CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 3 của 10 Đầu tiênĐầu tiên 12345 ... CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 95

Chủ đề: Hồ sơ Tư liệu

  1. #21
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,235
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Tàu ngầm trong chiến tranh (kỳ 4)

    936 tàu ngầm trong đó có 401 chiếc tàu ngầm hạt nhân đã tham gia vào một cuộc chạm trán tuy không tiếng súng nhưng không kém phần ác liệt suốt thời gian chiến tranh lạnh.
    (ĐVO) Tàu ngầm trong chiến tranh (kỳ 4): Cuộc chiến không tiếng súng dưới biển

    Một xuất phát điểm, hai hướng phát triển
    Kết thúc chiến tranh thế giới thứ 2 cả Mỹ và Liên Xô, Anh đều có được một số mẫu tàu ngầm Type-XXI lớp U hiện đại nhất. Thật ngạc nhiên công nghệ của những tàu ngầm này rất tiên tiến và gần như không có đối thủ, thật may là những tàu ngầm này không kịp tham chiến. Trên cơ sở những mẫu tàu ngầm này, Mỹ, Liên Xô đã phát triển và xây dựng hạm đội tàu ngầm hùng hậu của mình theo quan điểm tác chiến của từng quốc gia.
    Liên Xô đã nắm bắt các công nghệ từ tàu ngầm Type-XXI tốt hơn Mỹ và kết quả là sự ra đời của tàu ngầm dự án 613 lớp Whiskey, trên cơ sở này Liên Xô tiếp tục nâng cấp và cho ra đời nhiều biến thể khác với các dự án 644, 665.

    Mỹ phát triển một lối đi hoàn toàn khác trong thiết kế tàu ngầm, sự tiến bộ của công nghệ hạt nhân đã cho phép phát triển các lò phản ứng có kích thước nhỏ gọn, trang bị lò phản ứng hạt nhân trên tàu ngầm sẽ cho phép nó hoạt động mà không lo hết năng lượng. Tất nhiên, cả Mỹ và Liên Xô đều nhận thấy giá trị tiềm năng của động lực hạt nhân trong việc phát triển các hệ thống vũ khí mang tầm chiến lược trong đó có tàu ngầm.


    Sự ra đời của tàu ngầm động lực hạt nhân đầu tiên USS-Nautilus đã đẩy Mỹ và Liên Xô vào cuộc đua khốc liệt trong phát triển tàu ngầm hạt nhân.

    USS Nautilus (SSN-571) chiếc tàu ngầm đầu tiên trên thế giới sử dụng động cơ đẩy năng lượng hạt nhân đã mở ra một bước ngoặt lớn trong phát triển tàu ngầm trên thế giới. Không lâu sau đó, Liên Xô cũng cho ra đời tàu ngầm động lực hạt nhân đầu tiên của mình là Project 627 lớp November. Trong thiết kế này Liên Xô đã áp dụng một thiết kế hoàn toàn mới, lần đầu được sử dụng trên tàu ngầm đó là hệ thống mặt nạ âm thanh chống lại các loại sonar dò tìm tàu ngầm. Bên cạnh đó, các tàu ngầm của Liên Xô được trang bị rất phong phú và đa dạng các loại tên lửa hành trình chống tàu, hạm đội tàu sân bay của Mỹ chính là đính ngắm của các tên lửa phóng từ tàu ngầm Liên Xô.
    Trong khi Mỹ chỉ phát triển tàu ngầm động lực hạt nhân, Liên Xô phát triển song song cả tàu ngầm động lực hạt nhân và tàu ngầm điện diesel điều này đã tạo nhiều lợi thế cho Liên Xô trong cuộc chạm trán dưới mặt nước.
    Hải quân Mỹ đã phát triển khả năng tấn công hạt nhân trên các tàu sân bay và triển khai các tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo Polaris vào đầu những năm 1960 đã tạo ra nhiều áp lực quân sự cho Liên Xô. Ngăn chặn và đáp trả tấn công hạt nhân trên biển đã trở thành nhiệm vụ tối cao của Hải quân Liên Xô.

    Tàu ngầm hạt nhân chiến lược lớp Delta mang lại cho Liên Xô khả năng răn đe hạt nhân ghê ghớm trên biển.

    Không lâu sau đó, Liên Xô đưa vào sử dụng tàu ngầm hạt nhân chiến lược dự án 667A Yankee để lấy lại sự cân bằng đáng kể về khả năng tấn công hạt nhân trên biển. Sự xuất hiện của tàu ngầm SSBN Yankee đã làm suy yếu khái niệm chiến tranh chống ngầm (ASW) của Mỹ và đồng minh. Bởi những tàu ngầm hạt nhân của Liên Xô hoàn toàn có thể vượt qua hàng rào chống ngầm (SOSUS) của Mỹ và thực hiện nhiệm vụ tấn công hạt nhân vào lãnh thổ nước này. Khả năng của những chiếc tàu ngầm hạt nhân chiến lược của Liên Xô liên tục được cải thiện từ dự án 667A Yankee I/II đến Charlie I/II, Oscar I/II, Delta I/II/III/IV, Akula.. và trở thành trụ cột cho năng lực răn đe hạt nhân trên biển của Liên Xô, những tàu ngầm này cùng với tàu ngầm hạt nhân chiến lược của Mỹ như lớp Geoge Washington, Sturgeon, Los Angeles, Ohio.. trở thành những tàu ngầm có khả năng hủy diệt ghê gớm nhất thế giới.
    Chiến tranh tình báo với tàu ngầm
    Nhiệm vụ của những chiếc tàu ngầm hạt nhân chiến lược của đôi bên trong suốt thời gian chiến tranh lạnh là khá nặng nề, ngoài việc đảm bảo khả năng răn đe hạt nhân trên biển, những tàu ngầm này còn một nhiệm vụ tối quan trọng khác là thu thập thông tin tình báo.
    Cả tàu ngầm Liên Xô và Mỹ đều cố gắng tiếp cận các tàu chiến của nhau để tìm hiểu về hệ thống vũ khí, độ ồn khi hoạt động của chân vịt, hệ thống radar và cách liên lạc giữa các đơn vị liên quan. Với Mỹ, họ triệt để thực hiện các hoạt động tình báo để phát hiện sự di chuyển rời cảng của các tàu ngầm hạt nhân Liên Xô, đặc biệt là từ căn cứ trên đảo Kola.
    Na Uy được xem là tiền đồn trong việc cung cấp dấu vết hoạt động của các tàu ngầm hạt nhân Liên Xô qua biển Barent. Những tin tức từ Na Uy được biết đến với tên mã là Sunshine sẽ cung cấp các thông tin cho hệ thống phát hiện tàu ngầm SOSUS được xây dựng dọc theo bờ biển Greeland, Iceland và Vương Quốc Anh.
    Từ đầu những năm 1960, các vệ tinh do thám của Mỹ có thể xác định được thời điểm rời cảng của các tàu ngầm Liên Xô và lần theo dấu vết các tàu ngầm này trong suốt quá trình hoạt động trên biển. Với chiến lược này Mỹ tin rằng họ “dễ dàng áp đảo” các tàu ngầm hạt nhân Liên Xô trước một cuộc chiến tiềm năng.
    Tuy nhiên, điều Mỹ không ngờ tới là vào cuối những năm 1960 Liên Xô đã xây dựng được nguồn tình báo hải quân có thể cung cấp một cách chi tiết hoạt động của các tàu ngầm hạt nhân chiến lược Mỹ, kế hoạch chiến tranh, thông tin liên lạc và chương trình SOSUS. Nguồn tin tình báo này chính là John A. Walker một chuyên gia về truyền thông hải quân có quyền truy cập mọi thông tin về tàu ngầm và kế hoạch tác chiến của Hải quân Mỹ và đồng minh.
    Trên cơ sở những thông tin tình báo của Walker, Hải quân Liên Xô đã cơ cấu lại kế hoạch tác chiến của họ cũng như phát triển các hệ thống điện tử mới trên tàu ngầm hạt nhân và cho phép nó dễ dàng vượt qua các biện pháp chiến tranh chống ngầm của Mỹ. Trong một thời gian dài các tàu ngầm hạt nhân chiến lược Liên Xô có thể di chuyển trên biển mà không một tàu chiến nào của Mỹ và đồng minh có thể tấn công nó.
    Các cuộc “va chạm nguội”
    Các tàu ngầm hạt nhân chiến lược của Liên Xô đã trở thành mối đe dọa lớn nhất đối với Hải quân Mỹ trong suốt thời gian chiến tranh lạnh, mọi kế hoạch xây dựng của Mỹ và đồng minh từ trước đều phải cơ cấu lại.
    Hiểu rõ từng đường đi nước bước của nhau, các tàu ngầm hạt nhân đôi bên liên tục chạm trán và thực hiện hàng trăm lần trò chơi “mèo vờn chuột” trên biển. Những vụ va chạm tàu ngầm giữa đôi bên luôn được giữ kín. Tuy nhiên, theo thống kê, có 2 tàu ngầm hạt nhân của Mỹ và 4 tàu ngầm của Liên Xô đã bị chìm bởi những sự cố và tai nạn không loại trừ khả năng do các vụ va chạm xảy ra trên biển.
    Số ít trong hàng trăm vụ va chạm được công bố là vụ va chạm giữa tàu sân bay USS-Kitty Hawk và tàu ngầm hạt nhân lớp Victor-I vào ngày 21/03/1984.
    Tháng 10/1986 tàu ngầm USS-Augusta(SSN-710) đã va chạm với tàu ngầm hạt nhân chiến lược Delta-I của Liên Xô ở Đại Tây Dương khi tàu ngầm này thử nghiệm một hệ thống sonar mới.

    USS-Augusta(SSN-710).
    Điều thú vị trong vụ va chạm này là tàu ngầm của Mỹ hoàn toàn không phát hiện được sự xuất hiện của tàu ngầm Liên Xô, với trọng lượng nhỏ hơn so với Delta tàu ngầm Augusta đã chịu thiệt hại nặng hơn và buộc phải quay về căn cứ trong khi tàu ngầm Liên Xô vẫn tiếp tục thực hiện nhiệm vụ.
    Các vụ va chạm tàu ngầm đôi bên thậm chí vẫn còn diễn ra sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, ngày 11/2/1992 tàu ngầm USS- Baton Rouge(SSN-689) đã va chạm với tàu ngầm hạt nhân lớp Sierra của Nga gần khu vực Murmansk, sau vụ va chạm, Tổng thống Nga Boris Yeltsin đã khiếu nại đến Lầu Năm Góc.
    Ngày 20/3/1993 tàu ngầm USS-Grayling (SSN-646) đã va chạm với tàu ngầm Delta-III ở biển Barent, không ai bị thương trong vụ va chạm này nhưng Tổng thống Mỹ Clinton đã rất giận giữ khi hải quân vẫn để những sự cố này xảy ra.
    Chiến tranh lạnh đã kết thúc nhưng những cuộc chạm trán giữa lực lượng tàu ngầm đôi bên vẫn để lại nhiều ký ức sâu đậm trong tâm trí các thủy thủ tàu ngầm về những khoảnh khắc mà tính mạng của họ cũng như vận mệnh chính trị giữa hai bên như “ngàn cân treo sợi tóc”.
    Chiến trường không tiếng súng nhưng không ít sự hy sinh của các thủy thủ tàu ngầm, trong đó thiệt hại nhiều hơn thuộc về Liên Xô, sự hy sinh của họ cũng thầm lặng và bí mật như nhiệm vụ của họ trên những tàu ngầm hạt nhân ẩn sâu trong lòng biển.
    Quốc Việt

  2. #22
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Neil Armstrong và bài “điếu văn” không bao giờ phải đọc


    Điều gì sẽ xảy ra nếu cuộc đổ bộ lên mặt trăng của loài người thất bại? Điếu ít được công khai là ngay cả người Mỹ cũng không dám tin vào thành công của Apollo 11. Thậm chí, Tổng thống Mỹ Richard Nixon đã chuẩn bị sẵn một bài “điếu văn” vô cùng xúc động trong trường hợp Neil Armstrong và người cộng sự của ông trên con tàu Apollo 11 ấy không trở về.




    Ngày 25/8/2012, phi hành gia Neil Armstrong qua đời ở tuổi 82 do biến chứng của cuộc phẫu thuật tim hồi đầu tháng. Ông là người đặt bước lên mặt trăng ngày 20/7/1969 và đi vào lịch sử nhân loại với câu nói bất hủ về sự kiện này: “Một bước đi nhỏ của con người, một cú nhảy vọt của nhân loại”.
    Sau thành công của Neil Armstrong và cộng sự Edwin Buzz Aldrin tháng 7/1969, cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ NASA và Nhà Trắng, trong đó có Tổng thống Nixon thở một hơi nhẹ nhõm, bởi vì họ biết rằng họ sẽ không có cơ hội để đọc bài diễn văn mang tên “Sự kiện thảm họa mặt trăng” đã dày công chuẩn bị từ trước. Bài phát biểu này được chuẩn bị trong trường hợp tàu Apollo 11 không thể kết nối với trạm điều hành mặt đất và không trở về an toàn.
    Bài phát biểu không chỉ có nội dung bày tỏ lòng tiếc thương cho những người phụ nữ “sắp góa chồng” trong trường hợp xấu nhất xảy ra, nó sẽ được Tổng thống đọc trước toàn thể nước Mỹ và những người dõi theo bước đi của con tàu Apollo 11 lịch sử, đồng thời vạch ra cho Tổng thống Nixon lúc bấy giờ những hành động cần thiết. Những lời “ghi nhớ” đó do cố vấn H.R. Haldeman soạn, còn bài “điếu văn” sẽ không bao giờ phải đọc đó được viết bởi Wailliam Safire, người sau này làm việc cho tờ New York Times nổi tiếng.



    Bài "điếu văn" dành cho Neil Armstrong không bao giờ phải đọc

    Theo bản ghi nhớ của H.R.Haldeman, trong trường hợp xấu nhất, sau khi thân nhân của các phi hành gia được thông báo về vụ việc, NASA sẽ yêu cầu họ chấm dứt liên lạc, nghĩa là phải tự chết dần trong vũ trụ mênh mông, tự xoay sở để cứu lấy chính mình. Khi đó, một mục sư sẽ làm lễ cầu siêu cho linh hồn của họ ở “nơi sâu thẳm nhất của thẳm sâu”…
    Nhân sự kiện ra đi của người tạo ra “cú nhảy lớn cho nhân loại” hôm 25/8 mới đây, xin giới thiệu toàn văn bài “điếu văn” không bao giờ được đọc của Nixon dành cho Neil Armstrong mang tên “Về sự kiện thảm họa mặt trăng”:

    Về sự kiện thảm họa mặt trăng


    Định mệnh đã an bài rằng những người đàn ông lên thám hiểm mặt trăng trong hòa bình sẽ vĩnh viễn nằm lại ở đó.
    Những con người dũng cảm đó, Neil Armstrong và Buzz Aldrin biết rằng họ không có cơ hội được giải thoát. Nhưng họ cũng biết rằng sự hi sinh ấy đã thắp lên một niềm hi vọng cho loài người.
    Hai người đàn ông đó đã đặt cược cuộc sống của mình cho mục tiêu cao quý nhất của nhân loại: những khám phá cho chân lý và sự hiểu biết.
    Họ sẽ mãi mãi được tưởng nhớ bởi gia đình và bè bạn, bởi Tổ quốc, bởi tất cả những con người trên thế giới; Họ sẽ được tưởng nhớ bởi Bà mẹ Trái đất dám gửi gắm hai đứa con của mình cho những khao khát chưa được khám phá.
    Trong cuộc hành trình của mình, họ đã làm lay động những con người trên toàn thế giới; bằng sự hi sinh của mình, họ đã gắn kết hơn nữa tình anh em năm châu bốn biển.
    Ngay từ xa xưa, con người đã nhìn lên các vì sao và tìm thấy các vị anh hùng trong đó.
    Hôm nay, chúng ta vẫn thấy những điều tương tự, nhưng là những con người bằng xương bằng thịt.
    Vẫn sẽ có những con người bước tiếp, và chắc chắn họ sẽ tìm được lối về. Cuộc tìm kiếm của nhân loại sẽ không bao giờ bị phủ nhận. Nhưng, họ sẽ mãi mãi là những người đầu tiên, mãi mãi là những người không bao giờ mất trong trái tim chúng ta.
    Và mỗi chúng ta khi ngước nhìn lên mặt trăng hằng đêm sẽ biết rằng, ở một nơi nào đó của thế giới sẽ vĩnh viễn lưu dấu nhân loại.
    H.M (Theo DM/CCTV)

  3. #23
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,235
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Trung Quốc chốt số lượng Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị

    (GDVN) - Công tác chuẩn bị cho Đại hội Toàn quốc lần thứ 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã gần như hoàn tất. Có vẻ như nhân sự cho 7 vị trí trên đã được định đoạt.
    Tờ China Times xuất bản tại Đài Loan ngày 27/8 đưa tin, hôm 25/8, các quan chức cấp cao đảng Cộng sản Trung Quốc đã quyết định giới hạn số thành viên Ban Thường vụ Bộ chính trị - cơ quan quyền lực cao nhất Trung Quốc ở con số 7 ủy viên.

    Ông Tập Cận Bình chủ trì buổi họp chuẩn bị cho Đại hội Toàn quốc lần thứ 18 Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã củng cố những nhận định của dư luận về khả năng ông Tập Cận Bình sẽ là người kế nhiệm ông Hồ Cẩm Đào trong khóa 18

    China Times trích dẫn một nguồn tin giấu tên cho biết công tác chuẩn bị cho Đại hội Toàn quốc lần thứ 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã gần như hoàn tất. Có vẻ như nhân sự cho 7 vị trí trên đã được định đoạt.

    Năm 1982, đảng Cộng sản Trung Quốc đã bỏ vị trí Chủ tịch đảng, duy trì chế độ Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước trở thành người lãnh đạo thực tế của đảng và của đất nước. Tổng số ghế Ban Thường vụ Bộ Chính trị từ 5 ghế tăng lên 7 ghế. Khi ông Hồ Cẩm Đào lên cầm quyền, ông đã bổ sung thêm 2 ghế vào Ban Thường vụ Bộ Chính trị.

    Đại hội Toàn quốc Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 17 năm 2008

    Theo China Times, ngoài ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường, rất có thể các nhân vật Du Chính Thanh, Trương Đức Giang, Lý Nguyên Triều, Vương Kỳ Sơn, Uông Dương, Lưu Diên Đông, Trương Cao Lệ, và Mạnh Kiến Trụ sẽ là các ứng cử viên cho 5 vị trí còn lại này trong Thường vụ Bộ Chính trị.



    Bảo Thành (Nguồn: China Times)

  4. #24
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,235
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Bộ tứ ‘ngôi sao’ của Hạm đội 7 (kỳ 1)


    Hạm đội 7 biên chế 50-60 tàu, nhưng nổi bật nhất trong số đó là 4 loại tàu chiến đại diện sức mạnh Mỹ trên biển Thái Bình Dương.
    USS George Washington – pháo đài Thái Bình Dương
    Khi nhắc tớiHải quân Mỹ, người ta thường nghĩ tới ngay những chiếc tàu sân baykhổng lồ. Chúng như những pháo đài di động mang trong nó hàng nghàn con người cùng những phương tiện chiến tranh cực kỳ hiện đại.
    Hiện nay, trong biên chế Hạm đội 7 có duy nhất một tàu sân bay mang tên vị Tổng thống đầu tiên của nước Mỹ George Washington. Tàu sân bay này thuộc lớp Nimitz có lượng giãn nước lên tới 104.200 tấn, dài 332,8m. Lớp Nimitz được xem là tàu sân bay lớn nhất trên thế giới hiện nay.
    Tất cả các tàu thuộc lớp Nimitz đều chạy bằng năng lượng hạt nhân cho phép di chuyển khắp nơi trên thế giới mà không cần tiếp nhiên liệu, tốc độ hành trình tối đa 30 hải lý/h.
    Tàu sân bay USS George Washington (CVN-73) là "ngôi nhà" giữa biển của hơn 6.000 thủy thủ và sĩ quan.
    Lớp Nimitz thiết kế boong phóng máy bay dài 333m, rộng 77m, có 4 tháng máy để đưa máy bay từ khoang chứa lên boong phóng. Để giúp máy bay cất/hạ cánh, tàu sân bay thiết kế 4 máy phóng thủy lực và 4 cáp hãm đà.
    Nimitz có khả năng chở tới 80-90 máy bay các loại. Trên tàu sân bay USS Geogre Washington biên chế Không đoàn số 5 trang bị:
    - 4 phi đội tiêm kích F/A-18E/F thiết kế để tiêu diệt tất cả các mục tiêu trên không, trên mặt đất và đất liền. Máy bay trang bị vũ khí có độ chính xác cao, tầm bắn xa, sức công phá mạnh.
    - Một phi đội máy bay chỉ huy và cảnh báo sớm E-2C làm nhiệm vụ giám sát phát hiện tàu địch trên biển, trên bộ; điều khiển các tiêm kích hạm F/A-18E/F tấn công mục tiêu trên không/mặt đất; cảnh báo các cuộc tấn công máy bay cường kích hay tên lửa chống hạm đối phương…
    Phóng máy bay tiêm kích F/A-18 trên tàu sân bay USS George Washington.
    - Một phi đội máy bay tấn công điện tử EA-18G trang bị hệ thống gây nhiễu điện tử, tên lửa chống radar làm nhiệm vụ áp chế hệ thống phòng không đối phương.
    - Một phi đội máy bay vận tải hạng nhẹ C-2A làm nhiệm vụ đưa thư, hành khách từ trong đất liền ra tàu sân bay. Khi cần, nó cũng được dùng để vận chuyển động cơ máy bay hay phụ tùng linh kiện.
    - Phi đội trực thăng SH-60F và HH-60H làm nhiệm vụ chống ngầm, tìm kiếm cứu nạn, chở quân đổ bộ đường không.
    USS George Washington được thiết kế hệ thống phòng không hạng nhẹ như tổ hợp tên lửa đối không tầm trung Sea Sparrow và tổ hợp pháo bắn nhanh 20mm.
    Tất nhiên, để bảo vệ con tàu đồ sộ như vậy thì 2 hệ thống này không đủ, thông thường biên đội tàu sân bay Mỹ khi hoạt động thường đi kèm đội tàu hộ tống.
    Ticonderoga – Lá chắn bảo vệ George Washington
    Đi kèm với tàu sân bay George Washington là 2 tuần dương hạm Cowpens (CG-63) và Shiloh (CG-67). Nó hợp thành nhóm tàu sân bay chiến đấu số 5 trong Hạm đội 7.
    Cowpens và Shiloh là 2 lá chắn bảo vệ “pháo đài” George Washington chống tất cả các mối đe dọa từ trên không, tiêu diệt bất kỳ kẻ nào nhăm nhe tiếp cận.
    Hai tuần dương hạm thuộc lớp Ticonderoga, có lượng giãn nước khoảng 9.800 tấn, dài 172,8m. Để vận hành con tàu khổng lồ này cần tới 358 thủy thủ và sĩ quan.
    Ticonderoga trang bị 4 động cơ tuốc bin khí LM2500 cực khỏe, cho phép con tàu chạy với tốc độ tối đa 30 hải lý/h, tầm hoạt động hơn 10.000km.
    Tuần dương hạm lớp Ticonderoga USS Cowpens (CG-63).
    Các chiến hạm Ticonderoga trang bị hệ thống chiến đấu Aegis tiên tiến. Aegis làm nhiệm vụ phát hiện, bám bắt mục tiêu, dẫn đường tên lửa đánh chặn và phá hủy máy bay, tên lửa hành trình, kể cả tên lửa đạn đạo.
    Để làm được điều đó, Ticonderoga được trang bị kho vũ khí phòng không đồ sộ mà ít tàu chiến nước nào trên thế giới có được. Ticonderoga thiết kế 2 hệ thống ống phóng thẳng đứng Mk 41 (122 ống phóng) chứa hỗn hợp nhiều loại tên lửa:
    - Tên lửa đối không tầm trung SM-2MR Block IIIB có tầm bắn 74-170km, độ cao 24.400m, tốc độ hành trình Mach 3,5.
    - Tên lửa đối không tầm xa SM-2ER Block IV có tầm bắn 120-190km, độ cao bay tiêu diệt mục tiêu 24.400m.
    Tuần dương hạm USS Shiloh (CG-67) phóng tên lửa đánh chặn SM-3.
    - Tên lửa đánh chặn SM-3 có tầm bắn siêu xa 500km, độ cao bay 160km, tốc độ bay 9.600km/h. SM-3 có khả năng đánh chặn tên lửa đạn đạo tầm trung, tầm ngắn.
    - Tên lửa đối không tầm trung RIM-162 ESSM có tầm bắn 50km. Nó chuyên dùng để đánh chặn tên lửa hành trình đối hạm siêu âm có tính cơ động cao.
    - Tên lửa đối không tầm xa SM-6 có tầm bắn 240km, độ cao bay 33km.
    - Tên lửa hành trình đối đất chính xác cao BGM-109 Tomahawk có tầm bắn tới 2.500km, tốc độ hành trình 880km/h. Kể từ cuộc chiến tranh vùng Vịnh 1991, Tomahawk luôn là “quân tiên phong” mở đầu các chiến dịch của Mỹ.
    - Tên lửa chống ngầm RUM-139 VL-ASROC có tầm bắn 22km. Loại vũ khí này không lắp đầu đạn thuốc nổ thường mà mang theo một ngư lôi săn ngầm.
    Tuần dương hạm Shiloh phóng tên lửa hành trình đối đất tầm xa Tomahawk.
    Ticonderoga có khả năng mang tất cả các loại tên lửa trên, hoặc kết hợp 2-3 loại theo yêu cầu nhiệm vụ.
    Bên cạnh các vũ khí đối không, để tấn công đối phương, Ticonderoga vũ trang tổ hợp tên lửa hành trình đối hạm RGM-84 Harpoon (8 quả, tầm bắn 120km).
    Tàu còn có 2 pháo hạm 127mm, 2 tổ hợp pháo bắn nhanh 20mm, 2 pháo 25mm, 2-4 súng máy 12,7mm. Các vũ khí này dùng để tấn công mục tiêu tầm gần, cỡ nhỏ.
    Trong vai trò chống ngầm, nếu tàu không mang theo tên lửa săn ngầm RUM-139. Con tàu còn có sự hỗ trợ của 2 cụm máy phóng ngư lôi hạng nhẹ cỡ 324mm, 2 trực thăng săn ngầm SH-60B hoặc MH-60R.
    Có thể nói, ít có tàu chiến nào trên thế giới sánh được với sức mạnh của Ticonderoga. Vì lẽ đó, Ticonderoga xứng đáng làm “lá chắn tên lửa” cho siêu pháo đài nổi George Washington.
    HỒNG HÀ

  5. #25
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,235
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Bộ tứ ‘ngôi sao’ Hạm đội 7 (kỳ 2)


    Cùng với cặp đôi “Pháo đài George Washington – Lá chắn Ticonderoga”, 2 ngôi sao còn lại thuộc về tàu khu trục lớp Arleigh Burke và tàu ngầm hạt nhân lớp Los Angeles.

    Arleigh Burke – “Ticonderoga thu nhỏ”

    Hiện trong biên chế Hạm đội 7, Liên đội tàu chiến đấu số 15 (căn cứ Yokosuka, Nhật Bản) là đơn vị chính trang bị khu trục hạm tên lửa lớp Arleigh Burke.
    Lớp tàu được chế tạo với lượng giãn nước tương đối lớn, gần bằng Ticonderoga. Hệ thống điện tử và vũ khí có nhiều điểm tương đồng với tuần dương hạm Hải quân Mỹ. Điều đó, làm nó trở thành một tàu “Ticonderoga thu nhỏ”, với sức mạnh không thua kém nhiều.
    Khu trục hạm lớp Arleigh Burke được đóng với nhiều biến thể có lượng giãn nước từ trên 8.000 tấn tới 10.000 tấn.
    Trong số 7 chiếc thuộc Liên đội số 15, 4 chiếc thuộc biến thể Flight I 8.215 tấn (dài 154m), 3 chiếc Fligh IIA 9.200 tấn (dài 155m). Các tàu đều lắp 4 động cơ tuốc bin khí LM2500 cực khỏe cho phép tàu đạt tốc độ tối đa 30 hải lý/h, tầm hoạt động hơn 8.000km. Để vận hành con tàu cần tới hơn 300 thủy thủ.
    Tương tự Ticonderoga, Arleigh Burke cũng trang bị hệ thống chiến đấu tiên tiến Aegis. Hệ thống cung cấp cho tàu khả năng phát hiện, theo dõi, đánh chặn mọi mục tiêu trên không.
    Khu trục hạm lớp Arleigh Burke USS Lassen (DDG-82) thuộc biến thể Flight IIA.
    Vũ khí của Arleigh Burke có nhiều điểm tương đồng với Ticonderoga, nhưng giữa các biến thể lại tồn tại nhiều điểm khác. Arleigh Burke thiết kế với hệ thống ống phóng thẳng đứng Mk41 (chứa đạn tên lửa bên trong các ống phóng), những chiếc thuộc Flight I chỉ có 90 ống, còn Flight IIA có 96 ống.
    Các loại tên lửa chứa trong ống phóng Mk41 trên tàu Arleigh Burke gồm: tên lửa hành trình đối đất BGM-109 Tomahawk, tên lửa chống hạm RGM-84 Harpoon(không có trên Flight IIA); tên lửa đối không tầm xa SM-2ER (chỉ có trên 4 chiếc Flight I, tầm bắn 120-190km); tên lửa đối không tầm xa SM-2MR (chỉ có trên 3 chiếc Flight IIA, tầm bắn 74-170km); tên lửa chống ngầm RUM-139.
    Như vậy, đây là loại tàu chiến đa năng mạnh về khả năng phòng không, chống hạm, chống ngầm và thậm chí là đối đất. Riêng 3 chiếc Flight IIA thiết kế tập trung cho khả năng phòng không hạm đội, bỏ qua vai trò chống hạm.
    Bên cạnh hệ thống tên lửa, lớp Arleigh Burke còn trang bị các loại pháo tầm gần như: pháo hạm 127mm, pháo phòng không 25mm, tổ hợp pháo phòng không bắn nhanh 6 nòng 20mm, súng máy 12,7mm.
    Tất cả các tàu chiến Arleigh Burke đều thiết kế sân đáp trực thăng ở đuôi tàu, trong khi những chiếc thuộc Flight I chỉ mang 1 chiếc SH-60, thì loại Flight IIA mang tới 2 chiếc SH-60 săn ngầm.

    Tàu ngầm Los Angeles – sát thủ dưới lòng biển

    Cùng với hạm đội tàu chiến đấu mặt nước hùng mạnh, Hạm đội 7 còn sở hữu 3 “sát thủ ẩn mình dưới mặt biển” – tàu ngầm tấn công chạy động cơ hạt nhân lớp Los Angeles (USS Oklahoma City, USS Chicago, USS Buffalo thuộc Liên đội tàu ngầm số 15 đóng tại quần đảo Guam).
    Tàu có lượng giãn nước 6.927 tấn (dưới mặt nước), dài 110m, rộng 10m, thủy thủ đoàn 129 người. Tàu được lắp một lò phản ứng hạt nhân PWR S6G sản sinh năng lượng giúp đạt tốc độ 20 hải lý/h, lặn sâu 290m.
    Tàu ngầm tấn công chạy động cơ hạt nhân USS Oklahoma City.
    Với năng lượng hạt nhân, con tàu có thể di chuyển khắp nơi trên thế giới. Gới hạn duy nhất mà nó khó vượt qua là vấn đề đảm bảo lương thực. Vì lẽ đó, trung bình còn tàu hoạt động liên tục trên biển chỉ 90 ngày.
    Los Angeles thiết kế 4 máy phóng ngư lôi cỡ 533mm và hệ thống ống phóng thẳng đứng (12 ống) có thể bắn:
    - Ngư lôi hạng nặng Mk-48 ADCAP có tầm bắn 40-50 km, tốc độ 55 hải lý/h, xuyên sâu xuống mặt nước 800m, lắp đầu đạn nặng 295kg.
    - Biến thể tên lửa hành trình đối đất phóng từ tàu ngầm Tomahawk Block 3 đạt tầm bắn lên tới 3.100km.
    - Tên lửa hành trình chống hạm phóng từ tàu ngầm UGM-84 Harpoon đạt tầm bắn 130km.
    Như vậy, với kho vũ khí này, Los Angeles có khả năng tấn công tiêu diệt mọi mục tiêu dưới mặt biển, trên mặt biển và trên đất liền (ở khoảng cách cực xa).
    HỒNG HÀ

  6. #26
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,235
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    20 lý do khiến Mỹ chưa đánh Iran

    Đánh Iran thì Mỹ có nguy cơ bị trả đũa, bị cộng đồng quốc tế lên án... và nguy hiểm hơn là thua trận...
    Có tới 20 lý do để Mỹ tránh một cuộc chiến tranh chống lại Iran.
    Đầu tiên, trong thế giới Hồi giáo, Iran rõ ràng đang có xu hướng đi đầu trong phong trào ủng hộ giới hạn và không phổ biến vũ khí hạt nhân thông qua các cam kết tôn giáo chống lại vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD).
    Lãnh tụ tối cao của Iran, Ayatollah Khamenei, từng ban hành một sắc dụ tôn giáo, được gọi là Fatwa, hồi tháng 9/2005 (Fatwa 2005), có nội dung cấm sản xuất, tàng trữ và phổ biết tất cả các loại WMD.
    Fatwa là một quyết định thuộc hệ thống luật lệ, quy tắc Hồi giáo được ban hành bởi một nhân vật có tầm ảnh hưởng tối cao về mặt chính trị lẫn tôn giáo. Nhìn chung, Fatwa không ràng buộc về mặt pháp luật mà chỉ tác động về mặt tâm linh.
    Trong một bài bình luận trên tờ Globe Jakarta, nhà báo Jamil Maidan Flores từng cho biết: “Sắc dụ của Ayatollah Khamenei về vũ khí hạt nhân có giá trị trên một vài khía cạnh. Ông ban hành nó như là một lãnh tụ tinh thần và thế tục tối cao của Iran. Sắc dụ ràng buộc, có ảnh hưởng đến toàn bộ cộng đồng người Shiite ở Iran và cũng ràng buộc chính bản thân ông - người ban hành nó”.
    Trên thực tế, lãnh tụ tối cao của Iran có nhắc lại sắc dụ này nhiều lần trong các tuyên bố của ông, chẳng hạn, hồi tháng 2 năm nay, khi ông tuyên bố sở hữu vũ khí hạt nhân là “tội lỗi”.
    Lãnh đạo Iran luôn phản đối việc theo đuổi và sở hữu vũ khí hạt nhân.
    Thứ 2, Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế, IAEA, trong suốt thập kỷ qua, sau hơn 4.000 giờ kiểm tra, thường xuyên và liên tục, đều thống nhất, Iran hoàn toàn không sở hữu vũ khí hạt nhân. IAEA kết luận, không có bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ các hoạt động hạt nhân của Iran đang đi chệch hướng, hướng tới việc chế tạo và sản xuất bom hạt nhân.
    Thứ 3, giới tình báo Mỹ và Israel đều khẳng định chắc nịch rằng Iran không theo đuổi chương trình sản xuất vũ khí hạt nhân.
    Giám đốc Cục Tình báo Quốc gia Mỹ (CIA) James Clapper khẳng định rằng: "Iranđang có các lựa chọn mở về việc phát triển vũ khí hạt nhân... Tuy nhiên, chúng tôi không biết, liệu cuối cùng Iran có quyết định phát triển vũ khí hạt nhân hay không”.
    Trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Leon Panetta cũng từng đưa ra khẳng định liên quan đến việc Iran không phát triển vũ khí hạt nhân mạnh mẽ hơn Clapper.
    “Họ đang nỗ lực phát triển vũ khí hạt nhân không? Câu trả lời là không”, ông Panetta nhấn mạnh hôm 8/1/2012.
    Tình báo lẫn Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đều tin Iran không có tham vọng phát triển vũ khí hạt nhân.
    Trong khi đó, tình báo Israel cũng không tin rằng Iran đang theo đuổi vũ khí hạt nhân. Tháng 1/2012, Haaretz đưa tin, Israel tin Iran “vẫn chưa quyết định xem liệu có nên phát triển vũ khí hạt nhân mà cụ thể hơn là một đầu đạn hạt nhân gắn trên tên lửa hay không”.
    Cũng trong tháng đó, trong một phiên điều trần, Giám đốc Tình báo Quân đội Israel là Tướng Aviv Kochavi cũng nhấn mạTrung Quốc, Iran không muốn sản xuất bom hạt nhân. Cộng đồng quốc tế cũng chấp nhận các kết luận này.
    Thứ 4, nếu Mỹ tấn công Iran, cuộc chiến này sẽ làm đảo ngược những nỗ lực không phổ biến vũ khí hạt nhân trên toàn thế giới và làm suy yếu Hiệp ước Không Phổ biến Vũ khí Hạt nhân (NPT). Kể từ khi Mỹ là một thành viên của hiệp ước NPT, ở trong địa vị là một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân với hơn 5.000 đầu đạn, việc đe dọa hạt nhân để tấn công một nhà nước không có vũ khí hạt nhân như Iransẽ rất có hại cho uy tín NPT.
    Thứ 5, nếu Israel đơn phương đánh Iran, hậu quả sẽ còn thảm khốc hơn nữa cho NPT. Trong trường hợp này, một quốc gia hạt nhân không phải là thành viên của NPT lại đe dọa tấn công một nhà nước phi hạt nhân là thành viên của NPT. Kết quả là, bất cứ cuộc tấn công nào của Israel cũng sẽ khiến uy tín của NPT suy giảm nghiêm trọng và các nỗ lực để không phổ biến vũ khí hạt nhân thông qua hiệp ước sẽ trở thành vô ích.
    Thứ 6, một cuộc tấn công của Mỹ và Israel vào các cơ sở hạt nhân của Iran có khả năng không thể phá hủy hoàn toàn các chương trình hạt nhân của nước này. Thậm chí, nó cũng có thể không gây bất cứ cản trở lớn nào, thậm chí còn kích thíchIran xúc tiến chương trình hạt nhân mạnh mẽ hơn nữa.
    Tấn công vào các cơ sở hạt nhân của Iran sẽ càng kích thích nước này đẩy mạnh chương trình hạt nhân.
    Thứ 7, Iran sẽ rút khỏi NPT, đình chỉ các cuộc đàm phán hạt nhân quốc tế, trục xuất tất cả các thanh sát viên nước ngoài ra khỏi các cơ sở hạt nhân. Sau đó, họ sẽ bắt đầu tìm cách che đậy.
    Thứ 8, một cuộc tấn công của Israel hay Mỹ vào Iran sẽ dập tắt hy vọng “tái thiết” quan hệ hữu nghị giữa Tehran và Washington và trong nhiều thập kỷ tới, 2 nước này sẽ rơi vào trạng thái đối đầu gay gắt.
    Thứ 9, trong trường hợp bị tấn công, nhân dân Iran lẫn các phe phái chính trị trong nước sẽ đoàn kết lại để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, quyền tự chủ của họ và chống lại các mối đe dọa an ninh.
    Thứ 10, nỗ lực cải thiện quan hệ với thế giới Hồi giáo là một trong những mục tiêu quan trọng nhất trong chính sách đối ngoại của chính quyền Obama. Điều này được nhấn mạnh trong bài phát biểu tại Cairo ngày 4/6/2009. Khi đó, ông chủ Nhà Trắng kêu gọi cho "sự khởi đầu mới" giữa Mỹ và thế giới Hồi giáo. Tuy nhiên, một cuộc tấn công vào Iran của Mỹ và Israel sẽ làm sống lại tình cảm chống Mỹ trong thế giới Hồi giáo và thậm chí, một số khu vực khác trên thế giới.
    Có tới 20 lý do để Mỹ và Israel tránh một cuộc chiến tranh với Iran.
    Thứ 11, ngân sách Mỹ hiện bị hao hụt nghiêm trọng bởi 2 cuộc chiến tranh tốn kém nhưng thất bại ở Iraq và Afghanistan. Trong khi đó, nền kinh tế Mỹ vẫn đang vật lộn trong cơn khủng hoảng toàn cầu.
    Theo một báo cáo mới đây của Cơ quan Ngân sách Quốc hội Mỹ (CBO), thâm hụt ngân sách của nước này năm nay sẽ tăng mạnh lên mức 1.100 tỉ USD. Bên cạnh đó, kinh tế Mỹ có thể rơi vào suy thoái trở lại vào năm 2013.
    Cơ quan này cũng cảnh báo, tốc độ tăng trưởng của kinh tế Mỹ sẽ giảm khoảng 0,5% vào năm tới, đồng thời đẩy tỉ lệ thất nghiệp lên mức 9,1% vào nửa cuối năm 2013 nếu Quốc hội Mỹ đặt dấu chấm hết cho kỷ nguyên giảm thuế từ thời cựu Tổng thống George W. Bush và các khoản cắt giảm chi tiêu lớn bắt đầu có hiệu lực từ tháng 1/2013.
    Trong khi đó, Bộ Quốc phòng Mỹ đang cắt giảm 487 tỷ USD chi tiêu quốc phòng; đồng thời, tiếp tục phải đối mặt với khoản cắt giảm tự động khác lên tới 500 tỷ USD trong 10 năm tới sau khi Quốc hội thất bại trong việc đạt được một thỏa thuận giảm thâm hụt ngân sách.
    Một cuộc chiến tranh vào thời điểm này rõ ràng là quá sức đối với cường quốc số 1 thế giới.
    Thứ 12, nếu chiến tranh Iran – Mỹ - Israel nổ ra, việc lưu thông năng lượng qua eo biển chiến lược Hormuz sẽ gặp nguy hiểm bởi Iran chắc chắn sẽ phong tỏa tuyến đường trung chuyển 40% lượng dầu thế giới.
    Giữa tháng 7, Tư lệnh hải quân thuộc Lực lượng vệ binh cách mạng Iran (IRGC), Ali Fadavi tuyên bố: “Kể từ cuộc chiến Iran-Iraq¸ Lực lượng hải quân của IRGC nắm quyền kiểm soát hoàn toàn Eo biển Hormuz và có khả năng không cho phép thậm chí một giọt dầu đi qua”.
    Kết quả là, giá dầu thế giới có thể nhảy vọt lên mức 200 USD đến 300 USD/thùng khiến nền kinh tế Mỹ cũng như phương Tây lao đao.
    Nếu chiến tranh nổ ra, Iran chắc chắn sẽ phong tỏa eo biển chiến lược Hormuz.
    Thứ 13, vị thế của Mỹ ở Trung Đông đang lung lay trên nhiều mặt trận. Có nhiều dấu hiệu cho thấy, cường quốc số 1 thế giới đang để mất dần trật tự chính trị trong một số quốc gia Arab "thân Mỹ" như Ai Cập, Tunisia, Yemen và Lebanon. Và một cuộc tấn công vào Iran bởi Mỹ sẽ đẩy tốc độ của xu hướng này tăng. Điều này sẽ làm thay đổi cán cân ảnh hưởng và quyền lực của Mỹ cũng như Iran tại Trung Đông theo hưởng có lợi cho Tehran.Thứ 14, Iran có tầm ảnh hưởng rộng lớn trên khắp Trung Đông. Đồng thời, họ cũng có không ít đồng minh khu vực cũng như trên khắp thế giới. Trong trường hợp bị tấn công, Iran chắc chắn sẽ viện đến tất cả các nguồn hỗ trợ, trong đó, có cả 2 nguồn trên. Một cuộc chiến chống Iran có thể nhanh chóng lan rộng và biến thành xung đột trong, thậm chí, ngoài khu vực.
    Thứ 15, trong bối cảnh Mỹ đang nỗ lực thúc đẩy quá trình rút quân khỏi vũng lầy Iraq và Afghanistan, một cuộc chiến chống lại Iran sẽ đẩy tình hình an ninh ở 2 nước này trở nên phức tạp hơn rất nhiều.
    Thậm chí, Iran đang xúc tiến nỗ lực thế chân Mỹ, lấp khoảng trống quyền lực cường quốc số 1 thế giới để lại tại Trung Đông.
    Theo hãng tin Anh, Reuters, mỗi năm Iran chi khoảng 100 triệu USD cho Afghanistan, phần lớn là chi cho truyền thông, các dự án xã hội dân sự và các trường học tôn giáo. Tất cả những việc làm này nhằm giúp Iran bành trướng ảnh hưởng và thế lực tại Iraq và Afghanistan.
    Thứ 16, an ninh của Israel là vấn đề mang lợi ích sống còn đối với Mỹ. Trong trường hợp chiến tranh nổ ra, không riêng gì Iran, Israel, chắc chắn cũng sẽ phải gánh chịu hậu quả nặng nề, thảm khốc. Mỹ sẽ đối mặt với áp lực lớn ở trong nước đến từ các cam kết bảo vệ đồng minh cũng như các luồng ý kiến yêu cầu chính phủ không tham gia để rồi lún sâu vào một cuộc chiến mới tại Trung Đông. Sự chia rẽ trong nội bộ chính quyền và quốc hội vì vấn đề này sẽ làm phức tạp thêm bối cảnh chính trị Mỹ. Từ đó, quan hệ giữa 2 đồng minh ruột có thể bị rạn nứt và an ninh của Israel sẽ bị gặp nguy hiểm.
    Thứ 17, Israel hiện bị cô lập. Gây chiến với Iran sẽ chỉ làm trầm trọng thêm tình trạng này. Hơn nữa, nó cũng đẩy quan hệ giữa Mỹ và Israel với các quốc gia khác trong khu vực thêm căng thẳng.
    Thứ 18, trong trường hợp Israel đơn phương tấn công Iran, Mỹ sẽ vẫn bị coi là đồng lõa. Do đó, các căn cứ và lực lượng Mỹ ở Trung Đông sẽ là mục tiêu trả đũa của Iran. Không những vậy, cộng hòa Hồi giáo còn có khả năng gây ra các nguy cơ cho an ninh nội địa của Mỹ.
    Iran nhiều lần tuyên bố rất rõ rằng, nếu bị tấn công bởi Israel hoặc Mỹ, họ sẽ đáp trả tương xứng. Chẳng hạn, ngày 20/3, Reuters dẫn lời Lãnh tụ tinh thần tối cao Ayatollah Ali Khamenei tuyên bố: "Chúng ta không có vũ khí hạt nhân và sẽ không phát triển chúng. Nhưng trong trường hợp đối mặt với sự xâm lược của kẻ thù, dù là Mỹ hay chế độ phục quốc Do Thái, Iran cũng sẽ đáp trả tương tự như khi bị tấn công nhằm bảo vệ mình".
    Ngoài ra, Phó tư lệnh quân đội Iran, Mohammad Hejazi cũng từng nhấn mạnh với hãng thông tấn Fars: “Chiến lược của chúng tôi hiện giờ là nếu cảm thấy kẻ thù muốn gây nguy hiểm cho các lợi ích quốc gia của Iran và quyết định làm như vậy, chúng tôi sẽ hành động trước mà không đợi hành động của họ”.
    Iran hiện sở hữu kho tên lửa mạnh và tân tiến nhất Trung Đông.
    Thứ 19, một cuộc tấn công Iran của Israel hoặc Mỹ chắc chắn làm quan hệ giữa nước này và Nga, Trung Quốc, và các quốc gia trung lập trên thế giới rạn nứt. Cả Tel Avil lẫn Washington sẽ không tránh khỏi sự chỉ trích, lên án nặng nề từ các quốc gia này.
    Thậm chí, một cuộc chiến chống lại Iran cũng có thể tạo ra bất đồng trong quan hệ giữa Mỹ và các đồng minh châu Âu cũng như khu vực. Điều này từng xảy ra khiMỹ phát động cuộc chiến tranh chống Iraq khiPháp, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Italia và nhiều quốc gia châu Âu khác đều mạnh mẽ lên tiếng phản đối can thiệp vào nước này.
    Thời điểm đó, Tổng thống Pháp Jacques Chirac khẳng định, bất cứ một hành động quân sự đơn phương nào đều vi phạm luật quốc tế và mọi quyết định cần được Hội đồng Bảo an LHQ phê chuẩn. Trong khi đó, Thủ tướng Ðức Gerhard Schroeder cũng nhấn mạnh, ông cực lực phản đối một cuộc chiến chống Iraq.
    Lý do cuối cùng, giới phân tích cho rằng, cơ hội giải quyết khủng hoảng hạt nhânIran thông qua các biện pháp ngoại giao vẫn còn. Vấn đề là, để thúc đẩy nó, phương Tây và Israel phải chấp nhận thỏa hiệp thực tế hơn.
    Iran tuyên bố sẵn sàng hợp tác để đạt được một thỏa thuận công bằng. Họ sẽ tiếp tục làm việc với IAEA và đồng ý làm giàu uranium dưới 5%. Đây là sự đảm bảo của Tehran trước cộng đồng quốc tế rằng, Iran không có tham vọng hạt nhân. Đổi lại, Iran yêu cầu phương Tây công nhận quyền hợp pháp để làm giàu uranium của họ, phù hợp với các điều khoản của NPT và tư cách thành viên của nước này trong hiệp ước này. Đồng thời, các biện pháp trừng phạt chống lại Tehran phải được gỡ bỏ dần.
    Thực tế, những yêu cầu này của Iran là chính đáng và Mỹ hoàn toàn có thể và nên đáp ứng chúng. Điều này sẽ giúp thúc đẩy một thỏa thuận, trong đó, các bên tham gia đều cùng có lợi đồng thời hạn chế Israel cũng như các phe phái chủ chiến tại Mỹ kích động chiến tranh chống lại Cộng hòa Hồi giáo.
    PHƯƠNG ĐĂNG

  7. Có 1 người thích bài viết này


  8. #27
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,235
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Cuộc đảo chính quân sự bất thành thời hậu Xôviết


    Trung tướng Lev Rokhlin và bà quả phụ Tamara Rokhlina.
    Thập niên 90 thế kỷ trước, ngoài cuộc chính biến vào tháng 8-1991 do Ủy ban Quốc gia về tình trạng khẩn cấp (GKPCh) đứng đầu bởi Phó tổng thống Liên Xô Gennady Yanayev, còn có một cuộc đảo chính quân sự khác nhưng ít người biết đến do Trung tướng Lev Rokhlin khởi xướng 7 năm sau đó, nhằm phản đối đường lối đối nội của Tổng thống Nga Boris Yeltsin cũng như bảo tồn thanh danh của Hồng quân thời hậu Xôviết.
    Anh hùng từ chối huy chương
    Tướng L. Rokhlin là một trong những "người hùng" của quân đội Liên Xô trong cuộc chiến Afghanistan, rồi được cử làm Tư lệnh Quân đoàn 8 trú đóng tại thành phố Volgograd. Trong cuộc chiến Chesnia lần thứ nhất (1994-1996) đơn vị của ông là cánh quân chủ lực tiến chiếm thủ đô Grozny của Cộng hòa Chesnia trong thành phần Liên bang Nga, giành lại quyền kiểm soát khu vực bất ổn này cho chính quyền trung ương ở Moskva.
    Nhưng chỉ 3 tuần lễ sau chiến thắng quân ly khai tại Grozny, Trung tướng L. Rokhlin quyết định rời quân ngũ bởi "kinh tởm cảnh đầu rơi máu chảy giữa các dân tộc anh em", như nguyên văn lời ông; đồng thời vị sĩ quan cao cấp nổi tiếng cũng từ chối nhận danh hiệu Anh hùng Liên bang Nga, cũng như huy chương công trạng về các chiến tích ở mặt trận Chesnia. Sau đó, L. Rokhlin trúng cử vào Duma Quốc gia (Hạ viện Nga) trong vai ứng viên của đảng Ngôi nhà của chúng ta - nước Nga (NDR) do Thủ tướng Viktor Chernomyrdin đứng đầu, rồi được bầu làm Chủ tịch Tiểu ban Quốc phòng thuộc Hạ viện.
    Nhưng NDR là một chính đảng hậu thuẫn tích cực cho đương kim Tổng thống B. Yeltsin, nên dân biểu L. Rokhlin đã rời NDR để lập ra Phong trào hậu thuẫn quân đội, công nghiệp quốc phòng và nghiên cứu khoa học quân sự (DPA), quy tụ giới quân nhân kỳ cựu trong thành phần Ban lãnh đạo như cựu Bộ trưởng Quốc phòng Nga Igor Rodionov, cựu Thứ trưởng Quốc phòng kiêm Tư lệnh quân nhảy dù Xôviết - Thượng tướng Vladislav Achalov, cựu Chủ tịch Ủy ban An ninh Nhà nước Liên Xô (KGB) Vladimir Kryuchkov… DPA lập tức trở thành ngọn cờ đầu của lực lượng đối lập chống lại chính thể Kremlin, khiến Tổng thống B. Yeltsin vô cùng tức tối và công khai đe dọa, rằng "những kẻ như L. Rokhlin và đồng bọn cần phải được quét sạch khỏi mặt đất".
    Trên cơ sở phản bác quan điểm của Chính phủ Nga trong việc đàn áp thẳng tay những phần tử dân tộc thiểu số đòi ly khai, đi ngược lại chiến lược đoàn kết toàn dân được củng cố trong hơn 7 thập niên tồn tại chế độ Xôviết, tướng L. Rokhlin cùng những người đồng chí hướng đã manh nha một cuộc đảo chính quân sự, lật đổ Yeltsin để lập ra một chính quyền mới với tôn chỉ ứng xử phi bạo lực trong lĩnh vực đối nội, vực dậy uy tín của những người lính Nga vốn được nhân dân tin cậy.
    Rồi tới thời điểm trước thềm năm mới 1998, trong một chuyến công du vòng quanh Liên bang bằng trực thăng cùng Ban lãnh đạo DPA, tướng L. Rokhlin đã gặp gỡ thống đốc các địa phương, tư lệnh các đơn vị quân sự kể cả ở những vùng xa xôi nhất để bàn thảo kế hoạch đảo chính. Đặc biệt là với Quân đoàn 8 ở Volgograd, nơi L. Rokhlin tuy không còn chỉ huy nhưng vẫn thường xuyên liên lạc trong vai trò nghị sĩ Quốc hội, giúp đơn vị này tăng cường vũ khí, khí tài cùng trang thiết bị để duy trì vị thế là một trong những quân đoàn thiện chiến nhất. Thoạt tiên giới tướng lĩnh chỉ đề cập tới sự bất mãn lan tràn trong dân chúng với chính sách đối nội của B. Yeltsin, nhưng trước đà lạm phát phi mã khiến giới quân nhân cũng bị ảnh hưởng nặng nề buộc phải tìm ra lối thoát…
    Theo Đại tá Nikolai Balatov, cựu Chủ tịch DPA kiêm Phó tư lệnh Quân đoàn 8, hiện là Giám đốc về các vấn đề xã hội thuộc một Liên hiệp Hóa dầu ở Volgograd, người từng chứng kiến mọi hoạt động của tướng L. Rokhlin trong năm 1998, thì thành phần Ban lãnh đạo cuộc đảo chính ngoài Trung tướng L. Rokhlin ra còn có Thượng tướng V. Achalov và Thiếu tướng Piotr Khomiakov, cố vấn Tiểu ban Quốc phòng Hạ viện. P. Khomiakov lúc ấy chịu trách nhiệm xây dựng chính sách hỗ trợ kinh tế - xã hội cho quân đội, đồng thời là nhà bình luận chính trị cho Hãng tin RIA Novosti, cũng là một trong những người sáng lập Tổ chức Anh em phương Bắc theo đường lối dân tộc chủ nghĩa vào năm 2006.

    Tướng Rokhlin biểu dương các binh sĩ có thành tích xuất sắc trong cuộc chiến ở Afghanistan.
    Sự hậu thuẫn từ Thị trưởng Moskva
    Kế hoạch cụ thể đến ngày 20/8/1998 phải bắt được B. Yeltsin và Ban lãnh đạo điện Kremlin, buộc bàn giao chính quyền cho phe quân nhân cấp tiến. Trước tiên binh sĩ thuộc Quân đoàn 8 sẽ chiếm các tụ điểm trung tâm ở Volgograd như Quảng trường Chiến sĩ Vô danh, Quảng trường Phục hưng, trấn giữ Đài phát thanh và truyền hình… Rồi thông báo kết quả cho các đơn vị phối hợp khác như căn cứ thủy quân lục chiến Sevastopol ở Biển Đen, sư đoàn lính nhảy dù đồn trú tại Vladivostok ven bờ Thái Bình Dương, Học viện Quân sự cao cấp ở Ryazan trong vùng trung tâm nước Nga, các sư đoàn xe tăng trong thành phần tổng dự bị chiến lược trú đóng tại Tamansk và Kantemirovsk… Sau đó là chiến dịch "phong tỏa hậu cần" đối với thủ đô Moskva.
    Theo N. Balatov thì đích thân Thị trưởng Moskva Yury Luzhkov cũng hậu thuẫn phe đảo chính, đứng ra tham mưu cần chặn những lộ trình cung cấp nào khiến thủ đô Nga dễ bề tê liệt. Dọc các tuyến hậu cần trọng yếu này sẽ hiện diện sự thị uy của binh sĩ song hành với các cuộc lãn công bãi thị của dân chúng địa phương. Một khi Moskva lâm vào cảnh cạn kiệt hàng hóa ắt sẽ rơi vào rối ren hoảng loạn khiến trật tự công cộng bị đảo lộn.
    Đúng vào thời điểm này khoảng từ 15.000-20.000 tay súng của Quân đoàn 8 sẽ tiếp cận thủ đô, chiếm giữ cầu cống, nhà ga, trung tâm bưu điện và một loạt các cơ quan đầu não khác. Vẫn theo cựu Đại tá N. Balatov thì Trung đoàn phòng thủ điện Kremlin rất dễ bị mua chuộc trước danh tiếng của các tướng lĩnh cựu trào trong phe đảo chính, nên việc thu phục họ mở đường cho việc thâm nhập vào nơi làm việc của B. Yeltsin chẳng khó khăn gì.
    Tới đây bật ra câu hỏi: Tướng Lev Rokhlin cùng các cộng sự lấy đâu ra kinh phí để tiến hành cuộc đảo chính quân sự quy mô này? Xin thưa đó là các doanh nghiệp quốc phòng đầy tiềm năng, những pháp nhân kinh tế luôn được cả Rokhlin lẫn Khomiakov nhân danh cơ quan lập pháp tối cao ưu ái ủng hộ. Chính lượng thành viên đông đảo thuộc các xí nghiệp quân đội đã giương cao lá cờ biểu tượng của DPA trong cuộc tuần hành thường niên, kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5/1998 trên khắp đất nước. Thế còn sự hậu thuẫn từ bên ngoài thì sao?
    Theo N. Balatov thì P. Khomiakov đã thổ lộ trong chốn riêng tư, rằng "các nước phương Tây thuộc khối NATO hiển nhiên không biết gì về kế hoạch đảo chính, chỉ riêng Tổng thống Cộng hòa Belarus Alexander Lukashenko từng bày tỏ thái độ ủng hộ những ai có thể lật đổ B. Yeltsin cùng đường lối cứng rắn của ông ta".



    Sơ đồ kế hoạch đảo chính.
    Nhóm sát thủ cũng bị diệt khẩu
    Đêm 19/6, tướng Rokhlin lại bay tới Sở chỉ huy Quân đoàn 8 xúc tiến kế hoạch đã định, đến khuya các lực lượng chuẩn bị tiến vào trung tâm thành phố Volgograd đã triển khai đội hình bên ngoài doanh trại… Bất ngờ vào lúc 4h sáng ngày 20/6, toàn bộ khu vực xung quanh Bộ tư lệnh Quân đoàn 8 bị phong tỏa bởi Lữ đoàn Đặc nhiệm thuộc Bộ Nội vụ Nga, đơn vị đang đồn trú tại thị trấn Kalach trên sông Đông cách Volgograd 72km về phía tây đã âm thầm cơ động trong đêm theo lệnh từ điện Kremlin.
    Thì ra mọi cuộc điện đàm của L. Rokhlin cũng như các thủ lĩnh khác trong phe đối lập đều bị Cơ quan Tình báo đối nội Nga (FSB), bí mật nghe trộm, nên các dự định của họ đều được Moskva biết trước. Tướng Rokhlin quyết định lùi thời gian đảo chính thêm một tháng nữa, nghĩa là vào ngày 20/7 cùng năm. Rủi thay, rạng sáng ngày 3/7 L. Rokhlin đã bị ám hại lúc đang ngủ tại nhà riêng ở làng Klokovo thuộc ngoại ô Moskva, chỉ vài giờ đồng hồ trước khi ông hẹn gặp Thị trưởng Y. Luzhkov nhằm bàn thảo lại kế hoạch "cấm vận kinh tế" thủ đô Nga. Vợ ông, bà Tamara Rokhlina, bị bắt giữ sau đó vì bị tình nghi là thủ phạm, đã bắn chồng bằng khẩu súng lục mạ bạc ông được tưởng thưởng qua các chiến tích quân sự; trong khi bà Tamara quả quyết những kẻ bịt mặt đã đột nhập vào hạ sát ông.
    Tháng 11/2000, một tòa án ở Moskva đã kết án bà T. Rokhlina tội giết chồng do mâu thuẫn gia đình, cùng mức án 4 năm tù nhưng được tha bổng dựa theo quy định quả phụ của giới tướng lĩnh được miễn trách nhiệm hình sự liên đới.
    Cho tới thời điểm này, những người vốn ủng hộ tướng L. Rokhlin không tin vợ ông là thủ phạm, còn cựu Đại tá N. Balatov khẳng định hung thủ là một nhóm 3 nhân viên mật vụ thuộc FSB. "Bản thân nhóm sát thủ cũng bị hành quyết và đốt xác phi tang ngay sau đó - N. Balatov cho biết - Bằng chứng là 3 xác người cháy sém được tìm thấy tại một cánh rừng cách nhà tướng Rokhlin 800m". N. Balatov biết được thông tin này qua lời kể của Alexander Litvinenko, cựu điệp viên FSB bị đầu độc ở Anh vào cuối năm 2006.
    Theo A. Litvinenko thì đội vệ binh canh gác nhà Trung tướng L. Rokhlin đã bị vô hiệu hóa, nhóm sát thủ liền đột nhập từ tầng thượng xuống phòng ngủ của vợ chồng Rokhlin. Kết cục của vụ đảo chính quân sự bất thành ngoài cái chết của người đứng đầu là tướng Lev Rokhlin, những người còn lại không ai bị đưa ra tòa án binh hay kỷ luật nặng nề vì cuộc chính biến chưa diễn ra. Quân đoàn 8 uy danh một thời bị Tổng tư lệnh tối cao B. Yeltsin giải tán, các sĩ quan can dự vào âm mưu lật đổ chính quyền tức thời bị loại ngũ, những quân nhân còn lại được thuyên chuyển sang các đơn vị khác
    Trần Hồng (theo Tuyệt mật)

  9. #28
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Lính lê dương Đức trong chiến tranh Đông Dương

    Lê dương (Légion étrangère) là một đơn vị quân đội chính quy trong lục quân Pháp, bao gồm những người nước ngoài tình nguyện phục vụ trong quân đội Pháp, ra đời từ năm 1831. Sĩ quan chỉ huy trong những đơn vị này luôn là người Pháp. Hiện nay có khoảng 7.700 lính lê dương đến từ 136 quốc gia. Theo đại tá Morellon, từ khi ra đời cho tới cuối những năm 1980 đã có trên 600.000 người từ khắp nơi trên thế giới phục vụ trong đội quân lê dương của Pháp, trong đó có trên 36.000 người đã bỏ mạng trong khi thi hành nhiệm vụ.

    Có một điều ít người biết là có tới trên 35.000 lính lê dương người Đức đã tham chiến ở cả hai chiến tuyến trong cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương, mà người Việt Nam quen gọi là cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ba nước Đông Dương: Việt Nam, Lào và Campuchia.

    Hàng ngồi, từ trái qua phải): Đồng chí Phạm Văn Đồng, Erwin Borchers, Ernst Frey, đồng chí Võ Nguyên Giáp và bà Đặng Bích Hà (phu nhân đồng chí Võ Nguyên Giáp). Người đứng ngoài cùng bên phải là Rudolf Schroeder.

    Năm 1945, sau khi nước Đức phát xít thất trận, vô số binh lính và sĩ quan Đức đã trở về nhà trong tâm trạng chán chường, tuyệt vọng vì bại trận, vì nhà cửa, làng mạc thành phố bị phá hủy, nhiều người bị buộc phải rời bỏ quê hương sau khi nước Đức bị chia cắt. Trong khi đó, Pháp ráo riết tuyển mộ lính lê dương để đưa sang Đông Dương nhằm giành lại thuộc địa đã bị mất vào tay người Nhật, sau đó là chống lại Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vì vậy, người ta ước tính có tới 2/3 số lính lê dương được đưa sang Đông Dương sau Chiến tranh Thế giới thứ II là người Đức, trong đó phần lớn là lính trẻ từng phục vụ trong quân đội Đức Quốc xã. Giờ đây, khi chiến tranh kết thúc, họ không có công ăn việc làm, không nghề nghiệp, từ trước tới nay chẳng học gì ngoài đánh nhau và bắn giết. Họ nhìn thấy trong đội quân lê dương một lối thoát khỏi con đường bế tắc. Nhiều người chưa hình dung được nước Đức sẽ ra sao sau chiến tranh. Nhiều người hy vọng sau 5 năm phục vụ trong đội lính lê dương có thể nhập quốc tịch Pháp và sang Pháp sinh sống.


    Nhưng Đông Dương cũng mang lại cho họ sự chết chóc, thiếu thốn và họ cũng gặp phải một đối thủ gan góc kiên cường. Một lính lê dương người Đức sau này nhớ lại: "Điều làm cho chúng tôi kinh ngạc và thán phục là những người lính trẻ Việt Minh, mới ngoài 20 tuổi, nhưng sẵn sàng vừa cười vừa đi vào cõi chết vì Tổ quốc. Họ không biết sợ chết. Chúng tôi ghét họ, vì họ có một cái gì đó mà chúng tôi không biết, không hiểu". Chiến tranh rất tàn khốc và đẫm máu, cho tới năm 1953 đã có trên 5.000 lính lê dương Đức tử trận.

    (Từ trái qua phải): Một người tên là Dương Bạch Mai, Ernst Frey, đồng chí Trường Chinh, một người không rõ danh tính, Georges Waechter và Rudolf Schroeder.

    Rất nhiều lính lê dương Đức đã chạy sang bên kia chiến tuyến, một số người tình nguyện, một số người vì muốn thoát khỏi số phận khắc nghiệt là bị bắt làm tù binh. Trong khoảng thời gian từ 1946 tới 1954, gần 1.400 lính lê dương Đức đã chạy sang phía Việt Minh. Trong đó có những người đến với Việt Minh vì lòng tin vào chính nghĩa, vào lý tưởng, đó là những nhà trí thức, những người theo cánh tả, những người chống phát xít như Erwin Borchers, sau này được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên tiếng Việt là "Chiến Sĩ".


    Ngay từ khi còn là sinh viên, Borchers đã rất quan tâm tới chính trị và gia nhập Đảng Xã hội Dân chủ Đức. Sau khi Hitler lên cầm quyền năm 1933, Borchers đã tham gia một tổ chức kháng chiến ở Frankfurt/Main, in và phân phát truyền đơn tuyên truyền chống phát xít. Bị bọn Quốc xã theo dõi và suýt nữa bị bắt, ông liền trốn sang Pháp. Tại đây, ông muốn vào quân đội để chiến đấu chống Hitler, nhưng ông bị từ chối vì Pháp cho rằng mẹ ông, một phụ nữ Pháp đã "phản bội nước Pháp" khi lấy bố ông là người Đức. Thay vì cho ông vào quân đội, họ tống giam ông cũng như nhiều người Đức và người Áo khác, vì sợ rằng những người này có thể làm gián điệp cho Đức. Người Pháp nói với ông và những người bị giam giữ khác rằng gia nhập đội quân lê dương là lối thoát duy nhất để khỏi bị giam giữ trong hàng rào dây thép gai cho tới khi chiến tranh kết thúc.

    Ernst Frey.

    Ngày 16/9/1939, Erwin Borchers trở thành lính lê dương, cũng như nhiều người tị nạn Đức khác, như Rudolf Schroeder, nguyên là sinh viên xã hội học ở Cologne. Năm 1933, Schroeder đã phải chạy trốn sang Pháp để tránh bị bắt, sau khi bị chỉ điểm là dám tặng hoa cho một giáo sư người Do Thái đã bị Quốc xã cách chức, cho về hưu. Ông là một người rất thông minh, khi ở Pari có lúc ông làm trợ lý cho Viện Nghiên cứu xã hội Frankfurt phải lưu vong sang Pari, nhưng cũng có lúc Schroeder phải bán thảm, may vá để kiếm sống. Ông gia nhập đội quân lê dương với hy vọng có thể tham gia chiến đấu chống Đức Quốc xã.


    Hy vọng về hoạt động chống phát xít trong đội quân lê dương đã nhanh chóng tan biến. Ngay trong chặng đường đầu tiên ở Angiêri, nơi ông gặp Erwin Borchers, Schroeder đã viết trong một bức thư nói về "sự vô ích, sự ngốc nghếch và sự dã man của cuộc đời người lính lê dương Schroeder".

    Trang bìa cuốn tiểu sử của Ernst Frey: “Việt Nam - Tình yêu của tôi“.

    Một năm sau, Borchers và Schroeder lên đường sang Đông Dương. Tại Việt Trì, họ kết bạn với Ernst Frey, một người Do Thái và đảng viên cộng sản ở Viên, Áo, người cũng phải chạy sang Pháp để trốn bọn Quốc xã. Ba người bạn cảm thấy kinh hoàng về thái độ phân biệt chủng tộc của nhiều vị sĩ quan cũng như phong cách chính trị - quân sự của đội quân lê dương nói chung. Họ thành lập một chi bộ cộng sản và bí mật tiếp xúc với Việt Minh. Khi họ hiểu được rằng Pháp có kế hoạch chiếm lại Việt Nam làm thuộc địa thì họ quyết định chạy sang với Việt Minh.


    Một buổi sáng năm 1945, Việt Minh đưa một chiếc xe hơi của Mỹ tới thành cổ Hà Nội thuộc Pháp và đưa ba người này trực tiếp về Đại bản doanh của lực lượng kháng chiến Việt Nam. Tại đây, ba nhà lãnh đạo của cách mạng Việt Nam là Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng và Trường Chinh đã đợi họ.


    Những người này đến thật đúng lúc. Những nhà lãnh đạo của nước Việt Nam mới phần lớn là trí thức trẻ và những nhà cách mạng chuyên nghiệp và chưa có nhiều kiến thức về chiến lược quân sự hoặc tổ chức hành chính. Ernst Frey, được đào tạo toàn diện về chiến thuật chiến tranh trong đội quân lê dương, sau này được phong hàm trung tá và trở thành một trong những cố vấn thân cận nhất của Tướng Võ Nguyên Giáp. Trong nhiều năm trời, Ernst Frey với tên Việt là Nguyễn Dân là người duy nhất có thể đến với Tướng Giáp bất cứ lúc nào. Hai nhà trí thức Erwin Borchers (Chiến Sĩ) và Rudolf Schroeder (Lê Đức Nhân) cũng được giao trọng trách trong cơ quan tuyên huấn và họ đã xuất bản tờ báo đầu tiên của Việt Minh bằng tiếng Pháp.


    Ảnh hưởng của những "người Việt Nam mới", như người ta gọi họ, đã giảm đi nhanh chóng, khi hàng ngàn cố vấn Trung Quốc được đưa vào Việt Nam. Bất đồng nảy sinh và ngày càng trở nên căng thẳng tới mức Frey và Schroeder chán nản bỏ về Áo và Đức. Trong thời gian từ năm 1951 tới cuối năm 1955 đã có trên 750 hàng binh được đưa qua đường Bắc Kinh, Mátxcơva để trở về CHDC Đức.


    Nhưng Erwin Borchers vẫn ở lại, vì lúc này ông đã lấy một người vợ Việt Nam và có 3 người con. Ông đã có mặt khi Việt Minh từ một nhóm du kích nhỏ đã trở thành một đội quân mạnh và lần lượt đánh đuổi quân Pháp khỏi các căn cứ ở miền Bắc Việt Nam. Cuối tháng 2/1954, ông cùng với quân đội Việt Minh tới Điện Biên Phủ. Khi đó, tình hình vẫn còn yên tĩnh. Sự yên tĩnh trước trận bão lớn.


    Trước đó, sáng ngày 20/11/1953, Pháp đã mở một chiến dịch đổ bộ lớn xuống Điện Biên Phủ. Chỉ trong vòng 2 ngày, 163 máy bay đã đưa trên 4.000 lính nhảy dù xuống Điện Biên Phủ và tới 22/11 báo cáo là đã chiếm được Điện Biên Phủ. Lệnh từ Sài Gòn yêu cầu xây dựng ngay sân bay và biến Điện Biên Phủ thành một pháo đài kiên cố để cắt đứt đường lui của Việt Minh sang Lào. Khi xây dựng xong, Điện Biên Phủ đã bao gồm 16.000 lính viễn chinh, trong đó có hàng ngàn lính lê dương người Đức đồn trú sau hàng rào, dây thép gai, bãi mìn và trận địa pháo. Trung tuần tháng 2, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp đã tới thăm cứ điểm Điện Biên Phủ và khẳng định rằng nơi đây là một pháo đài "bất khả xâm phạm" và thách thức Việt Minh tấn công. Có một điều ông này không biết là Việt Minh chỉ sử dụng sức người nhưng đã vận chuyển được 200 khẩu đại bác lên các sườn núi bao quanh lòng chảo Điện Biên, cất giấu trong các hang để che mắt máy bay do thám của đối phương. Không một nhà quân sự Pháp nào có thể nghĩ Việt Minh làm được việc này.


    Ngày 13/3/1954, khi Tướng Giáp ra lệnh tấn công, chỉ trong đêm đầu tiên, hơn 9.000 quả đạn pháo và súng cối đã bắn vào những cứ điểm của Pháp đang hoàn toàn bị bất ngờ. Căn cứ bên ngoài bị thất thủ ngay lập tức. Pháo đài trong lòng chảo đã trở thành một cái bẫy chết người. Tư lệnh pháo binh Pháp bắn vào đầu tự sát khi hiểu rằng mình đã đánh giá quá thấp đối thủ. Dưới sự bảo vệ của pháo binh, các chiến sĩ Việt Minh đã đào vô số hầm hào tới sát chiến tuyến đối phương và từ đó chiếm lĩnh hết vị trí này tới vị trí khác. Cuối chiến dịch, tổng cộng chiều dài của các đường hầm, hào đã lên tới trên 400 km. Quân Pháp liên tục cho máy bay chở đồ tiếp tế lên Điện Biên, nhưng vòng vây ngày càng thắt chặt.


    Lúc này, Borchers và đội quân tuyên truyền của ông cũng phát huy tác dụng. Giữa hai loạt đạn pháo hoặc súng cối, họ nói qua loa phóng thanh kêu gọi lính lê dương và đội quân hỗ trợ người Bắc Phi hạ vũ khí.


    Ngày 7/5/1954, sau 56 ngày đêm chiến đấu ác liệt, cứ điểm cuối cùng của pháo đài Điện Biên Phủ đã thất thủ, Tướng Christan de Castries và toàn bộ sĩ quan, binh lính còn lại phải ra hàng. Tổng cộng về phía Pháp có 6.000 người chết, hơn 10.000 người bị bắt làm tù binh, trong đó có hàng ngàn người Đức.


    Sau khi hòa bình lập lại, Erwin Borchers, tức "Chiến Sĩ", ở lại Việt Nam với vợ con, có một chức vụ trong Bộ Tuyên truyền, sau này làm phóng viên cho hãng thông tấn CHDC Đức ADN ở Hà Nội cho tới năm 1965, ông cùng gia đình trở về Đức. Ông qua đời năm 1984.


    Vũ Long (Tổng hợp theo báo chí Đức)


  10. #29
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư có từ bao giờ?


    (Petrotimes) - Căng thẳng trong quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Quốc đang ngày một gia tăng vì những tranh chấp liên quan tới quần đảo Senkaku mà Bắc Kinh gọi là Điếu Ngư. Tranh chấp này có từ khi nào?



    Senkaku là một nhóm đảo hoang hiện do Nhật kiểm soát, Trung Quốc và Đài Loan đều đòi chủ quyền với quần đảo này

    Trong khi Trung Quốc cho rằng đây là lãnh thổ của họ từ thời xa xưa thì Nhật Bản cũng nhấn mạnh rằng, theo quy định của pháp luật, Senkaku thuộc về Nhật. Tranh chấp này có nguồn gốc từ nhiều thế kỷ trước đây.

    Những nhà sử học Trung Quốc lập luận rằng quần đảo Senkaku đã thuộc về Trung Quốc từ thời triều đại nhà Minh (1368-1644). Họ đưa trích dẫn đến “Bút ký về Đại sứ quán Ryukyu” ("Shi Lyutsyu lu") do ông Chen Kanem viết năm 1534. Ông Chen là người lãnh đạo của Đại sứ quán thứ 12 do nhà Minh thành lập. Trong bút ký có đề cập đến việc các con tàu của đại sứ đi qua quần đảo Điếu Ngư. Tuy nhiên, trong những ghi chép đó không xác định rõ những hòn đảo này thuộc về ai. Dù vậy, ngay cả học giả Nhật Bản Inoue Kiyoshi cũng giả định rằng Đại sứ Chen Kang không cho là cần thiết phải nhắc đến việc đảo Điếu Ngư thuộc về Trung Quốc bởi vì thực tế này đã rõ ràng.

    Những nhà sử gia khác của Nhật Bản thì cho rằng không chỉ người Trung Quốc, mà cả những người dân Ryukyu và ngư dân Nhật Bản dưới những tên gọi "Yukun-Kubasima" hoặc "Igun-Kubasima" đã biết đến quần đảo này từ lâu. Những tên gọi này, tương tự như “Điếu Ngư” dùng để chỉ nơi đánh bắt cá. Tuy nhiên, những văn bản xuất xứ của Nhật Bản có ghi nhận những tên gọi này thì xuất hiện muộn hơn nhiều so với Trung Quốc. Các nhà sử học Trung Quốc cũng chỉ ra rằng, trên các bản đồ Nhật Bản vào cuối thế kỷ 18, những đảo này được đánh dấu là lãnh thổ Trung Quốc.

    Trong những năm 1870, bằng vũ lực, quần đảo Ryukyu đã được nhập vào lãnh thổ Nhật Bản với tên gọi mới là Okinawa và không còn phụ thuộc chư hầu vào Trung Quốc. Tuy nhiên, quy chế pháp luật của quần đảo gần bên thì còn chưa rõ ràng. Thống đốc Okinawa đã yêu cầu chính phủ Nhật Bản cho phép xây dựng một tháp trên đảo Senkaku để biểu thị rõ chủ quyền của Nhật Bản đối với quần đảo này.

    Tuy nhiên, vì không muốn làm Trung Quốc tức giận thêm một lần nữa, chính phủ Nhật Bản đã từ chối yêu cầu xây dựng tháp với lập luận rằng quần đảo Senkaku là hoang đảo không có người ở và không thuộc lãnh thổ của ai. Trong khi đó, các nhà chức trách Nhật Bản cũng không ngăn chặn ngư dân Nhật Bản đánh bắt cá gần quần đảo này. Chính phủ Trung Quốc cũng không phản đối gì về điều này, và có thể đó là lý do để Nhật Bản cho rằng Trung Quốc không còn coi Điếu Ngư là lãnh thổ của mình.

    Tuy nhiên, không phải điều này, mà chính cuộc chiến tranh Trung-Nhật nổ ra vào năm 1894 đã đóng vai trò quyết định cho số phận của các hòn đảo. Chiến tranh kết thúc vào năm 1895 với sự thất bại của Trung Quốc. Theo Hiệp ước Shimonoseki, Trung Quốc phải chuyển giao cho Nhật Bản Đài Loan cùng các đảo lân cận, Bành Hồ và bán đảo Liêu Đông. Và mặc dù quần đảo Điếu Ngư không được đề cập đến trong văn bản hiệp ước, tháng 3/1896, quần đảo này đã được đưa vào lãnh thổ của Nhật Bản dưới tên gọi Senkaku và người đầu tiên đến định cư lập nghiệp là công dân Nhật Koga Tatsushiro (một tài liệu còn lại là hồ sơ khai thuế bất động sản năm 1932). Ông mở một cơ sở chế biến cá ngừ và sau này người con của ông, Koga Zenji, tiếp tục công việc nhưng tới 1940 phải ngừng vì tình trạng chiến tranh.

    Sau Thế chiến II, Okinawa và các hải đảo lân cận bao gồm Senkaku đặt dưới quyền giám hộ của Mỹ. Nhiều tàu thuyền đánh cá thỉnh thoảng ghé vào đảo nhưng vẫn không có người nào ở lại đây. Năm 1972, Mỹ trao trả Okinawa và Senkaku lại cho Nhật Bản, Trung Quốc cũng như Ðài Loan không có phản ứng chính thức gì.

    Koga Zenji sau đó bán đất trên đảo Uotsuri và các đảo khác cho gia đình Kurihara năm 1978, nhưng gia đình này không hoạt động khai thác gì ở đây. Ðến bây giờ chính phủ Nhật mua lại các hải đảo này, chỉ để xác lập quyền sở hữu (quốc hữu hóa), còn về chủ quyền Senkaku vẫn được coi là thuộc Nhật Bản.

    Không chỉ các học giả Nhật Bản, mà cả những học giả Trung Quốc cũng cho rằng đảo Điếu Ngư thuộc về Nhật Bản theo Hiệp ước Shimonoseki. Vì lý do này, Bắc Kinh tuyên bố, các quần đảo này nằm trong số các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng khác, phải được trao trả lại cho Trung Quốc theo Hiệp ước hòa bình San Francisco năm 1951, cùng với Đài Loan và quần đảo Bành Hồ.

    Trong văn bản của Hiệp ước San Francisco đã cố tình không đề cập đến số phận của Senkaku. Từ đó có thể đi đến kết luận rằng các đảo này đang nằm dưới quyền quản lý của Mỹ. Tuy nhiên, người Mỹ đã phải trả tiền thuê cho việc sử dụng đảo Senkaku trong nhiều năm cho doanh nhân Koga Tatsusiro, từ đó chúng ta có thể kết luận rằng, trên thực tế, các quần đảo này là tài sản của Nhật Bản.

    Trung Quốc chỉ lên tiếng đòi chủ quyền đối với đảo Senkaku/Điếu Ngư vào cuối những năm 1960, sau khi đã phát hiện mỏ dầu và khí đốt trên thềm lục địa gần đảo. Trước đó, chỉ có những ngư dân Đài Loan đổ bộ lên đảo. Tuy vậy, vào năm 1969, Đài Loan đã tuyên bố rằng những mỏ dầu và khí đốt nằm trong vùng lãnh hải của mình và đã cắm quốc kỳ của họ lên một hòn đảo trong quần đảo này. Ngày 30/12/1971, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã đưa tuyên bố chính thức về kỳ vọng chủ quyền đối với quần đảo Điếu Ngư. Quần đảo này đã được tuyên bố là lãnh thổ Trung Quốc bản địa kể từ triều đại nhà Minh và nhà Thanh. Và đây cũng là khởi đầu của cuộc xung đột lãnh thổ giữa Nhật Bản và Trung Quốc.



    Quần đảo Senkaku theo tên gọi của Nhật, Diaoyu hay Diaoyutai (Ðiếu Ngư Ðài) theo tên gọi của Trung Quốc và Ðài Loan, là một nhóm đảo nhỏ trong vùng biển Ðông Hải, phía Ðông Trung Quốc, Ðông-Bắc Ðài Loan và phía Bắc của hải đảo cuối cùng trong dãy đảo Ryukyu mà Okinawa là hòn đảo chính.


    Quần đảo gồm 5 đảo và 3 mỏm đá trơ trụi, tất cả đều không có cư dân thường trú, đảo lớn nhất Uotsuri Jima chỉ rộng 4,32 km2. Nhóm đảo này ở cách xa Ðài Loan khoảng 120 hải lý, Okinawa 200 hải lý và lục địa Trung Quốc 200 hải lý.
    S.Phương

    Từ hôm qua phát thanh viên VTV đã đọc là Senkakự
    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 14-09-2012 lúc 06:32 PM.

  11. #30
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Động cơ thực sự của làn sóng Hồi giáo chống Mỹ

    Theo báo "Thư tín Địa cầu" (Canađa) ngày 16/9, các cuộc tấn công nhằm vào các đại sứ quán Mỹ và Anh tại Trung Đông - Bắc Phi chỉ là phần nổi của tảng băng chìm "bất ổn" trong thế giới Hồi giáo.


    Người Hồi giáo biểu tình phản đối Mỹ tại thủ đô Đắcca (Bănglađét) ngày 13/9/2012.Ảnh: AFP/TTXVN

    Các cuộc biểu tình chống Mỹ đang lan rộng khắp Trung Đông - Bắc Phi và thế giới Hồi giáo kể từ đêm 11/9/2012 và không có dấu hiệu giảm bớt. Những người biểu tình cho biết họ phản đối một bộ phim được sản xuất tại Mỹ, báng bổ Đấng tiên tri Mohammed, nhưng đằng sau có một động cơ lớn hơn nhiều, đang thúc đẩy họ phải hành động. Barry Rubin, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Toàn cầu về các vấn đề quốc tế tại Ixraen, nhận xét: "Đây là một cuộc chiến tranh, một trận chiến của ý thức hệ, một cuộc đấu tranh để kiểm soát quyền lực nhà nước, chứ không phải là tình cảm bị tổn thương vì một cuốn phim nghiệp dư".

    Những phần tử Hồi giáo cực đoan theo dòng Sunni tại cả Libi và Ai Cập đang tìm cách giành quyền lực và đang lợi dụng sự hỗn loạn sau "cách mạng" để làm lợi cho họ. Tại Libi, Nhóm Khủng hoảng Quốc tế (ICG) đã lưu ý trong một báo cáo được công bố ngày 14/9 rằng, "lực lượng Hồi giáo vũ trang bị ảnh hưởng bởi Al Qaeda đang phát triển mạnh mẽ tại khu vực miền đông Libi và xung quanh, làm tăng quan ngại về sự ổn định của nước này, cũng như khả năng xảy ra thêm các cuộc tấn công giống vụ tấn công đã khiến Đại sứ Mỹ tại Libi thiệt mạng. Tại Libi, những người Hồi giáo, thường được gọi là Salafist này không ra tranh ghế trong cuộc bầu cử Quốc hội hồi tháng 7 vừa qua vì tin rằng chỉ có một bộ luật duy nhất của Chúa và được Đấng tiên tri Mohammed ghi lại, nên không cần bất cứ quốc hội nào phải thông qua các bộ luật khác. Giờ đây, họ đang sử dụng các phương tiện khác để thúc đẩy lý lẽ của họ. Ông Rubin nói: "Họ đang coi người Mỹ là những người đỡ đầu một chế độ mà họ không thích. Họ không muốn cảm ơn người Mỹ vì đã giúp giải phóng Libi, mà muốn đẩy hoàn toàn người Mỹ ra khỏi khu vực".


    Tương tự, tại Ai Cập, những người Hồi giáo Salafist cũng đang tiến hành đường lối chống Mỹ và Tổng thống Ai Cập Mohamed Mursi thuộc tổ chức Anh em Hồi giáo đang đối mặt với một tình huống khó khăn. Ông Rubin nhận xét rằng, những người Salafist đang tìm cách gây khó khăn cho tổ chức Anh em Hồi giáo khi tìm cách miêu tả họ là những người ủng hộ một nước Mỹ chống Hồi giáo. Quả thực, tổ chức Anh em Hồi giáo cầm quyền không muốn đánh mất sự hỗ trợ về tài chính và quân sự của Mỹ, nhưng họ cũng không muốn bị sự cạnh tranh của những người Salafist gây khó khăn. Trong một phát biểu tại Brúcxen, ông Mursi đã có những lời lẽ lên án mạnh mẽ bộ phim báng bổ đạo Hồi, hơn là xin lỗi hoặc chỉ trích các vụ tấn công vào Đại sứ quán Mỹ.


    Chính quyền Mỹ vẫn đang chờ xem diễn biến chính trị tại Ai Cập: Ban lãnh đạo Anh em Hồi giáo sẽ đi đến đâu trong việc đáp ứng những lợi ích của Mỹ? Trong khi đó, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã nhấn mạnh sự căng thẳng ngày càng tăng giữa Oasinhtơn và Cairô, khi nói rằng Mỹ không coi chính phủ Ai Cập mới là đồng minh, nhưng cũng không coi là kẻ thù. Về phần mình, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã có một động thái bất thường khi lên án bộ phim báng bổ đạo Hồi, nhưng trong một phát biểu nhằm vào Tổng thống Mursi, đã nhấn mạnh rằng "các nhà lãnh đạo chính trị, hội dân sự hoặc tôn giáo có trách nhiệm đều phải vạch ranh giới rõ ràng trước tình trạng bạo lực".


    Các cuộc biểu tình chống Mỹ hiện có nguy cơ lan khắp thế giới Hồi giáo chỉ là phần nổi của một tảng băng chìm. Các cuộc tấn công ngày càng tăng tại Irắc, cùng các cuộc tấn công tại Xyri nhằm chống lại chế độ của Tổng thống Bashar al-Assad đều là hành động của những kẻ Hồi giáo Sunni cực đoan, nhằm tìm cách nắm quyền tại hai quốc gia này. Đó là một hiện tượng có quy mô toàn khu vực và cuộc chiến này có khả năng diễn ra tại Trung Đông - Bắc Phi trong nhiều thập kỷ tới.


    Thanh Hoa

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •