CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 11 của 11 Đầu tiênĐầu tiên ... 91011
Kết quả 101 đến 106 của 106

Chủ đề: Ngày này năm ấy!

  1. #101
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,151
    Thích
    323
    Đã được thích 1,857 lần trong 992 bài viết
    SÁNG KIẾN NHỎ- HIỆU QUẢ TO- TỪ NAY KHÔNG QUÁ LO HẾT ĐẠN



    Lữ đoàn xe tăng 273 trên bãi tập. Ảnh minh họa:Tiền Phong.

    Với một sáng kiến không quá phức tạp, các chiến sĩ của Lữ đoàn xe tăng 273, Quân đoàn 3 đã giải quyết được mối lo canh cánh trong lòng: thiếu đạn trong chiến đấu.

    Là lực lượng đột kích của Lục quân, thường tham gia đột phá trên các hướng chủ yếu của trận đánh, chiến dịch, mục tiêu chủ yếu của xe tăng là xe tăng, thiết giáp của đối phương, các loại hỏa khí, lô cốt công sự chiến đấu kiên cố và cả bộ binh địch. Vì vậy, lượng đạn dược xe tăng sử dụng trong mỗi trận đánh thường khá lớn.
    Và một trong những niềm mong muốn cháy bỏng của các chiến sĩ xe tăng là có nguồn đạn dồi dào để sử dụng.

    Cơ số đạn của xe tăng - Không phải muốn bao nhiêu cũng được

    Đạn dược là loại vật tư đặc biệt trực tiếp tiêu diệt các mục tiêu của đối phương. Vì vậy, khối lượng đạn dược tiêu hao trong các trận đánh, các chiến dịch thường rất lớn.
    Đối với những người trực tiếp chiến đấu - những người trực tiếp sử dụng vũ khí, đạn dược thì lúc nào cũng mong muốn có được thật nhiều đạn để dùng. Đó là một mong muốn hết sức chính đáng!



    Tuy nhiên, mong muốn đó không phải lúc nào cũng được đáp ứng mà còn phụ thuộc vào rất nhiều vấn đề. Xuất phát từ yêu cầu của thực tế và các yếu tố chi phối người ta đã xây dựng lên khái niệm cơ số đạn cho từng đơn vị vũ khí, trang bị.
    Cơ số đạn là số lượng đạn dược tối thiểu trang bị cho một đơn vị vũ khí, phương tiện chiến đấu... nhằm để hoàn thành một nhiệm vụ, trong một thời gian nhất định- thường là một trận đánh ở cấp chiến thuật.
    Để tính toán cơ số đạn dược phải căn cứ vào tính năng, tác dụng, cấu tạo... của vũ khí trang bị, khả năng mang vác, vận chuyển... của người sử dụng hoặc của phương tiện đó.
    Đối với xe tăng, yếu tố quyết định đến việc xác định cơ số đạn chủ yếu thường là do không gian của buồng chiến đấu (hoặc của cơ cấu nạp đạn tự động).
    Là loại phương tiện chiến đấu bọc giáp, thường dẫn đầu trong các cuộc đột phá nên xe tăng thường có kích thước nhỏ gọn, do vậy không gian trong buồng chiến đấu cũng hết sức chật hẹp. Cũng vì vậy không thể tăng cơ số đạn lên mức vô hạn được.


    Đánh chiếm cầu Thị Nghè sáng 30/4/1975. Ảnh tư liệu.

    Tùy theo cỡ pháo và khối lượng mỗi viên đạn mà cơ số đạn của xe tăng hiện đại dao động trong khoảng 30- 50 viên. Trong đó, tỷ lệ đạn xuyên với đạn nổ phá sát thương không nhất định mà có thể điều chỉnh linh hoạt căn cứ vào tính chất mục tiêu trong mỗi trận chiến đấu. Kể cả đối với các loại xe tăng có hệ thống nạp đạn tự động cũng vậy.
    Với một cơ số đạn như vậy, trong những trận đánh mà thời gian bị kéo dài thì nỗi lo hết đạn với các chiến sĩ xe tăng là nỗi lo hiện hữu. Trong thực tế, đã có những trận đánh như vậy.
    Chẳng hạn, Đại đội xe tăng 5, Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn xe tăng 203 do không được tiếp đạn kịp thời từ các trận đánh trước nên trong trận đánh căn cứ Nước Trong sáng 28.4.1975 có 3 xe đã nhanh chóng bị hết đạn, phải quay về phía sau để bổ sung, ảnh hưởng chung đến tốc độ tiến quân ở hướng này.

    Sáng kiến nhỏ nhưng hiệu quả to

    Xuất phát từ nỗi lo thiếu đạn, hết đạn "thường trực" trong đầu, các chiến sĩ xe tăng đã tìm nhiều cách để tăng thêm cơ số đạn mang theo.
    Đặc biệt, tại Lữ đoàn xe tăng 273, Quân đoàn 3 trước khi bước vào cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975 anh em đã có sáng kiến để tăng cơ số đạn trên mỗi xe thêm được 10 viên - trong đó chủ yếu là đạn xuyên bởi lúc này lực lượng Tăng thiết giáp của Quân lực Việt Nam Cộng hòa còn khá nguyên vẹn.
    Sáng kiến này xuất phát từ Đại đội 9 của Lữ đoàn xe tăng 273 vào giữa năm 1974. Khi đơn vị nhận nhiệm vụ đánh Đắc Pét - một cứ điểm rất vững chắc của địch. Trong trận này, một số xe tăng được giao nhiệm vụ chiếm trận địa bắn trực tiếp tham gia hỏa lực chuẩn bị trước khi xung phong.
    Xe tăng bắn trực tiếp từ trận địa bắn sẽ đạt độ chính xác rất cao. Tuy nhiên, với cơ số đạn theo quy định thì chả mấy sẽ hết. Có ý kiến đưa đạn vào lót sẵn ở trận địa song không được chấp nhận vì sợ lộ ý định chiến đấu.

    Chiếm Dinh Độc lập. Ảnh tư liệu.

    Cái khó ló cái khôn! Xuất phát từ thực tế sử dụng, cán bộ chiến sĩ Đại đội xe tăng 9 đã nghĩ ra cách dùng nẹp tre và dây mây buộc thêm một số viên đạn vào các giá đạn có sẵn xung quanh vành tháp pháo và buồng chiến đấu.
    Còn để lấy đạn ra cho nhanh, mỗi xe tự làm lấy một con dao nhỏ và mài thật sắc. Khi cần chỉ cần lách mũi dao vào cứa mạnh sẽ làm đứt dây và viên đạn sẽ rời ra. Tốc độ lấy đạn có khi còn nhanh hơn cả khi mở 2 khóa cố định đạn trên giá.
    Sau nhiều lần thử nghiệm, anh em trong đơn vị đã cố định thêm được 10 viên đạn mỗi xe, nâng cơ số đạn lên hơn 40 viên mà vẫn không ảnh hưởng nhiều đến kết cấu của xe và thao tác của các thành viên. Quá trình hành quân chiến đấu các quả đạn vẫn đảm bảo yên vị tại vị trí của mình. Trận đó, Đại đội xe tăng 9 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
    Sau trận Đắc Pét, sáng kiến này nhanh chóng được nhân ra trong phạm vi toàn lữ đoàn và đã góp phần vào các chiến thắng vang dội của đơn vị trong cuộc Tổng tiến công nổi dậy Mùa Xuân năm 1975.

    Nguồn: http://soha.vn/sang-kien-nho-nhung-h...2308475797.htm

    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  2. Có 2 người thích bài viết này


  3. #102
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,151
    Thích
    323
    Đã được thích 1,857 lần trong 992 bài viết
    THẦN TỐC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM- CHUYỆN BỘ BINH NHƯỜNG NƯỚC UỐNG CỨU XE TĂNG


    Xe tăng hạng nhẹ của QGP giữa nhân dân Sài Gòn.

    Nói về "Thần tốc" trong Mùa Xuân 1975 người ta hay nhắc đến cánh quân Duyên Hải. Song kỷ lục về chiều dài đường hành quân lại thuộc về các đơn vị của Binh đoàn Quyết Thắng.


    Ngày 18 tháng 3 năm 1975, Chiến dịch Tây Nguyên đang thu được thắng lợi giòn giã. Phán đoán thời cơ thuận lợi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đã đến rất gần, Bộ Thống soái tối cao quyết định đưa một số đơn vị thuộc Quân đoàn 1 (Binh đoàn Quyết Thắng) - vốn có nhiệm vụ bảo vệ Thủ đô và Trung ương vào Nam sẵn sàng tham chiến.


    Trong số các đơn vị được vinh dự đi chiến đấu trong mùa Xuân lịch sử ấy có Tiểu đoàn TTG 66 và Tiểu đoàn TTG 244 của Lữ đoàn xe tăng 202 - những đơn vị đã dạn dày trong chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị năm 1972 cho đến tận khi Hiệp định Pa-ri được ký kết đầu năm 1973.

    Chặng đường "thần tốc" dài nhất

    Thực ra, nói như vậy không hoàn toàn đúng bởi kỷ lục về chiều dài đường hành quân của các đơn vị xe tăng trong kháng chiến chống Mỹ có những trường hợp còn dài hơn. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975 thì chiều dài hành quân của hai tiểu đoàn TTG này là dài nhất.Lúc đó, Lữ đoàn TTG 202 đang đóng quân tại Ninh Bình. Đơn vị đầu tiên của Lữ đoàn xuất phát lên đường là Tiểu đoàn 66, bao gồm 1 đại đội trang bị xe tăng K63-85 và 2 đại đội trang bị xe thiết giáp K63.
    Ban đầu, nhiệm vụ của Tiểu đoàn TTG 66 và các đơn vị thuộc Binh đoàn Quyết Thắng là tham gia tiến công Đà Nẵng từ hướng Bắc. Tuy nhiên, do chiến dịch Huế - Đà Nẵng giành thắng lợi quá nhanh nên các đơn vị này đã không được "trọng dụng".


    Xe tăng QGP trên con phố ở Sài Gòn ngày 30/4/1975.

    Ngay sau đó, Bộ Thống soái tối cao lại quyết định thành lập cánh quân Duyên Hải và cánh quân này "độc chiếm" Quốc lộ 1 nên toàn bộ lực lượng của Quân đoàn 1 phải "lật cánh" lên phía tây để hành quân vào phía Nam.Đích đến của cuộc hành quân lúc này là chiến trường B2 mà cụ thể là căn cứ Đồng Xoài. Lộ trình hành quân là Quốc lộ 1 - Đông Hà - Quốc lộ 9- Đường Tây Trường Sơn - Ngã ba biên giới - Kon Tum - Đường 14 - Đồng Xoài.Tổng chiều dài đường hành quân ngót 1.800 km. Vấn đề đặt ra đối với các đơn vị lúc này là phải cơ động thật nhanh để có mặt tham gia chiến dịch cuối cùng - chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định.Nhận thức được điều đó, cán bộ chiến sĩ các đơn vị đã không quản ngại vất vả khó khăn, vừa đi vừa làm tốt công tác kỹ thuật để đảm bảo tốc độ hành quân. Đặc biệt, ngày 07.4.1975, bức điện "Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được truyền đạt đến đơn vị đã như một nguồn cổ vũ, động viên rất lớn đến với mọi người.


    Bức điện đặc biệt của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh tư liệu.

    Tình huống bất khả kháng và giải pháp bất ngờ

    Bức điện của Đại tướng Tổng Tư lệnh đến với Tiểu đoàn TTG 66 khi đơn vị đang hành quân trên địa bàn Tây Nguyên. Quán triệt tinh thần bức diện của Đại tướng, tất cả các xe của Tiểu đoàn TTG 66 đều kẻ lên tháp pháo hai chữ "Thần tốc" để nhắc nhở nhau hành quân với tốc độ cao nhất.
    Để không ảnh hưởng đến tốc độ hành quân chung, tiểu đoàn quy định: gặp trường hợp hỏng hóc các xe sẽ phải tự sửa chữa. Nếu không khắc phục được thì chờ bộ phận bảo đảm kỹ thuật đi sau đến giải quyết, còn cả đơn vị vẫn tiếp tục hành quân không dừng lại đợi.
    Tháng Tư, đang là cao điểm của mùa khô Tây Nguyên. Suốt ngày, mặt trời dọi xuống cao nguyên cái thứ nắng vàng như mật. Cả bầu trời và mặt đất cứ ong ong nóng khó chịu vô cùng.Con đường đất bị hàng vạn bánh xe và xích sắt nghiền cho nát vụn bốc bụi mù mịt sau đoàn quân xa đang mải miết hành quân gấp táp vào mặt những người lính như có ai đang ném.
    Tuy nhiên, đó không phải vấn đề lớn. Vấn đề lớn nhất đối với tiểu đoàn này lúc này là nước.
    Đã ba ngày nay, dọc đường hành quân Tiểu đoàn TTG 66 không gặp một con sông, con suối nào có nước. Số nước dự trữ trên các xe đã bắt đầu cạn mặc dù khi vượt qua sông Pô Kô ở bắc Tây Nguyên, các xe đã huy động tất cả những gì chứa được nước thì đều được chứa đầy. Một mệnh lệnh được ban ra:"Sử dụng hết sức tiết kiệm. Nước chỉ dành cho ăn uống và bổ sung cho hệ làm mát của xe. Mọi nhu cầu khác đều phải cắt!".Bất chấp tất cả, những chiếc xe tăng, xe thiết giáp vẫn cần mẫn tiến lên phía trước.
    Nhưng không phải mọi việc lúc nào cũng suôn sẻ như mong muốn.
    Đến đúng khúc cua gấp giữa một con dốc, một chiếc xe tăng K63-85 của Đại đội 3 giở chứng, nhiệt độ nước làm mát tăng lên quá giới hạn quy định. Không thể dừng đội hình lại đợi, tiểu đoàn vẫn tiếp tục hành quân. Rất may, xe này đi cuối đội hình nên không ảnh hưởng đến đường cơ động của đơn vị.
    Ngay sau đó, kíp xe kiểm tra và phát hiện nguyên nhân hỏng hóc là do vỡ ống nước của hệ làm mát. Đó là một đoạn ống nối bằng cao su. Chắc là do sử dụng lâu ngày, cộng với nhiệt độ cao liên tục... nó đã bị lão hóa và bục ra.Nước trong hệ bị chảy ra ngoài, lượng nước làm mát giảm đi dẫn đến nhiệt độ tăng lên. May mà lái xe phát hiện sớm. Nếu không sẽ dẫn đến cháy động cơ.


    Xe tăng QGP đánh chiếm Dinh Độc Lập trưa 30/04/1975. Ảnh tư liệu.

    Đoạn ống nước vỡ nhanh chóng được thay thế bằng phụ tùng dự bị. Tuy nhiên, khi bổ sung nước thì kíp xe mới tá hỏa: tất cả nước dự trữ trên xe chỉ còn chưa đầy 20 lít, thế mà hệ làm mát này đòi hỏi phải đủ 90 lít mới đảm bảo hoạt động bình thường. Không còn cách nào khác, kíp xe phải tìm bằng ra nước mới xong.
    Đầu tiên, họ chia nhau ra lần theo các khe suối cạn để tìm nhưng rồi càng tìm càng vô vọng bởi không đâu có tý nước nào. Cuối cùng, đồng chí trưởng xe quyết định: tìm chỗ trũng nhất trong lòng khe để đào giếng. Mọi việc được tiến hành ngay. Bốn anh em và các thành viên dự bị theo xe lập tức thực hiện.
    Tuy nhiên, có vẻ như việc họ làm hoàn toàn vô vọng. Giếng đã sâu hàng mét rồi mà vẫn chưa hề có dấu hiệu gì của nước cả.
    Đúng lúc đó, một đoàn mấy chục chiếc xe tải chở bộ binh đã đến chân dốc phía sau và đang ùn lại. Chiếc xe tăng hỏng nằm ở một vị trí hết sức oái oăm giữa dốc đã chặn cả đoàn xe không thể vượt qua.Một cuộc đấu khẩu căng thẳng xảy ra giữa cánh bộ binh với kíp xe tăng, thậm chí có người còn ý kiến: dùng bộc phá hất chiếc xe tăng xuống vực để lấy đường cho xe tải qua.
    Vào giữa lúc căng thẳng nhất, một cán bộ chỉ huy đoàn xe tải chợt hỏi: "Xe tăng hỏng thế nào?". Khi nghe trưởng xe giải thích xong, anh bật cười:"Có thế mà cũng chịu à? Cho người mang can, mang túi theo tôi! Tôi có cả ngàn lính trên mấy chục xe này. Mỗi người chỉ cần nửa bi đông thì... đủ cả cho các ông tắm".
    Quả thật, cái sáng kiến bất ngờ này của người chỉ huy bộ binh đã làm sống lại chiếc xe tăng đang bất lực. Với nguồn nước mát những người lính bộ binh san sẻ cho, chỉ một ngày sau chiếc xe tăng hỏng đã đuổi kịp đội hình và cùng đơn vị đến đích trước thời gian quy định.

    Nguồn:
    http://soha.vn/than-toc-giai-phong-mien-nam-chuyen-linh-bo-binh-nhuong-nuoc-uong-cuu-xe-tang-20170426181718673.htm
    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  4. Có 2 người thích bài viết này


  5. #103
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,625
    Thích
    186
    Đã được thích 1,079 lần trong 737 bài viết

  6. #104
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,151
    Thích
    323
    Đã được thích 1,857 lần trong 992 bài viết
    TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG, SÁNG TẠO- "CÂY ĐŨA THẦN" LÀM NÊN SỰ THẦN KỲ



    Xe tăng của Lữ đoàn 203 đánh chiếm dinh Độc Lập trưa 30.04.1975. Ảnh tư liệu.

    Sau trận kịch chiến ở cầu Sài Gòn, Lữ đoàn 203 tiếp tục đập tan ổ kháng cự của địch tại cầu Thị Nghè. 10h45 ngày 30/4, cánh cổng Dinh Độc Lập đổ xuống sau cú đâm của xe tăng 390.

    Thần tốc vượt hơn 1.000 km "đánh địch mà đi, mở đường mà tiến" qua địa bàn 3 quân khu, 11 tỉnh, đánh 5 trận hiệp đồng binh chủng lớn và nhiều trận nhỏ, chọc thủng "lá chắn thép" Phan Rang, giải phóng một loạt tỉnh thành Nam Trung Bộ, toàn bộ QĐ 2 đã có mặt tại vị trí tập kết (Long Khánh) ngày 24.4.1975 theo đúng quy định, sẵn sàng bước vào chiến dịch cuối cùng.

    Tích cực, chủ động - những phẩm chất cần thiết của người chỉ huy

    Chấp hành mệnh lệnh của Đại bản doanh, sau khi vào đến vị trí tập kết, toàn bộ Quân đoàn 2 sẽ được đặt dưới sự chỉ huy thống nhất của Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh.

    Ngày 22.4.1975, Thiếu tướng Nguyễn Hữu An - Tư lệnh Quân đoàn và Thiếu tướng Lê Linh - Chính ủy quân đoàn tới nhận nhiệm vụ tại Bộ Tư lệnh cánh Đông. Thay mặt Bộ Tư lệnh chiến dịch, Trung tướng Lê Trọng Tấn giao nhiệm vụ cho Quân đoàn 2 (*):
    "Trước mắt, Quân đoàn 2 đảm nhiệm tiến công tiêu diệt địch ở tả ngạn sông Đồng Nai, đánh chiếm căn cứ Nước Trong, căn cứ Long Bình, cầu Xa Lộ, chi khu Long Thành, chi khu Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ, căn cứ hải quân Cát Lái; bịt đường không cho địch rút chạy ra biển theo sông Lòng Tàu; đưa pháo 130 ly vào Nhơn Trạch bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất.
    Hướng tiến công thứ hai theo đường số 2, đánh chiếm chi khu Đức Thạnh, thị xã Bà Rịa và Vũng Tàu.
    Nhiệm vụ tiếp theo của quân đoàn là tiêu diệt địch phòng ngự ở hữu ngạn sông Đồng Nai, đánh chiếm quận 9, quận 4. Nếu Quân đoàn 4 chưa đột phá được vào nội thành thì phát triển đánh chiếm dinh Độc Lập và quận 1".
    Nhận nhiệm vụ trên giao song có hai vấn đề làm Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 rất băn khoăn. Một là, trên hướng tiến công của quân đoàn, lực lượng phòng ngự của địch còn rất mạnh mà chính diện tiến công rất rộng, chiều sâu đột phá còn rất lớn - gần 100 km mới tới được Sài Gòn.
    Nếu cùng nổ súng vào ngày 27.4 thì nhiều khả năng sẽ không đồng loạt tiến công Sài Gòn cùng các hướng khác được. Muốn vậy cần phải nổ súng sớm hơn, ít nhất là vào 26.4. Vấn đề thứ hai là mục tiêu đánh chiếm dinh Độc Lập, nếu Quân đoàn 2 vào sớm hơn thì có được chiếm không?
    Với tinh thần tích cực, chủ động Thiếu tướng Nguyễn Hữu An đã đề nghị với Bộ Tư lệnh chiến dịch nghiên cứu hai vấn đề trên. Nhận thấy tính hợp lý của vấn đề, Trung tướng Lê Trọng Tấn đã cử sĩ quan tác chiến cấp tốc về Bộ Tư lệnh chiến dịch để thỉnh thị.
    Kết quả, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã đồng ý với các ý kiến của cánh Đông, cho phép cánh Đông được nổ súng sớm hơn 1 ngày so với toàn mặt trận. Đồng thời cũng cho phép đơn vị nào vào trước cũng được đánh chiếm dinh Độc Lập. Và diễn biến các trận đánh sau này cho thấy đó là một quyết định hết sức sáng suốt và hợp lý.

    Binh đoàn thọc sâu chiến dịch - một sản phẩm của tư duy sáng tạo trong nghệ thuật sử dụng lực lượng.

    Tuy thế, không phải chỉ do được nổ súng sớm mà Quân đoàn 2 có "bước tiến thần kỳ" như vậy bởi cho đến tối ngày 29.4.1975, khi các hướng khác đã áp sát nội đô Sài Gòn thì Quân đoàn 2 vẫn bị cầm chân tại cầu Sông Buông do địch đánh sập trước khi rút chạy - cách Sài Gòn hơn 40 km.
    Vậy điều gì đã đem lại sự khác biệt? Đó chính là sự sáng tạo trong tổ chức sử dụng lực lượng.
    Để có thể hoàn thành nhiệm vụ được giao, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã giao nhiệm vụ cho các đơn vị của mình như sau:
    Trên hướng chính, tập trung lực lượng 2 sư đoàn bộ binh 304 (thiếu Trung đoàn 9) và 325 (thiếu Trung đoàn 18) cùng các đơn vị binh chủng thực hành đột phá chọc thủng tuyến phòng ngự ngoại vi của địch.


    Xe tăng QGP đánh chiếm dinh Độc Lập trưa 30.04.1975. Ảnh tư liệu.

    Trong đó, Sư đoàn 304 đảm nhiệm mũi đột kích chủ yếu vào căn cứ Nước Trong, Long Bình và cầu Xa Lộ. Sư đoàn 325 đảm nhiệm hướng đột kích quan trọng vào chi khu Long Thành, Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ và Cát Lái.
    Hướng tiến công thứ hai do Sư đoàn BB 3 đảm nhiệm đột phá vào chi khu Đức Thạnh, thị xã Bà Rịa, Vũng Tàu chặn đường rút ra biển của địch.
    Để thực hiện đánh nhanh vào nội đô, quân đoàn đã tổ chức lực lượng thọc sâu bao gồm Lữ xe tăng thiết giáp 203 (thiếu 2 đại đội của Tiểu đoàn 2) và Trung đoàn bộ binh 66 (sư đoàn 304), một tiểu đoàn pháo binh, một tiểu đoàn công binh, một tiểu đoàn cao xạ 37 ly.
    Lực lượng dự bị chiến dịch là Trung đoàn bộ binh 18 (sư đoàn 325).
    Phương châm hành động là: kết hợp chặt chẽ giữa đột phá chính diện với bao vây, vu hồi, thọc sâu, chia cắt, đánh "nhanh, mạnh, chắc". Hết sức táo bạo, chủ động, kịp thời. Kiên quyết không cho địch chạy thoát bằng bất kỳ cách nào.
    Quá trình phát triển tiến công dám bỏ rơi các lực lượng địch ngăn cản xét thấy không quan trọng để nhanh chóng đánh chiếm mục tiêu chủ yếu (Sách đã dẫn - Tr. 294).
    Chính nhờ việc tổ chức "binh đoàn thọc sâu chiến dịch" đủ mạnh, tận dụng khả năng đột phá và sự cơ động của tăng, thiết giáp cùng với phương châm hành động sát đúng mà Quân đoàn đã đến đích sớm.
    Nửa đêm 29.4, sau khi công binh khắc phục xong cầu Sông Buông, binh đoàn thọc sâu dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tư lệnh Nguyễn Hữu An đã vừa đi, vừa đánh để sáng sớm 30.4 có mặt tại Ngã ba Vũng Tàu và bắt đầu thực hành đột phá dọc xa lộ Sài Gòn.


    Xe tăng QGP đánh chiếm dinh Độc Lập trưa 30.04.1975. Ảnh tư liệu.

    Đập tan sự kháng cự của địch ở cầu Đồng Nai, cầu Rạch Chiếc đồng thời bỏ qua sự ngăn chặn của địch ở Trường Võ bị Thủ Đức, Tăng Nhơn Phú... nhằm thẳng hướng Sài Gòn hành tiến với tốc độ cao nhất nên hơn 9 giờ sáng, phân đội đi đầu của binh đoàn thọc sâu đã tới cầu Sài Gòn.
    Sau trận kịch chiến ở cầu Sài Gòn, những chiếc xe tăng của Lữ đoàn 203 tiếp tục đập tan ổ kháng cự của địch tại cầu Thị Nghè. Đường tới mục tiêu chủ yếu đã rộng thênh thênh. 10h45 ngày 30.4, cánh cổng sắt của dinh Độc Lập đổ xuống sau cú đâm quyết định của xe tăng số 390, cả binh đoàn thọc sâu ào ạt tiến vào như thác lũ.
    Ở xa nhất, chính diện tiến công rộng nhất, chiều sâu đột phá lớn nhất... nhưng Quân đoàn 2 đã đến đích sớm nhất.
    Đó chính là kết quả của tinh thần tích cực chủ động và tư duy sáng tạo trong tổ chức sử dụng lực lượng của Bộ Tư lệnh kết hợp với tinh thần chiến đấu dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ toàn quân đoàn. Sự tích cực, chủ động, sáng tạo ấy được ví như "Cây đũa" mang lại sự thần kỳ.

    Nguồn: http://soha.vn/cu-dam-quyet-dinh-huc...7171917033.htm


    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  7. #105
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,151
    Thích
    323
    Đã được thích 1,857 lần trong 992 bài viết
    TRẬN THỦY CHIẾN CÓ MỘT KHÔNG HAI CỦA BỘ ĐỘI TTG VIỆT NAM



    Tiểu đoàn tăng 557 thuộc Lữ đoàn 950 làm nhiệm vụ bảo vệ đảo Phú Quốc
    Đó là trận đánh "thủy chiến" thực sự của Đại đội Tăng thiết giáp 45 trong đội hình đoàn 232 diễn ra đêm 29.4.1975 trên sông Vàm Cỏ Tây.

    Xe tăng, xe thiết giáp sinh ra vốn chủ yếu dành để tác chiến trên bộ và người ta gần như mặc định coi nó là một bộ phận cấu thành của Lục quân. Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu thực tế nên cũng có một số loại xe tăng, xe thiết giáp có khả năng bơi nước.


    Khả năng này chủ yếu giúp cho chúng có thể vượt các vật cản nước trên đường cơ động chứ thực ra không phải để chúng chiến đấu trên mặt nước. Và trong thực tế sử dụng xe tăng trên thế giới cũng chưa có trận thủy chiến nào của xe tăng.
    Tất nhiên, với vũ khí có trong trang bị của mình, khi gặp tình huống cần thiết nó cũng có thể "thủy chiến" được. Và điều đó đã xảy ra đêm 29.4.1975.

    Từ tầm nhìn chiến lược

    Giữa những năm 60 của thế kỷ trước, khi cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước đang đi vào giai đoạn ác liệt nhất Bộ thống soái tốc cao đã có ý định thành lập lực lượng Tăng thiết giáp của Miền.
    Tuy nhiên, do điều kiện đường sá chưa thông nên Bộ đã quyết định đưa người vào trước, lấy xe địch đánh địch đồng thời nghiên cứu chuẩn bị chiến trường cho tương lai.
    Đến tháng 4 năm 1972, Tiểu đoàn Tăng thiết giáp (TTG) 20 là đơn vị TTG đầu tiên có mặt tại chiến trường Nam Bộ (B2). Tiếp đó, lực lượng TTG trên chiến trường này liên tục được bổ sung hình thành nên Đoàn Thiết giáp M26.
    Xuất phát từ kết quả nghiên cứu chiến trường, nhằm đảm bảo cho TTG hoạt động được rộng khắp trên chiến trường Nam Bộ nên bên cạnh việc đưa một số lượng lớn xe tăng chủ lực lúc đó là T54, T59 vào đây thì cấp trên cũng chỉ đạo đưa vào một số loại TTG có khả năng bơi như K63-85, PT76, BTR50PK, BTR60PB... vào vùng đồng bằng sông Cửu Long.
    Đó chính là tiền đề để thành lập các đơn vị bộ binh cơ giới ở chiến trường này.


    Xe tăng bơi của Bộ đội Giải phóng tiến vào Sài Gòn.

    Ngày 12.8.1974, tiểu đoàn bộ binh cơ giới (BBCG) đầu tiên của B2 được thành lập tại khu rừng Cần Đăng thuộc huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
    Tiểu đoàn gồm 3 đại đội trang bị xe thiết giáp BTR60PB mang các phiên hiệu Đại đội BBCG 42, 43, 44 và 1 đại đội TTG hỗn hợp gồm 3 xe tăng K63-85, 3 xe thiết giáp BTR50PK trong đó có 2 xe lắp pháo cao xạ mang phiên hiệu Đại đội TTG 45.

    Đồng chí Trần Minh Sơn được giao nhiệm vụ làm tiểu đoàn trưởng, đồng chí Lê Quang Khải làm chính trị viên. Tiểu đoàn được Mặt trận giao cho Sư đoàn Bộ binh 5 quản lý chỉ huy.
    Ngay sau khi được thành lập, Tiểu đoàn đã khẩn trương bước vào huấn luyện - trong đó hết sức chú trọng huấn luyện hiệp đồng chiến đấu giữa kíp xe với bộ binh, huấn luyện tác chiến trong điều kiện đồng bằng ngập nước... để chuẩn bị cho nhiệm vụ sắp tới.
    Sau tết Giáp Dần, Tiểu đoàn vừa cơ động, vừa chiến đấu dọc theo biên giới Việt Nam- Căm pu chia. Phối hợp với bộ binh, tiểu đoàn đã tiến công hàng loạt đồn bốt dọc biên giới như: Long Khối, Giăng Boong Boong, Thành Trị, Thái Trị, Mộc Bài, Bến Cầu, Trà Cao...
    Với sự có mặt của TTG nên đánh đến đâu địch bị tiêu diệt hoặc tháo chạy đến đó. Một tuyến biên giới dài mấy chục km từ Bến Cầu, Tây Ninh đến Kiến Phong, Kiến Tường được giải phóng.
    Đến đầu tháng 3 năm 1975, tiểu đoàn đứng chân ở phum Tà - Lốt sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.

    Đến chiến dịch Hồ Chí Minh

    Tháng 3 năm 1975, cuộc Tổng tiến công nổi dậy Mùa Xuân 1975 diễn ra rộng khắp trên toàn miền Nam. Sau đòn điểm huyệt Ban Mê Thuột, phía Việt Nam cộng hòa rút chạy khỏi cao nguyên và lần lượt mất cả quân khu 1, quân khu 2 buộc phải rút về cố thủ phần lãnh thổ còn lại.
    Ngày 14.4.1975, Bộ Thống soái tối cao quyết định mở chiến dịch giải phóng Sài Gòn- Gia Định mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh. Lực lượng tham gia gồm 5 cánh quân sẽ tiến công Sài Gòn- Gia Định theo 5 hướng khác nhau.
    Ngoài 4 cánh quân do 4 quân đoàn chủ lực đảm nhiệm, Bộ quyết định thành lập Đoàn 232 tương đương quân đoàn đảm nhiệm hướng tiến công từ phía tây nam lên, hình thành thế bao vây chặt Sài Gòn, không cho chúng tháo chạy về cố thủ tại địa bàn quân khu 4.
    Để hoàn thành nhiệm vụ, Đoàn 232 tổ chức tiến công theo 2 hướng: Hướng chủ yếu gồm phần lớn lực lượng của binh đoàn đánh qua Đức Hòa, Đức Huệ qua ngả Quang Trung, Phú Lâm vào nội đô.
    Hướng thứ yếu bỏ qua Tuyên Nhơn, Mộc Hóa, tiến dọc sông Vàm Cỏ Tây đánh vào Long An, cắt đứt lộ 4 không cho địch ở Sài Gòn và Cần Thơ ứng cứu lẫn nhau. Mục tiêu chủ yếu của binh đoàn là đánh chiếm dinh Độc Lập, Biệt khu Thủ đô và Tổng nha Cảnh sát.


    Đại tướng Đỗ Bá Tỵ (khi còn làm Tổng tham mưu trưởng QĐNDVN) thăm kho bảo quản xe tăng K63-85. Ảnh: Báo QĐND

    Đối với Tiểu đoàn BBCG, các đại đội 42, 43, 44 được tham gia tiến công trên hướng chủ yếu. Riêng Đại đội TTG45 được giao nhiệm vụ cùng với Sư đoàn BB5 tiến dọc sông Vàm Cỏ Tây tiến đánh Long An và chốt chặt lộ 4 trên hướng thứ yếu của binh đoàn.
    Lúc này, Đại đội TTG45 được tăng cường thêm 2 xe K63-85, nâng số đầu xe lên 10 chiếc cả xe tăng và xe thiết giáp. Đại đội trưởng là đồng chí Bùi Văn Ngự, chính trị viên là đồng chí Nguyễn Văn Ký.

    Trận thủy chiến vô tiền khoáng hậu

    Ngay sau khi nhận nhiệm vụ, Ban chỉ huy đại đội đã nghiên cứu trên bản đồ và xác định đường cơ động như sau:
    "Từ phum Tà Lốt cơ động thẳng tới góc biên giới Mỏ Vẹt gặp kinh Xáng, cơ động dọc kinh Xáng gặp rạch Ba Thằng Minh thì bắt đầu bơi theo rạch này ra sông Vàm Cỏ Tây tại khu vực Trà Cú. Tổng chiều dài đường cơ động khoảng 80 km; trong đó trên bộ khoảng hơn 20 km, bơi nước khoảng gần 60 km".
    Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất chính là quãng đường cơ động trên bộ vì đây là một phần của Đồng Tháp Mười, hoàn toàn không có đường bộ và rất lầy lội. Để cơ động xe tăng, xe thiết giáp sẽ phải cắt đường mà đi theo bản đồ mà thôi và nguy cơ sa lầy là hiện hữu.
    Xuất phát từ đánh giá tình hình như vậy, công tác chuẩn bị được tiến hành hết sức khẩn trương. Ngoài các dụng cụ có sẵn trên xe và 10 ngày lương thực thực phẩm, mỗi xe phải chuẩn bị 2 cây gỗ tự cứu và 2- 3 can nước ngọt dự trữ.
    Chiều ngày 26.4.1975, Đại đội TTG 45 nhận lệnh xuất phát.
    Mặc dù đã lường trước những khó khăn khi phải đưa TTG vượt đồng đất Đồng Tháp Mười song không ai có thể ngờ rằng phải mất trọn 3 ngày đêm vật lộn với bùn lầy, với muỗi đỉa, trải qua hàng trăm lần tự cứu, cứu kéo nhau... Đại đội TTG 45 mới vượt được quãng đường 20 km từ phum Tà Lốt tới rạch Ba Thằng Minh.
    Từ đây, đại đội cho xe xuống rạch để kiểm tra độ kín và bắt đầu bơi. Tối ngày 29.4, Đại đội TTG45 đến Trà Cú và nhập vào dòng Vàm Cỏ Tây bơi xuôi về phía Long An theo kế hoạch.
    Vì đã là ngày 19 âm lịch nên trăng lên muộn, dòng sông mênh mang, mờ mờ ảo ảo song ghe thuyền vẫn ngược xuôi tấp nập. Nhân dân qua lại nhìn xe tăng bơi trên sông đều tỏ ra ngạc nhiên, nhiều chiếc ghe chạy sát lại gần xem xe tăng và chào bộ đội.


    Xe tăng bơi K63-85 lăn bánh qua cổng Dinh Độc Lập trong ngày chiến thắng 30/4.

    Trong dòng tàu thuyền đó xuất hiện một đoàn khá nhiều chiếc ca nô to, cao, hình thù giống nhau, chiếc nào cũng phủ bạt kín mít, tắt đèn tối om chạy xuống phía hạ lưu. Nhân dân ghé vào bảo: "Các chú ơi, địch đấy, sao không bắn!".
    Lúc này, các chiến sĩ xe tăng mới ngớ ra hỏi lại: "Địch đâu?" thì bà con trả lời: "Những chiếc tàu to phủ bạt, không đèn là địch". Thật là may mắn, nếu không có tai mắt nhân dân thì không biết điều gì sẽ xảy ra.
    Sau khi hội ý nhanh, Ban chỉ huy lệnh cho những xe đi đầu phát tín hiệu cho các ca nô dừng lại. Tuy nhiên, bọn địch tỏ ra như không biết và tăng tốc chạy xuôi. Xe tăng nổ súng bắn chỉ thiên, chúng càng chạy nhanh.
    Không thể để chúng chạy thoát, những xe đi đầu được lệnh dùng 12,7 bắn tàu địch. Lúc này, địch cũng dùng đại liên và M79 bắn trả quân ta. Những làn đạn sáng rực đan chéo nhau làm mặt nước sông cũng sôi lên sùng sục.
    Trước sự ngoan cố của địch, chỉ huy đơn vị quyết định dùng pháo phòng không 23mm và 14,5mm diệt chiếc đi đầu. Từng loạt đạn đỏ lừ găm vào tàu địch. Chiếc tàu đi đầu trúng đạn từ từ chìm xuống lòng sông. Đội hình địch rối loạn, trở nên hết sức lộn xộn.
    Lúc này, lực lượng địa phương của ta cũng dùng ghe ập tới phối hợp cùng đánh địch. Trước sức mạnh áp đảo của ta quân địch buộc phải đầu hàng.
    Khi bọn địch còn lại phát tín hiệu đầu hàng, quân ta hướng dẫn cho số ca nô còn lại ghé vào mạn phải sông Vàm Cỏ Tây thuộc địa bàn ấp Tân Đông và ra lệnh tất cả binh lính địch lên bờ.
    Chúng khai nhận đây là 2 giang đoàn thủy quân đóng tại Tuyên Nhơn, lợi dụng trời tối định chuồn ra biển. Chúng thật sự bất ngờ khi gặp đoàn xe tăng của ta đang bơi trên sông nên định trà trộn với ghe thuyền của dân để tẩu thoát nhưng không thành.


    Xe tăng K63-85 (bên trái) trên đường phố Sài Gòn, ngày 30/4/1975.

    Kết quả trận đánh: toàn bộ địch trên chiếc tàu bị bắn chìm đã bị tiêu diệt, trong đó có một tên thiếu tá. Ta bắt sống 170 tên địch, cũng có một tên thiếu tá; thu toàn bộ 19 ca nô chiến đấu với đày đủ trang bị, vũ khí trên đó. Bên ta hy sinh một chiến sĩ.
    Sau khi bàn giao chiến lợi phẩm và tù binh cho địa phương, Đại đội TTG45 lại xuống sông tiếp tục hành quân. Gần trưa 30.4.1975, Đại đội TTG45 đổ bộ lên phía trái chân cầu Long An và ngay lập tức thành lập chốt chặn tại đây để khóa chặt lộ 4 theo nhiệm vụ được giao.
    Trận thủy chiến có một không hai của Đại đội TTG45 đã đi vào lịch sử bộ đội Tăng thiết giáp như một mốc son chói lọi và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá cho các thế hệ sau này - đặc biệt, trong điều kiện ngày nay- khi tác chiến bảo vệ biển đảo đang trở thành vấn đề thời sự nóng bỏng.

    Nguồn: http://soha.vn/tran-thuy-chien-co-mo...0517501747.htm


    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  8. Có 1 người thích bài viết này


  9. #106
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,151
    Thích
    323
    Đã được thích 1,857 lần trong 992 bài viết
    T54 VIỆT NAM ĐỐI ĐẦU M48 MỸ- CHƯA BIẾT MÈO NÀO CẮN MỈU NÀO!



    T-54 - “Xương sống” lực lượng xe tăng Việt Nam.

    Là 2 loại xe tăng chủ lực trên chiến trường miền Nam VN, T-54 và M48 Patton đã có nhiều dịp đọ sức với nhau. Tuy nhiên, đối đầu trực tiếp với nhau thì chỉ có một lần duy nhất.
    Chuyện đó xảy ra tại Ngã tư Bảy Hiền sáng 30.4.1975.
    Thử so sánh M48 Patton với T54
    Ra đời từ đầu những năm 50 thế kỷ XX, xe tăng M48 trở thành xe tăng phổ biến nhất của Mỹ trong mấy thập niên sau đó. Chúng cũng đã được cải tiến nhiều lần và có nhiều phiên bản khác nhau.
    Ngày 9.3.1965, chiếc xe tăng M48A3 của Thuỷ quân lục chiến Mĩ, Tiểu đoàn tăng số 3 cập cảng Đà Nẵng. Đây là chiếc M48 đầu tiên có mặt tại chiến trường Việt Nam. Tiếp đó, một số lượng khá lớn M48 được đưa đến Việt Nam.


    Từ năm 1971, thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", Thiết đoàn chiến xa đầu tiên trang bị M48 của Quân lực Việt Nam cộng hòa (QLVNCH) được thành lập mang phiên hiệu Thiết đoàn 20 thuộc biên chế của Lữ đoàn 1 Thiết kỵ.
    Năm 1973, hai thiết đoàn chiến xa nữa được thành lập mang các phiên hiệu 21, 22 trực thuộc các Lữ đoàn Thiết kỵ 2 và 3. Cho đến cuối chiến tranh QLVNCH có 3 Thiết đoàn chiến xa trang bị M48 với tổng số 162 xe. Tất cả M48 ở Việt Nam đều là M48A3- mẫu xe hiện đại nhất thập kỷ 60.
    Nhìn chung, về tính năng kỹ thuật của M48 thuộc loại tương đối hiện đại và tiện dụng. Vì vậy, nó thuộc loại xe tăng phổ biến nhất do Mỹ chế tạo. Đã có gần 12.000 xe tăng M48 được sản xuất và sử dụng trong quân đội của 11 quốc gia.
    Còn T54 cũng là loại xe tăng phổ biến nhất do Liên Xô chế tạo trong các thập kỷ 50-60 thế kỷ XX. T-54 du nhập về Việt Nam đầu những năm 60 song thực tế đầu năm 1971 mới tham gia trận đánh đầu tiên trong chiến dịch phản công Đường Chín - Nam Lào.

    Mô hình xe tăng T-54 và M48.

    Trong cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1972, T-54 và M48A3 đã có dịp đọ sức với nhau trên chiến trường Quảng Trị. Tuy nhiên, phần thắng không nghiêng hẳn về bên nào. Ngày 09.4.1972, với chiến thuật "Trâu Rừng" M48 đã bắn hạ khá nhiều T-54.
    Song đến 27.4.1972, đến lượt hàng chục M48 bị T-54 bắn hạ, trong đó riêng Đại đội trưởng Nguyễn Văn Thái đã diệt được 5 chiếc ở Tây Đông Hà.
    Thử so sánh một số tính năng kỹ, chiến thuật giữa M48A3 với T-54:


    So sánh thông số kỹ thuật giữa xe tăng M-48A3 và xe tăng T-54

    Nhìn chung, cả về trọng lượng, kích thước, công suất động cơ và công suất riêng... thì M48A3 hơn hẳn so với T-54. T-54 chỉ có một điểm trội hơn là cỡ pháo lớn hơn (100 mm so với 90 mm). Nói một cách hình tượng, khi xếp T-54 bên cạnh M48 thì nhìn cứ như một chú thiếu niên đứng cạnh một người trưởng thành, chỉ được mỗi cái nòng pháo to và dài hơn thôi!
    Tuy nhiên, khi đối đầu trực tiếp với nhau thì không phải cứ to hơn, nặng hơn mà thắng!

    Đừng cười "châu chấu đá xe..."

    Dân gian có câu: "Đừng cười châu chấu đá xe; Tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng" để nói về trường hợp đối đầu không cân sức. Thực ra, trong những trường hợp đó thắng bại không chỉ nghiêng về phía bên nào có thế lực mạnh hơn.
    Sáng sớm 30.4.1975, Đại đội XT 1, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn xe tăng 273 cùng với bộ binh thực hành tiến công từ khu vực Ngã ba Bà Quẹo vào sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng Tham mưu. Trung đội XT 1 gồm 4 xe tăng T54 do đại đội trưởng Nguyễn Văn Tư trực tiếp chỉ huy dẫn đầu đội hình.
    Bộ

    Bộ đội xe tăng huấn luyện chiến đấu.

    Đường phố vắng lặng một cách bí ẩn. Với những kinh nghiệm chiến đấu phong phú thu lượm được từ trận đánh Buôn Mê Thuột ngày 10.3 về đến đây, đại đội trưởng Tư cho các xe đi theo đội hình zic- zắc, xe cách xe chừng 50 mét thận trọng tiến lên.
    Lúc 6h30, đội hình chiến đấu đã đến Ngã tư Bảy Hiền. Quan sát không thấy có dấu hiệu gì nguy hiểm, đại đội trưởng Tư cho xe rẽ trái về hướng Lăng Cha Cả. Đột nhiên, từ ngách phố bên kia 2 chiếc M48 bất ngờ xuất hiện và bắn vào sườn xe của anh. Sau khi bắn xong chúng lại lui về mất dạng.
    Như vậy, lợi dụng địa hình và các khối nhà ở xung quanh ngã tư làm vật che khuất, phía Việt Nam cộng hòa đã sử dụng xe tăng phục kích ở đây và tất cả những phương tiện qua lại ngã tư sẽ trở thành miếng mồi ngon cho chúng.
    Tình thế bây giờ thật nguy hiểm! Nếu không diệt được 2 chiếc M48 này thì khó mà vượt qua được ngã tư. Tuy nhiên, có cái khó là chúng nấp kín trong các ngõ ngách bên kia ngã tư nên các xe tăng của Quân giải phóng không quan sát được.
    Quan sát đánh giá tình hình, Mai Văn Hoạt - Trưởng xe 985 xác định xe địch phục kích ở hướng bệnh viện Vì Dân (nay là bệnh viện Thống Nhất). Vì vậy, anh lên đài vô tuyến điện đề nghị 2 xe sau yểm hộ, còn anh sẽ lợi dụng khối nhà bên phải làm vậtche khuất, đến ngã tư sẽ bất ngờ rẽ phải để diệt địch.


    Xe 985 lập công xuất sắc và được đưa về trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam. Ảnh Nguyễn Xuân Thắng.

    Theo lệnh của trưởng xe, lái xe Phùng Văn Tính cho xe bám sát khối nhà bên phải thận trọng tiến về ngã tư. Vừa chớm đến ngã tư, Tính kéo cần lái sang phải. Đúng lúc đó, một phát đạn đã bắn trúng đầu xe 985 làm hỏng pháo. Một chiếc M48 nữa nhô ra như muốn nuốt sống chiếc T-54 nhỏ bé này.
    Vẫn không thấy pháo xe mình bắn (sau này mới biết pháo đã bị hỏng), trưởng xe Hoạt hét lên trong bộ đàm: "Tăng tốc độ, lao thẳng vào nó!". Ngay lập tức, lái xe Phùng Văn Tính kéo lên số và tăng chân dầu. Xe 985 vọt lên nhằm thẳng đầu chiếc M48 lao tới.
    Có lẽ không thể ngờ được tình huống này, chiếc M48 giật mình lùi lại. Cả khối thép đồ sộ của nó lùi vào mặt tiền một ngôi nhà. Căn nhà đổ ụp xuống, cả đống gạch vữa trùm lên xe. Mấy tên lính trong xe chui qua cửa an toàn chạy mất.
    Chiếc thứ hai thấy vậy cũng quay đầu tăng tốc độ chạy về hướng nội thành. Các xe phía sau ào lên chiếm được ngã tư, mở đường cho đại quân tiến về sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng Tham mưu VNCH.
    Sau trận đối đầu này, có người hỏi Tính: "Tại sao lúc ấy anh lại làm như thế?". Tính chỉ cười hiền lành: "Pháo đã hỏng rồi. Mình mà không húc nó thì nó bắn mình thôi!".
    Cùng với những chiến công từ trận đánh Ban Mê Thuột, kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh xe 985 được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất. Trong những trận đánh bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế, xe 985 lại lập công xuất sắc và được đưa về trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam.
    Phùng Văn Tính và các thành viên kíp xe dũng cảm đó cũng được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng các loại.
    Thế mới biết, trong những cuộc đối đầu như vậy- dẫu có to khỏe nhưng chưa chắc đã giành phần thắng!

    Nguồn: http://soha.vn/dung-cuoi-chau-chau-d...9205524921.htm

    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  10. Có 1 người thích bài viết này


Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 3 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 3 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •