CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 2 của 10 Đầu tiênĐầu tiên 1234 ... CuốiCuối
Kết quả 11 đến 20 của 95

Chủ đề: Hồ sơ Tư liệu

  1. #11
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết
    Mãi mãi Hoàng Sa - Kỳ 2: Thiên nhiên ở đảo


    Những người từng đến Hoàng Sa giờ tuổi đã cao, song vẫn còn lưu giữ nhiều ký ức đẹp, sống động về vùng biển đảo thân yêu.


    Đào giếng tại Hoàng Sa năm 1938 - Ảnh: Tư liệu
    Dồi dào sản vật

    Trở lại Hoàng Sa...
    Tháng 10.1973, ông Lê Lan (Quảng Nam) trở lại Hoàng Sa lần thứ 2. “Chỉ còn khoảng 1 tuần nữa là về (đầu năm 1974 - PV) thì Trung Quốc đưa tàu chiến, binh lính đến lấn chiếm đảo. Mặc dù chúng tôi đã phân chia nhiệm vụ chiến đấu giữ đảo, vì đảo là chủ quyền của chúng ta, nhưng bọn chúng đông quá cùng tàu chiến nhiều nên cuối cùng chúng cũng chiếm được Hoàng Sa...” - ông Lê Lan kể trong uất nghẹn.
    “Tôi cùng 32 người khác bị đưa về tạm giam ở đảo Hải Nam 3 tháng, khi đó có thêm 21 người bị hải quân Trung Quốc bắt ở đảo khác. Sau đó chúng đưa tôi về trại tù binh ở Quảng Châu (Trung Quốc) khoảng 1 tháng rồi giao cho Tổ chức Hồng thập tự Quốc tế của Anh trao trả cho chính quyền Sài Gòn" - ông Lê Lan kể lại trong cuốn Kỷ yếu Hoàng Sa.
    Câu chuyện của ông Ngô Tấn Phát, nhà ở Q.Hải Châu (TP.Đà Nẵng) kể nhẹ nhàng, nhưng đau đáu nỗi niềm về Hoàng Sa: “Năm 1959, tôi được Nha Khí tượng điều ra Hoàng Sa công tác tại Ty Khí tượng Hoàng Sa. Lúc đặt chân lên đảo nhìn ra biển thì thật sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp rực rỡ của màu nước biển phân chia từng lớp trong xanh, đậm nhạt từ bãi cát cho đến tít tận khơi xa mịt mù”. Ngoài phiên trực, theo ông Phát, thời gian rảnh rỗi ông cùng các bạn đi dạo quanh đảo, thả bộ trên bãi cát vòng quanh đảo, rồi tắm biển, câu cá, bắt ốc. Sản vật ở Hoàng Sa lúc bấy giờ nhiều vô kể, có nhiều cá mú, mực, tôm, cá khế, cá mập, rùa biển…
    Ông Trương Văn Quảng, ở Q.Ngũ Hành Sơn (TP.Đà Nẵng) có thâm niên trên 10 lần ra Hoàng Sa, chủ yếu là tiếp liệu, vận chuyển nhu yếu phẩm cung cấp cho anh em giữ đảo và đo gió, mưa. Ông Quảng cho biết ông có đọc sách nên từ thời trẻ đã hiểu khá tường tận về chủ quyền Hoàng Sa: “Vào thời chúa Nguyễn Hoàng đến nay là trên 450 năm đã có văn kiện chủ quyền quần đảo Hoàng Sa. Khi vua Gia Long lên ngôi còn cho dựng miếu thờ người con gái đã mất ở Hoàng Sa. Thời Pháp, thuộc đảo lớn nhất ở Hoàng Sa có tên là Robert, sau đó người Việt Nam gọi là đảo cây Dừa, bởi vì trên đảo có nhiều cây dừa lớn”. Ông kể trên đảo có nhiều phân chim nằm sâu dưới lớp san hô và bọt biển. Ngoài ra còn có nhiều loại hải sản quý hiếm. “Khi đến Hoàng Sa, điều lý thú nhất là câu cá. Ở Hoàng Sa thời điểm đó ít ghe thuyền đến đánh bắt, nên có nhiều loại cá và dễ câu. Ở trên đảo ngoài câu cá còn bắt rùa biển, ốc tai tượng, nhất là rau câu biển, lấy hàng bao để làm đông sương ăn rất ngon. Khi hết nhiệm kỳ trở về đất liền, mỗi người mang một hoặc hai bao cá khô về làm quà biếu gia đình, bạn bè” - ông Quảng xúc động kể.
    Còn ông Trần Văn Sơn, sau gần 40 năm ra đảo làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền (đoàn ông ra đảo năm 1973) đến giờ ông vẫn còn nhớ như in những khu vực trên đảo như nhà khí tượng, miếu bà, nhà thờ Công giáo, giếng nước... “Cá ở Hoàng Sa nhiều đến nỗi trong một đêm, một người có thể câu đến cả tạ”. Ông Sơn còn cho biết thêm, mỗi khi thời tiết đẹp, đứng ở đảo lớn Hoàng Sa có thể nhìn thấy 7 cụm đảo nhỏ xung quanh. “Khi tôi ra đảo, nhiều anh em đi trước có kể họ từng sang các đảo nhỏ xung quanh để lấy trứng chim. Còn với chúng tôi, đảo trưởng cấm không cho đi vì thời tiết xấu bất thường và có nhiều vùng xoáy rất nguy hiểm”.
    Ký ức đẹp đẽ
    Kỷ niệm khó phai nhất đối với ông Trần Văn Sơn thời ở Hoàng Sa là vào một đêm trăng sáng, ông cùng vài anh em trong đoàn đi tìm trứng rùa biển. “Tôi nhớ có một con rùa biển rất to lên bờ cát đẻ trứng, hai người đứng trên lưng mà nó vẫn bò đi được. Khi nó bò đến mép nước thì chúng tôi mới nhảy xuống. Phải nói là chưa bao giờ tôi thấy một con rùa biển to như thế” - ông Sơn kể một cách hào hứng.
    Trong các câu chuyện của những người từng ở Hoàng Sa kể lại, bao giờ chúng tôi cũng nghe về vẻ đẹp Hoàng Sa cũng như lời khẳng định chủ quyền Hoàng Sa là của Việt Nam. “Tôi lúc đó tuổi đôi mươi, không vướng bận thê nhi, chút máu lãng tử trong người trỗi dậy. Hơn nữa nghe kể rằng ngày xưa triều Nguyễn lập đội Hoàng Sa, khi đưa tiễn họ ra đi, họ được xem như những anh hùng...” - ông Trần Hòa quê ở thị trấn Nam Phước, H.Duy Xuyên (Quảng Nam) nói. Ông Trần Hòa ra đảo năm 1973, và với ông những dấu tích từ thời xa xưa, những mái nhà, những câu chuyện ở đảo dường như mới in vào trong tâm trí ông: “Biển đảo hiền hòa và hào phóng, cung cấp hải sản không thiếu một thứ gì. Nhưng cũng có lúc nổi cơn giận dữ, biển thét gào với những trận cuồng phong, những đợt sóng cao như trái núi lừ lừ tiến vào đảo trông thật kinh hoàng. Nhưng điều may mắn là Hoàng Sa chưa bao giờ ngập trong sóng biển”.
    Hữu Trà

  2. Có 1 người thích bài viết này


  3. #12
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Một chút sự thật về 'nhị đại' (Kỳ IV)

    (Petrotimes) - Mặc dù kết thúc từ cuối năm 1976, nhưng phải sau một thời gian tiến hành chính sách “cải cách và cởi mở”, đến năm 1981, Trung Quốc mới chính thức công nhận: “Cách mạng văn hóa” không phải và không thể là một cuộc cách mạng hoặc tiến bộ xã hội theo bất cứ ý nghĩa nào.

    Kỳ IV: Những nạn nhân bất đắc dĩ

    “Năm 1958 phải nâng sản lượng thép gấp 2 lần năm 1957”, câu nói tùy tiện của Mao Trạch Đông trong lúc tắm đã làm cho cả nền kinh tế quốc dân rối tung lên. Sản lượng thép Trung Quốc năm 1957 là 5,35 triệu tấn, tăng gấp 2 lần là 10,7 triệu tấn. Giữa tháng 8/1958 khi Hội nghị Bắc Đới Hà ra quyết định cuối cùng về vấn đề này, cả nước mới sản xuất được 4,5 triệu tấn thép. Tại hội nghị trên, Mao Trạch Đông nói: Phải chuyên chế, không thể chỉ nói đến dân chủ. Hoàn thành 11 triệu tấn thép là việc lớn liên quan đến lợi ích của toàn dân, phải cố sống cố chết làm cho bằng được. Phải ra sức thu gom sắt phế liệu, có thể tháo dỡ các đường sắt tạm thời không có giá trị kinh tế như đường sắt Ninh Ba, đường sắt Giao Đông!
    Ngay sau khi nhận thánh chỉ, tại hội nghị những người phụ trách công nghiệp các tỉnh và thành phố họp tại Bắc Đới Hà cuối tháng 8/1958, Bộ trưởng Luyện kim Vương Hạc Thọ đã giao chỉ tiêu cho các tỉnh. Theo đó, trong 4 tháng cuối năm 1958 phải sản xuất 11,5 triệu tấn gang, 7 triệu tấn thép. Trong số những lãnh đạo kể trên, đáng chú ý nhất là Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Hà Nam bởi ông được tờ Nhân dân nhật báo đưa tin: Trước ngày 10/9/1958, mỗi ngày Hà Nam sản xuất 780 tấn gang, cho đến ngày 15/9 đã xây dựng được 45.000 lò luyện gang, huy động 3,6 triệu nông dân cùng 407.000 xe vận tải các loại để một ngày sản xuất 18.693 tấn gang! Thủ tướng Chu Ân Lai không tin thông tin này nên đã cử Cố Minh, Thư ký phụ trách công nghiệp xuống tìm hiểu tình hình bởi từng lưu học ở Nhật Bản, am hiểu sản xuất gang thép.


    Bè lũ 4 tên tại tòa

    Sau khi nhận được báo cáo của Cố Minh, Chu Ân Lai biết rõ chuyện sản xuất gang thép ở Hà Nam là dối trá. Thứ trưởng Bộ Công nghiệp và Giao thông Cao Dương khi nhận lệnh dẫn một tổ công tác xuống tìm hiểu tình hình luyện gang thép ở Hà Nam liền gửi báo cáo lên Trung ương, thậm chí nêu ý kiến riêng về cách làm phản khoa học này nên đã “lãnh đủ”. Sau khi đọc báo cáo của Thứ trưởng Bộ Công nghiệp và Giao thông, Mao Trạch Đông đùng đùng nổi giận, coi Cao Dương là phần tử cơ hội hữu khuynh, bắt cả vợ con đi lưu đày ở tỉnh Quý Châu. Cuối tháng 7/1958, lực lượng lao động trong ngành gang thép là vài chục vạn người, cuối tháng 8 tăng lên vài triệu, cuối tháng 9 lên 50 triệu, đến cuối năm lên đến 90 triệu, cộng thêm lực lượng chi viện trực tiếp và gián tiếp, tổng số lao động đổ vào ngành gang thép lên đến trên 100 triệu người.
    Ngày 22/12/1958, Tân Hoa Xã công bố sản lượng năm 1958: 11,08 triệu tấn thép, 13,69 triệu tấn gang, hoàn thành vượt mức nhiệm vụ tăng gấp đôi sản lượng gang thép mà Mao Trạch Đông đề ra. Điều đáng nói là có tới 3,08 triệu tấn thép và 4,16 triệu tấn gang phế phẩm, hoàn toàn không thể gia công sử dụng. Giá thị trường một tấn gang lúc đó là 150 NDT, nhưng làm theo phương pháp thủ công giá thành lên tới 315 NDT và Nhà nước phải trợ giá tới 5 tỉ NDT. Thiệt hại kinh tế trong 3 năm Đại nhảy vọt là 120 tỉ NDT, tương đương khoản tiền định dùng cho 2 kế hoạch 5 năm của Trung Quốc khi đó. Giới chuyên gia nói rằng, Trung Quốc đã chi khoảng 2 tỉ NDT làm các lò luyện kim và đây được coi là “học phí” để nhân dân cả nước học được cách luyện thép - học một nghề thủ công trong khi đây là một ngành đòi hỏi công nghệ và kỹ thuật cao.
    Năm 1958, Mao Trạch Đông còn đề xướng thành lập các nhà ăn tập thể, coi đó là biện pháp có hiệu quả để các công xã nhân dân thực hiện tổ chức quân sự hóa, hành động chiến đấu hóa, sinh hoạt tập thể hóa, là vấn đề then chốt để bồi dưỡng tinh thần tập thể và tư tưởng cộng sản chủ nghĩa cho nông dân và các nhà ăn tập thể ồ ạt ra đời. Tính đến cuối năm 1959, nông thôn cả nước đã lập được 3,91 triệu nhà ăn tập thể với hơn 400 triệu người tham gia, chiếm 72,6% số người trong các công xã, riêng tỉnh Hà Nam con số này lên tới 99%. Cơ sở để Mao Trạch Đông đưa ra chủ trương này là lương thực quá nhiều, không biết dùng vào việc gì nữa. Thậm chí Mao Trạch Đông còn tuyên bố, lương thực của Trung Quốc đủ dùng cho tất cả mọi người trên trái đất.
    Theo báo cáo của Đảng đoàn Bộ Nông nghiệp gửi Bộ Chính trị ngày 25/8/1958 viết: Tổng sản lượng lương thực cả năm 1958 đạt trên 400 triệu tấn, gấp hơn 2 lần năm 1957. Tháng 10/1958, tại Hội nghị hợp tác nông nghiệp các tỉnh Đông Bắc và Tây Bắc, Đàm Chấn Lâm nhấn mạnh con số 400 triệu tấn và khẳng định có khả năng đạt 500 triệu tấn. Lúc đầu nhà ăn tập thể quả có khẩu hiệu chung là “ăn thật no” và “không phải trả tiền”, nhiều nơi đề ra “ăn no, ăn ngon, ăn sạch”, “mỗi bữa 4 món thức ăn”, thậm chí có nơi tuyên bố: phấn đấu 90 bữa ăn/tháng, không bữa nào món ăn trùng lặp, ngang tiêu chuẩn bếp ăn của vua chúa Trung Quốc. Có nơi coi nhà ăn tập thể là khởi điểm để “tiến lên chủ nghĩa cộng sản trong vòng ba năm”.
    Nhưng chẳng mấy chốc lương thực, thực phẩm cạn dần, từ thả sức ăn 3 bữa cơm/ngày chuyển sang ăn cháo, rồi cháo loãng, rau dại. Lãnh đạo địa phương không dám giải tán nhà ăn tập thể vì sợ làm sai chỉ thị của lãnh tụ vĩ đại, bị kết tội hữu khuynh, “đi con đường tư bản chủ nghĩa”. Nông dân không thể bỏ nhà ăn tập thể vì toàn bộ khẩu phần lương thực của họ do nhà ăn quản lý, đành mỗi ngày hai lần đến nhận khẩu phần cháo loãng.
    Huyện Tỉnh Nghiên (Tứ Xuyên) vào lúc thiếu lương thực nghiêm trọng nhất trong năm 1959, bình quân mỗi người một ngày được phân phối không đến 100 gam lương thực, cứ 8 người có một người chết đói. Nửa đầu năm 1959, đi thăm một số tỉnh, Nguyên soái Chu Đức không tán thành nhà ăn tập thể và có nói với Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông Đào Chú: Hai việc lớn nhất năm 1958 là ồ ạt làm gang thép và công xã hóa đã gây thiệt hại rất lớn cho nhà nước và cá nhân. Ý kiến của Chu Đức được lưu truyền rất nhanh trong cả nước và hè năm 1959, Bí thư Tỉnh ủy An Huy Trương Khải Phong ra lệnh giải tán hơn 4.000 nhà ăn tập thể ở huyện Vô Vi. Sự kiện này khiến Mao Trạch Đông đùng đùng nổi giận và trong bút phê báo cáo về vụ này Chủ tịch viết: “Trương Khải Phong đứng trên lập trường giai cấp tư sản, mưu toan phá hoại nền chuyên chính vô sản, chia rẽ Đảng Cộng sản”.
    Tháng 2/1959, Mao Trạch Đông cử thư ký riêng kiêm Phó văn phòng Trung ương Điền Gia Anh dẫn một tổ công tác xuống Tứ Xuyên điều tra để báo cáo thực trạng nghe và thấy trong chuyến đi này.

    Diệp Kiếm Anh
    Từ mùa hè 1958, chính quyền và nông dân đã triển khai cuộc đại chiến giành giật lương thực bởi sức ép từ trên xuống nên các nơi đều phải khai tăng sản lượng lương thực lên gấp bội. Thế là khắp nơi diễn ra chiến dịch nông dân cất giấu lương thực dưới nhiều hình thức: chôn dưới hầm, dưới gốc cây, chân tường, vùi trong thức ăn gia súc, thậm chí chia thành gói nhỏ, cài trong tổ chim hoặc đặt dưới hố nước tiểu. Các đội công tác được cử xuống nông thôn truy bức nông dân giao nộp lương thực, phát động mọi người tố giác lẫn nhau, nhiều đội trưởng sản xuất đã bị bắt, bị tra tấn cực kỳ dã man, vì đã đứng về phía nông dân trong việc cất giấu lương thực.
    Đến mùa xuân năm 1959, 15 tỉnh như Sơn Đông, Giang Tô, Hà Nam, Hà Bắc, An Huy… đã xảy ra nạn đói, trên 25 triệu người không có lương thực. Đến giữa năm 1959, khắp Trung Quốc đầy rẫy người đói khát, tiếng oán hờn thấu tận trời xanh. Do thiếu lương thực, lao động quá sức, từ nửa cuối năm 1959, vùng nông thôn đã xuất hiện tình trạng phù thũng và chết đói, nhiều người bỏ nhà ra đi. Tỉnh ủy Hà Bắc báo cáo: Toàn tỉnh có 44 huyện, 235 công xã đã phát hiện gần 6 vạn người mắc bệnh phù thũng, trên 450 người đã chết. Nhưng Mao Trạch Đông vẫn tiếp tục tổ chức các nhà ăn tập thể khi phân phát báo cáo của Bí thư Tỉnh ủy Quý Châu Chu Lâm: 80% số nhà ăn tập thể ở tỉnh là vững chắc, nhà ăn tập thể là trận địa xã hội chủ nghĩa phải giữ vững, để mất trận địa này, không thể củng cố công xã nhân dân, cũng không thể giữ vững Đại nhảy vọt. Mao Trạch Đông yêu cầu các nơi làm theo Quý Châu. Mao Trạch Đông hiểu rõ chủ nghĩa xã hội không tưởng của mình đã gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng và nếu thực sự cầu thị đánh giá “ba ngọn cờ hồng” (đường lối chung, đại nhảy vọt, công xã nhân dân) thì phải từ chức để tạ lỗi với toàn đảng, toàn dân. Không rõ con số cuối cùng về các nạn nhân là bao nhiêu, nhưng con số ước lượng của các chuyên gia và học giả là hơn 45 triệu người trong giai đoạn từ 1958 đến 1962.
    Theo thống kê, số người chết đói ở Trung Quốc trong thời gian 1959-1962 chiếm tới 5,11% dân số cả nước. 6 tỉnh nặng nhất là An Huy (18,37%), Tứ Xuyên (13,07%), Quý Châu (10,23%), Hồ Nam (6,81%), Cam Túc (6,45%) và Hà Nam (6,12%). 6 tỉnh nhẹ nhất là Hà Bắc (1,1%), Giang Tây (1,06%), Thiểm Tây (1,02%), Cát Lâm (0,94%), Chiết Giang (0,55%) và Sơn Tây (0,37%). Sự chênh lệch này liên quan rất lớn tới tố chất của Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy - nơi nào càng bám sát “đường lối cách mạng” của Mao Chủ tịch thì tỉ lệ người chết đói càng nhiều. Số người chết đói trong Đại nhảy vọt không bởi thiên tai, mà do nhân họa.

    Cuối tháng 6/1959, dự trữ lương thực trong cả nước là 17 triệu tấn, đủ đáp ứng nhu cầu của thành thị trong một năm, nhưng Mao Chủ tịch lại quyết định xuất khẩu 4,19 triệu tấn để đổi lấy vàng và USD. Đại nhảy vọt đã khiến mất cân đối giữa tích lũy và tiêu dùng, mất cân đối trong thu chi tài chính và mất cân đối nghiêm trọng giữa sức mua xã hội và khả năng cung cấp hàng hóa, mất cân đối giữa khả năng cung ứng lương thực hàng hóa và nhân khẩu thành thị tăng nhanh, đặc biệt là mất cân đối giữa công nghiệp và nông nghiệp, trong đó công nghiệp gang thép phát triển dị hình: từ năm 1958 đến 1960, công nghiệp nặng tăng trưởng 330%, trong khi nông nghiệp giảm 22,8%.
    Sau khi xảy ra sự kiện hàng loạt người chết đói, lãnh đạo các tỉnh lấy ổn định lòng dân làm chính, không nghe theo sự chỉ huy mù quáng của Trung ương nên lãnh đạo Trung ương quyết định triệu tập Hội nghị công tác Trung ương mở rộng, với sự tham gia của những người phụ trách chủ yếu các tỉnh ủy, thành ủy, khu ủy, huyện ủy, các nhà máy, hầm mỏ quan trọng và một số cán bộ lãnh đạo quân đội. Vì có hơn 7.000 người dự nên dư luận gọi là “Đại hội 7.000 người” với chủ đề là “chống chủ nghĩa phân tán”.
    Tại “Đại hội 7.000 người”, Mao Chủ tịch đã có bài phát biểu dài, nhấn mạnh tập trung thống nhất, khôi phục và tăng cường chế độ tập trung dân chủ, chống chủ nghĩa phân tán. Đồng thời nhấn mạnh: Đại nhảy vọt do toàn Đảng làm, nảy sinh một số vấn đề phải do toàn Đảng chịu trách nhiệm, chứ không đùn đẩy cho người khác. Có thể phục hồi đảng tịch và công tác cho những người bị quy sai là cơ hội hữu khuynh, song đối với những kẻ trùm cơ hội hữu khuynh, chẳng những không phục hồi, mà còn phải lập tổ chuyên án tiếp tục thẩm tra vấn đề “câu lạc bộ quân sự” và tư thông với nước ngoài.
    Sau những tháng năm xã hội đại loạn, đấu tranh cướp quyền và chống cướp quyền, 29 tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương đã thành lập chính quyền mới mang tên Ủy ban Cách mạng. Các bí thư tỉnh ủy và tỉnh trưởng hầu hết bị đánh đổ, thay vào đó phần lớn là chỉ huy quân đội tại địa phương và một số người cầm đầu các phái tạo phản. Ngoài việc đấu tố các nhân vật chính trị, quân sự, người ta còn lôi cả những văn nghệ sĩ chân chính ra đấu tố. Ngày 25/8/1966, sinh viên Trường Mỹ thuật Trung ương đã phá hủy và tháo gỡ các tác phẩm điêu khắc quý giá của các triều đại cổ xưa và các tác phẩm mỹ thuật của ngoại quốc. Hồng vệ binh đã bắt ông Tư Mã Thông, Viện trưởng Viện Âm nhạc Trung ương cũng là đệ nhất vĩ cầm của Trung Quốc vì bị buộc tội phản cách mạng.


    Cách mạng văn hóa

    Tại Hội nghị Trung ương 3 khóa 10 (họp từ 16 đến 21/7/1977) đã ra nghị quyết tước đảng tịch và mọi chức vụ trong và ngoài đảng của Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Giang Thanh và Diêu Văn Nguyên. Ngày 17/3/1980, Ban Bí thư thảo luận vấn đề xét xử tập đoàn Lâm Bưu và tập đoàn Giang Thanh, xác định 16 tội phạm chủ yếu, trong đó 6 người đã chết (Lâm Bưu, Khang Sinh, Tạ Phú Trị, Diệp Quần, Lâm Lập Quả, Chu Vũ Trì) chỉ khởi tố, không xét xử. Mười tội phạm chủ yếu đưa ra xét xử là Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Vương Hồng Văn, Trần Bá Đạt, Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến, Lý Tác Bằng, Khưu Hội Tác và Giang Đằng Giao.
    Lời khai của Giang Thanh tại phiên thẩm vấn sáng 3/12/1980 khiến mọi người sửng sốt: Tôi là con chó của Chủ tịch, Chủ tịch bảo cắn ai, tôi cắn người đó. Mặc dù kết thúc từ cuối năm 1976, nhưng phải sau một thời gian tiến hành chính sách “cải cách và cởi mở”, đến năm 1981, Trung Quốc mới chính thức công nhận: “Cách mạng văn hóa” không phải và không thể là một cuộc cách mạng hoặc tiến bộ xã hội theo bất cứ ý nghĩa nào. Ngày 12/8/1966, Hội nghị lần thứ 11 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 8 kết thúc ở Bắc Kinh sau khi thông qua quyết định về “Cách mạng văn hóa”. 46 năm sau (12/8/2012), thập kỷ (1966-1976) đầy biến động của “Cách mạng văn hóa” vẫn tiếp tục được đánh giá ở Trung Quốc cũng như trên thế giới theo nhiều cách khác nhau.
    Theo Giám đốc Trung tâm Đông phương học tại Học viện Ngoại giao Nga Andrey Volodin, Trung Quốc hoạt động theo lợi ích riêng của mình, thế giới bên ngoài chỉ để tham khảo. Ông Andrey Karneev, Phó giám đốc Viện Á - Phi thuộc Trường đại học Tổng hợp Moskva khẳng định, giới thượng lưu Trung Quốc vẫn chưa thôi sợ hãi thời “perestroika” của Tổng thống đầu tiên và cuối cùng Liên Xô Mikhail Gorbachev bởi đã dẫn tới sụp đổ của Liên Xô sau đó - không muốn bất kỳ sự thay đổi đột ngột nào. Ông Andrey Karneev cũng nhận xét: Trung Quốc từng đánh giá “Cách mạng văn hóa” là thảm họa lớn nhất, là chế độ độc tài phát xít quân sự và đã đẩy ý thức hệ đến mức vô lý.
    Tuy nhiên “Cách mạng văn hóa” đã tạo thuận lợi cho cuộc cải cách của Đặng Tiểu Bình bởi cả giới lãnh đạo và quần chúng nhân dân đều từng trải qua sự hỗn loạn vô lý của những đàn áp và thanh trừng nên họ sẵn sàng chấp nhận các ý tưởng cải cách. Giới bình luận cho rằng, Trung Quốc nói về cải cách chính trị không phải do lo sợ từ “cách mạng hoa nhài” theo kiểu Arab và cũng không phải do áp lực từ phương Tây. Nhận định này xuất hiện sau tuyên bố của Thủ tướng Ôn Gia Bảo: Trung Quốc cần cải cách chính trị, nếu không sẽ phải đối mặt với nguy cơ lặp lại thảm kịch thời “Cách mạng văn hóa”. Giới truyền thông cho rằng, Trung Quốc đang phải đối mặt với thực tế: Trong nước đã và đang hình thành một thế hệ trẻ có thu nhập tương đối cao, sử dụng Internet, giỏi tiếng Anh, quan tâm đến báo chí nước ngoài, do đó Trung Quốc cần mềm dẻo hơn trước.
    Dư luận từng quan tâm tới một Đại nhảy vọt khác của Trung Quốc. Trung Quốc đã thay Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ (năm 2008) và đã trở thành nhà sản xuất hàng đầu thế giới về số người có bằng tiến sĩ cho dù chương trình đào tạo sau đại học mới bắt đầu trở lại từ cuối năm 1978. Tuy nhiên, chương trình tiến sĩ của Trung Quốc khiến nhiều người hoài nghi vì cho rằng, tham nhũng trong hệ thống giáo dục đã tạo nên những “thỏa hiệp, dàn xếp”. Theo thống kê của Giám đốc Ủy ban Học hàm thuộc Hội đồng Nhà nước Trung Quốc, chương trình tiến sĩ đầu tiên của Trung Quốc (năm 1978) chỉ có 18 nghiên cứu sinh và đến năm 1982, số người được trao bằng tiến sĩ đầu tiên mới ở con số 6/18 người kể trên. Nhưng chương trình đào tạo sau đại học đã gia tăng nhanh chóng sau năm 1999 do chính sách “công nghiệp hóa” đại học của chính phủ bởi Bắc Kinh cho rằng, chỉ tiêu tuyển sinh cao hơn sẽ tạo ra một thế hệ dân thành thị có giáo dục hơn, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và giảm bớt phụ thuộc vào xuất khẩu sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997.
    Được biết, tỉ lệ tuyển sinh cho các chương trình tiến sĩ hàng năm tăng 23,4% (kể từ 1982) và tới cuối năm 2007, Trung Quốc đã cấp bằng tiến sĩ cho 240.000 người. Điều đáng nói là số lượng giáo sư đủ trình độ cần thiết để giám sát, hướng dẫn chương trình tiến sĩ kể trên lại không đáp ứng yêu cầu đặt ra, khiến người ta quan ngại về chất lượng của những tiến sĩ này. Nhu cầu bằng tiến sĩ phát triển khi Bắc Kinh đưa ra quyết định bổ nhiệm dựa trên nền tảng giáo dục của số ứng cử viên và việc này khiến nhiều quan chức mua bằng. Có cung ắt có cầu - nhiều trường đại học, kể cả một số trường nước ngoài đã thành lập văn phòng tuyển sinh ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu và nhiều quan chức có thể sớm nhận bằng tiến sĩ ngay tại nhà mà không cần thi cử. Giáo sư Thái Tề Minh ở Đại học Thanh Hoa cho rằng, hầu hết bằng cấp mà các quan chức có được đều đáng nghi. Việc nhiều quan chức sở hữu những tấm bằng tiến sĩ không minh bạch không chỉ lãng phí nguồn tài nguyên giáo dục, mà còn tạo ra một cuộc khủng hoảng lòng tin trong hệ thống giáo dục.
    Hồng Thất Công - Tuấn Quỳnh
    (Năng lượng Mới số 145, ra thứ Sáu ngày 10/8/2012)
    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 13-08-2012 lúc 08:15 AM.

  4. Có 1 người thích bài viết này


  5. #13
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Kế hoạch 'Đại Trung Đông' của Mỹ



    Báo “Sự thật Komsomol” (Nga) cho rằng, những gì đang xảy ra trong thế giới Arập thực chất chỉ là kết quả của một kế hoạch đã được tính toán kỹ của Mỹ dưới tên gọi "Đại Trung Đông", do các nhân vật sừng sỏ của Lầu Năm Góc lần đầu tiên đưa ra sau vụ khủng bố ngày 11/9/2011.
    Bìa cuốn sách “Đừng bao giờ ngừng chiến” của Ralph Peters. Ảnh: Internet
    Cùng thời điểm này, tại Mỹ đã xuất bản cuốn sách có tựa đề “Đừng bao giờ ngừng chiến” của Ralph Peters - một đại tá Mỹ về hưu, từng nhiều năm làm việc tại Học viện Quân sự Quốc gia Mỹ - và một bài báo mang tên “Các biên giới đẫm máu. Trung Đông có thể tốt hơn”. Thực chất, đây không phải là một bài báo hay một cuốn sách thuần túy, mà là một tài liệu mang tính lên chương trình của các nhân vật diều hâu ở Mỹ.

    Ông Peters đã đề cập đến một vấn đề mới và rất quan trọng trên thế giới, đó là “các đường biên giới tự phát và vô thừa nhận nhất nằm ở châu Phi và Trung Đông”. Từ các đường biên giới này sẽ nảy sinh nhiều vấn đề lớn không thể giải quyết được ở tầm khu vực.

    Để giải quyết vấn đề này, Peters đưa ra một lộ trình cho Trung Đông. Theo ông, bất công lớn nhất ở khu vực này là cộng đồng người Cuốc dù đông đảo song không có một quốc gia độc lập của riêng mình. Ông ước tính hiện có từ 27 - 36 triệu người Cuốc đang sinh sống ở những khu vực giáp biên giới ở Trung Đông. Với số lượng đông như vậy, người Cuốc là nhóm dân tộc hùng hậu nhất mà lại chưa có quốc gia.

    Vì vậy, để giải quyết vấn đề quốc gia cho họ, phải chia nhỏ Irắc, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ và Xyri, lấy ở mỗi nước một phần đất để làm quốc gia cho người Cuốc. Nếu làm được điều này, một quốc gia của người Cuốc trong tương lai sẽ là nhà nước thân Mỹ và phương Tây nhất ở đại lục địa Á - Âu.

    Cũng theo kế hoạch của Mỹ, phải tách một vài tỉnh của Irắc ra thành một quốc gia riêng của những người Hồi giáo dòng Sunni. Quốc gia này sau đó sẽ sáp nhập vào Xyri vì Xyri khi đó sẽ chỉ còn là một quốc gia nhỏ bé sau khi mất một phần lãnh thổ. Còn cộng đồng người Shi'ite ở phía nam Irắc sẽ thành lập quốc gia riêng của người Shi'ite Arập. Những thay đổi quan trọng cũng đụng chạm đến cả Arập Xêút - một đồng minh thân cận của Mỹ.

    Theo đó, tại vị trí thánh điện Mecca hiện nay sẽ thành lập nên cái được gọi là “Đại Vaticăng" của Hồi giáo. Các mỏ dầu nằm ở lân cận sẽ được chia cho người Shi'ite Arập, còn các mỏ phía Nam sẽ chia cho Yêmen. Gioócđani cũng sẽ được hưởng một phần "lộc tự nhiên". Bằng cách này, Mỹ cùng lúc ép được cả thế giới Hồi giáo cùng hướng về “Đại Vatican" ở Trung Đông bằng một niềm tin tuyệt đối.

    Trong kế hoạch này, Iran là nước bị Mỹ chia cắt nhiều nhất. Iran sẽ mất một phần đất rộng lớn vào cái gọi là “Liên bang Adécbaigian”, quốc gia tự do của người Cuốc và người Shi'ite Arập. Tuy nhiên, Mỹ chưa xác định sẽ làm gì với những người Arập di dân. Hiện có hai phương án được đưa ra là hoặc đưa họ vào sinh sống tại "Quốc gia của người Shi'ite Arập", hoặc đưa đến Đubai.


    Kế hoạch của Peters cũng đề cập đến việc khơi dậy một cuộc xung đột tôn giáo và sắc tộc quy mô lớn ở Trung Đông, tạo cớ để các binh lính Mỹ có mặt ở đây kiểm soát các nguồn dầu mỏ khổng lồ của khu vực. Đây mới thực sự là bản chất của mọi vấn đề.


    Khi kế hoạch “Đại Trung Đông” mới được đưa ra, nhiều người nghĩ nó sẽ chết yểu vì không thể thực hiện được. Tuy nhiên, những gì diễn ra đã cho thấy người Mỹ không nói đùa. Bắt đầu là Irắc, đến “Mùa xuân Arập" ở Libi, hiện nay là Xyri, tiếp theo là Iran và sẽ còn những quốc gia nào nữa?

    Có sợi dây nào xuyên suốt các sự kiện chấn động đẫm máu tại khu vực này hay không? Lời giải đáp có thể là do các nước này là những quốc gia trẻ được thành lập sau Chiến tranh Thế giới thứ 2, vì thế Mỹ cần chia nhỏ ra thành các bộ lạc và trả lại thời nguyên thủy. Bộ lạc là cấu trúc xã hội dễ quản lý nhất, không đòi hỏi các vấn đề dân tộc. Đàm phán với bộ lạc cũng dễ dàng hơn. Để chiếm được dầu mỏ và tài nguyên, chỉ cần mua chuộc thủ lĩnh bộ lạc bằng một ít tiền là có thể có được mọi thứ.

    Theo tính toán của Mỹ, sau khi chia nhỏ được toàn bộ Trung Đông, Mỹ sẽ để Ixraen đứng ra cai quản với vai trò một “nước Mỹ thu nhỏ”. Ixraen bị Mỹ huyễn hoặc sẽ là cái nôi của một “Vaticăng Hồi giáo" với cấu trúc quyền lực và ảnh hưởng trên thế giới không thua kém gì Rôma.


    Thổ Nhĩ Kỳ được Mỹ thông tin rất rõ ràng về kế hoạch “Đại Trung Đông”. Ngay từ năm 2006, tại Rôma, Mỹ đã cho treo tấm bản đồ “Đại Trung Đông” mới do Peters vẽ ra để dọn đường dư luận. Khi đó, một số quan chức quân sự Thổ Nhĩ Kỳ đã nổi giận khi nhìn thấy đất nước Thổ Nhĩ Kỳ bị chia cắt trên bản đồ. Tuy nhiên, người Mỹ trấn an rằng đó chỉ là một trò đùa, một tấm bản đồ không chính thức. Vậy tại sao Thổ Nhĩ Kỳ lại lặng lẽ ủng hộ kế hoạch "Đại Trung Đông" của Mỹ?


    Thổ Nhĩ Kỳ luôn tiến hành cuộc chơi hai mặt. Một mặt muốn giữ thể diện trong thế giới Hồi giáo và làm ra vẻ căng thẳng với Ixraen, song mặt khác lại ủng hộ phe nổi dậy tại Xyri và âm thầm giúp đỡ Ixraen - đất nước chỉ cần đợi một cuộc chiến thực sự tại Xyri nổ ra là đánh chiếm cao nguyên Golan của Xyri. Thổ Nhĩ Kỳ không có chính sách đối ngoại của riêng mình, luôn phụ thuộc vào ý chí của các đối tác ở NATO. Nói cách khác, Thổ Nhĩ Kỳ là cánh tay phải của Mỹ tại Trung Đông.


    Cao Cường (P/v TTXVN tại LB Nga)

    No Avatar

    dksaigon

     21:19, 14th Aug 2012 #7357 

    TĐ tốt nhất là chia nhỏ ra để các bộ tộc đều có phần và dĩ nhiên là phải có kỹ thuật của phương tây thì mới ổn định và khá được. Nga thì có tốt lành gì?! :D

    No Avatar

    dksaigon

     21:08, 14th Aug 2012 #7355 

    Khi phát hiện có mỏ dầu thì vua chúa mặc sức bán bỏ túi riêng và để có thế lực bảo kê (trùm là Nga) thì lấy dầu làm mồi và có gì thì....đổ cho đế quốc Mỹ âm mưu này nọ! :D

    No Avatar

    dksaigon

     20:53, 14th Aug 2012 #7354 

    Trung đông tự cổ chí kim luôn xung đột dẫm máu, có đế quốc và có bộ lạc chẳng tộc nào, hệ phái nào chịu hòa bình với nhau!



  6. #14
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Tại sao Trung Quốc đầu tư mạnh vào tên lửa?

    Tiên hạ thủ vi cường…

    Theo Báo cáo Lầu Năm Góc về quốc phòng TQ 2012, TQ hiện có 50-75 tên lửa liên lục địa (trên 5.500km); 5-20 tên lửa liên lục địa tầm trung (3.000-5.500km); 75-100 tên lửa tầm trung (1.000-3.000km); 1.000-1.200 tên lửa tầm ngắn (dưới 1.000km); và 200-500 tên lửa hành trình phóng từ mặt đất (trên 1.500km).
    Với dàn tên lửa hùng mạnh, TQ, về lý thuyết, có thể nghiền nát như cám các căn cứ quân sự Mỹ tại Đông Nam Á và khiến không lực Mỹ bị vô hiệu hóa trong tích tắc! Đơn giản, hầu hết căn cứ quân sự Mỹ ở Thái Bình Dương đều không có hầm trú máy bay. Kadena (Okinawa) chẳng hạn, căn cứ không quân khổng lồ này có tổng cộng 15 hầm trú, chỉ đủ cho nhiều nhất là 30 chiến đấu cơ. Trong khi đó, căn cứ thủy quân lục chiến Futenma (cũng ở Okinawa) không hề có hầm trú máy bay; tương tự căn cứ thủy quân lục chiến Iwakuni (Yamaguchi), căn cứ không quân Yokota (Fussa, Tokyo) và căn cứ không quân Andersen (Guam). Để triệt tiêu chớp nhoáng sức mạnh quân sự Mỹ tại Thái Bình Dương, dàn tên lửa TQ chỉ cần điều hướng và “chiếu tướng” thẳng vào các mục tiêu “lạy ông tôi ở bụi này” nói trên!

    Máy bay phá sóng EA-18G Growler

    Tên lửa chắc chắn sẽ là vũ khí chiến lược số một đối với TQ, và nhu cầu ngày càng có nhiều tên lửa tiếp tục là một trong mục tiêu quan trọng nhất đối với quân đội TQ. Cần biết rằng, dù được hiện đại hóa với dàn “phần cứng” không thể xem thường, từ chiến đấu cơ tàng hình, tàu ngầm đến khu trục hạm, nhưng TQ vẫn thiếu nhiều hệ thống cơ bản để có thể điều phối trơn tru khi lâm trận. Thử xem một đoạn trong Chinese Aerospace Power: Evolving Maritime Roles (tác giả Andrew S. Erickson và Lyle J. Goldstein, phát hành tháng 7/2011), sẽ thấy một số khiếm khuyết trong sự vận hành của cỗ máy quân sự TQ. Lấy ví dụ máy bay tiếp liệu. Hiện quân đội TQ chỉ có 14 chiếc máy bay tiếp liệu H-6U với mỗi chiếc chở khoảng 17-18 tấn nhiên liệu (Không quân Mỹ có hơn 500 máy bay tiếp liệu với mỗi chiếc chở được 100 tấn). Website chuyên về quốc phòng TQ Sinodefence.com (truy cập ngày 12/6/2012) cho biết chi tiết hơn: Sư đoàn 8 Không quân TQ đóng tại Lỗi Dương (Hồ Nam) hiện có chừng 10 chiếc H-6U trong khi Sư đoàn 9 Không quân TQ đóng tại Lăng Thủy (Hải Nam) có ba chiếc tiếp liệu H-6D, hoạt động ở tầm 6.000km với vận tốc 786km/g…
    Do đó, dù trên lý thuyết không lực TQ có hơn 1.500 chiến đấu cơ (như họ phô trương) nhưng họ khó có thể làm mưa làm gió khu vực châu Á – Thái Bình Dương (ít nhất ở thời điểm hiện tại), bởi trên thực tế, dàn máy bay tiếp liệu của họ chỉ có thể “bơm xăng” được cho 50-60 chiếc vào một thời điểm (với giả định rằng tất cả máy bay tiếp liệu H-6U đều hoạt động tốt). Nếu xảy ra một trận không chiến trên bán đảo Đài Loan (cách hầu hết căn cứ không quân TQ hàng trăm dặm) thì chỉ có 50-60 chiến đấu cơ TQ là có thể đến được địa điểm tác chiến và cũng chiến đấu được vỏn vẹn… vài phút! Khắc phục điểm yếu này chỉ có cách nhờ đến tên lửa…
    Trong Chinese Aerospace Power, một nhà phân tích quân sự TQ ước định rằng, cần đến 150-200 chiếc Su-27 quần thảo mù mịt và hò nhau “hội đồng” mới có thể diệt được một tuần dương hạm lớp Ticonderoga của Hải quân Mỹ. Với “sĩ số” tổng cộng khoảng 300 chiếc Su-27 và một số chiến đấu cơ phiên bản tương tự, TQ thật khó có thể “trấn nước” toàn bộ hạm đội 22 chiếc: “Ticonderoga. Một lần nữa, tên lửa cũng sẽ là lời giải. Chỉ có cách bắn ra trận mưa tên lửa mới có thể khiến hệ thống phòng thủ Ticonderoga bị vô hiệu hóa” – theo chuyên gia quân sự Toshi Yoshihara thuộc Đại học Hải quân Hoa Kỳ…
    Hậu hạ thủ vi ương!
    “Để đối phó hỏa lực hùng hậu của tên lửa TQ, Mỹ có nhiều phương án. Đánh chặn, phá nhiễu sóng, đánh lừa và hạ trực tiếp – tất cả đều được sử dụng cùng lúc để đáp trả một trận oanh kích tên lửa TQ” – theo lời đô đốc hải quân Mỹ Jonathan Greenert (trả lời phóng viên trong một cuộc họp báo – Wired News 16/3/2012). Tóm lại, đó là chiến thuật “đầu cuối chơi với đầu cuối” (end-to-end concept) – nói theo ngôn ngữ Greenert. Việc cần làm đầu tiên là nhắm vào hệ thống dẫn đường của tên lửa đối phương, bằng cách sử dụng máy bay điện tử chuyên phá sóng EA-18G Growler (loại từng được dùng để làm tê liệt hoàn toàn hệ thống phòng không của Muammar Gadhafi trong cuộc chiến Libya năm 2011). Vài năm gần đây, quân đội Mỹ đã đầu tư mạnh cho máy bay phá sóng. Lầu Năm Góc thậm chí quan tâm EA-18G Growler còn nhiều hơn chiến đấu cơ thế hệ mới F-22. Không như thế hệ cũ EA-6B, EA-18G Growler (thiết kế hệt như F/A-18F Super Hornet) thật ra là một chiến đấu cơ (hai phi công; trang bị tên lửa AGM-154 JSOW) nhưng chức năng chính là phá sóng radar, có thể tháo ngòi các thiết bị nổ dưới đất và thậm chí “xịt” virus điện toán để đục thủng bức tường và thâm nhập phá phách hệ thống điện tử chỉ huy của bộ tư lệnh đối phương (chiến thuật mà Israel từng áp dụng đầu tiên trong cuộc không kích một nhà máy hạt nhân của Syria năm 2007)…
    Tuy nhiên, át chủ bài chính của Mỹ tại đấu trường Thái Bình Dương vẫn là hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo Aegis BMD (một hệ thống vũ khí cực kỳ phức tạp với sự kết hợp kỹ thuật của Lockheed Martin, Raytheon, Boeing, Alliant Techsystems, Honeywell, Phòng tác chiến hải quân, Phòng thí nghiệm vật lý ứng dụng Đại học Johns Hopkins, Phòng thí nghiệm Lincoln thuộc Viện Công nghệ Massachusetts…). Liên tục được nâng cấp, hệ thống Aegis, trang bị cho các khu trục hạm Mỹ và Nhật, đến nay ngày càng hoàn chỉnh. Aegis hoạt động như thế nào? Sau khi radar AN/SPY-1 phát hiện tên lửa mục tiêu, lệnh phóng sẽ khởi động và kích hoạt tên lửa đẩy Aerojet MK 72 để đưa tên lửa bắn chặn SM-3 ra khỏi dàn phóng. Khi Aerojet MK 72 cháy hết, SM-3 sẽ được đẩy tiếp bằng Aerojet MK 104 để đưa nó vào khí quyển; rồi sau đó tên lửa đẩy thứ ba, ATK MK 136, giúp SM-3 tăng tốc nhắm đến mục tiêu. Trong suốt quá trình bay, SM-3 liên tục nhận được thông tin về vị trí chính xác của mục tiêu, thông qua vệ tinh GPS. Khi tiếp cận mục tiêu, SM-3 sẽ phóng ra đầu đạn động năng (chứa hệ thống cảm ứng hồng ngoại giúp dò tìm) rồi đâm thẳng vào mục tiêu với năng lượng (kinetic energy) kinh khủng 130 megajoule (tương đương 31kg thuốc nổ TNT), tạo ra lực công phá tương tự một chiếc xe tải 10 tấn chạy với vận tốc 965km/g đâm sầm vào một vật thể…
    Gần đây nhất, ngày 10/5/2012, một cuộc thử nghiệm Aegis BMD đã được tiến hành, từ tuần dương hạm USS Lake Erie (lớp Ticonderoga). Theo bản tin từ website Hải quân Hoa Kỳ, cuộc thử nghiệm bắt đầu lúc 20 giờ 18 phút (giờ Hawaii), khi tên lửa mục tiêu được bắn lên từ Kauai (Hawaii), bay theo quỹ đạo Tây Bắc hướng đến một vị trí ở Thái Bình Dương. Tuần dương hạm USS Lake Erie, với hệ thống Aegis BMD 4.0.1 (thế hệ thứ hai), đã phát hiện và lập tức bắn chặn bằng tên lửa SM-3 Block IB (thế hệ mới nhất). Đây là cuộc thử nghiệm đạn thật đầu tiên đối với dàn “hi-end” Aegis BMD 4.0.1 và SM-3 Block IB (các cuộc thử nghiệm trước đó được thực hiện với Aegis BMD 3.6.1 và tên lửa SM-3 Block IA). Đây cũng là cuộc thử nghiệm thành công lần thứ 22 trong 27 cuộc thử nghiệm Aegis BMD (nếu xét trong tất cả chương trình thuộc hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo của Mỹ nói chung thì đây là cuộc thử nghiệm thành công lần thứ 53 trong 67 cuộc thử nghiệm kể từ năm 2001).
    Trước đó, ngày 21/2/2008, USS Lake Erie cũng thực hiện cuộc thử nghiệm thành công khi tên lửa SM-3 bắn trúng một vệ tinh, với vận tốc tiếp cận 36.667km/g và vệ tinh mục tiêu đang ở độ cao 247km trên bầu trời Thái Bình Dương. Hai năm sau, ngày 28/10/2010, một vụ thử nghiệm Aegis BMD nữa lại được thực hiện hoàn hảo. Lần này là từ khu trục hạm JDS Kirishima của Nhật. Có gì đáng để ý trong cuộc thử nghiệm này? Lật lại tài liệu cũ, thấy rằng đó chính là thời điểm mà Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đang công du châu Á (từ 27/10 đến 8/11/2010; đến Hawaii, Việt Nam, TQ, Campuchia, Malaysia, New Zealand, Palua New Guinea và Australia). Bản tin trang web Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ghi lại: Ngoại trưởng Clinton đã gặp Ngoại trưởng Nhật Seiji Maehara để thảo luận nhiều vấn đề trong đó có “tầm quan trọng lâu bền của liên minh Mỹ – Nhật như là nền tảng đối với sự can dự của Mỹ vào Châu Á – Thái Bình Dương”. Và gì nữa: “ngày 28/10, lần thứ hai tại Hawaii, Ngoại trưởng đã có bài phát biểu quan trọng về vai trò của Mỹ với tư cách là một quốc gia Thái Bình Dương”. Cú bắn SM-3 từ JDS Kirishima ngay trong hôm đó hẳn là phát súng hiệu khẳng định chắc nịch thông điệp của bà Ngoại trưởng Hoa Kỳ…
    (Xem tiếp kỳ sau)
    Mạnh Kim(PETROTIMES)

  7. #15
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Ước mơ siêu cường của Trung Quốc trên Biển Đông

    (Petrotimes) - Trong ấn bản Winter 2010 của chuyên san Orbis thuộc Viện Nghiên cứu chính sách đối ngoại Hoa Kỳ, James Kraska - nguyên cố vấn chính sách của Giám đốc Cục Hoạch định chính sách chiến lược thuộc Bộ Tổng tham mưu Lục quân Hoa Kỳ - đã khiến nước Mỹ sởn gai ốc khi hình dung rằng, vào năm 2015, chiếc Hàng không mẫu hạm (HKMH) trị giá 9 tỉ USD USS George Washington có thể bị Trung Quốc (TQ) đánh một phát chìm nghỉm! Loại vũ khí nào của TQ mà James Kraska cho rằng có thể hạ gục HKMH Mỹ?

    Bài 2: Con ngáo ộp ASBM!
    Trân châu cảng “phiên bản 2.0”?
    Sự kiện (giả định) trên đã không chỉ cho thấy bức tranh thay đổi cán cân về sức mạnh hải quân tại châu Á mà còn “đưa đến một giai đoạn mới về trật tự quốc tế mới trong đó Bắc Kinh bắt đầu nổi lên thay thế Mỹ”. Và loại vũ khí kinh khủng đủ khả năng diệt được HKMH Mỹ đang được đề cập là thứ mà đã được nhắc với mật độ dày đặc nhiều năm qua: phản hạm đạo đạn (antiship ballistic missile-ASBM, tên lửa đạn đạo diệt HKMH). Với ASBM, cái thế “mất đối xứng” của TQ đối với Mỹ tại bàn cờ chiến lược quân sự Đông Nam Á không còn tồn tại. Với ASBM, TQ đã có thể thành công trong chiến thuật “dĩ lục chế hải” (dùng đất liền chế ngự hải dương). Cách đây hai năm, trong cuộc phỏng vấn tờ Asahi Shimbun (dẫn lại từ Washington Times 26/12/2010), Tư lệnh trưởng Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ Robert F. Willard nói rằng, ASBM TQ đã bắt đầu đi vào “IOC” (khả năng hoạt động ở giai đoạn đầu). “Tình hình là đáng lo chứ không phải không, mà bởi (ASBM TQ) là mối họa đối với Đông Nam Á nên cũng là mối họa đối với nước Mỹ” - tướng Willard nói. Trong báo cáo đệ trình Quốc hội (đề ngày 23/3/2012), chuyên gia Hải quân Ronald O’Rourke cho biết thêm, sát thủ ASBM đã được triển khai cho quân đội TQ vào đầu năm 2011…

    Mô hình một vụ tấn công bằng ASBM
    Bắn từ dàn phóng di động, với hỗ trợ của radar cùng hệ thống tìm kiếm mục tiêu bằng vệ tinh và máy bay do thám không người lái, ASBM của TQ, như được miêu tả, là hệ thống gồm tên lửa hai tầng (tầng một để phóng lên không trung và tầng hai là đầu đạn bay đâm ngược xuống để triệt hạ mục tiêu). Một ASBM đơn giản sẽ gồm loại tên lửa được lắp một đầu đạn nhưng nó có thể được nâng cấp để lắp nhiều đầu đạn để tăng mức hiệu quả sát hại. Thập niên 1970, Liên Xô đã phát triển tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 để diệt các mục tiêu di động của NATO. SS-20 thật sự là vũ khí đáng sợ (NATO chỉ có 4-6 phút cảnh báo sau khi SS-20 rời dàn phóng). Để chống trả, Tổng thống Ronald Reagan cho phát triển hệ thống bắn chặn Pershing II. Tuy nhiên, sau Chiến tranh lạnh, với Hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân tầm trung (INF) ký giữa Washington và Moskva tháng 12/1987, SS-20 và Pershing II đều được cho vào viện bảo tàng (theo nghĩa bóng lẫn đen).
    Chú Sam “thúc thủ vô sách”?
    Theo Marshall Hoyler (cựu Giáo sư Đại học Hải quân Hoa Kỳ) viết trên chuyên san Naval War College Review (Vol. 63, No. 4, Autumn 2010), 4 năm qua, TQ đã sản xuất từ 9-15 tên lửa DF-21D mỗi năm. Về phía Mỹ, Hoyler cho biết, hải quân họ có 18 tàu trang bị hệ thống Aegis chuyên bắn chặn được triển khai khắp thế giới, với hai loại tên lửa SM-2 Block IV và SM-3; trong đó SM-3 được thiết kế để “đón khách” ngoài tầng khí quyển, trong khi SM-2 Block IV có nhiệm vụ “bồi tiếp” nếu “khách” lọt qua hàng rào khí quyển và phăm phăm phóng đến mục tiêu (tức đầu đạn của đối phương sau khi tách ra khỏi tên lửa ngoài tầng khí quyển). Tính đến cuối năm 2008 (nđd), Mỹ có 40 tên lửa SM-2 Block IV và 38 tên lửa SM-3. Theo “viễn kiến” của (cựu) Bộ trưởng quốc phòng Robert Gates vào tháng 4/2009, Mỹ cần phải có 220 SM-3 vào cuối năm 2015. Theo tính toán của Hoyler, Mỹ cần phải có 13 chiếc tàu trang bị hệ thống Aegis để đối phó Iran, ba chiếc đối phó với Bắc Triều Tiên và chín chiếc đối phó với TQ; và trong 220 tên lửa SM-3 được sản xuất đến trước năm 2015 như mong muốn của Robert Gates, phải có 148 cái dành riêng để tiếp “thượng khách” TQ... Vấn đề ở chỗ, như nhận xét của Hoyler, bằng vào việc có nhiều tên lửa bắn chặn hơn, vẫn chưa chắc rằng Mỹ có thể thủ thắng trong cuộc đọ sức với ASBM TQ. Tại sao? Thứ nhất (nghe hệt như Hoyler đang “vẽ đường cho hươu chạy”!), là TQ có thể bắn DF-21 (loại tên lửa đạn đạo bình thường) để dụ đối phương bắn trả, rồi chờ đến khi Mỹ “hết đạn”, TQ mới xịt lên DF-21D ASBM thứ thiệt! Thứ hai, TQ có thể bắn “chim mồi”, bằng cách tung lên những quả bóng Mylar phủ aluminum. Đầu đạn thật sự sẽ được lắp trong một hoặc vài quả bóng như vậy; trong khi các quả bóng còn lại chứa pin lithium để làm tản nhiệt, khiến vệ tinh cảm ứng Mỹ chẳng biết đâu là quả bóng thật sự chứa đầu đạn hạt nhân. Thứ ba, TQ có thể “bọc áo” cho đầu đạn (phủ lớp làm nguội), khiến nó hoàn toàn không thể bị thiết bị cảm ứng hồng ngoại của Mỹ dò ra. Để tăng hiệu quả tấn công, TQ chỉ cần “sử” một trong ba cách trên hoặc cùng lúc dùng cả ba cách! Hoyler thậm chí còn “vạch áo cho người xem lưng”, khi cho biết, hầu hết tất cả thử nghiệm SM-3 của Mỹ đều thành công nhưng Mỹ chưa từng công bố thử nghiệm khả năng phân biệt “chim mồi” cũng như những giải pháp ứng chiến khác, để cho thấy Mỹ thật sự có đủ khả năng triệt khử ASBM. Đành phải “cam bái hạ phong” thôi!
    Một con “ngáo ộp”!
    Phải nói rằng ASBM, nếu thật sự được chế tạo thành công, là một “tuyệt tác” của vũ khí từ cổ chí kim. Nó xứng đáng được xem là biểu tượng đánh dấu một cuộc cách mạng “bài sơn đảo hải” trong quân sử thế giới. Nó sẽ làm thay đổi sâu sắc diện mạo chiến tranh, theo cách như bom nguyên tử cách đây hơn nửa thế kỷ. Nó không chỉ tái lập sự cân bằng quyền lực quân sự mà còn giúp “giành thiên hạ” về tay mình với ai sở hữu nó. Gút lại, ASBM là “tinh túy” của mọi thế hệ vũ khí... Bởi vì, ASBM không phải là vũ khí mà là một hệ thống vũ khí. Nó là hệ thống của những hệ thống mà theo ngôn ngữ quân sự Mỹ thì đó là C4ISR (command, control, communications, computers, intelligence, surveillance, reconnaissance - chỉ huy, kiểm soát, liên lạc, máy tính, tình báo, giám sát, do thám). Nó phải được vận hành và điều khiển với sự phối hợp đồng bộ, với mức chính xác phải ở chuẩn tuyệt đối, trong đó, bất kỳ sai lệch nào trong kỹ thuật học, toán học, vật lý đạn đạo học, vi tính học… cũng không thể được chấp nhận. Do vậy, cần phải phân biệt rõ rằng, việc chế tạo được loại tên lửa đạn đạo tầm xa như DF-21D là một chuyện nhưng việc đưa nó vào thành một hệ thống tinh vi phức tạp như ASBM hoàn toàn là chuyện khác. DF-21D chỉ mới là một phần của một hệ thống mà thôi.

    Một cách chính xác hơn, phải nói rằng tên lửa DF-21D chỉ mới là một phần của một hệ thống
    Cho đến nay, dù giới lãnh đạo quân đội TQ nhiều lần nhắc đến việc chế tạo thành công DF-21D nhưng giới nghiên cứu quân sự thế giới chưa từng nghe nói đến bất kỳ cuộc thử nghiệm ASBM nào của TQ. Bằng vào cách ứng xử phô trương quen thuộc của TQ, một vụ thử nghiệm ASBM - nếu có - hẳn đã được làm rùm beng lên rồi. Bằng vào hệ thống viễn thám mà Mỹ ngày đêm theo dõi TQ, một cuộc thử nghiệm ASBM - cho dù là “bí mật quân sự tuyệt đối” - hẳn đã bị phát hiện rồi. Mà nếu chưa được mang ra thử nghiệm thì hệ thống ASBM, cho đến thời điểm này, vẫn là một con ngáo ộp! Với trình độ hiện tại của TQ, một hệ thống vũ khí “siêu hoàn hảo” theo chuẩn C4ISR, với khả năng đồng bộ hóa tất cả theo thời gian thật, là điều viễn tưởng của viễn tưởng! Theo phân tích của Marshall Hoyler (nđd), dữ liệu từ vệ tinh truyền xuống mặt đất thường mất hơn năm phút và bộ chỉ huy phải mất thêm một ít thời gian để xử lý dữ liệu nhằm xác định vị trí chính xác của HKMH. Ngoài ra, còn phải tính thêm 10-15 phút để trạm phóng (TEL) chuẩn bị công đoạn “bật quẹt châm lửa” cho DF-21D. Khi rời TEL, ASBM lại cần thêm 12-15 phút để bay đến mục tiêu. Tổng cộng, ASBM TQ phải mất tối thiểu 32-35 phút. Trong khi đó, với vận tốc 35 knot, HKMH Mỹ có thể đã di chuyển xa khỏi điểm rơi được lập trình của đầu đạn ASBM. Cụ thể, cứ mỗi phút mà ASBM phải mất, HKMH đã đi được hơn 1km. Mất 32 phút mới đến được vị trí định sẵn thì mục tiêu đã rời xa tối thiểu 32km rồi!... Và cũng cần để ý chi tiết quan trọng nữa: tất cả tính toán thời gian nói ở trên, được thí nghiệm trên mô hình máy tính, đều giả định rằng, hàng “hậu vệ” dày đặc nổi tiếng giỏi tài “đốn giò” của hệ thống bắn chặn Mỹ đã bất lực trước ASBM; và giả định rằng giới lãnh đạo Bắc Kinh sẽ ra lệnh bắn ASBM khi ngay vệ tinh truyền đủ dữ liệu liên quan vị trí HKMH. Trong thực tế, sẽ còn mất thêm thời gian (không xác định được) để Bắc Kinh cân nhắc động thủ. Thời gian càng kéo dài, AOU của mục tiêu (“area of uncertainty”, thuật từ quân sự chỉ phạm vi tấn công có biên độ rộng khiến xác suất thành công thấp) sẽ càng giãn ra, và vệ tinh TQ lại phải mò mẫm lại từ đầu để tìm xem cái HKMH chết tiệt bây giờ đang ở “xứ mô” nào rồi…
    Mạnh Kim
    (Năng lượng Mới số 147, ra thứ Sáu ngày 17/8/2012)
    Sửa lần cuối bởi trucngon; 18-08-2012 lúc 07:40 AM.

  8. Có 1 người thích bài viết này


  9. #16
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Chiến dịch giải cứu con tin Mỹ tại Têhêran năm 1980

    Chiến dịch giải cứu con tin Mỹ tại Têhêran năm 1980-Kỳ I: Kế hoạch liều lĩnh, thất bại thảm hại


    Vụ những người tiến hành cuộc Cách mạng Hồi giáo Iran chiếm giữ Đại sứ quán Mỹ ở Têhêran và bắt giữ hơn 50 nhà ngoại giao Mỹ làm con tin trong suốt 444 ngày đêm năm 1979/1980 để hạ nhục siêu cường Mỹ, đã gây chấn động dư luận thế giới.



    Một trong số 52 con tin Mỹ bị trói và bịt mắt được đưa ra gặp gỡ báo chí 4 ngày sau khi bị bắt giữ.

    Khi đó, Mỹ đã lên một kế hoạch liều lĩnh để giải cứu các con tin, nhưng bị thảm bại ngay tư đầu và để lại một vết nhơ, một lòng thù hận. Giờ đây,siêu sao George Clooney đang có kế hoạch dựng thành phim sự kiện này. Tuy nhiên, Hollywood đã bất công khi không đả động gì tới vai trò của người Đức trong cuộc khủng hoảng con tin khi đó, một vai trò mà cho tới nay có rất ít người biết tới. Vai trò của Đức khi đó có thể lý giải phần nào vai trò của Đức hiện nay trong cuộc khủng hoảng hạt nhân với Iran.

    Chiến dịch "Móng vuốt đại bàng"

    Trước khi mặt trời như một quả cầu lửa xuất hiện trên vịnh Ôman, 8 chiếc máy bay trực thăng CH-53 của Mỹ đã cất cánh trên Hàng không mẫu hạm USS Nimitz và bay theo lộ trình về phía bắc. Mục tiêu của chúng là sa mạc muối Dascht-i-Kawir ở Iran cách đó 6 giờ bay, một trong những nơi hoang vắng nhất trên thế giới. Tại đó, một đội gồm vài chục binh sĩ tinh nhuệ Mỹ đang chờ đợi trong đêm tối như mực.

    Họ đã được máy bay ận tải đưa tới đây từ trước. Đó là ngày 25/4/1980 và nếu như chiến dịch "Móng vuốt đại bàng" (Eagle Claw) hôm đó thành công thì giờ đây người Mỹ có thể huênh hoang nói về cuộc giải phóng con tin có lẽ đặc sắc nhất trong lịch sử thế giới. Bởi vì theo kế hoạch, đội biệt kích đó sẽ đột nhập vào Têhêran và giải cứu trên 50 nhà ngoại giao, nhân viên và lính thủy đánh bộ, những người mà từ nhiều tháng qua là con tin của những người theo Giáo chủ Ajatollah Khomeini, nhân vật có thế lực mới ở Iran sau khi Quốc vương Shah bị lật đổ tháng Giêng năm 1979 trong Cuộc Cách mạng Hồi giáo. Những đệ tử của ông đã xông vào Sứ quán Mỹ ở Têhêran ngày 4/11/1979 và bắt giữ các con tin, nhằm buộc Mỹ phải dẫn độ Quốc vương Shah đã chạy trốn sang Mỹ trở lại Iran.

    Chiến dịch thảm bại khi chưa bắt đầu

    Kế hoạch táo bạo được đề ra là các binh sĩ Mỹ bất ngờ đổ bộ xuống Têhêran, giành lại các con tin đang bị giam giữ trong Đại sứ quán và dùng máy bay trực thăng đưa các con tin này từ một sân bay ở ngoại ô Têhêran tới một nơi an toàn do Mỹ kiểm soát. Nhưng đội biệt kích đó đã không bao giờ tới được thủ đô Têhêran, vì bão cát đã buộc một trong những chiếc trực thăng đó quay về khi đang trên đường bay tới sa mạc muối, một chiếc khác phải hạ cánh khẩn cấp. Khi một chiếc máy bay trực thăng thứ ba phải bỏ cuộc do trục trặc trong hệ thống thủy lực thì Tổng thống Mỹ Jimmy Carter đã phải quyết định đình chỉ chiến dịch liều lĩnh này, vì giới quân sự cần tới ít nhất 6 máy bay cho kế hoạch giải cứu nói trên. Riêng đó đã là một thảm bại.

    Máy bay Mỹ tan xác trên sa mạc Pécxích

    Nhưng chiến dịch đã trở thành một thảm họa, khi cất cánh quay về, một chiếc máy bay trực thăng và một trong những chiếc máy bay vận tải đã đâm vào nhau và cả hai cháy trụi. 8 binh sĩ tử nạn, 12 người khác bị thương. Ngày hôm sau, ảnh của xác những chiếc máy bay cháy đen trên sa mạc Pécxích được phát đi toàn thế giới, biểu tượng cho sự hạ nhục chưa từng có đối với siêu cường Mỹ của những người Hồi giáo cực đoan. Giờ đây, Carter phải điều đình với họ và mãi tới tháng 1/1981, các con tin mới được trả tự do.

    Cho tới ngày nay, nhiều người Mỹ vẫn còn coi cuộc khủng hoảng con tin đó là biểu tượng cho cuộc chiến giữa các nền văn hóa. Nó đánh dấu bước khởi đầu của sự thù địch vẫn còn kéo dài giữa Oasinhtơn và chính quyền Hồi giáo Têhêran. Vụ bắt giữ con tin và việc giải cứu bất thành đã làm cho Jimmy Carter mất chức Tổng thống do không được bầu lại tháng 11/1980 và Ronald Reagan được thay vào vị trí của ông ta.


    VL (Theo tạp chí Spiegel)

  10. #17
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Chiến dịch giải cứu con tin Mỹ tại Têhêran năm 1980

    Chiến dịch giải cứu con tin Mỹ tại Têhêran năm 1980-Kỳ II: Vai trò bí mật của người Đức

    Hầu như ít ai biết được những tình tiết về vai trò của người Đức trong việc giải quyết vụ con tin tại Sứ quán Mỹ ở Têhêran. Nhiều chàng trai trẻ xung quanh Giáo chủ Khomeini đã từng học đại học ở CHLB Đức nên có lòng tin nhất định đối với chính quyền Bon.


    Nhà ngoại giao Đức trở thành sứ giả của Têhêran

    Khi chính quyền mới ở Têhêran muốn gửi một bức thư cho Quốc vương Shah Pahlavi mới bị lật đổ, họ đã đề nghị chính quyền Bon giúp đỡ. Ông Norbert Montfort, chuyên gia về Iran trong Bộ Ngoại giao Đức đã đóng vai trò sứ giả và mang một bức thư dán kín tới một bệnh viện quân sự ở Texas, nơi ông Pahlavi đang điều trị. Theo như ông Montfort giờ đây kể lại, ông Pahlavi đã từ chối nhận bức thư và bức thư đã được để nguyên gửi lại Têhêran và Đại sứ Gerhard Ritzel đã đưa lại cho chính quyền Têhêran.

    Máy bay bị rơi tại sa mạc Pécxích.

    Ông Ritzel là Đại sứ phương Tây duy nhất ở thủ đô của Iran có mối liên hệ mật thiết với Hội đồng Cách mạng Iran. Giáo chủ Khomeini đánh giá rất cao nhà ngoại giao này, vì ông đã cảnh báo chính quyền Hồi giáo trước một đội sát thủ được phái tới Iran, trong đó có một người Đức. Đội sát thủ này nhận nhiệm vụ của cựu Quốc vương Shah Pahlavi tìm cách ám sát Khomeini. Sự cảnh báo của Ritzel đã làm vụ ám sát bất thành.

    Vì vậy, Đại sứ Đức Ritzel đã được chọn làm người môi giới giữa những người Iran và người Mỹ trong cuộc khủng hoảng con tin. Nhờ Ritzel mà những thông điệp quan trọng của Mỹ được đưa tới những địa chỉ phù hợp ở Têhêran. Bộ Ngoại giao Đức thường chuyển các báo cáo và đánh giá của ông cho Bộ Ngoại giao Mỹ. Thậm chí Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ khi đó Edmund Muskie đã đích thân gặp Ritzel để nghe thông báo và đánh giá tình hình. Thậm chí đã từng diễn ra các cuộc đàm phán bí mật giữa Iran và Mỹ về việc thả tự do cho các con tin tại Bon theo đề nghị của Têhêran, trong Nhà khách của Bộ Ngoại giao Đức trên núi Venus (Venusberg).

    Vì sao Đức nhiệt tình trong việc làm môi giới?

    Người Đức tiến hành việc môi giới không chỉ nhằm giúp đỡ các con tin. Họ cũng muốn bù đắp lại việc Chính phủ Đức khăng khăng từ chối yêu cầu của Tổng thống Mỹ Carter đã đòi các đồng minh phải áp đặt lệnh trừng phạt kinh tế đối với Iran. Trước hết ông nhằm vào liên minh cầm quyền ở Bon dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Helmut Schmidt, vì không một chính phủ Tây Âu nào có nhiều quan hệ thương mại với chính quyền Hồi giáo Têhêran như CHLB Đức. Nhưng cũng chính vì lý do có nhiều quan hệ thương mại này mà Thủ tướng Schmidt không muốn nghe theo yêu cầu của Mỹ.

    Loại máy bay trực thăng CH - 53 được sử dụng cho chiến dịch “Móng vuốt đại bàng”.

    Các nhân viên dưới quyền Carter nhận xét rằng chỉ có một lý do có thể thúc đẩy Schmidt hành động, đó là mối lo ngại là Mỹ có thể tấn công Iran. Theo ông Hamilton Jordan, cố vấn của Tổng thống Carter, mùa đông 1979/1980, chính quyền của Tổng thống Carter đã tìm cách dọa chính quyền Bon với tuyên bố rằng Oasinhtơn sẽ tiến hành những "biện pháp khác" đối với Têhêran, nếu Bon không áp đặt lệnh trừng phạt. Đã từ lâu Thủ tướng Schmidt vẫn coi Carter là "khờ khạo" và "bất tài" nên tin ngay lập tức khả năng Oasinhtơn muốn tấn công Iran. Thủ tướng Schmidt bực mình nhận xét, Mỹ đã xử sự một cách "ngốc nghếch và nóng nảy".

    Đức ôm hận vì chiến dịch “Móng vuốt đại bàng”

    Thủ tướng Schmidt đã nhiều lần so sánh, coi tình hình chính trị thế giới đầu năm 1980 “nóng bỏng” như mùa hè 1914, khi nổ ra cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ Nhất. Nhưng khi ngày 12 và 13/4/1980, những người đứng đầu liên minh cầm quyền ở Bon nhất trí đáp ứng yêu cầu trừng phạt của Mỹ, ít nhất là một phần, thì những nước châu Âu khác lại từ chối.

    Điều mà chính quyền Bon không biết là chính ngày hôm trước, Carter đã quyết định rời bỏ con đường trừng phạt. Tổng thống Mỹ không còn tin là các đồng minh sẽ áp đặt những biện pháp trừng phạt có hiệu quả chống lại Têhêran và đặt cược vào cuộc giải cứu mạo hiểm.

    Về quyết định phiêu lưu này, dĩ nhiên Carter chỉ thông báo cho phía Anh. Vì vậy, chính quyền Bon chỉ biết được về chiến dịch "Móng vuốt đại bàng" sau khi nó thất bại, vào ngày hôm sau, lại từ đài phát thanh, một điều dĩ nhiên làm Chính quyền Đức rất uất hận. Chính phủ Đức đã nhiều lần cảnh báo trước một hoạt động biệt kích như vậy. Nhóm chống khủng bố của Cơ quan biên phòng Đức đã dựng lại việc bắt cóc con tin trong khuôn khổ chương trình huấn luyện của họ và đi đến kết luận là một hành động giải cứu chỉ có cơ hội thành công trong hai tuần lễ đầu tiên.

    Trong màn kịch con tin ở Têhêran, Schmidt đã may mắn không phải chịu sự thử thách như vậy một lần nữa. Những kẻ bắt cóc con tin đã chia các con tin ra nhiều nơi khác nhau, như vậy loại trừ được một hành động giải cứu mới. Carter rốt cuộc phải phụ thuộc vào các cuộc thương lượng với Têhêran, như vậy đi theo con đường mà người Đức đã ủng hộ ngay từ đầu. Dù sao, các con tin Mỹ cuối cùng cũng về nước bình an, nhưng phải sau tổng cộng 444 ngày căng thẳng và lo sợ. Vụ bắt cóc con tin chấm dứt, nhưng sự thù địch của Oasinhtơn đối với Têhêran vẫn còn kéo dài tới ngày nay và chính quyền Đức vẫn có một vai trò riêng trong quan hệ với Iran.


    VL (Theo tạp chí Der Spiegel)

  11. #18
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Tàu ngầm trong chiến tranh (kỳ 1)



    Trải qua chặng đường hình thành và phát triển từ nhiều thế kỷ, tàu ngầm đã dần chứng minh được vai trò là một vũ khí lợi hại trong tác chiến hải quân.
    (ĐVO) Lịch sử phát triển tàu ngầm

    Khái niệm về một chiếc thuyền có khả năng hoạt động dưới nước được hình thành khá lâu dài, bắt đầu từ hình ảnh những người thợ lặn sử dụng các gậy rỗng để săn bắt dưới nước thời cổ đại.

    Ứng dụng khái niệm lặn dưới nước được sử dụng trong quân sự lần đầu tiên trong cuộc bao vây Syracuse khoảng năm 413 trước công nguyên.

    Khái niệm sơ khai về tàu ngầm được ghi nhận trong một bức tranh Hồi giáo từ thế kỷ 16 ghi nhận hình ảnh Alexander Đại đế được thả xuống nước trong một chiếc ly chìm.
    Trên thực tế, chiếc tàu ngầm đầu tiên được đóng thành công vào năm 1620 bởi William Bourne.

    Còn chiếc tàu ngầm đầu tiên được sử dụng cho mục đích quân sự được đóng vào năm 1775 trong Cách mạng Mỹ. Tàu được đặt tên là Turtle được thiết kế bởi David Bushnell. Tàu ngầm Turtle có thiết kế hình quả trứng được sử dụng để đặt mìn và chất nổ tại các khu vực bến cảng.
    Turtle là chiếc tàu ngầm sơ khai đầu tiên được sử dụng cho mục đích quân sự.
    Tàu ngầm cũng được sử dụng nhiều trong cuộc nội chiến Mỹ. Có thể nói, Mỹ là quốc gia đầu tiên sử dụng tàu ngầm trong chiến tranh. Điều này góp phần đưa Mỹ thành cường quốc hàng đầu thế giới về tàu ngầm như hiện nay.

    Tàu ngầm đã được sử dụng một cách nhỏ lẻ vào các cuộc chiến từ thế kỷ 16 cho đến thế kỷ 18. Tuy nhiên, do những hạn chế về mặt công nghệ tại thời điểm đó nên tàu ngầm vẫn không thể hiện được vai trò đáng kể nào.

    Phải đến cuối thế kỷ 19 sự phát triển của động cơ diesel và động cợ điện cũng như sự phát triển của các công nghệ quang học như kính tiềm vọng đã tạo ra bước nhảy vọt trong phát triển tàu ngầm.

    Chiếc tàu ngầm đầu tiên sử dụng động cơ đốt trong khi nổi và động cơ điện khi chìm được thiết kế bởi một người Ireland tên là John Philip Holland vào giai đoạn 1876-1896.

    Chiếc tàu ngầm này được đặt tên theo nhà thiết kế và được gọi là tàu ngầm Holland Type VI.

    Chiếc tàu ngầm này sau đó đã được mua bởi Hải quân Mỹ và được đặt tên là USS Holland.

    Tàu ngầm Holland Type VII sau đó đã được bán cho Hải quân Đế quốc Nhật Bản và sử dụng trong chiến tranh Nga - Nhật giai đoạn 1904-1905.

    USS Holland là chiếc tàu ngầm điện-diesel chiến đấu đầu tiên đúng nghĩa
    Tàu ngầm trong chiến tranh thế giới thứ nhất

    Tàu ngầm bắt đầu được sử dụng một cách rộng rãi trong chiến tranh thế giới thứ I. Và ở đây phải nới tới việc, dù Mỹ là quốc gia đầu tiên sử dụng tàu ngầm trong chiến tranh nhưng Đức mới chính là quốc gia thiết kế được chiếc tàu ngầm có khả năng chiến đấu tốt nhất thời đó, tàu ngầm lớp U.

    Sự tiến bộ của công nghệ động cơ diesel và động cơ điện đã tạo ra một sự kết hợp động cơ điện-diesel sử dụng cho tàu ngầm, các công nghệ này đã giúp cho tàu ngầm đạt tốc độ nhanh hơn và có thời gian ở dưới nước lâu hơn.

    Cùng với sự tiến bộ của công nghệ chế tạo ngư lôi, loại tàu ngầm lớp U của người Đức chứng minh là một cỗ máy chết chóc thực sự.
    Tàu ngầm lớp U9 của Đức đã trở thành nổi ám ảnh của Hải quân Hoàng gia Anh bởi khả năng tấn công bất ngờ của nó.
    Ở thời kỳ này, dù còn khá thô sơ và chưa thực sự tinh vi, nhưng các tàu ngầm U của Đức đã gây ra cho Hải quân Hoàng gia Anh những tổn thất nặng nề. Tàu ngầm lớp U9 của Đức đã đánh chìm 3 tuần dương hạm của Hải quân Hoàng gia Anh chỉ trong vòng vài phút, trong tháng 9/1914.

    Trong suốt thời gian diễn ra thế chiến thứ I tổng cộng có khoảng 5.000 tàu thuyền các loại với hơn 11 triệu tấn hàng hóa và 15.000 thường dân thiệt mạng do các cuộc tấn công của tàu ngầm U.

    Sự thành công của tàu ngầm lớp U đã chứng minh tàu ngầm là một vũ khí lợi hại trong chiến tranh, đặc biệt tàu ngầm tỏ ra cực kỳ hiệu quả trong việc tấn công các tàu vận tải nhằm cắt đứt tuyến đường vận tải của đối phương.

    Chiến lược này tiếp tục được sử dụng trong chiến tranh thế giới thứ 2 và cho đến ngày nay chiến lược này vẫn phát huy tối đa tác dụng của nó.


    Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, Đức đã sản xuất và đưa vào sử dụng tổng cộng 360 chiếc tàu ngầm, 178 chiếc bị mất trong cuộc chiến. Anh có 77 tàu ngầm sử dụng trong chiến tranh và có đến 50 chiếc bị mất trong chiến tranh. Pháp có khoảng 62 chiếc tàu ngầm được sử dụng trong chiến tranh và chỉ có 12 chiếc bị mất. Nga bắt đầu cuộc chiến với 58 tàu ngầm, 24 chiếc bị mất trong chiến tranh.

    Tác chiến chống tàu ngầm trong chiến tranh thế giới thứ nhất

    Tại thời điểm đó, công nghệ trinh sát còn sơ khai và chưa phát triển, các hệ thống định vị âm thanh có tầm hoạt động hạn chế và độ chính xác không cao nên việc phát hiện ra tàu ngầm rất khó khăn.

    Hải quân các nước chỉ có thể phát hiện ra tàu ngầm khi đã bị tấn công, các biện pháp tấn công đáp trả củng rất hạn chế.
    Thả một lượng lớn bom chống ngầm là biện pháp được sử dụng phổ biến nhất trong tác chiến chống ngầm hồi thế chiến thứ I.
    Biện pháp chống ngầm thời đó chủ yếu là sử dụng thủy lôi phong tỏa các bến cảng, thả bom chống ngầm, thả lưới để vướng vào chân vịt tàu ngầm..

    Khi phát hiện tàu ngầm, các tàu chiến thời đó thường thả một lượng lớn bom chống ngầm xuống dưới nước để tiêu diệt tàu ngầm theo kiểu xác suất xung quanh khu vực phát hiện ra tàu ngầm.

    Chỉ cần một quả bom nổ gần tàu ngầm cộng với áp lực nước biển sẽ gây ra thiệt hại nặng cho tàu ngầm, thậm chí phá hủy, song hiệu quả tác chiến của biện pháp này không cao.

    Tuy nhiên, tàu ngầm thời đó có thời gian ở dưới nước không lâu nên cũng dễ bị tiệu diệt khi buộc phải nổi lên để lấy không khí và sạc pin cho động cơ điện. Gần 300 chiếc tàu ngầm bị đánh chìm trong chiến tranh thế giới thứ nhất đã cho thấy tính dễ bị tổn thương của phương tiện này.

    Những tổn thất do tàu ngầm gây ra buộc Hải quân Hoàng gia Anh gấp rút thực hiện đồ án phát triển các công nghệ chống ngầm.

    Hệ thống định vị âm thanh phát hiện tàu ngầm ASDIC được các kỹ sư Anh phát triển thành công vào năm 1917, tuy nhiên nó không kịp hoàn thành để sử dụng trong thế chiến thứ nhất.

    Hệ thống ASDIC sau đó đã được chuyển giao cho Hải quân Mỹ và trở thành "hệ thống định vị âm thanh chống ngầm tiêu chuẩn" trong suốt thời gian diễn ra thế chiến thứ 2.

    Trên cơ sở ASDIC các kỹ sư Mỹ đã phát triển các công nghệ sonar cho riêng mình tạo tiền đề cho sự phát triển của các hệ thống sonar tinh vi ngày nay.

    Sự thành công của tàu ngầm trong chiến tranh thế giới thứ nhất và đã chứng minh được tàu ngầm là một cổ máy chết chóc. Sự thành công của tàu ngầm lớp U đã tạo tiền đề cho sự phát triển ồ ạt của các loại tàu ngầm sau này và trong chiến tranh thế giới thứ hai đã ghi nhận cuộc chạm trán lớn nhất lịch sử loài người giữa các tàu ngầm và tàu chiến mặt nước.

    (còn nữa)

  12. #19
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Tàu ngầm trong chiến tranh (kỳ 2)

    Hơn 40 triệu tấn hàng hóa cùng hàng ngàn tàu chiến bị đánh chìm đã cho thấy giá trị chiến lược mà tàu ngầm mang lại đối với toàn cục.
    (ĐVO) Chạm trán trên Đại Tây Dương

    Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Hiệp ước Versailles hạn chế việc phát triển hải quân mặt nước. Đức là một trong những nước chịu ảnh hưởng của điều khoản này. Phải tới một năm trước Chiến tranh thế giới thứ hai, Đức mới bắt tay xây dựng lại hạm đội tàu chiến mặt nước.

    Vì vậy, khi bắt đầu cuộc chiến mới, Hải quân Đức quá nhỏ bé để có thể thách thức Hải quân Hoàng gia Anh bằng một cuộc chiến tranh quy ước. Dù vậy, nước này vẫn nắm trong tay một quân bài lợi hại khác: tàu ngầm.

    Hải quân Đức bắt đầu thế chiến thứ hai với 65 tàu ngầm trong đó có 21 chiếc đang hoạt động trên biển khi chiến tranh nổ ra. Nửa đầu Chiến tranh thế giới thứ hai, Hải quân Đức đã sử dụng khá hiệu quả tàu ngầm và đã đạt được thắng lợi lớn.

    Các cuộc tấn công của tàu ngầm U vào đội tàu vận tải đã gây cho lực lượng Đồng những tổn thất to lớn. Khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ nhất,
    Đô đốc Donitz's chỉ huy lực lượng tàu ngầm Đức đề xuất một chiến thuật hoàn toàn mới so với thời kỳ đó. Thay vì đối đầu trực tiếp với hạm đội hùng hậu của Hải quân Hoàng gia Anh với khả năng chiến thắng rất thấp, ông này dùng các tàu ngầm của mình tấn công cắt đứt con đường vận tải chiến lược, qua đó suy giảm sức mạnh của nước Anh.

    Đầu tiên, Hải quân Đức sử dụng máy bay trinh sát do thám trên khắp Đại Tây Dương, chuyển thông tin về vị trí của tàu vận tải Anh cho lực lượng tàu ngầm. Lực lượng này sẽ tiếp cận và chờ đợi thời cơ (thường vào ban đêm, khi tầm quan sát trên biển gần như bằng 0) để tấn công.

    Chiến lược này của Hải quân Đức đã phát huy tối đa tác dụng mang lại lợi thế rất lớn cho Đức trên nhiều mặt trận khác nhau.

    Trong suốt cuộc chiến hơn 5.150 tàu thuyền các loại bị đánh chìm, 21,57 triệu tấn hàng hóa bị mất mát. Riêng tàu ngầm lớp U đánh chìm 2.828 tàu thuyền các loại và 14,69 triệu tấn hàng hóa. Trong đó, lực lượng Đồng minh mất 178 tàu chiến, 6 tàu sân bay, 2 thiết giáp hạm.

    Thành công của lực lượng tàu ngầm thúc đẩy Đức ngưng chương trình đóng mới thiết giáp hạm lớp Bismarck và các tàu tuần dương để tập trung nguồn lực cho xây dựng hạm đội tàu ngầm. Trong suốt thời gian chiến tranh, có tất cả 1.158 tàu ngầm đã được đóng mới và đưa vào sử dụng. Khi đó, Hải quân Đức trở thành lực lượng có hạm đội tàu ngầm lớn nhất thế giới.

    Săn lùng và tấn công các tàu vận tải đã mang lại cho Đức nhiều lợi thế chiến lược trong nửa đầu thế chiến thứ II, trong ảnh một chiếc tàu quân sự của lực lượng Đồng minh qua kính tiềm vọng của tàu ngầm Đức.
    Cái giá của chiến thắng và sai lầm của Đức

    Cuộc tấn công của hạm đội tàu ngầm U nhắm vào con đường vận tải chiến lược của lực lượng Đồng minh gián tiếp gây ra những tổn thất nghiêm trọng cho cả sản xuất củng như cục diện trên chiến trường.

    Đến tháng 7/1943 thiệt hại của lực lượng Đồng minh đã vượt quá năng lực sản xuất. Thất bại này bộc lộ điểm yếu lớn trên con đường vận tải chiến lược cũng như công tác hộ tống.

    Để đối phó với chiến lược tàu ngầm của Hải quân Đức, Đồng minh dẫn đầu là Mỹ đã chi hàng trăm tỷ USD để xây dựng lực lượng chống ngầm và tăng cường đội tàu hộ tống cho các tàu vận tải. Đồng thời, tăng cường năng lực sản xuất để lấp đầy các khoảng trống trong vận tải do tổn thất từ các cuộc tấn công của tàu ngầm U.
    Nỗ lực này khiến cái giá mà người Đức phải trả cho chiến thắng này không rẻ chút nào. 785 tàu ngầm của Đức đã bị đánh chìm trong suốt thời gian diễn ra chiến tranh.

    Từ kẻ săn mồi tàu ngầm U trở thành con mồi trong nửa cuối thế chiến thứ II, trong ảnh một chiếc tàu ngầm U đang bị tấn công từ trên không.
    Việc chỉ tập trung vào phát triển hạm đội tàu ngầm mà không phát triển hạm đội tàu chiến mặt nước Đức cũng dẫn tới những thất bại chiến lược.

    Ban đầu, khi lực lượng Đồng minh chưa có biện pháp chống ngầm và bảo vệ các tàu vận tải hiệu quả nên chiến lược tàu ngầm của Đức đã phát huy tối đa tác dụng.
    Tuy nhiên, mọi việc đã thay đổi khi Đồng minh tập trung đầu tư phát triển các phương tiện chống ngầm. Điển hình là hệ thống định vị âm thanh ASDIC do Anh phát triển. Hệ thống này chuyển cho Mỹ và được đã phát triển thành các hệ thống sonar hiệu quả.

    Một sai lầm nữa của Hải quân Đức được ghi nhận là sử dụng các kênh liên lạc giữa tàu ngầm và máy bay trinh sát bằng máy mã hóa nổi tiếng Enigma. Người Đức không hay biết rằng, các thông tin liên lạc đã bị lực lượng Đồng minh hóa giải.

    Thông tin liên lạc bị lộ, tàu ngầm lại bị phát hiện dễ dàng bởi các hệ thống trinh sát hiệu quả, cùng với đó, không nhận được sự hỗ trợ của các hạm đội mặt nước nên lực lượng tàu ngầm bị hải quân của Đồng minh bao vây tiệu diệt. Tàu ngầm lớp U từ “kẻ săn mồi biến thành con mồi”.

    Tuy chiến lược tàu ngầm của Hải quân Đức thất bại, song vẫn không hề giảm đi tính thời sự. Tấn công tuyến đường vận tải chiến lược của đối phương bằng tàu ngầm với chiến thuật “bắn-chạy” (hit and run) tối ưu với hải quân các nước yếu.

    Quốc Việt

  13. #20
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,236
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Tàu ngầm trong chiến tranh (kỳ 3)



    Vận dụng khéo léo sự phối hợp giữa lực lượng tàu ngầm và tàu chiến mặt nước đã mang lại cho Hải quân Mỹ chiến thắng toàn cục trên biển.
    (ĐVO) Tàu ngầm trong chiến tranh (Kỳ 3): Chạm trán ở Thái Bình Dương


    Sử dụng tàu ngầm khôn ngoan
    Bước vào chiến tranh thế giới thứ 2, Hải quân Đế quốc Nhật được đánh giá là một trong những lực lượng hải quân hàng đầu thế giới lúc đó. Tiếng tăm của lực lượng này thậm chí càng trở nên lớn hơn sau sự kiện Trân Châu Cảng.
    Trước đó, không một quốc gia nào dám đối đầu và thách thức lực lượng hải quân hùng mạnh của Mỹ. Hải quân Nhật đã dám làm điều không ai dám: Giáng cho Mỹ một đòn chí mạng. Sự kiện Trân Châu Cảng được ghi nhận là tổn thất lớn nhất trong lịch sử Hải quân Mỹ.
    Tuy nhiên cũng chính nhờ sự kiện Trân Châu Cảng, nước Mỹ chính thức từ bỏ chủ nghĩa biệt lập sang can dự trên phạm vi toàn cầu và lực lượng hải quân nước này cũng chuyển hướng theo để đáp ứng yêu cầu chiến lược mới. Hệ thống vũ khí ngay lập tức có thể đáp trả Hải quân Nhật Bản chính là lực lượng tàu ngầm.

    Tuy không đông đảo như của Đức song chiến lược tàu ngầm của Mỹ là rất hợp lý và chiến thắng là điều tất yếu.

    Tuy không đông đảo như của Đức song chiến lược tàu ngầm của Mỹ là rất hợp lý và chiến thắng dường như là tất yếu. Khi đó, Tổng thống Mỹ Roosevelt đã quyết định “không hạn chế chiến tranh tàu ngầm”. Tuy nhiên, Hải quân Mỹ đã vận dụng một chiến lược hoàn toàn mới, họ sử dụng tàu ngầm như một lực lượng mũi nhọn chứ không coi đây là lực lượng tấn công chính như người Đức.
    Tàu ngầm có lợi thế là có thể tung ra đòn tấn công bất ngờ gây thiệt hại nặng cho đối phương, tuy nhiên, tàu ngầm có điểm yếu là gần như không có khả năng phòng vệ. Do đó, tàu ngầm chỉ sử dụng như một lực lượng đột kích cản trở, phá hoại hoặc gián tiếp phá hoại chiến lược của đối phương.
    Trong suốt chiến tranh thế giới thứ 2, Hải quân Mỹ chỉ có tổng cộng 288 tàu ngầm trên khắp các mặt trận song với chiến thuật khéo léo đã mang lại cho Mỹ chiến thắng toàn cục.
    Lực lượng tàu ngầm của Hải quân Mỹ được giao 2 nhiệm vụ, tấn công đội tàu vận tải cũng như hạm đội tàu chiến Nhật Bản khi có cơ hội. Trong cả hai nhiệm vụ, lực lượng tàu ngầm Mỹ đã khai thác tối đa thông tin rò rỉ trong hoạt động liên lạc giữa các tàu chiến của Nhật Bản để chọn thời điểm tấn công hợp lý nhất.

    Tuyến vận tải biển chiến lược của Nhật Bản quá đơn giản và quá dể bị tổn thương trước cuộc tấn công của tàu ngầm, trong ảnh một tàu vận tải của Nhật Bản bị chìm sau khi trúng ngư lôi của tàu ngầm Mỹ.

    Bên cạnh đó, Hải quân Mỹ đã vận dụng tốt học thuyết Mahanian trong chiến tranh hải quân, tức tăng cường sự phối hợp giữa lực lượng tàu ngầm và tàu tuần dương hạm để bảo vệ những lợi ích chiến lược từ xa. Trong chiến lược này, lực lượng tàu chiến mặt nước sẽ đóng vai trò chủ đạo trong việc bảo vệ cho tàu ngầm, các tàu ngầm không ở quá xa so với các tàu chiến mặt nước. Hạm đội tàu chiến của đối phương sẽ không có nhiều thời gian rãnh rỗi để truy sát tàu ngầm vì nó phải lo đối phó với lực lượng tàu chiến mặt nước của đối phương. Trong khi đó, các tàu ngầm U của Đức quá lẻ loi trên biển.
    Cắt nguồn sống của Nhật Bản
    Nhật Bản là quốc gia nghèo nàn về tài nguyên, 70% nguyên liệu cho sản xuất của đất nước xứ sở mặt trời mọc phải phụ thuộc vào nhập khẩu. Năng lực sản xuất của Nhật Bản phụ thuộc vào năng lực nhập khẩu. Đó chính là điểm yếu chết người của Nhật Bản bị Mỹ tăng cường khai thác.
    Mỹ đã thực hiện một chiến lược vô cùng "độc" và dồn Nhật Bản vào còn đường cùng, một mặt họ phong tỏa việc nhập khẩu nguyên liệu từ châu Âu buộc Nhật Bản phải tập trung vào việc nhập khẩu nguyên liệu từ khu vực châu Á mà cụ thể là Đông Nam Á, toàn bộ tàu vận tải biển của Nhật Bản chỉ có một con đường duy nhất để đưa nguyên liệu về nước qua eo biển Phillippines.

    Tàu ngầm Darter có tham gia vào trận chiến vịnh Leyet.
    Tuyến vận tải biển chiến lược của Nhật Bản quá đơn giản và quá dể bị tổn thương trước cuộc tấn công của tàu ngầm.
    Số phận của tuyến vận tải biển chiến lược này của Nhật Bản đã được quyết định sau trận chiến Vịnh Leyte, một trong những trận hải chiến lớn nhất lịch sử loài người. Thất bại tại trận chiến Leyte, số phận của Nhật Bản coi như đã được quyết định, vấn đề chỉ là thời gian.
    Từ khi Hải quân Mỹ gia tăng các hoạt động tấn công đội tàu vận tải năng lực sản xuất của nền kinh tế Nhật Bản cũng bắt đầu sụt giảm theo (*). Không thể bảo vệ được tuyến vận tải biển chiến lược, thất bại của Nhật Bản là điều không thể tránh khỏi. Cuối năm 1944, Nhật Bản tuyên bố “ Vận tải biển bị mất hoặc hư hỏng kể từ khi bắt đầu chiến tranh thế giới thứ 2 đã trở thành nguyên nhân chính dẫn đến sự nghèo đói của đất nước”
    Bên cạnh sự thiệt hại về nguyên liệu dành cho sản xuất, cuộc tấn công của tàu ngầm Mỹ vào đội tàu vận tải dầu Nhật Bản là nguyên nhân thứ 2 trong việc tiêu diệt năng lực quân sự nước này.
    Nhập khẩu dầu thô của Nhật Bản giảm từ 1,75 triệu thùng/tháng trong tháng 8/1943 xuống còn 360.000 thúng/tháng vào tháng 7/1944, đến tháng 10/1944 nhập khẩu còn sụt giảm nhiều hơn do các thất bại trên khắp chiến trường Phillippines. Kể từ tháng 9/1943 tỷ lệ dầu thô vận chuyển thành công từ các vùng biển phía Nam đến Nhật Bản không bao giờ vượt quá 28%, thậm chí trong 15 tháng cuối cùng của chiến tranh con số này không vượt quá 9%. Trong khi đó, Hải quân Nhật Bản yêu cầu đến 1,6 triệu thùng/tháng để hoạt động, Hải quân Nhật Bản trở nên tuyệt vọng trước chiến lược Guerre (chiến lược tấn công thương thuyền được khởi xướng từ thế kỷ 19) của Hải quân Mỹ.
    Những thiệt hại liên tiếp trong vận tải biển khiển Hải quân Nhật Bản lâm vào khủng hoảng và họ không tìm ra được phương án nào để bảo vệ cho tuyến đường vận tải biển chiến lược. Thậm chí, Nhật Bản trở nên túng quẩn khi sử dụng thiết giáp hạm để chuyển dầu thô về nước trong khi nhiệm vụ của nó là phải ngăn chặn tàu chiến đối phương tấn công vào tuyến đường vận tải biển.
    Trong những cuộc chạm trán trên Thái Bình Dương, lực lượng tàu ngầm Mỹ đã đánh chìm 8 tàu sân bay, 1 thiết giáp hạm, 11 tàu tuần dương của Hải quân Nhật Bản. Trong số 288 tàu ngầm Mỹ trên khắp các mặt trận 52 chiếc bị đánh chìm, trong đó có tới 48 chiếc bị đánh chìm ở Thái Bình Dương, thủy thủ tàu ngầm Mỹ phải chịu tỷ lệ tổn thất cao nhất trong quân đội Mỹ với 22% thiệt mạng.
    Trong thiệt hại tổng thể của Hải quân Nhật Bản có đến 30% thiệt hại do tàu ngầm Mỹ gây ra, lực lượng tàu ngầm Mỹ đã đóng vai trò quan trọng trong việc làm suy yếu năng lực tác chiến của Hải quân Nhật Bản. Những thiệt hại trước các cuộc tấn công của tàu ngầm đã làm tăng quá trình sửa chữa tại các nhà máy đóng tàu quân sự Nhật Bản, điều này triệt tiêu cơ hội đóng mới các tàu chiến.
    Trong năm 1943, Hải quân Nhật Bản chỉ dành 12% ngân sách cho công tác sửa chữa, tuy nhiên con số này tăng lên đến 34% vào năm 1945. Ngoài ra, việc tăng cường đóng mới các tàu vận tải thay thế cho các tàu bị đánh chìm dẫn đến giảm khả năng đóng mới tàu chiến.
    Vào năm 1942 các nhà máy đóng tàu tư nhân tham gia vào đóng tàu quân sự chiếm đến 44%, tuy nhiên con số này giảm xuống chỉ còn 30% vào năm 1943. Bên cạnh đó, việc buộc phải tăng cường đóng mới tàu hộ tống đã làm giảm quỹ thời gian và ngân sách để đóng mới các tàu chiến mạnh mẽ hơn.
    Đến năm 1944, các nhà máy đóng tàu Nhật Bản gần như không còn thép để đóng mới tàu chiến và tàu vận tải các loại. Năng lực sản xuất gần như bằng 0 vì không có nguyên liệu trong khi đó Nhật Bản không có tuyến vận tải nào khác để bù đắp ngoài vận tải biển thất bại của Nhật Bản là điều khó tránh khỏi.
    Cũng sử dụng chiến lược tấn công tuyến vận tải biển như chiến lược mà Đức đã sử dụng trong nữa đầu chiến tranh thế giới thứ 2 song với chiến lược và chiến thuật hợp lý không phụ thuộc quá nhiều vào tàu ngầm, Hải quân Mỹ đã giành được chiến thắng tối đa với thiệt hại tối thiểu.

    Năng lực nhập khẩu của Nhật Bản vào năm 1941 đạt con số 20 triệu tấn/năm con số này đã giúp cho Nhật Bản xây dựng được nền công nghiệp quân sự và dân sự hùng mạnh. Tới năm 1944, sản lượng nhập khẩu giảm xuống chỉ còn 10 triệu tấn/năm. Thậm chí, trong 6 tháng đầu năm 1945, sản lượng nhập khẩu chỉ đạt 2,7 triệu tấn.

    Không thể bảo vệ được tuyến vận tải biển chiến lược, thất bại của Nhật Bản là điều không thể tránh khỏi.

    Nhập khẩu Bauxite giảm đến 88% giữa mùa hè năm 1944, đến năm 1945 nhập khẩu phôi thép giảm đến 89%, bột giấy 90%, nguyên liệu bông và len 91%, chất béo và dầu 92%, quặng sắt 95%, xi măng 96%, gỗ 98%, thức ăn gia súc 99%.
    Việc sụt giảm nghiêm trọng năng lực nhập khẩu đã ảnh hưởng đến các vấn đề về lương thực trong nước. Các báo cáo ghi nhận trong năm 1944 lượng calo giảm 12% so với yêu cầu tối thiểu dành cho dân số phi nông nghiệp.
    Quốc Việt

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •