CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 9 của 11 Đầu tiênĐầu tiên ... 7891011 CuốiCuối
Kết quả 81 đến 90 của 106

Chủ đề: Ngày này năm ấy!

  1. #81
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,153
    Thích
    323
    Đã được thích 1,858 lần trong 993 bài viết
    70 NĂM TÂY TIẾN

    Bẩy mươi năm trước đoàn Tây Tiến
    Quân binh kiêu dũng đến "quên đời"
    "Rải rác biên cương mồ viễn xứ"
    Tiếng thơm để lại đến muôn đời!






    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  2. Có 3 người thích bài viết này


  3. #82
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,153
    Thích
    323
    Đã được thích 1,858 lần trong 993 bài viết
    ĐIỀU BINH NHƯ THẦN, NGHI BINH NHƯ ẢO THUẬT- THÁNG 3.1975, BAN MÊ THUỘT NHƯ "CÁ NẰM TRÊN THỚT"



    Tượng đài Chiến thắng Buôn Ma Thuột. Ảnh: Saigon Tourist.

    Cái hay nhất của quá trình điều binh, tạo thế là phía VNCH, trực tiếp là Bộ Tư lệnh QK 2, QĐ 2 vẫn không hề hay biết.

    Thị xã Buôn Ma Thuột (BMT) nằm ở giữa ngã ba của hai con đường chiến lược 14 và 21, là đầu mối giao thông của Nam Tây Nguyên. Từ BMT dễ dàng đi lên các tỉnh phía Bắc và đi xuống Đông Nam Bộ - Sài Gòn bằng cả đường không và đường bộ.Chính vì tầm quan trọng đó nên BMT có các căn cứ, sân bay, kho đạn hậu phương của các đơn vị chủ lực của Quân khu 2; Quân đoàn 2 Việt Nam cộng hòa (VNCH).Thị xã được bảo vệ bởi các đơn vị khá tinh nhuệ gồm 1 Trung đoàn bộ binh, Trung đoàn 232 pháo binh và 2 Tiểu đoàn pháo binh, Trung đoàn 8 thiết giáp, cùng với lực lượng bảo an, cảnh sát, mật vụ… với tổng quân số hơn 8.000 lính.
    Trong cuộc tổng tiến công nổi dậy Mùa Xuân 1975, Bộ Thống soái tối cao đã lựa chọn BMT là trận then chốt quyết định bởi nếu chiếm được thị xã này sẽ làm rung chuyển cả Tây Nguyên và đe dọa cả miền Nam.


    Buôn Ma Thuột - Trận nghi binh mở màn Chiến dịch Tây Nguyên.


    Tuy nhiên, để tiến công vào một thị xã lớn với lực lượng quân sự khá mạnh và giành thắng lợi trong trận đánh đó là điều không hề dễ dàng. Trong hồi ký "Chiến đấu ở Tây Nguyên", Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đã đúc kết ngắn gọn về trận đánh này như sau:


    NGUYÊN TƯ LỆNH MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN - VIỆN CHIẾN LƯỢC QS BQP
    THƯỢNG TƯỚNG - GS . NGND HOÀNG MINH THẢO

    “Mưu cao nhất là mưu lừa địch - Kế hay nhất là kế điều địch - Mưu sinh ra kế - Kế đẻ ra thời - Đánh bằng mưu kế - Thắng bằng thế thời” (Trích: Chiến đấu ở Tây Nguyên- Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, NXB QĐND, tr. 191)

    Trong thực tế, Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên đã làm được như trên và đã giành thắng lợi trong trận đánh then chốt, quyết định này.

    Điều binh tạo thế như thần!

    Là thủ phủ của Nam Tây Nguyên, là nơi đóng đại bản doanh của Sư đoàn BB 23 có thể nói thị xã BMT năm 1975 là một thị xã quân sự. Các căn cứ quân sự, kho tàng ... của Quân lực Việt Nam Cộng hòa (VNCH) ở đây chiếm phần lớn diện tích của thị xã và được xây dựng một cách cơ bản, vững chắc, nhiều tầng nhiều lớp.Để tiến công thắng lợi thị xã này cần phải có một thế trận vượt trội về mọi mặt.
    Trước hết, đó là phải tạo được sự vượt trội về mặt binh hỏa lực. Vào thời điểm đầu năm 1975, nếu so sánh về lực lượng giữa hai bên trên địa bàn Quân khu 2 nói chung và Tây Nguyên nói riêng thì cán cân nghiêng về phía VNCH.Ưu thế đó càng nổi rõ khi so sánh về các trang bị nặng như xe tăng, thiết giáp và pháo binh, đặc biệt là không quân.
    Trong tình hình đó, nếu cứ rải mành mành ra mà đánh thì phần thất bại gần như chắc chắn sẽ thuộc về bên tiến công. Còn nếu muốn thắng lợi thì phải tạo được thế vượt trội. Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên đã làm được điều đó tại "quyết chiến điểm" BMT bằng các hoạt động điều binh tạo thế.
    Trước hết, để có đủ lực lượng tập trung đánh trận then chốt quyết định này, phía Quân giải phóng (QGP) đã phải điều động 2 sư đoàn bộ binh (Sư 10 và Sư 316 mới tăng cường từ miền Bắc vào), một số trung đoàn bộ binh độc lập cùng các trung đoàn xe tăng, pháo binh, cao xạ... từ Bắc Tây Nguyên xuống Nam Tây Nguyên.Các hoạt động điều binh này được thực hiện hết sức bí mật nhằm tạo thế bất ngờ khiến đối phương trở tay không kịp.
    Không chỉ điều động lực lượng của mình, phía QGP còn gián tiếp "điều động" cả lực lượng của đối phương nữa. Bằng nhiều hoạt động khác nhau, họ đã làm cho phía VNCH phải phân tán lực lượng ra đối phó ở nhiều điểm khác và do vậy, thị xã BMT gần như không được tăng cường binh hỏa lực vào thời điểm chuẩn bị diễn ra trận đánh.


    Quân VNCH tháo chạy khỏi Tây Nguyên. Ảnh tư liệu

    Song song với hoạt động điều binh, phía QGP còn tạo dựng được trong không gian chiến dịch một thế trận chia cắt, vây hãm, "trói địch lại mà diệt" (Sách đã dẫn, tr. 174). Cụ thể, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã điều động một số đơn vị đánh cắt đường 19, 21 nối giữa cao nguyên với đồng bằng ven biển, chặn cắt đường 14 nối liến Nam - Bắc Tây Nguyên.
    Ngoài ra còn dùng hỏa lực tập kích vào các sân bay... Những hoạt động này nhằm cô lập hoàn toàn thị xã BMT. Nếu thị xã này bị tiến công, phía VNCH khó bề cứu viện.
    Chính vì vậy, trong khi so sánh lực lượng trên địa bàn toàn quân khu phía VNCH nhỉnh hơn song tại "quyết chiến điểm" BMT thì ưu thế về binh hỏa lực lại nghiêng hẳn về phía QGP. Cụ thể: bộ binh 5/1, tăng thiết giáp 2/1, pháo lớn 2/1.Ưu thế này bảo đảm cho QGP khả năng giành thắng lợi nhanh chóng do đối phương khó có khả năng cầm cự lâu dài chờ quân phản kích ứng cứu.
    Điều binh tạo thế như vậy, cho đến trước ngày 10.3.1975, BMT đã như "cá nằm trên thớt"!


    Giải phóng Buôn Ma Thuột. Ảnh tư liệu

    Nghi binh lừa địch như ảo thuật!

    Cái hay nhất của quá trình điều binh, tạo thế như nói trên là phía Việt Nam cộng hòa, trực tiếp là Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Quân đoàn 2 vẫn không hề hay biết, vẫn cứ chắc như đinh đóng cột mục tiêu chủ yếu của chiến cuộc Xuân Hè 1975 tại Cao Nguyên là Kon Tum, Plây-cu ở Bắc Tây Nguyên! Sở dĩ có tình trạng trên là nhờ mưu kế nghi binh, lừa địch rất cao tay của QGP.
    Đã có rất nhiều hoạt động nghi binh lừa địch được sử dụng trong quá trình chuẩn bị cho trận then chốt quyết định này cả ở tầm chiến lược và chiến dịch.
    Ở tầm chiến lược, Bộ Thống soái tối cao đã chỉ thị cho mặt trận Trị Thiên và Đông Nam Bộ tăng cường hoạt động.Vì vậy, những lực lượng trù bị mạnh nhất của VNCH đều bị trói chân ở các địa bàn này: Sư Dù phải tập trung bảo vệ Sài Gòn, Sư Thủy quân lục chiến thì không thể rời Quân khu 1... Không chỉ vậy, Binh đoàn Quyết Thắng cũng được lệnh cơ động áp sát sông Bến Hải cũng tạo một áp lực không nhỏ lên giới lãnh đạo chóp bu Sài Gòn.
    Trong khi đó, ở tầm chiến dịch rất nhiều hoạt động nghi binh lừa địch đã được tiến hành.
    Để giữ bí mật cho quá trình điều binh về phía nam Tây Nguyên, các đài trạm vô tuyến điện của các sư đoàn bộ binh vẫn được giữ nguyên vị trí và lên sóng thường xuyên như bình thường, thậm chí đôi khi còn "nhỏ giọt" lộ ra một chút tin tức liên quan đến Bắc Tây Nguyên.
    Cộng với việc chấp hành nghiêm kỷ luật phòng gian giữ bí mật của bộ đội nên trước giờ nổ súng, phía VNCH vẫn tưởng các đơn vị này ở nguyên vị trí cũ.
    Không chỉ chơi "trò chơi điện tử", Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên còn sử dụng cả các hành động quân sự thực tế để tăng sức nặng cho quá trình nghi binh lừa địch của mình như mở đường, tập kích hỏa lực, thậm chí tổ chức tiến công... dường như đang "bóc vỏ" để nhắm tới Kon Tum, Plây-cu.
    Bộ Tư lệnh chiến dịch đã dành hẳn một Sư đoàn bộ binh chuyên thực hiện nhiệm vụ này. Đó là Sư đoàn BB 968. Vốn hoạt động bên Lào, cuối năm 1974, Sư đoàn 968 được Bộ điều về tăng cường cho mặt trận Tây Nguyên. Bước vào chiến dịch, Sư đoàn 968 nhận nhiệm vụ "vừa đánh, vừa la" làm cho phía VNCH rối như mớ bòng bong, không biết đâu mà lần.
    Mở đầu cho chuỗi trận đánh nghi binh, lừa địch là trận tiến công Đồn Tầm, Chốt Mỹ ngày 01.3.1975. Tiếp đó là một loạt các hành động khác như: vây diệt điểm cao 605, uy hiếp quận lỵ Thanh An; Tập kích hỏa lực vào Chư Kara; Đưa lực lượng chiếm giữ Chư Gôi; Tiếp tục đánh địch trên đường 5A, 5B...



    Tượng đài Chiến thắng Muôn Mê Thuột. Ảnh: Saigon Tourist.

    Tất cả các hoạt động trên đã làm cho phía VNCH bị lạc hướng hoàn toàn. Họ đinh ninh rằng các hoạt động quân sự của QGP trong chiến cuộc Xuân Hè 1975 sẽ chỉ diễn ra ở Bắc Tây Nguyên mà trọng điểm là Kon Tum, Plây-cu.
    Chính từ nhận định đó, lực lượng phía VNCH đã tập trung phòng ngự ở Bắc Tây Nguyên và thả nổi Nam Tây Nguyên, trong đó có BMT.Không được tăng cường lực lượng phòng thủ, bị chia cắt cô lập cả về đường bộ, đường không, lại bị bao vây áp sát bởi một lực lượng vượt trội... Buôn Ma Thuột không thất thủ mới là sự lạ!

    Nguồn:
    http://soha.vn/dieu-binh-nhu-than-nghi-binh-nhu-ao-thuat-thang-3-1975-buon-ma-thuot-nhu-ca-nam-tren-thot-20170304113645208.htm
    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  4. #83
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,153
    Thích
    323
    Đã được thích 1,858 lần trong 993 bài viết
    HAI TRẬN THẮNG VANG DỘI CỦA XE TĂNG- SỰ TRÙNG HỢP NGẪU NHIÊN HAY LỊCH SỬ LẶP LẠI?



    Quân đội VNCH tháo chạy khỏi Tây Nguyên tháng 3 năm 1975. Ảnh: Tư liệu

    Khi đặc công nổ súng trong thị xã, xe tăng sẽ xuất kích và ủi đổ cây để mở đường và cơ động với tốc độ cao nhất để có mặt đúng giờ hiệp đồng.

    Trong cuộc sống cũng như trong chiến tranh có những sự trùng hợp không dễ lý giải. Sự trùng hợp đó có thể do khách quan mang lại, cũng có thể do con người tạo nên. Nhưng dù thế nào đi nữa nó cũng mang lại những điều hết sức lý thú và để lại nhiều câu hỏi mà hậu thế phải nghiền ngẫm tìm cách trả lời.
    Trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, trận tiến công điểm cao 543 (Đường Chín - Nam Lào 1971) và trận tiến công Buôn Ma Thuột (chiến dịch Tây Nguyên 1975) có một sự trùng hợp dù không lớn nhưng đã tác động khá nhiều đến kết quả trận đánh.

    Nằm trên đỉnh cao chót vót cũng không thể thoát

    Tháng 2 năm 1971, nhằm cắt đứt tuyến đường chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc vào chiến trường miền Nam, dưới sự cố vấn của các tướng lĩnh Mỹ, quân lực Việt Nam cộng hòa (VNCH) quyết định mở chiến dịch Lam Sơn 719 đánh sang Nam Lào.

    Tổng quân số tham gia cuộc hành quân mang tên Lam Sơn 719 này lên tới hơn 3 vạn quân chủ lực VNCH cùng với một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh: 460 xe tăng, thiết giáp, 250 khẩu pháo, 700 máy bay trong đó có 300 máy bay lên thẳng. Nhiệm vụ tiếp vận, yểm trợ cho cuộc hành quân vẫn do quân đoàn 24 Hoa Kỳ đảm nhiệm.
    Thành phần chính của cuộc hành quân Lam Sơn 719 do chiến đoàn 1 Ðặc Nhiệm đảm trách, gồm lữ đoàn 1 Dù và lữ đoàn 1 Thiết Kỵ tăng phái, có nhiệm vụ tiến dọc đường số 9 về hướng Tây để chiếm mục tiêu chính là Sê-Pôn. Cánh quân hỗn hợp này được đặt dưới quyền chỉ huy của đại tá Nguyễn Trọng Luật.
    Để bảo vệ mặt Bắc cho cuộc hành quân, lữ đoàn 3 Dù dưới quyền chỉ huy của đại tá Nguyễn Văn Thọ có nhiệm vụ thiết lập một số căn cứ hỏa lực ở phía Bắc đường số 9 để yểm trợ cho lực lượng chính. Trong đó điểm cao 543 (phía VNCH gọi là "Căn cứ hỏa lực 31") do 1 tiểu đoàn trấn giữ và cũng là nơi đặt Sở chỉ huy lữ đoàn.


    Xe tăng PT-76 số hiệu 555 từng chiến đấu tại Bản Đông năm 1971. Ảnh: VOV.

    Điểm cao 543 nằm ở tây - bắc Bản Đông, cách đường Chín khoảng 7 km, cách đường 16A - con đường chạy theo hướng bắc - nam và giao nhau với đường Chín tại Bản Đông khoảng 2 km.Nằm ở đó điểm cao 543 có khả năng khống chế mọi hoạt động trên đường 16A, ngăn chặn các cuộc chuyển quân của Quân giải phóng tiếp cận Bản Đông để bảo vệ an toàn cho sườn bắc lực lượng xung kích.
    Do vậy ngay khi chiến đoàn 1 Đặc Nhiệm chuẩn bị vượt biên giới phía VNCH đã cho trực thăng đổ bộ Lữ đoàn 3 Dù xuống đây cùng với một khối lượng lớn trang bị và vật tư các loại.Với một đại đội công binh trong tay, chỉ sau vài ngày điểm cao 543 đã thực sự trở thành một cứ điểm vững chắc với hơn 200 công sự chiến đấu bằng gỗ đất, 7 hầm ngầm dành cho sở chỉ huy lữ đoàn, một trận địa pháo với 6 khẩu lựu pháo 105 mm, một trận địa 4 khẩu cối 106,7 mm và một sân đỗ cho máy bay trực thăng.
    Xung quanh cứ điểm địch đã thiết lập được 3 hàng rào dây thép gai, trên các hướng quan trọng có bãi mìn và một số vật cản chống tăng. Ngoài việc chốt giữ trong cứ điểm hàng ngày lực lượng trú phòng còn xua quân đi lùng sục xung quanh nhằm phát hiện lực lượng và đánh phá các kho hàng của Quân giải phòng ở khu vực này.
    Nhiệm vụ tiến công điểm cao 543 được Bộ Tư lệnh B70 giao cho Trung đoàn BB 64, Sư đoàn 320 được tăng cường Đại đội XT 9, Tiểu đoàn 198 và một số đơn vị binh chủng khác. Qua trinh sát thực địa thấy rằng điểm cao 543 là điểm cao nhất trong một dãy 5 điểm cao trải dài theo hướng Tây Bắc- Đông Nam.
    Để đưa được xe tăng lên điểm cao 543 chỉ có một con đường duy nhất là từ hướng Đông Nam và phải vượt qua 4 mỏm khác có độ cao thấp hơn. Tuy nhiên, con đường đó bị cản trở bởi rất nhiều cây to mà nếu hạ trước thì sẽ bị lộ hướng tiến công. Đó là bài toán khó đặt ra trước các chỉ huy trận đánh.
    Nhưng cái khó đã ló cái khôn! Các chiến sĩ công binh đã đưa ra sáng kiến không hạ cây mà chỉ cưa khoảng 3/4 đường kính cây ở phía hướng xe tiến. Đến giờ xuất kích xe tăng sẽ ủi đổ cây và càn lướt đi để cơ động.Cho đến giờ, cũng không biết tác giả của sáng kiến này là ai song nó đã phát huy tác dụng.
    Trưa 25.02.1971, các xe tăng của Đại đội xe tăng 9 xuất kích và dẫn dắt bộ binh tiến công địch theo đúng kế hoạch.
    Xe tăng PT-76 số hiệu 555 đã tung hoành trong cứ điểm, quần thảo trên nóc hầm chỉ huy khiến cho đại tá Nguyễn Văn Thọ, lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 Dù cùng toàn bộ Bộ tham mưu hoảng sợ xin hàng.


    Đánh chiếm trại Mai Hắc Đế, thị xã Buôn Ma Thuột trong Chiến dịch Tây Nguyên, tháng 3- 1975. Ảnh tư liệu

    Lịch sử có lặp lại?

    Mùa Xuân 1975, để chuẩn bị tiến công thị xã Buôn Ma Thuột, xe tăng của Trung đoàn xe tăng 273 cùng các lực lượng bộ binh và binh chủng kỹ thuật khác đã bí mật cơ động đến vị trí tập kết ở phía tây thị xã này với khoảng cách 20-30 km và tiến hành công tác chuẩn bị mọi mặt cho trận đánh.
    Bởi đây được coi là trận then chốt quyết định của chiến dịch nên công tác bảo đảm bí mật cho trận đánh này được đặt lên hàng đầu. Vì thế, mọi hoạt động chuẩn bị chiến đấu đều phải chấp hành hết sức nghiêm túc, chặt chẽ. Trong đó, bài toán: làm thế nào để mở được đường cơ động cho xe tăng và các phương tiện kỹ thuật mà không làm lộ bí mật hướng tiến công lại được đặt ra trước Bộ Tư lệnh chiến dịch.
    Sở dĩ nói như vậy bởi địa hình Nam Tây Nguyên tuy khá bằng phẳng, ít đèo dốc cao, lại đang giữa mùa khô... việc mở đường khá thuận lợi. Tuy nhiên, đại ngàn Tây Nguyên vẫn bao quanh thị xã bởi rất nhiều cây lớn mà nếu một cây bị đốn hạ sẽ lập tức gây sự chú ý cho quân trú phòng ngay.Và rồi một sáng kiến đã được đưa ra: Cưa sẵn 3/4 đường kính cây nhưng không cho cây đổ. Khi đặc công nổ súng trong thị xã, xe tăng sẽ xuất kích và ủi đổ cây để mở đường và cơ động với tốc độ cao nhất để có mặt đúng giờ hiệp đồng.
    Mọi chuyện đã diễn ra đúng như kế hoạch.Vào lúc 2 giờ sáng ngày 10 tháng Ba năm 1975, khi lực lượng đặc công và phân đội pháo phản lực nổ súng tiến công sân bay cùng một vài mục tiêu khác trong thị xã thì cũng là lúc các phân đội xe tăng nổ máy, bật đèn pha, ủi đổ cây to cưa sẵn, càn lướt vượt qua cây nhỏ để rồi rạng sáng hôm đó có mặt tại vị trí xuất phát tiến công.Và chỉ đến trưa hôm sau - ngày 11 tháng Ba, thị xã Buôn Ma Thuột đã hoàn toàn bị Quân giải phóng làm chủ, tạo nên một cơn địa chấn làm rung chuyển Quân khu 2 cũng như toàn miền Nam.
    Vậy là sau 4 năm, lịch sử đã lặp lại sáng kiến này và đã đem lại một kết cục tuyệt hảo! Và cho đến nay, cũng không ai biết đích xác tác giả của sáng kiến này là ai?Phải chăng, có một chiến sĩ công binh đã từng mở đường lên điểm cao 543 ngày trước đã có mặt ở Buôn Ma Thuột 4 năm sau? Hay đó chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên của lịch sử? Nhưng dẫu sao thì đó cũng là một sự trùng hợp lý thú và có hậu!

    Nguồn:
    http://soha.vn/hai-tran-thang-vang-doi-cua-xe-tang-vn-su-trung-hop-ngau-nhien-hay-lich-su-lap-lai-20170306094802504.htm


    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  5. #84
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,153
    Thích
    323
    Đã được thích 1,858 lần trong 993 bài viết
    ĐẠI TÁ THIẾT KỴ VNCH KHÔNG NGỜ CÓ NGÀY ĐƯỢC ĐI XE THIẾT GIÁP CỦA QGP


    Xe tăng Lữ đoàn 273 huấn luyện chiến đấu. Ảnh minh họa/QĐND

    Thảm bại, Đại tá thiết kỵ VNCH Nguyễn Trọng Luật bị những người lính bộ binh cơ giới của Trung đoàn xe tăng 273 và Trung đoàn bộ binh 24 quân giải phóng bắt sống tại trận.

    Sáng 11.3.1975, ngày thứ hai của trận tiến công thị xã Buôn Ma Thuột, các đơn vị Quân giải phóng có xe tăng, thiết giáp dẫn đầu hợp lực tiến công Bộ Tư lệnh Sư đoàn bộ binh 23 Quân lực Việt Nam cộng hòa (VNCH), đầu não chỉ huy lực lượng bố phòng tại đây.

    Cuộc phản công bất thành

    Bị bao vây và tiến công từ cả 4 phía, lực lượng đồn trú trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn Bộ binh 23 VNCH dưới sự chỉ huy của Đại tá Nguyễn Trọng Luật, tỉnh trưởng Đắk Lắk quyết định tổ chức phản công để mở đường máu thoát ra ngoài theo hướng Tây.

    Tại đây, chúng chạm trán với hướng thọc sâu của Tiểu đoàn Tăng thiết giáp 3 (thiếu) và Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 24, Sư bộ binh 10. Lợi dụng vườn cây rậm rạp, các xe tăng và thiết giáp phía VNCH bí mật cơ động tìm vị trí có lợi phục kích chờ xe tăng, xe thiết giáp của Quân giải phóng vào gần sẽ nổ súng.
    Theo trung úy Đoàn Sinh Hưởng (sau này là Thiếu tướng Tư lệnh Binh chủng Tăng Thiết Giáp - năm 1993 và Trung tướng Tư lệnh QK4 - năm 2005) - người chỉ huy phân đội Tăng thiết giáp trong trận đó, thì khi phát hiện thấy ngọn cây trong vườn dao động mạnh, xác định đối phương có tăng thiết giáp đi cùng anh đã nhắc bộ đội hết sức cảnh giác, tập trung quan sát.


    Giải phóng Buôn Ma Thuột ngày 10/3/1975 mở đầu Chiến dịch Tây Nguyên. Ảnh tư liệu/Báo Phú Yên.

    Vì vậy, khi vừa phát hiện được mục tiêu các xe đã nhanh chóng nổ súng và tiêu diệt 1 xe M41, 1 xe M113. Mất chỗ dựa, quân địch chạy tứ tán. Trung úy Hưởng cho bộ binh trên các xe thiết giáp K63 xuống xe truy lùng. Một tù binh (tên là Chu) khai ra trong đám tàn quân đó có đại tá tỉnh trưởng Nguyễn Trọng Luật.
    Hưởng chỉ huy cho 3 xe càn thẳng vào vườn cây truy đuổi. Quân lính VNCH hoảng sợ liên tục đầu hàng, trong đó có một tên đã đứng tuổi mặc bộ quân phục bạc màu, đi cùng một tên lính thông tin mang máy vô tuyến điện.Đó chính là đại tá Nguyễn Trọng Luật - tỉnh trưởng đồng thời là Chỉ huy trưởng Tiểu khu Đắk Lắk.
    Sau khi báo cáo và có lệnh của Sở chỉ huy, Hưởng cho 1 xe thiết giáp K63 cùng 1 tiểu đội bộ binh áp giải Luật về Bộ Tư lệnh chiến dịch ngay lập tức.
    Bẻ gãy mũi phản kích, hướng thọc sâu củng cố đội hình cùng các đơn vị bạn tiếp tục tiến công vào Bộ Tư lệnh Sư đoàn Bộ binh 23. Đến 10.30 ngày 11.3.1975, Bộ Tư lệnh Sư đoàn Bộ binh 23 hoàn toàn thất thủ.

    Nguyễn Trọng Luật là ai mà lại được đi xe thiết giáp Quân giải phóng?

    Là tỉnh trưởng đồng thời là Tiểu khu trưởng Tiểu khu Đắk Lắk, đương nhiên Nguyễn Trọng Luật là một tù binh cấp cao và quan trọng. Điều đặc biệt ở đây còn ở chỗ, Luật vốn là lính thiết kỵ (xe tăng) "nòi", đã từng giữ chức vụ Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Kỵ binh 1 VNCH.
    Tốt nghiệp Võ khoa Thủ Đức khóa 1 chuyên ngành kỵ binh (tăng thiết giáp) năm 1956, từ chỉ huy chi đội thiết kỵ, Nguyễn Trọng Luật đã leo lên đến vị trí Tư lệnh Lữ đoàn 1 Kỵ binh năm 1971. Đây là lữ đoàn kỵ binh trực thuộc Quân khu 1, Quân đoàn 1 VNCH - nơi đối đầu ác liệt nhất giữa hai bên nên được trang bị rất mạnh.
    Lữ đoàn 1 Kỵ binh gồm có 5 thiết đoàn: Thiết đoàn 20 chiến xa trang bị xe tăng M-48, 3 thiết đoàn 4, 7, 11 chiến xa trang bị xe tăng M-41 và Thiết đoàn 17 trang bị thiết giáp M-113 và cũng đã có nhiều dịp đọ sức với xe tăng QGP.
    Đầu năm 1971, chính Nguyễn Trọng Luật đã được tướng Hoàng Xuân Lãm - Tư lệnh Quân khu 1 kiêm Tư lệnh Quân đoàn 1 chỉ định làm chỉ huy trưởng Chiến đoàn đặc nhiệm bao gồm Lữ đoàn 1 Kỵ binh và Lữ đoàn 1 Dù là đội quân xung kích trong Chiến dịch Lam Sơn 719.
    Chiến đoàn này có nhiệm vụ hành quân dọc đường Chín đến Sê Pôn (Lào) nhằm cắt đứt mọi con đường tiếp vận từ Bắc vào Nam của Quân giải phóng. Tuy nhiên, Luật đã dính đòn phản công của Mặt trận B70 và phải ôm đầu máu chạy về sau khi bỏ lại hàng trăm xe tăng, thiết giáp và hàng nghìn lính thương vong tại Nam Lào.
    Năm 1972, với chiến thuật "Trâu rừng" của tướng Abrams - đưa xe tăng ra tuyến đầu phòng ngự - Lữ đoàn Kỵ binh 1 đã thu được một số thắng lợi nhất định khi đối phó với cuộc Tổng tiến công chiến lược của Quân giải phóng. Tuy nhiên, sau đó chiến thuật này bị Quân giải phóng "tương kế tựu kế" phá vỡ và trở nên vô dụng.
    Mặc dù thành tích bê bết như vậy, nhưng Nguyễn Trọng Luật vẫn được lính thiết kỵ VNCH tung hô là "Patton* Việt Nam" và được thăng chức Tỉnh trưởng Đắk Lắk kiêm Chỉ huy trưởng Tiểu khu Đắk Lắk - một địa bàn quan trọng ở Tây Nguyên từ năm 1973.
    Nhưng số phận đã an bài, trong trận thảm bại tháng 3.1975, đại tá thiết kỵ VNCH Nguyễn Trọng Luật lại bị những người lính bộ binh cơ giới của Trung đoàn xe tăng 273 và Trung đoàn bộ binh 24 Quân giải phóng bắt sống.Và có lẽ muốn nhanh chóng khai thác các tư liệu cần thiết về lực lượng Tăng thiết giáp của VNCH từ nhân vật được tung hô là "Patton Việt Nam" nên Bộ Tư lệnh chiến dịch đã yêu cầu đưa Luật về gấp.
    Và thế là đại tá thiết kỵ VNCH được "vinh dự" ngồi trên chiếc thiết giáp K63 của Quân giải phóng.

    * Patton: Đại tướng Hoa Kỳ, xuất thân lính xe tăng, từng giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn Thiết giáp 1 Hoa Kỳ, Tư lệnh Tập đoàn quân XV trong Thế chiến 2.

    Nguồn:
    http://soha.vn/dai-ta-thiet-ky-vnch-...6105002363.htm
    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  6. #85
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,153
    Thích
    323
    Đã được thích 1,858 lần trong 993 bài viết
    NHỮNG BÍ MẬT VỀ CHIẾC XE TĂNG SỐ 980 TRÊN TƯỢNG ĐÀI CHIẾN THẮNG BAN MÊ THUỘT


    Xe tăng T-54 số hiệu 980 trên Tượng đài Chiến thắng Buôn Mê Thuột.

    Lý do đặt xe tăng ở vị trí đó khá dễ hiểu và hầu hết du khách có thể suy ra được. Song tại sao nó lại mang số hiệu 980 thì không phải ai cũng biết!


    Đến với thành phố Buôn Mê Thuột (BMT) hầu như du khách nào cũng đến thăm Tượng đài chiến thắng ở Ngã Sáu của thành phố. Nói cho công bằng đây là một tượng đài đẹp, mô phỏng cây ná- một thứ vũ khí tuy thô sơ nhưng đã có công rất lớn trong sinh tồn cũng như đánh giặc giữ làng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.
    Điểm nhấn trọng tâm của Tượng đài là một chiếc xe tăng được đặt trên bệ cao, dưới vòm cánh cung của cây ná. Đó là một chiếc xe tăng T-54 được đắp bằng bê tông theo đúng kích thước thật với nòng pháo vươn cao uy nghi, lẫm liệt.Trên tháp pháo của xe đắp nổi 3 chữ số: 980. Lý do đặt xe tăng ở vị trí đó khá dễ hiểu và hầu hết du khách có thể suy ra được. Song tại sao nó lại mang số hiệu 980 thì không phải ai cũng biết!


    Xe tăng T-54 số hiệu 980 trên Tượng đài Chiến thắng Buôn Mê Thuột.

    Tại sao lấy số 980 cho xe tăng đặt trên tượng đài?

    Ngã sáu Buôn Ma Thuột là hợp điểm của 6 con đường qua trung tâm thành phố. Ngã sáu cũng chính là giao điểm của quốc lộ 26 chạy theo hướng Đông - Tây và quốc lộ 14 chạy theo hướng Bắc- Nam.Với vị trí trung tâm như vậy, đây cũng là một địa điểm đã xảy ra giao tranh dữ dội trong trận tiến công BMT của Quân giải phóng trong các ngày 10 và 11.3.1975 - trận then chốt quyết định trong chiến dịch Tây Nguyên làm rung chuyển cả miền Nam.
    Vì vậy, sau ngày đất nước thống nhất chính quyền tỉnh Đắc Lắc quyết định xây dựng ở đây một tượng đài chiến thắng để tuyên dương công trạng của các lực lượng vũ trang và nhân dân trong tỉnh đã làm nên chiến thắng vĩ đại này.Đánh giá cao vai trò của xe tăng trong chiến thắng BMT, người ta đã quyết định xây một bệ cao và đặt lên đó một chiếc xe tăng. Đó là chiếc T34-85 mang số hiệu 945 - một con số mang ý nghĩa tượng trưng cho thời điểm giành độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
    Tuy nhiên sau đó người ta nhận được nhiều ý kiến phản hồi khác nhau về tượng đài nhưng lại tập trung vào một chủ đề, đó là: xe tăng T34-85 là loại xe cũ và không hề tham gia trận đánh BMT! Vậy tại sao lại đặt nó lên đây?
    Sau khi tham khảo các chuyên gia- nhất là các nhà nghiên cứu lịch sử quân sự và các tướng lĩnh đã tham gia trận đánh, năm 1997 chính quyền tỉnh Đắc Lắc đã quyết định xây dựng lại tượng đài và thay chiếc xe tăng T34-85 bằng chiếc xe tăng T-54 là loại xe tăng chủ công trong trận đánh.


    Xe tăng T34-85 trên Tượng đài Chiến thắng Buôn Mê Thuột.

    Song do lúc đó, việc xin một chiếc xe tăng thật đặt lên tượng đài là hết sức khó khăn nên người ta đành phải đắp nó bằng bê tông.
    Còn số hiệu xe được lấy là 980 bởi xe 980 là xe của Anh hùng Đoàn Sinh Hưởng - nguyên đại đội trưởng Đại đội xe tăng 9 của Trung đoàn 273 thời điểm 1975.Đây là xe dẫn đầu đội hình thọc sâu của trận đánh, chính nó đã bắn sập cổng Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23, sau đó dẫn dắt đội hình xung phong đánh chiếm căn cứ này. Tiếp đó, xe 980 lại dẫn đầu đội hình đánh qua Ngã Năm lên Ngã Sáu. Với những chiến tích vẻ vang đó, số hiệu 980 đã được gắn cho chiếc xe trên tượng đài này.

    Một xe hai tướng - độc nhất vô nhị?

    Không chỉ lập chiến công vang dội trong chiến đấu, xe 980 còn có những bí mật thú vị về những thành viên của nó mà không phải ai cũng biết!
    Tính đến thời điểm 30.4.1975, người gắn bó nhất với chiếc T-54 số hiệu 980 là đại đội trưởng Đoàn Sinh Hưởng trên cương vị trưởng xe. Ông gắn bó với chiếc xe này từ khi hành quân từ miền Bắc vào chiến trường B3 cho đến khi kết thúc trận đánh địch rút chạy ở Cheo Reo - Phú Bổn ngày 21.3.1975.Sau trận này, đại đội của Đoàn Sinh Hưởng được lệnh bàn giao xe cho đơn vị khác và nhận xe chiến lợi phẩm tiếp tục chiến đấu.


    Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng ngoài cùng bên phải.

    Sau ngày đất nước thống nhất, Đoàn Sinh Hưởng được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT và đi học tại Học viện xe tăng mang tên Nguyên soái Ma-li-nốp-xki (Liên Xô), sau đó là Học viện Quốc phòng và đã hoàn thành học vị Tiến sĩ tại đây.
    Sau khi trải qua nhiều cương vị quan trọng ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh binh chủng Tăng Thiết giáp (TTG) năm 1993, Tư lệnh Quân khu 4 năm 2005 rồi về hưu với quân hàm Trung tướng.
    Do trong quá trình hành quân và chiến đấu, biên chế các xe thường thay đổi theo yêu cầu nhiệm vụ và khả năng của mỗi người nên một trong những lái xe đã từng điều khiển xe 980 là Hoàng Trung Kiên. Sau ngày thống nhất đất nước Kiên được đi học tại Trường sĩ quan TTG. Tốt nghiệp, ông ở lại trường công tác.
    Với tư chất thông minh và khả năng sư phạm cũng như nghiên cứu khoa học ông đã trở thành PGS- TS, Nhà giáo ND và được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Trường sĩ quan TTG. Năm 2010 ông được cấp trên giao đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh binh chủng TTG và được phong quân hàm Thiếu tướng.
    Một xe có hai thành viên trở thành sĩ quan cấp tướng - 980 dường như "độc nhất vô nhị" trong lĩnh vực này!


    Thiếu tướng Hoàng Trung Kiên thừa ủy quyền Chủ tịch nước đã gắn huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng ba lên quân kỳ quyết thắng của Trường Hạ sĩ quan xe tăng 1 (2012). Ảnh: Đoàn Hoài Trung.

    Còn một điều thú vị nữa là hai vị tướng này có tâm hồn rất lãng mạn và rất yêu thi ca, nghệ thuật. Cả hai đều rất hay làm thơ và đã có nhiều bài thơ được phổ nhạc. Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng đã xuất bản cuốn hồi ký "Những tháng ngày đẹp nhất" năm 2012.
    Còn Thiếu tướng Hoàng Trung Kiên đã xuất bản được 2 tập thơ của riêng mình và đã trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
    Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng ngoài làm thơ còn rất ham mê bóng đá. Chính ông chứ không phải ai khác đã đưa đội bóng đá Quân khu 4 lên góp mặt tại VLeague - giải đấu cao nhất của bóng đá Việt Nam.

    Có lẽ 980 không chỉ "độc nhất vô nhị" trên lãnh thổ Việt Nam?

    nguồn:
    http://soha.vn/nhung-bi-mat-ve-chiec-xe-tang-so-hieu-980-tren-tuong-dai-chien-thang-buon-me-thuot-20170309181050755.htm

    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  7. #86
    Ngày tham gia
    31-12-2012
    Vị trí hiện tại
    Binh Duong new city
    Bài viết
    34
    Thích
    400
    Đã được thích 12 lần trong 10 bài viết
    14/03/1988 -:- !4/03/ 2017
    :((

  8. #87
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,153
    Thích
    323
    Đã được thích 1,858 lần trong 993 bài viết
    TƯỞNG ĐÃ VỀ HƯU NÀO NGỜ VẪN LẬP ĐẠI CÔNG!


    Quảng Trị là chiến trường đẫm máu với lực lượng TTG của VNCH. Ảnh tư liệu.

    Thấy xe tăng ta bất ngờ xông tới, địch hoảng sợ tháo chạy về phía Thuận An. Không bỏ lỡ thời cơ, Đại đội 7 vượt lên dẫn đầu đội hình truy kích, bắn cháy 1 chiếc M48 và 1 chiếc M41.



    Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, tình hình chung có nhiều biến động mở ra cơ hội thống nhất đất nước.
    Để chuẩn bị đón thời cơ tới, Bộ Thống soái tối cao đã quyết định thành lập các binh đoàn cơ động cấp chiến lược. Ngày 24.10.1973, Binh đoàn Quyết Thắng (Quân đoàn 1) được thành lập. Tiếp đó, ngày 17.5.1974, binh đoàn thứ hai - Binh đoàn Hương Giang (Quân đoàn 2) ra đời.
    Trung đoàn xe tăng 203 từ biên chế của Quân khu Trị Thiên được chuyển thuộc về binh đoàn Hương Giang, đồng thời được bổ sung quân số, trang bị và nâng cấp thành Lữ đoàn xe tăng 203.

    Về trang bị của Lữ đoàn lúc đó chủ yếu là xe tăng chủ lực T-54, T-59, một số ít xe tăng K63-85, xe thiết giáp K63, BTR-50PK. Ngoài ra, còn 6 xe tăng T-34 nằm trong đội hình Đại đội 7, Tiểu đoàn 3.

    Già lão, cũ kỹ - cho ở nhà giữ "gôn"

    Xe T-34 là loại xe được chế tạo và đưa vào sử dụng từ Chiến tranh thế giới thứ 2. Nó đã có mặt ở Việt Nam ngay từ ngày đầu phôi thai Binh chủng Tăng Thiết giáp.
    Do kết cấu cũng như kỹ thuật đã lạc hậu nên T-34 chỉ được sử dụng trong một số trận đánh tại chiến trường Lào và miền Nam Việt Nam những năm 1970-1972. Sau đó, do hỏng hóc nhiều nên trong biên chế Lữ đoàn xe tăng 203 lúc đó chỉ còn vỏn vẹn 6 xe và được biên chế về Đại đội XT7, Tiểu đoàn 3.
    Để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu sau này, Lữ đoàn XT203 chủ trương đẩy mạnh xây dựng chính quy, củng cố kỹ thuật và huấn luyện - sẵn sàng chiến đấu nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về sức chiến đấu nên được gom về khu vực Cam Lộ. Lữ đoàn tổ chức xây dựng doanh trại, nhà xưởng, thao trường... khá cơ bản để phục vụ cho chủ trương này.


    Xe tăng T-34 của Binh chủng Tăng - Thiết giáp. Ảnh tư liệu.

    Trong khi đó, Tiểu đoàn XT1do tiểu đoàn trưởng Ngô Văn Nhỡ chỉ huy đang phòng ngự tại khu vực Cửa Việt ăn ở rất phân tán - 1 đại đội ở bờ Nam, 2 đại đội ở bờ Bắc, lại không có thao trường v.v... nên gặp rất nhiều khó khăn trong huấn luyện cũng như bảo đảm kỹ thuật.
    Về phía Việt Nam Cộng hòa (VNCH), sau chiến dịch tràn ngập lãnh thổ Tango City tháng 1.1973 bị thất bại thảm hại có vẻ như đã đuối sức. Vì vậy, tình hình chung khu vực Cửa Việt cuối năm 1973, đầu năm 1974 khá yên ổn, không căng thẳng như trước nữa.
    Căn cứ tình hình trên, ngày 17.9.1974, Lữ đoàn xe tăng 203 quyết định rút Tiểu đoàn XT1 từ Cửa Việt về địa điểm tập trung của lữ đoàn. Đồng thời điều Đại đội 7 của Tiểu đoàn 3 trang bị 6 xe T-34 tăng cường cho tỉnh đội Quảng Trị phòng ngự Cảng Cửa Việt.
    Tại đây, các xe tăng T-34 được đưa xuống công sự ở Nam Cửa Việt với nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chi viện cho bộ binh đánh địch khi chúng có ý định lấn chiếm khu vực này.Với nhiệm vụ chủ yếu là nằm tại chỗ phòng ngự, ít phải cơ động đi xa nên mặc dù đã cũ song các xe tăng T-34 vẫn đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao.Mặc dù già lão nhưng không an phận thủ thường

    Tháng 3 năm 1975, cuộc Tổng tiến công nổi dậy Mùa Xuân 1975 được bắt đầu từ Tây Nguyên. Chiến thắng Buôn Mê Thuột và cuộc tháo chạy khỏi Tây Nguyên của Quân đoàn 2 Việt Nam cộng hòa đã làm rung chuyển toàn miền Nam, trong đó có Quân khu 1.Chiều ngày 19.3.1975, phát hiện thấy địch có dấu hiệu rút chạy, Đại đội xe tăng 7 chủ động đề nghị cấp trên cho đi chi viện bộ đội địa phương Quảng Trị đánh địch. Được cấp trên đồng ý, Đại đội bí mật cơ động vào tập kết ở Phương Lang Đông (Triệu Phong, Quảng Trị).


    Hàng trăm xe tăng, thiết giáp bị lính VNCH bở lại khi tháo chạy về cửa Thuận An. Ảnh tư liệu của AP.

    Ngày 23.3, Đại đội đã phối hợp với Tiểu đoàn bộ binh 3 của Quảng Trị đánh tan Tiểu đoàn Thủy quân lục chiến 8 và giải phóng quận lỵ Mai Lĩnh, bắn cháy 2 xe tăng M41 và diệt nhiều tên địch.
    Trong các ngày 24 và 25.3, Đại đội 7 tiếp tục cùng bộ binh tiến công quận lỵ Hướng Điền. Thấy xe tăng ta bất ngờ xuất hiện, quân địch hoảng sợ tháo chạy về phía Thuận An. Không bỏ lỡ thời cơ, Đại đội XT7 - lúc này còn 4 xe T-34 vượt lên dẫn đầu đội hình truy kích địch, bắn cháy 1 xe tăng M48 và 1 xe tăng M41.
    Trong quá trình đánh đuổi địch, nhiên liệu và đạn trên các xe đều đã bị tiêu hao gần hết. Vì vậy 3 xe đã phải dừng lại dồn nhiên liệu và đạn cho 1 xe tiếp tục truy kích địch đến Bắc Thuận An, góp phần giải phóng tỉnh Thừa Thiên Huế ngày 25.3.1975.

    Vậy là với tuổi thọ trên 3 thập kỷ, các "lão bà" T-34 vẫn không chịu ngồi yên và đã lập công xuất sắc rồi mới chịu nghỉ hưu!

    Nguồn: http://soha.vn/xe-tang-t-34-viet-nam...5104059543.htm
    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  9. Có 1 người thích bài viết này


  10. #88
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,153
    Thích
    323
    Đã được thích 1,858 lần trong 993 bài viết
    CUỘC TRUY KÍCH "VÔ TIỀN KHOÁNG HẬU" VÀ BÃI CHIẾN XA BỎ KHÔNG



    Vũ khí trang bị bị lính VNCH bỏ lại khi chạy khỏi TP. Huế tháng 3 năm 1975. Ảnh tư liệu.

    Phía bên trái đường, trên một khoảng đất, là nhấp nhô, bạt ngàn xe tăng, xe bọc thép, xe kéo pháo, xe ô tô... Tất cả nằm im lìm một cách bí ẩn.

    Cuộc truy kích "vô tiền, khoáng hậu"

    13 giờ ngày 25.3.1975, Đại đội xe tăng 4, Lữ đoàn 203 cùng bộ binh tiến vào Thành phố Huế từ phía nam. Thành phố đã hoàn toàn bỏ ngỏ.
    Tại thành Mang Cá, phán đoán quân địch đang rút chạy về phía cửa Thuận An, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 giao nhiệm vụ cho Đại đội xe tăng 4 cùng một đại đội bộ binh tiến hành truy kích. Lúc đó là 15 giờ.

    Dẫu chưa biết lực lượng địch thế nào song đại đội trưởng Bùi Quang Thận vẫn tập trung toàn đại đội lại để giao nhiệm vụ. Lúc này, vì 1 xe bị hỏng, 1 xe bị mìn nên toàn đại đội chỉ còn 5 đầu xe. Đơn vị bộ binh đi cùng cũng chỉ còn khoảng 20 tay súng được chia ra mỗi xe 4 - 5 người.Thấy lực lượng khá mỏng song cán bộ, chiến sĩ cả xe tăng lẫn bộ binh không ai tỏ ra lo lắng. Tất cả chỉ chăm chú làm công tác chuẩn bị vũ khí, đạn dược cẩn thận hơn mà thôi.

    15 giờ 30, từ thành Mang Cá, toàn đại đội thành một hàng dọc do xe 381 của trung đội trưởng Mai Hồng Trị dẫn đâu bắt đầu xuất phát. Qua khỏi cầu Trường Tiền, đội hình rẽ trái nhằm hướng cửa Thuận An hành tiến với tốc độ khá cao.
    Ra khỏi thành phố càng xa đường càng vắng. Những xóm làng thưa thớt hai bên đường cũng hầu như không một bóng người dần lui lại phía sau. Phía trước và hai bên đường vẫn chỉ là những cánh ruộng hẹp xen lẫn với các đầm nước mênh mông. Không khí như bị cô đặc lại, nóng hầm hập và đầy bí ẩn.
    Đội hình xe tăng vẫn từ từ tiến. Những khẩu pháo 100 mm đạn đã lên nòng đánh thấp gườm gườm đầy cảnh giác. Xe nào, trưởng xe và pháo hai cũng mở cửa căng mắt quan sát. Các chiến sĩ bộ binh cũng vậy, hai tay ôm chặt súng, mắt mở to cảnh giới xung quanh.


    Quân giải phóng tiến vào Đại nội Huế.

    Bỗng xe 381 đi đầu dừng lại. Đại đội trưởng Thận khoát tay ra hiệu. Các xe còn lại tản ra hai bên đường rồi dừng lại thành đội hình zic-zắc sẵn sàng chiến đấu. Các trưởng xe và pháo hai vội chui vào trong xe và lập tức ôm lấy kính quan sát.Từ trong kính quan sát với độ phóng đại tới 7 lần đã nhìn thấy mờ mờ phía trước lổm ngổm gần chục chiếc xe tăng M48 to lớn kềnh càng. Các pháo thủ nhanh chóng lấy thước ngắm và đưa đầu ngắm lớn vào mục tiêu, ngón tay cái đã để sẵn lên nút cò chờ lệnh.
    Cũng đã nhìn rõ cây cột an-ten viễn thông cao vút vẫn lập lòe một ngọn đèn đỏ trên đỉnh. Tình hình căng như dây đàn. Tất cả đều nín thở chờ tín hiệu bắn của đại đội trưởng.
    Vài phút trôi qua, vẫn không có mệnh lệnh nào phát ra. Đại đội trưởng Thận cho mời chính trị viên Vũ Đăng Toàn, Đại đội trưởng bộ binh và các trưởng xe về xe mình hội ý. Thì ra anh đã nhìn thấy các xe tăng M48 kia đều quay pháo ra phía biển và không hề có dấu hiệu nào tỏ ra sẵn sàng chiến đấu cả.Có lẽ quân địch chạy đến đây đã hết đường nên bỏ xe chạy hết rồi chăng?
    Cuối cùng, Thận quyết định: "Tiếp tục tiến nhưng phải hết sức cảnh giác!".
    Đội hình xe tăng tiếp tục tiến lên một cách thận trọng. Các nòng pháo vẫn gườm gườm sẵn sàng phát hỏa. Đã thấy những chiếc xe Jeep, xe du lịch bỏ lại ven đường. Vài chiếc xe mô-tô nằm bẹp dúm - chắc là bị xích xe tăng chèn qua nằm chỏng chơ giữa đường.Khoảng cách đến những chiếc M48 đã rút xuống chỉ còn vài trăm mét.
    Nhưng hóa ra không chỉ có vài cái trên đường. Phía bên trái đường, trên một khoảng đất - chính là bãi chứa hàng của cảng Thuận An rộng hơn một sân bóng đá là nhấp nhô, bạt ngàn xe tăng, xe bọc thép, xe kéo pháo, xe ô tô... Tất cả nằm im lìm một cách bí ẩn!
    Dường như đã khẳng định được phán đoán của mình là chính xác, đại đội trưởng Thận lệnh cho toàn đại đội tăng tốc độ. 5 chiếc xe tăng vọt lên lao thẳng vào giữa đám xe pháo hỗn độn ấy. Quả thật, đó là những chiến xa không người. Tất cả cùng thở phào nhẹ nhõm!


    Cố Đại tá Bùi Quang Thận, nguyên Đại đội trưởng Đại đội xe tăng 4.

    Bãi
    xe ma

    Mặc dù cả bãi xe pháo mênh mông không một bóng người, Đại đội trưởng Bùi Quang Thận vẫn rất cảnh giác. Anh cho các xe đỗ thành đội hình vòng tròn lấy căn nhà trực của đài viễn thông làm trung tâm, đồng thời lệnh cho tất cả thành viên không được rời xe và luôn sẵn sàng chiến đấu.Anh cũng đề nghị đại đội trưởng bộ binh cho quân vào lùng sục trong bãi xe xem tình hình thế nào.
    Đến lúc này mới thấy nhiều xe trong bãi vẫn đang nổ máy rì rì. Phía trước là bến phà Thuận An nhưng không hề thấy có thuyền bè nào cả.
    Vậy là đã rõ: sau khi chạy đến đây, do không có phương tiện vượt sông, lính Việt Nam cộng hòa đã bỏ tất cả phương tiện lại để chạy thoát thân!
    Chiều xuống dần. Mặt trời đã khuất sau rặng núi phía xa. Các toán bộ binh đã về báo cáo trong bãi xe không có người.Sau khi bàn bạc với chính trị viên Toàn và đại đội trưởng bộ binh, Bùi Quang Thận quyết định cho xe 386 của mình hướng nòng pháo ra phía biển bắn 1 phát pháo và 1 tràng đại liên 12 ly 7.
    Đợi cho dư âm của tiếng súng lắng đi, Thận cuộn một tấm bìa làm loa rồi đứng lên đỉnh tháp pháo hướng ra phía biển hô dõng dạc:"Đồng bào và anh em binh lính Cộng hòa chú ý! Chúng tôi là quân giải phóng, xin thông báo để đồng bào và anh em binh lính biết: thành phố Huế đã được giải phóng, chính quyền cách mạng đã được thiết lập. Chúng tôi kêu gọi đồng bào hãy trở về thành phố làm ăn sinh sống bình thường, còn anh em binh lính ra hàng sẽ được đối xử tử tế".
    Gọi vài lần xong anh đưa loa cho đại đội trưởng bộ binh tiếp tục gọi. Trên xe, tất cả vẫn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu và im lặng chờ đợi.Và thật bất ngờ! Sau vài lần gọi, từ phía bờ sông, từ sau những ụ đất, lùm cây... phía bến phà lác đác những cánh tay giơ lên rồi những hình người - đa số cởi trần hiện ra.
    Chẳng mấy chốc, số hàng binh tập trung sau xe 386 đã lên tới con số trăm. Các cán bộ hội ý rồi quyết định cho họ tự đi về phía sau với lời dặn: "Hãy đến gặp chính quyền cách mạng sẽ được đối xử tử tế!".
    Trời đã tối. Một đống lửa lớn được đốt lên bởi những chiếc lốp xe. Trong ánh sáng nhập nhòa của ngọn lửa, dòng người ra hàng dường như vô tận. Cứ như thế đến nửa đêm, cũng chẳng có ai kịp thống kê xem có bao nhiêu người đã ra hàng nhưng chắc chắn phải là con số vài nghìn!
    Sau lính là đến dân. Đủ cả nam, phụ, lão, ấu, tay xách nách mang. Những người dân thành Huế lo sợ những trận oanh tạc của Mỹ đã bỏ nhà, bỏ cửa chạy ra đây. Dòng người cứ lải rải như vậy suốt đêm làm toàn thể cán bộ, chiến sĩ không một phút được chợp mắt.
    Sáng hôm sau, dòng người đã vãn. Đại đội trưởng Thận cho bộ đội đi kiểm đếm các phương tiện chiến đấu, chủ yếu là xe tăng, xe thiết giáp.Thật không thể tưởng tượng nổi khi có đến 54 chiếc xe tăng - thiết giáp, trong đó chủ yếu là xe tăng M48 còn khá mới, đạn vẫn đầy ắp trong buồng chiến đấu cùng hàng chục xe M113, xe cao xạ tự hành M42, xe công trình M88... hội tụ ở đây. Dường như toàn bộ Thiết đoàn chiến xa 20 trang bị M48 và Thiết đoàn kỵ binh 17 trang bị M113 của Lữ đoàn 1 Kỵ binh đã tập trung về đây thì phải!


    Bộ đội Giải phóng giữa hàng trăm xe tăng, thiết giáp bị lính VNCH bỏ lại ở cửa biển Thuận An. Ảnh tư liệu

    Ngoài ra còn hàng chục chiếc xe xích, xe tải kéo theo những cỗ trọng pháo 105, 155 mm cũng góp mặt. Còn xe GMC, xe Jeep... thì vô số.Mấy chiến sĩ vừa đi kiểm đếm xe vừa thì thầm với nhau: "Thế này mà nó đánh lại thì bọn mình cũng gay đấy nhỉ!".

    Thật đúng là: Lạc nước thì cả trăm xe cũng đành bỏ phí!.

    Nguồn: http://soha.vn/cuoc-truy-kich-vo-tie...4181448761.htm
    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  11. Có 1 người thích bài viết này


  12. #89
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,153
    Thích
    323
    Đã được thích 1,858 lần trong 993 bài viết
    "RÚT LUI CHIẾN LƯỢC" THÀNH "THẢM KỊCH ĐƯỜNG SỐ 7"- TÂY NGUYÊN HOÀN TOÀN THẤT THỦ



    Thảm kịch đường số 7. Ảnh tư liệu.

    Phía trước bị chặn, phía sau bị tiến công, các lực lượng VNCH tranh nhau rút chạy. Trong sự hỗn loạn, mọi cố gắng ổn định tình hình và tổ chức kháng cự đều trở nên vô vọng.

    Ngày 11.3.1975, ngay khi Ban Mê Thuột (BMT) thất thủ, đồng thời trước sức ép của Quân giải phóng (QGP) tại các mặt trận khác dội về, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã đã triệu tập Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên và Trung tướng Đặng Văn Quang đến Phủ đầu rồng để bàn về việc tái phối trí lại lực lượng.


    Tại cuộc họp này, dường như đã tiên đoán được những khó khăn to lớn mà Việt Nam công hòa (VNCH) đang phải đương đầu, Nguyễn Văn Thiệu thông báo quyết định:
    "Với khả năng và lực lượng ta đang có, chắc chắn chúng ta không thể bảo vệ được tất cả lãnh thổ muốn bảo vệ. Như vậy chúng ta nên tái phối trí lực lượng và bảo vệ những vùng đông dân, trù phú, vì những vùng đất đó mới thực sự quan trọng".
    Có lẽ cả Thiệu lẫn những người có mặt trong cuộc họp đã không ngờ được rằng lời tiên đoán đó lại diễn ra nhanh đến vậy!

    Từ cuộc "rút lui chiến lược"

    Ngày 14.3.1975, trước khả năng phản kích giành lại Buôn Mê Thuột (BMT) đã gần như tan thành mây khói, TT Nguyễn Văn Thiệu cùng Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên - Tổng tham mưu trưởng Quân lực VNCH và trung tướng Trần Văn Quang - Cố vấn an ninh quốc gia đã bay ra Cam Ranh.
    Tại đây họ đã nghe Thiếu tướng Phạm Văn Phú - Tư lệnh Quân khu 2 kiêm Tư lệnh Quân đoàn 2 phúc trình về tình hình chiến sự tại Quân khu 2.


    Giải phóng Buôn Ma Thuột ngày 10/3/1975 mở đầu Chiến dịch Tây Nguyên. Ảnh tư liệu.

    Trong cuộc họp, Thiếu tướng Phạm Văn Phú báo cáo tổng quát diễn biến chiến sự tại Tây Nguyên những ngày trước đó.
    Để có thể khôi phục và giữ được cao nguyên, tướng Phú thỉnh cầu xin thêm máy bay cho Sư đoàn 6 không quân, bổ sung quân số bị tổn thất, tăng viện từ 1 đến 2 lữ đoàn dù để phòng giữ Kon Tum, Pleiku và sau đó dùng để phản kích chiếm lại các vùng đã mất.
    Nguyễn Văn Thiệu không chấp nhận đề nghị của tướng Phú. Ông ta tuyên bố:
    "Không! Không thể có quân tăng viện, không có quân bổ sung. Quân viện bị cúp, đạn và tiền đều thiếu. Chúng ta đang bị tấn công mạnh ở khắp mọi nơi chứ không riêng ở QK2.
    Địch đánh mạnh hơn năm 1968, hơn cả năm 1972. Kon Tum, Plây Cu người ít, kinh tế không có, để bảo toàn lực lượng, lấy quân về giữ đồng bằng ven biển, ở đấy điều kiện tiếp tế thuận lợi hơn".

    Kết luận lại, TT Nguyễn Văn Thiệu lệnh cho Phạm Văn Phú tổ chức rút quân về đồng bằng, tái phối trí lại lực lượng với yêu cầu cố gắng bảo toàn đến mức cao nhất các lực lượng chủ lực của quân đoàn.
    Về hướng rút quân, Đại tướng Cao Văn Viên lưu ý về những nguy hiểm khó lường khi rút theo đường 19, ông ta nhắc lại thảm họa đã xảy ra đối với Binh đoàn cơ động số 100 của quân viễn chinh Pháp trên đường 19 năm 1954.
    Sau khi thảo luận nhiều lần về việc chọn đường rút quân, Nguyễn Văn Thiệu và các tướng lĩnh đã quyết định rút theo đường số 7 (ngày nay là QL 25) vì họ cho rằng, con đường đó tuy xấu nhưng gây được bất ngờ cho đối phương.
    Tới 16 giờ cùng ngày, tại bản doanh của Quân đoàn 2 tại Pleiku tướng Phú triệu tập ngay Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, Chuẩn tướng Phạm Duy Tất (mới được thăng) và Đại tá Lê Khắc Lý bàn việc rút quân với mấy yêu cầu:
    • Về kế hoạch chung: Bảo đảm bí mật tuyệt đối, không làm văn bản, chỉ truyền khẩu lệnh; cấm tiết lộ cho địa phương quân và các tiểu khu. Phải rút nhanh gọn, đem theo vũ khí và một cơ số đạn đủ cho một trận chiến đấu. Rút theo kiểu cuốn chiếu, ở xa rút trước, ở gần rút sau.
    • Về điều phối: Giao Chuẩn tướng Phạm Duy Tất chỉ huy hành quân; Chuẩn tướng Cẩm đôn đốc kiểm tra; Chuẩn tướng Sang điều điều động máy bay vận tải chở hàng hóa quý hiếm, dọn sạch hai bên đường rút quân bằng máy bay oanh tạc;
    Đại tá Lý điều động công binh sửa đường, bắc cầu, giữ liên lạc với Bộ chỉ huy tiền phương Quân khu II tại Nha Trang và Bộ Tổng tham mưu tại Sài Gòn để xin tiếp ứng khi cần.
    Theo tính toán của các tướng lĩnh VNCH, các đơn vị Quân giải phóng đang tập trung vây đánh trung đoàn 53, căn cứ B50 ở Buôn Ma Thuột và lo đối phó với cuộc phản kích của sư đoàn 23 tại Phước An nên phải mất ba đến năm ngày mới có thể điều quân đến do đường sá rất xấu, cơ động khó khăn.
    Còn Sư đoàn 968 nếu có đuổi theo cũng phải hành quân bộ, đánh vuốt đuôi và sẽ bị Liên đoàn 25 Biệt động quân (BĐQ) cản hậu chặn đánh. Thời gian đó đủ để phần lớn lực lượng Quân đoàn 2 VNCH về được Tuy Hòa.
    Cũng theo tính toán của họ, thì với số quân và phương tiện chiến tranh của Quân đoàn rút được về đến đồng bằng ven biển sẽ đủ khả năng tái phối trí để bảo vệ những phần đất còn lại của Quân khu 2.
    Nhưng lại một lần nữa, những toan tính này sụp đổ.


    Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam hành quân vào phía Nam Tây Nguyên. Ảnh tư liệu.

    Đến "thảm kịch đường số 7"

    Mặc dù Bộ tư lệnh Quân đoàn II QLVNCH cố gắng giữ bí mật tối đa cuộc rút quân nhưng những hoạt động nhộn nhịp bất thường của không quân tại Plây Cu trong ngày 14 tháng 3 đã gây nên những nghi ngờ trong gia đình các sĩ quan cấp dưới, binh sĩ và cả dân chúng ở đây.
    Sáng sớm ngày 15 tháng 3, một đoàn xe quân sự lớn của các Liên đoàn 6 và 23 BĐQ từ Kon Tum di chuyển qua Pleiku xuống phía Nam càng làm cho tinh thần của các công chức chính quyền, binh lính và cả dân chúng càng thêm dao động.
    Đến trưa ngày 15 thì mọi mệnh lệnh để ổn định tình hình của chuẩn tướng Trần Văn Cẩm và đại tá Lê Khắc Lý đều trở nên vô hiệu. Một số sĩ quan, công chức, binh lính đã bỏ đơn vị và nhiệm sở để lo cho gia đình di tản.
    Nhiều vụ cướp bóc, tống tiền đã xảy ra. Ngay cả CIA cũng bắt đầu di tản người Mỹ khỏi Pleiku vì theo họ đánh giá, thị xã này đã giống như một thùng thuốc súng.
    13 giờ chiều 15 tháng 3, cuộc di tản của Quân đoàn 2 VNCH chính thức bắt đầu trong sự cập rập, vội vã. Thiết đoàn 19 và Liên đoàn 6 BĐQ mở đường từ Pleiku đi Phú Túc. Tiếp đó là bộ phận còn lại của Bộ tư lệnh Quân đoàn II, Lữ đoàn 2 Thiết kỵ, các đơn vị bộ binh, hậu cần, kỹ thuật...
    Trong hai ngày đầu cuộc di tản diễn ra đúng theo kế hoạch. Sáng 16 tháng 3, khi đội thiết giáp đi đầu trong đoàn xe quân sự dài đến hơn 2.000 chiếc đã đến Cheo Reo (bây giờ là TX Ayun Pa) an toàn và bắt đầu di chuyển xuống Củng Sơn thì toán cuối của đoàn xe này mới ra khỏi thị xã Pleiku.
    Tuy nhiên, có ba vấn đề mà các tướng lĩnh QLVNCH không lường tính hết. Đó là: số lượng người, phương tiện tham gia vào cuộc "rút lui chiến lược", chất lượng đường số 7 và phản ứng của phía Quân giải phóng.


    Quân giải phóng trong chiến dịch Tây Nguyên. Ảnh tư liệu.

    Khi tin rút bỏ Cao Nguyên lan rộng, các sĩ quan, binh sĩ VNCH cùng các công chức hệ thống chính quyền địa phương hai tỉnh Kon Tum, Pleiku đã lập tức bỏ đơn vị, bỏ nhiệm sở để lo cho gia đình "di tản".
    Vì vậy, mỗi quân nhân phải kèm thêm vài người dân, trong đó có rất nhiều người già, trẻ em đã ảnh hưởng rất lớn đến khả năng chiến đấu khi có tình huống xảy ra.
    Bên cạnh đó, số phương tiện của dân sự đi theo đoàn quân "rút lui chiến lược" đó cũng rất đông đảo. Theo ước tính của các nhà nghiên cứu lịch sử quân sự đã có khoảng hơn 2000 phương tiện giao thông dân sự đã tham gia vào cuộc rút quân "vĩ đại" này và gây rất nhiều khó khăn cho quá trình điều phối hành quân.
    Về con đường số 7 vốn là một con đường bỏ hoang từ lâu không được duy tu, bảo dưỡng. Vì vậy, đường hẹp, chất lượng mặt đường xấu, đặc biệt các cây cầu trên con đường này đều nhỏ, hẹp và có trọng tải nhỏ. Trong khi đó, năng lực của công binh Quân đoàn 2 VNCH rất hạn chế.
    Đối với Quân giải phóng, kế hoạch rút quân của Quân đoàn 2 VNCH khỏi Tây Nguyên là không quá bất ngờ. Khi vạch kế hoạch chiến dịch Tây Nguyên họ đã tính đến khả năng này. Bất ngờ duy nhất mà Nguyễn Văn Thiệu và Phạm Văn Phú tạo ra được là cuộc di tản này được tiến hành quá nhanh.
    Đến chiều 15 tháng 3, khi cánh quân đi đầu của thiết đoàn 19 đã qua Cheo Reo, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây nguyên mới được tin quân VNCH bắt đầu rút khỏi Pleiku và Kon Tum.
    Quyết không để Quân đoàn 2 VNCH bảo toàn được nguyên vẹn lực lượng về tới đồng bằng ven biển, một kế hoạch chặn đánh và truy kích lập tức được hình thành.
    Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên quyết định sử dụng toàn bộ Sư đoàn BB 320, Tiểu đoàn xe tăng 2 (Trung đoàn 273), Trung đoàn pháo binh 675, Trung đoàn cao xạ 593 và hai Tiểu đoàn quân địa phương ở Phú Yên vào trận đánh này.
    20 giờ tối 16. 3, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64 (Sư đoàn BB 320) được lệnh hành quân cắt rừng suốt đêm với nhiệm vụ lập một chốt chặn ở phía Nam thị xã Cheo Reo để chặn đứng cuộc rút lui của đối phương. Theo sát họ là đội hình chính của Trung đoàn 64 hành quân trên 110 xe ô tô các loại được huy động cùng các lực lượng khác.
    Sáng 17 tháng 3, tốp xe tăng, thiết giáp đi đầu của Thiết đoàn 19 và Liên đoàn 6 Biệt động quân VNCH đã chạm súng với Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64 QGP tại đèo Tuna, cách Cheo Reo 4 km về Đông và bị chặn lại ở đây. Đoàn xe di tản khổng lồ ứ lại tại Cheo Reo.
    Từ chiều tối 17 đến sáng 18 tháng 3, chuẩn tướng Tất sử dụng Liên đoàn 7 BĐQ với sự yểm hộ của không quân, pháo binh và thiết giáp liên tục công kích nhổ chốt, vu hồi bọc chốt để mở đường nhưng đều bị đẩy lùi.
    Sáng 18 tháng 3, toàn bộ Trung đoàn 64 (Sư đoàn BB 320) đã triển khai xong các chốt chặn tiếp theo phía hạ lưu đèo Tuna. Trung đoàn 48 (thiếu) của sư đoàn này và Trung đoàn 9 (Sư đoàn BB 968) đã bao vây Cheo Reo từ ba mặt.
    Trưa ngày 18, Chuẩn tướng Phạm Văn Tất điều Liên đoàn 25 BĐQ đang làm nhiệm vụ cản hậu vượt lên trước cùng với Lữ đoàn 2 Thiết kỵ mở cuộc công kích cuối cùng để mở đường.
    Cũng thời điểm đó, các đơn vị pháo binh của trung đoàn 675 bắt đầu pháo kích các vị trí đóng quân tạm thời của VNCH trong thị xã Cheo Reo và 3 trung đoàn bộ binh Quân giải phóng bắt đầu tấn công.
    Phía trước bị chặn, phía sau bị tiến công, các lực lượng VNCH tranh đường của nhau để chạy. Trong sự hỗn loạn, mọi cố gắng ổn định lại tình hình và tổ chức kháng cự của các chỉ huy VNCH trở nên vô vọng.


    Thảm kịch đường số 7. Ảnh tư liệu.

    17 giờ chiều, chuẩn tướng Phạm Duy Tất nhận được lệnh phá bỏ tất cả các chiến cụ nặng. Binh lính VNCH tháo khóa nòng pháo, kính ngắm bắn... trên các khẩu pháo và xe tăng rồi bỏ lại để chạy thoát thân.
    17 giờ 30, một chiếc HU-1A vượt qua làn đạn phòng không của Quân giải phóng hạ cách xuống sân trường tiểu học Phú Bổn dể đưa tướng Tất và Đại tá Hoàng Thọ Nhu (tỉnh trưởng Pleiku) về Nha Trang..
    Đến 9 giờ sáng ngày 19 tháng 3, các đơn vị QLVNCH bị vây tại Cheo Reo chấm dứt kháng cự.
    Kết quả, chỉ một số ít binh lính VNCH về đến Tuy Hòa. Số còn lại ngoài một số bị diệt có gần 17.000 người bị phía Quân giải phóng bắt làm tù binh, trong đó có 779 sĩ quan từ chuẩn úy đến chuẩn tướng.
    Số vũ khí phương tiện bị phá hủy và bắt sống cũng cực kỳ lớn: 17.183 súng các loại, trong đó có 79 khẩu pháo từ 105 mm trở lên; hơn 2.000 xe quân sự, trong đó có 207 xe tăng và xe bọc thép; 44 máy bay bị bắn rơi, 110 chiếc khác bị thu và phá hủy.
    Như vậy, từ cuộc "rút lui chiến lược" đã biến thành "thảm kịch đường số 7" - Tây Nguyên hoàn toàn thất thủ, báo hiệu sự sụp đổ không thể tránh khỏi của chế độ VNCH một ngày không xa.

    Nguồn: http://soha.vn/cuoc-rut-lui-chien-lu...5105640668.htm


    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  13. Có 1 người thích bài viết này


  14. #90
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,153
    Thích
    323
    Đã được thích 1,858 lần trong 993 bài viết
    PHÓ TƯ LỆNH QUÂN ĐOÀN NGỒI SAU THÁP PHÁO XE TĂNG CHỈ HUY CHIẾN ĐẤU- CHUYỆN CHỈ CÓ Ở VN



    Ngày 29.3.1975, Đà Nẵng được hoàn toàn giải phóng. Ảnh tư liệu.

    Đó là trận hành tiến tiến công đèo Hải Vân của Đại đội 3 thuộc Tiểu đoàn 4, Lữ đoàn xe tăng 203 cùng với Trung đoàn 18, Sư BB 325 nhằm tiến công Đà Nẵng từ phía Bắc ngày 29.3.1975.


    Đà Nẵng - thành phố lớn thứ hai của miền Nam, đồng thời là một căn cứ quân sự liên hợp lớn nhất với hệ thống công sự vật cản được xây dựng vững chắc và binh lực rất hùng hậu. Tuy nhiên, nó đã nhanh chóng sụp đổ bởi những đòn điểm huyệt cao tay của Quân giải phóng.
    Một trong những đòn điểm huyệt hiểm nhất chính là đòn đánh trực diện qua đèo Hải Vân do đích thân Phó tư lệnh Quân đoàn 2 - Đại tá Hoàng Đan* trực tiếp chỉ huy.

    Hải Vân Quan - chốt hiểm lưng trời trấn giữ mặt bắc Đà thành

    Đèo Hải Vân là con đèo huyết mạch vượt qua dãy Bạch Mã - một nhánh của dãy Trường Sơn ăn ra sát biển. Với độ cao 500 mét so với mực nước biển nên đỉnh đèo thường xuyên chìm trong mây trắng và có lẽ chính vì vậy nó được mang tên Hải Vân.
    Chiều dài đèo là hơn 20 km đường quanh co, khúc khuỷu, hiểm trở nên từ xưa nó đã là một cửa ải khó vượt qua và được mệnh danh là "Thiên hạ đệ nhất hùng quan". Trong dân gian vẫn lưu truyền câu ca:
    Đường bộ thì sợ Hải Vân
    Đường thủy thì sợ sóng thần Hang Dơi.
    Về mặt quân sự, có thể coi đèo Hải Vân là một chướng ngại thiên nhiên không dễ vượt qua bảo vệ mặt bắc cho thành phố Đà Nẵng. Với địa hình như vậy, cộng với hệ thống lô cốt bê tông cốt thép đã xây dựng ở đây từ trước có thể đảm bảo "một chống lại mười" hoặc hơn thế nữa.


    Những ngày tháng 3 năm 1975, khi Quân Giải phóng (QGP) giải phóng tỉnh Thừa Thiên Huế, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu đã chỉ thị cho tướng Ngô Quang Trưởng - Tư lệnh Quân khu 1 "Phải tử thủ Đà Nẵng đến cùng".
    Với tướng Ngô Quang Trưởng để giữ được Đà Nẵng thì Hải Vân được coi là một chốt giữ trọng điểm có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Vì vậy, Trưởng đã giao cho Lữ đoàn Thủy quân lục chiến (TQLC) 468 (theo một số tài liệu là Lữ đoàn TQLC 258).
    Đây là một đơn vị mới được cải tổ lại nhằm tăng cường sức mạnh cho lực lượng trù bị của VNCH với 3 tiểu đoàn 14, 16, 18 do Đại tá Ngô Văn Định, nguyên lữ đoàn trưởng Lữ đoàn TQLC 258 chỉ huy. Các đơn vị của Lữ đoàn được bố trí như sau:
    - Tiểu đoàn 18 đóng quân, lập tuyến án ngữ tuyến phía Bắc đèo Hải Vân
    - Tiểu đoàn 16: Ban chỉ huy Tiểu đoàn và đại đội chỉ huy đóng quân ngay trên trên đỉnh đèo, các đại đội chiến đấu án ngữ và chế ngự các cao điểm, khai triển các trung đội trải dài theo Quốc lộ 1 xuống đến chân đèo Hải Vân ở phía Nam.
    - Tiểu đoàn 14: hoạt động ở phía Nam đèo Hải Vân..
    Cùng với các lực lượng còn lại trong tay như: Sư đoàn TQLC (thiếu), Sư đoàn BB3, Sư đoàn Không quân 1, Liên đoàn biệt động quân 15, Liên đoàn bảo an 914 và 12 Tiểu đoàn pháo... bố trí phòng thủ các mặt khác, Ngô Quang Trưởng đã tự tin tuyên bố "tử thủ Đà Nẵng đến cùng".



    Xe tăng Quân giải phóng tiến vào thành phố Đà Nẵng. Ảnh tư liệu.

    Sở chỉ huy sau tháp pháo xe tăng (XT)

    Về phía ta thực hiện tiến công Đà Nẵng trên 4 hướng: Hướng Tây Bắc, hướng Tây Nam, hướng Nam - Đông Nam và hướng Bắc. Do phải vượt đèo Hải Vân hiểm trở nên hướng Bắc chỉ được coi là hướng thứ yếu.
    Lực lượng tham chiến trên hướng này gồm Trung đoàn 18, Sư đoàn BB325 và Tiểu đoàn 4 của Lữ đoàn XT 203. Tuy nhiên, do cầu Thừa Lưu bị phá nên chỉ Đại đội XT 3 trang bị 5 xe tăng bơi nước K63-85 do Đại tá Hoàng Đan - Phó Tư lệnh Quân đoàn 2 trực tiếp ngồi trên xe để đốc thúc hành quân là đến được Lăng Cô sáng ngày 29.3.1975.
    Tại ga Lăng Cô, lực lượng xe tăng và bộ binh bắt liên lạc được với nhau. Đồng chí Nguyễn Đức Huy, Sư đoàn phó Sư đoàn BB325 báo cáo tình hình mọi mặt với phó Tư lệnh Quân đoàn Hoàng Đan.
    Nghe xong, Phó tư lệnh Hoàng Đan đã biểu dương chiến công của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 18 rồi thân mật nói: "Tớ mang cho các cậu một đại đội xe tăng", và giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 18 nhanh chóng đánh chiếm đèo Hải Vân, tham gia giải phóng Đà Nẵng.
    Kế hoạch tiến công đèo Hải Vân là tiến công trong hành tiến, gặp địch ở đâu đánh ở đấy không chờ trinh sát. Về bố trí đội hình sẽ cho bộ binh ngồi trên xe tăng làm lực lượng đi đầu, số còn lại đi ô tô phía sau.
    Khi thấy chỉ huy bộ binh còn chưa biết bố trí chỉ huy thế nào thì phó Tư lệnh quân đoàn chỉ ngay vào mấy chiếc xe tăng: "Bộ đội ở đâu thì chỉ huy ở đó. Bộ đội cưỡi xe tăng thì chỉ huy cũng cưỡi xe tăng. Sở chỉ huy ở đó chứ ở đâu nữa!".
    Nói rồi ông trèo luôn lên xe tăng số 724 cùng Tiểu đoàn trưởng XT Phạm Ngọc Bảng và nói lớn: "Sở chỉ huy của tớ ở đây. Còn các cậu ở đâu thì tùy!".Nghe vậy, Sư đoàn phó Nguyễn Đức Huy phân công đồng chí Nguyễn Tiến Lãi, Đại đội trưởng Đại đội 6 ngồi xe tăng đi đầu; đồng chí Trần Minh Thiệt, Tiểu đoàn trưởng ngồi xe tăng thứ hai; bản thân sư đoàn phó ngồi xe tăng thứ ba.
    Còn Sở chỉ huy Trung đoàn 18 do đồng chí Phạm Hồng Lẫm, Trung đoàn trưởng, đồng chí Hồ Sỹ Khuyên, Chính ủy cùng một đại đội bộ binh còn lại của Tiểu đoàn 8 ngồi trên xe ô tô bám theo sau.
    Theo đúng kế hoạch, kết hợp với hỏa lực của bộ binh xe tăng vừa chạy vừa bắn vào ổ phòng ngự chân đèo Hải Vân, chỉ sau 15 phút một số địch ở trong cửa đường hầm và sườn đèo Hải Vân bị diệt, số còn lại bỏ chạy dạt vào rừng trên đèo Hải Vân.
    Xe tăng và bộ binh QGP thừa thắng xông lên, những chiếc xe tăng nặng nề và đã khá cũ kỹ, nhưng dưới bàn tay điều khiển điêu luyện của những chiến sĩ lái xe đã đưa chúng vượt Trường Sơn năm nào dễ dàng vượt qua những đoạn đường hiểm trở của con đèo "đệ nhất hùng quan".
    Còn các pháo thủ thì điềm tĩnh và chắc chắn bắn từng phát đạn pháo, từng loạt 12 ly 7 vào những ổ kháng cự dọc đường đèo. Thấy xe tăng xuất hiện và hỏa lực mạnh mẽ của xe tăng, bọn chúng nhanh chóng tan rã và bỏ chạy tản mát vào rừng.


    Ngày 29.3.1975, Đà Nẵng được hoàn toàn giải phóng. Ảnh tư liệu.

    Gần đến đỉnh đèo, hỏa lực bắn trả của phía VNCH đột nhiên dày đặc và dữ dội hơn hẳn, trong đó có cả pháo chống tăng và nhiều hỏa khí khác. Quan sát cho thấy địch dựa vào các lô cốt bê tông cốt thép để thiết lập trận địa phòng ngự.
    Chúng ở thế trên cao, còn QGP đánh từ dưới lên, đường độc đạo lại dốc không thể phát huy tốc độ. Nếu không có cách đánh thích hợp thì khó có thể vượt qua.
    Từ phía xe 724, Phó tư lệnh Hoàng Đan nhổm người lên hô lớn: "Cho bộ binh xuống xe, lợi dụng địa hình, địa vật đến gần để diệt địch. Xe tăng tại chỗ dùng pháo và 12ly7 chi viện!". Ngay lập tức, mệnh lệnh được thi hành.
    Sau khi bộ binh xuống xe và men theo ta-luy tiến lên, các xe tăng bắt đầu bắn cấp tập vào trận địa phòng ngự của địch. Với hỏa lực của 5 khẩu pháo 85 mm bắn trực tiếp, hầu hết công sự của trận địa phòng ngự bị phá hủy, quân VNCH hoảng sợ bỏ chạy về phía sau.
    Lợi dụng lúc đối phương đang hoang mang, bộ binh tràn lên làm chủ đỉnh đèo. Vậy là cái chốt hiểm hóc trấn giữ mặt bắc thành phố đã bị đập tan!Tiếp đó, bộ đội lại lên xe đổ đèo truy kích địch. Đến khoảng 10 giờ ngày 29/3/1975 đội hình đã chiếm được kho xăng Liên Chiểu. Đây là một kho nhiên liệu cực lớn để cung cấp cho toàn bộ Vùng 1 chiến thuật của VNCH.
    Bộ binh để lại một tiểu đội canh giữ, còn lại tiếp tục đánh vào thành phố Đà Nẵng. Gần đến cầu Thủy Tú, phát hiện 1 tiểu đoàn địch ra phản kích, xe tăng dùng pháo bắn mãnh liệt vào đội hình địch làm chúng hoảng sợ bỏ chạy tán loạn.
    Số lính địch chốt giữ cầu Thủy Tú cũng bỏ chạy theo. Sau này kiểm tra cầu mới phát hiện một khối thuốc nổ lớn đặt dưới trụ cầu chưa kịp điểm hỏa.
    Đội hình xe tăng và bộ binh vào đến đầu thành phố thấy ở đây đã có một số lực lượng của các đơn vị bạn - chủ yếu là bộ đội địa phương đang chiến đấu, súng nổ vang dội khắp nơi. Nhân dân cũng nháo nhác chạy ra chật ních các đường phố.
    Đội hình chiến đấu tiến vào thành phố rất khó khăn.Trước tình hình đó, Phó tư lệnh Hoàng Đan ra lệnh: "Không vào thành phố mà vượt qua cầu Trịnh Minh Thế để ra đánh chiếm quân cảng, giải phóng bán đảo Sơn Trà".

    Lập tức đội hình chiến đấu của XT cùng BB không vào nội thành mà chạy thẳng tới cầu Trịnh Minh Thế và vượt cầu sang bán đảo. Tại đây, họ bắt liên lạc với lực lượng của Quân khu 5 từ phía nam đánh lên và cùng hiệp đồng chiến đấu.


    Thiếu tướng Hoàng Đan (ngoài cùng, bên trái khi đó còn mang quân hàm Đại tá) cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Trung tướng Lê Trọng Tấn (năm 1976). Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

    Khoảng 13 ngày 29/3/1975, Trung đoàn 18 và Đại đội XT3 đã cơ động đến quân cảng Sơn Trà - quân cảng lớn nhất của quân lực VNCH.
    Phát hiện nhiều tàu địch đang đậu trên bến cảng hoặc vừa rời cảng, các xe tăng của Đại đội 3 vừa chạy vừa bắn làm 1 tàu bị cháy, số còn lại tăng tốc độ chạy ra xa bỏ lại trên bến cảng hàng chục tàu chiến các loại cùng hàng trăm xe tăng, xe thiết giáp và pháo, súng cối, kể cả pháo 175mm "Vua chiến trường".

    Vậy là từ hướng thứ yếu nhưng nhờ áp dụng cánh đánh thích hợp, hướng tiến công trực diện từ phía Bắc vào đã trở thành hướng có mặt sớm nhất giải phóng Đà Nẵng và bán đảo Sơn Trà. Chia tay cán bộ chiến sĩ Đại đội XT3 về Bộ tư lệnh Quân đoàn, Phó tư lệnh Hoàng Đan cười sảng khoái: "Ngồi sau tháp pháo các cậu chỉ huy thích thật đấy!".

    Nguồn: http://soha.vn/chuyen-chi-co-o-vn-ph...7114404871.htm

    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  15. Có 1 người thích bài viết này


Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •