CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 1 của 10 123 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 94

Chủ đề: Dầu, Năng lượng, Quyền lực

Xem kiểu ghép

  1. #1
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết

    Dầu, Năng lượng, Quyền lực

    Cuộc chiến không tiếng súng (P1)

    (Petrotimes)
    - Cái gọi là (theo tiếng Hoa) "tổn hại Trung - Nhật quan hệ đại cục" một lần nữa lại xuất hiện ngay những ngày đầu năm 2012, khi Nhật lên án Trung Quốc đơn phương khai thác khí đốt tại mỏ Kashi (theo tiếng Nhật) hoặc Thiên Ngoại Thiên (theo tiếng Hoa) - nằm ngay điểm nhạy cảm tranh chấp ranh giới vùng đặc quyền kinh tế biển của hai nước.

    Vài ngày trước đó, Bắc Kinh đã chỉ trích Tokyo việc đặt tên cho một nhóm hòn đảo cũng nằm trong vùng tranh chấp sở hữu (trong đó có quần đảo Senkaku mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư). Đối với vấn đề tranh chấp vùng biển giữa Nhật – Trung, cục diện ngày càng phức tạp…
    Kỳ 1: Mèo nào cắn mỉu nào?





    Ai giành lấn EEZ của ai?

    Trở lại với vụ khai thác khí đốt tại mỏ Kashi, Thiên Ngoại Thiên (Nhật phát hiện Trung Quốc có dấu hiệu khai thác vào ngày 31/1/2012). Năm 2008, hai nước từng nhất trí với nhau rằng, hai bên sẽ tạm ngưng khai thác mỏ Kashi, Thiên Ngoại Thiên cho đến khi đàm phán ngã ngũ. Tuy nhiên, tiến trình “nói chuyện tử tế” bắt đầu gián đoạn sau khi xảy ra cuộc chiến ngoại giao mà căn nguyên là sự kiện Nhật bắt giam thuyền trưởng Chiêm Kỳ Hùng của tàu Mân Tấn Ngư (Trung Quốc) vào năm 2010, sau cuộc đụng độ và rượt đuổi giữa Mân Tấn Ngư với lực lượng Tuần dương Nhật quanh khu vực Senkaku, Điếu Ngư.



    Khu vực EEZ với ranh giới chồng lấn chưa được phân định ngã ngũ giữa Nhật và Trung Quốc


    Trong thực tế, xung đột ngoại giao Nhật – Trung quanh vấn đề tranh chấp EEZ (vùng đặc quyền kinh tế biển) tại khu vực biển Hoa Đông là chuyện xảy ra gần như cơm bữa. Tháng 8/2003, Nhật bắt đầu bày tỏ lo ngại khi Trung Quốc mời nhiều tập đoàn dầu khí trong đó có Royal Dutch, Shell và Unocal (Mỹ) tham gia thầu khai thác loạt dự án dầu khí trị giá hàng tỉ đôla. Nhật cho rằng, khu vực mỏ mà Trung Quốc gọi thầu là thuộc EEZ của họ hay ít ra cũng thuộc vùng đang tranh chấp. Tokyo yêu cầu phải cung cấp chính xác dữ liệu liên quan vị trí các mỏ trên nhưng Bắc Kinh từ chối.Giữa năm 2004, cuộc khẩu chiến liên quan vùng biển có chủ quyền chồng lấn giữa Nhật và Trung Quốc bắt đầu căng thẳng; Ngoại trưởng Trung Quốc Lý Triệu Tinh – vào ngày 22/6/2004, trong cuộc gặp đồng nhiệm Yoriko Kawaguchi – đã đề xuất hai bên cùng hợp tác. Dù vậy, Nhật tiếp tục yêu cầu cung cấp thông tin vị trí chính xác các dự án mỏ. Một lần nữa, Trung Quốc tảng lờ. Ngày 7/7/2004, Nhật bắt đầu thăm dò mỏ khí tại EEZ của họ. Hôm sau, tại Bắc Kinh, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị cho triệu hồi Đại sứ Nhật để phản đối “hành động vi phạm lợi ích và chủ quyền Trung Quốc (của Nhật)”…Vấn đề khiến hai bên “không hiểu nhau” chính là quan điểm mâu thuẫn về lằn ranh phân chia EEZ giữa hai nước. Trong khi Nhật định nghĩa lằn ranh, trong trường hợp phức tạp này, là khoảng cách bằng nhau tính từ bờ biển hai nước, Bắc Kinh lại cho rằng EEZ của họ phải mở rộng đến rìa thềm lục địa Trung Quốc. Có thể tình hình sẽ không đến nỗi nào nếu tại vùng biển tranh chấp không có mỏ khí thiên nhiên Xuân Hiểu (Nhật gọi là Shirakaba) mà vài năm nay Trung Quốc đã khai thác. Theo Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS), EEZ của một nước nằm trong phạm vi 200 dặm (tức 370 km) tính từ bờ thuộc quốc gia đó. Tuy nhiên, cả Bắc Kinh lẫn Tokyo (đều ký UNCLOS năm 1996) lại không đồng ý về phân định lằn ranh chung.Bắc Kinh cho rằng mỏ Xuân Hiểu nằm hẳn bên trong EEZ của mình và rằng, Xuân Hiểu vẫn còn cách đường biên giới biển (theo cách tính của Nhật) đến 4 km. Phần mình, Tokyo cho rằng, dù Xuân Hiểu – trên bề mặt – nằm trong phạm vi EEZ Trung Quốc nhưng những mỏ khí của Xuân Hiểu trong lòng biển có thể kéo dài đến EEZ thuộc phía bên Nhật. Tổng quát, có khoảng 40.000 km2 EEZ đang tranh chấp giữa hai nước. Chuyện giành nhau từng “tấc” biển giữa Nhật – Trung không dừng lại ở đó, đặc biệt tại vùng biển Hoa Đông với diện tích mênh mông 1.249.000km2 (phía đông giáp đảo Kyushu và Ryukyu của Nhật; nam giáp Đài Loan và tây giáp Hoa lục).

    “Okinotorishima, chúng tôi gọi đó là đảo!”
    Liên quan tranh chấp sở hữu vùng biển Nhật – Trung, không chỉ có Shirakaba, Xuân Hiểu hay Senkaku, Điếu Ngư. Đầu năm 2010, câu chuyện “truyền kỳ mạn lục” về tranh chấp lãnh hải Nhật – Trung lại được thổi bùng, quanh quần đảo cực nhỏ ở cực Nam nước Nhật có tên Okinotorishima. Nhật gọi nó là đảo nhưng Trung Quốc nói nó chỉ là vài tảng đá. Trong nhiều thập niên, Okinotorishima bị bỏ hoang cho nắng, gió biển khơi nhưng đột nhiên Okinotorishima được “cấp” mã vùng điện thoại rồi được chuẩn bị xây một cầu cảng, dù nó cách Tokyo đến 1.700km. Mục đích của Nhật là “chủ quyền hóa” một vùng EEZ tính từ “bờ” Okinotorishima (nằm giữa Đài Loan và Guam).




    Thống đốc Tokyo Shintaro Ishihara trong lần thân chinh ra thăm viếng đảo Okinotorishima vào tháng 5/2005

    Lâu nay Trung Quốc không đếm xỉa và chưa bao giờ giành chủ quyền Okinotorishima nhưng với động thái của Nhật, Bắc Kinh đã phản đối dữ dội, nói rằng việc “chủ quyền hóa” vùng biển 400.000km2 quanh Okinotorishima (rộng hơn cả diện tích toàn bộ đất liền nước Nhật) là điều không thể chấp nhận. Bắc Kinh cho rằng, theo luật, dăm ba hòn đá san hô nổi chơ vơ trên biển không thể đáp ứng nhu cầu sống con người (điều kiện bắt buộc để có thể thành lập một EEZ, theo quy định UNCLOS); do đó không thể gọi nó là đảo và như vậy không thể hợp pháp khi lập ra EEZ…Phần mình, Tokyo khẳng định, Okinotorishima rõ ràng là một “hòn đảo to”. “Khi thủy triều xuống, Okinotorishima đo được 4,5km x 1,8km; diện tích 8km2; bờ biển dài 10km. Thế mà không to à?” – phát biểu của Yasuhiro Okanishi, cố vấn nội các, thuộc Trung tâm Chính sách đại dương Nhật Bản. Tokyo còn cho rằng, bản thân Trung Quốc cũng tự tuyên bố nhiều EEZ quanh các hòn đảo trơ trọi, kể cả bãi san hô ngầm, tại biển Đông, nơi họ đang giành lấn với các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. “Thật buồn cười khi nhiều “hòn đảo” thuộc Trung Quốc theo định nghĩa của Bắc Kinh lại quanh năm nằm dưới mực nước biển.Thậm chí khi thủy triều xuống thấp cũng chẳng thấy mặt mũi chúng đâu” – nhận xét của Shin Tani (Trung tâm Chính sách đại dương Nhật Bản). Với trường hợp Okinotorishima, có thể thấy rằng việc “nâng cấp” cụm san hô Okinotorishima lên thành đảo để từ đó tuyên bố thành lập EEZ là một “cách chơi” (thâm ra trò!) của Nhật. Thuộc Biển Philippines (trên bản đồ quốc tế), nằm giữa Đài Loan – Hoa lục và gần căn cứ Guam của Mỹ, Okinotorishima với EEZ của nó sẽ bao phủ và lấn chồng tuyến hải lộ chính của Trung Quốc dẫn ra Thái Bình Dương.Năm 2007, luật sư Cao Chí Quốc (Trung Quốc) thuộc Tòa quốc tế LHQ về Luật Biển đã “thành thật” nói rằng: “Chúng tôi luôn hy vọng rằng, sau khi lấy lại Đài Loan, Trung Quốc sẽ trở thành một quốc gia biển thật sự nhìn thẳng ra Thái Bình Dương. Tuy nhiên, nếu Nhật tuyên bố EEZ quanh Okinotorishima, niềm hy vọng tốt lành của chúng tôi sẽ gặp trở ngại”. Họ Cao nhấn mạnh, “tầm quan trọng chiến lược và quân sự của Okinotorishima là rất rõ ràng”, bởi nó “có thể dùng như một trạm do thám trong thời bình để rình rập các hoạt động quân sự của chúng tôi; và dùng như một trạm tiền phương trong thời chiến”.Vấn đề không chỉ Okinotorishima đang tạo ra một thất thế liên quan chiến lược quân sự đối với Trung Quốc mà nó còn sẽ khiến Bắc Kinh chịu thiệt về mặt đối ngoại tranh chấp chủ quyền. Matsushiro Horiguchi thuộc Trường nghiên cứu châu Á – Thái Bình Dương (Đại học Waseda) đã chỉ rõ như sau: lâu nay Trung Quốc xem các khu EEZ của họ, hợp pháp hay không hợp pháp theo luật quốc tế, là vùng biển thuộc lãnh hải họ, “bất khả tranh nghị”. Từ đó, họ yêu cầu tàu chiến nước ngoài phải xin phép trước khi đi vào EEZ mình. Thậm chí họ còn ra lệnh cấm đánh bắt cá đối với ngư dân khu vực, một cách ngạo mạn đến phi lý. Bây giờ, Bắc Kinh lo rằng, Tokyo có thể dùng chính đòn này để xử lại Trung Quốc. Rõ ràng, nếu cần, Nhật hoàn toàn có thể làm khó bằng cách yêu cầu Trung Quốc trình “giấy phép” khi đi ngang đặc khu EEZ thuộc Okinotorishima!Trong thực tế, Nhật đã nhìn ra cái tầm “đại cục” của Okinotorishima (gồm ba tiểu đảo Higashikojima, Kitakojima và Minamikojima) từ nhiều thập niên trước. Năm 1987, Nhật bắt đầu thực hiện dự án “bao bờ” kiên cố bằng bê tông cho Higashikojima và Kitakojima (với kinh phí 280 triệu USD; và phủ một “tấm lưới” bằng titan trị giá 50 triệu USD cho Minamikojima để tránh bị xói mòn bởi sóng biển). Tổng cộng, Nhật bỏ ra khoảng 600-740 triệu USD trong nhiều năm để bảo vệ Okinotorishima khỏi ảnh hưởng thiên nhiên. Năm 2005, Nhật lắp một hệ thống radar (330 triệu yen); sửa chữa cảng trực thăng và chính thức đặt bảng tên cho cụm đảo (ghi là: “1 Đảo Okinotori, làng Ogasawara, Tokyo”).Tháng 11/2004 và tháng 3/2005, Tổ chức Nippon (trước kia gọi là Tổ chức Sasagawa) thực hiện các cuộc thăm dò sinh thái quanh Okinotorishima. Báo cáo của họ kết luận: cần phải xây một cột hải đăng; nuôi san hô; cấy glauconite và foraminifera (các loại hữu cơ vỏ cứng cực nhỏ biến thành cát sau khi chúng chết) để tạo ra bờ thềm nhân tạo; xây một nhà máy điện lấy từ nguồn nhiệt đại dương; khảo sát nguồn khoáng sản trong lòng biển; xây cơ sở hạ tầng xã hội chẳng hạn cảng hoặc nhà cho người để sinh sống và làm việc dài hạn; khuyến khích du lịch… Ngày 20/5/2005, thống đốc Tokyo Shintaro Ishihara đã thân chinh viếng thăm đảo.Năm 2009, khi Đảng Dân chủ lên nắm quyền, Thủ tướng Yukio Hatoyama lập tức tuyên bố chi 7 triệu USD vào năm 2010 để lập một cơ sở sinh hoạt tại Okinotorishima. Năm 2011, với loạt sự kiện căng thẳng trên biển Đông (trong đó có vụ Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh của chúng ta), Nhật quyết định tăng tốc việc xây hạ tầng cho Okinotorishima – biến nơi này không chỉ là địa điểm thỏa mãn yêu cầu sinh hoạt nghiên cứu lâu ngày mà còn đóng vai trò làm căn cứ tiền trạm đóng quân dài hạn của Tuần dương lẫn hải quân Nhật!
    Nắn gân…




    Tàu khu trục trang bị tên lửa Giang Hồ (Jianghu) của Trung Quốc trong một lần chạy ngang hải phận Okinawa

    Trên Nhân Dân nhật báo (1/2/2012), tác giả Khương Phong viết rằng, việc Nhật chuẩn bị đặt tên cho 39 hòn đảo trong đó có vài hòn thuộc quần đảo Senkaku, Điếu Ngư cuối cùng sẽ bị “phát sanh hồi hỏa”, tức bị dính đòn hồi mã thương, tức tự mình làm bỏng tay mình… Cục diện tranh chấp không chỉ thể hiện ở những “khẩu khí” như vậy. Đầu tháng 2/2012, Trung Quốc tung ra 4 tàu khu trục nhỏ diễu qua diễu lại tại khu vực gần Okinawa. Phía Nhật còn cho biết, trong 9 tháng sau của năm 2011, trung bình mỗi tháng, chiến đấu cơ Nhật đã phải miễn cưỡng tiếp 37 trường hợp vi phạm không phận nước mình, đặc biệt khu vực Hoa Đông, bởi máy bay nước ngoài, với 43% là máy bay Trung Quốc.Phần Nhật, đầu tháng 2/2012, hai nghị sĩ Koichi Mukoyama (Đảng Dân chủ) và Yoshitaka Shindo (Đảng Dân chủ Tự do) cũng đã làm “phức tạp thêm tình hình” khi đến quan sát khu vực quần đảo Senkaku, Điếu Ngư từ một tàu đánh cá. Đây là hai nghị sĩ Nhật đầu tiên đến đảo Uotsuri (thuộc Senkaku, Điếu Ngư) kể từ sự kiện dân biểu Shingo Nishimura đặt chân đến Uotsuri năm 1997. Những động thái khiêu khích và thăm dò đối phương kiểu này của hai bên, cho đến nay, vẫn chỉ hạn chế trong chừng mực của tiểu xảo “nắn gân chính trị” là chính. Tuy nhiên, việc chơi trò “nắn gân” đòi hỏi phải có bản lĩnh và “nghệ thuật”. Chỉ cần một liều lượng nhỏ thiếu kiềm chế được thêm vào, ai biết được, rồi chuyện gì sẽ xảy ra…
    (Xem tiếp kỳ sau)
    Mạnh Kim
    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 16-02-2012 lúc 09:18 PM.

  2. Có 2 người thích bài viết này


  3. #2
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Cuộc chiến không tiếng súng (P2)

    (Petrotimes)
    - Trong suốt thời gian khá dài, Trung Quốc đã đấu quyết liệt với Nhật trong việc lập dự án tuyến ống dẫn từ Siberia. Cuối cùng, ai đã thắng khi thuyết phục thành công Nga?

    Kỳ 2: Nóng tại miền đất lạnh Siberia





    Đòn tập hậu của Tokyo
    Cuộc chiến bắt đầu nóng hổi vào năm 2004. Nhật – một đất nước luôn phải nhập khẩu dầu (tiêu thụ thứ ba thế giới) – đã vận động hậu trường Moscow giúp thực hiện dự án xây tuyến ống dẫn hơn 4.000km từ Siberia đến khu vực bờ biển nước mình. Trong khi đó, Trung Quốc, nước tiêu thụ dầu thứ hai thế giới sau Mỹ, cũng xem nguồn dầu Nga là một phần của chính sách an ninh năng lượng quốc gia và cũng thuyết phục Moscow đồng ý để họ hỗ trợ lập tuyến ống dẫn 2.253km từ Siberia đến Đại Khánh (Hắc Long Giang). Được hậu thuẫn của Tập đoàn dầu khí khổng lồ Yukos (Nga), Trung Quốc nói rằng tuyến ống dẫn của họ ngắn hơn và như vậy ít tốn kém hơn. Thoạt đầu, Nga đã đồng ý góp 2 tỉ USD vào dự án của Trung Quốc. Việc xây tuyến ống dẫn dự kiến bắt đầu vào năm 2003 và hy vọng đến năm 2005 có thể “tải” được 20-80 triệu tấn dầu thô mỗi năm.




    Thủ tướng Nhật Yoshihiko Noda và Tổng thống Nga Dmitry Medvedev (tại cuộc họp thượng đỉnh APEC ở Honolulu tháng 11/2011)

    Giữa lúc tưởng chừng “xuôi chèo mát mái” như thế, Nhật âm thầm tung ra một đòn hiểm. Tháng 5/2003, đích thân Thủ tướng Junichiro Koizumi gặp riêng Tổng thống Nga Vladimir Putin, thuyết phục Moscow ngưng kế hoạch xây tuyến ống dẫn với Trung Quốc. Tokyo nói rằng, một tuyến ống dẫn nối thẳng nguồn dầu Nga ra Thái Bình Dương, dù dài hơn với chi phí đầu tư tốn kém hơn sẽ giúp dầu Nga không chỉ bán được cho Trung Quốc mà còn tiếp cận được thị trường Đông Nam Á và thậm chí có thể dễ dàng xuất sang Bắc Mỹ. Ngoài ra, Koizumi còn hứa cho Nga vay 14 tỉ USD trong dự án tuyến ống dẫn (kinh phí dự tính khoảng 16 tỉ USD), chưa kể 8 tỉ USD cho các dự án khai thác dầu tại khu vực Viễn Đông thuộc Nga, chưa kể khoản “khuyến mãi” 2 tỉ USD cho các dự án “an sinh xã hội” Nga…Trong thực tế, việc Bắc Kinh ve vãn Moscow đã bắt đầu từ thập niên 90 của thế kỷ trước. Năm 1994, Trung Quốc và Nga cùng nghiên cứu một tuyến ống dẫn từ Angarsk (thuộc Irkutsk Oblast, Siberia) đến Đại Khánh, với hai đối tác chính là Yukos và Công ty dầu quốc gia Trung Quốc (CNPC – “Trung Quốc thạch du thiên nhiên khí tập đoàn công ty”). Năm 1999, Thủ tướng Nga Yevgenii Primakov và đồng nhiệm Chu Dung Cơ thậm chí đã ký thỏa thuận khung việc khảo sát thị trường xuất khẩu dầu khu vực Viễn Đông. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Moscow với Tập đoàn Yukos của ông trùm Mikhail Khodorkovsky (hiện thụ án tội biển thủ) trở nên xấu dần.Ngày 28/5/2003, Tổng thống Vladimir Putin từ chối dự lễ ký hợp đồng xây dựng tuyến ống dẫn Angarsk – Đại Khánh giữa Yukos và CNPC. Trước đó, năm 2002, Nhật đã âm thầm vận động hậu trường Moscow. Thế rồi, “đùng một cái”, ngày 30/12/2004, Nga khiến Trung Quốc bất ngờ khi chính thức ký biên bản hợp tác với Nhật, cho dự án xây tuyến ống dẫn 4.130km nối Taishet (Đông Siberia) đến thành phố cảng Nakhodka (thuộc Nga) nằm trên vùng biển Nhật Bản (Yukos được thay bằng Transneft; CNPC được thay bằng Tập đoàn dầu quốc gia Nhật). Kết quả, việc xây tuyến ống dẫn được tiến hành vào tháng 4/2006 (dự kiến hoàn thành năm 2013), trở thành dự án tuyến ống dẫn tốn kém nhất lịch sử công nghiệp dầu hỏa thế giới…Để tránh mất lòng Bắc Kinh sau vụ “lật kèo” trên, Nga đã tế nhị hứa tăng gấp đôi xuất khẩu dầu cho Trung Quốc, từ 6,46 triệu tấn năm 2004 lên 15 triệu tấn năm 2006, được vận chuyển bằng tàu lửa. Bất luận thế nào, việc Moscow quyết định chọn Nhật cũng là một cú đấm làm Bắc Kinh xây xẩm.Những tác động chính trị kéo theoPhải nói đây là một trong những thành công ngoạn mục của Junichiro Koizumi thời giữ ghế thủ tướng Nhật (2001-2006). Với tuyến ống dẫn từ Siberia, Nhật đã có thể thở phào khi trút được gánh nặng áp lực phải nhập 85% dầu từ Trung Đông. Nhờ tuyến ống dẫn Angarsk – Nakhodka, Nhật có thể giảm 10-15% sự lệ thuộc nguồn dầu Trung Đông. Sự giảm sức ép phụ thuộc Trung Đông của Nhật với tư cách nền kinh tế thứ hai thế giới (xét thực lực chứ không phải tỉ trọng GDP) còn mang đến một diện mạo mới cho bức tranh an ninh năng lượng toàn cầu, bởi điều đó cho thấy Trung Đông không còn là chỗ dựa duy nhất cho năng lượng châu Á. Ngoài ra, sự hợp tác Nga – Nhật còn tạo nhiều ảnh hưởng “liên lụy” nhất định đối với viễn kiến của tham vọng địa chính trị Trung Quốc tại khu vực.


    Công ty Nhật Sodeko đang tham gia dự án khai thác dầu "Sakhalin-1"




    Với Nga, nơi vài năm gần đây bắt đầu dùng dầu như một thứ vũ khí cân bằng quyền lực để mặc cả vai trò và sức ảnh hưởng, cũng xem sự hiện diện năng lượng của họ tại Đông Nam Á, thông qua đường ống Angarsk – Nakhodka, là một tái khẳng định quyền lực mềm, có được từ sức mạnh của vũ khí vàng đen. Việc đưa mình trở thành tay chơi chủ lực trên vũ đài địa chính trị Thái Bình Dương, nơi đang là bàn cờ chính trị nóng nhất thế giới, cũng là một tính toán tỉnh táo và hợp thời của Nga, khi quyết định hợp tác với Nhật.Rõ ràng nếu xem năng lượng là một phần liên kết nội tại với sự phóng chiếu tổng quát của sức mạnh và vị trí trên “mặt bằng” địa chính trị châu Á -Thái Bình Dương thì Nga phải chấp nhận chọn “con đường” dài hơn và tốn kém hơn – hiểu theo nghĩa đen (Angarsk – Nakhodka) lẫn bóng. Một tuyến ống dẫn Siberia-Đại Khánh chỉ thỏa mãn nhu cầu kiếm tiền. Trong khi đó, tuyến Siberia – Thái Bình Dương không chỉ kiếm được tiền mà còn được “quyền”. Đó là một lợi ích chính trị không thể so sánh, khi lượng định những sức nặng vô hình trên bàn cân địa chính trị.Còn một điều cần phải nói nữa. Đó là nỗi lo ngại về sự bành trướng “không gian kinh tế Trung Quốc” tại khu vực Viễn Đông, nếu Nga thuận theo kế hoạch Siberia – Đại Khánh. Moscow biết quá rõ rằng, nếu dự án tuyến ống dẫn Siberia – Đại Khánh được thực hiện, với loạt công trình hạ tầng phát sinh và loạt điều chỉnh môi trường (giải tỏa, phá rừng…) làm thay đổi diện mạo Viễn Đông, sẽ có những làn sóng “gia nhập hộ khẩu” đột biến từ Trung Quốc kéo sang. “Hán hóa” Siberia bỗng nhiên (lại có thể) được hợp thức hóa! Điều đó, với Moscow, là một viễn cảnh chẳng mấy hay ho. Và đây là một tỉnh táo nữa của Moscow khi kịp nhận ra bản chất sự việc…
    Nga – Nhật tiếp tục hợp tác
    Cho đến trước năm 2014, ít nhất 6 mũi khoan thăm dò dầu khí tại Đông Siberia sẽ được Tập đoàn Dầu khí – Khoáng sản Quốc gia Nhật (JOGMEC) hợp tác với đối tác Nga Irkutsk Oil thực hiện, với kinh phí ít nhất 200 triệu USD. Ngoài Siberia, các công ty dầu Nhật cũng có mặt ở nhiều dự án khai thác dầu tại Sakhalin, đặc biệt dự án “Sakhalin-1” với sự hiện diện của công ty Sodeko.Trong khi đó, Mitsui và Mitsubishi tham gia “Sakhalin-2”. Mức độ phủ sóng của Nhật còn thể hiện ở sự hỗ trợ kỹ thuật cho các công trình cầu đường tại Vladivostok, nơi Nga đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh APEC 2012 (vào tháng 9). Moscow và Tokyo cũng đang tỏ ra cùng có thiện chí giải pháp dứt điểm cuộc tranh chấp chủ quyền quanh quần đảo Kuril…







    Mạnh Kim
    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 16-02-2012 lúc 03:25 PM.

  4. Có 1 người thích bài viết này


  5. #3
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    535
    Thích
    175
    Đã được thích 170 lần trong 132 bài viết
    Em tới Hokkaido, các bảng chỉ đường ngoài ghi chữ Nhật thì còn có tiếng Nga, thay vì tiếng Anh như ở miền Kyushu

  6. #4
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Trung Quốc tìm cách độc quyền tiếp cận dầu mỏ Đông Siberia

    (Tamnhin.net) - Do Mỹ có khả năng ngăn cản nguồn cung cấp dầu mỏ cho Trung Quốc từ các vùng trên thế giới trừ Nga, do đó Bắc Kinh ngày càng quan tâm tới nguồn dầu mỏ Đông Siberia.


    Xây dựng đường ống dẫn dầu Đông Siberia-Thái Bình Dương
    Giám đốc Quỹ An ninh năng lượng quốc gia Nga Konstantin Simonov đã bình luận như vậy về đề xuất của Trung Quốc mua toàn bộ lượng dầu được vận chuyển qua đường ống dẫn dầu Đông Siberia - Thái Bình Dương (ESPO).

    Ông Konstantin Simonov nói Trung Quốc đang tích cực mua dầu mỏ ở châu Phi, Trung Đông và Mỹ Latinh. Tuy nhiên, Hải quân Mỹ có thể dễ dàng ngăn chặn hành trình vận chuyển dầu mỏ từ vùng Vịnh Ba Tư tới Trung Quốc qua eo biển Malacca và Hormuz. Nếu cần thiết, Mỹ có thể chặn các tàu chở dầu đi từ Châu Phi hoặc ở Biển Đỏ hoặc trong vùng biển Somalia. Chuyên viên Nga cho rằng, mặc dù Trung Quốc kiểm soát kênh đào Panama thông qua các doanh nhân gốc Trung Quốc, nhưng Mỹ có thể dễ dàng ngăn chặn hành trình này không cho Trung Quốc tiếp cận dầu mỏ Venezuela. Ông nói: “Tất cả các hành trình vận chuyển dầu mỏ sang Trung Quốc đều nằm trong khu vực có nguy cơ quân sự nghiêm trọng và Bắc Kinh hiểu rõ điều đó. Trung Quốc có thể ký kết rất nhiều hợp đồng, nhưng điều đó vẫn không bảo vệ nước này khỏi các tình huống rủi ro. Nga là nước sản xuất dầu lớn duy nhất mà Trung Quốc không có vấn đề như vậy. Hải quân Mỹ không có khả năng ngăn chặn việc cung cấp dầu mỏ Nga cho Trung Quốc vì quá trình vận chuyển thực hiện qua đường ống dẫn”.

    Đối với Trung Quốc, dầu mỏ Đông Siberia trở thành một “cây đũa thần” trong trường hợp bất trắc về quan hệ với Mỹ. Hiện nay, Bắc Kinh tiêu thụ 15 triệu tấn dầu/năm được cung cấp qua chi nhánh của ESPO “Skovorodino-Đại Khánh” và đang tiến hành cuộc đàm phán để tăng gấp đôi khối lượng đó. Tức là, Trung Quốc muốn mua toàn bộ khối lượng dầu bơm qua ESPO. Hiện nay, 15 triệu tấn còn lại được vận chuyển qua đường biển từ cảng Kozmino ở Thái Bình Dương. Đây là điểm cuối cùng của đường ống ESPO. Các nước nhập khẩu lớn nhất là Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc. Các tàu chở dầu của Trung Quốc cũng ghé vào cảng Kozmino để lấy dầu. Trung Quốc phải chịu sự cạnh tranh gay gắt vì Mỹ trả giá cao hơn 4-5 USD/thùng so với giá trung bình. Trong khi đó vấn đề chính ở đây không phải là giá dầu. Nếu giành được toàn bộ lượng dầu khai thác ở Đông Siberia, thì Trung Quốc sẽ ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh tiếp cận nguồn nhiên liệu này ít nhất trong vài năm tới chừng nào Nga chưa bắt đầu khai thác các mỏ dầu mới. Tuy nhiên, nhiều nền kinh tế châu Á ngay hiện nay có nhu cầu về dầu mỏ Siberia.

    Nếu Nga bị ràng buộc chặt chẽ vào nhà nhập khẩu chỉ có một Trung Quốc thì điều đó không phục vụ lợi ích kinh tế và chính trị của Mátxcơva. Liên bang Nga quyết định xây dựng chi nhánh đường ống tới bờ biển Thái Bình Dương đã được thông qua để có khả năng xuất khẩu dầu mỏ không chỉ cho Trung Quốc mà còn cho các thị trường khác. Vì thế xét theo mọi việc, Nga sẽ không có quyết định đưa toàn bộ khối lượng dầu mỏ từ Đông Sibiri sang Trung Quốc.

    Mặt khác, dầu mỏ Siberia cũng là mặt hàng được bán theo quy luật cạnh tranh trên thị trường quốc tế.


    Minh Châu (theo Voice of Russia-VOR)

  7. #5
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Nhà máy điện hạt nhân nổi



    (Petrotimes) - Nga đang xây dựng một nhà máy điện hạt nhân nổi, một sáng tạo trong sản xuất năng lượng có thể cung cấp điện đến những nơi xa xôi hẻo lánh của thế giới.
    Tập đoàn Năng lượng Nguyên tử của Nga, Rostom đang thực hiện những đột phá lớn trong kế hoạch xây dựng một nhà máy điện hạt nhân thương mại trong tàu thủy. Tàu thủy nguyên mẫu mang tên “Akademik Lomnosov”, dùng để chứa hai lò phản ứng hạt nhân và những thiết bị phát điện đã được hạ thủy ngày 30/6/2010 gần nhà máy đóng tàu Baltisky ở St Petersburg. Hai lò phản ứng nước nén KLT-40S dựa theo những lò phản ứng của những tàu phá băng hạt nhân được cải tiến và được Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) đồng ý cho sử dụng, mỗi lò phản ứng có công suất khoảng 35 megawat. Tại đây đang lắp ráp những bộ phận bên trong tàu để nhà máy có thể đi vào hoạt động trong năm 2013. Nếu thành công, Nga có kế hoạch xây dựng tổng cộng 7 nhà máy điện hạt nhân nổi cho đến năm 2015.


    "Hạ thủy" nhà máy điện hạt nhân nổ Akademik Lomnosov ngày 30/6/2010



    Chính phủ Nga coi nhà máy điện hạt nhân nổi như là sự đột phá về công nghệ sẽ cung cấp nguồn năng lượng kinh tế và bền vững đối với những vùng xa xôi của Nga cũng như để xuất khẩu ra nước ngoài. Thêm vào đó, nhà máy loại này cũng có thể cung cấp năng lượng cho Nga tiến hành khai thác dầu mỏ và khí đốt trong những điều kiện môi trường cực kỳ khó khăn ở Bắc Cực. Nhà máy cũng có năng lực cung cấp năng lượng cho khử mặn dường như cũng hấp dẫn đối với các quốc gia ở cận Đông và Bắc Phi thiếu nước ngọt.Rostom cho rằng, điện phát ra từ nhà máy điện hạt nhân nổi cung cấp đủ cho nhu cầu điện của một thành phố 200.000 dân.Nga sẽ sử dụng nhiên liệu uranium được làm giàu thấp (dưới 20%) để cung cấp cho hai lò phản ứng được đặt trên tàu thủy. Những nhiên liệu hạt nhân đã được nhà máy này sử dụng được đưa đi 10 năm một lần với thời gian nạp nhiên liệu hạt nhân một năm rưỡi hay hai năm/lần. Nhà máy sẽ được đưa đến trạm dịch vụ để nạp nhiên liệu hạt nhân.Dự kiến nhà máy này sẽ hoạt động được khoảng 38 năm và khi hết hạn sử dụng sẽ đưa đến nơi lắp ráp của nhà máy để thanh lý. Đã có kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân thứ hai ở Pevek trên bán đảo Chokoka và những nhà máy tiếp theo sẽ do Nga cung cấp vốn trên cơ sở thương mại. Moscow hy vọng sử dụng công nghệ này để cung cấp những phương tiện phát điện kinh tế và thân thiện với môi trường hơn ở những vùng xa xôi của Nga thay vì xây dựng những nhà máy điện chạy bằng nhiên liệu hóa thạch tốn kém. Hiện Nga là nước đứng thứ tư về sản xuất điện bằng năng lượng hạt nhân với 10 địa điểm và 32 đơn vị hạt nhân đang hoạt động.Việc Nga thiết kế và xây dựng nhà máy điện hạt nhân nổi thương mại đầu tiên trên thế giới tiêu tốn 528 triệu USD và 70 triệu USD để xây dựng những cơ sở hạ tầng hỗ trợ trên đất liền. Mức chi phí này thấp hơn nhiều so với xây dựng một nhà máy điện hạt nhân truyền thống, ước tính từ 3 tỉ USD đến 18 tỉ USD tùy theo công suất và loại nhà máy điện hạt nhân. Dự án nhà máy điện hạt nhân nổi của Nga càng thu hút được nhiều sự chú ý trong những tháng gần đây sau khi xảy ra thảm họa ở Nhà máy Điện hạt nhân Fukushima và mối lo ngại của những nhà hoạt động về môi trường do hạt nhân ngày càng tăng, về sự đảm bảo an toàn và an ninh của hoạt động của nhà máy điện hạt nhân nổi ở ngoài biển do tác động của những rủi ro tiềm tàng trong đó có những hoạt động khủng bố, cướp biển và những thiên tai như động đất và sóng thần, nhưng những lò phản ứng hạt nhân của nhà máy điện hạt nhân nổi được đặt trong cái vỏ bọc bên ngoài vững chắc, một cấu trúc có thể bảo vệ lò phản ứng khỏi bị sự tấn công từ bên ngoài mà còn chịu đựng được trong những điều kiện máy bay lao thẳng xuống con tàu hoặc động đất 8 độ richter.Minh Quốc

    Trong ngành điện thì vấn đề này cũng được biết từ thế kỷ trước quãng những năm cuối 199x, khi đó Nga cũng đã chào cho VN mô hình này, nhưng VN lúc đó không có tiền để làm.
    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 03-03-2012 lúc 07:38 PM.

  8. #6
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết
    Dự án hạt nhân Việt Nam quá tham vọng?

    ...
    Một số quốc gia từng để xảy ra thảm họa hạt nhân nằm trong số có các công ty đang "ra sức" bán công nghệ năng lượng này cho Việt Nam, trong đó có Nga và Nhật Bản.
    ...
    Ông Nhẫn tin rằng các công ty cung cấp công nghệ điện hạt nhân đang cố bán hàng cho Việt Nam vì họ đã "chót đầu tư" và nay lại bị chính trong nước của họ không cho lắp đặt, vận hành, nên tìm cách bán thứ công nghệ mà ông cho là "đã lỗi thời" và không có tương lai sang các quốc gia kém phát triển "chỉ vì lợi nhuận:"
    "Họ làm là để họ bán. Nhật không thể nào xây cất ở trong nước của được. Nga thì ẩu, nước của họ lớn, rộng, nếu họ làm, thì họ sẽ bị một Chernobyl khác... Mỹ ba chục năm nay họ không xây cất nữa, họ chỉ làm để bán. Vì đó là vấn đề thị trường quốc tế, họ đã đầu tư rồi thì họ muốn bán.
    ...
    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/viet..._critics.shtml

  9. #7
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết
    Năng lượng gió của Việt Nam: Tiềm năng và triển vọng

    1. Tình hình cung – cầu điện năng ở Việt Nam
    Tốc độ tăng trưởng trung bình của sản lượng điện ở Việt Nam trong 20 năm trở lại đây đạt mức rất cao, khoảng 12-13%/năm – tức là gần gấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế. Chiến lược công nghiệp hóa và duy trì tốc độ tăng trưởng cao để thực hiện „dân giàu, nước mạnh“ và tránh nguy cơ tụt hậu sẽ còn tiếp tục đặt lên vai ngành điện nhiều trọng trách và thách thức to lớn trong những thập niên tới. Để hoàn thành được những trọng trách này, ngành điện phải có khả năng dự báo nhu cầu về điện năng của nền kinh tế, trên cơ sở đó hoạch định và phát triển năng lực cung ứng của mình.
    Việc ước lượng nhu cầu về điện không hề đơn giản, bởi vì nhu cầu về điện là nhu cầu dẫn xuất. Chẳng hạn như nhu cầu về điện sinh hoạt tăng cao trong mùa hè là do các hộ gia đình có nhu cầu điều hòa không khí, đá và nước mát. Tương tự như vậy, các công ty sản xuất cần điện là do điện có thể được kết hợp với các yếu tố đầu vào khác (như lao động, nguyên vật liệu v.v.) để sản xuất ra các sản phẩm cuối cùng. Nói cách khác, chúng ta không thể ước lượng nhu cầu về điện một cách trực tiếp mà phải thực hiện một cách gián tiếp thông qua việc ước lượng nhu cầu của các sản phẩm cuối cùng.(1) Nhu cầu này, đến lượt nó, lại phụ thuộc vào nhiều biến số kinh tế và xã hội khác. Bảng dưới đây cung cấp dữ liệu lịch sử của một số biến số ảnh hưởng tới nhu cầu về điện ở Việt Nam trong những năm qua.
    Một cách khác để nhìn vào khía cạnh cầu về điện năng là phân tách tổng cầu về điện theo các ngành kinh tế (Hình 1). Ta thấy số liệu ở Bảng 1 và Hình 1 tương thích với nhau. Nhu cầu về điện năng trong công nghiệp và sinh hoạt/ hành chính chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nhu cầu.
    Năm 2005, điện phục vụ tiêu dùng và công nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn, lần lượt là 43,81% và 45,91%, trong khi 11% còn lại dành cho nông nghiệp và các nhu cầu khác. Nhu cầu điện của khu vực công nghiệp tăng cao là hệ quả trực tiếp của chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, mà một biểu hiện của nó là tốc độ tăng trưởng giá trị SXCN trung bình trong hơn 10 năm qua đạt mức khá cao là 10,5%. Còn ở khu vực tiêu dùng, cùng với mức tăng dân số, tốc độ đô thị hóa khá cao, và gia tăng thu nhập của người dân, nhu cầu về điện tiêu dùng cũng tăng với tốc độ rất cao. Kết quả là nhu cầu về điện của toàn nền kinh tế tăng trung bình gần 13%/năm, và tốc độ tăng của mấy năm trở lại đây thậm chí còn cao hơn mức trung bình. Theo dự báo, tốc độ tăng chóng mặt này sẽ còn tiếp tục được duy trì trong nhiều năm tới. Đây thực sự là một thách thức to lớn, buộc ngành điện phải phát triển vượt bậc để có thể đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước.

    Bây giờ hãy thử kết hợp những dự báo về nhu cầu điện năng của nền kinh tế với năng lực cung ứng của ngành điện. Nếu tốc độ phát triển nhu cầu về điện tiếp tục duy trì ở mức rất cao 14-15%/năm như mấy năm trở lại đây thì đến năm 2010 cầu về điện sẽ đạt mức 90.000 GWh, gấp đôi mức cầu của năm 2005. Theo dự báo của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam, nếu tốc độ tăng trưởng GDP trung bình tiếp tục được duy trì ở mức 7,1%/năm thì nhu cầu điện sản xuất của Việt Nam vào năm 2020 sẽ là khoảng 200.000 GWh, vào năm 2030 là 327.000 GWh. Trong khi đó, ngay cả khi huy động tối đa các nguồn điện truyền thống thì sản lượng điện nội địa của chúng ta cũng chỉ đạt mức tương ứng là 165.000 GWh (năm 2020) và 208.000 GWh (năm 2030). Điều này có nghĩa là nền kinh tế sẽ bị thiếu hụt điện một cách nghiêm trọng, và tỷ lệ thiếu hụt có thể lên tới 20-30% mỗi năm. Nếu dự báo này của Tổng Công ty Điện lực trở thành hiện thực thì hoặc là chúng ta phải nhập khẩu điện với giá đắt gấp 2-3 lần so với giá sản xuất trong nước, hoặc là hoạt động sản xuất của nền kinh tế sẽ rơi vào đình trệ, còn đời sống của người dân sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
    Không phải đợi đến năm 2010 hay 2020, ngay trong thời điểm hiện tại chúng ta cũng đã được “nếm mùi” thiếu điện. Năm 2005, lần đầu tiên sau nhiều năm trở lại đây, người dân ở hai trung tâm chính trị và kinh tế của đất nước chịu cảnh cắt điện luôn phiên gây nhiều khó khăn cho sinh hoạt và ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế (2)
    (1) Về mặt kỹ thuật, để ước lượng chính xác nhu cầu về điện, chúng ta còn phải xem xét khả năng thay thế giữa điện năng và các yếu tố đầu vào khác trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng; và điều này phụ thuộc vào công nghệ tương lai mà trên thực tế rất khó có thể dự báo một cách chính xác.
    (2)”Thiếu điện: Hà Nội ngột ngạt”, VietnamNet – http://vietnamnet.vn/xahoi/doisong/2005/05/437949/

    2. Một số lựa chọn chính sách của Việt Nam
    Đứng trước thách thức thiếu hụt điện (không nằm ngoài xu thế chung của toàn cầu), chúng ta cần cân nhắc những biện pháp ứng xử thích hợp. Trong ngắn hạn, việc tiết kiệm điện trong các hoạt động sản suất và sinh hoạt đóng vai trò hết sức quan trọng. Bên cạnh đó, cũng có thể xem xét phương án tăng giá điện như đề xuất hiện nay của Bộ Công nghiệp. Việc tăng giá điện một mặt có tác dụng điều chỉnh mức cầu về điện năng, mặt khác giúp tăng tích lũy để mở rộng đầu tư cho ngành điện. Tuy nhiên, vì việc tăng giá điện sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của quảng đại nhân dân và của hoạt động sản xuất kinh doanh nên giải pháp tăng giá điện cần được cân nhắc một cách thận trọng. Phương án tăng giá điện phải tính đến tính công bằng giữa các nhóm dân cư có mức thu nhập khác nhau, trong đó cần hạn chế đến mức độ tối đa tác động tiêu cực đối với các nhóm dân cư có thu nhập thấp. Bên cạnh đó, cũng phải lưu ý rằng điện là một yếu tố đầu vào thiết yếu của hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, việc tăng giá điện sẽ có thể ảnh hưởng tới mức lạm phát vốn đã xấp xỉ ngưỡng 2 con số. Không những thế, nếu nhìn sang các nước xung quanh thì thấy ngay với mức giá hiện tại, giá điện của Việt Nam đã cao hơn một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái-lan, In-đô-nê-xia, và Ma-lay-xia. Như vậy, việc tăng thêm giá điện 10-15% trong năm nay và những năm kế tiếp sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới năng lực cạnh tranh của nền kinh tế vốn đã bị giảm liên tục trong mấy năm trở lại đây.
    Trong trung hạn và dài hạn, Việt Nam cần có chiến lược đảm bảo an ninh năng lượng bằng cách một mặt mở rộng khai thác những nguồn năng lượng truyền thống; mặt khác, thậm chí còn quan trọng hơn, phát triển các nguồn năng lượng mới, đặc biệt là các nguồn năng lượng sạch và có khả năng tái tạo. Khả năng này phụ thuộc rất nhiều vào những phát triển của công nghệ trong tương lai cũng như vào mức giá tương đối của các nguồn năng lượng khác nhau. Cho đến thời điểm này, chúng ta mới chú trọng đến phương án thứ nhất, tức là tiếp tục khai thác các nguồn năng lượng truyền thống, chủ yếu là thủy điện. Về kế hoạch phát triển nguồn năng lượng mới, ngày 3/1/2006 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt ”Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình tới năm 2020”. Theo dự báo của Viện Năng lượng Nguyên tử Quốc gia thì vào năm 2020, nếu theo đúng tiến độ thì công suất điện hạt nhân sẽ đạt mức 2000 MW, bằng 7% tổng công suất. Cũng theo dự báo này, khi ấy nhiệt điện khí sẽ chiếm tỷ trọng lớn nhất (38%), sau đó là đến thủy điện (29%), nhiệt điện than (17%) và nhập khẩu (9%).
    Trong phần cuối của bài viết này, chúng tôi tập trung phân tích tiềm năng của một dạng năng lượng tái tạo và sạch ở Việt Nam, đó là năng lượng gió. Phần này không có tham vọng trình bày một cách tổng quan hay đầy đủ mọi khía cạnh của việc phát triển năng lượng gió, mà chỉ nhằm góp thêm một lời bàn về khả năng phát triển năng lượng gió nhằm đa dạng hóa nguồn cung cấp năng lượng, đồng thời đáp ứng được yêu cầu về bảo vệ môi trường và phát triển năng lượng bền vững cho Việt Nam. Một điều đáng lưu ý là trong hàng loạt giải pháp phát triển nguồn điện để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế (như nhập khẩu điện, phát triển thủy điện, hay điện hạt nhân), dường như Việt Nam còn bỏ quên điện gió, một nguồn điện mà trong mấy năm trở lại đây có tốc độ phát triển cao nhất trên thị trường điện thế giới, hơn nữa giá thành ngày càng rẻ và rất thân thiện với môi trường.

    3. Giá thành của điện gió, liệu có đắt như định kiến?
    Cho đến tận những năm 1990, nhiều người vẫn cho rằng giá thành (bao gồm giá lắp đặt và vận hành) của các trạm điện gió khá cao. Nhưng ngày nay, định kiến này đang được nhìn nhận và đánh giá lại, đặc biệt khi quan niệm giá thành không chỉ bao gồm chi phí kinh tế mà còn gồm cả những chi phí ngoài (external cost – như chi phí về xã hội do phải tái định cư, hay về môi trường do ô nhiễm). Trong khi nguồn năng lượng từ
    nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, khí đốt đang bị coi là kém ổn định và có xu thế tăng giá, thì cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, giá thành của các trạm điện gió càng ngày càng rẻ hơn.
    Hình 2: Giá thành xây lắp trạm điện gió (trục tung) tính theo công suất mỗi trạm phát (trục hoành). Năm 1998, giá thành chưa đến 1000USD/kW. Năm 2020, giá sẽ giảm xuống chỉ còn 650USD/kW. (*)

    Thử lấy một ví dụ cụ thể để so sánh giá thành của điện gió và thủy điện. Nhà máy thủy điện Sơn La với 6 tổ máy, tổng công suất thiết kế là 2400 MW, được dự kiến xây dựng trong 7 năm với tổng mức đầu tư là 2,4 tỷ USD. Giá thành khi phát điện (chưa tính đến chi phí môi trường) là 70 USD/MWh. Như vậy để có được 1 KW công suất cần đầu tư 1.000USD trong 7 năm. Trong khi đó theo thời giá năm 2003 đầu tư cho 1 KW điện gió ở nhiều nước Châu Âu cũng vào khoảng 1.000 USD. Đáng lưu ý là giá thành này giảm đều hàng năm do cải tiến công nghệ. Nếu thời gian sử dụng trung bình của mỗi trạm điện gió là 20 năm thì chi phí khấu hao cho một KWh điện gió là sẽ 14 USD. Cộng thêm chi phí thường xuyên thì tổng chi phí quản lý và vận hành sẽ nằm trong khoảng 48 – 60 USD/MWh – tương đương với thủy điện, vốn được coi là nguồn năng lượng rẻ và hiệu quả. Theo dự đoán, đến năm 2020 giá thành điện gió sẽ giảm đáng kể, chỉ khoảng 600 USD/KW, khi ấy chi phí quản lý và vận hành sẽ giảm đáng kể, chỉ còn khoảng 30 USD/MWh (3, 4)
    Ở Việt Nam cũng đã có một dự án điện gió với công suất 50 MW, đó là nhà máy điện gió Phương Mai ở Bình Định phục vụ cho Khu Kinh tế Nhơn Hội. Tổng đầu tư giai đoạn 1 cho 50MW điện là 65 triệu USD, và giá bán điện dự kiến là 45 USD/MWh(5). Tiếc rằng tiến độ xây dựng nhà máy quá chậm chạp (mặc dù thời gian dự kiến xây lắp chỉ trong khoảng một năm), và vì vậy không thể đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án một cách chính xác để so sánh với giá thành của các nguồn năng lượng khác hiện có ở Việt Nam.
    (*)Trong bài viết của TS. Vũ Thành Tự Anh trên trang của Chương trình Fulbright, có một chút nhầm lẫn về đơn vị kW->MW. DEVI đã đính chính lại thông tin này.
    (3) “Wind Power Economic – Wind Energy Costs – Investment Factors.” EWEA 2005 – www.eawa.org (các giá thành được quy đổi theo tỷ giá 1 Euro = 1,2 USD)
    (4)Danish Wind Industry Association, http://www.windpower.org/en/tour/econ/index.htm
    (5)“Điện năng từ gió, tiềm năng chưa được đánh thức”, http://www.vnexpress.net/Vietnam/Kho...5/05/3B9DE056/

    4. Những lợi ích về môi trường và xã hội của điện gió
    Năng lượng gió được đánh giá là thân thiện nhất với môi trường và ít gây ảnh hưởng xấu về mặt xã hội. Để xây dựng một nhà máy thủy điện lớn cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng các rủi ro có thể xảy ra với đập nước. Ngoài ra, việc di dân cũng như việc mất các vùng đất canh tác truyền thống sẽ đặt gánh nặng lên vai những người dân xung quanh khu vực đặt nhà máy, và đây cũng là bài toán khó đối với các nhà hoạch định chính sách. Hơn nữa, các khu vực để có thể quy hoạch các đập nước tại Việt Nam cũng không còn nhiều. Song hành với các nhà máy điện hạt nhân là nguy cơ gây ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống của người dân xung quanh nhà máy. Các bài học về rò rỉ hạt nhân cộng thêm chi phí đầu tư cho công nghệ, kĩ thuật quá lớn khiến càng ngày càng có nhiều sự ngần ngại khi sử dụng loại năng lượng này. Các nhà máy điện chạy nhiên liệu hóa thạch thì luôn là những thủ phạm gây ô nhiễm nặng nề, ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe người dân. Hơn thế nguồn nhiên liệu này kém ổn định và giá có xu thế ngày một tăng cao.
    Khi tính đầy đủ cả các chi phí ngoài – là những chi phí phát sinh bên cạnh những chi phí sản xuất truyền thống, thì lợi ích của việc sử dụng năng lượng gió càng trở nên rõ rệt. So với các nguồn năng lượng gây ô nhiễm (ví dụ như ở nhà máy nhiệt điện Ninh Bình) hay phải di dời quy mô lớn (các nhà máy thủy điện lớn), khi sử dụng năng lượng gió, người dân không phải chịu thiệt hại do thất thu hoa mầu hay tái định cư, và họ cũng không phải chịu thêm chi phí y tế và chăm sóc sức khỏe do ô nhiễm.
    Hình 3: Chi phí xã hội của điện gió, nhiệt điện than và khí ở Đan Mạch

    Ngoài ra với đặc trưng phân tán và nằm sát khu dân cư, năng lượng gió giúp tiết kiệm chi phí truyền tải. Hơn nữa, việc phát triển năng lượng gió ở cần một lực lượng lao động là các kỹ sư kỹ thuật vận hành và giám sát lớn hơn các loại hình khác, vì vậy giúp tạo thêm nhiều việc làm với kỹ năng cao.
    Tại các nước Châu Âu, các nhà máy điện gió không cần đầu tư vào đất đai để xây dựng các trạm tourbin mà thuê ngay đất của nông dân. Giá thuê đất (khoảng 20% giá thành vận hành thường xuyên) giúp mang lại một nguồn thu nhập ổn định cho nông dân, trong khi diện tích canh tác bị ảnh hưởng không nhiều.
    Cuối cùng, năng lượng gió giúp đa dạng hóa các nguồn năng lượng, là một điều kiện quan trọng để tránh phụ thuộc vào một hay một số ít nguồn năng lượng chủ yếu; và chính điều này giúp phân tán rủi ro và tăng cường an ninh năng lượng.

    5. Tiềm năng điện gió của Việt Nam
    Nằm trong khu vực cận nhiệt đới gió mùa với bờ biển dài, Việt Nam có một thuận lợi cơ bản để phát triển năng lượng gió. So sánh tốc độ gió trung bình trong vùng Biển Đông Việt Nam và các vùng biển lân cận cho thấy gió tại Biển Đông khá mạnh và thay đổi nhiều theo mùa(6)
    Hình 4: Bản đồ tiềm năng điện gió Việt Nam. Tốc độ trung bình năm tại độ cao 65m. Nguồn: Wind Resource Atlas of Southeast Asia 2001

    Trong chương trình đánh giá về Năng lượng cho Châu Á, Ngân hàng Thế giới đã có một khảo sát chi tiết về năng lượng gió khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam (Bảng 2). Như vậy Ngân hàng Thế giới đã làm hộ Việt Nam một việc quan trọng, trong khi Việt Nam còn chưa có nghiên cứu nào đáng kể. Theo tính toán của nghiên cứu này, trong bốn nước được khảo sát thì Việt Nam có tiềm năng gió lớn nhất và hơn hẳn các quốc gia lân cận là Thái Lan, Lào và Campuchia. Trong khi Việt Nam có tới 8,6% diện tích lãnh thổ được đánh giá có tiềm năng từ „tốt“ đến „rất tốt“ để xây dựng các trạm điện gió cỡ lớn thì diện tích này ở Campuchia là 0,2%, ở Lào là 2,9%, và ở Thái-lan cũng chỉ là 0,2%.(7).

    Tổng tiềm năng điện gió của Việt Nam ước đạt 513.360 MW tức là bằng hơn 200 lần công suất của thủy điện Sơn La, và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện vào năm 2020. Tất nhiên, để chuyển từ tiềm năng lý thuyết thành tiềm năng có thể khai thác, đến tiềm năng kỹ thuật, và cuối cùng, thành tiềm năng kinh tế là cả một câu chuyện dài; nhưng điều đó không ngăn cản việc chúng ta xem xét một cách thấu đáo tiềm năng to lớn về năng lượng gió ở Việt Nam.
    Nếu xét tiêu chuẩn để xây dựng các trạm điện gió cỡ nhỏ phục vụ cho phát triển kinh tế ở những khu vực khó khăn thì Việt Nam có đến 41% diện tích nông thôn có thể phát triển điện gió loại nhỏ. Nếu so sánh con số này với các nước láng giềng thì Campuchia có 6%, Lào có 13% và Thái Lan là 9% diện tích nông thôn có thể phát triển năng lượng gió. Đây quả thật là một ưu đãi dành cho Việt Nam mà chúng ta còn thờ ơ chưa nghĩ đến cách tận dụng.
    Hình 5: Gió mạnh vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau là sự bổ sung hữu ích cho các tháng thiếu nước của các thủy điện. Nguồn: Wind Resource Atlas of Southeast Asia 2001

    (6)“Biển Đông”, tập 2, Khí tượng Thủy văn Động lực Biển – Phạm Văn Ninh chủ biên., 2003. NXB Đại học Quốc gia
    (7)“Wind Energy Resource Atlas of Southeast Asia”, 2001. Có thể download toàn bộ cuốn Atlas này tại địa chỉ: http://www.worldbank.org/astae/werasa/complete.pdf

    6. Đề xuất một khu vực xây dựng điện gió cho Việt Nam
    Ở Việt Nam, các khu vực có thể phát triển năng lượng gió không trải đều trên toàn bộ lãnh thổ. Với ảnh hưởng của gió mùa thì chế độ gió cũng khác nhau. Nếu ở phía bắc đèo Hải Vân thì mùa gió mạnh chủ yếu trùng với mùa gió đông bắc, trong đó các khu vực giàu tiềm năng nhất là Quảng Ninh, Quảng Bình, và Quảng Trị. Ở phần phía nam đèo Hải Vân, mùa gió mạnh trùng với mùa gió tây nam, và các vùng tiềm năng nhất thuộc cao nguyên Tây Nguyên, các tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long, và đặc biệt là khu vực ven biển của hai tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận. Theo nghiên cứu của NHTG, trên lãnh thổ Việt Nam, hai vùng giàu tiềm năng nhất để phát triển năng lượng gió là Sơn Hải (Ninh Thuận) và vùng đồi cát ở độ cao 60-100m phía tây Hàm Tiến đến Mũi Né (Bình Thuận). Gió vùng này không những có vận tốc trung bình lớn, mà còn có một thuận lợi khác, đó là số lượng các cơn bão khu vực ít và gió có xu thế ổn định. Đây là những điều kiện rất
    thuận lợi để phát triển năng lượng gió.
    Hình 6: Khu vực Ninh Thuận – Bình Thuận, Tây Nguyên được đánh giá là có tiềm năng gió lớn hơn cả

    Trong những tháng có gió mùa, tỷ lệ gió nam và đông nam lên đến 98% với vận tốc trung bình 6-7 m/s(8) tức là vận tốc có thể xây dựng các trạm điện gió công suất 3 – 3,5 MW. Thực tế là người dân khu vực Ninh Thuận cũng đã tự chế tạo một số máy phát điện gió cỡ nhỏ nhằm mục đích thắp sáng. Ở cả hai khu vực này dân cư thưa thớt, thời tiết khô nóng, khắc nghiệt, và là những vùng dân tộc đặc biệt khó khăn của Việt Nam.
    Mặc dù có nhiều thuận lợi như đã nêu trên, nhưng chúng ta cần phải lưu ý một số điểm đặc thù của năng lượng gió để có thể phát triển nó một cách có hiệu quả nhất. Nhược điểm lớn nhất của năng lượng gió là sự phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và chế độ gió. Vì vậy khi thiết kế, cần nghiên cứu hết sức chi tiết về chế độ gió, địa hình cũng như loại gió không có các dòng rối (có ảnh hưởng không tốt đến máy phát). Cũng vì những lý do có tính phụ thuộc vào điều kiện môi trường như trên, năng lượng gió tuy ngày càng phổ biến và quan trọng nhưng không thể là nguồn năng lượng chủ lực. Tuy nhiên, khả năng kết hợp giữa điện gió và thủy điện tích năng lại mở ra cơ hội cho Việt Nam, một mặt đa dạng hóa được nguồn năng lượng trong đó kết hợp những nguồn năng truyền thống với những nguồn lượng tái tạo sạch với chi phí hợp lý; mặt khác khai thác được thế mạnh, đồng thời hạn chế của mỗi nguồn năng lượng, và tận dụng các nguồn năng lượng này trong mối quan hệ bổ sung lẫn nhau. Một điểm cần lưu ý nữa là khả năng các trạm điện gió sẽ gây ô nhiễm tiếng ồn rong khi vận hành, cũng như có thể phá vỡ cảnh quan tự nhiên và có thể ảnh hưởng đến tín hiệu của các sóng vô tuyến nếu các yếu tố về kỹ thuật không được quan tâm đúng mức. Do vậy, khi xây dựng các khu điện gió cần tính toán khoảng cách hợp lý đến các khu dân cư, khu du lịch để không gây những tác động tiêu cực.

    7. Thay cho lời kết
    Nhằm đáp ứng mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng, trong trung hạn Việt Nam cần tiếp tục khai thác các nguồn năng lượng truyền thống. Về dài hạn, Việt Nam cần xây dựng chiến lược và lộ trình phát triển các nguồn năng lượng mới. Trong chiến lược này, chi phí kinh tế (bao gồm cả chi chí trong và chi chí ngoài về môi trường, xã hội) cần phải được phân tích một cách kỹ lưỡng, có tính đến những phát triển mới về mặt công nghệ, cũng như trữ lượng và biến động giá của các nguồn năng lượng thay thế. Trong các nguồn năng lượng mới này, năng lượng gió nổi lên như một lựa chọn xứng đáng, và vì vậy cần được đánh giá một cách đầy đủ.
    Việt Nam có nhiều thuận lợi để phát triển năng lượng gió. Việc không đầu tư nghiên cứu và phát triển điện gió sẽ là một sự lãng phí rất lớn trong khi nguy cơ thiếu điện luôn thường trực, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong khi đó, hiện nay chiến lược quốc gia về điện dường như mới chỉ quan tâm tới thủy điện lớn và điện hạt nhân -những nguồn năng lượng có mức đầu tư ban đầu rất lớn và ẩn chứa nhiều rủi ro về cả mặt môi trường và xã hội.
    Nếu nhìn ra thế giới thì việc phát triển điện gió đang là một xu thế lớn, thể hiện ở mức tăng trưởng cao nhất so với các nguồn năng lượng khác. Khác với điện hạt nhân vốn cần một quy trình kỹ thuật và giám sát hết sức nghiêm ngặt, việc xây lắp điện gió không đòi hỏi quy trình khắt khe đó. Với kinh nghiệm phát triển điện gió thành công của Ấn Độ, Trung Quốc, và Phi-lip-pin, và với những lợi thế về mặt địa lý của Việt Nam, chúng ta hoàn toàn có thể phát triển năng lượng điện gió để đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế. Liệu Việt Nam có thể „đi tắt, đón đầu“ trong phát triển nguồn năng lượng hay không phụ thuộc rất nhiều vào các quyết sách ngày hôm nay.

    http://devi-renewable.com/2011/04/09...ng-trien-vong/

  10. #8
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Lỗ hổng thiết kế của Nhật

    (Tamnhin.net) - Một năm đã trôi qua kể từ ngày 11/3 năm ngoái, khi sóng thần đã cướp đi sinh mạng hàng chục ngàn người Nhật Bản và gây ra “thảm họa Tchernobyl tại Châu Á”, báo Pháp Le Figaro viết lẽ ra nhà máy điện hạt nhân Fukushima đã không bị nhấn chìm như thế.


    Fukushima: Sai lầm từ khâu thiết kế





    Ngày 11/03/2011, những cơn sóng thần cao đến 12m đã cuốn đi biết bao sinh mạng và nhà cửa, đã nhấn chìm nhà máy điện hạt nhân Fukushima, làm ngập các máy phát điện dự phòng trong việc làm lạnh các lò phản ứng và sau đó thảm họa hạt nhân đã xảy ra.

    Thảm họa này là hoàn toàn do thiên nhiên hay có phần lỗi của con người? Trong báo cáo của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp hồi mùa hè vừa qua, nhà địa chấn học Armado Armijo - hiện đang làm việc tại Viện Vật lý Địa cầu Paris - đã trình ra hình ảnh và những bằng chứng cho thấy nhà máy điện hạt nhân Fukushima đã có nguy cơ bị nhấn chìm ngay từ khâu thiết kế.

    Cụ thể là trước kia ở khu vực xây dựng nhà máy có một dốc đứng thiên nhiên cao đến 40m so với mực nước biển. Các kỹ sư khi ấy thiết kế thế nào mà đã cho đào đi dốc đứng này để xây dựng nhà máy, trong khi nhà máy xây dựng chỉ có độ cao 7m so với mực nước biển, tức thấp hơn 5m so với chiều cao của sóng thần năm ngoái.

    Câu hỏi đặt ra ở đây là: Tại sao lại cho phá đi một dốc đứng thiên nhiên vốn là lá chắn bảo vệ an toàn hơn bất kỳ con đập nhân tạo nào, trong một vùng vốn thường bị động đất và sóng thần ? Câu trả lời: Xây nhà máy càng cao, chi phí bơm nước biển lên làm lạnh lò càng lớn và lợi nhuận sẽ càng nhỏ. Thế là vì muốn đạt lợi nhuận tối đa, người ta đã cho xây dựng một nhà máy ở độ cao thấp như vậy.

    Một sai lầm nữa là các nhà địa chấn thế giới đã dự báo sai khi cho rằng nếu có động đất ở khu vực này thì cũng không vượt qua 7,5 độ Richter và sóng thần cũng sẽ không cao hơn 5,7m. Theo ông Armijo, đó là sai lầm khoa học nghiêm trọng nhất và đã gây ra những hậu quả tồi tệ nhất trong lịch sử nhân loại. Sai lầm này đến từ việc các nhà khoa học đã không chịu thay đổi cách tiếp cận cổ điển, quá tin vào kinh nghiệm địa phương và tưởng rằng loài người đã hiểu hết về hiện tượng đứt gãy địa chấn bộ phận. Một sai lầm nữa là giới chuyên gia địa chấn chưa quan tâm đúng mức các dữ liệu lịch sử và địa chất.

    Chuyên gia địa chấn Xavier Le Pichon, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Pháp tóm lược : "Trận động đất 11/3 đã không được dự báo, trong khi nó hoàn toàn có thể được đoán trước".

    Nguy cơ hạt nhân đối với Nhật Bản vẫn còn chưa hết, bởi theo Le Figaro còn rất nhiều nhà máy hạt nhân ở nước này được xây dựng bên bờ biển với độ cao rất thấp so với mực nước biển.


    Minh Châu (theo RFI)

    Soi lại thiết kế ở Trung tâm điện lực Phú mỹ, theo thiết kế ban đầu thì TTĐL Phú mỹ này có 5 nhà máy (PM2.1, PM 2.1 Ext, PM 2.2, PM 4 và PM1), theo tiến độ ban đầu ngay từ 1993-1994, với diện tích 100 ha, toàn mặt bằng cần san gạt được bóc thảm hữu cơ, đào khoét sâu 4m, san phẳng, làm nền chung cho toàn TTĐL ... nằm gần sông Thị Vải, cũng với lý do để dễ đào kênh dẫn nước sông vào bơm nước làm mát chung cho TTĐL.
    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 11-03-2012 lúc 01:50 PM.

  11. Có 1 người thích bài viết này


  12. #9
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết
    Điện hạt nhân thì...ớn quá!
    Ở ta, "trên" đã "quyết" rồi! thì phận con dân như miềng chỉ còn biết...cầu trời thôi![-O<

    Có mấy cái vụ bỗng dưng...xe cháy ở ta mà đã có ai biết được bởi mà, tại vì,... gì đâu?!
    Thế mà hạt nhân gì đó, của anh nào đó, cũng nếm mùi rồi đó...!:-ss
    Quả là đất nước ta, nhân dân ta...gan thật! ^#(^

  13. #10
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết
    Còn về Trung tâm điện lực Duyên Hải, có 3 nhà máy, giá trị xây dựng gần 5 tỷ USD. Nhưng thiết kế đê bao bảo vệ vẫn theo tiêu chuẩn hiện hành năm 2002, không có tính đến động đất, sóng thần. :D. Chiều cao đê bao bảo vệ tính toán 6.5m để tiết kiệm xét đến chắc sóng của cảng thì h = 5.3m. Nói chung đủ thứ quy hoạch chồng chéo lằng nhằng, chỉ biết mấy nữa có gì dân ráng mà chịu. :((
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •