CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 10 của 10 Đầu tiênĐầu tiên ... 8910
Kết quả 91 đến 95 của 95

Chủ đề: Hồ sơ Tư liệu

  1. #91
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,230
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Toàn cảnh mặt trận biên giới Vị Xuyên 1984-1989

    Rạng sáng 12/7/1984, trên cả ba hướng, các đơn vị đồng loạt nổ súng tiến công nhưng trận đánh không thành công. Sau đó, BTL Quân khu 2 dùng Sư 313 và 356 mở chiến dịch giành lại điểm cao 685, 300-400
    Ngày 26/3/1984, trong khi Quân tình nguyện Việt Nam cùng lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia bắt đầu đợt hoạt động lớn truy quét tàn quân Khmer Đỏ thì ở khu vực biên giới Việt-Trung, Trung Quốc cũng ráo riết chuẩn bị cho chiến dịch tiến công lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam. Trên tuyến biên giới thuộc tỉnh Hà Tuyên (nay là Hà Giang), Trung Quốc tập trung 4 sư đoàn bộ binh và 1 sư đoàn pháo binh của Đại quân khu Côn Minh trên thê đội một, áp sát hướng Vị Xuyên-Yên Minh.
    Từ 2/4 đến 27/4/1984, Trung Quốc tiến hành một đợt bắn phá lớn trên toàn tuyến 6 tỉnh biên giới với trên 28.000 viên đạn pháo. Riêng Hà Giang phải chịu hơn 11.000 viên đạn pháo, ngay cả thị xã Hà Giang nằm sâu trong nội địa 18km cũng bị bắn phá.
    5 giờ sáng ngày 28/4/1984, trên hướng Vị Xuyên quân Trung Quốc được 12.000 viên đạn pháo chi viện tấn công vào các trận địa phòng ngự của ta ở phía tây sông Lô. Do tương quan lực lượng chênh lệch, đến hết ngày 30/4/1984, Trung Quốc chiếm được các điểm tựa 1509, 772, 685, bình độ 300-400, 226, 233. Trung đoàn 122 Sư đoàn 313 của ta bị tổn thất, phải lùi xuống các vị trí thấp hơn để tiếp tục chiến đấu.
    Ngày 30/4/1985, trên hướng Yên Minh, quân Trung Quốc đánh chiếm điểm tựa 1250 (Núi Bạc) do Tiểu đoàn 3 huyện Yên Minh bảo vệ.
    Ngày 15/5/1984, trên hướng Vị Xuyên quân Trung Quốc tiếp tục mở một đợt tấn công ở phía đông sông Lô, chiếm khu vực Pa Hán, điểm tựa 1030 do Trung đoàn 266 Sư đoàn 313 bảo vệ.
    Như vậy, từ 28/4 đến 16/5/1984, Trung Quốc đã lần lượt đánh chiếm và tổ chức chốt giữ phòng ngự, chiếm đóng trái phép nhiều vị trí trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm khu vực 1509, 772, 685, 233, 226 (Trung Quốc gọi là Lão Sơn), 1030 (Trung Quốc gọi là Đông Sơn) thuộc huyện Vị Xuyên và 1250 (Trung Quốc gọi là Giả Âm Sơn) thuộc huyện Yên Minh. Trên hướng Vị Xuyên, đối phương bố trí 1 sư đoàn trên tuyến một, 2 sư đoàn phía sau; hướng Yên Minh 1 trung đoàn phía trước, 2 trung đoàn phía sau.
    Trước tình hình trên, ngày 20-5/1984, Bộ tư lệnh Quân khu 2 của ta quyết định nhanh chóng xây dựng trận địa, củng cố lại các đơn vị, kiên quyết chiến đấu ngăn chặn địch đồng thời từng bước tổ chức đánh lấy lại các điểm cao bị chiếm đóng.
    Ngày 11/6/1984, quân ta tổ chức đánh địch ở 233 và 685 nhưng chưa giành lại được các vị trí này.
    Tháng 6/1984, Quân khu 2 được giao nhiệm vụ tiến hành tiêu diệt một số vị trí bị chiếm đóng, tiến tới khôi phục các điểm tựa ở Vị Xuyên và Yên Minh. Bộ tư lệnh mặt trận quyết định sử dụng 3 trung đoàn bộ binh trong các đơn vị mới lên tăng cường, được sự chi viện của đặc công và pháo binh tham gia chiến đấu trong chiến dịch mang tên MB84. Ở phía đông sông Lô, Trung đoàn 876 Sư đoàn 356 đảm nhiệm tiến công điểm tựa 772, Trung đoàn 174 Sư đoàn 316 tiến công bình độ 300-400, ở phía tây Trung đoàn 141 Sư đoàn 312 tiến công điểm tựa 1030.
    Rạng sáng 12/7/1984, trên cả ba hướng các đơn vị đồng loạt nổ súng tiến công. Tuy nhiên “do công tác chuẩn bị chưa chu đáo, nắm tình hình và đánh giá đối phương chưa đúng, quyết tâm và cách đánh chưa phù hợp, biểu hiện sự nóng vội trong chỉ đạo, chỉ huy” nên trận chiến đấu không thành công. Cả ba trung đoàn đều bị tổn thất lớn, hàng trăm cán bộ chiến sĩ anh dũng hy sinh, có cả cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn. Chiều 12/7. Bộ tư lệnh mặt trận phải cho các đơn vị chuyển sang phòng ngự.
    Rút kinh nghiệm MB84, Quân khu 2 quyết định dùng Sư đoàn 313 và 356 mở chiến dịch vây lấn nhằm giành lại điểm cao 685 và 300-400 với cách đánh mới “sử dụng bộ binh, kết hợp đặc công, có hoả lực pháo binh chi viện mạnh, từng bước bao vây, chia cắt lấn sát”. Lần này các đơn vị có 4 tháng để chuẩn bị.
    Ngày 18/11/1984, pháo binh ta bắt đầu bắn phá hoại vào các điểm tựa bị chiếm đóng ở 685 và 300-400. Sau 5 ngày đêm, Trung đoàn 14 Sư đoàn 313 bắt đầu tổ chức đánh lấn 300-400, Trung đoàn 153 Sư đoàn 356 được tăng cường một tiểu đoàn đặc công tiến hành vây lấn 685. Sau hai tháng liên tục chiến đấu (từ tháng 11/1984 đến tháng 1/1985), mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, các đơn vị của ta đã chiếm lại một số chốt, hình thành thế phòng ngự xen kẽ, bám sát, ngăn chặn địch ở ở đồi Chuối, đồi Cô Ích, đồi Đài, A4, A21, khu Cót Ép, khu C và một phần khu E của điểm cao 685, có những nơi chỉ cách địch 15-20m, cá biệt có nơi 6-8m (chốt Bốn hầm). Ở đây cuộc chiến đấu giành giật từng thước đất, từng mỏm đá đã diễn ra rất quyết liệt. Các chốt ở Bốn hầm, đồi Cô Ích hay điểm tựa 685 hai bên liên tục thay nhau phản kích, giành đi giật lại tới 30-40 lần.
    Từ ngày 27/5 đến 30-5/1985, sau khi thay quân, Trung Quốc mở một đợt tiến công lớn vào các điểm tựa của ta ở đồi Đài, đồi Cô Ích, bình độ 1100 ở phía tây sông Lô nhưng bị ta đẩy lui. Ngay sau đó, ngày 31/5/1985 quân ta tổ chức đánh chiếm và chốt giữ lại điểm tựa A6B, sau đó đánh bại 21 đợt phản kích của địch trong 13 ngày, giữ vững vị trí này cho đến khi chiến tranh kết thúc.
    Từ ngày 23 đến 25/9/1985, Trung Quốc mở một đợt tấn công vào các điểm tựa của ta từ đồi Tròn, lũng 840, Pa Hán (đông sông Lô) đến đồi Cô Ích, bình độ 1100 (tây sông Lô). Trừ Pa Hán bị chiếm và ta phản kích lấy lại sau 1 ngày, các trận địa khác đều được giữ vững.
    Trong tháng 10 và tháng 11/1986, sau khi thay quân, phía Trung Quốc mở thêm nhiều đợt tiến công lấn chiếm nhằm đẩy quân ta khỏi khu vực bờ bắc suối Thanh Thủy nhưng đều thất bại.
    Từ ngày 5 đến 7/1/1987, Trung Quốc sử dụng lực lượng cấp sư đoàn được pháo binh chi viện mở chiến dịch nhằm vào 13 điểm tựa của ta ở cả đông và tây sông Lô mà mục tiêu chủ yếu là đồi Đài và đồi Cô Ích. Mặc dù đối phương bắn tới trên 100.000 quả đạn pháo trong 3 ngày để chi viện bộ binh liên tục tiến công (có ngày tới 7 lần) nhưng đều bị bộ binh và pháo binh ta ngăn chặn ngay trước trận địa.
    Từ sau thất bại này, phía Trung Quốc giảm dần các hoạt động tấn công lấn chiếm. Từ cuối tháng 12/1988, Trung Quốc bắt đầu ngừng bắn phá và từ tháng 3 đến tháng 9/1989 lần lượt rút quân khỏi các vị trí chiếm đóng còn lại trên lãnh thổ Việt Nam.
    Theo tổng kết, trong 5 năm chiến đấu bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trên mặt trận Vị Xuyên-Yên Minh, các lực lượng vũ trang Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn quân địch, phá hủy 200 khẩu pháo cối, 170 xe vận tải và nhiều kho tàng, trận địa… bắt sống 325 tù binh (bắt 6 tên trong chiến đấu và 319 tên thám báo, trinh sát đột nhập), thu nhiều vũ khí, trang bị…
    Trong thời gian 1984-1989, phía Việt Nam đã nhiều lần thay phiên các đơn vị lên chiến đấu ở mặt trận Vị Xuyên-Yên Minh:
    - Quân khu 1 có Trung đoàn 2 Sư đoàn 3 Quân đoàn 14 (mang phiên hiệu E981/F356) và Trung đoàn 567 Sư đoàn 322 Quân đoàn 26 (mang phiên hiệu E982/F313).
    - Quân khu 2 có các sư đoàn bộ binh 313, 314, 316, 356, các trung đoàn 247 (Hà Tuyên), 754 (Sơn La) cùng các đơn vị pháo binh, xe tăng, đặc công, công binh, thông tin, vận tải của quân khu.
    - Đặc khu Quảng Ninh có Trung đoàn 568 Sư đoàn 328 (mang phiên hiệu E983).
    - Các đơn vị chủ lực Bộ có Sư đoàn 312 Quân đoàn 1, Sư đoàn 325 Quân đoàn 2, Sư đoàn 31 Quân đoàn 3.Ngoài ra nhiều đơn vị nhỏ cấp đại đội, tiểu đoàn cũng được điều động lên tham gia trực tiếp hoặc hỗ trợ chiến đấu trong từng giai đoạn ngắn.Ở phía tây sông Lô từ đầu năm 1984 đến tháng 12/1985: Sư đoàn 313 và 356; Tháng 5/1985: Sư đoàn 313; Tháng 12/1985: Sư đoàn 31; Tháng 6/1986: Sư đoàn 313; Tháng 2/1987: Sư đoàn 356; Tháng 8/1987: Sư đoàn 312; Tháng 1/1988: Sư đoàn 325; Tháng 9/1988: Sư đoàn 316; Tháng 5/1989: Sư đoàn 313.Ở phía đông sông Lô từ đầu năm 1984: Trung đoàn 266 Sư đoàn 313; Tháng 7/1984: Trung đoàn 141 Sư đoàn 312; Tháng 4/1985: Trung đoàn 983; Tháng 11/1985: Trung đoàn 818 Sư đoàn 314; Tháng 2/1987: Trung đoàn 881 Sư đoàn 314; Tháng 9/1987: Trung đoàn 818 Sư đoàn 314 và Trung đoàn 754 Sơn La; Tháng 6/1988: Trung đoàn 726 Sư đoàn 314; Tháng 10/1988: Trung đoàn 247 Hà Tuyên.
    Về phía Trung Quốc, theo các tài liệu được công bố trên mạng, đã có 17 sư đoàn bộ binh và 5 sư đoàn, lữ đoàn pháo binh thuộc các Đại quân khu Côn Minh, Nam Kinh, Phúc Châu, Tế Nam, Lan Châu, Nam Kinh và Thành Đô lần lượt được huy động vào chiến dịch lấn chiếm biên giới từ 1984/1989.Trong giai đoạn này, Trung Quốc đã bắn vào lãnh thổ Việt Nam thuộc tỉnh Hà Tuyên (mà chủ yếu là Vị Xuyên-Yên Minh) hơn 1,8 triệu quả đạn pháo cối, ngày cao điểm nhất hơn 60.000 quả.

    (Bài viết tổng hợp theo lịch sử một số đơn vị và lời kể của các cựu chiến binh)
    Trường Sơn

    No Avatar

    Lục Vân Tiên

     19:27, 2nd Aug 2014 #24349 

    gặp sư 308 vá sư 304 thì khựa có mà vỡ mồm sớm



  2. #92
    Ngày tham gia
    23-09-2013
    Bài viết
    115
    Thích
    23
    Đã được thích 91 lần trong 65 bài viết
    Bí ẩn lớn nhất trong 'di chiếu' của Mao Trạch Đông

    Đăng Bởi Một Thế Giới - 08:00 23-07-2014

    Giang Thanh tại “phiên tòa thế kỷ” (ảnh tư liệu Internet)

    Tại “phiên tòa thế kỷ” (tháng 11.1980), hơn 850 người ngồi ở ghế dự thính đã vỗ tay tán thưởng khi Giang Thanh bất ngờ tiết lộ thêm 6 chữ trong “mật chiếu” của Mao Trạch Đông viết cho Hoa Quốc Phong trước ngày qua đời...
    Giang Thanh giữ thái độ cứng cỏi, một mực phủ nhận tội trạng của mình, có lúc dám cương giọng hô khẩu hiệu “đặc sản” của thời cách mạng văn hóa trước tòa làm mọi người bất bình. Khi bị vạch tội cướp quyền và công kích Hoa Quốc Phong, Giang Thanh lớn tiếng phản bác: - “Tôi muốn cho các vị biết một việc, câu “đồng chí làm việc tôi yên tâm” Mao Chủ tịch viết cho Hoa Quốc Phong tối hôm đó không phải là toàn bộ nội dung Mao viết cho Hoa, ít nhất còn thiếu 6 chữ “có vấn đề, hỏi Giang Thanh”. Mấy câu trên của Giang khiến phiên tòa đại loạn. Giang cười nhạt: - Ta bất chấp phép nước, đạo trời ư? Trong những hồi chuông dồn dập, Giang một lần nữa bị lôi ra khỏi phòng xử án, nhưng trên những hàng ghế dự thính, mọi người vỗ tay rầm rộ, đây là những lời khen chân tình, bởi Giang Thanh đã vạch ra một sự thật quan trọng nhất: Người kế tục mà Mao chỉ định là Giang, chứ không phải là Hoa Quốc Phong. Hoa chỉ là viên cận thần có việc cần thỉnh thị Nữ hoàng. Hoa làm việc Mao yên tâm, nhưng không phải Hoa muốn làm gì thì làm, mà phải thỉnh thị Giang, làm theo chỉ thị của Giang” - theo Tân Tử Lăng. Sáu chữ trong mật chiếu của Mao “có vấn đề - hỏi Giang Thanh” mặc nhiên đặt vị trí Giang Thanh lên trên Hoa Quốc Phong (Thủ tướng - Phó Chủ tịch đảng thứ nhất). Sớm biết vị trí đó, khi Mao nằm trên giường bệnh, Giang Thanh đã dám đứng lên công khai phê bình Hoa Quốc Phong tại Hội nghị công tác kế hoạch toàn quốc ngày 1.8.1976.
    Các tuần lễ tiếp đó, Giang Thanh ôm “giấc mộng Nữ hoàng” của mình đi diễn giảng khắp nơi. Hồi ký của vệ sĩ Trần Trường Giang nhắc chuyện Giang Thanh đến Đại học Thanh Hoa, Đại học Bắc Kinh, nhà máy in Tân Hoa với “danh nghĩa thị sát”để “kích động phản cách mạng, nhằm mở rộng tầm ảnh hưởng” (28.8), đến thăm liên đội anh hùng ở quân khu Tế Nam để “cổ xúy cho “chủ nghĩa đại nữ tử” không bắt tay với đàn ông, và còn nói: “Chủ tịch không còn nữa, tôi sẽ trở thành quả nhân”.
    Trong từ vựng của tiếng Trung, từ “quả nhân” có hàm nghĩa đặc biệt, đây là cách xưng hô của các vị vua. Bà Giang Thanh nói ra những lời này tại thời điểm đó (lúc Mao Trạch Đông sắp mất), tại địa điểm đó (quân khu Tế Nam) không phải là ngẫu nhiên hay vô ý, mà đã ngang nhiên bộc lộ tham vọng quyền lực của mình” qua cách “chơi chữ” hai mặt (30.8 ). Lúc Mao Trạch Đông rơi vào hôn mê sâu (8.9), Giang Thanh “lấy lý do giúp Mao Chủ tịch trở mình” để lật người Mao trên giường bệnh dò soát lần cuối xem còn sót di thư nào không và “tìm chìa khóa tủ tài liệu của Mao Chủ tịch” - nửa khuya hôm ấy Mao qua đời.
    Đã có chuyện một số tỉnh “đua nhau gửi thư ủng hộ Giang Thanh làm chủ tịch đảng”. Sau này ban chuyên án cũng thu bản danh sách lãnh đạo trung ương theo dự kiến của Giang Thanh: Chủ tịch đảng: Giang Thanh. Phó Chủ tịch đảng : Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên, Tôn Ngọc Quốc, Mao Viễn Tân. Thường vụ Bộ Chính trị: ngoài sáu người trên, thêm: Tạ Tĩnh Nghi, Trương Thu Kiều, Vương Tú Trân. Chủ tịch Quốc hội: Vương Hồng Văn. Thủ tướng: Trương Xuân Kiều”. Danh sách trên gạt hẳn Hoa Quốc Phong ra ngoài. Ý đồ của Mao là đưa “Giang Thanh lên nắm quyền”, sau đó Giang Thanh sẽ “truyền ngôi” lại cháu ruột của Mao là Mao Viễn Tân. Về Mao Viễn Tân, tài liệu Tân Tử Lăng ghi: “Trước khi vào Trung Nam Hải, Mao Viễn Tân là Bí thư Tỉnh ủy Liêu Ninh, Chính ủy Đại quân khu Thẩm Dương. Từ 10.10.1975, Mao Viễn Tân được cử làm “liên lạc viên” cho Mao. Bộ chính trị họp, Mao Viễn Tân ngồi trên ghế Chủ tịch truyền đạt “khẩu dụ” của Mao. Y coi các ủy viên Bộ chính trị như cấp dưới, đã có lần y nói: “Tôi thuận miệng nói vài câu, đủ để bọn họ học tập mấy tháng ròng”. Điều bí ẩn lớn nhất nằm ở mục đích cuối cùng của Mao được che đậy khéo léo để mọi người không dễ nhận biết, đó là: “khoác chiếc áo lý luận hiện đại nhất, cách mạng nhất” đẩy nước Trung Hoa trở lại thời vua chúa, thiết lập trật tự của “chủ nghĩa xã hội phong kiến” - để làm gì? Tân Tử Lăng giải đáp từ “gốc rễ” của vấn nạn: “Thông qua Đại cách mạng văn hóa, Mao hầu như đã trị hết các công thần danh tướng. Mười năm tai họa, các nhân vật trên vũ đài chính trị lớp này đến lớp khác như chạy tiếp sức trên một vòng cung lớn nhằm chuyển chiếc gậy “đại vương” đến tay Giang Thanh, để Giang kịp thời kế vị lúc Mao nhắm mắt xuôi tay. Âm mưu gia đình trị của Mao bị phơi trần đã làm nát vụn những phỏng đoán của các nhà trí thức lương thiện về động cơ “cao thượng” của cuộc Đại cách mạng văn hóa do Mao phát động. Nếu không có sai lầm của ba năm Đại tiến vọt, chưa chắc Mao phải dùng đến hạ sách này. Mao truyền ngôi cho Giang Thanh có phần bất đắc dĩ. Mao không tin vào ngàn đời vạn thế, mà tính toán chỉ cần hai thế hệ (Giang Thanh và Mao Viễn Tân) là đủ thời gian hoàn toàn viết lại lịch sử”, chối phắt trách nhiệm làm 37,55 triệu người chết đói- lịch sử xưa nay đều do kẻ thắng viết nên”

  3. #93
    Ngày tham gia
    23-09-2013
    Bài viết
    115
    Thích
    23
    Đã được thích 91 lần trong 65 bài viết
    Sự thật về cái gọi là “sự kiện vịnh Bắc Bộ”

    Nhằm lấy cớ đưa không quân, hải quân ra ném bom miền Bắc Việt Nam, chính quyền Mỹ đã bịa ra cái gọi là "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ". Vậy sự thật là gì?



    Chiến thắng trận đầu ngày 2 và 5/8/1964 của Hải quân nhân dân Việt Nam đã đi qua cách đây 49 năm, nhưng một câu hỏi lớn vẫn đặt ra cho nhiều người. Tại sao Mỹ gây ra "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ"? Tại sao lực lượng Hải quân Việt Nam nhỏ bé, trang bị kém hiện đại lại dám đương đầu với Không quân, Hải quân của Mỹ mà không bị xoá sổ trong một trận đánh…? Đi tìm câu trả lời, chúng tôi đã gặp Đại tá Trịnh Tuần, Nguyên Chủ nhiệm Chính trị Hải quân, ông đã lí giải một cách cặn kẽ, giúp chúng tôi hiểu thêm phần nào.
    Chúng tôi gặp Đại tá Trịnh Tuần, Nguyên Chủ nhiệm Chính trị Hải quân vào ngày cuối tháng 7, tại thành phố Cảng Hải Phòng. Vừa trải qua đợt điều trị nên sức khỏe của ông còn khá yếu. Theo bà Tuần (vợ ông) thì hôm nay là ngày ông khỏe nhất, chứ mấy hôm trước, ông nằm bẹp, chẳng thiết ăn uống gì.
    Ông bảo: Hải quân Việt Nam đang mạnh lên, đó là niềm tự hào không chỉ riêng đối với người giữ biển mà với cả dân tộc ta. Dù tuổi cao, sức yếu, nhưng ông luôn theo dõi sự trưởng thành của một Quân chủng mà cuộc đời ông đã dành trọn tâm huyết, trách nhiệm để cống hiến. Khi chúng tôi gợi ý, muốn tìm hiểu về cái gọi là "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ", giọng ông trở nên hào sảng:
    Vào đầu những năm 1960, chiến lược chiến tranh đặc biệt mà Đế quốc Mỹ áp dụng ở miền Nam Việt Nam đều bị phá sản. Tổng thống Mỹ và Hội đồng an ninh quốc gia đã họp và quyết định chủ trương chiến lược mới: "Gây sức ép tối đa và liên tục bằng cách đưa quân đội vào để Mỹ hoá cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam; khẩn trương chuẩn bị đưa chiến tranh phá hoại bằng Không quân và Hải quân ra miền Bắc Việt Nam".
    Để thực hiện mưu đồ đó, Mỹ cần tranh thủ được sự đồng tình của Hạ viện, tránh được dư luận phản đối, trước hết là nhân dân Mỹ. Nhà Trắng và Lầu Năm góc phải tạo ra màn kịch "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ" với những mập mờ và dối trá rằng: Chiều ngày 4/8/1964, các tàu phóng lôi của Hải quân Việt Nam đã vô cớ tấn công tàu khu trục của Mỹ trên vùng biển quốc tế!?
    Biên đội tàu phóng lôi của Hải quân Nhân dân Việt Nam đánh đuổi tàu Maddox.

    Sự thật là: Sự đụng độ chiều 2/8/1964 diễn ra khi tàu khu trục Maddox đã ngang nhiên vi phạm có hệ thống lãnh hải Việt Nam từ Đèo Ngang (Quảng Bình) ra Hòn Nẹ (Thanh Hoá). Hành động đó liên tục bị Hải quân Việt Nam theo dõi và giám sát chặt chẽ, có lúc tàu Maddox vào sâu tới 6 hải lý và đã bị các tàu phóng lôi của Việt Nam đánh đuổi tại khu vực đông Hòn Nẹ trong lãnh hải Việt Nam. Điều này được dư luận nhiều nước, có cả dư luận Mỹ thừa nhận và kịch liệt lên án hành động xâm phạm trắng trợn đó.
    Nếu chỉ vin vào cớ mà sự dối trá đã bị phơi bày để đánh phá miền Bắc Việt Nam thì chưa đủ sức thuyết phục, nên Mỹ phải dựng thêm sự kiện khác rằng: "Đêm 4/8/1964, các tàu phóng lôi của Hải quân Việt Nam một lần nữa lại vô cớ tấn công khu trục Maddox và Tơ-nơ-gioi của Mỹ đang hoạt động bình thường trên vùng biển quốc tế?!". Đây lại là sự bịa đặt còn trắng trợn hơn nữa, bởi hôm đó thời tiết rất xấu, hoàn toàn không có một tàu phóng lôi hoặc tàu chiến đấu nào của Việt Nam hoạt động trong khu vực mà Mỹ rêu rao.
    Thế nhưng, bất chấp dư luận và lẽ phải, Mỹ vẫn vin vào cớ đó để tiến hành chiến dịch "Mũi tên xuyên" mở đầu bằng trận đánh ngày 5/8/1964. Đế quốc Mỹ đã sử dụng lực lượng của 2 biên đội tàu sân bay Constellation và Ticonderoga gồm 40 máy bay cánh quạt và phản lực hiện đại, cả tiêm kích và cường kích như AD6, A4D, F8U, F4H…bất ngờ mở cuộc tấn công đánh phá vào hầu hết các Căn cứ Hải quân của ta trên suốt dải ven biển miền Bắc từ Bãi Cháy (Quảng Ninh), Lạch Trường (Thanh Hoá), Cửa Hội, Vinh - Bến Thuỷ (Nghệ An) đến Cảng Sông Gianh (Quảng Bình) hòng tiêu diệt lực lượng Hải quân ta trong ngày 5/8/1964 và mở đầu cho cuộc chiến tranh phá hoại quy mô lớn đối với miền Bắc nước ta.
    Trên tất cả các khu vực bị tấn công, các tàu của Hải quân Việt Nam và lực lượng chiến đấu bảo vệ căn cứ đều đánh trả quyết liệt. Dựa vào trận địa phòng thủ và sức mạnh của chiến tranh nhân dân, sự phối hợp phòng không của ba thứ quân, trong đó các trận địa pháo của bộ đội phòng không và dân quân tự vệ biển phối hợp rất chặt chẽ và đắc lực. Các tàu của hải quân đã chiến đấu rất dũng cảm, phát huy được cao độ trí thông minh sáng tạo và kỹ năng chiến đấu, vừa cơ động phòng tránh vừa đánh trả địch có hiệu quả và hạn chế được tổn thất.
    Đại tá Trịnh Tuần, Nguyên Chủ nhiệm Chính trị Hải quân.

    Về phía hải quân ta có một số cán bộ, chiến sĩ hy sinh, trong đó có phân đội trưởng, thuyền trưởng và một số đồng chí khác bị thương, có 3 tàu tuần tiễu bị thương nặng, vài tàu bị thương nhẹ có thể khôi phục được sau chiến đấu.
    Về phía địch, mặc dù chiếm ưu thế hoả lực và cơ động, lại làm chủ trên không, nhưng chúng đã vấp phải một đối tượng rắn chắc, có tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao, ý chí chiến kiên cường, trên những trận địa được chuẩn bị sẵn… nên đã chuốc lấy những thất bại nặng nề: 8 máy bay bị bắn rơi tại chỗ, nhiều chiếc khác bị thương, tên phi công Mỹ Anvarét bị bắt sống ngay trên Vịnh Hạ Long.
    Chiến dịch "Mũi tên xuyên" với những tham vọng to lớn đã bị bẻ gãy ngay từ trận đánh đầu tiên. Lực lượng tàu chiến đấu của Hải quân Việt Nam chẳng những đã không bị tiêu diệt trong một trận đánh, mà còn giáng cho không quân Mỹ những đòn nặng nề.
    Cùng với trận đánh đuổi tàu Maddox ngày 2/8, trận ngày 5/8/1964 là trận đánh thắng đầu tiên đã ghi vào lịch sử của Hải quân Việt Nam, đồng thời là ngày truyền thống đánh thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam và quân dân miền Bắc.
    49 năm đã đi qua, hôm nay một lần nữa chúng ta lại khẳng định rằng: "Mọi bịp bợm và dối trá không thể che đậy được sự thật hiển nhiên". Trận đánh ngày 2/8 và 5/8/1964 đã diễn ra như vậy. Phần thắng đã thuộc về quân và dân miền Bắc Việt Nam trong đó có Hải quân nhân dân Việt Nam.
    Nghe ông kể, chúng tôi khâm phục về những lí giải có đủ luận cứ, luận chứng về cái gọi là “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” mà Mỹ đã cố tình tạo ra, nhằm che đậy bản chất xấu xa, cũng như tội ác của chúng. Rõ ràng, trước hành động ngang ngược của kẻ thù, quân dân miền Bắc và Hải quân nhân dân Việt Nam đã dám đánh, biết đánh, và quyết đánh thắng kẻ thù xâm lược, bảo vệ bằng được vùng trời, vùng biển thân yêu của Tổ quốc.


    Theo Quân đội Nhân dân

  4. #94
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,230
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Quan hệ quân sự Việt-Xô trong kháng chiến chống MỹTiết lộ về đoàn tàu tuyệt mật đưa "rồng lửa" SA-75M về Hà Nội


    Tình báo Mỹ không hề hay biết các tên lửa SA-75M từ Liên Xô đã được vận chuyển về VN. Mãi tới sau này, khi chiếc máy bay hiện đại nhất của Mỹ bị bắn rơi, Tổng thống Mỹ Johnson phải thốt lên: “Chúng ta đã thua Hà Nội keo thứ nhất”.

    "B-52 tan xác cháy sáng bầu trời, hào khí Thăng Long ánh lên ngời ngời. Rồng ta lao vút tới, vây bắt lũ hung thần khát máu...". Hình ảnh "rồng lửa" SA-75M đã gắn liền với chiến thắng oanh liệt của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
    Trong những năm tháng ác liệt đó, các tổ hợp tên lửa phòng không SA-75M, cùng với những cánh "én bạc" MiG-21 của Liên Xô đã góp công lớn trong việc bảo vệ bầu trời Việt Nam.
    Để hiểu thêm về sự giúp đỡ quý báu của Liên Xô đối với Việt Nam, xin giới thiệu tới quý độc giả loạt bài "QUAN HỆ QUÂN SỰ VIỆT-XÔ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ".

    Sau một hàng loạt hành động khiêu khích, phá hoại mà đỉnh điểm là việc dàn dựng sự kiện Vịnh Bắc Bộ lấy cớ cho việc tăng cường và mở rộng chiến tranh, từ đầu năm 1965, Mỹ huy động không quân, hải quân mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam. Để ủng hộ ta đánh Mỹ bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, Matxcơva quyết định viện trợ quân sự cho Hà Nội.
    Tờ Quân đội nhân dân dẫn tài liệu trích từ đề tài nghiên cứu của các tác giả ở Viện lịch sử Quân sự cho hay từ năm 1955-1975, Liên Xô đã chi viện cho ta 647 bộ điều khiển, 1.357 bệ phóng tên lửa, 10.169 đạn tên lửa, 23 quả tên lửa SA-75M, 8.686 đạn tên lửa VT 50v, cùng nhiều chủng loại vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến đấu khác.
    Theo cuốn "Vòng cung lửa trên bầu trời Hà Nội" do Đại tá Lê Văn Chung sưu tầm và biên soạn, vào tháng 2/1965, các tên lửa SA-75M được cung cấp cho Việt Nam.
    Việc tổ chức tiếp nhận các bộ khí tài tên lửa phòng không SA-75M cùng với cơ số đạn và các trang thiết bị đồng bộ đi kèm theo để trang bị cho 02 trung đoàn được vận chuyển cấp tốc từ Liên Xô sang Việt Nam trong thời gian ngắn nhất, đảm bảo an toàn tuyệt đối và đặc biệt là phải giữ bí mật 100%.
    Hai phương án vận chuyển
    Để vận chuyển tên lửa SA-75M sang Việt Nam an toàn, phía Liên Xô nêu ra 2 phương án: Một là bằng đường biển từ cảng Vladivostok (Viễn Đông) và từ cảng Odessa đến cảng Hải Phòng. Hai là vận chuyển bằng đường sắt liên vận quá cảnh qua lãnh thổ Trung Quốc đến Việt Nam.
    Trong đó, phương án vận chuyển bằng đường biển vừa gọn, an toàn nhưng lại không giữ được bí mật, mà yêu cầu trong giai đoạn đầu, ta cần phải hết sức giữ bí mật về lực lượng tên lửa phòng không để tạo thế bất ngờ đối với Mỹ. Vì vậy, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định chọn phương án 2.

    Tuy nhiên, việc vận chuyển bằng phương án 2 lại có 3 vấn đề cần giải quyết. Đầu tiên là việc quá cảnh qua lãnh thổ Trung Quốc. Hai là khổ đường sắt từ Liên Xô qua Trung Quốc đến ga Bằng Tường (biên giới Trung–Việt) là 1m45, còn đường sắt của Việt Nam là 1m, nên phải tổ chức chuyển tải ở ga Bằng Tường. Ba là, địch đánh phá ác liệt tuyến đường sắt từ Lạng Sơn đến Hà Nội nên nhiều đoạn đường và cầu rất yếu do sửa chữa gấp, sức chịu đựng kém, hơn nữa ngành đường sắt của ta chưa có kinh nghiệm chuyên chở các kiện hàng siêu trường, siêu trọng như vậy.

    Anh hùng Lao động Lý Văn Du lái chuyến tàu bí mật chở tên lửa về địa điểm an toàn (1965). Ảnh: Sách "Quân chủng Phòng không - Không quân", trang 21

    Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Phan Trọng Tuệ, Tổng cục trưởng Tổng cục Đường sắt Hà Đăng Ấn được lệnh lên gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng để nhận nhiệm vụ đặc biệt nhằm giải quyết các khó khăn trên.
    Lập tức hàng nghìn cán bộ kỹ thuật, công nhân các đội thanh niên xung phong của ngành giao thông vận tải, cùng hàng nghìn tấn vật tư sắt, thép, xi măng, cát sỏi, đá đã được lệnh xuất kho ngoài kế hoạch, đưa ra công trường rải dọc tuyến đường sắt từ ga Đồng Đăng về đến sân bay Bạch Mai để gia cố, sửa chữa tuyến đường sắt này. Đặc biệt là đoàn đường sắt từ ngã tư Vọng theo con đường Tàu Bay (nay là đường Trường Chinh) vào đến sân bay Bạch Mai.
    Để giữ bí mật, công trường chỉ hoạt động từ 18 giờ hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau. Các chỉ huy công trường được lệnh ban ngày “giấu quân” thật kín đáo và ban đêm động viên các cán bộ, công nhân làm việc với tinh thần “mỗi người làm việc bằng hai” để hoàn thành nhiệm vụ đúng thời hạn quy định.
    Nhà máy Xe lửa Gia Lâm được lệnh chọn một số đầu máy, toa xe tốt nhất, khỏe nhất đưa vào bảo dưỡng kỹ thuật. Cục Đầu máy, toa xe được chỉ thị chọn một số kíp lái tàu giỏi nhất, có kinh nghiệm nhất để chuẩn bị đi làm nhiệm vụ đặc biệt.
    Có lẽ trong thời gian này, cán bộ, công nhân viên ngành đường sắt Việt Nam chỉ biết rằng mình đang vinh dự tham gia xây dựng công trình chống Mỹ cứu nước, còn nhiệm vụ cụ thể như thế nào chỉ có Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ và Tổng Cục trưởng Hà Đăng Ấn được biết.
    Cũng trong thời gian này, ở Liên Xô, công việc chuẩn bị đưa các chuyên gia và cán bộ tên lửa phòng không SA-75M, các trang thiết bị đang diễn ra khẩn trương nhưng hết sức bí mật.
    Tên lửa phòng không SA-75 là sản phẩm của Viện Thiết kế tên lửa KB-I, được chế tạo thử nghiệm vào tháng 5/1953.
    Bộ tên lửa SA-75 được cải tiến lần thứ nhất mang ký hiệu SA-75M (NATO đặt ký hiệu cho SA-75M là SAM-2).
    Bộ tên lửa SA-75M bao gồm các bộ phận sau: cabin U – đài điều khiển; Cabin A – hệ thống tính toán; Cabin P – xe thu phát; Radar đài I (P-12) – trinh sát và chỉ thị mục tiêu; bệ phóng tên lửa SNR-75, tên lửa có điều khiển V-750, máy nổ để cung cấp nguồn điện và các thiết bị thông tin chỉ huy nội bộ; xe chở đạn TZM.
    Theo tính năng kỹ thuật, tên lửa SA-75M có khả năng tiêu diệt mục tiêu ở độ cao từ 300-27.000m, ở cự ly từ 25.000m đến 34.000m.

    Thiếu tướng I.A.Đemsencô, người có mặt trên con tàu Liên Xô vận chuyển các tên lửa SA-75M tới Việt Nam nhớ lại: "Đầu tháng 2/1965, toàn bộ sĩ quan và chiến sĩ được lệnh tập trung khẩn cấp. Trung đoàn trưởng - Đại tá N.V.Bagienốp công bố lệnh điều động chúng tôi thực hiện chuyến công tác đặc biệt sang Việt Nam chiến đấu. Toàn Trung đoàn được chuyển sang chế độ thời chiến.
    Chúng tôi được đưa lên một đoàn tàu đặc biệt để đến trường bắn tên lửa Capuxin Iarơ nhận khí tài, thiết bị kỹ thuật của bộ tên lửa SA-75M... Sau đó, đoàn tàu lao nhanh về hướng Đông. Khi đến sát thành phố Sita, đoàn tàu dừng lại một ngày một đêm. Sau này chúng tôi được biết, việc cho đoàn tàu chạy theo hành trình như vậy để nhằm mục đích đánh lạc hướng cơ quan điều tra tình báo của địch.
    Sau 5 ngày chạy trên lãnh thổ của Trung Quốc, đến sáng ngày thứ 6, đoàn tàu đến ga biên giới Trung - Việt (ga Bằng Tường) và được nghỉ lại ở đây. Tôi vừa mới tắm xong, chưa kịp gội đầu đã được lệnh gặp Trung đoàn trưởng gấp.
    Đại tá Bagienốp thông báo: vì khung đường sắt, cũng như các cây cầu trên lãnh thổ Việt Nam đều hẹp hơn so với của Liên Xô và Trung Quốc nên cần chuyển tất cả các khí tài từ toa xe của chúng tôi sang các toa xe trần của Việt Nam, chằng buộc các bộ khí tài và phủ bạt ngụy trang. Tất cả các công việc này giao cho tôi chỉ huy và phải hoàn thành trước lúc rạng đông ngày hôm sau.
    Chúng tôi có mặt ở hiện trường, các toa xe trần của Việt Nam được đẩy đến. Không có cần cẩu, việc chuyển các kiện hàng nặng hàng nghìn tấn từ toa xe của chúng tôi sang toa xe của Việt Nam đều phải dùng bằng tay và dây kéo. Một công việc không dễ dàng chút nào. Đến chiều tối, toàn Trung đoàn được chuyển lên các toa xe có giường cứng".
    Tình báo Mỹ không hề hay biết
    Đúng 18 giờ ngày hôm đó, đoàn tàu mang mật danh 210 (của Việt Nam) chuyển bánh. Để đảm bảo an toàn tuyệt đối, đoàn tàu được thiết lập 2 đầu máy kéo và đẩy, chạy một mạch từ ga Bằng Tường (Trung Quốc) đến “ga” sân bay Bạch Mai, chỉ dừng ở ga Đồng Mỏ để lấy nước.
    Tất cả các đoàn tàu khách, tàu hàng chạy cùng chiều hoặc ngược chiều đều phải dừng lại các ga để nhường đường cho Đoàn tàu 210. Tất cả các trưởng nhà ga được lệnh trực tiếp chỉ huy cho đến khi Đoàn tàu 210 đi qua địa phận mình phụ trách. Chính quyền địa phương đều bố trí lực lượng công an, dân quân tự vệ gác ở hai đầu các đường dân sinh cắt ngang qua đường sắt.
    Để phòng địch đánh đêm, tại các trọng điểm được bố trí các đơn vị pháo cao xạ bảo vệ, Trung đoàn không quân 923 ở sân bay Kép được đặt chế độ trực chiến cấp I sẵn sàng cất cánh để đánh địch.
    Tại Trung tâm Điều độ của Tổng cục Đường Sắt, đích thân Tổng cục trưởng Hà Đăng Ấn trực tiếp chỉ huy. Tại Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh Phòng không – Không quân có mặt: Tư lệnh Phùng Thế Tài, Chính ủy Đặng Tính, cùng các Phó Tư lệnh và Thủ trưởng các cơ quan Tham mưu, Hậu cần, Kỹ thuật đang tập trung theo dõi hành trình của đoàn tàu.

    Tên lửa bảo vệ Thủ đô tiến công máy bay B52 của Mỹ (Ảnh: Báo điện tử Chính phủ)
    Tất cả mọi hoạt động của đơn vị trong và ngoài quân đội đều nhằm mục đích bảo vệ an toàn tuyệt đối cho chuyến tàu chở các bộ tên lửa phòng không SA-75M đầu tiên từ Liên Xô gửi sang cho ta.
    Đã 1 giờ sáng, khi người dân thành phố Hà Nội còn đang im lìm trong giấc ngủ thì Đoàn tàu 210 kéo sang hàng chục toa xe với các kiện hàng phủ bạt kín mít do Anh hùng lao động ngành Đường sắt Lý Văn Du chỉ huy và trực tiếp lái đã về “ga” sân bay Bạch Mai an toàn.
    Ngay đêm hôm đó, khi đoàn tàu vừa dừng bánh, các kiện hàng đặc biệt siêu trọng, siêu trường đã được chuyển gấp sang đoàn xe tải, xe xích đang chờ sẵn để chuyển về các bãi ổi ven bờ sông Đáy khu vực Mai Lĩnh, Chương Mỹ, Hà Tây. Các sĩ quan và chiến sĩ quân đội Liên Xô – bộ khung giáo viên huấn luyện cho Trung đoàn tên lửa phòng không 236 đi theo đoàn tàu - đã được đưa về khách sạn Kim Liên – Hà Nội. Cho đến lúc này, mạng tình báo của địch không hề hay biết gì.
    Việc vận chuyển khí tài và đạn tên lửa qua Trung Quốc đã diễn ra hết sức thuận lợi về mặt thời gian và giữ được bí mật đối với Mỹ.
    Một thời gian ngắn sau khi quân đội ta tiếp nhận khí tài, tên lửa SA-75M đã xuất trận và làm nên chiến công hiển hách đầu tiên. Trong chiến thắng vẻ vang này, phải nhắc tới sự giúp đỡ, huấn luyện tận tình của các chuyên gia quân sự Liên Xô.
    *Bài viết có sử dụng tư liệu từ cuốn "Vòng cung lửa trên bầu trời Hà Nội" của Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, do Đại tá Lê Văn Chung sưu tầm và biên soạn.

  5. Có 1 người thích bài viết này


  6. #95
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,230
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Hai trung tâm huấn luyện đặc biệt của chuyên gia tên lửa Liên Xô ở Việt Nam

    Việc huấn luyện cho bộ đội phòng không Việt Nam được thực hiện theo phương châm gấp rút, với nguyên tắc “hãy làm theo tôi” để trong thời gian 3 tháng là có thể ra chiến đấu được.

    Trong suốt những năm kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh việc giúp đỡ về vũ khí, trang thiết bị quân sự, Liên Xô còn hỗ trợ Việt Nam rất nhiều trong việc đào tạo lực lượng. Đặc biệt, đoàn chuyên gia Liên Xô đã đóng góp đáng kể trong hoàn thiện kỹ thuật, chiến thuật phòng không, bảo đảm kỹ thuật, cải tiến và hoàn thiện những tổ hợp tên lửa nhằm giúp ta đối phó với chiến thuật gây nhiễu điện tử của địch.Hàng nghìn sĩ quan, chiến sĩ, bác sĩ và kỹ thuật viên Liên Xô đã tình nguyện rời xa đất nước hòa bình, no đủ, đến giúp đỡ Việt Nam trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn và nguy hiểm của thời chiến. Có những người đã đổ máu và hy sinh trên trận địa ở Việt Nam.Sau khi cung cấp các tổ hợp tên lửa SA-75M, nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô đầu tiên được cử đến Hà Nội với nhiệm vụ trong thời gian ngắn nhất giúp Việt Nam xây dựng, huấn luyện những đơn vị tên lửa phòng không đầu tiên. Những chuyên gia này được lựa chọn từ những kỹ thuật viên, kíp chiến đấu, sĩ quan chỉ huy ưu tú và kinh nghiệm nhất theo tinh thần “Tự nguyện”.Song song với việc đào tạo bộ đội tên lửa ở Việt Nam, tại Liên bang Xô Viết, những trung tâm huấn luyện đặc biệt cũng được thành lập. Theo báo Quân đội nhân dân, trong thời kỳ 1966-1967, những trung tâm này đã đào tạo cho Việt Nam 5 trung đoàn tên lửa (gần 3.000 người).
    “Hãy làm theo tôi”
    Việc huấn luyện, đào tạo bộ đội tên lửa phòng không tại Việt Nam được tiến hành tại hai trung tâm huấn luyện.Trung tâm huấn luyện số 1, do các sĩ quan và binh sĩ của Binh chủng Tên lửa phòng không thuộc Quân khu Mátxcơva phụ trách. Trung tâm này được các chuyên gia Liên Xô gọi là “Mátxcốpski” và các học viên của Trung tâm là Trung đoàn tên lửa phòng không số 1 của Việt Nam, mang phiên hiệu 236.Trung tâm huấn luyện số 2 do các sĩ quan và binh sĩ của Binh chủng Tên lửa phòng không thuộc Quân khu Ba Cu (nước cộng hòa Azerbaigian) phụ trách. Trung tâm này được gọi là “Bakhinski”. Các học viên của trung tâm là Trung đoàn tên lửa phòng không số 2 của Việt Nam mang phiên hiệu 238.
    Nhân dân tới thăm và động viên cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 61 (Trung đoàn 236). Ảnh: Báo Bắc Ninh
    Đại tá M.N. Xưgancốp – Chỉ huy trưởng trung tâm huấn luyện “Mátxcốpski” đã có những nhận xét về Trung đoàn tên lửa phòng không 236 như sau: “Trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập gồm các chiến sĩ có trình độ lớp 10 trở lên, đa số là những sinh viên đã tốt nghiệp hoặc đang học các trường đại học.Các sĩ quan cấp Tiểu đoàn trưởng trở lên đều đã tốt nghiệp các học viện tên lửa phòng không của Liên Xô, có những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ trong trung đoàn pháo cao xạ đánh máy bay của thực dân Pháp. Nói chung đây là những người có trình độ văn hóa, cho nên có nhiều thuận lợi cho việc huấn luyện để họ nhanh chóng nắm được kỹ thuật tên lửa phòng không.Việc huấn luyện cho bộ đội Việt Nam được thực hiện theo phương châm gấp rút, với nguyên tắc “hãy làm theo tôi” để trong thời gian 3 tháng là có thể ra chiến đấu được.
    Những khó khăn
    Đại tá M.N. Xưgancốp cho biết, số vốn tiếng Nga của các học viên Việt Nam chưa đủ để có thể nghe chuyên gia giảng bài, nên phải qua các phiên dịch. Tuy nhiên, bản thân các phiên dịch cũng hết sức lúng túng khi dịch các từ chuyên môn. Có những bài giảng về việc điều khiển và sử dụng các thiết bị trong cabin điều khiển thì đích thân các Tiểu đoàn trưởng – những người đã tốt nghiệp các học viện ở Liên Xô trực tiếp làm phiên dịch cho chiến sĩ của mình.Về khẩu phần ăn cho các học viên, theo đại tá Xưgancốp, là “rất đạm bạc”.“Bữa ăn hàng ngày có một tô cơm, đĩa rau xào hoặc luộc, đĩa có mấy miếng thịt hoặc một ít cá kho và một bát canh hoặc nước rau luộc có dầm một số quả để tạo vị chua (sau này hỏi phiên dịch tôi được biết là quả sấu và quả me) và cuối cùng là cốc nước chè xanh truyền thống…”
    – Đại tá Xưgancốp nói.Thời gian biểu hàng ngày, Trung tâm quy định 5 giờ sáng kẻng đánh thức; 5 giờ 30: ăn sáng; đúng 6 giờ lên lớp (học lý thuyết hoặc ra thực hành trên các bộ khí tài); đến 12 giờ nghỉ ăn trưa; chiều từ 14 giờ đến 17 giờ 30 tiếp tục học; 18 giờ ăn chiều; từ 20 giờ đến 22 giờ tự học.
    Đại tá V.M. Conxtantinốp – chuyên gia dạy về điều khiển tên lửa nhớ lại: “Các học viên Việt Nam phải chịu một cường độ làm việc rất lớn. Thời gian huấn luyện lúc đầu định ra là 4 tháng, nhưng Mỹ ngày càng hoành hành dữ dội, họ cần phải nhanh chóng ra trận để trừng trị chúng, nên chương trình rút xuống còn 3 tháng và cuối cùng chỉ còn 2 tháng rưỡi. Với chương trình này, bản thân tôi khi học phải mất 1 năm.
    Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Thân giao nhiệm vụ chiến đấu trên sa bàn cho kíp chiến đấu Tiểu đoàn 63 (Trung đoàn 236) tháng 5-1967 tại trận địa Chèm (Từ Liêm, Hà Nội). Ảnh: Quân đội Nhân dân

    Phương pháp dạy và học của thầy trò chúng tôi hồi đó là: “Hãy làm theo tôi”. Lúc đầu, thầy ngồi trực tiếp thao tác ở bảng điều khiển, trò ngồi bên cạnh theo dõi, quan sát các động tác của thầy. Sau đó trò được trực tiếp ngồi thao tác, còn thầy ngồi sau lưng để kiểm tra, uốn nắn và giảng giải lại cho trò.Không để máy bay Mỹ hàng ngày tự do bay lượn trên bầu trời để ném bom, bắn phá các mục tiêu do chúng tự chọn mà lại không bị trừng phạt đích đáng, có lẽ điều đó đã động viên thúc đẩy các học viên Việt Nam miệt mài học tập. Nói một cách không cường điệu chút nào là họ “lăn” vào học, học ngày, học đêm với tinh thần ham hiểu biết để nhanh chóng nắm vững các nguyên lý kỹ thuật cơ bản của bộ tên lửa phòng không SA-75M. Họ động viên nhau, giúp đỡ nhau học, người hiểu vấn đề nhanh giúp người chậm hiểu”.Với sự hướng dẫn tận tình của các chuyên gia Liên Xô, chỉ sau 2 tháng rưỡi huấn luyện, tên lửa SA-75M đã có trận đánh đầu tiên vào ngày 24/7/1965. Trong những trận đánh đầu tiên này, các chuyên gia Liên Xô trực tiếp vận hành cùng với các kíp chiến đấu của bộ đội tên lửa Việt Nam.Đối với các chuyên gia – giáo viên Liên Xô của Trung Đoàn tên lửa 236; ngày 24/7/1965 là ngày lịch sử. Đây là lần đầu tiên, những quả đạn tên lửa V750 trong bộ khí tài tên lửa phòng không SA-75M ở thế hệ đầu chưa một lần qua thực nghiệm chiến đấu được đưa ra trận.Cảm xúc mạnh mẽ trong ngày lịch sử ấy đã được một vài chuyên gia Liên Xô hồi tưởng lại.

    Tình báo Mỹ không hề hay biết các tên lửa SA-75M từ Liên Xô đã được vận chuyển về VN. Mãi tới sau này, khi chiếc máy bay hiện đại nhất của Mỹ bị bắn rơi, Tổng thống Mỹ Johnson...

    (Theo Tri Thức)

  7. Có 1 người thích bài viết này


Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •