CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 2 của 10 Đầu tiênĐầu tiên 1234 ... CuốiCuối
Kết quả 11 đến 20 của 94

Chủ đề: Dầu, Năng lượng, Quyền lực

  1. #11
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Chiêm ngưỡng công trình “phong điện” trên đảo Phú Quý


    (Petrotimes) - Đảo Phú Quý (còn được gọi là cù lao Thu hay cù lao khoai Xứ) là một đảo nhỏ, với diện tích 16 km2. Có gần 18 ngàn cư dân sinh sống, Huyện đảo Phú Quý thuộc tỉnh Bình Thuận, cách thành phố Phan Thiết 120 km về hướng Đông Nam.

    Nhà máy điện gió trên đảo Phú Quý với tổng vốn đầu tư là 335 tỉ đồng do Công ty TNHH Một thành viên - Tổng Công ty điện lực Dầu khí Việt Nam đầu tư xây dựng.
    Nhà máy có công suất 6MW, bao gồm 3 trụ tua bin 2MW, được xây dựng tại hai xã Long Hải và Ngũ Phụng, với lượng điện sản xuất bình quân hàng năm khoảng 25,4 triệu Kwh. Hiện nay, nguồn điện cung cấp cho đảo Phú Quý từ Nhà máy điện Diesel có tổng công suất 3.000kW, chỉ đáp ứng phát điện 16 giờ/ngày (sáng từ 7h30 đến tối 23h30).
    Khi dự án điện gió được triển khai và đi vào hoạt động, sẽ góp phần giải quyết tình hình thiếu điện trên đảo, sẽ phục vụ điện 24/24 để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, thúc đẩy kinh tế – xã hội trên một hòn đảo đầy tiềm năng và phát triển.
    Theo như kế hoạch thì trong cuối tháng 3 này, công trình sẽ được khánh thành và đưa vào hoạt động để phục vụ bà con trên đảo
    Những hình ảnh của công trình “Phong điện” trên đảo


    Từ ngoài biển khơi nhìn vào bạn sẽ thấy được những cây quạt khổng lồ trên hòn đảo Phú Quý


    Những công nhân đang hăng say công việc để đưa “điện gió” vào phục vụ nhân dân


    Sau này, những con đường trên đảo sẽ được thắp sáng bằng điện gió


    Hướng ra biển lớn sẵn sàng nghinh phong


    Vật tư được giao đến tận công trình để kịp tiến độ thi công


    Thi công phần chân của cột tua bin


    Những cuộn lưới sắt này sẽ được bao quanh chân trụ tua bin


    Trạm điều khiển 3 cột tua bin đang được xây dựng


    Nhìn những cánh quạt như một chú chim hải âu vươn đôi cánh ra biển lớn


    Mỗi cánh quạt dài 37 mét, thân cột cao 60 mét, nặng 24 tấn


    Hai cây quạt gió đứng hiên ngang giữa biển đảo


    Bà con trên đảo sẽ được dùng điện 24/24 để phục vụ cho việc đánh bắt thủy sản của mình

    Nguyễn Đức



  2. #12
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Lượng phóng xạ ở Thái Bình Dương cao gấp 6 lần
    Theo kết quả từ cuộc khảo sát của Cơ quan khảo sát biển Nhật Bản công bố ngày 12/3, sự cố xảy ra tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima-1 hồi tháng 3/2011 đã khiến hàm lượng chất phóng xạ cesium trong nước biển Thái Bình Dương cao gấp 6 lần so với những thử nghiệm trước đây.
    Trước đó, Đại diện Cơ quan an toàn hạt nhân và công nghiệp Nhật Bản, ông Hidehiko Nishiyama cho biết lượng nước nhiễm phóng xạ cao rò rỉ từ nhà máy hạt nhân Fukushima số 1 của nước này đã chảy trực tiếp ra biển Thái Bình Dương.

    Lượng phóng xạ này chảy ra từ hố bảo trì phía bên
    ngoài của nhà máy hạt nhân tiếp giáp với biển.

    Các nhà khoa học Nhật Bản đã tiến hành kiểm tra mẫu nước biển ở 500 điểm ven bờ của tỉnh Fukushima, và kết luận rằng rằng lượng chất thải cesium -137 từ nhà máy điện hạt nhân trên là từ 4.200 đến 5.600 TBq (Bq là đơn vị đo cường độ phóng xạ của vật, với mức 1 Bq bằng cường độ phóng xạ khi một vật có 1 lần phân rã trong 1 giây). Lượng này cao gấp 6 lần so với kết quả thử nghiệm trước đây. Chất phóng xạ cesium-137 là chất cực kỳ nguy hiểm vì nó có thể tích tụ trong cơ thể, hủy hoại cơ bắp và khởi phát bệnh ung thư. Thời gian bán phân hủy của cesium-137 là khoảng 30 năm. Khảo sát trên cũng cho thấy tổng lượng phát thải chất phóng xạ từ nhà máy "Fukushima-1" xuống Thái Bình Dương là khoảng 13-15 nghìn TBq. Tuy nhiên một số chất phóng xạ có thời gian bán phân hủy ngắn và cho đến thời điểm hiện nay thì chưa gây nguy hiểm.

  3. #13
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Hiểm họa tiềm tàng từ các nhà máy hạt nhân cũ
    Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) cảnh báo 80% nhà máy điện hạt nhân trên thế giới đã hoạt động hơn 20 năm, khoảng thời gian khiến giới chuyên gia về an toàn cảm thấy lo ngại.
    “Tuổi đời quá cao của các nhà máy điện hạt nhân có thể tác động tới khả năng đảm bảo an toàn và khả năng đáp ứng những yêu cầu về năng lượng của các quốc gia thành viên một cách tiết kiệm và hiệu quả. Những nước muốn duy trì hoạt động lâu dài của các nhà máy điện hạt nhân nên phân tích các khía cạnh an toàn của những bộ phận không thể thay thế trong nhà máy điện hạt nhân”
    , AFP dẫn một đoạn trong bản dự thảo báo cáo Đánh giá An toàn Hạt nhân của IAEA.

    Một nhà máy điện hạt nhân





    Nhiều chuyên gia của IAEA cho rằng tiêu chuẩn an toàn của các nhà máy điện hạt nhân cũ nên được nâng cấp để theo kịp các nhà máy điện hạt nhân mới ra đời hoặc sẽ được xây dựng trong tương lai. Dự thảo báo cáo của IAEA cho biết, 5% trong tổng số 435 nhà máy điện hạt nhân trên thế giới đã hoạt động hơn 40 năm và 32% đã vận hành hơn 30 năm. 254 lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu - chỉ sản xuất các đồng vị hạt nhân để phục vụ điều trị y khoa và một số mục đích dân sự khác - đang được sử dụng trên thế giới và 70% số đó được khởi động từ hơn 30 năm trước. Thậm chí nhiều lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu đã hoạt động lâu hơn thời gian dự kiến. “Những con số đó khiến những người vận hành lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu, các nhà quản lý và công chúng cảm thấy lo ngại”, dự thảo kết luận.





    Bàn ngoài lề:
    Hai tấm hình của 2 bài trên cho thấy 2 khác biệt nhau của kỹ thuật Nhật và Châu Âu. Ở đây chưa nói về làm mát cho các lò phản ứng hạt nhân, mà chỉ bàn về hệ thống làm mát sau phát điện.
    Để làm mát, nhà máy của Nhật dùng hệ thống làm mát bằng nước biển, với kênh dẫn nước vào và kênh xả. Dẫn đến là thường các nhà máy điện phải bố trí gần biển và có độ cao nền nhà máy tương đối thấp so với nước biển, đồng thời chiếm diện tích lớn. (xem hình 1 trên)
    Trong khi đó ở Châu Âu, có truyền thống làm mát là xây các tháp làm mát bằng không khí, nước làm mát sau phát điện được thu gom, bơm vào hệ thống ống dẫn chạy quanh tháp làm mát, để tỏa nhiệt, bốc hơi vào không khí (xem hình 2, bài dưới, chỉ thấy các tháp làm mát - 8 tháp, còn phần nhà máy điện hạt nhân nằm khuất đâu đó), nên nhà máy điện ít chiếm diện tích hơn, ít phụ thuộc vào phải gần biển.
    Nhà máy điện hạt nhân do không đốt nhiên liệu hóa thạch, nên hầu như không thải COx, NOx và SOx gây ô nhiễm như các nhà máy chạy khí, dầu hay than nên nhà máy điện hạt nhân không cần thiết có ống khói thoát khí thải. Ở hình nhà máy điện hạt nhân của Nhật có thấy các ống khói, chúng chỉ dùng khi cần có nguồn nhiên liệu hóa thạch đốt bổ sung để phát điện (dầu DO, khí hóa lỏng LPG/LNG...) khi các lò phản ứng ngừng chạy do bảo dưỡng, sửa chữa...
    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 01-04-2012 lúc 02:35 PM.

  4. #14
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Elgin: “Địa ngục giàn khoan” ở Biển Bắc


    (Tamnhin.net) – Một thảm họa môi trường đang xuất hiện ở Biển Bắc do việc một khối lượng lớn dầu khí thoát ra từ giàn khoan Elgin và khiến cho giá cổ phiếu của Tập đoàn khai thác dầu khí chủ quản Total bị sụt giảm nghiêm trọng.


    Giàn khoan Elgin ở Biển Bắc
    Tại giàn khoan Elgin của tập đoàn Total nằm cách bờ biển Scottland 240 km về phía bắc, một khối lượng khổng lồ khí đốt đang bị thoát ra không thể kiểm soát nổi. Trên bầu trời xuất hiện một đám mây khí đốt khổng lồ và trên mặt biển, một lớp váng dầu đang ngày càng lan rộng. Tập đoàn Total đã sơ tán toàn bộ nhân viên hoạt động trên giàn khoan Elgin, trong khi nhân viên trên hai giàn khoan gần đó của hãng Shell cũng đã rút đi. Tàu thuyền đã bị cấm đi lại qua một khu vực có bán kính 3 km xung quanh giàn khoan Elgin, trong khi máy bay lên thẳng cũng bị cấm lai vãng trên một khu vực có bán kính 5 km xung quanh giàn khoan này. Riêng máy bay chở khách bay ở tầm cao hơn nhiều thì không bị cấm bay.


    Hãng Shell cũng đã phải sơ tán 2 giàn khoan gần đó.

    Ban quản lý Total và giới chức Anh giải thích rằng lượng khí thất thoát không gây nguy hại cho cư dân đảo quốc “sương mù” vì số khí đốt nói trên bay lên khí quyển. Tuy nhiên, do trong hỗn hợp khí bị thất thoát có chất lưu huỳnh độc hại và dễ phát nổ, các nhân viên làm việc trên giàn khoan Elgin và trên các giàn khoan gần đó buộc phải sơ tán triệt để. Năm 1988, giàn khoan Piper Alpha ở Biển Bắc đã bị phát nổ và làm thiệt mạng 167 người, sau khi khí đốt cũng bị thoát ra ngoài.



    Vụ cháy nổ khí đốt trên giàn khoan Piper Alpha ngày 8/6/1988 khiến 167 người bị thiệt mạng

    Các chuyến bay do thám cho thấy lượng dầu rò rỉ từ giàn khoan Elgin đã bao phủ mặt biển với kích thước 1,4 km x 11 km (hơn 15 km2).

    Các nhà bảo vệ môi trường đã lên tiếng cảnh báo về những thảm họa môi trưởng nghiêm trọng do tình trạng rò rỉ dầu khí từ giàn khoan Elgin, đặc biệt do khí đốt có chứa chất lưu huỳnh độc hại. Chuyên gia bảo vệ biển Stephan Lutter cho biết: “Tình trạng thất thoát khí đốt kéo dài và không thể kiểm soát có thể tạo ra một khu vực chết ở xung quanh giàn khoan Elgin và tác hại nghiêm trọng đến hệ sinh thái ở Biển Bắc”.

    Nhóm bảo vệ môi trường Bellona của Na Uy cho rằng áp suất và nhiệt độ cao của các mỏ khí đốt ở Biển Bắc có thể dẫn đến một “địa ngục giếng khoan”, sau khi các nhân viên của giàn khoan Elgin đã tìm cách xử lý bất thành vụ rò rỉ suốt 14 tiếng đồng hồ bất chấp nguy hiểm tính mạng.

    Tổ chức Greenpeace đã cực lực chỉ trích việc chính phủ Anh khuyến khích việc khai thác dầu khí ở Biển Bắc vì việc khai thác dầu khí ở đáy biển sâu luôn tiềm ẩn hiểm họa đối với con người và môi trường xung quanh.

    Tập đoàn Total đang tìm cách khắc phục sự cố, trong đó có việc khoan một giếng khoan “giải tỏa khí đốt”. Thực hiện phương án này sẽ phải mất 6 tháng và đến khi đó lượng dầu khí vẫn liên tục thất thoát ra môi trường.

    Tại giàn khoan Elgin, tập đoàn Total đã khai thác mỗi ngày 9 triệu m3 khí đốt, chiếm 3% tổng số lượng khí đốt khai thác của Vương quốc Anh. Bên cạnh đó, giàn khoan Elgin còn khai thác mỗi này 60.000 thùng dầu ngọt nhẹ, chiếm 5,5% tổng số dầu khai thác được của Vương quốc Anh.

    Sau khi Total phải sơ tán nhân viên khỏi giàn khoan Elgin, giá khí đốt trên các thị trường thế giới lại leo cao và giá cổ phiếu của tập đoàn Pháp này bị sụt giảm tới 6%.


    Minh Châu (theo Spiegel Online)

  5. #15
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Đưa tuabin gió… lên trời



    (Petrotimes) - Mới đây, Công ty Altaeros (Mỹ) đã lần đầu tiên thử nghiệm nguyên mẫu của tuabin gió trên không AWT (Airborne Wind Turbine) với sự kết hợp thiết kế sáng tạo giữa cối xay gió và khinh khí cầu. Cuộc thử nghiệm được thực hiện tại trung tâm Loring Commerce Center ở Limestone, tiểu bang Maine, Hoa Kỳ.



    Tuabin gió AWT được đưa lên không trung bằng khinh khí cầu, cách mặt đất hơn 100m và đã thực hiện chức năng sản xuất điện thành công. Trong quá trình thử nghiệm ở độ cao này, AWT có thể tạo ra lượng điện gấp đôi so với các tuabin gió thông thường. Qua đó, dự đoán chi phí sản xuất năng lượng tái tạo sẽ được giảm đến 65% nhờ vào việc khai thác các luồng gió mạnh ở độ cao 305m. Ben Glass, Giám đốc điều hành của Altaeros cho biết: “Trong nhiều thập kỷ qua, các tuabin gió thường sử dụng những cần cẩu hay những cây cột khổng lồ với chiều cao vài trăm feet so với mặt đất để cánh quạt có thể khai thác những luồng gió vốn khá chậm và thất thường. Chúng tôi rất vui khi chứng minh rằng khinh khí cầu có thể nhấc bổng tuabin gió lên vị trí cao hơn, nơi gió mạnh hơn, đều đặn hơn và hầu như có ở khắp mọi nơi. Thêm vào đó, hệ thống thiết bị có giá thành rất cạnh tranh và dễ dàng triển khai từ những container vận chuyển.”


    Công nghệ này được lấy từ cảm hứng của Aerostats, nơi đã tạo nên những khinh khí cầu nổi tiếng, theo nghiên cứu thì Aerostats đã “sống sót” qua những cơn bão nhờ sử dụng các tính năng kỹ thuật điều khiển hiện đại và có thể đảm bảo hạ thấp an toàn khi được đưa xuống đất.





    Ôi giời, ở VN, nhà máy điện gió đảo Phú Quý đang lo đón cơn bão lớn đây! Cột điện gió ở PQ cao trên 60m, đường kính cánh gần 40m nữa, chiếm diện tích lớn lắm
    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 30-03-2012 lúc 08:43 PM.

  6. #16
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Nên lựa chọn công nghệ nào cho điện hạt nhân Việt Nam?

    (Petrotimes) - Mối quan tâm phổ biến của đông đảo các tầng lớp trong xã hội sau khi Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư dự án điện hạt nhân (ĐHN) Ninh Thuận là các vấn đề liên quan đến an toàn công nghệ, an toàn vận hành, khai thác, sử dụng ĐHN trong điều kiện thực tế của Việt Nam.
    Để bạn đọc có cái nhìn bao quát hơn, Báo Năng lượng Mới xin giới thiệu bài phân tích của Tiến sĩ ĐHN Lê Văn Hồng về vấn đề này đăng trên Tạp chí Năng lượng.

    Quá trình phát triển các thế hệ công nghệ ĐHN
    Công nghệ ĐHN đã được nghiên cứu, phát triển và khai thác, sử dụng trong suốt hơn một nửa thế kỷ qua kể từ ngày 27/6/1954, khi Liên Xô đưa vào vận hành thương mại thành công lò phản ứng hạt nhân năng lượng đầu tiên trên thế giới tại thành phố Obninsk. Xét về mặt chủng loại, hiện nay, công nghệ lò phản ứng năng lượng phát triển rất phong phú và đa dạng. Hiện có trên 10 loại lò đang được sử dụng và nghiên cứu phát triển. Việc mỗi quốc gia sử dụng và phát triển loại lò nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là ý đồ chiến lược của mỗi quốc gia, sau đó là trình độ khoa học – công nghệ và khả năng tham gia của công nghiệp nội địa.



    Nhà máy Điện nguyên tử ở Cattenom, Pháp. Các ống khói đang nhả ra hơi nước không phóng xạ từ tháp làm nguội. Lò phản ứng hạt nhân được đặt trong các ngôi nhà hình ống tròn.

    Mặc dù số loại lò nhiều như vậy nhưng đa số hoặc đã bị loại bỏ khỏi xu hướng phát triển, hoặc đang ở giai đoạn thử nghiệm. Cho đến nay, thực chất chỉ mới có ba loại được thừa nhận là những công nghệ đã được kiểm chứng và được phát triển nhiều nhất, đó là lò phản ứng nước áp lực (Presurized Water Reactor – PWR+VVER), lò phản ứng nước sôi (Boiling Water Reactor – BWR) và lò nước nặng kiều CANDU (Pressurized Heavy Water Reactor – PHWR).
    Tỉ phần của các loại công nghệ này như sau: dẫn đầu là lò phản ứng nước áp lực: 61%, tiếp đó là lò phản ứng nước sôi: 21% và cuối cùng là lò nước nặng kiểu CANDU: 7%, phần còn lại là các loại lò khác.
    Xét về mặt thế hệ, cho đến nay, đã có 3 thế hệ công nghệ được xây dựng và khai thác sử dụng. Các nhà máy điện hạt nhân hiện đang hoạt động trên thế giới, tuyệt đại đa số thuộc thế hệ thứ II. Đối với các dự án ĐHN đang hoặc có kế hoạch xây dựng, hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các nước nhập công nghệ đều chọn giải pháp xây dựng các nhà máy ĐHN với lò thế hệ III hoặc thế hệ III+. Gần đây nhất, tại châu Âu, Phần Lan đã chọnvà đang xây dựng lò EPR của Pháp, Ukraina và Bungari mới hoàn thành đấu thầu nhà máy ĐHN năm 2008 và đã chọn lò VVER-1000 thế hệ III của Nga. Các lò phản ứng thế hệ III và III+ đã kế thừa các đặc tính thiết kế ưu việt của thế hệ thứ II, vận dụng các kinh nghiệm vận hành và xây dựng các nhà máy ĐHN hiện hành cùng với các tiến bộ khoa học công nghệ trong các ngành mũi nhọn như công nghệ thông tin, điều khiển tự động, khoa học vật liệu… Khác biệt lớn nhất so với các thiết kế hiện thời (thế hệ II) là các nhà máy ĐHN thế hệ mới (thế hệ III và III+) tích hợp được đặc điểm an toàn thụ động nội tại, không đòi hỏi sự kiểm soát chủ động của con người hay sự can thiệp của nhân viên vận hành để tránh tai nạn khi có trục trặc. Các loại lò thế hệ mới – thế hệ IV có tính cách mạng với mục tiêu: an toàn hơn, kinh tế hơn, giảm nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân và góp phần giải quyết vấn đề chất thải phóng xạ còn đang trong giai đoạn nghiên cứu, thiết kế và thử nghiệm. Chúng có thể được thương mại hóa vào những năm sau 2030.

    Vai trò của những yếu tố phi công nghệ trong lựa chọn công nghệ ĐHN
    Lựa chọn công nghệ nhà máy ĐHN là một vấn đề rất phức tạp bởi vì ngoài các yếu tố khoa học và công nghệ thuần túy, lựa chọn loại lò còn bị ràng buộc bởi yếu tố kinh tế, tài chính và quan hệ chính trị. Khi xem xét lại toàn bộ quá trình phát triển ĐHN ở các nước, ta có thể chia thành 3 nhóm nước như sau:
    Nhóm thứ nhất: Bao gồm các nước có sẵn tiềm lực hạt nhân, tự phát triển công nghệ ĐHN nhằm làm chủ công nghệ này. Nhóm nước này bao gồm: Mỹ, Nga, Anh và Canada. Sự lựa chọn công nghệ của nhóm nước này xuất phát từ tiềm lực quốc phòng và năng lực công nghiệp sẵn có.
    Nhóm thứ hai: Bao gồm các nước muốn phát triển công nghệ ĐHN nhờ nội lực và ngoại lực để xây dựng tiềm lực của đất nước. Nhóm nước này bao gồm: Ấn Độ, Pakistan… Sự lựa chọn công nghệ của nhóm nước này nhằm vào loại công nghệ có khả năng phục vụ mục tiêu quốc phòng nhanh nhất.
    Nhóm thứ ba: Bao gồm các nước phát triển công nghệ ĐHN trước hết nhằm giải thoát sự phụ thuộc nặng nề vào nguồn năng lượng nhập ngoại. Nhóm nước này bao gồm: Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc… Sự lựa chọn công nghệ của nhóm nước này phụ thuộc chủ yếu vào quan hệ chính trị, thương mại và khả năng thu xếp tài chính.
    Đối với trường hợp của Việt Nam, một tháng sau khi Quốc hội khóa XII đã thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án ĐHN Ninh Thuận, trong chuyến thăm Nga của Thủ tướng Chính phủ, Nga đã được chọn làm đối tác cung cấp công nghệ cho nhà máy ĐHN Ninh Thuận 1 và tháng 10/2010, Nhật Bản được chọn làm đối tác để xây dựng nhà máy ĐHN Ninh Thuận 2. Như vậy, cách thức lựa chọn đối tác của Việt Nam gần giống với cách tiếp cận của nhóm nước thứ ba.

    Nhìn nhận trên khía cạnh công nghệ thuần túy

    Ngoài những yếu tố phi công nghệ như đã nêu trên, Việt Nam vẫn phải đặc biệt chú trọng yêu cầu về công nghệ, theo tinh thần Nghị quyết của Quốc hội là chọn công nghệ lò nước nhẹ cải tiến, thế hệ lò hiện đại nhất đã được kiểm chứng, bảo đảm tuyệt đối an toàn và hiệu quả kinh tế tại thời điểm lập dự án đầu tư. Muốn làm được điều này, chúng ta phải thiết lập cho được các tiêu chí cốt lõi cho việc lựa chọn công nghệ ĐHN. Tuy nhiên, trước khi xem xét công nghệ nào cho các dự án ĐHN của Việt Nam, ta hãy luận bàn một vấn đề mang tính vĩ mô và dài hạn, đó là Việt Nam nên dùng đơn công nghệ hay đa công nghệ trong chương trình phát triển ĐHN của mình? Như chúng ta biết, trên thế giới, do những hoàn cảnh lịch sử và tình thế khác nhau, nhiều nước ban đầu đã từng sử dụng 2 hoặc 3 loại công nghệ. Do năng lực quốc gia ở giai đoạn ban đầu còn đang yếu kém lại phải phân chia nguồn nhân lực để đảm đương các công nghệ khác nhau nên đã phải trả giá. Cuối cùng, các nước này cũng phải định hướng và tập trung vào 1 loại công nghệ. Từ hoàn cảnh Việt Nam hiện nay còn quá non yếu về năng lực quốc gia cần thiết cho chương trình ĐHN và rút kinh nghiệm của các nước đi trước, có thể khẳng định Việt Nam chỉ nên sử dụng một loại công nghệ. Việc lựa chọn sử dụng đơn công nghệ trong Chương trình phát triển ĐHN của mình sẽ giúp Việt Nam không phải chia sẻ tiềm lực quốc gia còn đang rất yếu kém; thuận lợi trong đào tạo cán bộ nói chung, đặc biệt là cán bộ xây dựng, vận hành, bảo dưỡng; thuận lợi trong công tác xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; thuận lợi trong tiếp thu công nghệ, tiến tới thực hiện chương trình nội địa hóa… Như đã nói ở trên, cho đến nay, thực chất chỉ mới có 3 loại công nghệ được thừa nhận là những công nghệ đã được kiểm chứng và được phát triển nhiều nhất, đó là lò phản ứng nước áp lực, lò phản ứng nước sôi và lò nước nặng kiểu CANDU, trong đó có trên 61% các lò đang vận hành thuộc loại lò nước áp lực – PWR và tuyệt đại đa số các lò đang xây dựng và có kế hoạch xây dựng thuộc loại lò nước áp lực cải tiến – APWR. Với xu thế áp đảo của loại công nghệ này và là loại công nghệ phổ biến nhất, có nhiều nước sử dụng, nhiều hãng cung cấp thiết bị công nghệ và nhiên liệu, có bề dày kinh nghiệm xây dựng, vận hành, bảo dưỡng, có nhiều kết quả nghiên cứu, thử nghiệm, có đông đảo đội ngũ chuyên gia tầm quốc tế… và do đó, việc Việt Nam lựa chọn công nghệ lò nước áp lực cải tiến sẽ làm cho cơ hội hợp tác và phát triển của Việt Nam thuận lợi hơn rất nhiều. Như vậy, công nghệ lò APWR loại VVER1000/1200 mà dự kiến sẽ được Nga cung cấp là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu lựa chọn của Việt Nam. Quay trở lại yêu cầu của Nghị quyết 41 là lựa chọn thế hệ lò hiện đại nhất, đã được kiểm chứng, bảo đảm tuyệt đối an toàn. Có thể nói, đây là một yêu cầu rất cao nhưng đúng đắn và xác đáng xét trên quan điểm lợi ích quốc gia. Để đáp ứng yêu cầu này, đặc biệt là qua bài học từ sự cố Fukushima về xử lý sự cố nặng thì hiện nay chỉ có thể lựa chọn công nghệ lò thế hệ III, thậm chí là III+, trong đó có sự kết hợp hài hòa giữa các hệ thống an toàn chủ động (mang tính truyền thống) và an toàn thụ động (mang tính cách mạng), có khả năng chống chọi với tình huống xấu nhất có thể xảy ra, đó là sự cố mất chất tải nhiệt (LOCA) cùng với sự kiện mất điện hoàn toàn trong khu vực nhà máy (Station Black Out – SBO).
    Một số tiêu chí cốt lõi cho lựa chọn công nghệ điện hạt nhân ở Việt Nam

    Với những yêu cầu nêu trong Nghị quyết của Quốc hội, căn cứ vào các tài liệu hướng dẫn của Cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế IAEA và các tài liệu liên quan khác, tác giả đề xuất một số tiêu chí cốt lõi cho việc lựa chọn công nghệ cho các nhà máy ĐHN của Việt Nam như sau:
    a. Về đảm bảo an toàn hạt nhân
    1. Thực hiện thiết kế theo tiếp cận tất định: tuân thủ nguyên lý “bảo vệ theo chiều sâu”, dự phòng và đa dạng hóa hệ thống an toàn, có kết hợp an toàn chủ động và thụ động… các hệ thống làm mát khẩn cấp, cấp điện khẩn cấp phải có ít nhất 4 hệ độc lập 100% công suất.
    2.
    Đảm bảo xác suất sự cố làm nóng chảy, phá hủy nghiêm trọng vùng hoạt: nhỏ hơn 10-6 lò/năm; xác suất sự cố nặng (thảm họa hạt nhân), kèm theo sự thoát xạ lớn, yêu cầu tới các biện pháp khẩn cấp ngoài phạm vi nhà máy: nhỏ hơn 10-7 lò/năm.
    3.
    Thiết kế hệ thống ứng phó với tai nạn nóng chảy vùng hoạt, nếu giam giữ chất nóng chảy trong thùng lò (IVR): phải chứng minh được khả năng làm mát bằng cách làm ngập bên ngoài, nếu giam giữ chất nóng chảy bên ngoài thùng lò (EVR): phải lắp đặt bẫy thu giữ chất nóng chảy (corium-catcher).
    4.
    Thiết kế hệ thống độc lập đảm bảo dừng lò an toàn mà không cần đến nguồn năng lượng và hành động của nhân viên trong 24/72 giờ đầu tiên sau tai nạn nghiêm trọng.
    5.
    Thiết kế boongke nhà lò 2 lớp, lớp bên trong phải đảm bảo độ kín để giam giữ chất phóng xạ; lớp bên ngoài phải vững chắc để chống các ngoại lực công kích, chống máy bay hạng nặng đâm vào…
    6.
    Các thiết bị an toàn loại I, II và boongke nhà lò phải thiết kế chống được động đất cấp 9, gia tốc 0,3g, chống lũ lụt, sóng thần.

    b. Về đảm bảo an toàn bức xạ

    1.
    Phải thiết kế theo nguyên lý ALARA. Khi vận hành bình thường, liều chiếu cá nhân và liều chiếu tập thể phải là tối thiểu và nhỏ hơn mức cho phép. Không tác động hoặc tác động rất thấp lên môi trường (phát thải thường xuyên).
    2.
    Khi có tai nạn nghiêm trọng, chỉ cần áp dụng các biện pháp khẩn cấp tối thiểu trong vòng bán kính 1km từ tâm lò, không yêu cầu sơ tán quá 1 năm đối với dân cư trong vòng bán kính 3km từ tâm lò, không yêu cầu bất cứ hành động gì ngoài bán kính 3km từ tâm lò.

    c. Về đặc tính nhà máy

    1.
    Thời gian vận hành theo thiết kế (đời sống nhà máy): 60 năm.
    2.
    Hệ thống đo lường, điều khiển và kiểm soát I&C: phải số hóa hoàn toàn.
    3. Hệ số sẵn sàng vận hành: phải trên 90%.
    4.
    Hiệu suất nhiệt của nhà máy: phải trên 33%.
    5.
    Thời gian dừng lò trong kế hoạch (tái nạp nhiên liệu và bảo trì) phải dưới 20 ngày.
    6.
    Thời gian dừng lò ngoài kế hoạch: phải dưới 1 lần/năm.
    7. Chu trình sử dụng nhiên liệu: chu trình 12-18 tháng, độ sâu cháy nhiên liệu: 60GW ngày đêm/tấn.
    8. Tổng lượng thải rắn cuối cùng: phải nhỏ hơn 50m3 trên 1.000MWe trong 1 năm vận hành.



    (Theo Năng lượng Việt Nam)
    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 30-03-2012 lúc 09:03 PM.

  7. #17
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết
    Đá phiến dầu: Con bài năng lượng của Trung Quốc

    (VEF.VN) - Tháng 3/2012, Tập đoàn dầu khí quốc gia Trung Quốc - Sinopec thông báo một kế hoạch mới nhằm khai thác khí đốt từ đá phiến dầu.
    Nguồn năng lượng mơ ước
    Từ thời tiền sử, đá phiến dầu đã được sử dụng để làm nhiên liệu vì nó được đốt trực tiếp mà không qua bất kỳ khâu xử lý nào. Theo đánh giá của cơ quan thông tin năng lượng Hoa Kỳ, tài nguyên đá phiến dầu trên toàn thế giới đạt khoảng 411 tỷ tấn - đủ để sản xuất 2,8 đến 3,3 ngàn tỷ thùng (520 km³) dầu, hơn hẳn trữ lượng dầu truyền thống trên toàn thế giới, ước tính khoảng 1,317 ngàn tỷ thùng (209,4 km³).
    Đây có thể là nhân tố làm thay đổi cuộc chơi và con bài năng lượng do ảnh hưởng tiềm năng của nó đối với vấn đề an ninh năng lượng và biến đổi khí hậu toàn cầu.
    Theo Sinopec, đá phiến dầu của Trung Quốc tập trung chủ yếu ở khu vực Yuanba, tỉnh Tứ Xuyên. Đây được xem là một bước tiến gần hơn của Trung Quốc tới mục tiêu khai thác được 3.4 tỷ m3 khí đốt mỗi năm trong vòng 3 năm tới tại khu vực Yuanba. Khi Trung Quốc sở hữu một vũ khí năng lượng và kinh tế mới cũng đồng nghĩa với việc nước này sẽ giảm bớt được sự lệ thuộc vào nguồn năng lượng nhập khẩu trong bối cảnh giá năng lượng luôn ở mức cao trong thời gian gần đây.
    Trong số các quốc gia có tiềm năng khí đá phiến được phát hiện, Trung Quốc được đánh giá là nước có các mỏ khí đá phiến có thể khai thác lớn nhất thế giới với tổng trữ lượng khoảng 25 nghìn tỷ m3.

    Một báo cáo của Cơ quan thông tin năng lượng Mỹ cho biết Trung Quốc sở hữu 7 mỏ đá phiến dầu, trong đó mỏ Yuanba tại tỉnh Tứ Xuyên và mỏ Tarim ở khu tự trị Tân Cương có tiềm năng sản xuất khí đốt với quy mô lớn. Hai mỏ này sẽ là chìa khóa cho tham vọng của Bắc Kinh là tạo ra được 6.5 tỷ m3 khí đốt mỗi năm cho tới năm 2015 và con số này sẽ tăng lên là 80 tỷ vào năm 2020.
    Tới nay, Mỹ vẫn là nước đi đầu trong việc sản xuất khí đá phiến với 136 tỷ m3 mỗi năm. Một nghiên cứu của Đại học Rice do Bộ năng lượng Mỹ bảo trợ cho biết nhờ việc Mỹ gia tăng sản xuất khí đốt từ đá phiến dầu thị phần khí đốt của Nga tại Tây Âu đến năm 2040 sẽ giảm xuống còn khoảng 13% so với mức gần 30% hiện nay. Còn với Mỹ, việc khai thác kịp thời nguồn khí đá phiến sẽ hạn chế được nhu cầu nhập khẩu khí hóa lỏng ít nhất 20 - 30 năm. Nhờ đó, Mỹ sẽ giảm được sức ép về năng lượng, giảm thâm hụt mậu dịch với cả nền kinh tế Mỹ.
    Amy Myers Jaffe, một trong những tác giả của đề án nghiên cứu trên, phát biểu: "Kết quả địa chính trị của việc Mỹ mở rộng hoạt động sản xuất khí đá phiến sẽ là vô cùng to lớn. Bằng cách tăng nguồn cung thay thế cho châu Âu dưới dạng khí hóa lỏng từ phía Mỹ thì sức mạnh xăng dầu của Nga, Venezuela và Iran đối với châu lục này đang giảm đi".
    Vũ khí mới trên bàn cờ năng lượng
    Hiện tại, Trung Quốc sản xuất được khoảng 94 tỷ m3 khí tự nhiên mỗi năm. Tuy nhiên, con số này chưa thấm tháp vào đâu so với nhu cầu năng lượng của nền kinh tế thứ hai thế giới. Thống kê cho biết lượng khí ga tự nhiên chỉ chiếm có 4% tổng lượng nhiên liệu tiêu thụ của Trung Quốc và than đá vẫn là nguồn cung năng lượng chính của quốc gia này, đảm bảo 70% nhu cầu.
    Để khắc phục sự mất cân đối đó, Bắc Kinh đang tìm cách nâng tỷ lệ tiêu thụ khí tự nhiên lên 6% trong vòng 10 năm tới và khí đá phiến tại Tứ Xuyên có thể sẽ là một lựa chọn để Bắc Kinh giảm áp lực từ nguồn cung bên ngoài. Với tiềm lực của mình, Trung Quốc có thể sản xuất thành công khí đá phiến trong tương lai, nhưng hiện tại có một vài nhân tố bất lợi mà nước này cần phải vượt qua.
    Việc đầu tiên là Trung Quốc cần làm là phát triển được kỹ thuật chiết tách khí đốt từ đá phiến dầu. Với tầm nhìn của mình, Trung Quốc có vẻ như đã tính đến điều này từ lâu. Hiện nay, các công ty dầu khí của Trung Quốc đã bắt đầu đầu tư vào nhiều doanh nghiệp phương Tây có kinh nghiệm trong việc chiết tách khí đá phiến. Chẳng hạn, Petro China, tập đoàn năng lượng quốc doanh lớn nhất Trung Quốc, đã mua lại 50%cổ phần trong một dự án khí đốt ở Canada với giá 5,4 tỷ USD, trong khi tập đoàn dầu khí ngoài khơi quốc gia CNOOC đã kịp có cổ phần trong các dự án năng lượng khai thác đá phiến dầu Eagle Ford của Công ty năng lượng Chesapeake tại bang Texas, Mỹ.
    Ngoài ra, một số hãng dầu khí như Shell (Hà Lan), Chevron (Mỹ) cũng đang đầu tư vào các công ty Trung Quốc và tham gia vào các dự án khai thác khí đá phiến. Các phương tiện truyền thông đưa tin Chevron đang khai thác mỏ đá phiến dầu tại Hàng Châu, nơi cũng được đánh giá là có trữ lượng rất tiềm năng. Các công ty liên doanh này sẽ là cánh cửa để Trung Quốc tiếp cận với công nghệ khai thác khí đá phiến.
    Chuyên gia, công nghệ hay vốn không phải là trở ngại lớn với Trung Quốc vì họ đã đầu tư nhiều tiền của vào các cơ sở sản xuất khí đá phiến của phương Tây. Nhưng một trở ngại với Trung Quốc là các mỏ đá phiến dầu của Trung Quốc thường nằm sâu trong lòng đất và tình hình địa chất tại các mỏ khai thác của Trung Quốc phức tạp hơn so với các cơ sở khai thác tại Mỹ.
    Việc triển khai đường ống dẫn khí với Trung Quốc cũng không dễ dàng một phần bởi yếu tố địa lý không thuận lợi và khí ga tự nhiên dầu sao vẫn mới chiếm tỷ trọng nhỏ trên thị trường. Tuy nhiên, Trung Quốc đã và đang đầu tư hàng tỷ USD xây dựng hệ thống đường ống dẫn khí, điển hình là hệ thống đường ống Đông - Tây 2 mới đi vào hoạt động từ 30/6/2011 đi qua 15 vùng lãnh thổ Trung Quốc. Nước này còn đầu tư khoảng 2,2 tỷ USD xây dựng hệ thống đường ống dẫn khí Tây - Đông thứ ba. Kế hoạch xây dựng đường ống dẫn khí Tây - Đông thứ 4 và thứ 5 với công suất tổng cộng 30 tỉ m3 khí/năm dự kiến sẽ bắt đầu sau năm 2015.
    Nước là nhân tố sống còn khi khai thác là cần hàng triệu tấn nước sạch. Đây là một vấn đề hóc búa với bồn địa Tarim rất khô cằn của Tân Cương để khai thác đá phiến dầu. Nhưng với Tứ Xuyên, nguồn nước ở vùng cận nhiệt đới này lại rất dồi dào nhờ có lượng mưa hàng năm lớn và nguồn cung ổn định từ sông Dương Tử. Bên cạnh đó, Tứ Xuyên còn sở hữu cơ sở hạ tầng đường ống phát triển nhất Trung Quốc do công cuộc khai thác khí đốt ở đây đã khá phát triển. Do đó, Tứ Xuyên có thể sẽ là nơi đầu tiên Trung Quốc triển khai việc sản xuất khí đá phiến quy mô lớn.
    Tóm lại, Trung Quốc sẽ cần vài năm nữa để đạt được trình độ và có kỹ nghệ cần thiết để chiết tách khí đốt từ đá phiến. Kế hoạch vừa công bố của Sinopec sẽ là bước cụ thể hóa tham vọng và mục tiêu chủ động về năng lượng trong tương lai của quốc gia này.
    ...
    Nguồn năng lượng này xem ra vẫn còn ở thì tương lai với TQ, khi nghía trộm thấy Mỹ đã đi trước một bước.
    Mỹ vẫn là nước có khả năng làm được những việc mà người khác không làm được và trong một vị trí vai trò cầm chịch về sự tồn tại của nhân loại, Mỹ muốn nắm được, điều phối hợp lý, các nguồn năng lượng của thế giới với sự tự nhận trách nhiệm là điều dễ hiểu. Còn nước nào muốn chứng tỏ được khả năng thì xin mời! nhưng nếu anh nào không hiểu hoặc không muốn hiểu, muốn quậy phá, bắt chẹt Mỹ và thiên hạ thì...đợi đấy?!
    ~o)

    No Avatar

    dongdoi_f2

     14:31, 1st Apr 2012 #4391 

    sản lượng 6,5 tỷ m3 thì vẫn nhỏ, ví dụ trung tâm điện lực Phú mỹ, tiêu thụ gần 3 tym3 khí/năm, mỏ khí Nam Côn sơn trữ lượng 50 tỷ m3.



  8. #18
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết
    sản lượng 6,5 tỷ m3 thì vẫn nhỏ, ví dụ trung tâm điện lực Phú mỹ, tiêu thụ gần 3 tym3 khí/năm, mỏ khí Nam Côn sơn trữ lượng 50 tỷ m3.

    Vẫn nhỏ ư?! ;;)
    Đây:
    "Một báo cáo của Cơ quan thông tin năng lượng Mỹ cho biết Trung Quốc sở hữu 7 mỏ đá phiến dầu, trong đó mỏ Yuanba tại tỉnh Tứ Xuyên và mỏ Tarim ở khu tự trị Tân Cương có tiềm năng sản xuất khí đốt với quy mô lớn. Hai mỏ này sẽ là chìa khóa cho tham vọng của Bắc Kinh là tạo ra được 6.5 tỷ m3 khí đốt mỗi năm cho tới năm 2015 và con số này sẽ tăng lên là 80 tỷ vào năm 2020."
    Và trữ lượng:
    "Trong số các quốc gia có tiềm năng khí đá phiến được phát hiện, Trung Quốc được đánh giá là nước có các mỏ khí đá phiến có thể khai thác lớn nhất thế giới với tổng trữ lượng khoảng 25 nghìn tỷ m3."

    Trong bài "Dư chấn Nhật bản và khí đốt" của chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa có nói đến cái kỹ thuật gọi nôm na "gạn cát ra dầu thô và khí đốt" này mà TQ đang muốn học lỏm bằng cách:
    "Hiện nay, các công ty dầu khí của Trung Quốc đã bắt đầu đầu tư vào nhiều doanh nghiệp phương Tây có kinh nghiệm trong việc chiết tách khí đá phiến. Chẳng hạn, Petro China, tập đoàn năng lượng quốc doanh lớn nhất Trung Quốc, đã mua lại 50%cổ phần trong một dự án khí đốt ở Canada với giá 5,4 tỷ USD, trong khi tập đoàn dầu khí ngoài khơi quốc gia CNOOC đã kịp có cổ phần trong các dự án năng lượng khai thác đá phiến dầu Eagle Ford của Công ty năng lượng Chesapeake tại bang Texas, Mỹ."

    Kỹ thuật để khắc phục vấn đề môi trường, ô nhiễm môi sinh thì TQ không dễ gì mà nắm được từ Mỹ trong tương lai gần, nhưng TQ sẽ có thể bất chấp ? như hiện nay bất chấp sông Hoàng Hà đã ô nhiễm trầm trọng và cạn dòng, để sản xuất khí đốt từ nguồn đá phiến này.

    Tuy nhiên số liệu về tiềm năng nguồn năng lượng của TQ là lớn vậy nhưng chưa chắc đáng tin cậy. Trong đánh giá trữ lượng dầu ở biển đông số liệu của TQ phóng lên đến 213 tỷ thùng trong khi theo đánh giá của Mỹ chỉ là 7 tỷ thùng! mục đích của TQ phóng lên vậy không nhằm ngoài ý đồ kích thích dân TQ lao vào ủng hộ mưu đồ độc chiếm biển đông mà ý nghĩa chiến lược thực sự là kiểm soát con đường hàng hải để xưng bá và bóp nghẹt, khuất phục, thôn tính các nước nhỏ trong vùng. Dẫu sao qua thông tin TQ công bố về trữ lượng đá phiến cho thấy TQ không đến nỗi quá khát năng lượng mà thèm muốn nguồn dầu ở biển đông.

    Còn nam côn sơn trữ lượng 50 tỷ khối ư: muỗi ! (dầu cũng sắp cạn rồi!) :!!

    No Avatar

    dongdoi_f2

     11:37, 2nd Apr 2012 #4410 

    Số liệu công khai thì Mỏ khí Nam Côn sơn dự định vận hành 30 năm là hết, lúc đó muốn khai thác nữa phụ thuộc kỹ thuật mới hơn, tốt hơn, hoặc chọc tìm thêm khu vực cạnh đó...

    No Avatar

    dongdoi_f2

     11:34, 2nd Apr 2012 #4409 

    Trữ lượng là một chuyện, còn khả năng khai thác được và công nghệ lại là chuyện lớn khác



  9. #19
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Vòng cung Bắc Cực: Nguồn “sữa và mật ong” của Liên bang Nga

    (Tamnhin.net) - Với giá cả và mức độ tiêu thụ hiện nay, trữ lượng khí đốt tự nhiên trong khu vực Bắc Cực thuộc Nga sẽ đủ nhiên liệu để cung cấp cho Châu Âu khoảng 75 năm, với tổng giá trị gần 17 nghìn tỷ USD.


    Điểm dừng chân cuối cùng trên tuyến đường sắt phía bắc đi từ Moscow là Labytnangi, một thị trấn nhỏ nằm trong Vòng cung Bắc cực. Băng tuyết kéo dài đến tận chân trời, hoang sơ như thời tiền sử. Nhưng dưới lớp băng vĩnh cửu, lạnh buốt “sữa và mật ong” của nước Nga, là nguồn tài sản dầu khí khổng lồ.

    Trong chiến dịch vận động tranh cử, Tổng thống đắc cử Vladimir Putin đã hứa hẹn chi tiêu xã hội hơn 170 tỷ USD. Ông Putin hứa sẽ tăng gấp đôi tiền lương cho bác sĩ, cảnh sát và giáo sư đại học cũng như tăng gấp 3 lần học bổng cho nhiều sinh viên và thúc đẩy chương trình trợ cấp cho các bà mẹ sinh con. Ông Putin cũng hứa "tái trang bị toàn diện” cho quân đội Nga, với chi phí dự kiến 777 tỷ USD trong thập kỷ tiếp theo và xây dựng nhà ở mới cho các cựu chiến binh. Những cam kết này đã giúp ông Putin trở lại điện Kremlin, nhưng vấn đề là lấy tiền ở đâu để chi, nhất là khi chính phủ của Thủ tướng Putin đã đẩy ngân sách liên bang thâm hụt lần đầu tiên trong một thập kỷ qua.

    Ngày 22/3, Thủ tướng Putin đã triệu tập một cuộc họp nội các để tìm cách kiếm tiền chi cho những cam kết nghìn tỷ này. Không một vị bộ trưởng nào có thể đưa ra câu trả lời thỏa đáng, trong khi Thủ tướng Putin gợi ý rằng số tiền này có thể gom góp được thông qua việc chi tiêu có hiệu quả của chính phủ.

    Nhưng thật khó kiếm được 170 tỷ USD thông qua việc tiết kiệm chi tiêu trong ngân sách liên bang. Do đó, câu trả lời thực sự cho vấn đề này được Thủ tướng Putin đưa ra ngày 23/3, khi ông triệu tập một cuộc họp của ngành dầu khí Nga. Tại cuộc họp này, Thủ tướng Putin nhức nhở: "Ngày nay, trữ lượng khí đốt đã được chứng minh ở Nga là lớn nhất thế giới. Không nước nào có nhiều dầu khí hơn nước Nga."

    Hơn 1/4 khí đốt mà Châu Âu tiêu thụ đến từ các mỏ khí đốt Nga và sau khi thảm họa hạt nhân Fukushima hồi năm ngoái, các khách hàng mua khí đốt Nga lớn nhất - đặc biệt là Đức – đã chuyển từ sản xuất điện hạt nhân sang sử dụng khí đốt tự nhiên. Điều đó có nghĩa là nhu cầu khí đốt Nga sẽ leo cao. Vì vậy, Thủ tướng Putin kêu gọi tăng cường khai thác khí đốt, đặc biệt ở các khu vực như Bán đảo Yamal, miền cực bắc của nước Nga. Chính phủ Nga muốn biến "Yamal thành một tỉnh dầu khí mới”. Khu vực Yamal giàu tài nguyên có mức lương tháng trung bình khoảng 70.000 rúp (2.300 USD), nhiều gấp bốn lần mức lương trung bình ở các khu vực nghèo hơn của nước Nga và không hề thua kém thủ đô Moscow.

    Nhưng canh bạc dầu khí ở những nơi như Bán đảo Yamal của Tổng thống đắc cử Putin vẫn là một trong những canh bạc đầy rủi ro. Giá dầu khí đốt toàn cầu không nằm trong tầm kiểm soát của Nga và có khả năng lại bị mất giá như những năm 1990. Ngay sau cuộc bầu cử tổng thống Nga, Fitch Ratings đã cảnh báo khả năng hạ điểm tín dụng của Nga, nếu ông Putin không từ bỏ một số hứa hẹn tranh cử hoặc không kiếm được tiền để thực hiện những cam kết của mình. Để có tiền thực hiện những cam kết tranh cử của ông Putin, giá dầu thế giới phải leo lên tới 140-150 USD/thùng thì mới có thể giúp chính phủ Nga cân bằng ngân sách trong vòng sáu năm tới.

    Nhà kinh tế Natalia Novikova của Citibank tại Moscow nói: "Nếu ông Putin muốn chi thêm 1,5 nghìn tỷ rúp mỗi năm, giá dầu cần phải tăng thêm 30 USD một thùng”. Trừ khi xảy ra một cuộc chiến tranh nữa ở vùng Vịnh, cơ hội giá dầu leo lên mức đó là rất mong manh. Nhiều khả năng, Tổng thống đắc cử Putin sẽ buộc phải từ bỏ một số cam kết xã hội.

    Tuy nhiên, việc không thực hiện những cam kết tranh cử sẽ làm tăng rủi ro chính trị đối với Tổng thống Putin, đặc biệt trong số các cử tri mà ông đã hứa tăng lương và phúc lợi. Trong cuộc bầu cử tổng thống vừa qua,lần đầu tiên ông Putin đã không giành được 50% tổng số phiếu bầu ở thủ đô Moscow, nơi có hàng chục nghìn người xuống đường phản đối sự cai trị của ông.


    Minh Châu (theo TIME.com)

  10. #20
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Khởi công xây nhà máy phong điện Phương Mai 1



    Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)



    Sáng 3/4, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Định, Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh và Công ty cổ phần phong điện Phương Mai đã tổ chức khởi công xây dựng Nhà máy phong điện Phương Mai 1.

    Nhà máy nằm trong khu vực B6 của bản quy hoạch chung Khu kinh tế Nhơn Hội, tỉnh Bình Định đến năm 2020.

    Nhà máy phong điện Phương Mai 1 có tổng diện tích đất quy hoạch 143ha.

    Theo thiết kế, nhà máy có tổng công suất 30 MW (gồm 12 tổ máy, mỗi tổ có công suất 2,5 MW), với hệ thống trạm biến áp, máy biến thế và xây dựng cơ sở hạ tầng... tổng nguồn vốn đầu tư 60,25 triệu USD (tương đương trên 1.200 tỷ đồng).

    Dự kiến sau một năm xây dựng (4/2012-4/2013), nhà máy sẽ hoàn thành và đi vào hoạt động với sản lượng điện hàng năm đạt 82 triệu kWh, phục vụ nhu cầu điện cho Khu kinh tế Nhơn Hội tỉnh Bình Định và hòa vào điện lưới quốc gia.

    Đến nay, Khu kinh tế Nhơn Hội đã cấp phép cho 35 dự án đầu tư, tổng số vốn đăng ký trên 33.400 tỷ đồng. Tuy nhiên, tổng nguồn vốn đã thực hiện cho đến nay chỉ chiếm khoảng 7% tổng nguồn vốn của các dự án đã đăng ký đầu tư vào khu kinh tế này./.


    Viết Ý (TTXVN)

    Dự án NMĐ gió Phương Mai này hình thành từ nhưng năm 199x, với công suất ban đầu lên đến 200MW, hiện nay thu gọn lại là 30MW. Nhưng sử dụng máy 2,5MW là loại gam máy cũ, kiểu mới bây giờ là loại 3MW và thậm chí Châu Âu xài gam 5MW.
    Đặc điểm của Nhà máy điện gió là chiếm diện tích đất (mặt nước) lớn, lấy ví dụ Trung tâm điện lực Phú Mỹ (Bà rịa Vũng tàu) có 5 nhà máy (đều là turbine khí chu trình hỗn hợp) với tổng công suất nhà máy là 3600MW chiếm có 100ha. trong khi đó Nhà máy điện gió Phương mai 1 có 12 trụ turbine gió tổng công suất 30MW, chiếm 143ha mặt nước, mặt đầm bán đảo Phương mai.
    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 03-04-2012 lúc 04:16 PM.

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •