triển mạnh, với chi phí lên tới 2 tỷ USD đã nhanh chóng bị hủy bỏ do sự vô dụng trong việc ngăn chặn các lực lượng chi viện Miền Bắc vào miền Nam. Người Mỹ đã phát hiện ra những tuyến đường vận chuyển của binh đoàn 559 thông qua Lào và Campuchia. Điều này gây sốc nặng nề cho Bộ tham mưu liên quân Mỹ khi họ nhận được những bức ảnh chụp và nghe được âm thanh cơ giới từ những đoạn đường dưới tán cây rừng. Buộc người Mỹ phải có kế hoạch khẩn cấp đối phó.

    Sơ đồ hệ thống chống vận tải cơ giới và hành quân chi viện Miền Nam.
    Sự phát triển và mở rộng con đường Trường Sơn với mật độ xe cơ giới và binh lực lớn đe dọa một sự thảm bại đến gần. Quân đội Mỹ phải tiến hành tiếp theo chiến dịch tác chiến điện tử quy mô dọc tuyến đường Hồ Chí Minh, chiến dịch đánh phá tuyến đường giao thông anh hùng có tên là Operation Commando Hunt do lực lượng Hải quân hạm đội 7 của Mỹ kết hợp với tập đoàn không quân Hải quân số 77 tiến hành từ 11.11.1968 đến 29.3.1972 và một gian đoạn tiếp theo cho đến khi Mỹ quyết định rút quân khỏi Việt Nam, trong chiến dịch này đã sử dụng rộng rãi các thiết bị trinh sát điện tử như ADSID với nhiều chủng loại khác nhau như:

    Air Delivered Seismic Intrusion Detector (ADSID) Thiết bị thám sát địa chấn thả từ trên không.
    ACOUBOUY; Acoustic Seismic Intrusion Detector (ACOUSID)Thiết bị thám sát âm thanh; .
    Fighter Air-Delivered Seismic Intrusion Detector (FADSID)Thiết bị thám sát âm thanh thả bằng máy bay phản lực; .
    Helicopter-emplaced Seismic Intrusion Detector (HELOSID). Thiết bị dò tìm âm thanh của trực thăng; .
    Hand-emplaced Seismic Intrusion Detector (HANDSID) Thiết bị dò tìm âm thanh, địa chấn của thám báo; .
    Hai loại Cây nhiệt đới ADSID II and ACOUSID III; .
    Vùng tác chiến điện tử và không kích đường Trường Sơn bằng không quân..
    Thời gian đầu tiên, những cảm biến kiểu Cây nhiệt đới này được thả xuống các khu vực đường vận tải bằng máy bay hải quân OP -2 Neptune, do cấu trúc nặng nề và tốc độ bay chậm, hay bị lực lượng phòng không mặt đất của bộ đội Trường Sơn bắn rơi.
    Các cảm biến này được rải bằng nhiều loại phương tiện khác nhau như máy bay phản lực, máy bay trực thăng, một số các loại cảm biến khác còn do lực lượng thám báo Mỹ (SOG). Số lượng các cảm biến điện từ trường và âm thanh tính chỉ riêng năm 1969 là 5.000 chiếc, đến năm 1972, số lượng lên đến 40.000 chiếc được rải xuống.

    Sơ đồ tác chiến điện tử khu vực Khe Sanh – A shau, A Lưới. Các điểm chấm là tuyến rải các sensors.
    Máy bay tác chiến điện tử EC -121R.
    Hệ thống radars thu tín hiệu chuyển tải về trung tâm tác chiến điện tử ICS ở Thái Lan.
    Trung tâm tác chiến điện tử chống thâm nhập ICS ở Thái Lan.
    Các sensors được rải xuống các tuyến đường vận tải Trường Sơn cũng chỉ là một phần công việc. Sau khi các sensors được rải và kích hoạt, thông tin từ các sensors được truyền tải qua các máy bay tác chiến điện tử của hãng Lockheed EC-121R và hãng Beach "Deboneyrs" cho máy bay EU-121 "Paiva Eagle" về các trung tâm chỉ huy, trong đó có trung tâm tác chiến điện tử Mỹ đặt tại Trung tâm Giám sát Thâm nhập (Infiltration Surveillance Center - ICS) ở Thái Lan, sử dụng máy tính IBM 360 – 65.
    Từ những thông tin thu thập được, người Mỹ xác định những tuyến đường vận tải, kho tàng và khu vực tập trung xe máy kỹ thuật, từ đó ra quyết định công kích đường không. Do độ sai lệch trong xác định vị trí các cảm biến rất lớn (khoảng vài trăm mét), không quân Mỹ thường tiến hành các đợt không kích ồ ạt với số lượng bom đạn không hạn chế. Trong mỗi mùa khô vận tải, mỗi ngày địch sử dụng từ gần 200 đên 400 lần không kích bằng máy bay phản lực, 10 – 12 các chuyến bay tuần thám và tấn công các đoàn xe vận tải AC-130, khoảng từ 20 đến 30 lần không kích bằng máy bay ném bom chiến lược B-52.
    (còn nữa)
    Trịnh Thái Bằng

    No Avatar

    lixeta

     08:40, 3rd Aug 2013 #22213 

    Nguồn cung cấp bóng bán dẫn dồi dào cho QGP lắp đài.



  7. #86
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,238
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết
    Mỹ tác chiến điện tử ở chiến trường Việt Nam thế nào? (II)


    TPO - Tác chiến thường xuyên trên đường mòn Hồ Chí Minh là hơn 500 máy bay chiến đấu các loại. Đối đầu với đội quân hùng mạnh nhất thế giới là sức mạnh trí tuệ Việt Nam.


    AC 130 Gunship trên chiến trường Việt Nam.
    Để tăng cường khả năng ngăn chặn các đoàn vận tải trên các tuyến đường Trường Sơn, quân đội Mỹ sử dụng các máy bay vận tải như АС-119, АС-47, АС-130 trang bị một hệ thống tác chiến điện tử rất hiện đại, hoạt động hiệu quả trong môi trường thiếu ánh sáng và nhiễu loạn bởi các vụ nổ. Đó là các hệ thống TV quang học điện tử nhạy sáng hoạt động trong điều kiện ánh sáng mờ, hệ thống radar và video quan sát hồng ngoại FLIR vùng bán cầu phía trước của máy bay, hệ thống "Black Crow" (quạ đen) phát hiện sự đột biến của từ trường (khi động cơ khởi động và nổ máy, có hiện tượng đánh lửa ở bugi).
    Trong 3 hệ thống này, thông thường hệ thống radar hồng ngoại làm việc hiệu quả nhất, nhưng để xác định chính xác tọa độ cũng như số lượng đoàn xe cơ động, hoặc đoàn quân đang hành quân đêm, cần phải có sự phối hợp của các 3 hệ thống. Trên các máy bay đều được trang bị các loại vũ khí hạng nặng, từ súng máy Vulcan 20 mm đến pháo 40 mm, 105 mm và rockets.

    Những cung đường vận tải và xe ô tô vận tải do máy bay trinh sát Mỹ chụp ảnh.
    Các tuyến tác chiến điện tử của chiến dịch Command Hunt..
    Chiến thắng công nghệ bằng sức mạnh trí tuệ Việt Nam
    Thời điểm ban đầu, hệ thống sensors, các máy bay trinh sát tác chiến điện tử và các máy bay tác chiến điện tử đã gây rất nhiều khó khăn và tổn thất nặng cho các đơn vị vận tải. Lực lượng công binh của Binh đoàn Trường Sơn đã đáp trả bằng mọi biện pháp từ thô sơ đến hiện đại, các giải pháp thông thường là thay đổi các cung đường, các binh trạm vận tải, thành lập các tuyến đường ngắn và nhiều nhánh đường tránh cho xe cơ động khi gặp địch đánh phá, thành lập các tuyến đường kín chạy ban ngày tránh sự dò tìm của các máy bay trinh sát hồng ngoại ban đêm của địch.

    Đường kín trong các tuyến đường Trường Sơn.
    Các biện pháp chống chiến tranh điện tử thường được sử dụng là dùng các băng casset thu âm tiếng động cơ xe máy để phát gọi máy bay địch đến đánh phá những tuyến đường nghi binh, sử dụng các xe cháy hỏng có thể nổ máy được để nghi binh hoặc dùng một số xe nghi binh chạy đi chạy lại nhiều lần trên các tuyến đường tự do đánh phá. Giải pháp được cho là tối ưu nhất nhằm chống lại lực lượng không quân địch, đặc biệt là máy bay AC – 130 là lực lượng phòng không và truy quét thám báo địch.
    Năm 1968, lực lượng này chỉ gồm các vũ khí 37-mm và 57-mm có radar điều khiển. Năm sau đã xuất hiện pháo phòng không 85-mm và 100-mm, đến năm 1972, đường Trường Sơn đã được bảo vệ bởi hơn 1.500 khẩu súng phòng không. Ngày 29.3.1972, máy bay AC-130 đã bị bắn rơi trong một phi vụ ban đêm bởi tên lửa đất đối không vác vai SAM-7 ở gần Tchepone. tháng 8 năm 1972, chiếc AC-130 thứ hai đã bị bắn rơi bằng tên lửa SA-2. Sau vụ này, AC-130 phải lui về hoạt động ở phía Nam đường 9. Nỗ lực của Mỹ dùng máy bay AC-130 và Không quân Hải quân để đánh phá và chặn xe đã bị vô hiệu hóa.
    Tác chiến điện tử trên chiến trường Miền Nam Việt Nam
    Trên chiến trường Miền Nam Việt Nam, quân đội Mỹ cũng triệt để sử dụng các trang thiết bị điện tử để chống lại các cuộc tấn công của các lực lượng Quân Giải phóng. Các thiết bị ảnh nhiệt quan sát ban đêm được lắp trên các máy bay tuần tiễu OV-1 " Mohawk ", các máy bay này tiến hành tuần tiễu dọc các dòng sông vùng đồng bằng sông Cửu Long, sông Mê Kông thông thường là một cặp đôi với máy bay trực thăng chiến đấu AH-1G "Huey Cobra " hoặc máy bay trực thăng UH -1A "Iroquois"được trang bị rockets và súng máy.

    Máy bay trực thăng hỏa lực AH-1G "Huey Cobra " trên đồng bằng sông Cửu Long.
    Máy bay trinh sát phát hiện những chiếc ghe tam bản, những chiếc thuyền vận tải trên sông và gọi máy bay chiến đấu đến tấn công, những cặp đôi trinh sát – hỏa lực này đã gây rất nhiều khó khăn cho những hoạt động vượt sông hoặc vận tải ban đêm của những chiến sĩ du kích. Ngoài ra, các máy bay UH-1A còn được lắp đặt các ổ treo thiết bị quang hồng ngoại thụ động AN/ AAQ-5. Trên các máy bay "Huey Cobra" bắt đầu thử nghiệm lắp đặt các bộ khí tài kính ngắm hồng ngoại và ảnh nhiệt, một vài chiếc "Huey Cobra" đã thực hiện nhiệm vụ bằng các thiết bị này.
    Việc sử dụng các thiết bị quang học điện tử trên máy bay trực thăng không được sử dụng rộng rãi như máy bay cánh quạt và phản lực một phần do khả năng dễ bị tiêu diệt bởi súng bộ binh, nhưng việc lắp đặt thử nghiệm các hệ thống trang thiết bị AN/AAQ-5, CONFICS và ATAFCS đã trở thành cơ sở căn bản cho hệ thống thiết bị TADS/ PNVS trên máy bay АН-64А "Apache" sau này, các máy bay trực thăng ở miền Nam Việt Nam còn được lắp đặt các thiết bị thu âm và thiết bị phát hiện người trong các khu vườn hoang, cánh đồng hoặc vùng lau sậy ХМ-3 "People Sniyffer".

    Máy bay UH-1 mang thiết bị nhìn đêm AN/ AAQ-5.
    Quân đội Mỹ cũng chế tạo các thiết bị sensors dành cho bộ binh trong các khu vực đồn trú. Do tính chất khốc liệt và thường xuyên bị tấn công, phục kích cả ngày lẫn đêm, ngoài những hệ thống hàng rào vật cản, các khu căn cứ Mỹ còn được trang bị các thiết bị mini SID, micro SID DSID, (GSID hay Ground Seismic Intrusion Detector, PSID hay Patrol Seismic Intrusion Detector và HANDSID).
    Đó là một hệ thống PSID có 4 cảm biến địa chấn và nối liền với thiết bị truyền thông tin hữu tuyến, những thiết bị này hoạt động theo nguyên tắc cổ xưa (vướng và kích hoạt) tuyền tải thông tin về thiết bị điều khiển, tín hiệu có thể truyền xa đến 500 m. Nhờ những hệ thống này đi kèm với các thiết bị kính nhìn đêm, radar mặt đất mà quân đội Mỹ đã giảm nhiều các tổn thất ban đêm. Một sĩ quan Mỹ đã nhận xét:“PSID đơn giản, có độ tin cậy cao và ít bị hỏng hóc, đồng thời lại có kích thước và khối lượng nhỏ gọn, tôi muốn có 20 bộ khí tài như vậy trong một trung đội thay vì 20 bộ trong một tiểu đoàn”.

    PSID cho các đơn vị tuần thám và phục kích những năm 1960- x.
    Thiết bị phát hiện người ẩn nấp Е-63 “people sniffer” .
    Thiết bị tăng độ phân giải ánh sáng mờ AN/TVS-2 gắn trên súng máy 12,7mm.
    Thiết bị tăng độ phân giải ánh sáng mờ AN/PVS-2 gắn trên súng trường tự động..
    Đập tan huyền thoại công nghệ cao quân đội Mỹ
    Để chống phá các hệ thống phòng ngự điện tử, các chiến sĩ giải phóng quân đã thực nghiệm và đúc kết các kinh nghiệm tác chiến nhằm vô hiệu hóa khí tài hiện đại.
    Phương pháp đơn giản nhất là nghi binh, những đòn tấn công nghi binh thường xuyên liên tục đã làm cho lực lượng địch thiếu đi sự tin tưởng vảo trang thiết bị và tổn thất về vũ khí, đạn và cơ sở vật chất đi cùng, từ đó sử dụng lực lượng đặc công, biệt động luồn sâu, đánh địch ngay trong căn cứ.
    Phương pháp thứ hai rất hiệu quả là phục kích đánh địch khi đối phương tiến hành các chiến dịch hành quân hoặc truy quét tìm và diệt. Khi đó, quân Mỹ không có khả năng sử dụng các phương tiện mặt đất, mà chỉ có thể sử dụng các phương tiện trinh sát đường không, dễ bị bắn hạ bởi vũ khí bộ binh.

    Săn máy bay trực thằng của Trung đoàn Bình Giã.
    Phương pháp thứ ba: gây căng thẳng tột cùng cho địch là công kích hỏa lực tầm xa, bằng các loại vũ khí từ tự chế đến hiện đại như ĐKB (tên lửa BM -21 mang vác). Phương pháp thứ tư đó là phong trào săn máy bay địch bằng vũ khí có trong tay, từ bom mìn tự chế đến đến hỏa khí bộ binh.

    Pháo phản lực ĐKB (BM-21) bắn ứng dụng.
    Chiến tranh điện tử phong tỏa Biển Đông
    Cuộc chiến tranh điện tử còn được triển khai rộng rãi trên mặt biển và các vùng nước quan trọng như hải cảng, căn cứ quân sự ven sông.

    Sơ đồ phong tỏa đường biển của Mỹ ở Việt Nam.
    Để ngăn chặn các chuyến hàng vận tải biển của Đoàn tàu Không số 128. Quân đội Mỹ đã triển khai một hệ thống trang thiết bị điện tử rộng rãi trên mặt nước Vịnh Bắc Bộ, dọc theo ven biển miền Nam Việt Nam, liên tục hoạt động là 20 đài radar quan sát mặt biển và theo dõi mọi tàu thuyền. Các máy bay tuần biển như OP-2 Hecquyn, P-3 Orion tiến hành các hoạt động tuần tiễu ven biển 24/24 giờ trong ngày, gặp các tàu thuyền có dấu hiệu nghi ngờ, các trạm radars và các máy bay trinh sát tuần biển sẽ lập tức xác định tọa độ, chụp ảnh và tiến hành theo dõi ngay từ vùng nước quốc tế, khi các tàu đi vào vùng phong tỏa, các giang đoàn của hải quân Sài Gòn và các chiến hạm của Hạm đội 7 lập tức bao vây, tiếp cận lục soát hoặc trong các trường hợp có biểu hiện lạ, sử dụng hỏa lực tấn công tiêu diệt.
    Trong các hải cảng quân sự, quân đội Mỹ sử dụng triệt để các thiết bị theo dõi chống đặc công nước, đó là các đài sonar chủ động, hệ thống lưới chắn cạm bẫy cùng với các thiết bị báo động xâm nhập, các phao thủy âm. Toàn bộ hệ thống được kết nối lại bằng hệ thống truyền tải thông tin hữu tuyến vào một trung tâm duy nhất nhằm chống xâm nhập sau sự kiện một tàu chở dầu 15.000 bị lực lượng đặc công biệt động đánh chìm ở cảng Sài Gòn. Hải quân Mỹ cũng huấn luyện một đơn vị cá heo làm nhiệm vụ đeo sonar tuần thám dưới nước và phát hiện xâm nhập. Một sĩ quan hải quân Mỹ đã nhận xét: ”Cá heo rất thông minh, nó có khứa giác nhạy cảm và là một đài sonar tự nhiên tốt nhất, nó có thể bơi nhanh hoặc chậm tùy theo người điều khiển, với sonar gắn trên đầu, cá heo giúp cho lực lượng phòng vệ nhanh chóng phát hiện người nhái đột nhập…”. Đã có hàng trăm cá heo được huấn luyện cho mục đích này.

    Bản đồ hoạt động của lực lượng hải quân và không quân hải quân Hạm đội 7 Mỹ ở Việt Nam.
    Trong cuộc chiến tranh kéo dài từ năm 1964 – 1973 của quân đội Mỹ, TCĐT đã được áp dụng triệt để, trên mọi môi trường tác chiến, từ tác chiến trên không, trên đất liền và trên biển. Các phương tiện tác chiến được lắp đặt trong mọi phương tiện chiến đấu, từ máy bay cường kích phản lực, máy bay yểm trợ hỏa lực, trực thăng cho đến các phương tiện trên mặt đất. Tuy chưa cấu thành một hệ thống tác chiến điện tử đồng bộ, nhưng những bài học kinh nghiệm trong ứng dụng các trang thiết bị TCĐT đã trở thành cơ sở căn bản để cấu thành hệ thống các phương tiện trinh sát điện tử hiện đại ngày nay.
    Cuộc chiến đấu chống Mỹ giai đoạn 1964 – 1972 ở Miền Nam Việt Nam là cuộc đối đầu với một hệ thống công nghệ quân sự hiện đại và sức sáng tạo không ngừng của các chiến sĩ lực lượng vũ trang Miền Nam Việt Nam. Kết quả của chiến tranh đã rõ ràng, nhưng những bài học của nó vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn trong chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc. Cũng cần phải khẳng định, dành được thắng lợi trong “Chiến tranh điện tử, đó là sự kết hợp giữa trí tuệ con người và khoa học công nghệ”. Trang thiết bị khí tài tác chiến càng hiện đại, càng đòi hỏi sức sáng táo và năng động trong ứng dụng công nghệ vào thực tế chiến trường.
    Chiến tranh điện tử không chỉ có trong thời chiến, nó được thực hiện ngay trong thời bình và phát triển vô cùng mạnh mẽ. Để có thể đánh thắng kẻ thù trong Chiến tranh điện tử, cần có sự hiểu biết sâu sắc về TCĐT, phương tiện khí tài chiến đấu, sử dụng thành thạo trong thực tiễn, đồng thời phát triển công nghiệp điện tử quốc phòng, để có thể có được hệ thống khí tài tác chiến đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc.
    (còn nữa)

    Trịnh Thái Bằng

  8. #87
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,238
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết
    Tác chiến điện tử trong chiến tranh Việt Nam:

    Quyết đấu với 'Uncle Sam' trên bầu trời Hà Nội(III)


    TPO -Các lực lượng tên lửa bảo vệ Hà Nội đã chặn đứng 25 đợt tấn công ồ ạt, phóng 181 tên lửa, tiêu diệt 54 máy bay, trong đó có 31 В-52, 13 F-4, 10 А-6 và А-7.

    Cuộc chiến tranh điện tử mạnh mẽ và dữ đội nhất trong lịch sử tác chiến đã xảy ra trên bầu trời Miền Bắc Việt Nam, là cuộc đối đầu giữa một thế trận phòng không nhân dân nhiều tầng nhiều lớp, với một lực lượng không quân cường kích mạnh nhất thế giới, với mọi loại vũ khí, trang thiết bị vô cùng hiện đại.

    Hoạt động của Không quân Mỹ trong chiến tranh ở Việt Nam.
    Không quân Mỹ ở Việt Nam
    Trong những năm đầu của cuộc chiến tranh đường không lớn nhất trong lịch sử chiến tranh từ sau đại chiến thế giới lần thứ II, lực lượng không quân Mỹ chỉ phải đối phó với lực lượng súng pháo phòng không các cỡ nòng từ súng trưởng đến pháo phòng không 100 mm. Chỉ có hệ thống pháo phòng không 57mm được kết nối với radar điều khiển bắn. Do đó, tác chiến điện tử chỉ nằm trong lĩnh vực sử dụng máy bay trinh sát các độ cao, từ máy bay U-2, SR – 71 đến máy bay trinh sát không người lái.
    Sự xuất hiện của hệ thống tên lửa phòng không S-75 Dvina đã làm thay đổi tất cả. Chưa bao giờ các phi công Mỹ cảm thấy khủng khiếp khi bay vào bầu trời Hà Nội, số lượng máy bay bị bắn hạ tăng lên đến chóng mặt và buộc Bộ tổng tham mưu Không quân và Không quân Hải quân Mỹ phải khẩn cấp đối phó. Những phương tiện chế áp điện tử được nhanh chóng nghiên cứu và chế tạo dựa trên các thông số kỹ chiến thuật của những tổ hợp tên lửa S-75 Dvina do Israel thu được từ liên quân các nước Ả rập. Đỉnh cao của các hoạt động TCĐT trong cuộc không chiến trên bầu trời Miền Bắc là các chiến dịch Linebacker I và Linebacker II vào năm 1972, có sự tham gia với quy mô lớn của máy bay ném bom chiến lược B-52.
    Chiến dịch Linebacker II là chiến dịch mà các hoạt động TCĐT của Không quân Mỹ được triển khai với quy mô lớn nhất, áp dụng những công nghệ hiện đại nhất và thực hiện có hiệu quả cao nhất tính từ thời điểm áp dụng các phương tiện chế áp điện tử chống hệ thống phòng không Miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là hệ thống tên lửa S-75 Dvina trong thế trận phòng ngự Hà Nội, Hải Phòng.
    Chiến dịch Linebacker II
    Trong quá trình tiến hành chiến dịch không kích đường không mang tính chất quyết định cuộc chiến tranh Việt Nam trên cả lĩnh vực chính trị và quân sự. Bộ tổng tham mưu liên quân quân đội Mỹ đã triển khai trên quy mô rộng lớn các hoạt động TCĐT, xác định hệ thống đồng bộ các hoạt động TCĐT là yếu tố quyết định quan trọng đảm bảo các hoạt động tác chiến của lực lượng không kích đường không. Các hoạt động TCĐT bao gồm có:
    - Tìm kiếm và phát hiện tất cả các khí tài radars điện tử của hệ thống phòng không.;
    - Chế áp điện tử tất cả các đài radars của các phượng tiện, vũ khí phòng không của Việt Nam;
    - Sử dụng các đầu đạn (bom, tên lửa tự dẫn chống radars) tiệu diệt và phá hủy các phương tiện phát sóng radars của hệ thống phòng không.
    Các hoạt động TCĐT được triển khai trên tất cả các mục tiêu và mục đích tác chiến ở tầm chiến lược cũng như tầm chiến thuật. Các nhiệm vụ trinh sát chiến lược được thực hiện bởi các máy bay như SR-71, U-2 và RC-135, các nhiệm vụ trinh sát chiến thuật được thực hiện bởi các đài trinh sát điện tử - radar chế độ thụ động, lắp đặt trên tất cả các máy bay chiến lược, chiến thuật và máy bay thuộc không quân hải quân.

    Các bộ khí tài trinh sát radars được nêu trong bảng sau.
    Các đài trinh sát điện tử APR-25 (26), APR-36 (37) và APS-109 cho phép các phi công Mỹ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ không những phát hiện được bị chiếu xạ bằng radar của vũ khí phòng không, mà còn theo các thông số nhận được xác định được loại radar, hướng chiếu xạ radars và khoảng cách từ đài radar đến các máy bay. Thông tin về radars được truyền đến phi công và cơ trưởng bằng tín hiệu âm thanh và được hiển thị trên màn hình bảng đặc biệt cùng với các đèn tín hiệu. Hướng chiếu tia quét radar và nguồn phát đài radar cũng như khoảng cách đến đài radars được xác định bằng các thông số tín hiệu trên màn hinh đặc biệt hiển thị bằng các chỉ số điện từ. Ví dụ như trên đài trinh sát ARR-25 (26) có 4 giải pháp indicator hiển thị tín hiệu:
    - Màn hình hiển thị indicator “góc phương vị - tầm xa”;
    - Bảng báo hiệu chiếu sáng và tín hiệu đèn nhấp nháy;
    - Tín hiệu âm thanh trong tai nghe mũ lái;
    - Đồng hồ và kim chỉ mức độ nguy hiểm.
    Hướng chiếu xạ của radars được xác định bằng các anten thu thụ động với các vùng thu sóng radars chùm lên nhau, sác xuất sai lệch xác định góc phương vị từ 1-2°. Tầm xa của các đài radar có xác suất sai lệch lớn hơn, dựa trên công suất chùm sóng radio chiếu xạ lên máy bay (tính trên những thông số kỹ chiến thuật mẫu về các đài radars của Phòng không Việt Nam) do đó có độ chính xác không cao. Kiểu loại và tính năng kỹ chiến thuật của các phương tiện phòng không cũng được hiển thị lên màn hình indicator điện từ. Khi máy bay bị chiếu xạ bởi nhiều đài radars khác nhau, hệ thống phụ thuộc vào các thông số của bức xạ radio, độ dài của bước sóng, công suất của chùm sóng hoặc đường truyền xung để xác định các đài radars cũng như góc và hướng phát. Thông tin lần lượt theo mức độ ưu tiên nguy hiểm hiển thị lên màn hình indicator điện tử.

    Máy bay tác chiến điện tử EB – 66.
    Thực hiện công tác chế áp điện tử, trên máy bay ném bom chiến lược B-52 và máy bay tác chiến điện tử EB – 66 có các đài trinh sát ALR-20. Đài có nhiệm vị xác định tần số phát sóng của các đài radars và hiệu chỉnh các đầu phát xung gây nhiễu, được lựa chọn để chế áp các đài radars.
    Như vậy, bằng các trang thiết bị điện tử có trên máy bay, các phi công có khả năng đánh giá được tình hình môi trường điện từ trên chiến trường, xác định mức độ nguy hiểm từ các đài radars theo dõi, radars pháo phòng không và radars tên lửa, từ đó xác định thời điểm lực lượng phòng không mặt đất phóng tên lửa, từ những thông tin nhận được, quyết định các hoạt động cơ động tránh tên lửa hoặc sử dụng vũ khí tên lửa chống radars.
    Chế áp điện tử và cuộc quyết đấu

    Không quân và Hải quân Mỹ, trước thế trận phòng không dày đặc của Miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là khu vực Hà Nội và Hải Phòng, đã nỗ lực tổ chức và triển khai TCĐT trên quy mô lớn nhất nhằm phá hoại và cắt đứt mọi hoạt động điều hành tác chiến của Bộ tham mưu lực lượng Phòng không – Không quân, đồng thời giảm đến tối thiếu khả năng chiến đấu của vũ khí trang bị, phương tiện chiến đấu của không quân và phòng không Việt Nam.
    Để thực hiện mục đích đó, quân đội Mỹ sử dụng triệt để các phương tiện chế áp bằng gây xung radio nhiễu loạn trong không gian điện từ, gây nhiễu chủ động và rải gây nhiễu thụ động. Số lượng các đầu phát nhiễu radio điện từ phụ thuộc vào loại máy bay và nhiệm vụ chiến đấu được giao. Trên máy bay ném bom chiến lược B - 52 lắp đặt 15 đầu phát xung điện từ radio gây nhiễu chủ động, trên máy bay tác chiến điện tử EB -66 lắp 12 đầu phát xung gây nhiễu, trên các máy bay chiến thuật có từ 2 – 4 đầu phát. Các đầu phát xung radio gây nhiễu có thể phát xung che phủ một dải tần số từ 40 đến 10500 MHz . Thiết bị gây nhiễu tập trung nhiều vào dải tần số hoạt động của các tổ hợp khí tài điện tử radar trinh sát tầm xa, radars điều khiển và dẫn bắn tên lửa phòng không, pháo phòng không và radars dẫn đường máy bay tiêm kích của quân chủng Phòng không Không quân. Hoạt động chế áp điện tử nhằm vào các loại radars như P -12, P- 15, P-35, PRV 11, đài điều khiển và dẫn đường tên lửa RSNA – 75M, đài điều khiển hỏa lực phòng không SON – 9, đài radar theo dõi, ngắm bắn mục tiêu của máy bay tiêm kích RP – 21M, các đài vô tuyến R – 405 và tổng đài tác chiến R – 109. Trên các máy bay B-52 và máy bay TCĐT EB -66 lắp đặt các đài phát gây nhiễu các rãnh đạn RSNA – 75M, trên các máy bay chiến thuật không lắp đặt các loại này.
    Gây nhiễu thụ động chủ yếu sử dụng các cuộn dây bạc lượng cực phản xạ sóng radars, che chắn các dải tần số có bước sóng can ti mét, đề xi mét và mét. Gây nhiễu thụ động thường được máy bay chiến thuật F – 4 Phantom thực hiện bằng các avtomat và các thùng container dây băng gây nhiễu. Các chùm dây băng gây nhiễu thụ động này được sử dụng để che chắn và ngụy trang đội hình không kích của máy bay ném bom chiến lược, chiến thuật và không quân hải quân, đồng thời cũng được dùng để tự vệ ngụy trang trước nguy cơ bị tên lửa phòng không bắn rơi. Hệ thống các bộ khí tài gây nhiễu được tổ chức như sau:
    - Hệ thống khí tài gây nhiễu chủ động (nhiễu loạn sóng radio chủ động chế áp các đài radar được phát từ các máy bay ném bom chiến lược, máy bay chiến thuật, máy bay TCĐT EB – 66 và các chiến hạm thuộc hạm đội 7 đang hoạt động ngoài khơi vịnh Bắc Bộ.
    - Các đài gây nhiễu các rãnh đạn tên lửa S- 75M bằng sóng radio được lắp trên các cụm máy bay tập kích chiến thuật đường không và máy bay yểm trợ, nghi binh và chi viện thuộc Không quân và Không quân hải quân Mỹ;
    - Các loại nhiễu thụ động (dây băng gây nhiễu lưỡng cực) được lắp đặt trên các máy bay chiến lược, chiến thuật và các máy bay không quân hải quân.
    Trong các đợt tấn công ồ ạt bằng máy bay ném bom chiến lược, các cụm không kích máy bay chiến thuật, đòn tấn công gây nhiễu được bắt đầu bằng các máy bay TCĐT. Nguyên tắc tổ chức thực hiện như sau: Trước 15-20 phút bắt đầu tấn công, các máy bay tác chiến điện tử gây nhiễu chủ động (Không quân - ЕВ-66, Không quân Hải quân - ЕА-6В và ЕКА-ЗВ), tiếp cận vùng trời Vịnh Bắc Bộ và Lào và bắt đầu gây nhiễu chiến thuật, 10-16 phút sau cuộc không kích, các máy bay TCĐT dừng phát xung radio gây nhiễu.

    Vùng TCĐT của máy bay EB – 66 thông thường nằm trên hướng bay không kích của máy bay B- 52 vào mục tiêu. Các máy bay TCĐT bay theo 1 quỹ đạo chiến đấu trên độ cao từ 6 – 7 km mỗi tốp thường từ 2 – 3 máy bay. Trên hướng Thái Lan – Lào các máy bay bay ở khoảng cách đến biên giới Việt Nam từ 60 – 80 km trên vùng trời Sầm Nưa; từ hướng căn cứ Guam – Vịnh Bắc Bộ - 50 – 60 km cách bờ biển. Mỗi tốp máy bay TCĐT Mỹ được bảo vệ và che chắn bởi một biên đội máy bay tiêm kích (1 – 2 chiếc). Tần số phát sóng radio gây nhiễu của EB – 66 nằm trong dải tần tử 40 – 3500 MHz. Các máy bay chiến thuật như F -4, F -105 trong đội hình chi viện và yểm trợ cho máy bay B-52 cũng được trang bị các bộ khí tài gây nhiễu chủ động.
    Các máy bay này được lắp đặt 4 containers gây nhiễu chủ động ALQ-87 hoặc ALQ-101, gây nhiễu radar trong một hoặc hai chế độ. Ở chế độ chế áp sóng radar SNR tìm kiếm, phát hiện mục tiêu và dẫn đường đạn trên tần số 40-50 MHz của các đài radars tên lửa, pháo phòng không và radars trinh sát mục tiêu tầm xa. Khi máy bay không bị chiếu xạ bằng radar (thoát khỏi vùng theo dõi) của radar. Chế độ thứ hai là chế độ phát xung radio ngăn chặn phát hiện và theo dõi của các radar tầm xa trên tần số bước sóng từ 200-300 МHz. Chế độ này được bật khi máy bay bay vào vùng chiến đấu của các đài radar phát hiện mục tiêu, không phụ thuộc vào tình huống bị chiếu xạ hay không. Hệ thống điều khiển các bộ khí tài gây nhiễu được tự động hóa hoặc phi công sẽ điều khiển trên chế độ “bật – tắt” khi bước vào cuộc không kích.

    Sơ đồ gây nhiễu thụ động của máy bay B-52 và máy bay chiến thuật.
    Phương pháp gây nhiễu chiến thuật của không quân Mỹ.
    Gây nhiễu thụ động trong các trường hợp không kích ồ ạt bằng máy bay chiến lược được thực hiện bởi chính các máy bay ném bom B-52 hoặc các cụm máy bay chiến thuật của Không quân hoặc không quân hải quân. Rải nhiễu thụ động lưỡng cực được tiến hành bởi các tốp máy bay trinh sát hỏa lực chiến thuật trong khoảng từ 10 – 15 phút trước khi máy bay ném bom chiến lược B-52 tiếp cận mục tiêu. Khu vực triển khai gây nhiễu thụ động được lựa chọn theo hướng tiếp cận mục tiêu của máy bay ném bom, thời gian dự kiến các máy bay ném bom sẽ bay vào vùng hỏa lực của tên lửa hoặc pháo phòng không và độ cao gây nhiễu phụ thuộc vào độ cao quỹ đạo bay của máy bay B-52.
    Thông thường, các tốp máy bay F-4D và F-4E sẽ gây nhiễu ở khoảng cách từ 40 – 50 km đến mục tiêu không kích dọc theo đường bay của máy bay ném bom và gây nhiễu dày đặc ở khu vực mục tiêu. Một phi đội từ 4 – 8 máy bay sẽ tạo một hành lang nhiễu dày đặc khoảng 30 km và có chiều rộng từ 4 – 6 km. Các máy bay gây nhiễu bay theo tốp 4 chiếc, 2 tốp bay 8 chiếc dàn hàng ngang với khoảng cách từ 600 – 800 m ở độ cao 6 – 7 km. Thời gian phóng các thùng nhiễu giãn cách từ 3 – 5s. Khi rơi khỏi máy bay, phút chốc các thùng nhiễu sẽ bị kích nổ tự động, các bó nhiễu được tung dày đặc trong không gian. Trong khoảng từ 4 – 5s, các bó nhiễu thụ động dưới tác dụng của các dòng không khí, tạo ra trên màn hình các loại radar tín hiệu tương tự như tín hiệu bắt được từ mục tiêu. Khi máy bay ném bom B-52 bay đến khu vực gây nhiễu, trên màn hình radar hình thành các sọc tín hiệu nhiễu dày đặc, gây khó khăn cho việc tìm kiếm, phát hiện mục tiêu và xác định tình huống không tập.
    Tên lửa chống radar Shrike


    Để tăng cường khả năng chế áp điện tử, không quân Mỹ đã thành lập các đơn vị không chiến với radar, mỗi phi đội không kích radars được biên chế từ 4 – 6 máy bay chiến thuật hoặc không quân hải quân ( F-105G và F-105D, có thể là F-4C, А-4, А-6А, А-7Е và F-8). Tập kích các đài radars được thực hiện bằng các tên lửa điều khiển tự dẫn bằng sóng radars tên lửa như AGM-45 " "Shrike" và AGM-78 " Standard ARM". Các loại tên lửa chống radars được sử dụng để chống radar điều khiển hỏa lực của tên lửa S-75M Dvina, radar điều khiển hỏa lực SON – 9 và các đài radars trinh sát P-35, PRB – 11
    Sơ đồ tấn công radars bằng tên lửa chống radars Shrike.
    Phương thức tác chiến tấn công các đài radars tên lửa như sau. Các máy bay mang tên lửa chống radars bay ở khoảng cách từ 15 đến 20 km cách khu vực tấn công của B-52 trên độ cao trung bình, các phi công có nhiệm vụ công kích radar đều là những phi công lão luyện trong điều khiển tên lửa chống radar và có kỹ năng cơ động tránh tên lửa tốt. Khi khí tài trinh sát phát hiện có chiếu xạ radar, thông tin đường truyền tải vào đầu dẫn tên lửa, tên lửa được phóng chậm nhất là sau 10 – 15 s khi bắt được tín hiệu khóa sóng radar của đài phát.
    Các máy bay chống radar chỉ có thể phóng tên lửa ở chế độ bay ổn định trên mặt phẳng ngang, độ cao bay là 2 – 4 km. Các trạng thái phóng tên lửa khác không được áp dụng. Tên lửa Shrike được phóng từ khoảng cách tính đến đài radar là từ 15 – 35 km với mục đích sao cho các trắc thủ tên lửa phòng không khó phát hiện được tên lửa Shrike tấn công. Tên lửa Shrike giai đoạn này không có hiệu quả tác chiến cao khi nhiều đài phát xung radars cùng hoạt động trong bán cầu đầu thu phía trước của tên lửa, đồng thời hoàn toàn mất phương hướng khi tin hiệu radars bị ngắt, chính vì vậy, hiệu quả tác chiến của Shrike không cao, trong suốt chiến dịch Linebacker II chỉ có 1 đài radar điều khiển tên lửa và hai radars đo độ cao PRV – 11 bị đánh trúng.

    Trong chiến dịch Linebacker II, tin tưởng vào khả năng chế áp điện tử của các phương tiện tham gia tác chiến, quân đội Mỹ đã điều động một số lượng khổng lồ các phương tiên bay tham gia cuộc không kích có tính chất quyết định cuộc chiến tranh này. Trên vùng trời Hà Nội và Hải Phòng, Mỹ điều động 1.800 lần xuất kích máy bay chiến đấu, trong đó có 390 máy bay В-52, gần 1.200 máy bay chiến thuật và máy bay thuộc Không quân hải quân, 70 máy bay cường kích tầm thấp F-111A và 150 máy bay trinh sát điện tử quang ảnh SR-71, 147J, RF-4C và RA-5C.
    Vạch nhiễu tìm thù
    Trước khi bắt đầu chiến dịch Linebacker II, trong các trận chiến đấu chống B-52, lực lượng phòng không Việt Nam đã phát hiện ra dải tần số và cường độ của loại nhiễu này. Từ các phát hiện trên, đã hình thành tập tài liệu “Cách đánh B-52” các chuyên gia Liên Xô (cũ) và các kỹ sư quân sự Việt Nam đã khắc phục bằng phương pháp "át nhiễu", nâng công suất sóng hồi xung của đạn và sóng điều kiển đạn lên gấp ba lần, đủ sức vượt qua cường độ nhiễu không chỉ của loại ALQ-71 mà còn cả các loại máy gây nhiễu cùng tính năng có công suất lớn hơn như ALQ-101, ALQ-107. Từ năm 1968 đến năm 1973, các loại máy gây nhiễu rãnh đạn kiểu ALQ-x của không lực Hoa Kỳ trở nên vô hiệu đối với S-75 Dvina.
    Những thay đổi được ghi nhận trên tổ hợp SAM-2 là việc các nhà khoa học Việt Nam phối hợp với chuyên gia Liên Xô thay đổi tần số điều khiển rãnh đạn giúp đạn tên lửa khó bị gây nhiễu bởi các thiết bị đối kháng điện tử chủ động và thụ động (trong giai đoạn 1965-1972, chuyên gia ta phối hợp với kỹ sư Liên Xô đã 5 lần thay đổi tần số rãnh đạn).
    Phương pháp bắn ba điểm - sáng tạo sử dụng vượt tính năng khí tài của người Việt Nam
    Thông qua thực tế chiến đấu, Bộ đội Tên lửa Việt Nam đã đúc kết được nhiều bài học kinh nghiệm để đối phó với màn nhiễu của không quân quân Mỹ và phương pháp vạch nhiễu tìm thù, lấy điểm yếu của địch làm lợi thế của ta.

    Giai đoạn đầu của chiến dịch không kích, các đơn vị trắc thủ tên lửa hầu như không nhận biết được mục tiêu do các loại nhiễu dày đặc đã hoàn toàn ảnh hưởng đến khả năng quan sát chế độ thụ động của radar tên lửa (Ra đa cảnh giới kiêm dẫn đường P-35 Saturn, P-12 "Spoon Rest", đài radar cảnh báo sớm dải sóng VHF, tầm hoạt động 200 kilômét, P-15 "Flat Face C" radar cảnh giới và bắt mục tiêu, chống mục tiêu bay thấp băng C, công suất 380 kW, tầm hoạt động 250 km/155 dặm . PRV-11 "Side Net" radar đo độ cao mục tiêu). Đồng thời, các trắc thủ tên lửa do nguy cơ tấn công của tên lửa chống tên lửa phòng không, đã không thể sử dụng sóng radar phát chủ động để tìm kiếm mục tiêu. Qua tổng kết kinh nghiệm đánh trận đầu tiên, lực lượng phòng không Việt Nam đã phát hiện một vấn đề: bản thân máy bay B-52 cũng tự gây nhiễu chủ động, từ đặc điểm này có thể xác định được các tốp máy bay B-52 bay vào, từ đó quyết định phương pháp tấn công mục tiêu:
    Nhiễu chủ động của В-52, chế áp trên dải tần số đài điều khiển SNRA -75M "Fan Song" có thể được phát hiện ở khoảng cách 180 – 200 km. Trên khoảng cách 60 – 70 km sĩ quan điều khiển có thể nhìn thấy 1 dải nhiễu rất lớn và các dải nhiễu nhỏ hơn, điều chỉnh độ nét, các trắc thủ giảm dải nhiễu xuống còn 3 – 3,5 độ. Trên khoảng cách 40 – 50 km, dải nhiễu mở rộng ra đến 6 – 7độ. Trên mặt phẳng góc phương vị dải nhiễu được chia ra thành 3 sọc sáng 3 – 3,5 độ, trên góc tà không chia, hoặc chia thành 2 sọc.

    Những đặc điểm của nhiễu B-52:
    1.Khi các máy bay B-52 vào không kích, cùng lúc địch gây nhiễu mạnh trên toàn bộ các dải tần số hoạt động của các trang thiết bị điện tử radio và cả sóng cực ngắn.
    2. Dải nhiễu của các tốp máy bay B-52 ổn định về độ rộng, độ sáng và cường độ công suất hơn so với các máy bay chiến thuật. Do máy bay B-52 bày theo đường bay thẳng, có độ cao ổn định (9-12km) và tốc độ ổn định (220 – 230 m/s).
    3. Quỹ đạo đường bay của máy bay B052 rất ổn định, tốc độ bẻ góc của B-52 theo góc phương vị khoảng 0,2 độ/s trong khoảng cách từ 30 – 100 km, do đó tốc độ thay đổi tần số dải nhiễu cũng rất ổn định.
    4. Đuôi của dải nhiễu В-52 nếu so sánh với máy bay chiến thuật, để lại dầu vết lâu hơn.
    5. Công suất của các đài phát xung gây nhiễu của В-52 rất mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến tín hiệu điều khiển tên lửa (nhiễu rãnh đạn). Theo các thông số của lực lượng phòng không, máy phát gây nhiễu ALT-28 tạo dải nhiễu trên mặt phẳng thẳng đứng là 20 – 25 độ, chiều rộng của dải nhiễu trên mặt phẳng ngang là 15 độ. Hiệu suất cao nhất của dải nhiễu nằm ở khoảng cách từ 24 – 25 km với độ cao máy bay là 10 – 12 km.
    Từ những nhận định theo kinh nghiệm đã nếu, kíp trắc thủ xe điều khiển đã lựa chon phương thức bắn kết hợp 3 điểm TT và phương pháp bắn vượt nửa góc PC. Trong phương án bắn phối hợp này, sĩ quan điều khiển sau khi đã xác định dải nhiễu B-52 chuyển thông tin mục tiêu cho kíp trắc thủ radars. Phương pháp phóng tên lửa diệt mục tiêu B-52 được thực hiện như sau:

    Kíp trắc thủ sau khi xác định mục tiêu tốp B-52 đang hướng về khu vực ném bom cần tiêu diệt. Trên khoảng cách 40 – 45 km tiến hành 1 lần phóng giả (nghi binh) nhằm xác định chính xác mục tiêu cần tiêu diệt và loại trừ nguy cơ Shrike. Sau đó tắt phát sóng chủ động của SNR và bám mục tiêu thụ động (hướng vào tâm điểm của vùng nhiễu được nhận định là B-52. Bật phát sóng chủ động khi mục tiêu đã vào vùng phóng tên lửa 28 – 34 km trong khoảng 5 – 7s nhằm xác định tình huống và điều kiện nhiễu, đặc biệt đánh giá sự hiển diện của nhiễu thụ động trong khu vực tên lửa gặp mục tiêu.
    Tên lửa được phóng lên và điều khiển theo phương pháp 3 điểm (TT) trong điều kiện SNR tắt phát chủ động nhằm đảm bảo không bị công kích bởi tên lửa Shrike. Bật phát chủ động trong khoảng thời gian từ 15 – 18 s trước khi tên lửa gặp mục tiêu cho phép trong điều kiện phát hiện được tín hiệu mục tiêu trên nền nhiễu, có thể chuyển sang chế độ dẫn PS (vượt nửa góc) đồng thời bắt mục tiêu ở chế độ tự động, chế độ điều khiển tay quay và hỗn hợp (phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng xác định tín hiệu mục tiêu trong nhiễu xạ mạnh. Về căn bản, phương pháp bắn 3 điểm là hình thức cải tiến của phương thức bắn Vượt nửa góc với việc bỏ chế độ dẫn tự động sang dẫn đạn tên lửa bằng tay bám theo nguồn nhiễu do trắc thủ trực tiếp thực hiện. Khi tới cự ly tiêu chuẩn, đạn tên lửa sẽ đươc kích hoạt đầu tự dẫn để tìm kiếm, khóa và tiêu diệt mục tiêu. Điểm khó của phương thức này là việc vạch nhiễu, xác định đúng đâu là nguồn nhiễu của máy bay B-52 và đâu là nhiễu do máy bay chiến thuật tạo ra. Sau khi tên lửa đã chạm mục tiêu và phát nổ. Trắc thủ radar tắt nguồn phát và quay radar sang hướng khác, loại trừ tên lửa Shrike.
    Một cải tiến mới cũng được đưa vào cho tên lửa nhằm chống nhiễu, đo là khởi động hệ thống tự dẫn và khởi động hệ thống kích nổ phi tiếp xúc trên khoảng cách ngắn hơn so vơi trước đây. Chế độ tự dẫn được khởi động hiệu quả nhất ở khoảng cách đến mục tiêu Rs là 8 – 15 km. Do dải nhiễu của B-52 kéo dài đến 25 km và dày đặc ở khu vực mục tiêu, do đó, nếu chế độ tự dẫn được bật muộn hơn 8 km, hiệu suất theo bám mục tiêu bị giảm đáng kể, nếu khoảng cách bật chế độ tự dẫn tên lửa lớn hơn 15 km, tên lửa sẽ bị ảnh hưởng bởi nhiễu thụ động, kết quả tiêu diệt mục tiêu bằng 0. Với chế độ tự dẫn lớn hơn hoặc bằng 8 km. Xác suất tiêu diệt là 0,25. Đồng thời cũng có sự thay đổi trong chế độ khởi động bộ phận kích nổ. Bộ phận kích nổ được khởi động trong khoảng cách từ 5 – 7 km đến mục tiêu. Do nhiễu xạ thụ động thường dày đặc ở tầm cao 6 – 8 km. Nếu bộ phận kích nổ khởi động theo nguyên lý chế tạo là 11,5km, tên lửa sẽ bị kích nổ khi xuyên qua tầng nhiễu thụ động. Việc kích nổ muộn hơn cũng giảm tỷ lệ ảnh hưởng của nhiễu thụ động.
    Trong chiến tranh đất đối không tại Việt Nam (1965-1972), do ưu thế gần như áp đảo của không quân Mỹ nên các đơn vị phòng không Việt Nam phải thực hiện chiến thuật cơ động và nghi binh cho tên lửa phòng không. Theo điều lệnh tác chiến của lực lượng phòng không Liên Xô (cũ), mỗi tiểu đoàn S-75 Dvina (kể cả loại S-75B Volkhov) đều cần từ 1 đến 2 trận địa dự bị trong phạm vi bán kính cơ động 5 đến 10 km. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, mỗi tiểu đoàn tên lửa phòng khống phải có từ 4 đến 6 trận địa dự bị ở phạm vi cơ động có thể lên đến hàng trăm km trên nhiều loại địa hình khác nhau. Sau mỗi trận đánh, toàn bộ khí tài được tháo dỡ, thu gom trong vòng chưa đến 1 giờ và được di chuyển ngay đến trận địa mới. Tại trận dịa cũ, dân quân tự vệ dựng lại bộ khí tài giả làm bằng tre và cót, được sơn phết giống như thật. Do Shrike có hiệu quả thấp, máy bay cường kích chi viện hỏa lực đã tập kích dữ dội vào các trận địa không người. Do đó, mặc dù có số lượng không lớn nhưng hầu hết các đơn vị của tên lửa phòng không Việt Nam vẫn tránh được những đòn đánh hủy diệt của không quân Hải quân Mỹ, bảo toàn được lực lượng
    Trận không chiến 12 ngày đêm "Điện Biên Phủ trên không", Lực lượng tên lửa phòng không đã phối hợp sử dụng đài ra-đa K8-60 của pháo phòng không 57mm quét tập trung để xác định chính xác các tốp B-52 (không quân Mỹ không để ý tới tần số phát của đài ra-đa dạng này với chủ quan rằng chúng không có khả năng gây hại tới B-52) cung cấp thông tin cho đài radar dẫn bắn Fan Song E (radar điều khiển hỏa lực của tổ hợp SAM-2) để dẫn bắn trúng vào các tốp B-52 của địch khi tần số ra-đa của tổ hợp tên lửa SA -75 bị gây nhiễu nặng. Ngoài ra, đài radar Fan Song được trang bị hệ thống kính tiềm vọng TZK- tổ hợp PA-00 cung cấp thông tin đồng bộ với hệ thống quan sát bằng ra-đa (phương thức so kim) cho phép SA-75 khai hỏa vào mục tiêu trong điều kiện nhiễu nặng, không thể xác định được mục tiêu. Theo lời nhiều trắc thủ đã trực tiếp chiến đấu đánh B-52 trong chiến dịch 12 ngày đêm, tổ hợp PA-00 với tầm quan sát chỉ 12km, nhưng do không thể bị gây nhiễu (quan sát trực tiếp bằng mắt) đã đóng góp rất lớn vào việc tiêu diệt các máy bay ném bom chiến lược B-52 của Mỹ.
    Hai ngày đầu tiên, lực lượng tên lửa phòng không Việt Nam chống lại 5 đợt tấn công ồ ạt của máy bay ném bom chiến lược. Trong hai đêm đó, hiệu quả tác chiến tương đối thấp, chỉ đạt 0,09, trong 4 máy bay B – 52 bị bắn rơi, trung bình tiêu hao là 19 tên lửa. Nhưng cũng nhờ những kinh nghiệm của 2 đêm tác chiến đầu tiên, lực lượng phòng không Việt Nam đã nâng cao hiệu suất phóng tên lửa lên đến 0,27, tỷ lệ tên lửa trên một máy bay B-52 rơi là 6,6.
    Một đơn vị bị trúng tên lửa Shrike do trắc thủ đã phạm sai lầm khi sử dụng chế độ phát chủ động của radar SNR. Do quá bám mục tiêu, đã chiếu xạ B-52 đến 80s với cường độ phát xung rất cao. Thực hiện yêu cầu chiến thuật chống Shrike, chỉ bật phát chủ động trong 18 – 20s. nên các đơn vị tên lửa còn lại, hầu hết Shrike đều rơi cách trận địa từ 2-3 km.
    Thống kê cho thấy, hiệu quả tác chiến cao trong môi trường nhiễu tổng hợp của đối phương rất mạnh cùng với những đợt tấn công khốc liệt các trận địa tên lửa của máy bay chiến thuật Mỹ đã khẳng định, tính năng kỹ chiến thuật của tổ hợp SA-75M Dvina rất tốt, các kíp trắc thủ tên lửa đã được huấn luyện thuần thục khai thác sử dụng triệt để mọi khả năng của radars, tên lửa đồng thời có kỹ năng tác chiến hoàn hảo, bình tĩnh dũng cảm và sáng tạo trong từng lần phóng tên lửa. Một đóng góp to lớn trong chiến dịch chống không kích đường không trong điều kiện tác chiến điện tử rất mạnh là khả năng cơ động và đảm bảo cơ sở vật chất, đạn tên lửa kịp thời trong trận đánh của các đơn vị hậu cần – kỹ thuật binh chủng.
    Uncle Sam nếm đòn
    Các lực lượng tên lửa bảo vệ Hà Nội đã chặn đứng 25 đợt tấn công ồ ạt của máy bay ném bom chiến lược và máy bay chiến thuật của đối phương. Tiến hành phóng đạn 181. Kết quả đã tiêu diệt 54 máy bay, trong đó có 31 В-52, 13 F-4, 10 А-6 và А-7. Với máy bay ném bom В-52 đã phóng 135 lần (74% tổng số tên lửa), tiêu hao 244 tên lửa. Hiệu suất chiến đấu đạt 0,23. Tiêu hao để diệt 1 máy bay B-52 là 7,9 tên lửa.
    Có 46 lần phóng tên lửa tấn công tiêu diệt máy bay chiến đấu cấp chiến thuật và không quân hải quân (26% tổng số các lần phóng), tiêu hao 77 tên lửa , bắn rơi 23 máy bay. Hiệu quả tác chiến đạt 0,5 với tỷ lệ tiêu hao 3,3 tên lửa trên 1 máy bay.
    Chiến dịch Linebacker II là một chiến dịch lớn chưa từng có trong các chiến dịch TCĐT mà quân đội Mỹ và các nước trên thế giới tiến hành. Mật độ trang thiết bị tác chiến điện tử cũng lớn nhất từ trước đến tận ngày nay. Hầu hết các lần phòng đạn đều phải tiến hành trong điều kiện nhiễu tổng hợp và dày đặc (chiếm 76%). Tổng kết chung hiệu quả tác chiến trong điều kiện gây nhiễu chế áp mật độ dày đặc là 0,47. Đây là hiệu quả tác chiến cao nhất trong sử dụng tên lửa phòng không đánh trả các cuộc tập kích đường không. Một cuộc tập kích số lượng lớn đã phải hủy bỏ nửa chừng do ngay từ khi bắt đầu trận đánh, số lượng máy bay đã bị tiêu diệt quá lớn. Hiệu suất tác chiến cao đối với máy bay cấp chiến thuật do điều kiện tác chiến tốt hơn, máy bay địch bay ở tầm thấp hơn tầm nhiễu thụ động, các đài gây nhiễu trên máy bay không nhiều, máy bay cơ động nhanh, phức tạp nên nhiễu chủ động không che chắn được mục tiêu. Trong 46 lần phóng tên lửa có tới 18 lần phóng tiêu diệt máy bay ở độ cao thấp (39%) dưới 1 km.
    Chiến dịch “12 ngày đêm” trên bầu trời Hà Nội, nhìn từ góc độ kỹ chiến thuật có thể thây: vị thế của tác chiến điện tử nói chung, chế áp điện tử và chống chế áp điện tử nói riêng đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong chiến tranh hiện đại. Ngày từ thời điểm bắt đầu, các phi công B-52 Mỹ được thông báo cuộc không kích “như một cuộc dạo chơi trên bầu trời đêm Hà Nội” do sự quá tin của lực lượng Không quân Mỹ về năng lực tác chiến điện tử cũng như sự hiểu biết về hệ thống phòng không đối phương. Chủ quan đã dẫn đến một kết cục thảm bại bất ngờ. Nhưng cũng có thể khẳng định rằng, nếu TCĐT của không quân Mỹ mà yếu hơn thì thảm họa không thể đoán trước được. Từ những bài học về chế áp điện tử cho thấy, tác chiến điện tử không đơn thuần là cuộc đối đầu giữa công nghệ và công nghệ, đây là sự đối đầu giữa công nghệ hiện đại và ý chí, sự thông minh sáng tạo của con người. Bằng sự sáng tạo của mình, lực lượng Phòng không nói chung và phòng không tên lửa nói riêng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
    Chiến tranh hiện đại là cuộc chiến tranh điện tử công nghệ cao, ai không làm chủ được trong lĩnh vực công nghệ này, người đó chắc chắn thất bại. Năng lực tác chiến điện tử và phương tiện, khí tài chiến đấu phải được nâng cấp, hiện đại hóa, phát triển toàn diện trong các quân binh chủng. Số lượng và tính năng kỹ chiến thuật phải có đủ khả năng chống trả các cuộc tấn công điện tử ồ ạt quy mô lớn trong không gian điện từ. Điều đó đòi hỏi tăng cường rèn luyện lực lượng, nắm chắc và sử dụng thuần thục khí tài TCĐT hiện có trong tình huống điện từ trường phức tạp nhất, phải có được những hệ thống sản phẩm “nội địa” (tự thiết kế - sản xuất) nhằm đảm tính bảo mật cao nhất, đồng thời có thể phát huy thế mạnh ở cách đánh sở trường và kinh nghiệm chiến đấu để bảo vệ vững chắc thành đồng tổ quốc.
    Trịnh Thái Bằng

  9. #88
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,238
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết
    Lữ đoàn dù 305 - Khúc tráng ca lặng lẽ - Kỳ 1: “Đội Hồ Nam”

    TT - Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh kể: “Đầu năm 1961 tôi và anh Điềm (lúc đó là trung tá Nguyễn Chí Điềm - PV) lên gặp thiếu tướng - phó tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn nhận nhiệm vụ.
    Những người lính dù thuộc Lữ đoàn dù 305 - Ảnh: Tư liệu của Bùi Xuân Dưỡng
    *Trong những năm chống Mỹ có một lực lượng đặc biệt đã bí mật ra đời và tồn tại một thời gian ngắn. Đó là Lữ đoàn dù 305 - đơn vị dù đầu tiên và duy nhất đến nay của Quân đội nhân dân Việt Nam.
    * Dù chỉ tồn tại trong bảy năm rồi chuyển sang binh chủng đặc công, nhưng Lữ đoàn dù 305 đã lập nên những chiến công oanh liệt và bi tráng. Có rất ít người biết về lực lượng đặc biệt này với những thăng trầm và oai hùng trong lặng lẽ.
    Anh Tấn nói: Từ lâu Tổng quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh đã nghĩ tới, nay mới chính thức quyết định thành lập binh chủng dù, lấy Sư đoàn bộ binh 305 của Liên khu 5 tập kết ra Bắc làm nòng cốt. Đây là việc làm nằm trong định hướng xây dựng quân đội ta trở thành quân đội chính quy hiện đại, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc, chi viện miền Nam. Đây là một binh chủng hoàn toàn mới với chúng ta. Anh Tấn hỏi chúng tôi có ý kiến gì không, chúng tôi xin phép khi triển khai cụ thể có gì lúng túng sẽ xin ý kiến thủ trưởng vì mọi thứ còn mới quá, không hình dung được điều gì sẽ xảy ra để thắc mắc trao đổi”.

    Khai sinh Lữ đoàn dù

    “Bộ Quốc phòng quyết định chuyển Sư đoàn bộ binh 305 thành Lữ đoàn dù 305 là tạo sức mạnh thép cho miền Nam”. Tháng 6-1961, thượng tướng - tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đã nói như thế khi về thăm Lữ đoàn dù 305 đóng tại phố Vôi (Lạng Giang, Bắc Giang). “Anh Dũng nói: tất cả các đơn vị nhảy dù của quân đội các nước trên thế giới bao giờ cũng là đơn vị thiện chiến đứng đầu trong các đơn vị bộ binh. Nó là đơn vị được tuyển chọn có chất lượng nhất, được huấn luyện toàn diện, kỹ càng nhất; có phương tiện và kỹ thuật vận động cơ động nhanh nhất, bất ngờ nhất; có sức đột kích mạnh nhất, chiến đấu sâu trong trung tâm địch; tạo nên thế tiến công mạnh mẽ cho lực lượng chủ lực giành thắng lợi”, thượng tướng Nguyễn Nam Khánh (86 tuổi, hiện sống ở Hà Nội) nhớ lại ký ức của hơn 50 năm trước.Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh là chính ủy đầu tiên của Lữ đoàn dù 305 khi lữ đoàn đặc biệt này thành lập đầu năm 1961 với sự giúp đỡ của năm chuyên gia nhảy dù Liên Xô. Lữ đoàn trưởng là đại tá Nguyễn Chí Điềm (tư lệnh binh chủng đặc công sau này). Đây là lữ đoàn dù đầu tiên và duy nhất đến thời điểm hiện tại của Quân đội nhân dân Việt Nam.
    Lữ đoàn trưởng Điềm và chính ủy Khánh bắt tay xây dựng kế hoạch dài hạn, nhưng trước mắt tập trung triển khai đợt huấn luyện kỹ thuật nhảy dù cá nhân đạt yêu cầu cao. Đây là điều kiện tiên quyết để chuyển sang các đợt huấn luyện tiếp sau cao hơn, phức tạp hơn. Họ phải làm gấp rút để đến cuối năm 1962 hoàn thành kế hoạch huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật dù trong chiến đấu binh chủng hợp thành cho toàn lữ đoàn.
    Trước đó, để chuẩn bị cho việc thành lập Lữ đoàn dù 305, cuối năm 1958 đầu năm 1959, việc tuyển chọn lực lượng để đưa sang Trung Quốc học rồi về phát triển lữ đoàn dù được khẩn trương tiến hành và diễn ra trong bí mật. Cục Cán bộ - Tổng cục Chính trị đã đến Trường bổ túc văn hóa quân đội Lạng Sơn lấy người đưa về Viện Quân y 108 (Hà Nội) khám tuyển được vài chục người để phát triển lực lượng cho không quân. Đoàn cán bộ nhảy dù được thành lập, rút ra trong số đã tuyển chọn ở trên và chọn lựa thêm từ các trung đoàn chủ lực đã chiến đấu và lập công xuất sắc trên các chiến trường Nam Trung bộ và Tây nguyên.
    “Những người được chọn đi học đều là bộ đội đã trải qua chiến đấu, thiện chiến. Ít nhất là cán bộ tiểu đội, chiến sĩ xuất sắc ngon lành mới được đi chớ đâu phải tay ngang. Tôi còn nhớ các anh như đại úy Trần Thẩm, thượng úy Bùi Duy Trinh, chuẩn úy Vũ Minh Ngọc đại đoàn 312 đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, đại úy Đặng Nhơn là bộ đội Nam tiến, chuẩn úy Đại từ chiến trường Trung bộ, chuẩn úy Cao Minh Dương chiến đấu ở chiến trường Nam bộ. Lúc đó tui đang học lý thuyết lái máy bay trinh sát thì được lệnh chuyển qua học dù”, đại tá Dương Tuấn Kiệt (81 tuổi, hiện sống ở Hòa Vang, Đà Nẵng) nhớ lại. Khi tham gia lực lượng đặc biệt ấy, ông Kiệt mới mang quân hàm thượng sĩ.
    Ông Bùi Xuân Dưỡng (78 tuổi, hiện sống ở TP Đà Nẵng) cho biết thêm: “Tuyển trong toàn quốc chớ không đơn giản đâu. Kỹ lắm, như tuyển không quân, từ lý lịch phải trong sạch đến trình độ, thể lực. Do hoạt động trên không, sức chịu đựng cao nên phải chọn những người trẻ (dưới 30 tuổi), khỏe. Sức khỏe phải đạt chuẩn như phi công. Sư đoàn 324 của tui tuyển chọn được ba người ra Hà Nội nhưng cuối cùng chỉ có tui được chọn”. Lúc đó ông Dưỡng mới 24 tuổi, là trinh sát chuyển qua.
    Chuyến xuất ngoại bí mật
    Toàn bộ đội hình đặc biệt được đưa đến trạm 66 (Bộ Quốc phòng) tập kết. “Trước ngày đi, trung tướng phó tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái trực tiếp giao nhiệm vụ cho chúng tôi: các đồng chí được chọn lựa vì nhiệm vụ cấp bách của đất nước. Yêu cầu các đồng chí phải tiếp thu hết, tiếp thu nhanh, phải học bằng được để về làm nhiệm vụ. Tui còn nhớ anh Trần Hiệu - cục trưởng Cục Tình báo quân sự - nói: Tôi từng nhảy dù ở Mỹ bảy lần nhưng với người Việt Nam đây là nhiệm vụ rất mới. Lúc đầu tôi nghĩ chỉ có ông nào dám tự tử mới dám nhảy. Tôi nói vậy để các đồng chí biết nhiệm vụ của các đồng chí rất nặng nề. Nhưng đây là quốc thể. Qua đấy học mà các đồng chí không dám nhảy thì xấu hổ lắm. Nghe vậy anh em rất phấn khởi. Mình là nông dân có biết chi đâu. Giờ được chọn, được học một nghề quá mới từ trên trời rơi xuống”, ông Kiệt cười hể hả.
    Tháng 3-1959, đoàn học viên đặc biệt được đưa sang căn cứ đổ bộ đường không ở Khai Phong (tỉnh Hà Nam, Trung Quốc) tập huấn. Đoàn có 11 người bên không quân và 30 trinh sát của bộ do đại úy Đặng Nhơn làm trưởng đoàn, Hoàng Gia Huệ làm phó đoàn. Cuộc ra đi diễn ra trong bí mật. Gia đình không biết đi đâu, làm gì. Ngay cả bộ đội nơi tập kết (trạm 66 Bộ Quốc phòng) cũng không biết. Tất cả đều mặc thường phục. Mọi người được đưa lên xe lửa đến cửa khẩu ở Lạng Sơn. Ở bên kia bạn đã chờ sẵn, đưa thẳng về căn cứ ở Khai Phong. “Chúng tôi học ở Sư đoàn dù 2721 và được bố trí ăn, ngủ ngay tại căn cứ - ông Kiệt kể - Đoàn chúng tôi có mật danh là “đội Hồ Nam”. Khi xưng với người Trung Quốc và khi họ gọi mình, vẫn là “đội Hồ Nam” chứ không được gọi là bộ đội Việt Nam để bảo đảm bí mật”.
    “Chưa huấn luyện, học hành gì cả, họ cho mình xem đội nữ vận động viên nhảy khinh khí cầu ở độ cao 400m. Xong, họ hỏi anh Đặng Nhơn có dám nhảy thử hay không. Tụi tui bất ngờ lắm, không biết anh Nhơn xử trí thế nào. Nhảy thì... mình đã biết gì đâu. Không nhảy thì mất thể diện lắm. Ảnh gật đầu. Họ đưa anh Nhơn lên khinh khí cầu, cũng tầm 400m, cho đeo dù trước ngực 8kg, dù sau lưng 17kg. Lên khinh khí cầu, chưa biết nhảy nhót thế nào thì họ đẩy nhẹ, anh Nhơn rơi ra ngay. Về tụi tui hỏi, ảnh nói: Khó chịu lắm! Người cứ như tuồn tuột xuống từng tầng, từng tầng. Ruột gan bàng hoàng ba ngày mới hết”, đại tá Dương Tuấn Kiệt nhớ lại.
    Sau ngày ra mắt không thể quên, chuỗi ngày huấn luyện đặc biệt bắt đầu.
    MY LĂNG



  10. #89
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,238
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết
    Khóa huấn luyện đặc biệt

    TT - Những ngày huấn luyện của “đội Hồ Nam” bắt đầu tại căn cứ Khai Phong. Bãi tập rộng mấy chục hecta, nằm trong khu vực toàn doanh trại quân đội. Trong ký ức những “tân binh dù”, trên những bãi cát rộng mênh mông chỉ có củ cải ngọt, củ cải đường trồng thành từng vạt trải dài. Bãi tập không có cây lớn nên không có vật cản, rất thuận tiện cho việc huấn luyện.
    Trang phục của “đội Hồ Nam” tại căn cứ Khai Phong - Ảnh tư liệu của Bùi Xuân Dưỡng
    Học nhảy đủ kiểu
    Đại tá Dương Tuấn Kiệt (TP Đà Nẵng) nhớ lại: “Giáo viên Trung Quốc có gần chục người, đều dưới 40 tuổi, rất nhiệt tình. Dù đã có phiên dịch nhưng để cho nhanh, giáo viên phải dạy cả... tay, chân, động tác. Chúng tôi được học lý thuyết rồi học gấp dù, học kỹ thuật nhảy. Bài huấn luyện đầu tiên giáo viên yêu cầu chúng tôi tập nhảy từ trên bệ tam cấp ở nhiều độ cao khác nhau, từ 1,5m nâng dần đến 3m. Hai tay phải ôm dù phụ phía trước ngực. Mắt phải nhìn như thế nào, hai chân phải tiếp đất cùng lúc... để không bị gãy chân, trẹo giò. Nhảy không tốt, đất gồ ghề là gãy chân ngay. Có lúc lên độ cao 2,5m rồi nhảy không xuống để quen trong trường hợp gió lớn (6m/giây). Cứ tập nhảy cho thuần thục động tác tiếp đất bằng chân để rèn hai chân rồi chuyển sang nhảy đeo cáp ở đài cao 9m”.
    Bài tiếp theo là nhảy từ trên mô hình cửa máy bay ở độ cao 3-4m. Người ta làm mô hình cửa máy bay cho học viên tập cách rời máy bay, cách lái dù cho đúng chiều gió, cách quay trái, phải; tiến về phía trước... Xong giai đoạn này, “đội Hồ Nam” được đeo dù có dây cáp rồi học kỹ thuật nhảy xuống như khi rời máy bay. “Toàn bộ hệ thống tập dưới mặt đất hết, thuần thục mới lên trời. Chỉ riêng phần học mô hình dưới đất đã mất 5-6 tháng” - ông Bùi Xuân Dưỡng (TP Đà Nẵng) cho hay.
    Sau khi nhuần nhuyễn các kỹ thuật nhảy từ mô hình dưới mặt đất, “đội Hồ Nam” được học cách mở dù, điều khiển dù rồi được đưa lên tháp dù cao 30-40m huấn luyện tiếp đất. Phía trước đeo dù phụ nặng 8kg, sau lưng đeo dù chính nặng tới 17kg. Dù phụ chỉ dùng trong trường hợp dù chính gặp trục trặc. Khi nhảy ra được ba giây, dù chính phía sau bật thì thả tay, điều khiển dù chính. Một đầu của dù được gắn với chiếc móc câu trên sợi dây cáp lớn. Khi học viên vừa nhảy ra được ba giây, móc câu sẽ giật bung dù rồi thu móc lại. “Nhảy trong chiến đấu là nhảy độ cao thấp (dưới 1.000m), nhảy hàng loạt, nhảy đông, nhảy máy bay lớn nên phải có móc câu kéo sẵn dây dù cho dù bung ra, nhanh chóng tiếp đất” - ông Dưỡng giải thích.
    Đã có không ít tình huống rắc rối với những người mới học điều khiển dù. “Tui lần đầu tiên tập động tác chưa chính xác, quên, ngoái cổ lại phía sau, nghiêng đầu khi dây dù bung ra làm trẹo cổ, xước chảy máu tai - ông Dưỡng nhớ lại - Đúng ra mặt phải úp xuống song song với mặt đất. Có anh đang nhảy, gió bất ngờ lớn 6m/giây dù quấn vô chân hoặc mở dù dự bị lại vướng vô dù chính, xử lý kiểu gì cũng không được. Xuống tiếp đất lực quá mạnh, có anh bị què chân phải dưỡng cho lành rồi lại học tiếp. Có khi gió lớn quá, kéo đi không điều khiển được dù”.
    Cứ buổi sáng, “đội Hồ Nam” học kỹ thuật nhảy dù từ 6g-11g về ăn cơm; buổi chiều thể thao chạy, đánh bóng chuyền... để tăng cường thể lực. “Chế độ ăn gần như phi công - ông Dưỡng cho hay - Sáng trước khi ăn có sữa đậu nành uống. Bánh bao có nhân và không nhân, ăn thoải mái, ăn đến no thì thôi chứ không chia suất. Cơm thỉnh thoảng mới có. Họ nấu theo kiểu Việt Nam nhưng không ngon bằng mình. Trưa cũng bánh bao và có thêm canh ninh xương heo, thịt gà bồi dưỡng”.
    Một ngày, “đội Hồ Nam” được giáo viên huấn luyện đưa đến một dụng cụ đặc biệt trong buổi học: khinh khí cầu! “Nhảy mặt đất thành thạo rồi, giáo viên cho chúng tôi học nhảy trên khinh khí cầu xem có dám nhảy hay không vì đây là bước chuyển tiếp để lên máy bay nhảy - ông Kiệt giải thích - Mỗi quả khinh khí cầu chở bốn người ở bốn góc, bay lên độ cao 400-500m thì giáo viên hô “nhảy” là từng người nhảy xuống. Chỉ riêng khoản này đã mất mấy tháng mới thuần thục. Phải “tốt nghiệp” từng khoa mục nhỏ dưới mặt đất rồi mới được lên máy bay thực hành nhảy dù”.
    Bìa cuốn sổ ghi chép của một sĩ quan dù trong thời gian học ở Trung Quốc - Ảnh: M.L.

    Lần đầu rời máy bay

    Sau khi nhảy thuần thục ở khinh khí cầu xong, một thử thách nữa của khóa huấn luyện là nhảy từ trên máy bay xuống. Căn cứ đổ bộ đường không của TQ có mấy chiếc máy bay vận tải An-2. Đây là loại máy bay nhỏ hai cánh, tốc độ chậm (dưới 200km/giờ). Họ điều một chiếc tới. “Trong ngày huấn luyện nhảy thật từ máy bay An-2, giáo viên đưa một đội vận động viên nữ mặc quân phục đến nhảy mẫu. Cô dạy trực tiếp tui tên Lý Quế Trâm. Cô Trâm còn trẻ, rất xinh, nhảy dù thiệt giỏi. Bữa đó họ nhảy từ độ cao 1.000m rơi tự do đến 700m mới mở dù” - ông Kiệt vẫn còn nhớ rất rõ về khóa học đặc biệt 54 năm trước.
    Máy bay nhỏ, mỗi đợt chỉ chở được 10 người, cứ thay nhau tốp này xuống tốp kia lên. “Nói thiệt, lên trời nhảy xuống ở độ cao 1.000m, ai cũng... tâm tư ghê lắm. Càng lên cao nhìn xuống thấy mọi thứ càng lúc càng nhỏ rồi chẳng thấy gì nữa. Nhưng nghĩ người ta nữ còn nhảy được, sao mình không làm được? Lúc đầu ai cũng run nhưng không thể hiện ra ngoài. Giáo viên hô “chuẩn bị” là răm rắp đứng dậy nhảy theo thứ tự. Nhìn xuống thấy sâu thăm thẳm. Gió ràn rạt hai bên tai. Đứng trước cửa, giáo viên hô “nhảy” là nhảy ào ào. Đi là đại diện cho quân đội Việt Nam, phải làm sao để họ nghĩ bộ đội Việt Nam làm cái gì cũng được chớ. Hồi đó mình thanh niên khỏe, hăng hái, mỗi lần nhảy có mang vũ khí gì mình đều được chỉ định nhảy trước” - ông Dưỡng bật cười.
    Người cựu binh dù gật gù bảo: “Mỗi lần nhảy dù là một trận chiến, phải dũng cảm. Run là sẽ bị tai nạn ngay trên không. Phải bình tĩnh để nhớ kỹ thuật rời máy bay: bước chân trái lên thành cửa máy bay, dùng sức đẩy nhẹ người ra. Mà phải nhảy ngang chứ không được cắm đầu xuống. Lao ra khỏi máy bay đếm thầm: 1, 2, 3 là giật dây mở dù. Đầu phải thẳng, song song với mặt đất, nếu nghiêng đầu qua bên nào thì bị hệ thống dây bên đó kéo sước tai, má, cằm. Có người mất bình tĩnh, cứ nhắm mắt rơi nhưng máy có chế độ tự động mở dù sau ba giây. Lúc đầu có anh cứ nhắm mắt nhảy, chỉ tin vào thầy, vào máy móc, vào dù. Đến lần thứ ba thì thấy bình thường. Lúc đầu tập nhảy dù không, sau mới có trang bị vũ khí để chiến đấu. Nhảy trong điều kiện bí mật nên tất cả thao tác phải gọn lẹ, nhanh chóng. Tiếp đất, gấp dù, giấu dù như thế nào, ở đâu và gấp rút triển khai đội hình tác chiến”.
    “Giáo viên người Trung Quốc khen: Bộ đội Việt Nam dũng cảm lắm - cựu binh dù 305 Dương Tuấn Kiệt mỉm cười bảo - sư đoàn trưởng và chính ủy Sư đoàn Dù 2721 khen: Ít có đội nào dũng cảm như vậy. Ở họ, mới lên đài cao 15-20m tập nhảy xuống có dây cột mà cả một đại đội Trung Quốc có hàng chục người không dám nhảy. Vậy mà lên máy bay, bộ đội Việt Nam 100% đều nhảy và nhảy tốt!”. “Lúc đó học ngang nhau hết - ông Dưỡng cho biết - Ông mô từ cán bộ đến chiến sĩ đều học rất chăm. Mỗi người đều có một cuốn sổ tay ghi chép. Không hiểu là hỏi ngay. Học cả tuần, có mỗi chủ nhật được nghỉ vẫn xin thầy cho thực hành thêm. Đoàn tự tổ chức học ráo riết. Ở nhà dặn phải tập trung học, nắm cho được kỹ thuật trong thời gian 7-8 tháng”.
    Khi mới bắt đầu học nâng cao: rơi tự do trong 10 giây rồi đến 15 giây thì ngày 12-10-1959, “đội Hồ Nam” được lệnh về nước. “Khi về ban huấn luyện tổ chức liên hoan rất ấm cúng, còn tặng cả dù và vũ khí. Giáo viên mừng lắm, bảo bộ đội Việt Nam học nhanh” - ông Dưỡng không giấu được niềm tự hào về thế hệ dù đầu tiên của Việt Nam.
    Đến ngày 15-8-1960, đoàn qua lại Khai Phong học nâng cao tiếp. Nhưng ông Dưỡng nhớ lại: “Chúng tôi học gần kết thúc khóa học thì nhận được lệnh phải trở về nước gấp làm nhiệm vụ”. Đó là ngày 5-2-1961.
    MY LĂNG



  11. #90
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,238
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết
    Lữ đoàn dù 305 - Khúc tráng ca lặng lẽ - Kỳ 3:

    Nhiệm vụ đầu tiên

    TT - Trưa 5-2-1961, “đội Hồ Nam” được máy bay bạn đưa từ sân bay Vũ Hán về nước. Và ngay tại sân bay Gia Lâm họ nhận phi vụ đầu tiên, nhưng không phải ở VN.
    Đại đội 6 (lữ đoàn dù 305) thực hiện nhiệm vụ thả dù tiếp tế cho bộ đội Lào. Có chiến sĩ phải làm việc trên không bảy tiếng một ngày - Ảnh:tư liệu
    Thả dù xuống rừng Lào

    “Chúng tôi xuống sân bay Gia Lâm mới biết cách mạng Lào có diễn biến mới. Lực lượng dù của đại úy Kong Le (tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 nhảy dù quân đội Hoàng gia Lào) sau khi đảo chính lật đổ phái phản động cực hữu thân Mỹ đã bị đẩy bật ra khỏi Vientiane và rút lên Bắc Lào. Trên đường rút quân, Kong Le cho quân dù tấn công thẳng vào Cánh Đồng Chum, khu vực do Vàng Pao kiểm soát. Bộ đội Pathet Lào ủng hộ đại úy Kong Le, phát động một loạt đợt tấn công nghi binh ở rìa phía đông Cánh Đồng Chum. Chúng tôi trở về để làm nhiệm vụ thả dù tiếp tế cho bộ đội Pathet và quân tình nguyện Việt Nam tại Lào. Nhu cầu cần chi viện rất lớn” - ông Hồ Sĩ Tấn (81 tuổi, hiện đang sống ở Q.Thanh Xuân, Hà Nội) cho biết.
    “Buổi trưa hôm đó, máy bay vừa về đến sân bay Gia Lâm, trút xuống là làm nhiệm vụ ngay, không ai được về đơn vị” - ông Tấn nhớ lại. Ngay trong đêm đó, đoàn kỹ thuật dù bắt tay vào công việc cùng các đồng chí hậu cần, kỹ thuật Cục Không quân và tổ bay của trung đoàn 919 chuẩn bị hoạt động tiếp tế cho bộ đội Pathet Lào. Ông Tấn kể: “Khi đi học ở Trung Quốc, mỗi người học một thứ chuyên sâu. Trong 11 người, tui là người duy nhất học chuyên sâu về nắm các kỹ thuật thả dù tiếp tế. Đại tá Đặng Tính, lúc đó là cục trưởng Cục Không quân, trực tiếp giao nhiệm vụ cho tui về Cục Hậu cần không quân làm nhiệm vụ gói hàng thả dù tiếp tế cho chiến trường. Trung đoàn không quân vận tải 919 (trung đoàn không quân vận tải đầu tiên của Việt Nam) phụ trách nhiệm vụ tiếp tế này”.
    Liên Xô đưa cả máy bay IL-14 chở 10 chuyên gia sang hỗ trợ. Mười máy bay Li-2 Liên Xô cho Lào cũng được gấp rút đưa sang Việt Nam để làm nhiệm vụ. Trung đoàn 919 dùng cả đội máy bay An-2, Li-2 (chở hàng nhẹ và hạ cánh xuống những sân bay gần đấy đưa người xuống để giao nhiệm vụ nhận hàng hóa) và một số máy bay IL-14 thả những loại hàng nặng. Một đại đội phụ trách sân bay gồm 35 người được tuyển chọn do phi công Lịch làm đại đội trưởng thực hiện nhiệm vụ. Trung úy Hồ Sĩ Tấn được giao nhiệm vụ là đội trưởng đội thả dù tiếp tế. “Tôi một mặt vừa huấn luyện 35 anh em gói hàng, thả dù vừa chỉ huy đi thả luôn. Thời gian quá gấp rút nên cứ huấn luyện cho anh em đến đâu làm đến đấy” - ông Tấn cho biết.
    Đợt thả hàng trước đó của chuyên gia Liên Xô bị hỏng rất nhiều. Vì núi quá dốc, gió thổi kéo dù quấn trên những ngọn cây. Các thiết bị điện tử, máy bộ đàm bị va đập. Trinh sát của Cục 2 không thể báo cáo về Bộ Tổng tham mưu. Ông Tấn kể: “Tôi thấy thả nguyên một cục là không ăn rồi. Máy điện tử bị chấn động là hỏng. Tui ra chợ trời mua trục bi đóng thành hộp sắt, hộp gỗ. Khi thả xuống nó lăn tròn, máy bộ đàm không bị chấn động. Chân chống và phần thân máy của bộ đàm hơn 100kg chia ra. Không thể thả một dù như lý thuyết mà dùng 2-3 dù để giảm va đập. Nhưng ngặt cái gió thổi mỗi thứ bay lung tung một hướng, khó tìm để ráp lại. Tui lại nghiên cứu rồi nảy ra sáng kiến: buộc các gói hàng lại với nhau, cái nọ nối cái kia bằng đoạn dây dài 15m. Mấy anh trinh sát mừng lắm vì nhờ cách này mà họ mới liên lạc về Bộ Tổng tham mưu được”.
    Với những loại hàng nặng như pháo, súng... người sĩ quan trẻ Việt Nam đã nghĩ ra cách buộc 2-4 dù chứ không chỉ dùng một dù như lý thuyết. “Tùy theo điều kiện thời tiết gió máy mà chọn cách thả dù cho phù hợp - ông Tấn cho biết - Nếu gió mạnh thì cứ 2-4 dù (thường là hai dù) cột 2-4 góc của kiện hàng. Hồi tui học ở Trung Quốc và Liên Xô không có kiểu đó. Nhưng bốn góc bốn dù cột bằng nhau thì không được. Mỗi dù tui cho buộc dây có độ dài ngắn khác nhau để khi gió mạnh các dây dù không bị quấn vào nhau, nhưng tác dụng đặc biệt là khi rơi xuống, toàn gói hàng không bị rơi tiếp đất cùng một lúc mà xuống từ từ, từng phần để giảm lực tác động lên hàng, tránh bị va chạm mạnh gây hư hỏng”.
    Những chuyến bay đêm
    “Ngày đó, chúng tôi đi chỉ đeo mỗi băng đỏ có ngôi sao để lấy ký hiệu nhận biết, hai con dao trong ống tay và hai khẩu súng ngắn (mỗi khẩu 12 viên đạn)” - cựu chiến binh Trương Thanh Phú (72 tuổi, Bắc Giang) cho biết.
    Để tránh bị radar Mỹ phát hiện từ ngoài biển, các chuyến bay tiếp tế đều phải bay ở độ cao thấp, khoảng 500m, có lúc hạ xuống chỉ 300m.
    “Bay thấp gió đưa đi ít hơn, thời gian thả hàng nhanh hơn. Đặc biệt, những kiện hàng nặng như pháo rơi xuống ở độ cao thấp tỉ lệ an toàn cao hơn. Nếu đưa máy bay lên 2.000m, ngoài biển máy bay Mỹ và các chiến hạm quan sát thấy sẽ tìm cách tiêu diệt ngay. Cứ phải bay sát triền núi. Biết độ cao của đỉnh núi như thế nào thì nâng lên cách 500m. Phải nói kỹ thuật bay của phi công mình ngày ấy rất tốt và rất dũng cảm, bản lĩnh mới dám bay như vậy” - người sĩ quan kỳ cựu của lực lượng dù cho biết.
    Các chuyến bay đều diễn ra trong bí mật, bay dọc Trường Sơn rồi mới tạt sang Lào. Nếu bay ban ngày phải chọn lúc thời tiết xấu, mưa mù mới đi để tránh địch phát hiện. Nhưng nhiều chuyến bay thường phải cất cánh vào ban đêm, bắt đầu từ lúc 19g.
    “Mỗi đêm đi 4-5 chuyến, có đêm tới 10 chuyến. Mỗi chuyến chỉ kéo dài khoảng 90 phút hoặc hơn một tí chứ không được lâu hơn. Máy bay Mỹ sẽ phát hiện và truy đuổi. Có lần tui về đến Hương Khê (Hà Tĩnh) thì máy bay phát hiện, kèm mình khiếp lắm. Bọn tui phải lẩn xuống đi ra biển về đến Quỳnh Lưu (Nghệ An) ra Ninh Bình về Hà Nội” - ông Tấn kể.
    “Có lần chúng tôi đến đường 9 Nam Lào bắt đầu qua sông Gianh xâm nhập đường mòn Hồ Chí Minh thì gặp pháo của nó - ông Trương Thanh Phú nhớ lại - Ngày đó mỗi chuyến bay là một lần ra trận. Mình rất hay gặp loại AD-7 của nó bám theo. Phòng không của mình biết nên radar luôn theo dõi, khống chế nó. Tổ bay của tôi từng bị AD-7 ép tí chết. Thả hàng xong rồi, khi về đến cung đường cuối cùng của đường 9, phòng không của mình phát hiện một chiếc AD-7 bám theo. Chúng tôi phải vòng sang đèo Phulanhích (nằm giữa Quảng Bình của Việt Nam và tỉnh Khăm Muộn của Lào) đi gần sát xuống vách núi lẩn mất. Hôm đó nó chỉ ép chứ không bắn vì không mang hai khẩu 20 li không đối không ở chân phụ. Bữa đó nó mang thì chúng tôi chết hết”. “Có tổ bay bị nó vừa ép sát bên sườn vừa để tránh pháo phòng không của mình. Khi pháo phòng không ép được nó thì nó lên cao ép đè mình xuống núi. Mình phải hạ độ cao, khi xuống còn... 100m thì rơi tự do, khi xuống thấp gặp dòng đối lưu kéo tụt máy bay xuống. Có tổ bay hi sinh hết vì bay thấp, mà lại bay ban đêm nên đâm vào núi. Máy bay mình hồi đó cũ chứ đâu có hiện đại như bây giờ...” - đại tá Dương Tuấn Kiệt xót xa kể.
    Trong hai năm 1961-1962, từ chiến dịch Thượng Lào đến Hạ Lào, lực lượng dù còn non trẻ của Việt Nam đã tham gia thả hàng triệu tấn vũ khí, khí tài và lương thực an toàn đến các đơn vị chiến đấu.
    Trong hai năm 1962-1963, trung úy Hồ Sĩ Tấn là người duy nhất được cử sang Lào làm chuyên viên quân sự hỗ trợ huấn luyện nhảy dù cho một trung đoàn và nhảy dù biểu diễn trong ngày tết Lào chào mừng thắng lợi của Chính phủ hòa hợp dân tộc Lào. “Hoàng thân Souphanouvong tặng tui mấy bao thuốc lá 3 con 5, tui mang về chiêu đãi anh em. Hoàng thân còn biếu tiền nhưng tui không nhận vì nước bạn lúc đó còn nghèo lắm. Trung đoàn trưởng dẫn tui ra phố ăn uống thêm, tặng tiền và nhẫn nhưng tui từ chối. Tui bảo tui nhận lệnh qua giúp các đồng chí thôi. Việt Nam và Lào là anh em. Các đồng chí không phải tiền bạc gì cả” - ông Hồ Sĩ Tấn kể.
    MY LĂNG
    _________________




Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •