CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 1 của 12 12311 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 117

Chủ đề: Ngày này năm ấy!

  1. #1
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,246
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết

    Ngày này năm ấy!

    1.Ngày 12/11/1945, tại Cái Răng (tỉnh Cần Thơ), Lê Bình và một số tự vệ đóng giả là những người Hoa Kiều vào đồn pháp xin giấy phép đi lại các làng để mua lợn về mổ bán. Lừa khi bọn Pháp sơ ý. Lê Bình cùng bốn đồng đội đã rút súng bắn vào tên đồn trưởng cùng bọn lính. Sau đó Lê Bình leo lên cột cờ để hạ lá cờ giặc xuống, treo cờ đỏ sao vàng lên thì anh bị trúng đạn, hi sinh. Bốn chiến sĩ cảm tử cũng đều tử trận.
    Trận Cái Răng do Lê Bình chỉ huy là trận đánh của quân và dân Cần Thơ từ những ngày đầu của Nam Bộ kháng chiến. Nó đã có tiếng vang rộng lớn trong nước và báo chí Pháp cũng có nhiều bài tường thuật.
    Lê Bình sinh năm 1924, quê ở Hà Tĩnh. Nhà nước đã truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân cho liệt sĩ Lê Bình.

    2.Sáng sớm ngày 12/11/1965, quân giải phóng Miền Nam bất ngờ tấn công vào sở chỉ huy, và khu pháo binh địch ở Bầu Bàng tỉnh Thủ Dầu Một (cũ). Sau 3 giờ chiến đấu, quân giải phóng đã giết và làm bị thương hơn 2000 tên Mĩ, phá huỷ 40 xe tăng, bắn rơi 2 chiếc máy bay địch.
    Ngay sau trận đánh, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Nguyễn Hữu Thọ đã đến thăm và khen ngợi đơn vị quân giải phóng vừa chiến thắng ở Bầu Bàng..

    tuaans's Avatar

    tuaans

     22:55, 12th Nov 2011 #1958 

    giết và làm bị thương 2.000 tên Mỹ ... có nhiều quá không vậy?



  2. #2
    Ngày tham gia
    22-12-2010
    Bài viết
    639
    Thích
    487
    Đã được thích 210 lần trong 128 bài viết
    Bác thẳng nghĩ ra món này thấy có vẻ hay phết. Cả nhà ơi cùng tham gi đê

  3. #3
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,246
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết
    Ngày 14-11-1953, Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất của Đảng Lao động Việt Nam đã khai mạc. Gần 200 đại biểu trong cả nước đã về dự. Hội nghị đã nghe và thảo luận báo cáo của đồng chí Hồ Chí Minh về tình hình trước mắt và nhiệm vụ cải cách ruộng đất.
    Thực hiện khẩu hiệu "Người cày có ruộng" cải cách ruộng đất đã làm cho tinh thần kháng chiến của hàng triệu nông dân được phát động mạnh mẽ, liên minh công - nông thực sự được củng cố. Mặt trận dân tộc thống nhất được vững chắc thêm, chính quyền, quân đội được tǎng cường, mọi hoạt động kháng chiến được đẩy mạnh.

  4. #4
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,246
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết
    Nhạc sĩ Văn Cao, sinh ngày 15/11/1923 ở Nam Định, qua đời năm 1995 tại Hà Nội.
    Năm 1944, ông sáng tác bài hát "Tiến quân ca" để cổ vũ phong trào Cách mạng của nhân dân ta. Kì họp đầu tiên của Quốc hội khoá I của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã chọn bài hát này làm Quốc ca Việt Nam cho tới ngày nay.
    Văn Cao là một trong những nhạc sĩ lớp đầu tiên của nền âm nhạc hiện đại Việt Nam, có nhiều ca khúc có giá trị trong đời sống âm nhạc của nhân dân ta.
    Văn Cao còn nổi tiếng về làm thơ, vẽ tranh. Nhạc sĩ Văn Cao đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất và truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.
    Ngày 15/11/1961, Hội đồng an ninh Mĩ đã thống kê kế hoạch Xtalây Taylo, kế hoạch đầu tiên của "chiến tranh đặc biệt" nhằm bình định miền nam trong 18 tháng, rồi tiến ra miền Bắc.
    Với hai cuộc chiến đấu của quân và dân ta ở cả 2 miền Nam Bắc, kế hoạch Xtalây Taylo đã thất bại hoàn toàn.
    Ngày 15/11/1965, Đoàn đại biểu anh hùng và chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc. Đoàn gồm các anh hùng quân giải phóng: Tạ Thị Kiều (tức Mười Lí), Trần Dưỡng, Huỳnh Văn Đảnh, đồng chí Vai và chiến sĩ thi đua giải phóng Lê Chí Nguyện. Đoàn đã được gặp Bác Hồ trong tình cảm ruột thịt của Người.
    Từ ngày 15 đến ngày 21/11/1975 tại thành phố Sài Gòn – Gia Định, Đoàn đại biểu miền Bắc do đồng chí Trường Chinh, Uỷ viên Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà làm trưởng đoàn, và Đoàn đại biểu miền Nam do đồng chí Phạm Hùng, Uỷ viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Bí thư Đảng bộ miền Nam, đại diện Đảng trong Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam làm Trưởng đoàn, tiến hành hội nghị Hiệp thương chính trị để bàn vấn đề thống nhất nước Việt Nam về mặt Nhà nước.
    Theo sáng kiến của Huân tước Béctơrăng Rútxen, nhà triết học và chiến sĩ hoà bình nổi tiếng của nước Anh, ngày 15/11/1996, Toà án quốc tế xử tội ác chiến tranh của đế quốc Mĩ ở Việt Nam đã thành lập tại Luân Đôn.
    Huân tước Béctơrăng Rútxen nói :"Tôi không giấu giếm các bạn rằng, nhân dân Việt Nam đã làm tôi khâm phục và say mê thế nào. Chúng ta có nhiệm vụ phát hiện và nói hết. Tôi tin tưởng rằng không có sự tôn vinh nào lớn hơn đối với dân tộc này là nói lên sự thật, kết quả cuộc điều tra sâu sắc và triệt để. Mong rằng toà án này sẽ có thể ngăn được tội ác im lặng".

  5. #5
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,246
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết
    Ngày 19/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm nhà thương Đồn Thuỷ (nay là bệnh viện Quân đội Trung ương 108). Người ân cần thăm hỏi bệnh binh, thương binh và động viên anh em yên tâm điều trị.
    Trước đó, Bác Hồ cũng đã đến thăm các thầy thuốc và bệnh binh nhà thương Đồn Thuỷ vào tháng 2/1946, và lần thứ ba vào tháng 6/1955.
    Ngày 19/11/1958, kí hiệp định thương mại chính thức đầu tiên giữa Việt Nam và Campuchia.
    Ngày 19/11/1967, lần đầu tiên không quân Việt Nam bắn rơi một máy bay EB 66 của Mĩ. Biên đội Mig 21 của phi công Vũ Ngọc Đỉnh và Nguyễn Đăng Kính đã lập chiến công này.
    EB 66 là loại máy bay trinh sát điện tử hiện đại, chức năng chính là gây nhiễu, làm giảm hiệu lực chiến đấu của các lực lượng phòng không và không quân của ta. Nó còn trinh sát, phát hiện tần số và vị trí các đài ra-đa, làm vô hiệu hoặc mục tiêu cho máy bay cường kích đánh phá huỷ diệt.

  6. Có 1 người thích bài viết này


  7. #6
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,246
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết
    Những tình cảm dành cho nữ pháo binh Ngư Thủy

    Năm 1975 cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta giành được thắng lợi. Đất nước hoàn toàn độc lập, nhân dân ta hoàn toàn tự do. Có được thắng lợi to lớn đó là nhờ sự lãnh đạo tài tình của Đảng và sự đoàn kết chiến đấu của toàn quân và dân ta.
    Với tinh thần toàn dân kháng chiến, các tầng lớp nhân dân từ già trẻ, trai gái, từ miền xuôi đến miền ngược đều đứng lên giết giặc cứu nước. Với tinh thần “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” các nữ dân quân, du kích địa phương ở tỉnh ta hết sức dũng cảm, kiên cường ngày đêm chiến đấu giữ gìn quê hương. Hình ảnh mẹ Suốt, chị Trần Thị Lý hay các phân đội gái pháo phòng không Võ Ninh, Xuân Ninh, Phong Thủy, Tiến Hóa... từ lâu đã đi vào trong tâm tưởng của những người dân Quảng Bình. Và đặc biệt chúng ta không thể không nhắc đến Đại đội nữ dân quân pháo binh Ngư Thủy với những chiến công và đóng góp của họ đối với quê hương Quảng Bình trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

    Đại đội nữ dân quân pháo binh Ngư Thủy thành lập ngày 21-11-1967 dưới sự chỉ đạo của Tỉnh đội Quảng Bình. Đại đội lúc mới thành lập có 37 đồng chí, được phiên thành 3 trung đội: 1 trung đội chỉ huy (có một đài chính và một đài giao hội) và hai trung đội trận địa, 1 tiểu đội trinh sát, 1 tiểu đội thông tin, 1 đài chỉ huy, 1 đài giao hội và một tiểu đội hậu cần (1 y tá, 1 quản lý, 2 nấu ăn, 1 tiếp phẩm). Trong suốt 10 năm chiến đấu (21-11-1967 đến 16-12-1976) đơn vị đã nhiều lần bổ sung (do một số chị em chỉ chiến đấu một thời gian sau đó do điều kiện sức khỏe, việc gia đình nên xin nghỉ) vì thế quân số của toàn đại đội lên tới 91.
    Trong quá trình hoạt động Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy đã đánh 8 trận (4 trận năm 1968 và 4 trận năm 1972). Đơn vị đã được công nhận 5 lần bắn cháy và chìm tàu chiến Mỹ bằng pháo mặt đất 85 ly để bảo vệ vùng biển đầu giới tuyến Quảng Bình. “Đêm trận địa tiếng pháo gầm bãi biển / Đuổi giặc thù nghe rõ tiếng chân em”. Đây là một thành tích rất đáng vinh dự và tự hào và ngày 25 tháng 8 năm 1970, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 25 Quốc khánh nước ta, Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân. Đây là đơn vị dân quân thứ hai của huyện Lệ Thủy vinh dự trở thành Anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân.
    Thành tích xây dựng và chiến đấu của Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy đã làm nức lòng quân và dân cả nước, quân thù bàng hoàng kinh ngạc. Giặc Mỹ đâu có ngờ ở một làng cát nho nhỏ ven biển Quảng Bình lại có một đại đội nữ pháo binh tóc dài kiên cường và anh dũng như vậy.
    Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Chủ tịch Phi đen Cax tơ rô thăm Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy tháng 9- 1973. Ảnh: T.L

    Và trong quá trình chiến đấu với những thành tích đó, đơn vị không những được chính quyền địa phương quan tâm, thăm hỏi mà còn được sự quan tâm, ngợi khen thành tích và động viên tinh thần của Đảng và Nhà nước với những chuyến thăm của các vị lãnh đạo Trung ương và các nguyên thủ, đoàn ngoại giao của nước ngoài.
    Bộ trưởng Xuân Thủy về thăm đại đội pháo binh tóc dài vào một buổi chiều đầy nắng vẫn còn khét mùi thuốc súng, hơi bom sau trận đánh tàu chiến Mỹ. Xúc động, ông đã cảm tác 4 câu thơ tặng đại đội:
    “Chiều nay Xuân Thủy thăm Ngư Thủy
    Trời biển mênh mông đất Quảng Bình
    Giặc Mỹ hay đâu cồn cát trắng
    Anh hùng toàn những gái xuân xanh”
    Chiến công bắn cháy tàu chiến Mỹ không những trong nước biết mà cả bạn bè thế giới đều biết và ca ngợi. Một số các vị nguyên thủ, các đoàn ngoại giao các nước như Liên Xô (cũ), Trung Quốc, Cộng hòa dân chủ Đức (cũ), Cuba đã ghé thăm đại đội các vị lãnh đạo Đảng, nhà nước và quân đội ta vào Quảng Bình đều đã đến thăm hỏi và khen ngợi. Đó là một vinh dự lớn của xã Ngư Thủy cũng như các chị em trong Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy.
    Giữa tháng 9 năm 1973, đồng chí Chủ tịch Cuba Phi-đen Cax-tơ-rô và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đi thăm vùng giải phóng Quảng Trị, khu vực Vĩnh Linh đã giành thời gian đến thăm Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy.
    Chiều ngày 15 tháng 9 năm 1973, Chủ tịch Phi-đen Cax-tơ-rô đặt chân lên miền cát trắng Ngư Thủy. Đại diện Huyện ủy, Uỷ ban hành chính, các ban, ngành của huyện và đông đảo cán bộ, nhân dân các chị em đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy đã xúc động, nồng nhiệt đón tiếp Chủ tịch Phi-đen Cax-tơ-rô và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Các chị em trong đại đội đã làm thao tác nạp đạn vào pháo cho Chủ tịch Phi-đen xem. Chủ tịch Phi-đen đã khen các chị “Đúng là phụ nữ Việt Nam”. Chính trị viên đại đội Ngô Thị Thới thay mặt đại đội đã tặng Chủ tịch Phi-đen Cax-tơ-rô vỏ đạn pháo 85 ly trong trận chiến đấu bắn chìm tàu chiến địch ngày 7 tháng 2 năm 1968. Đứng giữa mọi người, Chủ tịch Phi-đen Cax-tơ-rô khen ngợi, tỏ ý mến phục chị em đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy gan dạ, anh hùng bắn cháy tàu chiến giặc Mỹ.
    Đến cuối năm 1973, Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy phấn khởi đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Uỷ viên Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng, Bí thư quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam vào thăm. Các chị đã ra trung tâm huyện để đón tiếp Đại tướng. Nói chuyện với đội ngũ cán bộ huyện và các đại biểu đơn vị vũ trang đóng quân trên địa bàn, Đại tướng đã nhắc nhở các đơn vị phải đề cao cảnh giác, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu phá hoại của địch, hết sức chi viện cho tiền tuyến. Những lời cổ vũ động viên và căn dặn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tiếp thêm nguồn sức mạnh mới để nhân dân Lệ Thủy cũng như các chị em trong Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy vươn lên trong lao động sản xuất, chiến đấu và xây dựng hậu phương trực tiếp của chiến trường lớn.
    Ngày 28 tháng 12 (âm lịch) năm 1973, Đại đội lại vinh dự đón đồng chí Trường Chinh đến thăm. Đồng chí đã đích thân đến tận trận địa, tỏ ý khâm phục cũng như dặn dò chị em làm cho đại đội càng được tiếp thêm sức mạnh để chiến đấu và chiến thắng.
    Đại đội nữ dân quân pháo binh Ngư Thủy đã đi vào lịch sử dân tộc ta với những chiến công vang dội, các chị đã để lại những tấm gương sáng về lòng dũng cảm, ý chí chiến đấu và sự thông minh sáng tạo cho các thế hệ mai sau. Các chị là những con người đã sống và chiến đấu anh dũng, kiên cường, xứng đáng với tuổi trẻ thế hệ Hồ Chí Minh, với dòng dõi con cháu anh hùng Bà Trưng, Bà Triệu, xứng đáng với vùng đất lửa Quảng Bình – Vĩnh Linh.
    Và khi trở về với cuộc sống đời thường thì các chị vẫn giữ trong mình ngọn lửa nhiệt tình và niềm tin cách mạng sâu sắc.
    Hoàng Trọng Thủy


  8. #7
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,246
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết
    Ngày 21-11-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào, bộ đội và cán bộ Tây Bắc. Người đề ra nhiệm vụ cho quân dân Tây Bắc là: Đồng bào phải đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau tăng gia sản xuất, tham gia kháng chiến; bộ đội phải thi đua học tập, giúp đỡ đồng bào, sẵn sàng xung phong giết giặc; cán bộ phải hết lòng hết sức chăm lo đến đời sống của nhân dân, phải đi đúng đường lối quần chúng, làm đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, thực hiện cần kiệm liêm chính. Người khẳng định rõ:
    “Kháng chiến của ta nhất định thắng lợi, nhưng phải trường kỳ gian khổ, tự lực cánh sinh. Đồng bào, bộ đội và cán bộ ta ở Tây Bắc phải hăng hái tham gia công cuộc kháng chiến để cùng đồng bào, bộ đội, cán bộ toàn quốc đánh đuổi giặc Tây, giặc Mỹ và tranh lại độc lập cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân”2.
    Quyết định đúng hướng tiến công chiến lược là Tây Bắc đã mở đường đi tới thắng lợi của trận quyết chiến lược Điện Biên Phủ.

    khottabit59's Avatar

    khottabit59

     09:55, 21st Nov 2011 #2161 

    Năm 1973 hình như cụ Giáp không giữ chức phó thủ tướng!



  9. #8
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,246
    Thích
    191
    Đã được thích 1,203 lần trong 822 bài viết
    Ngày 22/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp. Sắc lệnh quy định cách thức tổ chức chính quyền dân chủ nhân dân trong cả nước. Chính quyền ở mỗi địa phương sẽ có hai cơ quan: Thay mặt cho dân là Hội đồng nhân dân, do phổ thông đầu phiếu bầu ra, và vừa thay mặt cho dân, vừa đại diện cho Chính phủ là Uỷ ban hành chính, do Hội đồng nhân dân đề cử. Sắc lệnh quy định nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng nhân dân và uỷ ban hành chính mỗi cấp.

    Toàn văn!
    SẮC LỆNH

    SỐ 63-SL NGÀY 22 THÁNG 11 NĂM 1945
    CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI VIỆT NAM DÂN CHỦ
    CỘNG HOÀ VỀ TỔ CHỨC CÁC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
    VÀ UỶ BAN HÀNH CHÍNH
    CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜIVIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
    • Chiểu theo lời đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ;
      Sau khi Hội đồng Chính phủ đã thoả thuận;
    RA SẮC LỆNH:
    Điều 1: Để thực hiện chính quyền nhân dân địa phương trong nước Việt Nam, sẽ đặt hai thứ cơ quan: Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính.
    Hội đồng nhân dân do dân bầu ra theo lối phổ thông và trực tiếp đầu phiếu là cơ quan thay mặt cho dân.
    Uỷ ban hành chính do các Hội đồng nhân dân bầu ra là cơ quan hành chính vừa thay mặt cho dân vừa đại diện cho Chính phủ.
    ở hai cấp xã và tỉnh có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính, ở các cấp huyện và kỳ chỉ có Uỷ ban hành chính.
    Cách tổ chức, quyền hạn và cách làm việc của các cơ quan nói trên sẽ quy định theo như Sắc lệnh này.
    CHƯƠNG THỨ NHẤT CÁCH TỔ CHỨC TIẾT THỨ NHẤT - CÁCH TỔ CHỨC
    HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ
    Điều 2: Ở mỗi xã sẽ đặt một Hội đồng nhân dân gồm có từ 15 đến 25 hội viên chính thức và từ 5 đến 7 hội viên dự khuyết.
    Một đạo nghị định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ sẽ định rõ cách tính số hội viên tuỳ theo dân số.
    Điều 3: Tất cả những công dân Việt Nam, 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam, nữ, không thuộc một trong ba hạng kể trong Điều thứ 2, đoạn 2, 3 và 4 Sắc lệnh số 51 ngày 17 tháng 10 năm 1945 về thể lệ cuộc tuyển cử Quốc dân Đại hội đều có quyền bầu cử Hội đồng nhân dân hàng xã, nếu nguyên quán ở xã, hay trú ngụ ở xã 3 tháng trở lên (lúc đến trú ngụ phải báo cho Uỷ ban hành chính xã biết là mình định đến ở hẳn tại xã thì sau này mới được biên tên vào danh sách cử tri).
    Các binh lính, công chức có quyền bầu cử ở xã mà mình đến đóng hay làm việc, không cần phải trú ngụ quá 3 tháng.
    Điều 4: Chỉ có những người có tên trong danh sách cử tri của xã mới được ứng cử vào Hội đồng nhân dân hàng xã và nếu là người trú ngụ thì phải ở tại xã 6 tháng trở lên mới được ứng cử.
    Các công chức cũng có quyền ứng cử vào Hội đồng nhân dân hàng xã nếu đủ những điều kiện trên.
    Điều 5: Cách lập danh sách cử tri, thể lệ bầu cử, ngày bầu cử các Hội đồng nhân dân xã, toàn quốc sẽ do nghị định Bộ trưởng Bộ Nội vụ ấn định.
    Điều 6: Thời hạn làm việc của các Hội đồng nhân dân hàng xã là 2 năm. Nhưng khoá đầu thời hạn làm việc của các Hội đồng nhân dân hàng xã chỉ có một năm thôi.
    Điều 7: Khi hai phần năm (2/5) số cử tri yêu cầu phục quyết Hội đồng nhân dân hàng xã thì Uỷ ban hành chính xã phải tổ chức ngay cuộc bỏ phiếu tín nhiệm. Nếu quá nửa tổng số cử tri không tín nhiệm Hội đồng nhân dân xã thì Uỷ ban hành chính tỉnh sẽ tuyên bố giải tán Hội đồng nhân dân xã.
    Điều 8: Khi Hội đồng nhân dân xã ra một quyết nghị trái với mệnh lệnh cấp trên thì ngoài sự thủ tiêu quyết nghị sẽ nói ở chương thứ hai, Uỷ ban hành chính cấp huyện sẽ cảnh cáo Hội đồng nhân dân và nếu Hội đồng nhân dân vẫn không tuân lệnh thì Uỷ ban hành chính cấp tỉnh có thể giải tán Hội đồng.
    Điều 9: Khi Hội đồng bị giải tán theo một trong hai điều nói trên thì Uỷ ban hành chính tỉnh, theo lời đề nghị của Uỷ ban hành chính huyện, chỉ định một Uỷ ban tạm thời 5 người (lấy người trong xã) làm nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân xã và của Uỷ ban hành chính xã.
    Nếu còn hơn 6 tháng nữa mới đến kỳ tổng tuyển cử thì trong hạn 10 ngày Uỷ ban tạm thời nói trên sẽ triệu tập cử tri để bầu lại Hội đồng. Hội đồng mới sẽ làm việc đến kỳ Tổng tuyển cử.
    Nếu còn không đầy 6 tháng nữa đã đến kỳ Tổng tuyển cử thì Uỷ ban tạm thời nói trên sẽ làm việc đến kỳ Tổng tuyển cử.
    Điều 10: Khi vì một lý do gì Hội đồng nhân dân xã thiếu hội viên chính thức thì hội viên dự khuyết sẽ theo thứ tự được cử thay vào.
    Điều 11: Uỷ ban hành chính tỉnh phụ trách việc xét xem cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân hàng xã có hợp lý không.
    TIẾT THỨ HAI
    CÁCH TỔ CHỨC UỶ BAN HÀNH CHÍNH CẤP XÃ
    Điều 12: ở mỗi xã sẽ đặt một Uỷ ban hành chính gồm có 5 uỷ viên chính thức (1 Chủ tịch, 1 Phó chủ tịch, 1 thứ ký, 1 thủ quỹ và 1 uỷ viên) và 2 uỷ viên dự khuyết.
    Điều 13: Uỷ ban hành chính xã do Hội đồng nhân dân xã bầu ra. Lúc bầu sẽ bầu riêng Chủ tịch, Phó chủ tịch, thứ ký, thủ quỹ và uỷ viên.
    Điều 14: Muốn ứng cử vào Uỷ ban hành chính xã phải có chân trong Hội đồng nhân dân xã và phải biết đọc, biết viết.
    Điều 15: Thể lệ bầu cử vào Uỷ ban hành chính xã do nghị định Bộ trưởng Bộ Nội vụ ấn định.
    Điều 16: Uỷ ban hành chính xã bầu xong phải được Uỷ ban hành chính tỉnh chuẩn y rồi mới được nhậm chức, uỷ viên nào không được chuẩn y thì phải bầu lại. Nếu lần bầu lại uỷ viên ấy vẫn được trúng cử thì Uỷ ban hành chính tỉnh phải công nhận.
    Điều 17: Thời hạn làm việc của Uỷ ban hành chính xã là 2 năm. Những khoá đầu, thời hạn làm việc của các Uỷ ban hành chính xã chỉ có một năm thôi.
    Điều 18: Nếu một phần ba (1//3) số hội viên Hội đồng nhân dân xã yêu cầu phúc quyết Uỷ ban hành chính xã thì Uỷ ban hành chính xã phải triệu tập ngay Hội đồng nhân dân xã để bỏ phiếu tín nhiệm. Khi bỏ phiếu tín nhiệm thì những người có chân trong Uỷ ban hành chính cũng bỏ phiếu như những hội viên khác trong Hội đồng nhân dân xã. Nếu quá nửa tổng số hội viên Hội đồng nhân dân xã bỏ phiếu không tín nhiệm Uỷ ban hành chính thì Uỷ ban hành chính xã bắt buộc phải từ chức. Những uỷ viên phải từ chức vẫn giữ tư cách hội viên Hội đồng nhân dân xã.
    Điều 19: Nếu Uỷ ban hành chính xã không tuân lệnh cấp trên thì Uỷ ban hành chính huyện yêu cầu Hội đồng nhân dân xã can thiệp. Nếu Hội đồng nhân dân giải quyết không xong thì Uỷ ban hành chính huyện có thể xin Uỷ ban hành chính huyện giải tán Uỷ ban hành chính xã. Những uỷ viên của Uỷ ban bị giải tán sẽ mất tư cách hội viên Hội đồng nhân dân xã.
    Điều 20: Khi một uỷ viên Uỷ ban hành chính xã phạm lỗi trong lúc thừa hành chức vụ, thì Uỷ ban hành chính tỉnh sẽ khiển trách hoặc cách chức theo đề nghị của Uỷ ban hành chính xã hay Uỷ ban hành chính huyện.
    Uỷ viên bị cách chức sẽ mất tư cách hội viên Hội đồng nhân dân xã.
    Nếu tội của uỷ viên phạm đến luật hình thì uỷ viên sẽ bị đưa ra toà án truy tố.
    Điều 21: Khi nào Uỷ ban hành chính bắt buộc phải từ chức hay bị giải tán theo những Điều 18 và 19 thì trong hạn 5 ngày Uỷ ban hành chính huyện sẽ triệu tập hội đồng nhân dân xã để bầu người thay. Khi nào một vài uỷ viên bị cách chức hay xin từ chức, thì những uỷ viên dự khuyết sẽ theo thứ tự được cử thay.
    TIẾT THỨ BA
    CÁCH TỔ CHỨC UỶ BAN HÀNH CHÍNH CẤP HUYỆN
    Điều 22: ở mỗi huyện sẽ đặt một Uỷ ban hành chính gồm có: 3 uỷ viên chính thức (1 Chủ tịch, Phó chủ tịch, 1 thư ký) và 2 uỷ viên dự khuyết.
    Điều 23: Uỷ ban hành chính cấp huyện do hội viên các Hội đồng nhân dân xã trong huyện bầu ra, Hội viên Hội đồng nhân dân xã nào bỏ phiếu ở xã ấy. Lúc bầu thì bầu riêng Chủ tịch, Phó chủ tịch và thư ký.
    Điều 24: Tất cả những người đủ điều kiện để đi bầu cử Quốc dân Đại hội theo Điều 2 Sắc lệnh số 51 ngày 17 tháng 10 năm 1945 và biết đọc biết viết đều có quyền ứng cử vào các Uỷ ban hành chính huyện, không phân biệt là người ở huyện hay không, nhưng chỉ được ứng cử ở một huyện thôi.
    Điều 25: Thể lệ bầu cử các Uỷ ban hành chính huyện do nghị định Bộ trưởng Bộ Nội vụ ấn định.
    Điều 26: Uỷ ban hành chính huyện bầu xong phải được Uỷ ban hành chính kỳ chuẩn y rồi mới được nhậm chức. Uỷ viên nào không được chuẩn y thì phải bầu lại. Nếu lần bầu lại, uỷ viên ấy vẫn được trúng cử thì Uỷ ban hành chính kỳ phải công nhận.
    Điều 27: Thời hạn làm việc của Uỷ ban hành chính huyện là hai năm - nhưng khoá đầu thời hạn ấy chỉ có một năm thôi.
    Điều 28: Khi một phần ba (1/3) tổng số hội viên tất cả các Hội đồng nhân dân xã yêu cầu phúc quyết, Uỷ ban hành chính huyện, thì Uỷ ban hành chính tỉnh phái người về tổ chức cuộc bỏ phiếu tín nhiệm. Hội viên Hội đồng nhân dân xã nào bỏ phiếu ở xã ấy. Nếu quá nửa tổng số hội viên Hôi đồng nhân dân xã không tín nhiệm Uỷ ban thì Uỷ ban hành chính huyện phải từ chức. Những uỷ viên phải từ chức nếu là hội viên Hội đồng nhân dân một xã trong huyện thì vẫn được giữ tư cách ấy.
    Điều 29: Khi Uỷ ban hành chính huyện không tuân lệnh trên thì Uỷ ban hành chính tỉnh có thể đề nghị lên Uỷ ban hành chính kỳ giải tán Uỷ ban hành chính huyện. Những uỷ viên Uỷ ban bị giải tán nếu có chân trong Hội đồng nhân dân xã trong huyện thì mất cả tư cách hội viên.
    Điều 30: Nếu một uỷ viên phạm lỗi trong khi thừa hành chức vụ thì Uỷ ban hành chính tỉnh theo lời đề nghị của Uỷ ban hành chính huyện hoặc khiển trách hoặc cách chức uỷ viên phạm lỗi. Uỷ viên bị cách chức nếu có chân trong Hội đồng nhân dân một xã trong huyện thì mất cả tư cách hội viên.
    Nếu lỗi của uỷ viên phạm vào luật hình thì uỷ viên sẽ bị đưa ra toà án truy tố.
    Điều 31: Khi nào Uỷ ban hành chính huyện bắt buộc phải từ chức hay bị giải tán theo Điều thứ 28 và 29, thì Uỷ ban hành chính tỉnh phải tổ chức ngày cuộc bầu Uỷ ban hành chính huyện mới.
    Khi nào một vài uỷ viên bị cách chức hay xin từ chức, thì những uỷ viên dự khuyết sẽ theo thứ tự được cử thay.
    TIẾT THỨ BỐN
    CÁCH TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH
    Điều 32: (Sửa đổi do Sắc lệnh số 10 ngày 23 tháng 1 năm 1946).
    ở mỗi tỉnh sẽ đặt một Hội đồng nhân dân gồm có từ 20 đến 30 hội viên chính thức và một số hội viên dự khuyết ngang số đơn vi tuyển cử, tức là mỗi đơn vị tuyển cử có một hội viên dự quyết.
    Một đạo nghị định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ sẽ định rõ cách tính tổng số hội viên các Hội đồng nhân dân tỉnh theo dân số (1).
    Điều 33: (Sửa đổi do Sắc lệnh số 10 ngày 23-1-1946). Đơn vị tuyển cử là huyện và thị xã. Số hội viên chia cho mỗi huyện và mỗi thị xã sẽ do nghị định của Uỷ ban hành chính kỳ ấn định (2).
    Điều 34: Tất cả các cử tri các Hội đồng nhân dân xã trong tỉnh đều có quyền bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh.
    Điều 35: Tất cả những người đủ điều kiện để đi bầu cử Quốc dân Đại hội theo Điều 2 Sắc lệnh 51 ngày 17 tháng 10 năm 1945 đều có quyền ứng cử vào các Hội đồng nhân dân các tỉnh, không phân biệt là người ở trong tỉnh hay không, nhưng chỉ được ứng cử ở một tỉnh thôi.
    Điều 36: Thể lệ bầu cử và ngày bầu cử các Hội đồng nhân dân tỉnh toàn quốc sẽ do nghị định Bộ trưởng Bộ Nội vụ ấn định.
    Điều 37: Thời hạn làm việc của các Hội đồng nhân dân tỉnh là 2 năm. Nhưng khoá đầu thời hạn làm việc của các Hội đồng nhân dân hàng tỉnh chỉ có một năm thôi.
    Điều 38: Nếu Hội đồng nhân dân tỉnh ra một Quyết nghị trái với mệnh lệnh cấp trên thì ngoài sự thủ tiêu Quyết nghị do cấp trên sẽ nói ở chương thứ 2, Uỷ ban hành chính kỳ sẽ cảnh cáo Hội đồng nhân dân và nếu Hội đồng vẫn không tuân lệnh thì Uỷ ban hành chính kỳ có thể đề nghị lên Chính phủ giải tán Hội đồng tỉnh.
    Điều 39: Khi Hội đồng nhân dân tỉnh bị giải tán thì Uỷ ban hành chính kỳ chỉ định một Uỷ ban tạm thời ba người làm nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân và của Uỷ ban hành chính tỉnh.
    Nếu còn sáu tháng nữa mới đến kỳ tổng tuyển cử thì trong hạn 10 ngày, Uỷ ban nói trên sẽ triệu tập cử tri để bầu lại Hội đồng: Hội đồng mới sẽ làm việc đến kỳ tổng tuyển cử.
    Nếu còn không đầy sáu tháng nữa đã đến kỳ tổng tuyển cử thì Uỷ ban tạm thời nói trên sẽ làm việc đến kỳ tổng tuyển cử.
    Điều 40: Khi vì một lý do gì Hội đồng nhân dân tỉnh thiếu hội viên chính thức thì hội viên dự khuyết sẽ theo thứ tự được cử thay vào.
    Điều 41: Uỷ ban hành chính kỳ phụ trách việc xét xem cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân hàng tỉnh có hợp lệ không.
    TIẾT THỨ NĂM
    CÁCH TỔ CHỨC UỶ BAN HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH
    Điều 42: ở mỗi tỉnh Uỷ ban hành chính gồm có 3 uỷ viên chính thức (1 Chủ tịch, 1 Phó chủ tịch, 1 Thư ký) và 2 uỷ viên dự khuyết.
    Điều 43: Uỷ ban hành chính tỉnh do Hội đồng nhân dân tỉnh bầu ra. Lúc đầu sẽ bầu riêng Chủ tịch, Phó chủ tịch và Thư ký.
    Điều 44: Muốn ứng cử vào Uỷ ban hành chính tỉnh phải có chân trong Hội đồng nhân dân tỉnh và phải biết viết, biết đọc.
    Điều 45: Thể lệ bầu cử các Uỷ ban hành chính tỉnh do nghị định Bộ trưởng Bộ Nội vụ ấn định.
    Điều 46: Uỷ ban hành chính tỉnh bầu xong phải được Uỷ ban hành chính kỳ chuẩn y rồi mới được nhậm chức, Uỷ viên nào không được chuẩn y thì phải bầu lại, nếu lần bầu lại uỷ viên ấy vẫn không được trúng cử thì Uỷ ban hành chính kỳ phải công nhận.
    Điều 47: Thời hạn làm việc của Uỷ ban hành chính tỉnh là hai năm nhưng khoá đầu thời hạn ấy chỉ có một năm thôi.
    Điều 48: Khi 1/3 (một phần ba) số hội viên Hội đồng nhân dân yêu cầu phúc quyết Uỷ ban hành chính tỉnh thì Uỷ ban hành chính tỉnh phải triệu tập ngay Hội đồng nhân dân tỉnh để bỏ phiếu tín nhiệm. Sau khi bỏ phiếu tín nhiệm thì những người có chân trong Uỷ ban hành chính cũng bỏ phiếu như những hội viên khác trong Hội đồng nhân dân tỉnh. Nếu quá nửa tổng số hội viên của Hội đồng nhân dân tỉnh bỏ phiếu không tín nhiệm Uỷ ban hành chính thì Uỷ ban hành chính tỉnh bắt buộc phải từ chức, những uỷ viên phải từ chức vẫn được giữ tư cách hội viên Hội đồng nhân dân tỉnh.
    Điều 49: Nếu Uỷ ban hành chính tỉnh không tuân lệnh trên thì Uỷ ban hành chính kỳ yêu cầu Hội đồng nhân dân tỉnh can thiệp. Nếu Hội đồng nhân dân không giải quyết xong thì Uỷ ban hành chính kỳ đề nghị lên Chính phủ giải tán Uỷ ban hành chính tỉnh. Những uỷ viên Uỷ ban bị giải tán sẽ mất cả tư cách hội viên Hội đồng nhân dân tỉnh.
    Điều 50: Khi một uỷ viên tỉnh phạm lỗi trong lúc thừa hành chức vụ, thì Uỷ ban hành chính kỳ, theo lời đề nghị của Uỷ ban hành chính tỉnh hoặc khiển trách, hoặc cách chức uỷ viên phạm lỗi.
    Uỷ viên bị cách chức mất luôn cả tư cách hội viên Hội đồng nhân dân tỉnh.
    Nếu tội của uỷ viên phạm đến luật hình thì uỷ viên sẽ bị đưa ra toà án truy tố.
    Điều 51: Khi Uỷ ban hành chính bắt buộc phải từ chức hay bị giải tán, theo những Điều 48 và 49 thì trong hạn 5 ngày Uỷ ban hành chính kỳ sẽ triệu tập Hội đồng nhân dân tỉnh để bầu người thay.
    Khi nào một vài uỷ viên bị cách chức hay xin từ chức thì những uỷ viên dự khuyết sẽ theo thứ tự được cử thay.
    TIẾT THỨ SÁU
    CÁCH TỔ CHỨC UỶ BAN HÀNH CHÍNH CẤP KỲ
    Điều 52: ở mỗi kỳ sẽ đặt một Uỷ ban hành chính gồm có 5 uỷ viên chính thức (1 Chủ tịch, 1 Phó chủ tịch, 1 Thư ký và 2 Uỷ viên) và 2 Uỷ viên dự khuyết.
    Điều 53: (Sửa đổi do Sắc lệnh số 10 ngày 23-1-1946) Uỷ ban hành chính cấp kỳ do hội viên các Hội đồng nhân dân tỉnh và thành phố trong kỳ bầu ra, hội viên Hội đồng nhân dân tỉnh nào bỏ phiếu ở tỉnh lỵ tỉnh ấy.
    Không bầu riêng Chủ tịch, Phó chủ tịch, Thư ký, chỉ bầu chung 5 uỷ viên chính thức và 2 uỷ viên dự khuyết (3).
    Điều 54: Uỷ ban trúng cử sẽ tự bầu lấy Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Thư ký.
    Điều 55: Tất cả những người đủ điều kiện để đi bầu cử Quốc dân đại hội theo Điều 2 Sắc lệnh số 51 ngày 17 tháng 10 năm 1945 và biết đọc, biết viết đều có quyền ứng cử vào các Uỷ ban hành chính kỳ, không phân biệt là người ở trong kỳ hay không, nhưng chỉ được ứng cử ở một kỳ thôi.
    Điều 56: Thể lệ bầu cử các Uỷ ban hành chính kỳ do nghị định Bộ trưởng Bộ Nội vụ ấn định.
    Điều 57: Uỷ ban hành chính kỳ bầu xong phải được Hội đồng Chính phủ chuẩn y rồi mới được nhậm chức. Uỷ viên nào không được chuẩn y thì phải bầu lại. Nếu lần bầu lại, uỷ viên ấy vẫn được trúng cử thì Hội đồng Chính phủ phải công nhận.
    Điều 58: Hạn làm việc của Uỷ ban hành chính kỳ là 3 năm, nhưng khoá đầu thời hạn ấy chỉ có một năm thôi.
    Điều 59: Khi một phần ba (1/3) tổng số hội viên tất cả các Hội đồng nhân dân tỉnh yêu cầu phúc quyết Uỷ ban hành chính kỳ thì Bộ trưởng Bộ Nội vụ phái người về tổ chức cuộc bỏ phiếu tín nhiệm. Hội viên Hội đồng nhân dân tỉnh nào bỏ phiếu ở tỉnh ấy. Nếu quá nửa tổng số hội viên các hội đồng nhân dân tỉnh không tín nhiệm Uỷ ban hành chính kỳ thì Uỷ ban hành chính kỳ phải xin từ chức. Những uỷ viên từ chức nếu là hội viên Hội đồng nhân dân một tỉnh trong kỳ sẽ vẫn được giữ tư cách ấy.
    Điều 60: Khi Uỷ ban hành chính kỳ không tuân lệnh trên thì Bộ trưởng Bộ Nội vụ đề nghị lên Hội đồng Chính phủ giải tán Uỷ ban hành chính kỳ. Những uỷ viên Uỷ ban bị giải tán nếu có chân trong một Hội đồng nhân dân thì mất cả tư cách hội viên hội đồng ấy.
    Điều 61: Nếu một uỷ viên Uỷ ban hành chính kỳ phạm lỗi trong khi thừa hành chức vụ thì Bộ trưởng Bộ Nội vụ theo lời đề nghị của Uỷ ban hành chính kỳ, hoặc khiển trách, hoặc cách chức uỷ viên phạm lỗi. Nếu lỗi của uỷ viên phạm vào luật hình, thì uỷ viên sẽ bị đưa ra toà án truy tố.
    Điều 62: Khi Uỷ ban hành chính kỳ bắt buộc phải từ chức hay bị giải tán theo những điều thứ 59 và 60 thì Bộ Nội vụ phải tổ chức ngay cuộc bầu cử Uỷ ban hành chính mới. Khi một vài uỷ viên bị cách chức hay xin từ chức thì những uỷ viên dự khuyết sẽ theo thứ tự được cử thay.
    TIẾT THỨ BẢY
    CÁCH TỔ CHỨC - ĐIỀU KHOẢN CHUNG
    Điều 63: Một người không có thể ở trong hai Uỷ ban hành chính được.
    Một người vừa có thể ở trong Hội đồng nhân dân xã mình vừa ở trong Hội đồng nhân dân tỉnh mình và vừa ở trong Nghị viện nhân dân nữa.
    Điều 64: Hai vợ chồng, ba cha con, ba mẹ con, ba anh em ruột hay ba chị em ruột không được cùng ở trong Uỷ ban hành chính (xã, huyện, tỉnh hay kỳ).
    Điều 65: (Sửa đổi do Sắc lệnh số 22A ngày 18-2-1946). Các binh sỹ tại ngũ và công chức có thể là hội viên các Hội đồng nhân dân được.
    Các công chức nếu được bầu vào một Uỷ ban hành chính huyện, tỉnh hay kỳ, phải xin nghỉ gia hạn không lương để tham gia vào Uỷ ban hành chính hoặc từ chối không nhận vào Uỷ ban hành chính.
    Tạm thời cho đến khi có thể lệ định phụ cấp cho các Uỷ viên, các công chức vào trường hợp trên có thể xin tạm gia ngoài ngạch để vào Uỷ ban hành chính và vẫn được hưởng lương bổng và phụ cấp theo trật tự và nơi làm việc mới của mình.
    Các công chức được bầu vào Uỷ ban hành chính xã có thể vừa làm công chức, vừa tham gia vào Uỷ ban hành chính xã nhưng chỉ được lĩnh hoặc lương công chức hoặc phụ cấp của uỷ viên hành chính xã.
    Các binh sĩ tại ngũ không được ứng cử vào các Uỷ ban hành chính (xã, huyện, tỉnh hay kỳ) (4).
    CHƯƠNG THỨ HAI
    QUYỀN HẠN VÀ PHÂN CÔNG
    TIẾT THỨ 1
    QUYỀN HẠN VÀ PHÂN CÔNG CỦA
    HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ
    Điều 66: Hội đồng nhân dân hàng xã có quyền quyết nghị về tất cả các vấn đề thuộc trong phạm vi xã mình. Những quyết nghị của Hội đồng nhân dân hàng xã không được trái với chỉ thị của các cấp trên.
    Điều 67: Trong hạn 8 ngày Uỷ ban hành chính xã phải đệ biên bản quyết nghị của Hội đồng nhân dân xã lên Uỷ ban hành chính huyện. Uỷ ban hành chính huyện phải ghi ngày nhận vào sổ rồi phát biên lai cho Uỷ ban hành chính xã.
    Điều 68: Trong hạn 5 ngày sau ngày nhận được biên bản quyết nghị và phát biên lai, Uỷ ban hành chính huyện có quyền thủ tiêu hoặc giao về sửa chữa các quyết nghị của Hội đồng hàng xã, nhưng phải nói rõ nguyên nhân sự thủ tiêu hay sự yêu cầu sửa chữa ấy; Hạn 5 ngày nói trên không thể gia thêm được.
    Điều 69: Nếu trong hạn nói trên mà quyết nghị không bị thủ tiêu hay giao về sửa chữa thì có thể thi hành được trừ những quyết nghị kể trong các Điều 70 và 71.
    Điều 70: Những quyết nghị về các vấn đề sau này phải được Uỷ ban hành chính huyện chuẩn y rồi mới được thi hành:
    1- Cho thuê hoặc thuê bất động sản trong một thời hạn quá 3 năm;
    2- Thay đổi tác dụng của một bất động sản của xã;
    3- Đặt, sửa chữa, mở mang phố xá, đường cái hay công viên trong xã;
    4- Mở hay bỏ chợ.
    Điều 71: Những quyết nghị về các vấn đề sau này phải được Uỷ ban hành chính tỉnh chuẩn y rồi được thi hành:
    1- Bán, nhượng, đổi bất động sản của xã;
    2- Mua bất động sản, làm hay sửa chữa nhà cửa, cầu cống khi số tiền cần tiêu phải vay hoặc không dự tính trong ngân sách xã;
    3- Ngân sách của xã;
    4- Đóng góp bất thường hoặc vay;
    5- Định thuế suất (tarif) các thứ thuế riêng mà đã được phép thu;
    6- Tự quản lý hoặc dự một phần vào công cuộc kinh doanh có tính cách công ích, tiếp tế cho công chúng, cứu tế xã hội, v.v...
    Điều 72: Khi việc gấp thì Uỷ ban hành chính xã có thể xin Uỷ ban hành chính huyện hay tỉnh duyệt định ngay quyết nghị của Hội đồng nhân dân xã.
    Điều 73: Khi Uỷ ban hành chính huyện hoặc tỉnh thủ tiêu, hoặc không chuẩn y quyết nghị của mình thì Hội đồng nhân dân xã có quyền kháng cáo:
    a) Lên Uỷ ban hành chính tỉnh nếu quyết nghị bị Uỷ ban hành chính huyện thủ tiêu hay không chuẩn y;
    b) Lên Uỷ ban hành chính kỳ nếu quyết nghị bị Uỷ ban hành chính tỉnh thủ tiêu hay không chuẩn y.
    TIẾT THỨ HAI
    QUYỀN HẠN VÀ PHÂN CÔNG CỦA
    UỶ BAN HÀNH CHÍNH CẤP XÃ
    Điều 74: Quyền hạn của Uỷ ban hành chính xã như sau này:
    1- Thi hành các mệnh lệnh của các cấp trên, các quyết nghị của Hội đồng nhân dân xã và các bản án của các toà án;
    2- Triệu tập Hội đồng nhân dân xã;
    3- Kiểm soát các cơ quan chuyên môn cấp xã về cách thừa hành chức vụ;
    4- Giải quyết các công việc vặt trong phạm vi xã;
    5- Phát lệnh viên (ordonnateur) ngân sách hàng xã.
    Điều 75: Về tư pháp, Ban thường vụ (Chủ tịch, Phó chủ tịch và thư ký) có quyền:
    1- Hoà giải về tất cả các việc;
    2- Xử các việc vi cảnh, nhưng chỉ được phạt tiền.
    Điều 76: ở cấp xã phân công như sau này:
    1- Hành chính, tư pháp;
    2- Xã hội, y tế, cứu tế, tài chính;
    3- Kinh tế, giao thông, địa bạ;
    4- Giáo dục, tuyên truyền, khánh tiết;
    5- Trị an và quân vụ.
    Ban thường vụ gồm có Chủ tịch, Phó chủ tịch, Thư ký phụ trách mục "hành chính, tư pháp". Còn những mục khác thì mỗi uỷ viên phụ trách một mục tuỳ theo tài năng của từng người.
    Điều 77: Uỷ ban hành chính xã có thể lập những tiểu ban để giúp việc. Những người làm việc trong các tiểu ban do toàn ban chọn theo lời đề nghị của một hay nhiều uỷ viên.
    TIẾT THỨ BA
    QUYỀN HẠN VÀ PHÂN CÔNG CỦA
    UỶ BAN HÀNH CHÍNH CẤP HUYỆN
    Điều 78: Quyền hạn của Uỷ ban hành chính cấp huyện như sau này:
    1- Thi hành và kiểm soát sự thi hành mệnh lệnh của các cấp trên. Kiểm soát các Uỷ ban hành chính xã và các Hội đồng nhân dân xã;
    2- Thủ tiêu theo như Điều 68 những quyết nghị của Hội đồng nhân dân xã trái với chỉ thị của các cấp trên hay trái với quyền lợi của dân xã;
    3- Duyệt y hoặc đệ lên Uỷ ban hành chính tỉnh duyệt y các quyết nghị của các Hội đồng nhân dân xã theo như các Điều 70 và 71;
    4- Kiểm soát theo cơ quan chuyên môn về cách thừa hành chức vụ;
    5- Giải quyết các công việc vặt trong phạm vi huyện;
    6- Điều khiển đội cảnh binh đặt ở huyện để lo việc tuần phòng và trị an. Đội cảnh binh này sẽ do nghị định Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định sau.
    Điều 79: ở cấp huyện phân công theo năng lực của uỷ viên. Riêng việc hành chính thì toàn ban phụ trách.
    TIẾT THỨ 4
    QUYỀN HẠN VÀ PHÂN CÔNG CỦA
    HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH
    Điều 80: Hội đồng nhân dân tỉnh có quyền quyết nghị về tất cả các vấn đề thuộc phạm vi tỉnh mình. Những quyết nghị của Hội đồng nhân dân tỉnh không được trái với chỉ thị của các cấp trên. Hội đồng có thể hỏi ý kiến các nhà chuyên môn trước khi quyết nghị một vấn đề có liên can đến một hay nhiều ngành chuyên môn.
    Điều 81: Trong hạn tám ngày Uỷ ban hành chính tỉnh phải đệ biên bản quyết nghị của Hội đồng nhân dân tỉnh lên Uỷ ban hành chính kỳ. Uỷ ban hành chính kỳ phải ghi ngày nhận vào sổ rồi phát biên lai cho Uỷ ban hành chính tỉnh.
    Điều 82: Trong hạn 15 ngày sau ngày nhận được biên bản quyết nghị và phát biên lai, Uỷ ban hành chính kỳ có quyền thủ tiêu hay giao về sửa chữa những quyết nghị của Hội đồng nhân dân tỉnh nhưng phải nói rõ nguyên nhân sự thủ tiêu hay sự yêu cầu sửa chữa ấy. Hạn nói trên Uỷ ban kỳ có thể thêm lên 15 ngày nữa, nhưng phải báo cho Uỷ ban hành chính tỉnh biết trước khi hết hạn 15 ngày đầu.
    Điều 83: Nếu hết hạn nói trong Điều 82 mà quyết nghị không bị thủ tiêu hay giao về sửa chữa thì có thể thi hành được trừ những quyết nghị kể trong các Điều 84 và 85.
    Điều 84: Những quyết nghị về các vấn đề sau này phải được Uỷ ban hành chính kỳ chuẩn y rồi mới được thi hành:
    1- Nhận những tặng vật và di sản mà người tặng có đặt điều kiện;
    2- Bán, mua hoặc đổi bất động sản của tỉnh;
    3- Kiện hoặc theo kiện;
    4- Quy định về các công chức thuộc ngạch hàng tỉnh.
    Điều 85: Những quyết nghị về các vấn đề sau đây phải được Hội đồng Chính phủ duyệt y rồi mới được thi hành:
    1- Ngân sách tỉnh;
    2- Vay tiền;
    3- Định những bách phân phụ thu cho quỹ hàng tỉnh. Khi số bách phân phụ thu ấy to hơn số cấp trên đã định;
    4- Cho thầu một công vụ;
    5- Định các thuế suất (tarif) các thuế đặc biệt được phép thu trong phạm vi tỉnh.
    Điều 86: Khi việc gấp thì Uỷ ban hành chính tỉnh có thể xin Uỷ ban hành chính kỳ hay Hội đồng Chính phủ duyệt y ngay quyết nghị của Hội đồng nhân dân tỉnh.
    Điều 87: Khi Uỷ ban hành chính kỳ thủ tiêu hoặc không chuẩn y quyết nghị của mình, Hội đồng nhân dân tỉnh có quyền kháng cáo lên Hội đồng Chính phủ.
    TIẾT THỨ 5
    QUYỀN HẠN VÀ PHÂN CÔNG CỦA
    UỶ BAN HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH
    Điều 88: Quyền hạn của Uỷ ban hành chính tỉnh như sau này:
    1- Thi hành các mệnh lệnh của cấp trên và các quyết nghị của Hội đồng nhân dân tỉnh;
    2- Kiểm soát các uỷ viên và Hội đồng nhân dân các cấp dưới;
    3- Duyệt y các quyết nghị của Hội đồng nhân dân xã theo Điều 70;
    4- Xử những kháng cáo của Hội đồng nhân dân xã về việc thủ tiêu hay không chuẩn y các quyết nghị của Hội đồng;
    5- Triệu tập Hội đồng nhân dân tỉnh;
    6- Điều khiển các viên chức thuộc ngạch hàng tỉnh;
    7- Kiểm soát cơ quan chuyên môn về cách thừa hành chức vụ;
    8- Giải quyết các việc vặt trong phạm vi tỉnh;
    9- Phát lệnh ngân sách tỉnh;
    10- Cho phép trưng khẩn đất công đến một phạm vi sẽ định sau;
    11- Ra nghị định để giữ việc trị an trong tỉnh;
    12- Điều khiển đội cảnh binh tỉnh để lo việc tuần phòng và trị an. Đội cảnh binh này sẽ do nghị định Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định sau;
    13- Ra lệnh điều động quân đội (requérir le force armeo) đóng trong tỉnh, trong những trường hợp tối khẩn cấp để bảo vệ đất nước, nhưng phải báo lên Uỷ ban hành chính kỳ ngay.
    Điều 89: ở cấp tỉnh phân công tuỳ theo năng lực của uỷ viên.
    TIẾT THỨ 6
    QUYỀN HẠN VÀ PHÂN CÔNG CỦA
    UỶ BAN HÀNH CHÍNH CẤP KỲ
    Điều 90: Quyền hạn của Uỷ ban hành chính kỳ như sau này:
    1- Thi hành các mệnh lệnh của Chính phủ;
    2- Kiểm soát các Uỷ ban hành chính và Hội đồng nhân dân cấp dưới.
    3- Duyệt y các quyết nghị của Hội đồng nhân dân tỉnh theo Điều 84;
    4- Xử những kháng cáo của Hội đồng nhân dân xã khi Uỷ ban hành chính tỉnh thủ tiêu hay không chuẩn y các quyết nghị của Hội đồng;
    5- Điều khiển các công chức thuộc ngạch kỳ;
    6- Ra nghị định để thi hành các luật lệ theo mệnh lệnh của Chính phủ trong phạm vi kỳ;
    7- Kiểm soát các cơ quan chuyên môn về cách thừa hành chức vụ;
    8- Cho phép trưng khẩn đất công đến một phạm vi sẽ định sau;
    9- Trị an toàn kỳ;
    10- Ra lệnh điều động quân đội trong những trường hợp tối khấn cấp để bảo vệ đất nước, nhưng phải báo ngay cho Chính phủ biết.
    Điều 91: Khi bổ nhiệm một nhân viên chuyên môn đến làm việc trong một kỳ nào, các bộ phải thoả thuận với Uỷ ban hành chính kỳ ấy.
    Điều 92: Một sắc lệnh sẽ quy định ngân sách kỳ.
    Điều 93: ở cấp kỳ, phân công tuỳ theo năng lực của từng uỷ viên.
    TIẾT THỨ 7
    ĐIỀU KHOẢN CHUNG
    Điều 94: Khi một cơ quan chuyên môn ở bất cứ cấp nào, nhận được một mệnh lệnh của cơ quan chuyên môn cấp trên thì phải thông tri cho Uỷ ban hành chính cấp tương đương trước rồi mới được thi hành.
    Điều 95: Khi một cơ quan chuyên môn ở bất cứ cấp nào có sáng kiến gì muốn thực hiện trong phạm vi cấp mình thì phải thảo luận với Uỷ ban hành chính cấp ấy trước rồi mới thi hành hay đề nghị lên cơ quan chuyên môn cấp trên.
    CHƯƠNG THỨ 3
    CÁCH LÀM VIỆC
    TIẾT THỨ NHẤT
    CÁCH LÀM VIỆC CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ
    Điều 96: Hội đồng nhân dân xã mỗi tháng họp một kỳ, Hội nghị thường do Uỷ ban hành chính triệu tập.
    Điều 97: Hội đồng nhân dân xã có thể họp hội nghị bất thường trong những trường hợp sau này:
    1- Theo mệnh lệnh của Uỷ ban hành chính huyện;
    2- Khi hai phần ba số hội viên đề nghị cho Uỷ ban hành chính xã. Trừ khi nào yêu cầu phúc quyết 1/3 số hội viên đề nghị cùng dự (Điều 18);
    3- Khi Uỷ ban hành chính xã triệu tập.
    Điều 98: Mỗi kỳ họp thì Hội đồng nhân dân xã bầu ra một người chủ toạ. Thư ký tất cả các buổi họp là thư ký của Uỷ ban hành chính xã.
    Điều 99: Hội đồng có thể mời những người ngoài dự bàn. Những người được mời có quyền phát biểu ý kiến, nhưng không có quyền biểu quyết.
    Điều 100: Trừ những trường hợp đặc biệt phải họp kín, còn thì Hội đồng nhân dân xã họp công khai. Dân xã có quyền dự thính nhưng không có quyền chất vấn.
    Điều 101: Chỉ khi nào quá nửa số hội viên chính thức có mặt thì Hội đồng nhân dân hàng xã mới có thể thảo luận và biểu quyết được.
    Điều 102: Khi Hội đồng biểu quyết thì quyết nghị của Hội đồng sẽ theo biểu quyết của đa số hội viên. Khi số phiếu hai bên ngang nhau thì quyết nghị của Hội đồng theo biểu quyết của người chủ toạ Hội đồng.
    Điều 103: Chủ toạ và thư ký phải lập biên bản mỗi phiên họp của Hội đồng.
    TIẾT THỨ 2
    CÁCH LÀM VIỆC CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH
    Điều 104: (Sửa đổi do Sắc lệnh số 153-SL ngày 17-11-1950) Hội đồng nhân dân tỉnh sẽ họp ba tháng một kỳ hội nghị thường, mỗi kỳ dài nhất là 10 ngày, kỳ họp bàn về ngân sách có thể dài đến 15 ngày.
    Điều 105: Hội đồng nhân dân tỉnh có thể họp bất thường trong những trường hợp sau này:
    1- Theo mệnh lệnh của Uỷ ban hành chính kỳ;
    2- Khi quá nửa số hội viên đề nghị cho Uỷ ban hành chính tỉnh.
    Trừ khi nào yêu cầu phúc quyết 1/3 số hội viên đề nghị cũng đủ (Điều 48);
    3- Khi Uỷ ban hành chính tỉnh triệu tập.
    Điều 106: Mỗi kỳ họp, thì Hội đồng nhân dân tỉnh bầu ra một người chủ toạ. Thư ký của tất cả các buổi họp là thư ký của Uỷ ban hành chính tỉnh.
    Điều 107: Hội đồng có thể mời người ngoài dự bàn được. Những người được mời có quyền phát biểu ý kiến, nhưng không có quyền biểu quyết.
    Điều 108: Trừ những trường hợp đặc biệt phải họp kín, còn thì Hội đồng nhân dân tỉnh họp công khai. Dân tỉnh có quyền dự thính, nhưng không có quyền chất vấn.
    Điều 109: Chỉ khi nào quá nửa số hội viên chính thức có mặt thì Hội đồng nhân dân tỉnh mới có thể thảo luận và biểu quyết được.
    Điều 110: Khi Hội đồng biểu quyết, quyết nghị của Hội đồng sẽ theo biểu quyết của đa số hội viên. Khi số phiếu hai bên ngang nhau thì quyết nghị của Hội đồng theo biểu quyết của người chủ toạ Hội đồng.
    Điều 111: Chủ toạ và thư ký Hội đồng phải lập biên bản mỗi phiên họp Hội đồng.
    TIẾT THỨ 3
    CÁCH LÀM VIỆC CỦA UỶ BAN HÀNH CHÍNH
    Điều 112: Các Uỷ ban hành chính (xã, huyện, tỉnh và kỳ) là những cơ quan thường trực.
    Điều 113: Các Uỷ ban hành chính bao giờ cũng họp kín.
    CHƯƠNG THỨ 4
    TỔNG LỆ
    Điều 114: Khi các cơ quan địa phương tổ chức theo sắc lệnh này thành lập và nhận chức rồi, thì các Uỷ ban nhân dân tạm thời hiện có ở địa phương sẽ giải tán.
    Điều 115: Bộ trưởng Bộ Nội vụ thi hành Sắc lệnh này.
    Chủ tịchChính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

    Hồ Chí Minh
    (1) Điều 32 cũ: ở mỗi tỉnh sẽ đặt một Hội đồng nhân dân có từ 21 đến 30 hội viên chính thức và một số hội viên dự khuyết.
    Một đạo nghị định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ sẽ định rõ cách tính tổng số hội viên các Hội đồng nhân dân tỉnh theo dân số.
    (2) Điều 33 cũ: Đơn vị tuyển cử là huyện. Số hội viên chia cho mỗi huyện sẽ do nghị định của Uỷ ban hành chính kỳ ấn định.
    (3) Điều 53 cũ - Uỷ ban hành chính cấp kỳ do hội viên các Uỷ ban hành chính tỉnh trong kỳ bầu ra. Hội viên Hội đồng nhân dân tỉnh nào bỏ phiếu ở tỉnh lỵ ấy (đoạn sau không thay đổi).
    (4) Điều 65 cũ. Các công chức và binh sĩ tại ngũ có thể là hội viên Hội đồng nhân dân được.
    Các công chức nếu được bầu vào một Uỷ ban hành chính (xã, huyện, tỉnh hay kỳ) thì phải hoặc xin từ chức, hoặc từ chối không nhận vào Uỷ ban hành chính. Các binh sĩ tại ngũ không được ứng cử vào các Uỷ ban hành chính (xã, huyện, tỉnh hay kỳ).
    Sửa lần cuối bởi trucngon; 22-11-2011 lúc 10:55 AM.

  10. #9
    Ngày tham gia
    08-10-2010
    Bài viết
    596
    Thích
    414
    Đã được thích 176 lần trong 119 bài viết
    Em trực hộ bác Thẳng :D

    23-11-1930
    là ngày sinh của nhà sân khấu Tào Mạt tên thật là Nguyễn Duy Thục tại xã Hữu Bằng, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Ông đã viết hơn 20 vở kịch, chèo, nổi tiếng hơn cả là bộ chèo lịch sử "Bài ca giữ nước" gồm 3 vở: "Lý thánh Tông tuyển hiền", "Ỷ Lan nhiếp chính", "Lý Nhân Tông kế nghiệp". Tác phẩm này không nhằm minh hoạ lịch sử mà khai thác những vấn đề tư tưởng và quan niệm đạo đức ý nghĩa thời sự đối với người xem đương thời. "Bài ca giữ nước" đạt tới giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, có sức rung động lòng người, có thể coi là tác phẩm tiêu biểu nhất của sân khấu chèo trong 30 nǎm gần đây.
    Tào Mạt đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân và truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh nǎm 1996

    Đêm 22 rạng ngày 23-11-1940, Đảng bộ Đảng cộng sản Đông Dương Nam Kỳ đã phát động cuộc khởi nghĩa ở hầu khắp các tỉnh Nam Kỳ. Quân khởi nghĩa đã triệt hạ nhiều đồn bốt giặc, phá nhiều đường giao thông, thành lập chính quyền nhân dân và toà án cách mạng ở nhiều vùng trong các tỉnh Mỹ Tho, Gia Định, Bạc Liêu. Trong cuộc khởi nghĩa, lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện lần đầu tiên.

    23-11-1945, Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh thành lập Ban Thanh tra đặc biệt, là tổ chức tiền thân của Thanh tra Nhà nước hiện nay.
    Thanh tra là tai mắt của Nhà nước, là bạn thân của dân. Ngành thanh tra xây dựng đội ngũ cán bộ viên chức trong sạch, vững mạnh, cần, kiêm, liêm, chính, chí công, vô tư, xứng đáng với lòng tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

    23-11-1946. Đại hội đại biểu Hội hồng thập tự Việt Nam lần thứ nhất họp tại Vân Đình (nay thuộc tỉnh Hà tây). Các đại biểu nhất trí bầu Hồ Chủ tịch làm Hội trưởng danh dự, Bác sĩ Vũ Đình Tụng, một trí thức công giáo yêu nước, có uy tín trong xã hội, được bầu vào Hội trưởng Hội thập tự.
    Tại Đại hội lần thứ ba của Hội (nǎm 1955), Hội Hồng thập tự Việt Nam đổi tên thành Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.
    Ngày 23-11 được coi là ngày ra đời của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam

    23-11-1945 ngày mất của Alêchxây Nikôlaêvich Tôixtôi - Nhà vǎn Nga.
    Tác phẩm nổi tiếng là các bộ tiểu thuyết lớn "Pie đại đế", "Con đường đau khổ" với các tập "Hai chị em", "Nǎm 1918", "Buổi sáng ảm đạm".
    Các tác phẩm của A.N Tôxtôi thấm đượn tinh thần yêu nước, tư tưởng lạc quan tươi sáng thể hiện truyền thống vǎn hoá Nga sâu sắc, với vǎn phong cổ điển mẫu mực. Ông là người có công lớn trong việc tạo dựng và phát triển thể loại tiểu thuyết sử thi Nga và kịch lịch sử Nga đến độ hoàn mỹ.
    GHÉT SỰ GIẢ DỐI

  11. #10
    Ngày tham gia
    27-09-2010
    Bài viết
    152
    Thích
    194
    Đã được thích 145 lần trong 89 bài viết
    Em chen ngang bác d406 một nhát.

    Ngày này năm 1972. Người anh em cùng quân đoàn 4 được thành lập, một thời sát cánh cùng lính khu eo chốt giữ phên giậu Tây Nam và cùng nhau Tây Tiến .
    Xin chúc mừng ngày thành lập sư đoàn bb 341-QK4 (23-11-1972)

    Dongdoi_D406's Avatar

    Dongdoi_D406

     22:12, 23rd Nov 2011 #2263 

    Sao phải chen ngang, em nhường luôn. Mai bác tiếp nhé



Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •