CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 8 của 10 Đầu tiênĐầu tiên ... 678910 CuốiCuối
Kết quả 71 đến 80 của 95

Chủ đề: Hồ sơ Tư liệu

  1. #71
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,238
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết


    Kỳ 8: Chiến tranh du kích Việt Nam với vũ khí siêu ngụy trang hiện đại

    Hà Dũng - theo Trí Thức Trẻ

    Chiến tranh du kích Việt Nam đã trở thành thương hiệu trên toàn thế giới. Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển nhưng nghệ thuật quân sự độc đáo này vẫn có thể tích hợp vào bản thân nó những vũ khí hết sức hiện đại.

    Trước hết định nghĩa về Chiến tranh du kích hay chiến tranh phi đối xứng là một chiến lược trong nghệ thuật quân sự, sử dụng các trang bị, vũ khí, phương tiện và các phương pháp quân sự một cách có hiệu quả nhằm chống lại, làm giảm hiệu quả các thiết bị, trang bị, phương pháp tổ chức, chiến lược quân sự của đối phương trong trường hợp đối phương có tranh bị, vũ khí, phương tiện, kĩ thuật, số lượng quân sự vượt trội hơn. Đầu năm 2010, công ty Concern Morinsystema-Agat của Nga đã lần đầu tiên giới thiệu tổ hợp Club-K container. Ngay lập tức, nó đã gây được ấn tượng mạnh. Tổng công trình sư Georgy Antsev cho biết, công ty của ông đang đàm phán với một nước Đông Nam Á, nhưng không nói rõ cụ thể là nước nào, tuy nhiên hầu hết các phương tiện thông tin đều cho rằng đó là Việt Nam.

    Tổ hợp Clu-K container bố trí trong các container tiêu chuẩn

    Sơ đồ các chiến đấu của các biến thể tổ hợp Club-K
    Tin tức này khiến Mỹ và Trung Quốc hết sức lo lắng. Phía Trung Quốc cũng đã tiến hành đàm phán để mua vũ khí này nhưng bị Nga từ chối. Tổ hợp Club-K container thực sự là một sáng tạo hết sức độc đáo, phù hợp với nghệ thuật chiến tranh phi đối xứng. Do vậy, nó thu hút sự quan tâm rất lớn từ các nước đang phát triển như Việt Nam và buộc các nước lớn phải xem xét lại học thuyết quân sự của mình. Tổ hợp có nhiều biến thể khác nhau sử dụng các loại tên lửa 3M-54KE, 3M-54KE1, 3M-14KE, Kh-35UE. Các thành phần tổ hợp được bố trí gói gọn trong các container hàng hải tiêu chuẩn. Với cách bố trí này, các tổ hợp có thể được đặt trên xe tải, tàu thủy, tàu hỏa hay chỉ đơn giản là nằm yên tại một vị trí và bất ngờ tung ra đòn đánh vào đối phương.





    Các tên lửa được bố trí trong các container
    Việc phát hiện các tổ hợp này là không thể đối với các phương tiện trinh sát. Kể cả khi sử dụng phương pháp ảnh nhiệt, nếu các tổ hợp trong trạng thái không hoạt động cũng không thể nhận biết được. Cấu hình cơ bản của một tổ hợp là từ một cho đến bốn container bao gồm: - Hệ thống điều khiển hỏa lực - Ống phóng dạng thẳng đứng (đối với 3M-54KE, 3M-54KE1, 3M-14KE) hoặc nghiêng (cho tên lửa Kh-35UE). - Hệ thống chỉ huy, định vị và thông tin liên lạc. - Hệ thống cung cấp điện, chữa cháy và hậu cần. Tổ hợp có thể chủ động phát hiện mục tiêu hoặc nhận tín hiệu chỉ thị từ phương tiện trinh sát như các hệ thống radar, máy bay trinh sát, vệ tinh… Tầm bắn đến 260 km với tổ hợp sử dụng tên lửa Kh-35UE và 220 km với tổ hợp sử dụng tên lửa 3M-54KE, 3M-54KE1, 3M-14KE. Chiều dài của container chứa đối với tên lửa Kh-35UE là 4,4 m, với tên lửa 3M-54KE là 8,9 m.

    Biến thể tổ hợp sử dụng tên lửa Kh-35UE

    Biến thể tổ hợp Club-K sử dụng tên lửa 3M-54KE, 3M-54KE1, 3M-14KE

    Hệ thống điều khiển của tổ hợp Club-K

    Modul tìm kiếm, theo dõi và chỉ thị mục tiêu

    Container chứa máy bay không người lái dùng để phát hiện mục tiêu từ xa
    Với vùng biển rộng, bờ biển dài và liên tục xảy ra tranh chấp, Việt Nam rất cần một loại vũ khí đa năng, tầm xa, cơ động, bí mật, có tính răn đe mạnh cả với mục tiêu trên biển và đất liền và lại vừa túi tiền (15 triệu USD/hệ thống) như Club-K container. Nếu được trang bị, Club-K container cùng với Bastion-P có khả năng bao quát phần lớn vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Khi được triển khai trên các tàu dân sự hay vận tải quân sự, tầm với của Club-K container sẽ vươn xa hơn nữa. Đặc biệt, khi được trang bị cho các tàu hoạt động gần Trường Sa hay bố trí trên các đảo lớn ở quần đảo này, Club-K container trở thành vũ khí chống phong tỏa, chống đổ bộ từ xa cực kỳ lợi hại. Trước đó, có tin trong năm 2012, Nga và Việt Nam ký thỏa thuận phát triển một tên lửa hành trình mới dựa trên hệ thống tên lửa Kh-35E Uran-E. Nhiều khả năng, Việt Nam sẽ chọn hợp tác sản xuất biến thể mới nhất của Kh-35 là Kh-35UE có tầm bắn 260 km. Hơn nữa, tên lửa Kh-35E đang là loại vũ khí chủ lực của các tàu tên lửa hiện đại của Hải quân Việt Nam. Vì thế, mua Club-K sẽ là một giải pháp đúng đắn, hợp lý và cần thiết cả về mặt kỹ thuật, hậu cần trang bị và kinh tế đối với Việt Nam vì Kh-35UE chính là một phương án trang bị của Club-K. Có lẽ các nhà sản xuất vũ khí Nga cũng đã xác định Việt Nam là khách hàng tiềm năng của Club-K container nên trong một clip video quảng cáo Club-K container xuất hiện các container chở hàng có in dòng chữ "DONGNAMA" (Đông Nam Á). Ngoài Việt Nam, các nước như Iran, Syria, Venezuela được cho là đang muốn sở hữu Club-K container. Các chuyên gia Lầu Năm góc rất lo sợ Club-K container có thể gây mất ổn định tình hình trên thế giới. Sự phổ biến của các vũ khí như Club-K có thể làm gia tăng nguy cơ xảy ra xung đột quân sự bất ngờ trên các vùng biển tranh chấp.

    Club-K được bố trí trên các xe đầu kéo

    Club-K bố trí trên các tàu, thuyền vận tải

    Club-K bố trí trên các toa tàu đường sắt



    Tổ hợp Club-K khai hỏa tiêu diệt mục tiêu

  2. #72
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,238
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết
    Kỳ 9: Bal-E bổ sung hoàn hảo cho 'lá chắn thép' biển Đông của Việt Nam

    Hà Dũng - theo Trí Thức Trẻ

    Việt Nam đã có tổ hợp Bastion được mệnh danh lá chắn thép bảo vệ bờ biển. Nhưng sự đa dạng hóa chủng loại vũ khí là sự sống còn của bất kỳ lực lượng nào. Để bổ sung cho lực lượng tên lửa bờ thì Bal-E là lựa chọn hợp lý nhất.


    Tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển cơ động Bal (phiên bản xuất khẩu là Bal-E, E là viết tắt của export-xuất khẩu) sử dụng tên lửa hành trình Kh-35, có nhiệm vụ bảo vệ vùng biển và các cơ sở ven biển, ngăn chặn đối phương đổ bộ. Bal được xem như những mũi lao từ bờ biển, tiêu diệt những kẻ quấy phá vùng biển chủ quyền.

    Tên lửa được phóng từ tổ hợp Bal-E
    Tổ hợp có khả năng phát hiệt, theo dõi, phân loại và tiêu diệt các mục tiêu là các tàu, cụm tàu mặt nước. Bal có khả năng tác chiến trong điều kiện thời tiết phức tạp, cả ngày và đêm, ngay cả khi bị chế áp hỏa lực và chế áp điện tử rất mạnh từ phía đối phương.

    Tổ hợp Bal bao gồm một bệ phóng di động, một xe chỉ huy - thông tin liên lạc và điều khiển, một xe vận chuyển-nạp đạn.
    Hệ thống Bal tiêu chuẩn bao gồm: 2 xe chỉ huy và trinh sát, 4 xe bệ phóng tự hành, 4 xe vận tải và nạp đạn, 1 xe thông tin liên lạc, tổng cộng 11 xe chuyên dùng. Thời gian triển khai tổ hợp trên địa bàn tác chiến mới là 10 phút. Tốc độ hành quân trên đường nhựa là 60 km/h, trên đường có địa hình phức tạp là 20 km/h. Cơ số đạn mỗi tổ hợp là 64 tên lửa. Tổ hợp có thể hành quân liên tục không tiếp nhiên liệu tới 850 km. Đài chỉ huy trinh sát có nhiệm vụ trinh sát tìm kiếm, chỉ thị mục tiêu, phân bổ khu vực hỏa lực và mục tiêu quản lý đến các xe phóng đạn. Trên cơ sở sử dụng radar mạng pha chủ động và thụ động có độ chính xác cao, tổ hợp có thể phát hiện được hầu hết các mục tiêu tàu chiến hiện đại, bao gồm cả những tàu có khả năng tàng hình.

    Xe chỉ huy trinh sát
    Ngoài ra, hệ thống trinh sát có thể kết nối với các thiết bị chỉ thị mục tiêu khác như: máy bay trực thăng trinh sát hoặc trên máy bay không người lái, cho phép tăng độ chính xác. Để nâng cao khả năng sống còn của tổ hợp, đặc biệt là xe chỉ huy tác chiến, trên tổ hợp Bal lắp đặt hệ thống gây nhiễu thụ động.
    Tên lửa của tổ hợp còn có thể bay theo hệ thống dẫn đường vệ tinh GPS hoặc GLONASS hoặc bay theo quỹ đạo đã được định sẵn trước vào khu vực tác chiến, sau đó đầu tự dẫn sẽ đưa tên lửa tới mục tiêu.







    Xe vận chuyển - nạp đạn
    Các xe phóng đạn và xe vận tải đạn có thể ẩn nấp sau các địa hình tự nhiên hoặc công sự trận địa ven bờ biển để tránh bị phát hiện và đánh trả của đối phương. Những vật cản này hoàn toàn không làm ảnh hưởng tới khả năng chiến đấu của tổ hợp.

    Xe phóng lợi dụng ẩn nấp sau địa hình
    Trên mỗi xe phóng có 8 ống phóng, cho phép phóng đạn theo loạt với số lượng khác nhau tạo ra cường độ hỏa lực cao và chính xác nhất trên một mục tiêu. Khoảng cách giữa các loạt phóng dưới 3s. Các lần phóng có thể là 1 tên lửa vào một mục tiêu hoặc tới 4 tên lửa tới một mục tiêu trong khoảng giãn cách thời gian tự chọn và góc tiếp cận mục tiêu tùy theo yêu cầu của người chỉ huy bắn.
    Phóng loạt cực đại đến 32 tên lửa cùng một lúc. Với này có thể tiêu diệt hoàn toàn một cụm tàu sân bay, một cụm tàu tấn công gồm 3 tàu khu trục, hoặc một binh đoàn đổ bộ đường biển ở khoảng cách 7-130 km .Với cơ số đạn dự trữ trên các xe vận tải chở đạn, loạt phóng đạn thứ hai có thể bắt đầu sau 30 đến 40 phút nạp đạn.
    Góc ngoặt của quỹ đạo tên lửa tới 90 độ cho phép tổ hợp bao quát được chiều dài bờ biển lên đến 350 km nếu với đạn Kh-35 cải tiến. Quỹ đạo khi bay của tên lửa là 3-5m, vị trí tấn công cách khoảng 2 m so với mức nước. Với độ cao này khi nước biển sẽ nhanh chóng tràn vào lỗ thủng trên thân tàu và nhanh chóng nhấn chìm tàu đối phương.

    Tên lửa có thể ngoặt 90 độ và bao quát bờ biển dài 350 km với Kh-35UE

    Quỹ đạo tên lửa cực thấp chỉ 4 m ở giai đoạn cuối

    Trong một cuộc thử nghiệm tên lửa thậm chí chỉ bay cách mặt biển 2,4 m
    Hệ thống Bal do Viện KBM thuộc Tập đoàn Vũ khí tên lửa chiến thuật KTRV-Nga phối hợp với hơn 10 xí nghiệp khác nghiên cứu chế tạo, hoàn thành thử nghiệm vào 9/2004, năm 2008 một tiểu đoàn được đưa vào trang bị của Hải quân Nga. Năm 2011, một hệ thống Bal đã đưa được biên chế cho tiểu đoàn tên lửa bờ biển của Hải đoàn Caspie, thuộc Quân khu phía Nam của Nga. Hiện nay tổ hợp Bal chưa được Nga xuất khẩu cho các nước khác.
    Theo nhiều nguồn tin khác nhau, Việt Nam đã ký kết được họp đồng chuyển giao công nghệ chế tạo tên lửa Kh-35E. Khi được trang bị tổ hợp Bal-E, Việt Nam sẽ nâng cao hơn nữa khả năng bảo vệ biển Đông.

  3. #73
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,238
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết
    Kỳ 10: Tên lửa Kh-35 và kế hoạch 'made in Vietnam'

    Hà Dũng - theo Trí Thức Trẻ

    Các phương tiện thông tin đại chúng đều đưa tin Việt Nam sẽ hợp tác với Nga để chế tạo tên lửa hành trình hiện đại Kh-35. Nếu trở thành sự thực thì đây là một bước nhảy vọt của công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Chúng ta thử phân tích thực hư vấn đề thông tin này như thế nào?

    Các thông tin liên quan

    Ngày 15 tháng 2 năm 2012, theo nguồn tin ITAR-TASS, Việt Nam dưới sự giúp đỡ của Liên bang Nga sẽ triển khai dây chuyền sản xuất tên lửa chống tàu Uran. Thông báo với các phóng viên tại cuộc họp báo, Giám đốc Cục Hợp tác Kỹ thuật Quân sự Liên bang Nga (FS MTC) Mikhail Dmitriev nhận định, tổ hợp sản xuất tên lửa Uran sẽ được triển khai theo sơ đồ, tương tự như sơ đồ sản xuất, công nghệ hợp tác quân sự giữa Ấn Độ và Liên bang Nga theo dự án tên lửa chống tầu BraMos hiện đang rất thành công. Bản tin ngày 15/2/2012 của hãng tin Ria Novosti dẫn lời Giám đốc Cục Hợp tác Kỹ thuật Quân sự Liên bang Nga (FS MTC) Mikhail Dmitriev cho biết: "Chúng tôi đang có kế hoạch xây dựng cơ sở tại Việt Nam để sản xuất một phiên bản của Uran Nga [SS-N-25], trong một dự án tương tự như sản xuất tên lửa BrahMos của Nga-Ấn Độ". Các cơ quan của Việt Nam chưa đưa ra một phát ngôn chính thức nào về thông tin này. Tuy nhiên, báo chí của Việt Nam đều đăng tải phát biểu của quan chức quốc phòng Nga.

    Tham vọng và khả năng hiện thực hóa của Việt Nam?
    Đối với bất kỳ nước nào, việc tự chủ trong sản xuất và trang bị vũ khí, đặc biệt là những vũ khí hiện đại, đều là mục tiêu cao nhất. Nắm trong tay khả năng tự chủ không chỉ tạo ra tiềm lực quân sự mạnh mà nó còn thể hiện sự phát triển về kinh tế, khoa học và vị thế chính trị của đất nước. Hợp tác, chuyển giao công nghệ là bước đầu tiên, đặt nền móng cho sự phát triển cao về khoa học công nghệ tương lai. Tiếp theo đấy có thể tự nghiên cứu ra nhiều loại vũ khí trang bị hiện đại khác. Việt Nam cũng không nằm ngoài tham vọng này. Vậy khả năng hiện thực hóa tham vọng này của Việt Nam như thế nào? Trước hết là về kinh tế, sau những năm chiến tranh liên miên khiến kinh tế kiệt quê, năm 1986, Việt Nam tiến hành sự nghiệp Đổi Mới. Sự thay đổi về đường lối đã đưa Việt Nam phát triển nhanh và ngân sách đã có phần chi cho quốc phòng. Việt Nam không chỉ dùng những vũ khí lạc hậu được viện trợ trước đây mà đã đầu tư mua sắm những vũ khí hiện đại: tàu ngầm Kilo 636, hệ thống phòng không S-300PMU1, tàu tên lửa lớp Gepard 3.9, tổ hợp phòng thủ bờ biển Bastion, máy bay Su-30MK2, Su-30MK2V, tổ hợp tên lửa đối hạm Uran-E… Điều này thể hiện kinh tế Việt Nam có đủ khả năng hiện thực hóa tham vọng này.

    Hai tàu Gepard 3.9 Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tổ

    Tàu ngầm Kilo 636 Việt Nam đặt mua

    Tổ hợp tên lửa bờ Bastion

    Máy bay Su-30MK2 của Không quân Việt Nam
    Thứ hai, vị thế chính trị của Việt Nam là đối tác chiến lược và bạn hàng truyền thống của Nga, do vậy, khả năng Nga chuyển giao cho Việt Nam công nghệ chế tạo Kh-35E là rất lớn, nhất là khi Nga đã nghiên cứu thành công biến thể nâng cấp Kh-35U hiện đại hơn nhiều so với Kh-35E. Vấn đề chỉ là Nga sẽ chuyển giao đến đâu, bao nhiêu % công nghệ. Bên cạnh đó, những căng thẳng trên biển Đông gần đây khiến Việt Nam càng quyết tâm đầu tư cho quốc phòng để có thể bảo vệ được đất nước. Thứ ba, về khoa học công nghệ, có thể nói đây là điều mà Việt Nam cần phải giải quyết nếu muốn hiện thực hóa tham vọng này. Việt Nam cần phải có một nền khoa học công nghệ hiện đại và đồng bộ, đội ngũ nhân lực đông và mạnh thì mới tiếp thu hiệu quả từ dự án. Tuy nhiên, nếu được phía Nga hỗ trợ vấn đề này có thể giải quyết được.

    Tại sao Việt Nam lại lựa chọn Kh-35E?

    Trong những năm gần đây, căng thẳng trên biển Đông khiến cho Việt Nam phải tập trung nguồn lực quân sự cho việc bảo vệ biển đảo. Trả lời phỏng vấn của báo chí vào ngày 3/8, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh cho biết phương hướng xây dựng quân đội sẽ theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó hải quân, phòng không không quân, thông tin liên lạc, tác chiến điện tử… đi thẳng vào hiện đại để nâng cao bảo vệ đất nước. Các quân chủng kỹ thuật phải đi trước và xây dựng con người hiện đại: có khả năng làm chủ các vũ khí có hàm lượng công nghệ cao. Do vậy, nếu hợp tác chế tạo về tên lửa thì chắc chắn một loại tên lửa đối hải sẽ được chọn. Vấn đề là tên lửa nào. Ta thấy trong các loại tên lửa hải quân Nga đang sử dụng thì các loại tên lửa thế hệ cũ như P-15, P-21, P-22, P-28, P-35 đều đã lỗi thời. Chúng có kích thước to, khối lượng lớn, thời gian chuẩn bị chiến đấu lâu, quỹ đạo bay đơn giản, khả năng tác chiến điện tử kém. Do đó rất dễ bị đối phương tiêu diệt mà chi phí duy tu, bảo trì lớn. Vì vậy các loại tên lửa này bị loại khỏi khả năng hợp tác.

    Tên lửa đối hạm đầu tiên của Việt Nam P-15U
    Tiếp theo là các loại tên lửa hiện đại nhất của Nga hiện nay như Yakhont, Moskit. Những loại tên lửa này có 3 rào cản chính: một là quá hiện đại nên khả năng tiếp thu của Việt Nam rất khó để đáp ứng; hai là phía Nga chắc hẳn cũng chưa thể chuyển giao hoàn toàn trong khi chưa nghiên cứu ra các loại tiên tiến hơn, ba là chi phí cho mỗi quả tên lửa quá lớn. Trong khi đó tên lửa Kh-35, lại có hiệu quả chiến đấu cao, khối lượng và kích thước nhỏ, khả năng bố trí đa dạng, giá thành lại không quá đắt. Phía Nga cũng sẵn sàng chuyển giao khi họ đã nghiên cứu thành công Kh-35U tính năng vượt trội. Kh-35 cũng được trang bị rất nhiều trong Hải quân Việt Nam hiện nay. Các dự án như mua 4 tàu Gpard 3.9, đóng 12 tàu Molinya, tàu BPS 500, mua máy bay Su-30MK2 đều là những phương tiện trang bị Kh-35. Nếu được trang bị thêm tổ hợp Bal-E, phiên bản cho Su-30MK2, phiên bản ngụy trang Club-K thì Việt Nam sẽ có một lực lượng tên lửa diệt hạm đồng bộ và hùng hậu.

    Vậy Việt Nam đã chuẩn bị được những gì?

    Điều quan trọng đầu tiên đó là nguồn nhân lực. Trên trang wikipedia có giới thiệu về Học viện Kỹ thuật Quân sự, nơi đào tạo cán bộ kỹ thuật cho Quân đội hiện nay. Từ những năm 2009, các chuyên ngành Thiết kế chế tạo hệ thống điều khiển tên lửa, Thiết kế chế tạo Tên lửa, Thiết kế, chế tạo Radar lần lượt được bổ sung, có thể đây là bước chuẩn bị nhân lực cho tương lai. Ngoài Học viện Kỹ thuật Quân sự, các tổ chức như Viện Tên lửa, Viện Radar… thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự; Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng cũng là nơi sẽ cung cấp nhân lực cho dự án. Về cơ sở vật chất, hiện nay Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng có hệ thống các nhà máy khá đồng bộ, nhiều nhà máy có dây chuyền sản xuất hiện đại như Z131, Z121, Z111, Z183… do vậy đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của dự án nếu được đầu tư mạnh. Từ những nhận định trên chúng ta thấy, việc Việt Nam và Nga hợp tác sản xuất tên lửa Kh-35 là hoàn toàn có cơ sở. Hi vọng với sự quyết tâm cao kế hoạch “Kh-35E made in Vietnam” sớm trở thành hiện thực góp phần vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền đất nước.

  4. #74
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,238
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết
    Mẫu tên lửa Liên Xô chuyển sang VN bị mất ở Trung Quốc?

    Nhiều trường hợp một số mẫu trang bị kỹ thuật không quân và tên lửa mà Liên Xô chuyển đến Việt Nam bị mất trên đường quá cảnh qua lãnh thổ Trung Quốc khiến truyền thông Nga nghi ngờ Trung Quốc đã không từ thủ đoạn tầm thường nào để có được khả năng tiếp cận với những thành quả nghiên cứu hiện đại của Liên Xô. Báo Tiền phong cho biết, tờ Bình luận quân sự của Nga vừa có bài viết về sức mạnh phòng không của Trung Quốc. Theo đó, bài viết nhận định, mặc dù có nhiều tiến bộ song khả năng phòng không Trung Quốc trong cuộc chiến đấu với phần lớn các loại mục tiêu trên không hiện nay, cũng như trước đây vẫn còn rất hạn chế.
    Tính từ giai đoạn chiến tranh biên giới 1979, Trung Quốc đã quyết tâm đầu tư phát triển lực lượng phòng không của mình và cũng đã có được những kết quả đáng kể.
    Trong trang bị của bộ đội tên lửa phòng không Trung Quốc có 110-120 tổ hợp (tiểu đoàn) tên lửa phòng không HQ-2, HQ-61, HQ-7, HQ-9, HQ-12, HQ-16, S-300PMU, S-300PMU-1 và 2, tổng cộng khoảng gần 700 bệ phóng. Theo chỉ số này Trung Quốc chỉ kém Nga (gần 1.500 bệ phóng). Nhưng không dưới 1/3 số vũ khí này của của bộ đội tên lửa phòng không Trung Quốc là loại HQ-2 đã cổ lỗ (phiên bản tương tự tổ hợp tên lửa phòng không S-75), đang được tích cực thay thế.
    Những hệ thống tên lửa phòng không đầu tiên đã được cung cấp cho Trung Quốc từ Liên Xô vào cuối thập niên 1950 thế kỷ trước. Chính khi đó đã tạo ra những cơ sở cho việc phát triển hợp tác kỹ thuật quân sự giữa Liên Xô và CHND Trung Hoa, mà mục đích chính của nó là xây dựng tại Trung Quốc với sự giúp đỡ của Liên Xô một cơ sở khoa học kỹ thuật hiện đại, có khả năng sản xuất và hoàn thiện các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự khác nhau.

    Những hệ thống tên lửa phòng không đầu tiên đã được cung cấp cho Trung Quốc từ Liên Xô từ thập niên 1950 thế kỷ trước


    Vào tháng 10/1957 tại Matxcơva đã diễn ra hội nghị Xô-Trung về những vấn đề hợp tác kỹ thuật quân sự, mà kết quả của nó là đã ký kết được một hiệp định về việc chuyển giao cho CHND Trung Hoa quyền sản xuất các loại vũ khí tên lửa hồ sơ kỹ thuật khác nhau, và đồng thời là hàng loạt công nghệ quốc phòng mới nhất. Ngoài ra, Nga đã bắt đầu chuyển giao cho Trung Quốc một vài loại vũ khí tên lửa, trong đó có các tên lửa bắn từ máy bay, tên lửa chiến thuật và tên lửa phòng không.
    Vai trò của tên lửa phòng không đặc biệt tăng lên do diễn biến của cuộc khủng hoảng Đài Loan vào cuối tháng 8/1958. Trong những năm đó việc chuyển giao vũ khí của Mỹ cho Đài Loan với quy mô lớn đã làm cho quân đội hòn đảo này mạnh lên. Không quân Đài Loan tiếp nhận một số máy bay trinh sát tầm cao RB-57D (không lâu sau thì cả Lockheed U-2) mà những tính năng của chúng vượt xa các khả năng mà các phương tiện phòng không Trung Quốc có được.
    Vũ trang cho Đài Loan người Mỹ chẳng phải vị tha gì - mục đích chính của những chuyến bay trinh sát mà các phi công Đài Loan có nghĩa vụ thực hiện là thu được thông tin mà Mỹ cần thiết về việc chế tạo vũ khí hạt nhân tại CHND Trung Hoa.
    Chỉ ngay trong 3 tháng đầu năm 1959, RB-57D đã thực hiện 10 chuyến bay nhiều giờ trên không phận CHND Trung Hoa, và vào tháng 6 năm đó các máy bay trinh sát đã bay qua không phận Bắc Kinh. Kỷ niệm 10 năm thành lập nước CHND Trung Hoa đang đến gần và có vẻ như những dự báo về việc ngày lễ trọng thể bị phá hoại sẽ trở thành hiện thực.
    Trong tình hình như thế lãnh đạo Trung Quốc đã đề nghị với Liên Xô cung cấp cho Trung Quốc trong điều kiện bí mật cao một số tổ hợp tên lửa phòng không “Dvina” SA-75 mới nhất. Mùa Xuân năm 1959, 5 tiểu đoàn hỏa lực và 1 tiểu đoàn kỹ thuật SA-75, gồm cả 62 tên lửa phòng không 11D đã được đưa tới Trung Quốc. Những khẩu đội đầu tiên bao gồm các quân nhân Trung Quốc đã được huấn luyện sẵn sàng thực hành chiến đấu. Đồng thời để bảo dưỡng những tổ hợp tên lửa này, một nhóm chuyên gia Liên Xô đã được cử đến Trung Quốc.
    Với sự hỗ trợ của Liên Xô, ngày 7/10/1959 lần đầu tiên tại ngoại ô Bắc Kinh một máy bay trinh sát RB-57D của Đài Loan đã bị bắn hạ. Đây là chiếc máy bay đầu tiên bị bắn rơi bằng tên lửa phòng không trong tình huống chiến đấu.
    Tất cả trên không phận Trung Quốc còn có 5 máy bay trinh sát tầm cao U-2 do các phi công Đài Loan điều khiển bị bắn rơi, một phần trong số họ thoát chết và bị bắt làm tù binh.
    Những phẩm chất chiến đấu cao của vũ khí tên lửa Liên Xô đã thôi thúc lãnh đạo Trung Quốc xin giấy phép sản xuất SA-75, (tên Trung Quốc là HQ-1 tức là “Hồng Kỳ-1”), và ít lâu sau đã đạt được các thỏa thuận về việc này.
    Nhưng các bất đồng Xô-Trung bắt đầu tăng lên vào cuối thập niên 1950 đã trở thành nguyên nhân dẫn tới việc, ngày 16/7/1960 Liên Xô đã tuyên bố triệu hồi tất cả các cố vấn quân sự từ Trung Quốc về nước, điều này trên thực tế là khởi đầu việc tạm ngừng hợp tác kỹ thuật quân sự giữa Liên Xô và Trung Quốc mấy thập niên sau đó.
    Trong những điều kiện biến chuyển, sự hoàn thiện sau đó vũ khí tên lửa phòng không tại CHND Trung Hoa bắt đầu được thực hiện trên cơ sở chính sách “dựa vào nội lực” được tuyên bố trong nước vào đầu thập niên 1960. Tuy nhiên chính sách đã tỏ ra ít hiệu quả, ngay cả sau khi CHND Trung Hoa bắt đầu tích cực lôi kéo các chuyên gia gốc Trung Quốc có chuyên môn phù hợp từ nước ngoài, trước hết là từ Mỹ.
    Trong những năm đó hơn 100 nhà khoa học lớn gốc Trung Quốc đã trở về. Song song với việc này hoạt động nhằm nắm bắt những công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự cũng được đẩy mạnh, và những chuyên gia từ Cộng hòa liên bang Đức, Thụy Điển và hàng loạt quốc gia khác cũng được mời tới Trung Quốc làm việc.
    Các chuyên gia Liên Xô đã nhiều lần ghi nhận được những trường hợp bị mất một số mẫu trang bị kỹ thuật không quân và tên lửa khi vận chuyển bằng đường sắt sang Việt Nam quá cảnh lãnh thổ Trung Quốc. Như vậy, người Trung Quốc đã không từ thủ đoạn tầm thường nào để có được khả năng khả năng tiếp cận với những thành quả nghiên cứu hiện đại của Liên Xô.

  5. #75
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Trích dẫn Gửi bởi trucngon Xem bài viết
    Mẫu tên lửa Liên Xô chuyển sang VN bị mất ở Trung Quốc?

    Nhiều trường hợp một số mẫu trang bị kỹ thuật không quân và tên lửa mà Liên Xô chuyển đến Việt Nam bị mất trên đường quá cảnh qua lãnh thổ Trung Quốc khiến truyền thông Nga nghi ngờ Trung Quốc đã không từ thủ đoạn tầm thường nào để có được khả năng tiếp cận với những thành quả nghiên cứu hiện đại của Liên Xô. Báo Tiền phong cho biết, tờ Bình luận quân sự của Nga vừa có bài viết về sức mạnh phòng không của Trung Quốc. Theo đó, bài viết nhận định, mặc dù có nhiều tiến bộ song khả năng phòng không Trung Quốc trong cuộc chiến đấu với phần lớn các loại mục tiêu trên không hiện nay, cũng như trước đây vẫn còn rất hạn chế.

    ....

    Các chuyên gia Liên Xô đã nhiều lần ghi nhận được những trường hợp bị mất một số mẫu trang bị kỹ thuật không quân và tên lửa khi vận chuyển bằng đường sắt sang Việt Nam quá cảnh lãnh thổ Trung Quốc. Như vậy, người Trung Quốc đã không từ thủ đoạn tầm thường nào để có được khả năng khả năng tiếp cận với những thành quả nghiên cứu hiện đại của Liên Xô.
    Hệ thống SA2 tham chiến ở VN từ 1965, cho đến cuối 1972, đã được LX cải tiến nâng cấp nhiều lần.
    Trong đó cải tiến về đạn tên lửa dvina S75, về khả năng chống nhiễu rãnh đạn (nâng công suất phát-đáp), thay đổi tần số liên lạc, về hệ thống điều khiển xung-số (như tập lệnh K1, K2, K3, K4 và K5), các phương pháp bắn 3 điểm, Pi, T... Vùng sát thương tăng rộng thêm lên do cải tiến số mảnh nổ trong đầu đạn nhiều lên...
    Cải tiến về khả năng chống nhiễu của radar dẫn bắn, chống tên lửa sơrai nhắm bắn radar...

    Các hệ thống tên lửa của TQ là SA2 đời đầu, không tham chiến như ở VN, về kỹ thuật không cải tiến gì, về chiến thuật không có kinh nghiệm tác chiến trực tiếp, nên TQ buộc phải dùng thủ đoạn tầm thường để đánh cắp các cải tiến kỹ thuật của hệ thống SA2 mà LX trang bị cho VN.

    No Avatar

    huuthanh

     09:53, 27th Jun 2013 #21092 

    Chưa kể SAM-3 bị các bạn TQ giữ lại, để phối hợp với B-52 của Mỹ đánh HN hiệu quả hơn. Lính SAM-3 về nhà ngồi ngóng hết chiến tranh mới có vũ khí triển khai.



  6. #76
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,238
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết
    Giải mật vụ 3 tiêm kích Su-27 rơi ở Cam Ranh


    Ngày 12/12/1995, trên đường từ triển lãm hàng không Malaysia trở về, 3 trong số 5 máy bay tiêm kích Su-27 của nhóm bay biểu diễn cao cấp "Các tráng sỹ Nga" đã đâm vào núi gần căn cứ Cam Ranh. Bốn phi công đã hy sinh. Nguyên nhân của tai nạn bi thảm này gần đây mới được biết tới.

    Đô đốc Khmelnov, trung tướng không quân V.I.Bumaghin-tư lệnh không quân của hạm đội TBD, đại tá V.A.Bulyghin chỉ huy phi đoàn vận tải. đang trao đổi trong cuộc điều tra nguyên nhân vụ rơi 3 chiến đấu cơ Su-27.
    Nga "Các tráng sỹ Nga" được thành lập tháng 4/1991 trên cơ sở phi đội thứ nhất của một trung đoàn không quân tại căn cứ Kubinka gần Moskva để trình diễn các khả năng kỹ thuật của máy bay tiêm kích Su-27. Trước chuyến bay đến Malaysia dự Hội chợ hàng không quốc tế, đội bay có 9 phi công (6 phi công chính thức và 3 phi công dự bị). Họ đã biểu diễn đặc biệt thành công trước các khán giả các bài bay "bộ bốn" và "bộ sáu" chưa từng có trên thế giới trước đây.
    Từ Moskva đến Malaysia dự triển lãm hàng không quốc tế, đội bay các "Các tráng sỹ Nga" gồm 7 chiếc máy bay: Máy bay chỉ huy IL-76 và sáu chiếc Su-27 (hai chiếc loại huấn luyện 2 chỗ ngồi Su-27UB và bốn chiếc loại 1 chỗ ngồi Su-27). Trên máy bay chỉ huy có đoàn đại biểu quân sự và các chuyên gia kỹ thuật hàng không, tất cả gồm khoảng 60 người, còn trên 6 chiếc Su-27 là tám phi công. Chiếc IL-76 thuộc biên chế Trung tâm bay thử nghiệm quốc gia ở Tskalovskaia. Chỉ huy máy bay này là thiếu tướng không quân V.Grebennikov (cơ trưởng), mới tốt nghiệp Học viện Bộ Tổng tham mưu cách đó không lâu. Trước đó ông bay trên máy bay ném bom chiến lược Tu-160 “Thiên nga trắng”, còn trên máy bay vận tải quân sự thì ông mới chỉ có gần 200 giờ bay. Trong phi hành đoàn chiếc IL-76 còn có một phi công cao cấp thứ 2 và một hoa tiêu lão luyện.
    Trên đường bay đến đảo Langkawi của Malaysia, sau khi đã bay qua Sibir, Trung Quốc và Việt Nam, trên một chiếc máy bay 2 chỗ ngồi Su-27UB đã có một sự trục trặc trong điều khiển, và người ta đã giữ chiếc máy bay đó lại ở Trung Quốc.
    Ngày 12/12, năm chiếc tiêm kích Su-27 và chiếc IL-76 dẫn đường lên đường bay về. Từ Langkawi tới Cam Ranh "các tráng sỹ" bay theo chiếc đầu đàn IL-76 theo đội hình "cái nêm". Trên không, tất cả các máy bay đều bay ở gần cùng một cao độ, mỗi chiếc cách nhau chỉ khoảng gần 3m theo độ cao.
    Quyết định tiếp thêm nhiên liệu tại Cam Ranh được đưa ra mà không có sự đánh giá thỏa đáng điều kiện khí tượng của khu vực hạ cánh. Cách sân bay 130 km, giữa giữa máy bay chỉ huy và trạm điều khiển mặt đất Cam Ranh đã có liên lạc vô tuyến với nhau, ngay từ các thông số khí tượng hàng không đầu tiên đã cảnh báo phải đề phòng: Mây mù dày đặc, điểm trần thấp nhất ở độ cao 150 m, lại đang có mưa rào. Trong những điều kiện như vậy, quyết định hạ cánh là rất mạo hiểm.
    Quy định về việc hạ cánh tại sân bay Cam Ranh bởi cách đó 15 km về phía tây căn cứ có nú icao 726 m, còn 25 km về phía tây nam là núi Chúa 1040 m, bay gần dễ xảy ra tai nạn. Bởi vậy người chỉ huy chuyến bay tại sân bay Cam Ranh-trung tá Arbouzov ra lệnh: khi bay vòng lượn chuyển tiếp để chuẩn bị hạ cánh phải giữ độ cao 1.500 m. Các máy bay Su-27 được lệnh tách tốp và hạ cánh từng chiếc một với giãn cách 1 km.
    Tuy nhiên, chỉ huy của chiếc Il-76 Grebennikov lại đòi phải hạ cánh cả nhóm theo sơ đồ "quả nang lớn".
    Gần tới đường hạ cánh sân bay, phi công theo lệnh của chỉ huy chuyến bay xếp theo đội hình "quả nang", bắt đầu hạ độ cao theo tiến trình vòng lượn. Đối với sân bay vùng bình nguyên, độ cao vòng lượn là 200-300m, với sân bay vùng núi như Cam Ranh-độ cao đó là 900m hoặc hơn. Từ đài chỉ huy mặt đất, mệnh lệnh đưa ra cho "các tráng sỹ" là hãy xếp hình "quả nang" với cao độ 1.500m. Độ cao ấy, các máy bay phải đạt được sau vòng ngoặt 180 độ.
    Trong chuyến bay khi gần tới căn cứ, chỉ huy biên đội Grebennikov thậm chí còn chưa xin lệnh hạ cánh như quy định, máy tự động ghi hành trình bay bố trí trên máy bay số 623 ghi: "Chúng tôi sẽ tiếp dầu ở chỗ các anh 30 tấn. Ngày mai chúng tôi sẽ đi lúc 5h 30 phút giờ địa phương; hãy tổ chức tiếp dầu ngay lập tức khi chúng tôi ghé xuống".

    Núi Chúa – nơi 3 chiếc Su-27 rơi năm 1995.
    Phục vụ mặt đất còn đang cố gắng chính xác hóa vấn đề gì đó, nhưng phi công đầu đàn vẫn giữ quan điểm của mình: "Fenol, tôi 623 đây, tôi quyết định hạ độ cao". Ông tướng cũng chẳng nghe các máy bay bay sau. Khi chiếc 601 (dẫn đầu tốp bên trái và nhóm Su-27) vừa báo cáo vị trí của các tiêm kích, ngay lập tức Grebennikov ngắt lời anh ta: "Gượm nào, hãy hạ độ cao trước đi!"
    Vào thời gian đó đội bay đang thực hiện vòng ngoặt vào hướng hạ cánh và xếp theo đội hình "quả nang". Phi đội đã đạt độ cao 1500 m và hướng tới trạm dẫn đường phía xa, sau đó sẽ là vòng ngoặt lần thứ nhất về bên phải.
    MĐ: Hãy giữ độ cao một ngàn năm trăm.
    Ngay lập tức có trả lời từ một chiếc tiêm kích: "Hạ thấp tốt hơn không?"
    Chỉ huy IL-76: Tiếp tục hạ độ cao.....
    MĐ cố gắng ghìm sự nóng vội của chiếc chỉ huy xuống: "Sau khi bay qua trạm dẫn đường tiếp tục hạ độ cao tới 600. Anh (IL-76) cần phải giữ ở độ cao 1.500 m, còn nhóm tiêm kích (tốp đôi và tốp ba) hạ độ cao, tách ra để hạ cánh".
    MĐ và các đồng sự còn cố gắng vài lần nữa để hướng dẫn và tách tốp nhưng không thành công-ông tướng vẫn nằng nặc: Hạ cánh cả nhóm và ngay lần đáp đầu tiên.
    Trong khoang lái IL-76 thời điểm trước khi xảy ra tai nạn, đã diễn ra một cuộc tranh cãi gay gắt giữa những người đàn ông-hoa tiêu Kriazevskii gắng can thiệp vào quá trình hạ cánh và giải thích cho Grebennikov sự mạo hiểm của đội hình hạ cánh. Tuy nhiên đoạn băng từ máy ghi tự động, dựa vào đó sẽ xác định rõ ràng vụ scandal này đã biến mất một cách bí ẩn.
    Tất cả sáu chiếc máy bay đều thực hiện vòng ngoặt trong mây, hạ thấp độ cao, trong khi đó vẫn giữ nguyên đội hình chặt chẽ. Sau nửa phút bay như vậy, chiếc tiêm kích đi đầu thú nhận: "Ở đây khó nhìn quá, hãy hạ xuống dưới mây đi!..."
    MĐ trong điều kiện thiếu khí tài, ước lượng bằng mắt là các máy bay đã vào khu vực vòng lượn thứ ba, nơi có đỉnh núi cao 600m. MĐ cảnh báo Grebennikov: "Không kéo dài vòng lượn thứ ba sau khi chuyển qua hướng vuông góc.... Tôi vẫn chưa thấy đỉnh núi".
    Tất cả các "tráng sỹ" dồn sự chú ý vào IL-76, và họ giữ đúng vị trí trong đội hình chiến đấu để tránh va vào nhau, đồng thời không để mất dấu nhau trong mây dày đặc. Bắt đầu vào vòng ngoặt thứ ba, rất gần với đỉnh núi cao 700m mà chẳng ai để ý đến nó, đơn giản là họ không ở trong hoàn cảnh có thể làm điều đó.
    IL-76: Ngoặt phải!
    Chỉ còn hai phút rưỡi trước khi xảy ra tai nạn.
    604: Nhắm hướng đường hạ cánh...dưới mây à?
    IL-76: Rõ rồi... (Rõ cái gì , thật khó hiểu)
    Bắt đầu vòng ngoặt phải, chao nghiêng 15 độ. Các tiêm kích bay bên trái IL-76 (chính là những chiếc sống sót), hơi dâng cao, tương ứng những chiếc bên phải hạ thấp. Để không mất dấu máy bay chỉ huy trong những điều kiện tầm nhìn kém, trước khi ra khẩu lệnh "Tản ra" các tiêm kích cần phải xích lại máy bay chỉ huy ở khoảng cách tối thiểu. "Bay sát vào, chúng ta lạc đội mất (IL-76 và các máy bay trong nhóm), khẩu lệnh này được chiếc dẫn đầu nhắc lại vài lần với những chiếc bám theo. Kết quả của sự xích gần lại là đèn chiếu trong buồng lái Su-27UB do hai phi công dẫn đầu nhóm bộ ba là Boris Grigoriev và hoa tiêu Aleksandr Syrovyi điều khiển, soi rõ các động cơ cánh chiếc IL-76. Nikolai Gretsanov và Viktor Kordioukov trên hai chiếc Su-27 một chỗ ngồi bám theo sau ở giãn cách chỉ 3-5m. Thời gian để điều khiển khí tài thực tế cũng không có, cái chính là không đụng vào nhau.

    Đội bay Tráng sĩ Nga trên đường sang Malaysia.
    Grebennikov lấy hướng 280 độ-tới vòng ngoặt thứ tư, như ông đã dự tính. Thực chất, toàn đội đang ở đúng khu vực đỉnh núi, đỉnh núi khu vực này đang bị mây mù che phủ hoàn toàn. Vòng ngoặt thứ ba đã được thực hiện với độ lệch vài km. MĐ không ở trong tình trạng có khả năng giúp đỡ các phi công, bởi vì màn hình máy định vị thô sơ của ông đầy nhiễu từ mây mù và "địa vật"-các vệt nhiễm sáng từ chính đỉnh núi đó.
    Các máy bay đã tiến gần đến sườn núi ở độ cao 604 m, cách sân bay 25 km. Nhưng như về sau các chuyên viên giám định đã đánh giá, chuỗi sai lầm chồng chất này không phải là không thể tránh được.
    Khi thực hiện vòng ngoặt thứ tư, trong khoang lái IL-76 hệ thống tín hiệu phát cảnh báo về sự nguy hiểm khi đến gần địa vật. Đèn báo màu vàng nhấp nháy: "Nguy hiểm, mặt đất!", còi hiệu rít liên tục. Quy định về chỉ huy bay trong trường hợp này là phải cương quyết và nhanh chóng đưa máy bay về chế độ chiếm độ cao khẩn cấp, đưa chế độ làm việc của động cơ lên mức tối đa. Grebennikov có trách nhiệm báo cho tốp bám sát về mối nguy hiểm và các thao tác tiếp theo cần làm.
    Bức tranh về những sự việc xảy ra trong khoang lái IL-76 được dựng lại vị tất đã đạt độ chính xác, bởi cuộc trao đổi giữa các thành viên phi hành đoàn không được ghi lại . Tín hiệu cảnh báo liên tục phát trong 25 giây. Suốt thời gian này, Grebennikov không có hành động khả dĩ nào. Theo lời ông tướng, người đưa ông thoát ra khỏi trạng thái sốc này là phi công phụ bên tay phải, Soukhar. Chỉ từ lúc đó, viên chỉ huy mới chợt tỉnh, kéo gấp cần lái về phía mình, đưa máy bay vọt lên cao, đồng thời phát khẩu lệnh vào không trung: "Tản ra, nâng độ cao gấp lên.......500 m". Nhưng Grebennikov đã lỡ nhịp.
    Trong vòng ngoặt cuối cùng, mà sau đó cần phải có lệnh tản đội hình khỏi mạn chiếc IL-76, tốp bộ ba tiêm kích bên phải lúc này đang ở cao độ thấp nhất và trong tình thế nguy hiểm nhất. Bám theo chiếc chỉ huy và tuân thủ quy định bay nhóm nghiêm ngặt và giữ độ cao thấp hơn chiếc dẫn đường chỉ 2-3m, máy bay của Nikolai Gretsanov và Aleksandr Syrovyi đã đâm ngang sườn núi.
    Đội bay trên Su-27UB có thể cố gắng nhảy dù. Nhưng trong trường hợp này chiếc máy bay không còn được điều khiển có thể va chạm với chiếc IL-76. Có khả năng để ngăn ngừa tai nạn của chiếc IL-76 với các hành khách trên boong, Boris Grigoriev và Aleksandr Syrovyi đã không sử dụng cơ hội thoát hiểm và đã hy sinh. Hai chiếc sau cũng không tránh được tai nạn.
    Các phi công có kinh nghiệm và "thuộc" nhau đã lâu, giật mạnh cần lái về mình và bay vút lên khỏi lớp mây mù.
    Chiếc IL-76 may mắn trượt xuống một thung lũng nhỏ trong rặng núi, ở độ cao 32m so với mặt đất, trước khi vọt được lên cao. Các giám định viên khẳng định rằng sau khi có tín hiệu báo động, thậm chí cả khi chậm có phản ứng đúng cách trong khoảng 18-19 giây, vẫn còn đủ thời gian cho cả đội bay thoát lên độ cao an toàn. Các phi công tiêm kích thoát nạn đã kịp trấn tĩnh và chỉ hiểu được tổn thất vừa xảy ra khi đã ở trên độ cao 1500 -2000 m.
    Chiếc dẫn đầu cặp bên trái gọi: "Số 4, số 4 đâu, số 3 đâu, số 6 đâu!". Không có trả lời. Chiếc IL-76 đã thực hiện hạ cánh chuyển tiếp trên sân bay Cam Ranh, hai chiếc Su-27 còn lại tiếp đất tại sân bay của thị xã Phan Rang cách đó khoảng 70 km về phía nam.

    Hai chiếc Su-27 thoát nạn đang đỗ trên sân bay Phan Rang.
    Máy bay Su-27 được trang bị hệ thống ghế phóng nhảy dù ở độ cao thấp, cho phép các phi công thoát hiểm chỉ trong vài phần giây trước khi máy bay đâm xuống đất.
    Ngay sau khi tai nạn xảy đến, các lực lượng vũ trang Việt Nam đã lùng sục sườn núi số 400 gần Cam Ranh, mà mọi người cho rằng cú va chạm đầu tiên của chiếc tiêm kích là ở đó, nhưng không tìm thấy gì. Sau đó có thông báo là đã tìm thấy mảnh vỡ của một trong ba máy bay Nga, nhưng ngay sau đó được giải thích rằng, những người dân địa phương tìm thấy mảnh xác máy bay bỏ lại từ thời chiến tranh Việt Nam.
    Các mảnh xác Su-27 chỉ được tìm thấy ngày 16/12: từ trên trực thăng người ta đã phát hiện ra điểm máy bay rơi và dù treo trên cây.
    Tai nạn đã xảy ra ở núi Chúa, cách sân bay Cam Ranh 25 km về phía tây nam. Kết quả điều tra đã buộc tội những người có lỗi trong sự hy sinh của các "tráng sỹ" là chỉ huy một trong những bộ phận quân sự đóng căn cứ tại sân bay "Tskalovskoie", thiếu tướng Grebennikov, hoa tiêu-đại tá Kriazevskii và người chỉ huy bay từ mặt đất tại sân bay Cam Ranh-trung tá Arbouzov.
    Chưa có lệnh của người chỉ huy hạ cánh, chỉ huy chiếc IL-76 đã bắt đầu vòng ngoặt thứ nhất. Ông tướng đã kéo một cách không cần thiết vòng ngoặt thứ ba với tốc độ hạ cánh 450km/h, thay vì sử dụng tốc độ tiêu chuẩn của dòng máy bay IL này là 350km/h. Grebennikov thông báo về điểm ngoặt chuyển hướng sau 53s khi thực tế đã vượt qua nó phải đến 10 km. Theo quy định đề ra với sân bay Cam Ranh, độ cao tối thiểu để bắt đầu vào hạ cánh từ đất liền là 1500 m. Còn theo thiết bị hiện có trên máy bay IL-76 bay trước các máy bay Su-27 hạ xuống 600 m.
    Đồng thời, người chỉ huy bay Arbouzov vẫn có thể đặt ông tướng còn đang bay mới gần tới Cam Ranh về đúng chỗ của mình, huống hồ ông tướng dù sao cũng không phải là chỉ huy của ông. Các chiếc đầu đàn tốp bên trái và bên phải có toàn quyền đòi hỏi lần hạ cánh thứ hai. Về nguyên tắc, bất kỳ người phi công nào đều có thể từ chối thi hành mệnh lệnh, ngay cả chiếc 606, nhưng đã không ai làm điều đó. Trong khi đó hoa tiêu chiếc IL-76 cứ nằng nặc theo ý mình và hành động như ma xui quỷ khiến.
    Sau thời gian dài điều tra, tòa án quân sự quân khu Moskva ngày 13/3/1998 đã tuyên án thiếu tướng không quân Vladimir Grebennikov 6 năm tù giam. Tuy nhiên ngay sau đó ông ta được ân xá.
    Theo Người Đưa Tin

  7. #77
    Ngày tham gia
    29-09-2010
    Bài viết
    1,078
    Thích
    145
    Đã được thích 547 lần trong 331 bài viết
    Ngay sau khi tai nạn xảy đến, các lực lượng vũ trang Việt Nam đã lùng sục sườn núi số 400 gần Cam Ranh, mà mọi người cho rằng cú va chạm đầu tiên của chiếc tiêm kích là ở đó, nhưng không tìm thấy gì.
    Hơn tháng trước, anh em HQ chỉ cho tôi ngọn núi ngay gần (con trỏ trên ảnh màn hình), nói vụ tai nạn máy bay Su của Nga năm xưa là ở đó. Tôi ngạc nhiên sao độ cao thấp vậy?


    Các mảnh xác Su-27 chỉ được tìm thấy ngày 16/12: từ trên trực thăng người ta đã phát hiện ra điểm máy bay rơi và dù treo trên cây.
    Tai nạn đã xảy ra ở núi Chúa, cách sân bay Cam Ranh 25 km về phía tây nam.
    Hoá ra ở mãi tận đâu đó tận đây (bán kính 25km từ sân bay, hướng Tây Nam)

  8. #78
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,238
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết
    Trung Quốc sẵn sàng đánh lớn

    Quân đội Trung Quốc đang trang bị lại bằng binh khí hiện đại và đang tiến hành các cuộc tập trận tiến công.

    Trong đó thập kỷ gần đây, khả năng chiến đấu của Trung Quốc sự gia tăng nhanh chóng, trong khi nhiều người ở Nga và phương Tây vẫn lầm tưởng rằng, Trung Quốc vẫn đang sản xuất binh khí kỹ thuật chất lượng thấp và cũng chỉ ở mức loạt nhỏ.

    Người ta biết rõ là sản xuất vũ khí trang bị ở mức loạt nhỏ đơn giản là bất lợi về mặt kinh tế (bởi lẽ sản xuất số lượng càng lớn thì đơn giá sẽ càng rẻ) và hoàn toàn vô nghĩa về mặt quân sự. Nếu như sản xuất binh khí kỹ thuật số lượng ít thì mỗi mẫu vũ khí sản xuất ra sẽ trở nên quý như vàng kể cả về ý nghĩa kinh tế lần quân sự. Nhưng do Nga và châu Âu hiện đang thực thi đúng cách làm này nên họ nghĩ cả Trung Quốc cũng đang làm như vậy. Trên thực tế, Trung Quốc thường thí nghiệm với các loại vũ khí trang bị khác nhau thuộc cùng chủng loại trong thời gian khá lâu để chọn ra mẫu tối ưu và khắc phục các nhược điểm khác nhau. Những mẫu thử nghiệm này quả thực là đang được sản xuất loạt nhỏ. Trong trường hợp này, người Trung Quốc tuên theo nguyên tắc của mình là “ném đá, qua sông” vốn đang áp dụng các cải cách của họ. Sau khi đạt được kết quả mà theo họ là tối ưu, họ chuyển sang sản xuất hàng loạt mẫu thành công nhất. Mức độ sản xuất loạt lớn mà cả châu Âu lẫn Nga không thể tưởng tượng được.

    Không thể bỏ qua một yếu tố nữa. Nếu như xảy ra một cuộc xung đột quân sự giữa Trung Quốc và Mỹ, nó sẽ diễn ra trên biển và trên không. Do đó, trên các ấn phẩm báo chí in của Mỹ và phương Tây nói chung, người ta dành sự chú ý nhiều nhất cho sự phát triển của hải quân và không quân Trung Quốc. Ở Nga, người ta đơn giản là chép lại các nguồn tin phương Tây này, điều có vẻ hơi lạ. Bởi lẽ, Nga có đường biên giới trên bộ dài 4,3 ngàn km với Trung Quốc. Hơn nữa, những yêu sách lãnh thổ lớn của Trung Quốc đối với Nga vẫn còn đó.

    Với lục quân Trung Quốc cũng đang diễn ra điều đang xảy ra với không quân và hải quân của họ - đó là sự đổi mới chất lượng nhanh chóng trong khi vẫn duy trì các thông số số lượng.

    Mặc dù có sự cắt giảm đáng kể về quân số trong thập kỷ 1980, quân đội Trung Quốc vẫn là quân đội lớn nhất thế giới về thông số này về số, trong khi đã cải thiện mạnh mẽ về chất. Nhờ quá dư thừa nguồn tuyển quân, lục quân thời bình kết hợp được những ưu điểm của quân đội chuyên nghiệp (ký hợp đồng) và nghĩa vụ. Một mặt, công dân nhập ngũ để phụng sự tổ quốc chứ không phải vì tiền (tức là theo nghĩa vụ), mặt khác sự thừa mứa nhân lực cho phép lựa chọn những ứng viên tốt nhất cho quân ngũ (trước hết đó là thanh niên thành phố), nhiều người trong số họ sau đó ở lại phục vụ theo hợp đồng.

    Những thanh niên không được gọi nhập ngũ quân đội Trung Quốc (thường là thanh niên nông thôn với trình độ văn hóa thấp) thì được huấn luyện quân sự sơ bộ và rõ ràng sẽ tạo thành một quân đội đông đảo khi xảy ra chiến tranh lớn. Để phòng trường hợp chiến tranh lớn, Trung Quốc vẫn duy trì đầy đủ hệ thống động viên (đối với cả dân chúng, lẫn với công nghiệp). Vì lý do tương tự, phần lớn các binh đoàn lục quân Trung Quốc vẫn là các sư đoàn. Chỉ có một số lượng nhỏ các sư đoàn được cải tổ thành lữ đoàn. Các lữ đoàn này là dùng để tiến hành các cuộc chiến tranh cục bộ, nhưng nền tảng vẫn là các sư đoàn dùng cho chiến tranh quy mô lớn.

    Giống như hải quân và không quân, lục quân Trung Quốc đang đổi mới nhanh chóng chất lượng, trong khi vẫn giữ nguyên số lượng


    Hết tốc lực thay thế xe tăng

    Trung Quốc đang xây dựng lực lượng xe tăng khổng lồ nhất thế giới chính là dành cho cuộc chiến tranh lớn này. Ở đây, ta cần một lần nữa lưu ý là không thể tiến hành một cuộc chiến bình thường nếu không có xe tăng. Chân lý cũ rích này cần phải nhắc lại bởi vì xe tăng liên tục bị người ta “chôn cất” khi nói rằng, nó đã lỗi thời. Trong những tuyên bố đó tồn tại một mâu thuẫn nội bộ sâu sắc mà vì sao đó không ai nhận ra. Từ giác độ “những người chôn cất” xe tăng, nó đã lỗi thời vì đã trở nên quá dễ tổn thương, nhưng không hề đưa ra những cáo buộc nào khác. Quả thực, trên toàn thế giới người ta đã đầu tư hàng tỷ đô la để phát triển vũ khí chống tăng và đã chế tạo ra nhiều vũ khí này. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ bất kỳ lớp binh khí kỹ thuật mặt đất nào khác cũng đều dễ bị tổn thương hơn xe tăng một vài chục lần. Nếu như xe tăng đã lỗi thời vì lý do dễ bị tổn thương, tức là hoàn toàn không thể tiến hành chiến tranh mặt đất nữa. Điều đó có mà có thể thảo luận một cách nghiêm túc. Không có và sẽ không có gì có thể sánh nổi xe tăng từ góc độ sự kết hợp sức mạnh hỏa lực, tính cơ động và khả năng bảo vệ.

    Lục quân Trung Quốc đã nhận được không dưới 4.000 xe tăng hiện đại Туре-96 và Туре-99, hơn nữa việc thay thế xe tăng cũ bằng xe tăng mới đang thực hiện theo nguyên tắc một đổi một. Tức là sự đổi mới triệt để về chất không dẫn đến sự cắt giảm về số lượng. Các xe tăng Туре-96/96А đã được biên chế cho tất cả 7 đại quân khu của quân đội Trung Quốc, Туре-99 hiện mới trang bị cho 3 đại quân khu Thẩm Dương, Bắc Kinh và Lan Châu (chính là những đại quân khu tiếp giáp biên giới với Nga). Hơn nữa, Type-99 cũng sẽ dần xuất hiện ở tất cả các đại quân khu mặc dù trong sách báo của Nga đến nay vẫn có thể gặp những câu nói rằng, xe tăng này hiện chỉ được cung cấp với số lượng hạn chế cho các đơn vị tinh nhuệ. Làm sao mà trong quân đội Trung Quốc hiện nay lại có nhiều đơn vị tinh nhuệ thế…

    Không thể không nói đến việc vào tháng 5/2012, trong các trận đánh giành thành phố tranh chấp Heglig, các xe tăng Туре-96 của quân đội Sudan đã bắn cháy không dưới 4 xe tăng Т-72 của Nam Sudan (mua từ Ukraine) mà không chịu tổn thất gì. Như vậy là các xe tăng có số lượng lớn nhất của Trung Quốc đã không thua kém gì loại xe tăng đông đảo nhất của Nga về chất lượng. Thật khó lý giải kết cục các trận đánh ở Heglig là do trình độ huấn luyện tồi của lính xe tăng Nam Sudan, vì không có cơ sở nào để nói rằng, lính xe tăng Sudan thì được huấn luyện tốt hơn. Dĩ nhiên là có thể giả định các kíp xe Туре-96 là lính Trung Quốc, nhưng cả các kíp xe Т-72 cũng hoàn toàn có thể là người Đông Slavơ…

    Hệ thống rocket phóng loạt uy lực nhất

    Trung Quốc đã chế tạo được cả một họ xe chiến đấu lội nước mà đi đầu là xe chiến đấu bộ binh WZ-502 (còn có tên là ZBD-04) lắp tháp của xe chiến đấu bộ binh Nga BMP-3 (lính thủy đánh bộ Trung Quốc đã được trang bị đến 300 xe này, việc sản xuất đang tiếp tục). Dĩ nhiên là đặc tính bơi nước bị tất cả các chuyên gia trên thế giới đánh giá dưới góc độ sự chuẩn bị cho cuộc đổ bộ lên Đài Loan, mặc dù các xe này có thể bơi ngon qua sông Amur hay Ussuri trên biên giới với Nga chẳng hạn.

    Tuy nhiên, sau đó, quân đội Trung Quốc nhận ra là khả năng bơi nước dẫn tới khả năng bảo vệ bị suy yếu. Sau đó, họ đã chế tọ biến thể mới của xe chiến đấu bộ binh này là WZ-502G. Nhờ tăng cường vỏ giáp bảo vệ, xe WZ-502G không còn khả năng bơi nữa. Đổi lại, theo các nguồn tin Trung Quốc, tháp xe WZ-502G, cũng như phần trước thân xe chống chịu được đạn xuyên giáp 30 mm bắn từ cự ly 1 km, còn hai bên thân xe chịu được đạn 14,5 mm bắn từ cự ly 200 m.

    Một sự trùng hợp thú vị là 30 mm là cỡ đạn của pháo 2А42, vũ khí chính của xe chiến đấu bộ binh BMP-2 của Nga. Trong khi đó, xe chiến đấu bộ binh Bradley của Mỹ lắp pháo M242 cỡ 25 mm. Còn 14,5 mm là cỡ đạn rất ít có. Chỉ có duy nhất một súng máy có cỡ đạn này là KPVT, vũ khí chính của tất cả các xe bọc thép chở quân cũng của Nga. Cỡ đạn lớn nhất của các súng máy phương Tây là 12,7 mm.

    Ngoài các xe chiến đấu bộ binh mới nhất, Trung Quốc còn đưa vào trang bị cho quân đội các loại xe bọc thép chở quân và ô tô bọc thép, trong đó thú vị là có cả các xe chế tạo theo công ngệ MRAP, tức là xe dùng cho chiến tranh chống du kích.

    Pháo có nòng đang phát triển nhanh, chẳng hạn đang đưa vào trang bị pháo tự hành 155 mm PLZ-05 (đã chuyển giao không dưới 250 khẩu).
    Thông thường, mặt mạnh nhất của lục quân Trung Quốc là pháo phản lực. Nước này đã chế tạo nhiều mẫu hệ thống rocket phóng loạt trên cơ sở các mẫu của Liên Xô, cũng như các mẫu hoàn toàn tự phát triển. Điều logic là chính Trung Quốc đã phát triển được hệ thống rocket phóng loạt uy lực nhất và tầm bắn xa nhất thế giới là WS-2 (6х400 mm) mà các biến thể đầu của nó có tầm bắn 200 km, còn các biến thể cuối (WS-2D) có tầm bắn 350-400 km. Cả MRLS và HIMARS của Mỹ lẫn Smerch của Nga đều không có tính năng dù là gần gần với WS-2.

    Nhìn chung, sử dụng hệ thống rocket phóng loạt bắn mục tiêu diện mặt đất có lợi hơn nhiều là sử dụng máy bay. Bởi lẽ, ở đây không có rủi ro mất chiếc máy bay cực kỳ đắt tiền và thêm nữa là tổ lái tốn kém còn hơn nữa cho huấn luyện, cũng không tốn nhiên liệu vốn cũng rất đắt. Chỉ có đạn dược là bị tiêu hao, nhưng đạn của hệ thống rocket phóng loạt cũng rẻ hơn bom đạn máy bay.

    Độ chính xác bắn kém của hệ thống rocket phóng loạt được bù đắp bởi số lượng đạn lớn bắn trong một loạt. Ngoài ra, hiện nay cả đạn cho hệ thống rocket phóng loạt cũng đang trở thành đạn có điều khiển. Các loại đạn của WS-2 thuộc loại này. Hơn nữa, mỗi bệ phóng của hệ thống rocket phóng loạt này sẽ có một máy bay không người lái trinh sát riêng, nên tăng được hơn nữa độ chính xác bắn.

    Hệ thống rocket phóng loạt có ưu thế đáng kể so với cả tên lửa chiến thuật về sức mạnh chiến đấu trong khi giá cả đạn dược lại rẻ hơn. Tầm bắn không đủ xa lâu nay vẫn bị coi là nhược điểm cơ bản của hệ thống rocket phóng loạt so với máy bay và tên lửa chiến thuật. Nhưng nay thì người Trung Quốc đã khắc phục được nhược điểm này.

    Không thể không lưu ý đến việc từ sâu bên trong khu vực Mãn Châu Lý, WS-2D có khả năng tiêu diệt chớp nhoáng tất cả các đơn vị quân đội Nga tại các khu vực Vladivostok-Ussuryisk, Khabarovsk và Blagoveshchensk-Belogorsk. Còn từ các vùng giáp biên của Mãn Châu Lý (nhưng vẫn là từ lãnh thổ Trung Quốc), hệ thống rocket phóng loạt này sẽ tiêu diệt quân đội và các căn cứ không quân của Nga ở khu vực Chita và các xí nghiệp chiến lược ở Komsomolsk trên sông Amur. Hơn nữa, các quả đạn cỡ nhỏ của WS-2D lại có tốc độ siêu vượt âm, thời gian chúng bay hết tầm tối đa cũng không quá 5 phút. Phòng không Nga không chỉ không thể tiêu diệt, mà ngay cả phát hiện chúng cũng không thể.

    Đồng thời, sẽ hoàn toàn không thể phát hiện việc triển khai các hệ thống rocket phóng loạt trên lãnh thổ Trung Quốc bởi lẽ các bệ phóng của chúng trông giống các xe tải bình thường, thậm chí các ống dẫn hướng cũng có hình hộp rất dễ ngụy trang thành thùng xe tải. Và đây không phải là hệ thống vũ khí phòng thủ mà là hệ thống thuần túy tấn công, đột kích.

    Các tên lửa Tomahawk của Mỹ dĩ nhiên có tầm bắn xa hơn nhiều, nhưng chỉ có tốc độ dưới âm, bởi vậy, thời gian bay hết tầm tối đa không phải là 5 phút mà là 2 giờ. Ngoài ra, các bệ phóng của chúng (tàu tuần dương và tàu khu trục) chắc chắn là không dễ dàng ngụy trang. Ngoài ra, NATO không có cái gì khác có thể so sánh xa xôi về tính năng với WS-2.

    Cho đến gần đây, mặt yếu của lục quân Trung Quốc là không có một trực thăng tiến công thực thụ. Z-9 chế tạo trên cơ sở trực thăng Pháp Dauphin có thể được coi là trực thăng tiến công một cách rất khiên cưỡng. Nhưng nay vấn đề này đã được vượt qua khi Trung Quốc đang đưa vào trang bị trực thăng WZ-10 được phát triển trên cơ sở sử dụng các công nghệ Nga và phương Tây. Lục quân Trung Quốc hiện đã có 60 trực thăng này, việc sản xuất đang được tiếp tục.


    (Còn nữa)


    Nguồn: Trung Quốc sẵn sàng đánh lớn / Aleksandr Khramchikhin, Phó Giám đốc Viện Phân tích chính trị và quân sự // VPK, 12.6.2013.

  9. #79
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Thêm bài về xu hướng nghiên cứu, tìm hiểu về TQ

    Học giả Mỹ bày kế 'đánh quỵ' Trung Quốc

    TPO - Luttwak đề xuất phương án gây áp lực địa chính trị chiến lược lên Trung Quốc, đánh quỵ kinh tế của đại lục đến cấp độ không còn có thể gây ra các mối đe dọa, loại bỏ khả năng Trung Quốc thống trị thị trường thế giới.

    Tác giả người Mỹ, một chuyên gia trong lĩnh vực chiến lược Edward Luttwak đã phân tích và bày kế khống chế Trung Quốc trong cuốn "Sự trỗi dậy của Trung Quốc đi ngược logic chiến lược phát triển" đã đưa ra những phân tích và luận điểm rất đáng chú ý về Trung Quốc.


    Trung Quốc 'quá tự phụ'
    E. Luttwak, một chuyên viên cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (Center for Strategic and International Studies), trên quan điểm cá nhân của mình và cũng là một quan điểm khá độc đáo trong cuộc tranh luận về làm thế nào để kiềm chế "nguy cơ Trung Quốc".
    Luttwak tin rằng hiện tượng tăng trưởng địa chính trị của Trung Quốc trên ba vị trí cơ bản - kinh tế, sức mạnh quân sự và ảnh hưởng chính trị và ngoại giao - không thể tiếp tục mãi mãi và chắc chắn sẽ gây ra phản ứng từ các nước khác. Những nước này nhận thức được rằng sự phát triển tiềm lực quốc gia hùng mạnh của Trung Quốc đi cùng với việc thiết lập quyền kiểm soát và ảnh hưởng - đầu tiên ở châu Á và sau đó là trên quy mô toàn cầu.
    Theo Luttwak, quyết định đúng đắn nhất của Trung Quốc là tự kiềm chế: Bắc Kinh duy trì một tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nhưng loại trừ khả năng tăng cường tương xứng về sức mạnh quân sự và ảnh hưởng chính trị. Chỉ theo phương án này, Trung Quốc có thể giảm thiểu những lo ngại của các nước khác và tránh bị đối đầu với một liên minh phản đối mạnh, tương tự như liên minh chống lại Đức vào đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, tác giả tin tưởng rằng, đợi cho Trung Quốc có một một tầm nhìn chiến lược như vậy là không thể.
    Nguyên nhân chính của vấn đề này – tính tự phụ quá lớn của một siêu cường – tự phụ của một siêu cường được hiểu như là sự tập trung tối đa cho các công việc nội bộ và không hề quan tâm đến những gì đang xảy ra bên ngoài biên giới. Tính tự phụ còn được thể hiện ở trong lĩnh vực đối ngoại, các lãnh đạo hoàn toàn không muốn nghe và không muốn biết, các nước láng giềng họ nghĩ gì về mình. Căn bệnh tự phụ này là bản chất của các siêu cường – nước lớn như Mỹ, Nga, Ấn Độ. Nhưng với Trung Quốc, nó đặc biệt nghiêm trọng.

    Học giả Mỹ đánh giá Trung Quốc đã quá tự phụ với sức mạnh của mình và say sưa với 'giấc mơ Trung Hoa'. Ảnh: Ông Tập Cận Bình thị sát quân đội sau khi trở thành người đứng đầu nhà nước.
    Thứ nhất: Chính quyền Trung Quốc tập trung toàn bộ sự quan tâm của mình đối với những nguy cơ có thể đe dọa đến nền chuyên chính của giai cấp. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc không có quá nhiều thời gian và sức lực để nghiên cứu và phân tính những tiến trình phát triển của thế giới.
    Thứ hai: Ảnh hưởng mạnh mẽ của truyền thống lịch sử - Trung Quốc tự coi mình là nước lớn và là trung tâm của thế giới, các nước láng giềng quanh đại lục được nhìn nhận như những nước nhược tiểu. Truyền thống này đã định hướng các mối quan hệ nước ngoài từ rất lâu và ảnh hưởng trực tiếp đến ngày nay, đồng thời là trở ngại khiến Trung Quốc không nhìn nhận được các nước khác như các đối tượng bình đẳng trong quan hệ quốc tế. Mặc dù có một nền văn hóa lâu đời, Trung Quốc rất thiếu kinh nghiệm trong các mối quan hệ quốc tế - đặc biệt là trong các quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước đối tác trong khu vực.
    Thứ ba: Một trong những ảnh hưởng tai hại đối với các nhà lãnh đạo Trung Quốc là niềm tin vào những lý luận chiến lược của các học giả Trung Hoa cổ đại, một trong những tác phẩm đó là “Nghệ thuật chiến tranh” của Tôn Tử. Những bài học lý luận, được trình bày trong tác phẩm đó – được xây dựng trên nền tảng kinh nghiệm của các cuộc chiến tranh trong nội bộ Trung Quốc (có cùng ngôn ngữ, cùng văn hóa và tư duy chiến lược) đặc biệt trong thời kỳ “Chiến quốc” (thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên - 221 TCN).
    Đạt đến giới hạn cuối cùng của chủ nghĩa thực dụng, luôn có xu hướng thúc đẩy giải quyết vấn đề bằng cách kích động một cuộc khủng hoảng, các kỹ thuật khác nhau của âm mưu và các thủ đoạn - những đặc điểm này và các đặc trưng khác của “Binh pháp Tôn tử” Trung Quốc có thể đạt hiệu quả trong bối cảnh của nền văn minh Trung Hoa, nhưng thường không đạt hiệu quả trong đối phó với các nền văn hóa và các dân tộc khác. Bằng chứng cho thấy rằng, huyền thoại về sự ưu việt của tư duy chiến lược và các chính sách đối nội, đối ngoại của Trung Quốc, tác giả Luttwak tin rằng thực tế là hơn một thiên niên kỷ, người Hán thực tế (người Trung Quốc) trong triều đại của mình chỉ trị vì có một phần ba thời gian. Các bộ tộc du mục dễ dàng xâm lược và đánh bại các triều đại Trung Quốc, những người tự hào là có tư duy "khôn khéo và đầy cơ mưu tầm chiến lược."
    Lầu Năm Góc: TQ là 'đối tượng tác chiến số 1'
    Sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc hiện đại và quan điểm cứng rắn không khoan nhượng của Bắc Kình về nhiều vấn đề (đặc biệt là trong các tranh chấp ở biển Hoa Đông và Biển Đông) đã dẫn đến thực tế là chống lại Bắc Kinh bắt đầu hình thành một liên minh không chính thức, trong đó bao gồm Ấn Độ, Nhật Bản, Úc, Đông Nam Á và các nước Châu Á -Thái Bình Dương khác. Hoa Kỳ, tất nhiên cũng tham gia vào liên minh và là động lực mạnh mẽ nhất. Tuy nhiên, Luttwak tin rằng sự hình thành của liên minh này không có quá nhiều xúi giục từ phía Washington. Những nước tham gia năng động nhất là nước láng giềng bị o ép của Trung Quốc.

    Chiến hạm Trung Quốc bắt đầu vươn ra Thái Bình Dương, thách thức vị thế thống trị của Mỹ lâu nay.
    Trung Quốc đã và đang ráo riết phát triển vũ khí nhằm tiêu diệt các đội tàu sân bay Mỹ.
    Trong một quan điểm, Úc đóng vai trò của một trong những nước khởi xướng và dẫn dắt chính sách ngoại giao đa phương chống Trung Quốc. Việt Nam là đất nước có lịch sử dân tộc chống ngoại xâm phương Bắc trong nhiều thế kỷ. Quan điểm phản kháng cũng được Mông Cổ duy trì quyết liệt và nhận thức được vấn đề không thể duy trì độc lập nếu rơi vào quỹ đạo ảnh hưởng của Trung Quốc.
    Indonesia và Philippines được Luttwak trích dẫn như là ví dụ về các quốc gia, nửa đầu thập kỷ 1990 đã sẵn sàng làm bạn với Trung Quốc, nhưng sang đến thập kỷ 2000 đã kiên quyết phản đối Trung Quốc – mà đó là lỗi của Bắc Kinh, khi cách cư xử của quốc gia này trên Biển Đông trở nên không thể chấp nhận.
    Câu chuyện đối ngoại chính trị tương tự cũng xảy ra với Nhật Bản trong mối quan hệ Trung Nhật. Không lâu lắm, vào khoảng năm 2009, khi đảng Dân chủ Nhật Bản lên nắm quyền, có cảm giác rằng Tokyo đang chuyển hướng dần về phía Trung Quốc và có thể nói là, âm thầm rơi vào tầm ảnh hưởng chiến lược của Trung Quốc. Nhưng những hành động gây căng thẳng do chính Trung Quốc tiến hành ở quần đảo Senkaku và trên biển Hoa Đông – Biển Đông đã gạch chéo lên tất cả mọi kế hoạch hợp tác hữu nghị và đẩy Nhật Bản về mối quan hệ ngày càng chặt chẽ hơn với Mỹ.

    Căn cứ tàu ngầm của hải quân PLA ở Hải Nam.
    Trung Quốc luôn mơ về các hạm đội viễn dương với các đội tàu sân bay thống trị đại dương như Mỹ.
    Và tích cực phát triển 'sát thủ' diệt tàu sân bay DF-21 nhằm đối phó tàu sân bay Mỹ.
    Một ngoại lệ trong xu hướng phản kháng Trung Quốc lại là Hàn Quốc, theo quan điểm của tác giả cuốn sách này, Hàn Quốc luôn thể hiện “sự phụ thuộc” vào Bắc Kinh. Đã từ lâu Hàn Quốc đã quá coi trọng nền văn minh Trung Hoa và trên thực tế khá lệ thuộc Trung Quốc trong lĩnh vực kinh tế. Để duy trì được khả năng tiếp cận nền kinh tế Trung Quốc, Hàn Quốc đã làm mờ đi những quan hệ còn lại của chính mình. Luttwak đưa ra một dự đoán cho quan điểm chính trị của Hàn Quốc – đó là giải pháp "Thoát ly chiến lược", cho rằng không thể xem xét Hàn Quốc là một đồng minh đáng tin cậy trong liên minh phản kháng Trung Quốc.
    Không chỉ riêng đối với Hàn Quốc, ngay cả chính quyền Mỹ cũng còn xa mới đạt được sự đồng thuận chống những nguy cơ từ Trung Quốc. Tác giả Luttwak cho rằng, chính sách đối ngoại đối với Trung Quốc của Mỹ bị ảnh hưởng bởi 3 nhóm lợi ích: nhóm thứ nhất là Bộ Tài chính, nhóm thứ hai là Bộ Ngoại giao và nhóm thứ ba – Bộ quốc phòng Mỹ.
    Bộ Tài chính đại diện cho nhóm lợi ích của phố Wall. Đối với nhiều tập đoàn kinh tế mạnh của Mỹ, thương mại với Trung Quốc là một nguồn lợi nhuận vô cùng lớn. Bỏ qua nguồn lợi này, các tập đoàn không sẵn sàng. Lợi nhuận trong quý tiếp theo của một năm tài chính quan trọng hơn lợi ích lâu dài của an ninh quốc gia. Vì vậy, Bộ Tài chính luôn có quan điểm thân thiện với Trung Quốc.
    Bộ Ngoại giao, đặc biệt là trong thời kỳ bà Hillary Clinton không phủ nhận tầm quan trọng hợp tác thương mại với Bắc Kinh, nhưng nhận định rằng, hầu hết các vấn đề lợi ích của Mỹ và Trung Quốc luôn luôi đối kháng lẫn nhau. Công bố chính sách đối ngoại của chính quyền Obama "Trở lại Châu Á - Thái Bình Dương”, theo Luttwak, không có gì khác hơn một chính sách đối ngoại chính trị nhằm ngăn chặn Trung Quốc.
    Chính sách kiềm chế đối ngoại do Bộ Ngoại giao Mỹ tiến hành, được sự hỗ trợ bởi sức mạnh quân sự của Lầu Năm Góc. Bộ Quốc phòng Mỹ có quan điểm coi Trung Quốc là "kẻ thù chính" đồng thời lên kế hoạch tác chiến chiến lược, đưa ra các đơn đặt hàng vũ khí mới với quan điểm coi Trung Quốc là “đối tượng tác chiến số 1”.
    Đánh quỵ bằng đòn phong tỏa
    Tuy nhiên, tác giả Luttwak khẳng định, giải pháp quân sự để giải quyết vấn đề Trung Quốc là không thể được xét trên mọi góc độ, ngay cả trong trường hợp Quân đội Mỹ có ưu thế thống trị chiến trường. Trong kỷ nguyên của vũ khí hạt nhân, xung đột vũ trang giữa hai cường quốc quân sự có thể rất dễ dàng dẫn đến thảm họa toàn cầu.

    Mỹ hoàn toàn có khả năng phong tỏa con đường huyết mạch trên biển của Trung Quốc. Nhưng nếu Trung Quốc duy trì tốt quan hệ chiến lược với Nga thì không có gì bảo đảm chiến lược phong tỏa sẽ thành công.
    Từ những quan điểm và phân tích đánh giá đã nêu. Tác giả Luttwak đưa ra những giải pháp nhằm giải quyết những nguy cơ từ phía Trung Quốc, mà theo tác giả là rất nghiêm trọng:
    Giải pháp nhằm giải quyết vấn đề nguy cơ Trung Quốc, Luttwak đề xuất phương án gây áp lực địa chính trị chiến lược lên Trung Quốc, với mục đích làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế của đại lục đến cấp độ không còn có thể gây ra các mối đe dọa, nhằm cân bằng lực lượng trên trường thế giới và loại bỏ khả năng Trung Quốc đạt được quyền thống trị thị trường thế giới. Mục tiêu đó có thể đạt được, nếu chặn được hàng hóa Trung Quốc trên các thị trường của các đối tác chính. Đồng thời với việc ngăn chặn khả năng Trung Quốc tiếp cận các tài nguyên khoáng sản và công nghệ, mang ý nghĩa sống còn với đời sống kinh tế Trung Quốc trong điều kiện hiện nay. Theo ông Luttwak đã có những dấu hiệu đối kháng đại lục trong lĩnh vực kinh tế: Úc cấm các công ty Trung Quốc mua các khu tài nguyên và nguyên liệu thô, Argentina và Brazil đã ra lệnh cấm các doanh nhân Trung Quốc mua các vùng đất đai nông nghiệp của họ, chính quyền Mỹ không cho phép các công ty Trung Quốc bỏ thầu trong các hợp đồng mua sắm công, v.v….
    Tất nhiên, có thể gọi giải pháp đó là “phong tỏa kinh tế”, đòi hỏi rất nhiều thời gian, sức lực và quan hệ ngoại giao. Trong cái gọi là “phong tỏa địa chính trị Trung Hoa” vị trí then chốt đối với Mỹ lại chính là Nga. Luttwak đã nhận thấy một vấn đề khá rõ nét: Nếu người Mỹ và các đồng minh của họ tiến hành phong tỏa kinh tế Trung Quốc, vòng phong tỏa này sẽ không thành hiện thực nếu không có sự tham gia của Nga và các nước Trung Á, nằm trong tầm ảnh hưởng của Nga. Ngay cả trong trường hợp cứng rắn hơn, Mỹ phong tỏa quân sự đường biển, Trung Quốc vẫn có thể nhận được những nguồn nguyên liệu thô, năng lượng từ những đối tác Trung Á và châu Âu của họ.
    Nếu tham gia phong tỏa kinh tế Trung Quốc có cả Nga và các nước Trung Á, thì nền kinh tế Trung Quốc sụp đổ. Rõ ràng, trong liên mình đối kháng với Trung Quốc, Moscow đóng vai trò then chốt chiến lược. Về vấn đề này, nếu Nhật Bản coi như là một thành viên chống Trung Quốc, ông Luttwak cho rằng Nhật Bản nên bình thường hóa quan hệ với Nga và có những xem xét mang tính xây dựng cho tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Nam Kuril: Tranh chấp nhỏ phải nhường cho lợi ích lớn – một liên minh ngăn chặn Trung Quốc.

    Trung Quốc rất cần Nga nhưng Nga chưa chắc đã cần Trung Quốc. Ảnh: Chủ tịch Tập Cận Bình đã chọn Nga là địa chỉ trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên sau khi nằm quyền lực tối cao.
    Mặc dù không nói ra, nhưng rõ ràng logic Luttwak đã nhận định vị thế vô cùng quan trọng của Nga trong mối quan hệ địa chính trị của Trung Quốc trên bản đồ thế giới. Trung Quốc cần Nga như một đối tác chiến lược sống còn trong khi Nga thì không. Về nguyên tắc, Nga có thể loại bỏ khả năng hợp tác kinh tế với Trung Quốc, dù có những tổn thất lợi ích không hề nhỏ. Trung Quốc đứng vị trí hàng đầu trong kinh doanh thương mại với Nga, nhưng Nga hoàn toàn không mua và không có những lợi ích mang tính tồn vong từ Trung Quốc. Đối với Trung Quốc, vấn đề thương mại thông suốt với Nga đóng vai trò sống còn có tính chiến lược trong hiện tại và tương lai.
    Lịch sử thế giới đã chứng minh một chân lý mà Luttwak một lần nữa chứng minh lại: Trước nguy cơ một quốc gia trở thành một thế lực với những chính sách mang tính áp đặt ảnh hưởng cao, các quốc gia khác sẽ liên kết lại trong các hoạt động phản kháng hiệu quả. Trong trường hợp này có Trung Quốc. Nhưng vấn đề tồn tại ở điểm, không phải lúc nào logic của sự cân bằng lực lượng cũng có ưu thế trước một thế lực áp đặt đơn cực. Trong lịch sử quan hệ thế giới không ít những ví dụ cho thấy, các quốc gia nhỏ hơn không chống lại được quyền lực ảnh hưởng của một cường quốc – thường là có nguyên nhân quan trọng – không có khả năng tổ chức được những hoạt động phản kháng tập thể (collective action problem) bản thân các nước thành viên cũng không có khả năng huy động các nguồn lực trong nước để đẩy lùi nguy cơ, cũng như sự không có sự chắc chắn về mối nguy hiểm chính đến từ hướng nào.
    Từ góc nhìn của Luttwak cho thấy: sự trỗi dậy của Trung hoa đại lục trong giai đoạn gần đây đã gây lên những hoài nghi, lo lắng, và thậm chí sự phản kháng trong nhiều học giả, các nhà chính trí và các nhà lý luận chiến lược đối ngoại trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay. Giải pháp phong tỏa nền kinh tế Trung Quốc từ một góc độ nào đó, có thể phản ánh những quan điểm của các chính trị gia phương Tây.

    Lịch sử các cuộc đầu tranh kinh tế - chính trị đương đại sau Đại chiến thế giới lần thứ II cho thấy những mâu thuẫn đối đầu và sự phát triển mạnh mẽ. Sự trỗi dậy của Trung Quốc có thể không khác gì hơn như một áp lực địa chính trị buộc các nước trong khu vực và trên thế giới có một quan điểm, một góc nhìn và sự phát triển mới. Tương tự như Ấn Độ, trước những áp lực của Trung Quốc trên biên giới và trên Ấn Độ Dương, Ấn Độ cũng có những giải pháp đáp trả mạnh mẽ, như xây dựng một lực lượng hải quân hùng mạnh và sẵn sàng cho mọi hoạt động, từ đối ngoại chính trị đến đấu tranh vũ trang.
    Trịnh Thái Bằng

  10. #80
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,238
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết
    Trung Quốc sẵn sàng đánh lớn


    Đánh giá sức mạnh lục quân Trung Quốc.Quân đội Trung Quốc đang trang bị lại bằng binh khí hiện đại và đang tiến hành các cuộc tập trận tiến công.


    Trong đó thập kỷ gần đây, khả năng chiến đấu của Trung Quốc sự gia tăng nhanh chóng, trong khi nhiều người ở Nga và phương Tây vẫn lầm tưởng rằng, Trung Quốc vẫn đang sản xuất binh khí kỹ thuật chất lượng thấp và cũng chỉ ở mức loạt nhỏ.

    Người ta biết rõ là sản xuất vũ khí trang bị ở mức loạt nhỏ đơn giản là bất lợi về mặt kinh tế (bởi lẽ sản xuất số lượng càng lớn thì đơn giá sẽ càng rẻ) và hoàn toàn vô nghĩa về mặt quân sự. Nếu như sản xuất binh khí kỹ thuật số lượng ít thì mỗi mẫu vũ khí sản xuất ra sẽ trở nên quý như vàng kể cả về ý nghĩa kinh tế lần quân sự. Nhưng do Nga và châu Âu hiện đang thực thi đúng cách làm này nên họ nghĩ cả Trung Quốc cũng đang làm như vậy. Trên thực tế, Trung Quốc thường thí nghiệm với các loại vũ khí trang bị khác nhau thuộc cùng chủng loại trong thời gian khá lâu để chọn ra mẫu tối ưu và khắc phục các nhược điểm khác nhau. Những mẫu thử nghiệm này quả thực là đang được sản xuất loạt nhỏ. Trong trường hợp này, người Trung Quốc tuên theo nguyên tắc của mình là “ném đá, qua sông” vốn đang áp dụng các cải cách của họ. Sau khi đạt được kết quả mà theo họ là tối ưu, họ chuyển sang sản xuất hàng loạt mẫu thành công nhất. Mức độ sản xuất loạt lớn mà cả châu Âu lẫn Nga không thể tưởng tượng được.

    Không thể bỏ qua một yếu tố nữa. Nếu như xảy ra một cuộc xung đột quân sự giữa Trung Quốc và Mỹ, nó sẽ diễn ra trên biển và trên không. Do đó, trên các ấn phẩm báo chí in của Mỹ và phương Tây nói chung, người ta dành sự chú ý nhiều nhất cho sự phát triển của hải quân và không quân Trung Quốc. Ở Nga, người ta đơn giản là chép lại các nguồn tin phương Tây này, điều có vẻ hơi lạ. Bởi lẽ, Nga có đường biên giới trên bộ dài 4,3 ngàn km với Trung Quốc. Hơn nữa, những yêu sách lãnh thổ lớn của Trung Quốc đối với Nga vẫn còn đó.

    Với lục quân Trung Quốc cũng đang diễn ra điều đang xảy ra với không quân và hải quân của họ - đó là sự đổi mới chất lượng nhanh chóng trong khi vẫn duy trì các thông số số lượng.

    Mặc dù có sự cắt giảm đáng kể về quân số trong thập kỷ 1980, quân đội Trung Quốc vẫn là quân đội lớn nhất thế giới về thông số này về số, trong khi đã cải thiện mạnh mẽ về chất. Nhờ quá dư thừa nguồn tuyển quân, lục quân thời bình kết hợp được những ưu điểm của quân đội chuyên nghiệp (ký hợp đồng) và nghĩa vụ. Một mặt, công dân nhập ngũ để phụng sự tổ quốc chứ không phải vì tiền (tức là theo nghĩa vụ), mặt khác sự thừa mứa nhân lực cho phép lựa chọn những ứng viên tốt nhất cho quân ngũ (trước hết đó là thanh niên thành phố), nhiều người trong số họ sau đó ở lại phục vụ theo hợp đồng.

    Những thanh niên không được gọi nhập ngũ quân đội Trung Quốc (thường là thanh niên nông thôn với trình độ văn hóa thấp) thì được huấn luyện quân sự sơ bộ và rõ ràng sẽ tạo thành một quân đội đông đảo khi xảy ra chiến tranh lớn. Để phòng trường hợp chiến tranh lớn, Trung Quốc vẫn duy trì đầy đủ hệ thống động viên (đối với cả dân chúng, lẫn với công nghiệp). Vì lý do tương tự, phần lớn các binh đoàn lục quân Trung Quốc vẫn là các sư đoàn. Chỉ có một số lượng nhỏ các sư đoàn được cải tổ thành lữ đoàn. Các lữ đoàn này là dùng để tiến hành các cuộc chiến tranh cục bộ, nhưng nền tảng vẫn là các sư đoàn dùng cho chiến tranh quy mô lớn.

    Giống như hải quân và không quân, lục quân Trung Quốc đang đổi mới nhanh chóng chất lượng, trong khi vẫn giữ nguyên số lượng


    Hết tốc lực thay thế xe tăng

    Trung Quốc đang xây dựng lực lượng xe tăng khổng lồ nhất thế giới chính là dành cho cuộc chiến tranh lớn này. Ở đây, ta cần một lần nữa lưu ý là không thể tiến hành một cuộc chiến bình thường nếu không có xe tăng. Chân lý cũ rích này cần phải nhắc lại bởi vì xe tăng liên tục bị người ta “chôn cất” khi nói rằng, nó đã lỗi thời. Trong những tuyên bố đó tồn tại một mâu thuẫn nội bộ sâu sắc mà vì sao đó không ai nhận ra. Từ giác độ “những người chôn cất” xe tăng, nó đã lỗi thời vì đã trở nên quá dễ tổn thương, nhưng không hề đưa ra những cáo buộc nào khác. Quả thực, trên toàn thế giới người ta đã đầu tư hàng tỷ đô la để phát triển vũ khí chống tăng và đã chế tạo ra nhiều vũ khí này. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ bất kỳ lớp binh khí kỹ thuật mặt đất nào khác cũng đều dễ bị tổn thương hơn xe tăng một vài chục lần. Nếu như xe tăng đã lỗi thời vì lý do dễ bị tổn thương, tức là hoàn toàn không thể tiến hành chiến tranh mặt đất nữa. Điều đó có mà có thể thảo luận một cách nghiêm túc. Không có và sẽ không có gì có thể sánh nổi xe tăng từ góc độ sự kết hợp sức mạnh hỏa lực, tính cơ động và khả năng bảo vệ.

    Lục quân Trung Quốc đã nhận được không dưới 4.000 xe tăng hiện đại Туре-96 và Туре-99, hơn nữa việc thay thế xe tăng cũ bằng xe tăng mới đang thực hiện theo nguyên tắc một đổi một. Tức là sự đổi mới triệt để về chất không dẫn đến sự cắt giảm về số lượng. Các xe tăng Туре-96/96А đã được biên chế cho tất cả 7 đại quân khu của quân đội Trung Quốc, Туре-99 hiện mới trang bị cho 3 đại quân khu Thẩm Dương, Bắc Kinh và Lan Châu (chính là những đại quân khu tiếp giáp biên giới với Nga). Hơn nữa, Type-99 cũng sẽ dần xuất hiện ở tất cả các đại quân khu mặc dù trong sách báo của Nga đến nay vẫn có thể gặp những câu nói rằng, xe tăng này hiện chỉ được cung cấp với số lượng hạn chế cho các đơn vị tinh nhuệ. Làm sao mà trong quân đội Trung Quốc hiện nay lại có nhiều đơn vị tinh nhuệ thế…

    Không thể không nói đến việc vào tháng 5/2012, trong các trận đánh giành thành phố tranh chấp Heglig, các xe tăng Туре-96 của quân đội Sudan đã bắn cháy không dưới 4 xe tăng Т-72 của Nam Sudan (mua từ Ukraine) mà không chịu tổn thất gì. Như vậy là các xe tăng có số lượng lớn nhất của Trung Quốc đã không thua kém gì loại xe tăng đông đảo nhất của Nga về chất lượng. Thật khó lý giải kết cục các trận đánh ở Heglig là do trình độ huấn luyện tồi của lính xe tăng Nam Sudan, vì không có cơ sở nào để nói rằng, lính xe tăng Sudan thì được huấn luyện tốt hơn. Dĩ nhiên là có thể giả định các kíp xe Туре-96 là lính Trung Quốc, nhưng cả các kíp xe Т-72 cũng hoàn toàn có thể là người Đông Slavơ…

    Hệ thống rocket phóng loạt uy lực nhất

    Trung Quốc đã chế tạo được cả một họ xe chiến đấu lội nước mà đi đầu là xe chiến đấu bộ binh WZ-502 (còn có tên là ZBD-04) lắp tháp của xe chiến đấu bộ binh Nga BMP-3 (lính thủy đánh bộ Trung Quốc đã được trang bị đến 300 xe này, việc sản xuất đang tiếp tục). Dĩ nhiên là đặc tính bơi nước bị tất cả các chuyên gia trên thế giới đánh giá dưới góc độ sự chuẩn bị cho cuộc đổ bộ lên Đài Loan, mặc dù các xe này có thể bơi ngon qua sông Amur hay Ussuri trên biên giới với Nga chẳng hạn.

    Tuy nhiên, sau đó, quân đội Trung Quốc nhận ra là khả năng bơi nước dẫn tới khả năng bảo vệ bị suy yếu. Sau đó, họ đã chế tọ biến thể mới của xe chiến đấu bộ binh này là WZ-502G. Nhờ tăng cường vỏ giáp bảo vệ, xe WZ-502G không còn khả năng bơi nữa. Đổi lại, theo các nguồn tin Trung Quốc, tháp xe WZ-502G, cũng như phần trước thân xe chống chịu được đạn xuyên giáp 30 mm bắn từ cự ly 1 km, còn hai bên thân xe chịu được đạn 14,5 mm bắn từ cự ly 200 m.

    Một sự trùng hợp thú vị là 30 mm là cỡ đạn của pháo 2А42, vũ khí chính của xe chiến đấu bộ binh BMP-2 của Nga. Trong khi đó, xe chiến đấu bộ binh Bradley của Mỹ lắp pháo M242 cỡ 25 mm. Còn 14,5 mm là cỡ đạn rất ít có. Chỉ có duy nhất một súng máy có cỡ đạn này là KPVT, vũ khí chính của tất cả các xe bọc thép chở quân cũng của Nga. Cỡ đạn lớn nhất của các súng máy phương Tây là 12,7 mm.

    Ngoài các xe chiến đấu bộ binh mới nhất, Trung Quốc còn đưa vào trang bị cho quân đội các loại xe bọc thép chở quân và ô tô bọc thép, trong đó thú vị là có cả các xe chế tạo theo công ngệ MRAP, tức là xe dùng cho chiến tranh chống du kích.

    Pháo có nòng đang phát triển nhanh, chẳng hạn đang đưa vào trang bị pháo tự hành 155 mm PLZ-05 (đã chuyển giao không dưới 250 khẩu).
    Thông thường, mặt mạnh nhất của lục quân Trung Quốc là pháo phản lực. Nước này đã chế tạo nhiều mẫu hệ thống rocket phóng loạt trên cơ sở các mẫu của Liên Xô, cũng như các mẫu hoàn toàn tự phát triển. Điều logic là chính Trung Quốc đã phát triển được hệ thống rocket phóng loạt uy lực nhất và tầm bắn xa nhất thế giới là WS-2 (6х400 mm) mà các biến thể đầu của nó có tầm bắn 200 km, còn các biến thể cuối (WS-2D) có tầm bắn 350-400 km. Cả MRLS và HIMARS của Mỹ lẫn Smerch của Nga đều không có tính năng dù là gần gần với WS-2.

    Nhìn chung, sử dụng hệ thống rocket phóng loạt bắn mục tiêu diện mặt đất có lợi hơn nhiều là sử dụng máy bay. Bởi lẽ, ở đây không có rủi ro mất chiếc máy bay cực kỳ đắt tiền và thêm nữa là tổ lái tốn kém còn hơn nữa cho huấn luyện, cũng không tốn nhiên liệu vốn cũng rất đắt. Chỉ có đạn dược là bị tiêu hao, nhưng đạn của hệ thống rocket phóng loạt cũng rẻ hơn bom đạn máy bay.

    Độ chính xác bắn kém của hệ thống rocket phóng loạt được bù đắp bởi số lượng đạn lớn bắn trong một loạt. Ngoài ra, hiện nay cả đạn cho hệ thống rocket phóng loạt cũng đang trở thành đạn có điều khiển. Các loại đạn của WS-2 thuộc loại này. Hơn nữa, mỗi bệ phóng của hệ thống rocket phóng loạt này sẽ có một máy bay không người lái trinh sát riêng, nên tăng được hơn nữa độ chính xác bắn.

    Hệ thống rocket phóng loạt có ưu thế đáng kể so với cả tên lửa chiến thuật về sức mạnh chiến đấu trong khi giá cả đạn dược lại rẻ hơn. Tầm bắn không đủ xa lâu nay vẫn bị coi là nhược điểm cơ bản của hệ thống rocket phóng loạt so với máy bay và tên lửa chiến thuật. Nhưng nay thì người Trung Quốc đã khắc phục được nhược điểm này.

    Không thể không lưu ý đến việc từ sâu bên trong khu vực Mãn Châu Lý, WS-2D có khả năng tiêu diệt chớp nhoáng tất cả các đơn vị quân đội Nga tại các khu vực Vladivostok-Ussuryisk, Khabarovsk và Blagoveshchensk-Belogorsk. Còn từ các vùng giáp biên của Mãn Châu Lý (nhưng vẫn là từ lãnh thổ Trung Quốc), hệ thống rocket phóng loạt này sẽ tiêu diệt quân đội và các căn cứ không quân của Nga ở khu vực Chita và các xí nghiệp chiến lược ở Komsomolsk trên sông Amur. Hơn nữa, các quả đạn cỡ nhỏ của WS-2D lại có tốc độ siêu vượt âm, thời gian chúng bay hết tầm tối đa cũng không quá 5 phút. Phòng không Nga không chỉ không thể tiêu diệt, mà ngay cả phát hiện chúng cũng không thể.

    Đồng thời, sẽ hoàn toàn không thể phát hiện việc triển khai các hệ thống rocket phóng loạt trên lãnh thổ Trung Quốc bởi lẽ các bệ phóng của chúng trông giống các xe tải bình thường, thậm chí các ống dẫn hướng cũng có hình hộp rất dễ ngụy trang thành thùng xe tải. Và đây không phải là hệ thống vũ khí phòng thủ mà là hệ thống thuần túy tấn công, đột kích.

    Các tên lửa Tomahawk của Mỹ dĩ nhiên có tầm bắn xa hơn nhiều, nhưng chỉ có tốc độ dưới âm, bởi vậy, thời gian bay hết tầm tối đa không phải là 5 phút mà là 2 giờ. Ngoài ra, các bệ phóng của chúng (tàu tuần dương và tàu khu trục) chắc chắn là không dễ dàng ngụy trang. Ngoài ra, NATO không có cái gì khác có thể so sánh xa xôi về tính năng với WS-2.

    Cho đến gần đây, mặt yếu của lục quân Trung Quốc là không có một trực thăng tiến công thực thụ. Z-9 chế tạo trên cơ sở trực thăng Pháp Dauphin có thể được coi là trực thăng tiến công một cách rất khiên cưỡng. Nhưng nay vấn đề này đã được vượt qua khi Trung Quốc đang đưa vào trang bị trực thăng WZ-10 được phát triển trên cơ sở sử dụng các công nghệ Nga và phương Tây. Lục quân Trung Quốc hiện đã có 60 trực thăng này, việc sản xuất đang được tiếp tục.

    Những cuộc tập trận quy mô lớn

    Các cuộc tập trận của lục quân Trung Quốc cũng có đặc điểm rất thú vị. Tháng 9/2006, Trung Quốc tiến hành cuộc tập trận quy mô chưa từng có của hai đại quân khu Thẩm Dương và Bắc Kinh, hai đại quân khu có tiềm lực mạnh nhất trong 7 đại quân khu. Chính các đại quân khu này tiếp giáp với Nga trên biên giới phía đông của Nga dài 4.300 km. Trong cuộc tập trận, các đơn vị của đại quân khu Thẩm Dương đã thực hiện cuộc hành quân đường dài 1.000 km đến địa bàn của đại quân khu Bắc Kinh, nơi tiến hành tập luyện giao chiến với các đơn vị của đại quân khu này. Việc di chuyển được thực hiện cả theo phương thức tự hành quân lẫn bằng đường sắt. Mục đích của cuộc tập trận là thao dượt các kỹ năng cơ động các binh đoàn trên quãng đường xa so với các địa điểm đóng quân và nâng cao trình độ chỉ huy bảo đảm hậu cần quân đội.

    Năm 2009, các xu hướng này vẫn tiếp tục. Trung Quốc tiến hành cuộc tập trận quy mô lớn nhất trong lịch sử Kuyuae-2009. Cuộc tập trận diễn ra trên địa bàn 4 đại quân khu Thẩm Dương, Lan Châu, Tế Nam và Quảng Châu với sự tham gia của đến 50.000 quân của lục quân và không quân, hơn 6.000 phương tiện vận tải. Trong quá trình tập trận, các lực lượng đã vượt qua tổng cộng 50.000 km. Ví dụ, 4 sư đoàn lục quân đã hành quân (bằng đường sắt, sau đó là tự di chuyển) trên quãng đường 2.000 km. Trong cuộc tập trận này đã thao dượt các hành động hiệp đồng của tất cả các binh chủng trong điều kiện chiến tranh hiện đại. Một trong các mục đích tập trận là kiểm tra các hệ thống vũ khí tối tân, cũng như khả năng hoạt động của hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu đang được triển khai Bắc Đẩu, một hệ thống tương tự GPS của Mỹ.

    Rõ ràng là kịch bản tập trận như thế không hề liên quan đến việc đánh chiếm Đài Loan, hay phản kích cuộc xâm lược từ phía Mỹ. Đánh chiếm Đài Loan sẽ phải là một chiến dịch đổ bộ đường biển vì kích thước chiến trường lục địa trên đảo Đài Loan rất nhỏ, chiều rộng của Đài Loan từ tây sang đông không quá 150 km, do đó không thể thực hiện các cuộc hành quân dài hàng ngàn kilômet được. Ngoài ra, trong các cuộc tập trận được tiến hành không có sự tham gia của lực lượng của đại quân khu Nam Kinh là đại quân khu có nhiệm vụ tác chiến chống Đài Loan.

    Cuộc xâm lược từ phía Mỹ, nếu như có thể tưởng tượng ra, chỉ có thể là cuộc tấn công từ hướng biển và từ trên không bằng vũ khí chính xác cao nhằm phá hủy tiềm lực quân sự và kinh tế của Trung Quốc. Các hành động trên bộ sẽ là tự sát đối với Mỹ do ưu thế quân số khổng lồ của quân đội Trung Quốc, đồng thời lại hoàn toàn vô nghĩa từ góc độ quân sự, chính trị và kinh tế.

    Hơn nữa, Trung Quốc không thể dự kiến có cuộc xâm lược từ một nước nào khác, vì một cuộc tấn công như vậy sẽ là cách thức hiệu quả nhất và nhanh nhất để tự sát đối với kẻ chiếm đóng. Bởi vậy, tiến hành tập trận quy mô chiến lược để tập dượt các nhiệm vụ phòng thủ không có ý nghĩa gì, những nhiệm vụ đó đơn thuần là không được đặt ra cho quân đội Trung Quốc. Bộ chỉ huy quân đội Trung Quốc cũng hiểu rõ điều đó, bởi vậy, trong cuộc tập trận, người ta thao dượt các hành động tấn công chứ không phải phòng thủ.

    Rõ ràng là để giải quyết các nhiệm vụ đối nội, việc tiến hành những chiến dịch như vậy cũng là quá thừa vì chủ nghĩa ly khai ở Tân Cương và Tây Tạng không tạo ra cho Bắc Kinh những vấn đề quy mô đến mức phải điều động và triển khai các binh đoàn lục quân lớn để giải quyết. Những cuộc bạo loạn xã hội hiện còn hạn chế mặc dù ban lãnh đạo Trung Quốc lo sợ chúng mở rộng do khủng hoảng kinh tế. Điều chủ yếu là ở chỗ trong cuộc tập trận, người ta đã thao dượt các hoạt động chiến đấu dạng “quân đội chống lại quân đội”, chứ không phải là cuộc chiến tranh du kích và không phải là trấn áp các cuộc bạo loạn nội bộ.

    Do đó mà nảy sinh câu hỏi: lục quân và không quân Trung Quốc đang chuẩn bị tiến hành chiến tranh với những binh khí kỹ thuật hiện đại, hệ thống vệ tinh định vị và các hệ thống bảo đảm tác chiến tối tân với quân đội nước nào?

    Cần lưu ý là chỉ ở Nga và Kazakhstan là có thể tiến hành các chiến dịch tiến công có chiều sâu đến 2.000 km. Ở Đông Nam Á, chiều sâu chiến trường nhìn chung không quá 1.500 km, còn trên bán đảo Triều Tiên là không quá 750 km. Ngoài ra, cả địa hình diễn ra tập trận cũng giống hơn về các điều kiện địa-vật lý với các khu vực của Trung Á, Viễn Đông và Ngoại Baikal, chứ không phải Đông Nam Á.

    Hơn nữa, mùa đông năm 2012-2013, lực lượng của các đại quân khu Thẩm Dương và Bắc Kinh đã tiến hành một loạt cuộc tập trận có sử dụng nhiều xe tăng-thiết giáp, pháo binh trong điều kiện nhiệt độ cực thấp và tuyết phủ dày. Ở đây, cũng chẳng có gì liên quan đến Đài Loan hay Đông Nam Á…



    Nguồn: Trung Quốc sẵn sàng đánh lớn / Aleksandr Khramchikhin, Phó Giám đốc Viện Phân tích chính trị và quân sự // VPK, 12.6.2013.

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •