CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 10 của 11 Đầu tiênĐầu tiên ... 891011 CuốiCuối
Kết quả 91 đến 100 của 106

Chủ đề: Ngày này năm ấy!

  1. #91
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,154
    Thích
    328
    Đã được thích 1,863 lần trong 994 bài viết
    CHIẾN DỊCH ĐÀ NẴNG: BỘ TƯ LỆNH CHƯA HỌP LẦN NÀO ĐÃ KẾT THÚC THẮNG LỢI



    Quân Giải phóng tiến vào Đà Nẵng ngày 29/3/1975.

    Thời cơ đến, Bộ Tư lệnh (BTL) Chiến dịch Quảng Đà với mục tiêu chủ yếu là giải phóng Đà Nẵng đã được thành lập. Tuy nhiên, BTL chưa họp được lần nào thì chiến dịch đã hoàn thành.


    Sau khi trúng đòn điểm huyệt hiểm hóc ở Buôn Mê Thuột, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu choáng váng ra lệnh triệt thoái Cao Nguyên.
    Nhận thấy đây là thời cơ có một không hai để tiêu diệt địch quân trên địa bàn Quân khu 1 mà trọng điểm là Đà Nẵng, Bộ thống soái tối cao đã quyết định thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch Quảng Đà với mục tiêu chủ yếu là giải phóng Đà Nẵng. Tuy nhiên, Bộ Tư lệnh chưa cần họp mặt trực tiếp lần nào thì chiến dịch đã hoàn thành.
    Vào thời điểm đầu năm 1975, Đà Nẵng là thành phố lớn thứ hai của miền Nam Việt Nam với dân số gần một triệu người.
    Đây không chỉ là trung tâm kinh tế - chính trị của vùng I (Quân khu I - Quân lực Việt Nam Cộng hoà) mà còn là căn cứ quân sự liên hợp hải - lục - không quân lớn nhất miền Nam.


    Đà Nẵng, thành phố lớn thứ 2 ở miền Nam đã thất thủ ngày 29/3, kéo theo cảnh tượng hỗn loạn khi binh lính VNCH tìm cách tháo chạy khỏi nơi đây. Ảnh tư liệu.

    Tại đây có tới 4 cảng lớn trong đó có cảng Sơn Trà là cảng nước sâu hiện đại; các sân bay quốc tế Đà Nẵng và Nước Mặn; hệ thống kho tàng có sức chứa hàng chục vạn tấn bom đạn, vũ khí, phương tiện chiến tranh, quân trang quân dụng, xăng dầu, lương thực, thực phẩm.
    Ngoài ra, còn có căn cứ radar đa chức năng đặt tại Sơn Trà do quân đoàn 3 dã chiến (3rdMAF) của Hoa Kỳ quản lý trước đây và bàn giao lại cho Quân lực Việt Nam Cộng hoà sau Hiệp định Pari.
    Về lực lượng phòng thủ xung quanh Đà Nẵng sau chiến dịch Trị Thiên và chiến dịch Nam Ngãi cũng còn rất hùng hậu, bao gồm:
    "Sư đoàn 3 bộ binh (BB), Sư đoàn 1 Thủy quân lục chiến (TQLC), các lực lượng còn lại của Sư đoàn 1 BB, các Liên đoàn 11, 12, 14, 15 Biệt động quân; các Thiết đoàn 11 và 20; 12 tiểu đoàn pháo; 1 Sư đoàn Không quân; 15 tiểu đoàn Bảo an và một lực lượng lớn của Hải quân cùng cảnh sát, dân vệ... Tổng quân số lên đến 75.000 quân".
    Đánh giá chung, lực lượng phòng thủ Đà Nẵng còn rất mạnh. Chính vì vậy, tướng Ngô Quang Trưởng - Tư lệnh Quân khu 1 VNCH đã hô hào "tử thủ" và huyênh hoang tuyên bố: "Phải bước qua xác Trưởng mới vào được Đà Nẵng".
    Quyết tâm chính xác và táo bạo của Bộ thống soái tối cao

    Mặc dù vậy, trên cơ sở phân tích các tình huống và phán đoán khả năng thực tế của địch trong thời điểm đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bí thư Quân ủy trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng đã nhận định:
    "Địch kêu gọi tử thủ, nhưng tình hình có thể diễn biến đột ngột, khả năng địch rút vẫn tồn tại. Vậy phải có phương án đánh thật nhanh, thực hiện đúng phương châm khẩn trương, táo bạo, bất ngờ(1)".


    Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

    Với nhận định đó, ngày 26-3-1975, tướng Giáp Văn Cương được Bộ Tổng Tư lệnh cử vào Đà Nẵng để chuẩn bị chiến trường.
    Đồng thời, tại Hà Nội Bộ Tổng Tư lệnh triệu tập cuộc họp gồm các tướng Lê Trọng Tấn – Phó Tổng Tham mưu trưởng, Cao Văn Khánh - Phó Tổng tham mưu trưởng, Nguyễn Bá Phát - Tư lệnh Hải quân, Phan Bình - Cục trưởng Cục Quân báo, Lê Hữu Đức - Cục trưởng Cục Tác chiến và một số tướng lĩnh khác bàn kế hoạch tiến công Đà Nẵng (1) .
    Ngay sau cuộc họp này, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch Quảng - Đà do Trung tướng Lê Trọng Tấn - Phó Tổng tham mưu trưởng trực tiếp làm Tư lệnh, Thiếu tướng Chu Huy Mân - Tư lệnh Quân khu 5 làm chính ủy.
    Lực lượng trong tay Bộ Tư lệnh chiến dịch bao gồm toàn bộ lực lượng của Quân khu Trị - Thiên, Quân đoàn 2 và Quân khu 5. Nếu cần thiết có thể được sử dụng cả Quân đoàn 1.
    Nhân danh Bí thư Quân ủy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị:
    "Chiến tranh đã chuyển sang giai đoạn phát triển nhảy vọt. Bố trí của địch ở Đà Nẵng tuy chưa đảo lộn, mặc dù chúng kêu gọi tử thủ, nhưng tinh thần quân lính đang suy sụp, cần nắm vững phương châm táo bạo, bất ngờ, kịp thời, chắc thắng, khẩn trương tiến công bao vây tiêu diệt địch, khống chế sân bay, hải cảng, chú ý làm tốt việc tiếp quản thành phố một triệu dân này, thực hiện tốt chính sách tù, hàng binh và chính sách chiến lợi phẩm. Nhanh chóng tổ chức tăng cường lực lượng phát triển vào phía Nam…".
    Nội dung mệnh lệnh thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch và chỉ thị trên cũng được điện cho Bộ Tư lệnh Quân khu 5 lúc đó đang ở Quảng Ngãi.
    Nhận nhiệm vụ xong, Trung tướng Lê Trọng Tấn cùng một số sĩ quan dùng máy bay trực thăng bay vào Gio Linh (Quảng Trị). Từ đó cơ động bằng ô tô theo đường Đông Trường Sơn vào Sở chỉ huy của Quân đoàn 2 đang đóng tại khu vực Động Truồi (Tây Bắc Đà Nẵng) và thiết lập Sở chỉ huy chiến dịch ở đó.


    Quân Giải phóng tiến vào Đà Nẵng ngày 29.03.1975. Ảnh tư liệu.

    Những bức điện nối hai đầu chiến dịch

    Vào thời điểm tướng Lê Trọng Tấn thiết lập Sở chỉ huy ở Tây Bắc Đà Nẵng thì Chính ủy Chu Huy Mân đang ở Quảng Ngãi cách đó mấy trăm km. Trong điều kiện chiến trường thì khoảng cách ấy là quá lớn nên không thể triệu tập họp Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch được.
    Trong khi đó thì thời gian đã quá gấp gáp, phải chạy đua từng phút từng giờ vì diễn biến tình hình rất nhanh. Thời cơ chỉ xuất hiện một lần, nếu không nắm bắt được sẽ phải gánh chịu những hậu quả nặng nề và phải trả bằng xương máu chiến sĩ.
    Vì vậy, hai vị Tư lệnh và Chính ủy chiến dịch phải trao đổi ý kiến với nhau qua điện đài, đồng thời chỉ đạo việc triển khai công tác chuẩn bị cho chiến dịch cũng được tiến hành trên làn sóng vô tuyến điện là chủ yếu, trong đó có cả những bức điện được gửi đi trên đường cơ động.


    Đại tướng Lê Trọng Tấn. Ảnh: Zing.vn

    Ngày 26.3.1975, trên đường cơ động từ Gio Linh vào Sở chỉ huy, tướng Lê Trọng Tấn đã gửi bức điện đầu tiên cho tướng Chu Huy Mân:
    "Đánh Đà Nẵng nên:
    - Hướng An (Quận đoàn 2) sẽ tiến công phía bắc và tây bắc theo đường số 1 qua đường 14.
    - 711(Sư đoàn BB 304) từ tây nam lên, trước mắt diệt Lữ 369.
    Đề nghị anh chuẩn bị cho Sư 2 và Lữ 52 đánh theo đường số 1 về Mỹ Khê (đông Đà Nẵng) bịt đường rút lui bằng đường thuỷ của địch".


    Đại tướng Chu Huy Mân.

    Điện trả lời của tướng Chu Huy Mân viết:
    "1. Nhất trí với ý định của "cậu Vũ". (Bộ Tổng Tư lệnh)
    2. Chúng tôi đã chuẩn bị cho Sư 2 và Lữ 52 tiến công từ hướng nam ra, đánh chủ yếu theo hướng núi Quế ra Vĩnh Điện, cánh thứ yếu theo đường Đèo Le qua núi Mạc ra đường 100 để phối hợp với lực lượng "cậu Vũ" từ ngoài đánh vào tiêu diệt địch ở Đà Nẵng.
    3. Đang tích cực chuẩn bị, chậm nhất là 29-3 có một trận địa pháo có thể bắn vào núi Quế".
    Ngày hôm sau, 27-3, tướng Lê Trọng Tấn điện cho tướng Chu Huy Mân:
    "Phúc đáp điện số 320 hồi 16 giờ của anh.
    1. Hoàn toàn đồng ý về hướng tiến công, mục tiêu tiến công của Sư 2 và Lữ 52.
    2. Lực lượng của An và một số sư của Hoà (Quân đoàn 1) tiến công theo hai trục:
    - Mũi thứ nhất theo đường 14, Mũi Trâu, Lệ Mỹ vào sân bay chính.
    - Mũi thứ hai từ Lăng Cô đến Hải Vân, Liên Chiểu, Nam Ô. Đồng thời có đánh từ Lộc Mỹ lên đỉnh đèo Hải Vân diệt Lữ 258.
    3. Lực lượng của 711 (Sư đoàn BB 304) tiến công Trung đoàn 57 ở Đại Lộc và vòng đằng sau Lữ 369.
    4. Pháo binh triển khai được một trận địa ở Mũi Trâu bắn vào sân bay chính, cảng Sơn Trà và tàu biển. Đề nghị cho triển khai nhanh một trận địa pháo nòng dài bắn vào sân bay Nước Mặn, nếu có pháo 85 càng tốt để đánh tàu biển bốc quân ở Mỹ Khê".(1)



    Sau một số cuộc điện đài qua lại giữa Tư lệnh và Chính ủy, thế trận bao vây như "thiên la địa võng" đã được giăng lên xung quanh Đà Nẵng chỉ chờ giờ G là chụp xuống:
    Hướng bắc, Bộ Tư lệnh QĐ 2 sử dụng Sư đoàn 325 (thiếu Trung đoàn 95) được tăng cường thêm một tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn pháo binh theo đường số 1 đánh chiếm Sở chỉ huy QĐ 1 - QK 1, Sở chỉ huy Sư đoàn 1 không quân địch ở sân bay Đà Nẵng; sau đó, phát triển tiến công đánh chiếm bán đảo Sơn Trà.
    Hướng này do Đại tá Hoàng Đan - Phó Tư lệnh Quân đoàn trực tiếp chỉ huy.
    Hướng tây bắc do Trung đoàn 9 (Sư đoàn 304) được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn cao xạ 37 và 57 mm (của Sư đoàn 673), 1 tiểu đoàn công binh đảm nhiệm, theo trục đường 14 (cũ) đánh chiếm Sở chỉ huy Sư đoàn 3 bộ binh ở Phước Tường.
    Sau đó, phối hợp với các đơn vị đánh chiếm sân bay Đà Nẵng và các mục tiêu khác trong thành phố. Hướng này do Thiếu tướng Nguyễn Hữu An - Tư lệnh quân đoàn trực tiếp chỉ huy.
    Hướng nam và đông nam do Sư đoàn 2 - Quân khu 5 được tăng cường 2 trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn tăng - thiết giáp, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn cao xạ 37 mm, 1 phân đội tên lửa B72. Lữ đoàn 52 lúc này đang ở Quảng Ngãi chưa kịp cơ động ra được Quân khu sử dụng làm lực lượng dự bị chiến dịch.
    Nhiệm vụ cụ thể của các đơn vị như sau: Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 cùng các lực lượng tăng theo trục đường 1 đánh vào sân bay Đà Nẵng và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 sau đó phát triển tiến công vào nội đô thành phố.
    Trung đoàn 31 và 36, theo trục đường sắt đánh vào Đà Nẵng. Trung đoàn 3 làm lực lượng dự bị của sư đoàn. Hướng này do Đại tá Nguyễn Chơn - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 chỉ huy.
    Cùng với các hướng trên, Sư đoàn 304 - Quân đoàn 2 (thiếu Trung đoàn 9) đang phòng ngự ở Thượng Đức được giao nhiệm vụ tiến công vào Đà Nẵng từ phía tây nam, diệt Lữ đoàn 369 thủy quân lục chiến ở khu vực Ái Nghĩa; sau đó, phát triển tiến công đánh chiếm sân bay, căn cứ Nước Mặn.
    Phối hợp với bộ đội chủ lực có lực lượng vũ trang địa phương hai tỉnh Quảng Đà và Quảng Nam. Trung đoàn 96 làm nhiệm vụ đánh chiếm thị trấn Duy Xuyên, thị trấn Nam Phước sau đó cùng với Sư đoàn 2 hình thành mũi thọc sâu đánh chiếm cầu Trịnh Minh Thế, căn cứ Du Hải.
    Trung đoàn 97 đánh địch tại thị xã Hội An, sau đó phối hợp với Sư đoàn 1 tiến công căn cứ, sân bay Nước Mặn, bán đảo Sơn Trà. Các đơn vị khác tiến công địch tại các chi khu, quận lỵ, các phân chi khu ở Đại Lộc, Hòa Vang, hỗ trợ nhân dân các địa phương nổi dậy giành quyền làm chủ.


    Từ ngày 28/3, binh sĩ Sài Gòn đã tập trung dọc bãi biển Đà Nẵng và tìm cách bơi ra các tàu thuyền trước khi quân đội Giải phóng tiến vào thành phố. Ảnh tư liệu.

    Với thế trận như trên QGP đã tạo một áp lực vô cùng lớn lên lực lượng đồn trú và phòng thủ Đà Nẵng. Từ quan đến lính đều dao động, mất tinh thần. Bản thân tướng Ngô Quang Trưởng cũng muối mặt nuốt lời thề "tử thủ" để chạy ra tàu biển rút chạy.
    Sĩ quan cấp dưới và binh lính cầm cự chiếu lệ rồi tan rã hàng loạt. Chiến dịch Quảng - Đà nhanh chóng giành thắng lợi. Ngày 29.3.1975, Đà Nẵng được giải phóng. Quân khu 1 và Quân đoàn 1 Quân lực VNCH chính thức bị xóa sổ, để lại những hậu quả vô cùng lớn cho chính quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu sau này.
    Tuy nhiên, rất nhiều người không biết rằng những chỉ huy cao nhất Bộ Tư lệnh chiến dịch này chưa hề gặp nhau bao giờ mà chỉ trao đổi qua vô tuyến điện.

    (1) - Theo Tổng hành dinh trong Mùa xuân toàn thắng - Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - NXB QĐND.

    Nguồn: http://soha.vn/giai-phong-da-nang-bo...7144001262.htm


    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  2. Có 1 người thích bài viết này


  3. #92
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,154
    Thích
    328
    Đã được thích 1,863 lần trong 994 bài viết
    BÀ HUYỆN THANH QUAN LÀM BINH VẬN CÙNG LÍNH XE TĂNG- CHUYỆN CHỈ CÓ Ở VIỆT NAM



    Lính TQLC
    (VNCH) tập trung ở bờ biển và bơi ra phía tàu để rời khỏi Đà Nẵng ngày 29/3/1975, trước khi Quân Giải phóng tiến vào.
    Có lẽ khi viết bài thơ "Qua đèo Ngang", tác giải của nó cũng không thể ngờ có ngày tác phẩm của mình lại có lúc được Bộ đội xe tăng dùng vào công tác "binh vận".


    Sau 2 ngày chốt giữ ở quanh Thương cảng Bạch Đằng, ngày 31.3.1975 - Đại đội xe tăng (XT) 4, Lữ đoàn 203 được lệnh lui về khu vực Bảo tàng cổ vật Chăm và Trường Trung học Sao Mai. Mỗi trung đội nằm trong một hẻm nhỏ bên cạnh hàng rào bảo tàng và nhà trường.
    Nằm ở đây kín đáo hơn song cũng vẫn có thể hoàn thành nhiệm vụ bởi việc cơ động đi các hướng rất dễ dàng, thuận lợi.
    Những người dân lao động ở đâu cũng thuần phác và dễ gần

    Trung đội xe tăng 1 do trung đội trưởng Mai Hồng Trị chỉ huy nằm trong một hẻm nhỏ phía bên phải Bảo tàng Cổ vật Chăm. Có vẻ như đây là một khu dân cư tạm thời bởi những người dân ở dưới quê chạy trốn bom đạn lên thành phố thì phải bởi nó khá là tạm bợ.

    Toàn bộ nhà cửa ở đây là những ngôi nhà lợp tôn thấp bé, còn tường quây xung quanh thì chủ yếu là gỗ dán và đủ các thứ trên đời.
    Không giống như trên phố nhà nhà cửa đóng then cài, kín cổng cao tường suốt ngày, người thì đầy vẻ kín đáo và nghi kỵ... những ngôi nhà trong hẻm nhỏ này thường mở cửa suốt ngày và bà con cũng rất thân thiện, dễ gần.
    Dưới cái nắng gay gắt của mùa khô Đà Nẵng, thấy các anh bộ đội giải phóng vẫn đứng gác nghiêm túc cạnh xe, số còn lại vẫn sinh hoạt trong xe... bà con có vẻ thương lắm. Sau một đỗi rụt rè, nhà nào nhà nấy đều cho người ra mời các anh giải phóng vào nhà nghỉ ngơi cho đỡ nắng.
    Thấy thái độ chân thành, chất phác của bà con, Ban chỉ huy đại đội hội ý và cho phép bộ đội ban ngày thì được vào nhà dân nghỉ ngơi, uống nước; còn ban đêm vẫn phải ra ngủ ngoài xe. Tất nhiên, việc canh gác vẫn phải duy trì thường xuyên, nghiêm ngặt.
    Được lời như cởi tấm lòng, các chiến sĩ trẻ đang mệt lử, lả người sau những ngày hành quân, chiến đấu liên miên, lại chịu cái nắng nóng như nung người của thành phố vui mừng ra mặt. Họ vào nhà và không quên đem theo một vài bánh lương khô làm quà. Sự e dè xa cách nhanh chóng được gạt bỏ và những câu chuyện cũng dần cởi mở hơn.
    Nói chuyện với bà con mới biết hầu hết bà con trong hẻm này là người ở vùng Quế Sơn, Đại Lộc (Quảng Nam). Vì ở quê bom đạn ác liệt quá, nhà nào cũng có người thân bị chết nên phải bỏ quê chạy lên thành phố.
    Xa ruộng vườn lên đây họ làm đủ thứ để mưu sinh, từ nhặt ve chai đến bán hàng rong rồi phụ hồ, rửa bát... có ai thuê gì là làm tất. Tuy vậy, cuộc sống của họ vẫn rất khó khăn và họ chỉ mong sớm yên hàn để về quê cha đất tổ mà thôi.

    Buổi bình thơ ngoài kế hoạch và hiệu quả nhãn tiền


    Trong ngôi nhà đối diện với nơi xe 380 đỗ có hai ông bà già, một cô con gái và hai thanh niên khoảng gần ba mươi tuổi. Cô gái là con của ông bà chủ và đang học trung học, còn hai thanh niên được ông chủ cho biết là hai người cháu, hiện đang là thợ điện.

    Mặc dù các anh bộ đội còn rất trẻ song họ cứ gọi họ là các anh Giải phóng và xưng em ngọt xớt. Trong những câu chuyện còn khá dè dặt, họ hỏi rất nhiều về miền Bắc, về Mặt trận giải phóng, về cách đối xử của chế độ mới với những người sống dưới chế độ cũ và các chiến sĩ đã giải thích cho họ những vấn đề cần thiết một cách ngắn gọn, dễ hiểu nhất.
    Khi đã tự nhiên hơn, các câu chuyện của họ đã mở rộng ra nhiều đề tài khác nhau. Hai thanh niên hỏi các anh giải phóng đánh vào Đà Nẵng bằng đường nào, và khi biết họ đưa xe tăng vượt đèo Hải Vân để giải phóng Đà Nẵng họ phục lắm.

    Các lực lượng Quân Giải phóng gặp nhau tại trung tâm thành phố. Ảnh: Danang.gov.vn

    Bởi vì hồi đó đường qua đèo Hải Vân chưa mở rộng như bây giờ và nó vẫn là nỗi ám ảnh cho những ai có việc phải đi qua nó bằng đường bộ, trong khi những chiếc xe tăng lại nặng nề và to lớn thế kia.
    Thực ra, đối với đội ngũ lái xe của Đại đội xe tăng 4 này- những lái xe đã đưa được xe tăng vượt Trường Sơn vào chiến trường miền Nam thì việc lái xe tăng qua đèo Hải Vân chỉ là chuyện vặt.
    Mặc dù đèo có cao, vực có sâu, nhiều cua gấp song đường lại rộng, mặt đường láng nhựa tốt bằng vạn đường Trường Sơn, nếu nói về độ hiểm trở còn thua cả Đèo Ngang.
    Nhắc đến Đèo Ngang một chiến sĩ trẻ bỗng cao hứng đọc luôn bài thơ Qua Đèo Ngang của bà huyện Thanh Quan, sau đó anh còn bình luận thêm vài câu nữa cả về nội dung lẫn nghệ thuật và niêm, luật của bài thơ.
    Hai thanh niên chăm chú ngồi nghe thơ và bình thơ. Họ tỏ vẻ rất ngạc nhiên, sau đó một người dè dặt hỏi: "Chắc trước khi vào lính anh đã học qua văn khoa?". Cậu chiến sĩ trẻ đỏ bừng mặt thú nhận mới học hết phổ thông trung học.
    Tuy nhiên, hai người thanh niên nọ không tin. Họ quả quyết rằng phải học qua Văn Khoa mới có thể bình thơ như thế được. Cô gái học sinh trung học cũng góp phần phụ họa với hai ông anh làm cậu chiến sĩ trẻ không thể chen lời vào giải thích được.
    Sự việc chỉ được giải quyết khi đồng chí trưởng xe- người lớn tuổi nhất trong xe lên tiếng xác nhận cho chiến sĩ của mình.
    Sự việc cũng chẳng có gì đáng kể nếu như không có việc sau bữa cơm trưa hôm đó hai thanh niên ra xe mời các chiến sĩ vào nhà uống nước. So với trước đó họ có một vẻ gì đó rất trịnh trọng làm cả xe ngạc nhiên và cảnh giác, nghe ngóng. Nhưng đúng là không có việc gì quá nghiêm trọng cả!
    Sau khi mời các chiến sĩ ngồi uống nước, một trong hai thanh niên đứng dậy, hai tay chắp trước bụng nói khẽ khàng:
    "Thưa các anh Giải phóng, từ hôm qua đến nay chúng em đã nói dối các anh. Chúng em không phải là thợ điện mà là thợ máy không quân Sài Gòn, cả hai đều đã đi tu nghiệp ở Mỹ về và làm việc ở sân bay Đà Nẵng.
    Từ hôm giải phóng về chúng em lánh tạm nhà bà con ở đây, cũng định nghe ngóng xem tình hình thế nào rồi mới tính tiếp. Rất mong các anh đừng bắt tội!".
    Các chiến sĩ trẻ đều hơi ngỡ ngàng vì từ hôm qua tới nay ra vào uống nước, nói chuyện mà có ai nghi ngờ điều gì đâu. Một lần nữa họ nhắc lại "Lời kêu gọi của Mặt trận Giải phóng" và khuyên họ đến Uỷ ban quân quản trình diện, họ hứa sẽ nghe theo và thu xếp đi ngay.


    Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ tại cuộc Meeting mừng giải phóng Quảng Nam – Đà Nẵng, tại Đà Nẵng 1975. Ảnh tư liệu.

    Sự việc diễn ra quá nhanh làm mấy anh em trong xe cứ bàn tán và đặt câu hỏi "Tại sao đến hôm nay họ mới ra trình diện?".
    Mỗi người một ý nhưng có lẽ tất cả đều thống nhất với nhau rằng: hai người lính ấy đã tin rằng những người lính cách mạng - mà trong hành trang khi ra trận lại có cả thơ của Bà huyện Thanh Quan chắc chắn sẽ không bao giờ làm hại họ.

    Nguồn: http://soha.vn/ba-huyen-thanh-quan-l...0170356246.htm


    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  4. Có 1 người thích bài viết này


  5. #93
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,154
    Thích
    328
    Đã được thích 1,863 lần trong 994 bài viết
    BỘ ĐỘI GIẢI PHÓNG NHIỀU TƯỚNG THẾ LÀM GÌ CHẢ THẮNG



    Ngày 29/3/1975, sau 22 giờ tiến công thần tốc và dũng mãnh, quân ta đã giải phóng hoàn toàn Đà Nẵng. (Ảnh: Tư liệu TTXVN).
    Đã khoác lên mình bộ quần áo màu xanh của anh bộ đội, chắc chắn bất kỳ người lính nào cũng muốn được chỉnh tề trong bộ quân phục cùng với quân hàm, quân hiệu sáng ngời.

    Tuy nhiên, cái ước mơ tưởng như đơn giản ấy lại không hề dễ dàng đối với người lính thời chiến.

    Những đôi quân hàm thời chiến

    Để phân biệt cấp bậc, vị trí của mỗi người trong quân đội hầu hết các nước trên thế giới đều có hệ thống Quân hàm. Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) cũng không ngoại lệ. Hệ thống quân hàm của QĐNDVN thường có 17-18 bậc (tùy theo từng giai đoạn). Cụ thể:
    Cấp binh sỹ có 2 bậc: Binh nhì và binh nhất
    Cấp Hạ sĩ quan có 3 bậc: Hạ sĩ, Trung sĩ, Thượng sĩ.
    Sĩ quan cấp úy có 4 (5) bậc: Thiếu úy, trung úy, thượng úy, đại úy. Có giai đoạn có bậc chuẩn úy.
    Sĩ quan cấp tá có 4 (3) bậc: Thiếu tá, trung tá, thượng tá, đại tá. Có giai đoạn không có cấp thượng tá.
    Sĩ quan cấp tướng có 4 bậc: Thiếu tướng, trung tướng, thượng tướng, đại tướng.

    Các cấp bậc này thường phù hợp với chức vụ mà quân nhân đó đang giữ hoặc niên hạn mà quân nhân đó phục vụ trong quân đội. Để thể hiện cấp bậc và quân binh chủng, chuyên môn nghiệp vụ của mỗi người trên quân phục của quân nhân sẽ được mang cấp hiệu và phù hiệu binh chủng.
    Cấp hiệu đeo trên vai áo với số lượng sao và gạch khác nhau tùy theo cấp bậc. Phù hiệu binh chủng là một miếng nỉ, của lục quân là màu đỏ, không quân màu xanh da trời, hải quân màu xanh nước biển thẫm, biên phòng màu xanh lá cây trên có gắn hình biểu tượng binh chủng hoặc chuyên môn nghiệp vụ và đeo ở ve áo.
    Trường hợp mang phù cấp hiệu kết hợp thì gắn cả sao, vạch và biểu tượng binh chủng trên miếng nỉ và đeo ở ve áo. Tuy nhiên, bộ đội ta thì cứ quen gọi cái cặp phù cấp hiệu này là quân hàm.
    Nhìn chung, ngoài tác dụng phân biệt cấp bậc thì quân hàm còn làm tăng thêm vẻ đẹp và sự oai nghiêm của bộ quân phục. Đặc biệt là quân hàm gắn trên các bộ đại lễ của quân nhân nhiều nước được chế tác rất cầu kỳ và rất giàu tính mỹ thuật.


    Lữ đoàn xe tăng 203. Ảnh: QĐND.

    Tuy nhiên, trong thời chiến thì số phận các đôi quân hàm này thường rất hẩm hiu, nhất là đối với chiến sĩ các binh chủng kỹ thuật.
    Kết thúc giai đoạn huấn luyện tân binh thường là rất ngắn ngủi, chỉ vừa kịp biết vài động tác điều lệnh đội ngũ và kỹ chiến thuật bộ binh... mới được nhận đôi quân hàm cấp bậc binh nhì với một ngôi sao bạc bằng nhôm gắn trên một "miếng tiết" (miếng nỉ) màu đỏ tươi.
    Tuy nhiên, rồi cũng chỉ "diện" được vài buổi là chuyển sang học kỹ thuật binh chủng, suốt ngày lấm láp dầu mỡ, bụi bẩn chả lúc nào được đeo. Họa hoằn lắm được ngày nghỉ thì vội vàng móc ra đeo vào bộ quân phục rồi chạy ra phố chụp lấy kiểu ảnh gửi về nhà.
    Có cậu muốn thể hiện rõ mình là lính xe tăng đã phải "thó trộm" của nhà bếp một cái thìa rồi kỳ cạch cắt gọt, mài giũa mất mấy buổi trưa mới được hình chiếc xe tăng để gắn lên quân hàm. Và đến lúc đi chiến trường thì những đôi quân hàm ấy sẽ nằm gọn dưới đáy ba lô như một kỷ vật đời lính mà thôi!
    Ở chiến trường không những chẳng bao giờ dùng đến những đôi quân hàm này mà ngay cả hệ thống quân hàm cũng bị xóa bỏ.
    Thay vào đó là hệ thống chức vụ mà quân nhân đó đang giữ. Chẳng hạn: trung đội bậc phó (tương đương thượng sĩ), trung đội bậc trưởng (tương đương chuẩn úy) v.v... nên càng có lý do nhấn sâu thêm những đôi quân hàm xuống đáy ba lô.


    Xe tăng Quân Giải phóng tiến về Đà Nẵng 29-3-1975. Ảnh: Xuân Quang

    Giải phóng sao nhiều "tướng" thế?

    Thành phố Đà Nẵng giải phóng đã được mấy ngày, Đại đội xe tăng 4, Lữ đoàn 203 vẫn nằm lại quanh khu vực Bảo tàng cổ vật Chăm và Trường trung học Sao Mai. Tình hình thành phố đã khá yên ổn, nhịp sống đã trở lại tương đối bình thường, chợ búa cũng đã mở cửa trở lại. Mặc dù chưa đến mức bán mua nườm nượp nhưng cũng khá đông vui, nhộn nhịp.
    Tình hình yên ổn như vậy nên sự căng thẳng trong đại đội cũng đã được giảm bớt. Cán bộ chiến sĩ đỡ mệt mỏi hơn và bắt đầu được phép đi thăm thú thành phố - một thành phố vô cùng xa lạ đối với những người lính miền Bắc lúc bấy giờ.
    Và đã đi chơi tất nhiên là các chàng bộ đội nhà ta cũng phải chăm chút đến vẻ ngoài của mình một chút. Thế là cái ba lô vùi sâu trong góc tháp pháo được dịp lộn ra, và những bộ quần áo mới nhất còn "thơm mùi chính phủ" được bóc tem đem ra chưng diện. Cả những đôi quân hàm binh nhất, binh nhì cũng được nâng niu cài lên ve áo.
    Những đôi quân hàm gần như còn mới tinh vì từ khi nhập ngũ cánh lính xe tăng gần như suốt ngày đêm lấm lem trong bộ quần áo công tác sặc mùi dầu mỡ lăn lộn ngoài bãi tập, vì vậy đôi quân hàm thường mới chỉ được dùng một vài lần khi đi chụp ảnh để gửi về nhà mà thôi.


    Ngày 29/3/1975, sau 22 giờ tiến công thần tốc và dũng mãnh, quân ta đã giải phóng hoàn toàn Đà Nẵng. (Ảnh: Tư liệu TTXVN).

    Trang phục chỉnh tề rồi, vai khoác AK, cứ từng nhóm hai, ba người một các chiến sĩ đi dạo phố. Thực ra họ cũng chẳng dám đi xa, chỉ loanh quanh vài dãy phố quanh đấy, trong khi đó tai vẫn cứ phải dỏng lên nghe ngóng tình hình để nếu có tình huống gì xảy ra sẽ ngay lập tức về xe.
    Tuy nhiên, có một điều không bình thường đã xảy ra! Các chàng lính trẻ hết sức ngạc nhiên trước thái độ của bà con khi gặp họ. Bởi vì từ hôm vào giải phóng Đà Nẵng đến nay họ vẫn chốt giữ xung quanh khu vực này.
    Những ngày đó bà con đến tìm hiểu, thăm hỏi rất đông và mỗi chiến sĩ của đơn vị đều trở thành một "tuyên truyền viên bất đắc dĩ", phải giải đáp hàng nghìn câu hỏi của bà con về đủ thứ trên đời. Qua mấy ngày tiếp xúc đó bà con đã bớt nghi ngại và tỏ ra khá thân thiện với bộ đội.
    Thế mà hôm nay tình hình lại khác hẳn. Mọi người nhìn các anh bộ đội với một cái nhìn rất lạ, họ nem nép lánh xa mỗi khi các anh tới gần rồi xì xào với nhau điều gì đó, nếu không thể tránh được thì cúi chào rất lễ phép.
    Tệ hơn nữa, các chiến sĩ đều làng nhàng tuổi 20 mà họ cứ một điều ông, hai điều ông, khác hẳn với thái độ mấy ngày trước đó.
    Thấy tình hình như vậy, các chiến sĩ quyết định quay về. Về đến chỗ đỗ xe cũng thấy khang khác, bác chủ nhà mà mấy hôm nay anh em vẫn xin nước nấu cơm, vẫn vào nhà uống nước cũng tỏ ra khúm núm và xa lạ thế nào ấy.
    Mọi chuyện chỉ được sáng tỏ khi các chiến sĩ quyết tâm phải hỏi bằng cho rõ vấn đề. Khi họ vào nhà, bác chủ nhà chắp tay khúm núm "Mời các ông vào xơi nước". Nghe vậy, họ càng ngạc nhiên tợn. Từ hôm vào đây đến giờ cả nhà bác vẫn gọi họ là các anh Giải phóng kia mà, sao hôm nay lại trịnh trọng thế!
    Chưa biết vào đề ra sao lại thấy bác xoa hai bàn tay vào nhau, miệng thì xuýt xoa "Nhiều tướng thế này Giải phóng làm gì chả thắng. Mà sao toàn tướng trẻ vậy?". Miệng nói nhưng mắt bác thì cứ nhìn như dán vào ve áo họ.
    Các chiến sĩ ngớ ra nhìn nhau một lát và chợt hiểu - đôi quân hàm binh nhất, binh nhì với ngôi sao bạc trên nền phù hiệu đỏ tươi của họ nhìn qua trông giống quân hàm của tướng một sao, hai sao Quân lực Việt Nam cộng hòa. Chính vì vậy bà con tưởng lầm mấy anh lính trẻ đều là tướng.
    Và điều đó giải thích tại sao bà con lại có thái độ kỳ lạ vừa rồi. Nhưng làm sao đi giải thích với tất cả mọi người được. Thế là những đôi quân hàm lại được các chiến sĩ ta tháo ra và cất vào dưới đáy ba lô.

    Nguồn: http://soha.vn/bo-doi-giai-phong-nhi...1152613076.htm
    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  6. Có 1 người thích bài viết này


  7. #94
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,154
    Thích
    328
    Đã được thích 1,863 lần trong 994 bài viết
    MỆNH LỆNH LÚC 00.30- THẦN TÔC, THẦN TỐC HƠN NỮA...




    Mệnh lệnh là lệnh của cấp trên ban ra đối với cấp dưới, bắt buộc cấp dưới phải thi hành một nhiệm vụ, một công việc nào đó. Vì vậy, các mệnh lệnh thường rất ngắn gọn, cô đọng và có văn phong hết sức khô khan, lạnh lùng.

    Tuy vậy, trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, có một bản Mệnh lệnh đã vượt qua cái khuôn khổ thông thường ấy. Đó không chỉ là nhiệm vụ phải thực hiện mà còn là phương châm để thực hiện nhiệm vụ đó. Hơn thế nữa, nó còn như một lời hiệu triệu, một lời "hịch" của non sông đất nước gửi tới cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân xốc tới hoàn thành nhiệm vụ.

    Đó chính là bản Mệnh lệnh số 157/ĐK của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp gửi các đơn vị lúc 0 giờ 30 phút ngày 07.4.1975.

    Mệnh lệnh nhưng cũng là phương châm hành động!

    Mùa Xuân 1975, tại Tổng hành dinh trong thành cổ Hà Nội, Bộ thống soái tối cao đã làm việc khẩn trương: liên tục, tập trung trí tuệ, tài năng ra những quyết định, kế hoạch chiến lược, chiến dịch, những mệnh lệnh, chỉ thị cho quân và dân cả nước biến các Nghị quyết của Đảng thành sức mạnh chiến đấu và chiến thắng trên các mặt trận.
    Cũng tại đây, các cơ quan của Tổng hành dinh: Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật đã phát huy năng lực và kinh nghiệm theo chức năng, nhiệm vụ, cùng với các cơ quan của Đảng và Nhà nước giúp Bộ thống soái tối cao, góp phần vào thắng lợi chung.
    Từ khi cuộc Tổng tiến công nổi dậy Mùa Xuân 1975 nổ ra, tại cơ quan Tổng hành dinh, đích thân Đại tướng Tổng Tư lệnh và các tướng lĩnh, sĩ quan thường xuyên theo dõi 24/24 tình hình các mặt trận.
    Các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước cũng thường xuyên có mặt tại đây để nắm bắt tình hình và kịp thời đưa ra các quyết định sáng suốt nhất, phù hợp nhất.
    Những ngày đầu tháng 4.1975, tình hình các chiến trường diễn biến hết sức thuận lợi. Sau hai chiến dịch Tây Nguyên và Huế - Đà Nẵng, Quân đoàn 1 và 2 của Việt nam cộng hòa (VNCH) đã hoàn toàn tan rã, toàn bộ lãnh thổ Quân khu 1 và phần lớn lãnh thổ Quân khu 2 VNCH đã nằm trong tay chính quyền cách mạng.
    Thời cơ giải phóng miền Nam thống nhất đất nước đã hiện ra trước mắt.


    11h30' ngày 30/4/1975, quân giải phóng chiếm Dinh Độc lập, sào huyệt cuối cùng của quân địch tại Sài Gòn. Ảnh tư liệu.

    Tuy nhiên, không phải không có những khó khăn, trở ngại.
    Về phía VNCH, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đang cố sống, cố chết giữ lấy phần lãnh thổ còn lại hòng tìm kiếm một giải pháp chính trị khác.
    Dưới sự cố vấn của đích thân Đại tướng Uây-en, Tổng Tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ, phía VNCH đã khẩn trương xây dựng một phòng tuyến mới kéo dài từ Phan Rang qua Xuân Lộc về Tây Ninh hòng thực hiện được ý định đó.
    Một trở ngại lớn khác cũng đang hiện hình ở phía trước: mùa mưa đang tới. Từ thực tế nhiều năm của chiến trường miền Nam cho thấy mỗi khi mùa mưa đến, việc vận chuyển tiếp tế sẽ rất khó khăn, cái gì cũng thiếu thốn... Mùa mưa cũng là thời điểm sức khỏe của bộ đội bị ảnh hưởng nhiều nhất do gia tăng sốt rét, bệnh tật...
    Trong hoàn cảnh đó phải nhanh chóng chớp lấy thời cơ, tận dụng bằng được thời cơ giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà trước mùa mưa. Lúc này, thời gian là lực lượng. Một ngày bằng hai mươi năm! Cần phải nhanh hơn nữa, quyết liệt hơn nữa, táo bạo hơn nữa! Để lỡ thời cơ này sẽ là có tội với lịch sử, với nhân dân!
    Và có lẽ chính những trăn trở đó đã thôi thúc Đại tướng Tổng Tư lệnh tự tay mình thảo bức điện 157/ĐK vào lúc 0 giờ 30 phút ngày 07.4.1975 gửi các cánh quân:

    "Mệnh lệnh 1- Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ, từng phút xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng". 2- Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ".

    Một bản mệnh lệnh vô cùng ngắn gọn song cũng hết sức đày đủ, súc tích. Chỉ với 40 từ nhưng mệnh lệnh đã xác định rõ mục tiêu phải đạt được, đồng thời cũng chỉ rõ phương châm hành động để đạt được mục tiêu đó: Đã thần tốc rồi cần thần tốc hơn nữa! Đã táo bạo rồi cần táo bạo hơn!


    Quân Giải phóng hành quân thần tốc vượt eo biển miền Trung tiến về Sài Gòn, tháng 4-1975. Ảnh tư liệu.

    Lời hịch của non sông âm vang mãi trong lòng mọi cán bộ, chiến sĩ

    Khi nhắc đến bản mệnh lệnh đặc biệt này thường người ta chỉ chỉ chú ý đến nội dung thứ nhất của nó mà ít người để ý đến nội dung thứ hai: "2 - Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ!".
    Điều đó cũng dễ hiểu bởi phần thứ nhất là phần quan trọng nhất, chỉ rõ nhiệm vụ và cách thức cần thực hiện. Tuy nhiên, phần thứ hai lại là con đường để thực hiện được phần thứ nhất nhanh chóng, hoàn hảo nhất.
    Có lẽ, chính người thảo bức điện này hiểu hơn ai hết điều đó nên ông đã nhấn mạnh phải truyền đạt, mà là truyền đạt tức khắc - ngay lập tức, vô điều kiện đến từng người lính của ông.
    Và ý định đó của ông đã được thực hiện hoàn hảo. Cho đến sáng 7.4.1975, bản mệnh lệnh mang số hiệu 157/ĐK đã đến với tất cả các phân đội chiến đấu và từng người lính trên toàn mặt trận dù họ đang ở đâu, dù đang bám địch nơi tuyến đầu hay đang hành quân trên những cung đường Trường Sơn đỏ bụi...
    Sáng 7.4.1975 không khí tại căn cứ cũ của Sư đoàn 3 VNCH tại Hòa Khánh, Đà Nẵng thật là sôi nổi. Đây là nơi đóng quân của Bộ Tư lệnh và một số đơn vị của Quân đoàn 2.
    Theo đúng kế hoạch hành quân, ngày hôm đó là ngày xuất phát Khối 1 của quân đoàn bao gồm Sư đoàn BB 325, Trung đoàn Cao xạ 284 và Tiểu đoàn TTG 4/ Lữ đoàn 203 (Tiểu đoàn TTG 5 sẽ nhập khối từ Tam Kỳ). Khối này có nhiệm vụ "đánh địch mà đi, mở đường mà tiến" cho toàn bộ đội hình quân đoàn.
    Tại khu vực trú quân của Lữ đoàn xe tăng 203, hơn 20 chiếc xe tăng, thiết giáp của Tiểu đoàn TTG 4 đã xếp thành đội hình hàng dọc. Dẫn đầu là 5 chiếc tăng K63-85 của Đại đội XT 3. Tiếp đó là các xe thiết giáp K63 của Đại đội TG 8 và 9. Trên mỗi xe những lá cờ nửa xanh, nửa đỏ với ngôi sao vàng ở giữa phấp phới bay trong gió sớm.
    Mọi công việc chuẩn bị đã xong. Bộ đội đang xếp hàng nghiêm chỉnh nghe Tiểu đoàn trưởng Phạm Ngọc Bảng hạ đạt mệnh lệnh hành quân. Các cán bộ chỉ huy của Lữ đoàn 203 cũng có mặt gần như đông đủ để tiễn phân đội phái đi trước lên đường.
    Đúng lúc đó, một chiếc xe con phóng xuống và dừng lại cạnh đội hình xe tăng. Từ trên xe, một sĩ quan của Bộ Tư lệnh TTG tiền phương bước xuống và chạy lại gặp Chính ủy lữ đoàn Bùi Văn Tùng và đưa cho ông một cuốn sổ nhỏ.
    Sau khi đọc lướt qua và một vài phút hội ý, Chính ủy Bùi Văn Tùng bước lại gần nói nhỏ điều gì đó với Tiểu đoàn trưởng Phạm Ngọc Bảng rồi quay xuống hàng quân: "Chúng tôi vừa nhận được điện khẩn của Đại tướng Tổng Tư lệnh gửi cán bộ, chiến sĩ toàn quân. Xin thông báo ngay đến toàn thể các đồng chí!".
    Ông dừng lại một chút rồi nói to chậm rãi bằng chất giọng Quảng Nam trầm ấm nhưng cũng đày xúc động: "Đại tướng lệnh cho chúng ta phải "thần tốc, thần tốc hơn nữa.
    Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng! Các đồng chí có quyết tâm thực hiện mệnh lệnh của Đại tướng không?".

    Các chiến sĩ trong hàng quân đứng ngây người nghe như nuốt lấy từng lời của Chính ủy, mắt người nào người ấy rực sáng. Có cảm tưởng họ đang được nghe lời hịch thiêng liêng, tiếng gọi của non sông đất nước.
    Đến lúc chính ủy đưa ra câu hỏi tuy bất ngờ song cả hàng quân vẫn đồng thanh hô lớn: "Quyết tâm! Quyết tâm! Quyết tâm!" thật hào sảng.
    Ngay sau đó, Chính trị viên tiểu đoàn Phạm Công Đính lên động viên bộ đội và tuyên bố: Lùi giờ xuất phát 15 phút. Tất cả các xe về kẻ hai chữ "THẦN TỐC" lên thân xe, lên tháp pháo! Các chiến sĩ bộ binh cơ giới thì kẻ khẩu hiệu lên vành mũ. Thực hiện ngay!
    Sau khẩu lệnh đó, xe nào chạy ngay về xe đó và một cuộc đua sáng kiến âm thầm nổ ra. Các chiến sĩ tìm đủ mọi cách để có hai chữ "thần tốc" trên tháp pháo, ở thân xe. Xe thì cắt giấy dán lên. Xe thì kiếm đâu được ít sơn. Có xe không kiếm được thứ vật liệu gì khả dĩ bền hơn thì viết tạm bằng phấn, bằng gạch non...
    Đúng 15 phút sau, toàn bộ đội hình xuất phát với khí thế như dời non, lấp bể. Và 9 ngày sau- ngày 16.4.1975, thực hiện Mệnh lệnh của Đại tướng - chính họ đã chọc thủng và phá tan hoang "Lá chắn thép" của VNCH tại Phan Rang, mở đường cho đại quân tiến về phía nam.

    Nguồn: http://soha.vn/menh-lenh-luc-0h30-th...0517404454.htm
    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  8. Có 1 người thích bài viết này


  9. #95
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,154
    Thích
    328
    Đã được thích 1,863 lần trong 994 bài viết
    THẦN TỐC TIẾN VỀ GIẢI PHÓNG SÀI GÒN

    Sau khi kết thúc chiến dịch Huế - Đà Nẵng, ngày 01.4.1975 - Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị cho Quân đoàn 2 chuẩn bị sẵn sàng cơ động vào Nam Bộ tăng cường cho Quân đoàn 1 tham gia tiến công Sài Gòn.Lực lượng bao gồm Sư đoàn BB325, Lữ đoàn xe tăng 203 và 1 trung đoàn phòng không. Nhiệm vụ tiếp theo của quân đoàn là sẵn sàng chiến đấu bảo vệ những địa bàn vừa chiếm được.

    Những tư tưởng lớn thường gặp nhau

    Với tinh thần chủ động tích cực tiến công, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã đến gặp Trung tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn - đại diện của Bộ Tổng Tư lệnh tại mặt trận cánh đông.

    Nội dung cuộc gặp là muốn thông qua tướng Lê Trọng Tấn đề đạt ý kiến lên trên đề nghị cho toàn quân đoàn cơ động theo Quốc lộ 1 vào tham gia chiến dịch cuối cùng, chia sẻ gánh nặng với các cánh quân khác.Những lý lẽ chủ yếu mà Bộ Tư lệnh Quân đoàn đưa ra để thuyết phục Phó Tổng Tham mưu trưởng là: quân địch đang rất ngoan cố chống cự, đang thiết lập tuyến phòng ngự rất vững chắc từ Phan Rang kéo qua Xuân Lộc đến Tây Ninh nhằm giữ phần lãnh thổ còn lại.Trong khi đó Quân đoàn 2 là đơn vị có khả năng cơ động cao, có kinh nghiệm chiến đấu qua nhiều chiến dịch lớn. Nếu đưa vào sử dụng toàn quân đoàn sẽ có thể có đóng góp lớn cho nhiệm vụ chung.
    Những lý lẽ đó đã thuyết phục được Trung tướng Lê Trọng Tấn. Ông hoàn toàn đồng ý với đề xuất này của Quân đoàn 2 và đích thân ông đã bay ra Hà Nội báo cáo với thủ trưởng Bộ Tổng Tư lệnh.Nhận thấy đề nghị của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 vừa hợp tình, vừa hợp lý nên ngày 5.4.1975 Bộ Tổng Tư lệnh đồng ý cho toàn bộ quân đoàn hình thành cánh quân Duyên Hải vừa đi vừa đánh để vào Nam Bộ tham gia chiến dịch cuối cùng: giải phóng Sài Gòn.


    Thần tốc hành quân. Ảnh tư liệu.

    Đó là một quyết định sáng suốt phù hợp với yêu cầu của chiến trường, đáp ứng được nguyện vọng của cán bộ chiến sĩ và đã được kiểm nghiệm trong thực tế.

    "Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý"

    Theo mệnh lệnh của trên, Quân đoàn 2 sẽ để lại Sư đoàn BB 324 để bảo vệ Huế - Đà Nẵng, đồng thời được bổ sung Sư đoàn 3 Sao Vàng của Quân khu 5 (từ Phan Rang) hình thành cánh quân Duyên Hải cơ động dọc theo Quốc lộ.Phương châm thực hiện là "đánh địch mà đi, mở đường mà tiến", để chậm nhất ngày 25.4.1975 phải có mặt tại khu vực tập kết chiến dịch ở Rừng Lá (cách Xuân Lộc 20 km) chuẩn bị cho chiến dịch cuối cùng. Về tổng thể, đó là một bài toán khó đặt ra trước Bộ Tư lệnh quân đoàn.
    Lúc này, lực lượng của quân đoàn tập trung tại khu vực Đà Nẵng bao gồm 2 sư đoàn bộ binh (Sư đoàn BB 304 và Sư đoàn BB 325), 1 sư đoàn phòng không, 1 lữ đoàn xe tăng, 1 lữ đoàn pháo binh, 1 lữ đoàn công binh, 1 trung đoàn thông tin. Nếu cộng cả quân số cơ quan và các đơn vị trực thuộc nữa quân số lên tới hơn 3 vạn người.
    Bên cạnh số quân đông đảo đó là hàng chục ngàn tấn phương tiện chiến đấu như tăng thiết giáp, pháo mặt đất, pháo cao xạ... và rất nhiều loại trang bị vũ khí khác.
    Trong khi đó, chặng đường cơ động dài trên dưới 1.000 km, phải vượt qua 569 cây cầu, trong đó có 14 cầu bắc qua sông lớn và nhiều cây cầu đã bị quân địch phá hoại trước khi rút lui.Chỉ tính riêng đoạn từ Đà Nẵng vào đến Quy Nhơn đã có 8 cây cầu bị phá, trong đó có những cầu lớn như Câu Lâu (bắc qua sông Thu Bồn), Kế Xuyên, Bà Rén, Mộ Đức v.v..
    Ngoài ra, sau khi mất Quân khu 1 và phần lớn Quân khu 2, phía Việt Nam cộng hòa (VNCH) đã thiết lập tuyến phòng thủ mới ở Phan Rang nhằm cố thủ phần đất còn lại. Muốn vượt qua đó để vào Nam Bộ chỉ có một cách là "đánh địch mà đi".


    Bộ đội đánh chiếm Tòa hành chính - cơ quan đầu não VNCH tại Ninh Thuận lúc 9h30, ngày 16-4-1975. Ảnh tư liệu

    Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 với sự tham mưu đắc lực của các cơ quan đã giải rất chính xác và hoàn hảo bài toán này.
    Trước hết, căn cứ vào tình hình mọi mặt, cân đối giữa nhu cầu và khả năng bảo đảm một bản kế hoạch hành quân tối ưu đã được xây dựng lên. Theo kế hoạch này, toàn bộ lực lượng của quân đoàn được chia làm 5 khối.Trong đó khối 1 gồm Sư đoàn BB 325 được tăng cường Trung đoàn cao xạ 284 và 2 Tiểu đoàn TTG 4,5 trang bị xe tăng thiết giáp bơi nước. Với lợi thế xe bơi nước, khối này sẽ xuất phát sớm nhất và có nhiệm vụ "đánh địch mở đường" cho quân đoàn.
    Khối 2 gồm Sở chỉ huy cơ bản, các đơn vị trực thuộc, Sư đoàn phòng không 673.
    Khối 3 gồm Lữ đoàn XT 203 và 1 tiểu đoàn của Lữ đoàn CB 219.
    Khối 4 gồm Sư đoàn BB 304 và Trung đoàn CX 245.
    Khối 5 là Sư đoàn 3 (Sao Vàng) sẽ sáp nhập vào quân đoàn từ Phan Rang.
    Ngày 7.4.1975, khối 1 của quân đoàn lên đường. Các khối còn lại sẽ lần lượt xuất phát sau, mỗi khối cách nhau 2-3 ngày.
    Nhìn chung, đó là một kế hoạch hoàn hảo, chặt chẽ và tối tưu. Vì vậy, sau khi phá toang "Lá chắn thép" Phan Rang ngày 15.4.1975, toàn bộ đội hình cánh quân Duyên hải đã có mặt tại khu vực tập kết Rừng Lá (Long Khánh) trước ngày 25.4.1975, kịp thời tham gia và lập công lớn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
    Những chiến công vang dội và đóng góp to lớn của cánh quân Duyên Hải vào thắng lợi vĩ đại Mùa Xuân 1975 đã chứng tỏ quyết định thành lập cánh quân này là một quyết định vô cùng sáng suốt của Bộ Thống soái tối cao.

    Nguồn: http://soha.vn/than-toc-tien-ve-giai...6100758977.htm

    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  10. Có 1 người thích bài viết này


  11. #96
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,154
    Thích
    328
    Đã được thích 1,863 lần trong 994 bài viết
    NHỜ CẦU SẬP- LÍNH XE TĂNG ĐƯỢC BỮA ĐẶC SẢN QUẢNG NGÃI NHỚ ĐỜI



    Bộ đội xe tăng huấn luyện. Ảnh minh họa.

    Đối với lính xe tăng khi hành quân đường dài thì vấn đề bảo đảm cầu đường là cực kỳ quan trọng, thậm chí có ý nghĩa quyết định đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị nữa.


    Chính vì vậy, sau khi hai tiểu đoàn xe tăng bơi nước xuất phát đúng 1 tuần thì ngày 14 tháng Tư năm 1975 Tiểu đoàn 1 trang bị xe tăng hạng nặng của Lữ đoàn 203 mới lên đường tiến về phía nam.
    Tuy nhiên việc khắc phục các cây cầu bị đánh sập diễn ra rất chậm. Hầu hết chỉ được thay bằng cầu Ben-lây- một loại cầu dã chiến của Mỹ, có trọng tải chỉ 8 tấn nên xe tăng hạng nặng với trọng lượng 36 tấn không thể đi qua.
    Cầu Mộ Đức, Quảng Ngãi cũng trong tình trạng như vậy. Trong lúc chờ công binh làm ngầm, Tiểu đoàn xe tăng 1 dạt vào mấy thôn bên đường Quốc lộ 1 phía bắc cầu.


    Thần tốc tiến về phương Nam. Ảnh tư liệu.

    Sao một tiểu đoàn mà có từng ni quân thôi à?

    Tháng Tư, cả dải đất miền Trung nắng như đổ lửa từ sớm. Được lệnh dừng xe, các chú voi sắt tận dụng mọi bóng cây để tìm chút hơi mát. Còn các chiến sĩ xe tăng lại ai vào việc nấy: tranh thủ kiểm tra kỹ thuật xe và tranh thủ nghỉ ngơi. Như thường lệ, các chiến sĩ nạp đạn lại toòng teng đồ nghề đi tìm chỗ nấu cơm cho kíp xe.

    Đúng lúc đó, có thông báo từ trên truyền xuống: "Hôm nay các đơn vị không phải nấu cơm! Các Mẹ chiến sĩ địa phương sẽ úy lạo bộ đội." Thật là một tin tốt lành. Các chiến sĩ phấn khởi hẳn lên.
    Không phải nấu cơm, các công việc khác cũng đã xong các chiến sĩ tản vào các nhà dân xung quanh nghỉ ngơi và trò chuyện. Thì ra họ đang dừng chân trên đất Mộ Đức, Quảng Ngãi.
    Mộ Đức là một vùng quê có truyền thống cách mạng từ lâu đời, là quê hương của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và nhiều chí sĩ cách mạng khác. Với truyền thống đó, bao năm qua bà con ở đây một lòng một dạ hướng theo cách mạng, đấu tranh rất kiên cường với kẻ địch.
    Vì vậy, hôm nay nghe tin có một tiểu đoàn xe tăng hành quân qua đang nghỉ lại chờ khắc phục cầu, Hội mẹ chiến sĩ tổ chức đến uý lạo và khao quân. Các chiến sĩ rất ngạc nhiên sao vừa mới giải phóng mà đã có tổ chức này. Quả thật đây là một vùng quê có truyền thống cách mạng!


    Giải phóng Đà Nẵng.

    Gần trưa, ba chiếc xe lam chở cơm và thức ăn đến vị trí tập trung của ba đại đội. Đến với đại đội Bốn là hai bà má đã ngoài sáu mươi, dáng người nhỏ thó nhưng còn khá khoẻ mạnh.
    Dưới cái nắng trưa gay gắt hai má xăng xái chia cơm, thức ăn vào những bộ xoong chậu quân nhu do các xe mang tới. Chia xong rồi mà chưa hết một nửa cơm và thức ăn, các má giục gọi tất cả ra lấy cơm cho nóng.
    Khi biết tất cả đã lấy đủ cơm, hai má ngẩn ra rồi khóc. Các chiến sĩ trẻ xúm vào dỗ dành mãi hai má mới hết khóc. Hỏi sao má lại khóc thì một má trả lời:
    "Nghe nói có một tiểu đoàn dừng ở đây. Các má nghĩ là phải đến vài trăm quân. Quỹ của các má chỉ có hạn nên đành phải kho cá, nấu canh chua mới đủ. Biết bọn mi có một dúm thế ni, các má sẽ mua hẳn con heo để khao".
    Nói rồi bà chửi yêu: "Mồ tổ bọn bay! Hôm nay làm má ế cơm".
    Má không biết chứ! Với chúng con đây là bữa cơm ngon nhất đấy!

    Vậy là đã rõ! Các má cứ nghĩ một tiểu đoàn sẽ đông lắm. Ít ra phải ba, bốn trăm quân. Các má đã phải bàn bạc mãi để có bữa ăn này với số vốn ít ỏi của mình. Má có ngờ đâu tiểu đoàn xe tăng lại ít quân đến thế - chưa đầy một trăm!
    Nhưng các má đâu có biết, đó lại là bữa cơm ngon nhất của những chàng lính trẻ.
    Thức ăn các má chuẩn bị để khao quân hôm đó gồm cá biển kho, canh chua cá lóc và rất nhiều rau sống. Cái thứ rau sống của người Quảng Ngãi cũng thật lạ. Đó là một hỗn hợp của rất nhiều thứ: rau muống chẻ, rau má, rau diếp cá, ruột cây chuối thái mỏng và đặc biệt nhất là có cả những lát mỏng mít xanh…

    Bộ đội xe tăng huấn luyện. Ảnh minh họa.

    Mỗi thứ một vị khác nhau: rau muống giòn sần sật, rau má ngăm ngăm đắng, rau diếp cá chua chua, mít xanh thì chan chát và ruột cây chuối thì ngọt lịm... Tất cả rất khác nhau song lại hòa hợp với nhau thật hài hòa.
    Sau gần một tháng hành quân, chiến đấu liên miên. Thức ăn quanh đi quẩn lại chỉ có lương khô, thịt hộp, canh đỗ xanh... nay trông thấy canh chua và rau sống các chiến sĩ như "buồn ngủ gặp chiếu manh". Chỉ cần đợi khẩu lệnh "Thôi ăn đi!" phát ra là ăn như rồng cuốn.

    Nhìn cánh lính trẻ ăn ào ào như người đói khát lâu ngày, hai má ngồi bỏm bẻm nhai trầu, vẻ mặt đầy mãn nguyện như hai người mẹ được đón những đứa con mình dứt ruột đẻ ra trở về dưới mái nhà mình.
    Chia tay những người mẹ Mộ Đức lên đường, các chiến sĩ trẻ lòng đầy lưu luyến. Các má không biết đâu! Với chúng con, đây là bữa cơm ngon nhất mà chúng con được ăn từ ngày vào chiến trường đấy. Mà không phải chỉ vì thức ăn ngon đâu!

    Nguồn: http://soha.vn/nho-cau-sap-nen-linh-...0165451655.htm



    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  12. Có 1 người thích bài viết này


  13. #97
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,154
    Thích
    328
    Đã được thích 1,863 lần trong 994 bài viết
    7 VỊ TƯỚNG NGỒI XỔM BÊN ĐƯỜNG BÀN KẾ HOẠCH TIẾN CÔNG- CHUYỆN CHỈ CÓ Ở VIỆT NAM




    Bộ đội đánh chiếm tòa Hành chính tỉnh Ninh Thuận lúc 9g30, ngày 16-4 - 1975.

    Chỉ trong một ngày 16.4.1975, "Lá chắn thép" Phan Rang đã bị đập tan. Song không mấy ai biết cái kế hoạch tiến công hoàn hảo ấy lại được ra đời từ một bãi cỏ ngay ven đường.


    • Sau ngày Đà Nẵng giải phóng, Trung tướng Lê Trọng Tấn ra Hà Nội báo cáo tình hình với Bộ Tổng Tư lệnh


    • Trong cuộc họp ngày 02.4.1975, ông nêu ý kiến cần hình thành cánh quân ven biển, gồm các lực lượng vừa giải phóng Đà Nẵng, nhanh chóng tiến quân đánh địch trong hành tiến, tiêu diệt địch và làm chủ các địa bàn chiến lược từ Nha Trang trở vào, không cho địch co cụm về Sài Gòn.
      Đây cũng là ý kiến đề nghị của Thường vụ và Bộ Tư lệnh Quân khu 5, của Thường vụ và Bộ Tư lệnh Quân đoàn II vừa lập chiến công ở Đà Nẵng.
    • Từ quyết định sáng suốt của Tổng hành dinh

    • Ý kiến của tướng Lê Trọng Tấn được Bộ Tổng Tư lệnh tiếp thu và báo cáo lên thường trực Bộ Chính trị. Nhận thấy tính hợp lý của ý kiến này, Bộ Chính trị hoàn toàn đồng ý. .
      Ngay lập tức, Thường trực Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh ra quyết định thành lập cánh quân phía đông - còn gọi là cánh quân Duyên Hải, gồm Quân đoàn 2 (thiếu Sư đoàn 324 ở lại bảo vệ Huế), Sư đoàn bộ binh 3 (thường gọi Đoàn Sao Vàng vốn thuộc Quân khu 5) và một số bộ phận khác.
      Nhiệm vụ là vừa đánh địch, vừa mở đường với tốc độ thật nhanh, khẩn trương đến kịp thời gian cùng các đơn vị bạn tham gia giải phóng Sài Gòn. Trung tướng Lê Trọng Tấn được cử làm Tư lệnh. Ban cán sự Đảng lâm thời do Thiếu tướng Lê Quang Hoà làm Bí thư.

      Đại tướng Lê Trọng Tấn - nguyên Tư lệnh cánh quân Duyên hải. Ảnh: Zing.vn

      Khi vào đến miền Đông Nam Bộ, cánh quân này sẽ thuộc quyền lãnh đạo, chỉ huy của Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh mặt trận Sài Gòn; đồng thời thường xuyên báo cáo với Bộ Tổng tư lệnh.
      Trước khi Trung tướng Lê Trọng Tấn lên đường, Đại tướng Tổng Tư lệnh thay mặt Thường trực Quân uỷ Trung ương trực tiếp giao nhiệm vụ:
      "Cánh quân phía đông nhanh chóng tiến theo đường số 1 chọc thủng phòng tuyến địch ở Phan Rang, tiếp đó cùng với các lực lượng B2 đánh chiếm Bà Rịa, Ô Cấp, khống chế sông Lòng Tàu, đặt pháo tầm xa ở Nhơn Trạch hoặc Thành Tuy Hạ chế áp các mục tiêu quan trọng ở Sài Gòn, có phương án vượt sông thọc sâu vào trung tâm thành phố".
      Ngay sau đó, Trung tướng Lê Trọng Tấn quay trở vào Đà Nẵng và công tác chuẩn bị cho cuộc hành quân hàng nghìn km về phía Nam của cánh quân phía Đông được nhanh chóng triển khai.
      Xuất phát từ nhiệm vụ phải "đánh địch mà đi, mở đường mà tiến" trong khi dọc Quốc lộ 1 có đến hàng chục cây cầu lớn nhỏ bị Quân đội Việt Nam cộng hòa (VNCH) phá hủy trong khi rút chạy nên Bộ Tư lệnh cánh quân quyết định tổ chức lực lượng phái đi trước gồm Sư đoàn bộ binh 325 và một số đơn vị binh chủng.
      Trong lực lượng này có 2 tiểu đoàn tăng thiết giáp (TTG) trang bị xe tăng K63-85 và thiết giáp K63 có thể bơi nước. Đông thời, điều chuyển lực lượng của Sư đoàn 3 xuống sát đường Quốc lộ 1.
      Trong lúc này, dưới sự cố vấn của Đại tướng Uây-en, Tổng Tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ, chính quyền VNCH đã triển khai xây dựng tuyến phòng thủ Phan Rang - Xuân Lộc - Tây Ninh hòng giữ phần đất còn lại bao gồm quân khu 3, quân khu 4 và một phần quân khu 2 để mưu cầu một giải pháp khác có lợi cho họ.
      Trong đó, Phan Rang được xác định là một điểm trọng yếu cần được tăng cường lực lượng phương tiện để trở thành một "Lá chắn thép" đủ sức ngăn chặn lực lượng của ta từ phía bắc vào.
      Nắm được thông tin này, Tư lệnh Lê Trọng Tấn quyết định phải đánh càng nhanh càng tốt, không để quân địch có thời gian củng cố trận địa phòng ngự. Trước mắt, qua vô tuyến điện ông giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 3 triển khai tiến công đường hẻm Du Long ngay khi cơ động được xuống Quốc lộ 1.
      Mặt khác, ông ra lệnh cho Quân đoàn 2 đẩy nhanh tốc độ cơ động cho cả lực lượng phái đi trước cũng như đại quân ở phía sau. Bản thân ông cùng Bộ Tư lệnh tiền phương cơ động cùng phân đội phái đi trước.

      Quân Giải phóng tiến công vào Tòa Hành chính chính quyền tỉnh Ninh Thuận sáng ngày 16-4-1975. Ảnh: Thọ Đôn.
      Đến quyết tâm chính xác của tướng chiến trường

    • Chiều 15.4.1975, Bộ Tư lệnh tiền phương cánh quân Duyên Hải đã có mặt tại Ba Ngòi- phía nam Cam Ranh. Sau khi nghe chỉ huy Sư đoàn 3 báo cáo kết quả chiến đấu trong các ngày 14 và 15.4, ông quyết định triệu tập cuộc họp Bộ Tư lệnh và các bộ phận liên quan để thống nhất kế hoạch tiến công Phan Rang.
      Do bộ phận bảo đảm chưa chuẩn bị xong vị trí chỉ huy, cuộc hội ý diễn ra ngay bên vệ đường Quốc lộ 1. Bảy vị tướng, bao gồm:
      - Trung tướng Lê Trọng Tấn - Tư lệnh,
      - Thiếu tướng Lê Quang Hòa - Bí thư Ban cán sự Đảng lâm thời,
      - Thiếu tướng Nam Long - Phái viên của Bộ,
      - Thiếu tướng Phạm Hàm - Cục phó Cục Tác chiến,
      - Thiếu tướng Đỗ Trình - Văn phòng Bộ Quốc phòng và Quân ủy trung ương,
      - Thiếu tướng Phạm Hồng Sơn - Cục trưởng Cục Khoa học quân sự,
      - Thiếu tướng Nguyễn Hữu An - Tư lệnh Quân đoàn 2
      Ngoài ra còn có Đại tá Đào Huy Vũ - Tư lệnh Bộ Tư lệnh TTG tiền phương cùng đại diện binh chủng Pháo binh, Phòng không xúm xít xung quanh một tấm bản đồ trải trên bãi cỏ ngay ven đường. Trên Quốc lộ 1, những đoàn xe tăng, xe thiết giáp và ô tô vẫn rầm rập chạy sâu về phía nam.
      Sau khi thông báo tình hình và dành ra ít phút cho thảo luận, Tư lệnh Lê Trọng Tấn quyết định: không dừng lại trinh sát nắm địch như thông thường mà phải đánh ngay để địch không kịp trở tay. Các mục tiêu chủ yếu phải đánh chiếm là dinh tỉnh trưởng và chi khu quân sự Ninh Thuận, cảng Ninh Chữ và sân bay Thành Sơn.
      Về tổ chức sử dụng lực lượng ông quyết định cho Sư đoàn 3 bàn giao trận địa cho Sư đoàn 325 và lật cánh về phía tây, ngay đêm 15.4 phải áp sát sân bay Thành Sơn để sáng 16.4 nổ súng cùng hướng tiến công chính diện.
      Trên hướng chính diện tổ chức thành 2 thê đội:
      - Thê đội 1 gồm Trung đoàn BB101 và Tiểu đoàn TTG 4. Trung đoàn 101 sẽ cho bộ binh ngồi lên xe tăng và bổ sung cho đủ lên các xe thiết giáp, số còn lại ngồi trên ô tô bám sát phía sau.
      - Thê đội 2 gồm toàn bộ phần còn lại của lực lượng phái đi trước cơ động phía sau Thê đội 1, sẵn sàng bước vào chiến đấu khi có lệnh. Hình thức tác chiến là "tiến công trong hành tiến", có thể bỏ qua các mục tiêu nhỏ lẻ để hướng đến các mục tiêu chủ yếu càng nhanh càng tốt.


    • Xe tăng Quân Giải phóng tiến chiếm cơ quan chính quyền tỉnh Ninh Thuận. Ảnh tư liệu.

      Nếu điều kiện thuận lợi phát triển về phía nam càng sâu càng tốt. Thời gian nổ súng là 5 giờ sáng ngày 16.4.1975. Thực tế diễn biến của trận đánh sau đó đã chứng tỏ đó là một quyết tâm vô cùng chính xác. Chỉ trong ngày 16.4, ta đã đập tan tuyến phòng ngự từ xa của địch ở Phan Rang.
      Ta đã tiêu diệt Bộ Tư lệnh tiền phương Quân khu III Quân lực VNCH, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 6 không quân, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 bộ binh, Lữ đoàn 2 dù, Liên đoàn biệt động 31, toàn bộ lực lượng của tiểu khu Ninh Thuận, làm chủ cảng Ninh Chữ, chiếm sân bay Thành Sơn, thu gần 40 máy bay còn nguyên vẹn.
      Ta bắt sống hàng nghìn sĩ quan, binh lính trong đó có viên Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và viên Chuẩn tướng không quân Phạm Ngọc Sang. Quân ta giải phóng hoàn toàn thị xã Phan Rang và tỉnh Ninh Thuận, thọc sâu vào đến tận mũi Cà Ná với chiều sâu lên đến gần 70 km.
      Tuy nhiên, không mấy ai biết cái kế hoạch tiến công hoàn hảo ấy lại được ra đời bởi 7 vị tướng và 1 đại tá xúm quanh một tấm bản đồ ngay tại một bãi cỏ ven đường.

    • (Ghi theo lời kể của Đại tá Phùng Minh - nguyên Trưởng phòng Tác chiến Binh chủng Tăng - Thiết giáp, nguyên Chủ nhiệm Khoa Tăng - Thiết giáp Học viện Lục quân Đà Lạt, hiện đang nghỉ hưu ở Hà Nội)
    • Nguồn: http://soha.vn/7-vi-tuong-ngoi-ben-d...5162632059.htm

    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  14. Có 1 người thích bài viết này


  15. #98
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,154
    Thích
    328
    Đã được thích 1,863 lần trong 994 bài viết
    PHAN RANG- DẪU CÓ LÀ "LÁ CHẮN THÉP" CŨNG BỊ XÉ TOANG, ĐẬP NÁT


    Đập tan "lá chắn thép" Phan Rang của địch, giải phóng Ninh Thuận, mở đường tiến quân về giải phóng Sài Gòn. Ảnh: Lê Văn Đức.

    Mũi đánh chiếm cảng Ninh Chữ, xe tăng 763 bắn cháy 3 tàu địch. Toàn bộ quân bố phòng tại "lá chắn thép" Phan Rang bị tiêu diệt và làm tan rã, QGP thu 36 máy bay và 37 pháo lớn...

    Trung tuần tháng 4 năm 1975 - Quân giải phóng (QGP) đã hoàn toàn làm chủ Quân khu 1 và phần lớn Quân khu 2, xốc tới Sài Gòn với thế mạnh như triều dâng, lũ cuốn. Phía Việt Nam cộng hòa (VNCH) thì quyết tâm tử thủ để giữ lấy phần đất còn lại hòng kiếm tìm những giải pháp khác cho sự tồn tại của một chính thể đang trong cơn hấp hối.
    Trong tình thế ấy, những người đứng đầu nền "đệ nhị cộng hòa" lại phải cầu cứu kẻ bảo trợ ở bên kia bán cầu.
    Và chính Đại tướng Uây-en, tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ đã cố vấn cho chính quyền Sài Gòn xây dựng một tuyến phòng thủ với "cái neo đặt ở thị xã Phan Rang, lấy Xuân Lộc làm mũi nhọn và Tây Ninh là rìa phía tây" để giữ lấy Sài Gòn và phần đất còn lại.
    Thế là một tuyến phòng thủ được mệnh danh là "lá chắn thép" đã được khẩn trương dựng lên ở đây.
    "Lá chắn thép" được xây dựng thế nào?

    Phan Rang là thị xã thủ phủ tỉnh Ninh Thuận, cách Sài Gòn 361 km về phía Đông Bắc, có quốc lộ số 1 và đường sắt xuyên Việt đi qua.
    Địa hình khu vực tương đối phức tạp gồm các dải đồi cát và chân ruộng nhỏ hẹp ven biển, phía Bắc giáp với vịnh Cam Ranh, phía Tây có đèo Ngoạn Mục trên đường 27 nối với Đơn Dương và Đà Lạt.
    Tại đây có các căn cứ quan trọng như chi khu quân sự Du Long án ngữ phía Bắc thị xã, sân bay Thành Sơn, quân cảng Ninh Chữ và tiểu khu quân sự Ninh Thuận.
    Cho đến đầu tháng 4.1975, Phan Rang đã trở thành mảnh đất địa đầu- nơi tiếp giáp giữa phần đất còn lại của VNCH với đối phương. Ngoài ra, đây còn là "quê cha, đất tổ" của Nguyễn Văn Thiệu - khi đó là Tổng thống VNCH, một người cực kỳ mê tín. Vì vậy, Thiệu quyết tâm giữ Phan Rang bằng mọi giá.
    Với tầm quan trọng như vậy, một Bộ tư lệnh tiền phương của Quân khu 3 đã được thành lập đặt tại đây do tướng ba sao Nguyễn Vĩnh Nghi làm Tư lệnh. Một loạt các cứ điểm được cấp tốc xây dựng. Hàng loạt vũ khí, phương tiện chiến tranh được bổ sung tới đây.
    Cụ thể, lực lượng phòng thủ mặt trận Phan Rang gồm các đơn vị: Lữ đoàn 2 Dù; Sư đoàn 2BB; Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân. Lực lượng Hải quân gồm Duyên đoàn 27 và một số tàu yểm trợ. Lực lượng Không quân gồm Sư Đoàn 6 Không Quân cùng các đơn vị địa phương, bảo an, dân vệ….
    Ngày 2 tháng 4, tướng Nguyễn Văn Toàn, tư lệnh Quân đoàn III bay ra Phan Rang thị sát chiến trường.
    Ngày 6 tháng 4, tướng Nguyễn Vĩnh Nghi - Tư lệnh tiền phương Quân đoàn III và tướng Phạm Ngọc Sang phúc trình với Bộ Tổng tham mưu QLVNCH kế hoạch phối trí phòng thủ Phan Rang bố trí dọc hai bên đường số 1 ở Bắc Phan Rang 20 km, lấy đường hẻm Du Long làm trận địa phòng ngự.
    Trung đoàn 4 (Sư đoàn 2) giữ phía Nam đèo Ngoạn Mục; Lữ đoàn 2 Dù giữ sân bay Thành Sơn; Chi đoàn thiết giáp thuộc sư đoàn 2 làm dự bị; Bốn tiểu đoàn bảo an của chi khu Ninh Thuận giữ các chốt Suối Đá, Ba Râu, Hội Diên, Cà Đú, Đới Sơn và ngã tư Ga Tháp Chàm;
    Lực lượng còn lại của Sư đoàn 6 không quân gồm hơn 150 máy bay các loại đóng tại sân bay Thành Sơn. Với sự bố trí như vậy, "lá chắn thép Phan Rang" đã sẵn sàng cho nhiệm vụ quan trọng mà Sài Gòn giao cho.


    Đập tan "lá chắn thép" Phan Rang của địch, giải phóng Ninh Thuận, mở đường tiến quân về giải phóng Sài Gòn. Ảnh tư liệu.

    "Vỏ quýt dày đã có móng tay nhọn"

    Về phía QGP, sau khi làm chủ Đà Nẵng, Quân đoàn 2 được tăng cường Sư đoàn 3 Sao Vàng hình thành cánh quân Duyên Hải để cơ động dọc Quốc lộ 1 vào giải phóng các tỉnh phía Nam.
    Nắm được ý định của phía VNCH, Bộ Tư lệnh cánh quân Duyên Hải quyết định áp dụng cách đánh "đánh nhanh, thắng nhanh" không cho đối phương có thời gian củng cố "lá chắn thép" theo ý đồ của chúng.
    Lợi thế của cánh quân này là Sư đoàn 3 đã có mặt tại chỗ, được giao nhiệm vụ nổ súng trước, nhanh chóng đẩy địch ra khỏi "đường hẻm Du Long" để mở đường cho lực lượng phái đi trước của QĐ 2 bao gồm Sư đoàn 325, 2 Tiểu đoàn Tăng Thiết giáp (TTG) 4 và 5 cùng một số đơn vị khác bước vào chiến đấu, sau đó lật cánh lên áp sát sân bay Thành Sơn cùng diệt địch.
    Thực hiện đúng ý định của trên, sáng ngày 14 tháng 4, Sư đoàn 3 Sao Vàng bắt đầu đột phá tuyến phòng thủ tại hẻm Du Long do Trung đoàn 5 (Sư đoàn 2) và Liên đoàn 31 biệt động quân VNCH trấn giữ.
    Để hạn chế thương vong, Sư đoàn 3 chỉ dùng Trung đoàn 2 đánh vỗ mặt, điều Trung đoàn 52 luồn sâu vào phía Nam, bất ngờ đánh chiếm ấp Bà Râu; đến buổi chiều cùng ngày thì khép được vòng vây ở phía Bắc Phan Rang tại Bà Râu, Du Long, Kiền Kiền, Ba Tháp, Suối Đá.
    Trên hướng Tây Bắc, Trung đoàn 25 đánh bật các đợt phản kích của Trung đoàn 4, Sư đoàn 2 VNCH tại đèo Ngoạn Mục, đẩy đơn vị này phải lùi khỏi tuyến phòng ngự ngoại vi Phan Rang rút về thị xã.
    Quân VNCH cho máy bay ném bom phá sập cầu Kiền Kiền và dùng trực thăng đổ thêm quân xuống tuyến phòng thủ Kiền Kiền - Ba Tháp, tạm thời chặn được mũi tấn công của Sư đoàn 3 Sao Vàng ở hướng này.
    Ngày 15 tháng 4, Sư đoàn 3 một mặt tiếp tục kiềm chế địch ở khu vực Ba Tháp, Bà Râu để bàn giao cho Sư đoàn 325; mặt khác điều động lực lượng áp sát sân bay Thành Sơn chờ giờ nổ súng đồng loạt tiến công.


    Đập tan "lá chắn thép" Phan Rang của địch, giải phóng Ninh Thuận, mở đường tiến quân về giải phóng Sài Gòn. Ảnh tư liệu.

    Về phía VNCH, tướng Phạm Ngọc Sang tiếp tục lệnh cho Sư đoàn 6 không quân ném bom đánh sập tất cả các cầu ở phía Bắc Du Long.
    Trưa 15 tháng 4, tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn III và Tổng trưởng quốc phòng Trần Văn Đôn ra thị sát Phan Rang trong một chuyến đi chớp nhoáng. Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi xin tăng viện một tiểu đoàn dù nhưng được trả lời rằng quân dù hiện đang tăng phái cho Xuân Lộc, không còn đơn vị nào để điều cho Phan Rang.
    Tối hôm đó, Bộ tư lệnh tiền phương Quân đoàn III bàn định một kế hoạch phản công quy mô vào sáng hôm sau để khôi phục tình hình ở Du Long. Tuy nhiên, kế hoạch đó đã không bao giờ thực hiện được.
    Ngay khi tiếp cận chiến trường, Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 đã tung ngay Trung đoàn bộ binh 101 (Sư đoàn 325) và Tiểu đoàn TTG 4 thuộc Lữ đoàn 203 vào tham chiến theo phương thức tiến công trong hành tiến dọc theo Quốc lộ 1.
    Đúng 5 giờ sáng ngày 16 tháng 4, tất cả các cánh quân đồng loạt nổ súng tiến công. Tiểu đoàn TTG4 chở theo bộ binh dẫn đầu đội hình, bắt đầu đánh địch từ Bà Râu, Ba Tháp.
    Trước hỏa lực mãnh liệt và xung lực dữ dội của TTG quân VNCH chống cự yếu ớt và nhanh chóng tan rã. Trên hướng tây, các đơn vị của Sư đoàn 3 cũng tiến công mạnh mẽ vào sân bay Thành Sơn.
    Chưa kịp ra lệnh phản công, tướng Nguyễn Vĩnh Nghi đã nhận được tin điện khẩn cấp từ Liên đoàn 31 biệt động quân đóng tại Hội Diên, Xuân An báo về:
    "Xe tăng cộng sản vượt qua sông suối đang tràn qua Du Long vào Phan Rang". Tướng Sang ra lệnh cho tất cả các máy bay còn bay được lập tức xuất kích ngăn chặn xe tăng đối phương.
    Hàng chục chiếc A37 và trực thăng vũ trang thay nhau xuất kích liên tục oanh tạc vào đội hình tiến công của QGP. Xe tăng, xe thiết giáp chạy giữa ban ngày, trên đường độc đạo nên một số chiếc đã bị trúng bom.
    Tuy nhiên, trước hỏa lực phòng không 12ly7 của TTG kết hợp với tên lửa tầm nhiệt A72 và pháo cao xạ, phía VNCH đã không thực hiện được ý định. Lần lượt các cứ điểm Gò Đền, Hội Diên, Xuân An, Cà Đú... bị đánh chiếm.
    Chỉ sau chưa đầy 2 giờ chiến đấu, hướng tiến công dọc QL1 đã vào đến TX Phan Rang và chia làm 3 mũi: một mũi chiếm dinh tỉnh trưởng và Chi khu Ninh Thuận, một mũi đánh chiếm cảng Ninh Chữ, một mũi cơ động lên Thành Sơn phối hợp với Sư đoàn 3 đánh chiếm sân bay.
    Lúc 9 giờ 30 phút, Trung đoàn 101 chiếm dinh tỉnh trưởng, bắt sống Đại tá Nguyễn Văn Tư, tỉnh trưởng Ninh Thuận. Lúc 10 giờ cùng ngày, Trung đoàn 25 ( Sư đoàn 3) làm chủ sân bay Thành Sơn, truy bắt được Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi - Tư lệnh tiền phương Quân đoàn III và chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang.
    Mũi đánh chiếm cảng Ninh Chữ, xe tăng 763 bắn cháy 3 tàu địch. Toàn bộ quân bố phòng tại tuyến phòng thủ Phan Rang bị tiêu diệt và làm tan rã, QGP thu 36 máy bay và 37 pháo lớn...
    Ngay sau đó, Bộ Tư lệnh quân đoàn 2 đưa thê đội 2 vào chiến đấu phát triển dọc theo QL1 đến Cà Ná. Tại đây, các xe tăng K63-85 bắn chìm 1 tàu chiến và bắn bị thương một số chiếc khác khi định vào để đón tàn quân và tổ chức phản công.
    "Lá chắn thép Phan Rang" hoàn toàn bị tan vỡ. QGP tiêu diệt và làm tan rã hơn một vạn quân địch, thu nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh, trong đó có nhiều máy bay A37 còn nguyên vẹn.
    Ngoài kết quả chọc thủng "lá chắn thép" mở đường cho đại quân cánh quân Duyên Hải cơ động tiếp về phía nam, trận tiến công Phan Rang cũng để lại những bài học vô cùng quý giá về nghệ thuật quân sự và nghệ thuật sử dụng lực lượng.
    Đây là trận tiến công trong hành tiến quy mô lớn đầu tiên của QGP và đã đạt hiệu quả rất cao, chiều sâu tiến công đạt gần 70 km/ngày.
    Sở dĩ đạt được kết quả như vậy là nhờ chủ trương giải quyết nhanh, càng nhanh càng tốt, phá "lá chắn thép" khi quân VNCH chưa kịp củng cố công sự, hầm hào, khi thế phòng ngự còn lỏng lẻo, khi binh hỏa lực chưa được tăng cường toàn bộ...
    Đạt được kết quả như vậy còn nhờ chủ trương lấy TTG làm lực lượng đột kích chủ yếu, vừa đi vừa đánh, bỏ qua những mục tiêu nhỏ lẻ để nhằm tới mục tiêu chủ yếu, mang tính quyết định.
    Những kinh nghiệm rút ra từ trận đánh này đã góp phần không nhỏ vào quyết định thành lập "binh đoàn thọc sâu" của cánh quân phía Đông trong chiến dịch Hồ Chí Minh sau này.

    Nguồn: http://soha.vn/phan-rang-dau-co-la-l...1214060222.htm


    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  16. Có 1 người thích bài viết này


  17. #99
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,154
    Thích
    328
    Đã được thích 1,863 lần trong 994 bài viết
    CHUYẾN ĐI ĐƠN THƯƠNG ĐỘC MÃ CỦA TƯ LỆNH TTG VÀO HANG Ổ ĐỊCH


    Quân giải phóng tiến công địch tại Ninh Thuận. Ảnh tư liệu.

    Những làn đạn chiu chíu xung quanh xe, xuyên qua cả bạt che. Mấy khẩu AK dắt trên tấm bạt cuối xe, song không ai kịp lấy ra để bắn trả.

    Ngay từ khi cuộc Tổng Tiến công nổi dậy "Mùa Xuân năm 1975" bắt đầu, được sự đồng ý của Bộ Quốc phòng, Binh chủng Tăng Thiết giáp (TTG) đã tổ chức một Bộ Tư lệnh (BTL) tiền phương do đích thân Đại tá Đào Huy Vũ - Tư lệnh binh chủng và Thượng tá Đào Quang Xuân - Phó chính ủy binh chủng trực tiếp chỉ huy cơ động vào Tây Thừa Thiên.

    Nhờ vậy, Bộ Tư lệnh (BTL) tiền phương kịp thời tham gia chỉ đạo chiến dịch Huế - Đà Nẵng bên cạnh Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2. Tiếp đó, tiền phương TTG đã luôn ở bên cạnh Bộ Tư lệnh cánh quân Duyên Hải và đã tham mưu đắc lực cho BTL về sử dụng TTG trong suốt các chiến dịch sau đó.
    "Vị tướng thứ tám" trong cuộc họp ven đường

    Để thống nhất kế hoạch tiến công Phan Rang, chiều 15.4.1975 Trung tướng Lê Trọng Tấn đã triệu tập hội ý Bộ Tư lệnh cánh quân Duyên Hải ở vị trí tạm dừng gần Ba Ngòi (thuộc địa phận Cam Ranh, Khánh Hòa).

    Đại tá Đào Huy Vũ, Tư lệnh tiền phương TTG vẫn đi cùng lực lượng phái đi trước của cánh quân Duyên hải cũng được mời tham gia. Biết nhau đã lâu, tướng Lê Trọng Tấn tin rằng người sĩ quan này sẽ giúp ông nhiều trong sử dụng TTG trong thời gian tới, đặc biệt trong trận đánh Phan Rang nay mai.
    Sở chỉ huy chưa được bố trí xong, Tư lệnh Lê Trọng Tấn quyết định hội ý ngay tại một bãi cỏ nằm cách mặt đường Quốc lộ 1 chừng 10 mét. Ông cho trợ lý tác chiến trải tấm bản đồ xuống bãi cỏ rồi mời mọi người đến gần.


    Trung tá Bùi Tùng – Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 trao cờ cho Thiếu úy Bùi Quang Thận – Đại đội trưởng Đại đội 4, Tiểu đoàn tăng 1, Lữ đoàn 203 trước khi đơn vị bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975.

    Nhìn các cán bộ dưới quyền người ngồi xổm, người ngồi bệt, người cúi lom khom chăm chú nhìn bản đồ, tướng Lê Trọng Tấn hài hước: "Chẳng mấy khi có tới 7 ông tướng đến nhà mà sơ xuất quá, không có cả cái chỗ tử tế mà ngồi. Các ông thông cảm nhé!".
    Vốn đã bắt tay chào hỏi mọi người khi vừa đến nơi nên Đại tá Đào Huy Vũ đã biết thành phần đang có mặt tại đây nên vội sửa: "Có 6 thôi chứ, thủ trưởng!". Tướng Lê Trọng Tấn cười khà khà: "Thì người ta vẫn gọi cậu là tướng xe tăng từ lâu rồi mà. Sợ khao à, keo kiệt thế?". Mọi người cùng cười ầm lên, không khí thật là sảng khoái, thanh bình.
    Vào cuộc họp, sau khi thông báo tình hình và sơ bộ ý định của mình, tướng Lê Trọng Tấn yêu cầu Tư lệnh TTG trình bày về hình thức chiến thuật "tiến công trong hành tiến" - một hình thức tác chiến còn khá mới đối với quân đội ta trong thời điểm đó đồng thời tham mưu luôn việc sử dụng TTG trong trận Phan Rang.
    Vốn là người ham học, ham đọc, lại vừa mới được đi tập huấn ở Liên Xô về năm 1974, Đại tá Đào Huy Vũ rất tâm đắc với hình thức này và đã chú tâm nghiên cứu. Đặc biệt sau trận tiến công Hải Vân của Đại đội XT3 tăng cường cho Trung đoàn BB 18 ông đã nhận xét: với tình hình hiện nay, đây có thể sẽ là một hình thức được áp dụng nhiều.
    Vì vậy, khi được Tư lệnh cánh quân yêu cầu, ông đã trình bày rất thuyết phục về các đặc điểm, yêu cầu cũng như cách thức tổ chức lực lượng của hình thức tác chiến này.
    Tiếp đó, ông đề xuất sử dụng đội hình hai thê đội, đưa bộ binh lên TTG để tận dụng tối đa sức cơ động và hỏa lực của chúng trong trận đánh hôm sau. Khi kết luận hội ý, tướng Lê Trọng Tấn cơ bản đồng ý với đề xuất này.
    Kết thúc cuộc họp, Đại tá Đào Huy Vũ có một đề nghị với Trung tướng Lê Trọng Tấn: "Do hình thức tác chiến này còn khá mới, cần nghiên cứu rút kinh nghiệm nhiều. Vì vậy, xin phép thủ trưởng cho tôi được đi cùng đội hình chiến đấu".
    Ngần ngừ một lát, tướng Lê Trọng Tấn gật đầu: "Tôi đồng ý song cậu phải hết sức cẩn thận đấy!".

    Trẻ như các cậu chết thì tiếc lắm!

    Sau hội ý, trở về Bộ Tư lệnh tiền phương TTG, Đại tá Đào Huy Vũ trao đổi với Phó chính ủy Đào Quang Xuân: "Tôi đã được Tư lệnh cho đi cùng trong đội hình chiến đấu để quan sát, rút kinh nghiệm. Số còn lại đề nghị anh chỉ huy cơ động phía sau với cự ly cho thích hợp".
    Tiếp đó ông gọi Thiếu tá Phùng Minh - Trưởng phòng Tác chiến và Đại úy Trương Công Hằng - Trợ lý Phòng Chính trị giao nhiệm vụ: "Hai cậu chuẩn bị mai đi cùng tôi! Cậu Minh chọn một chiến sĩ thông tin nhanh nhẹn, mang theo 1 đài 2 oát đi cùng".
    5 giờ sáng ngày 16.4.1975 quân ta nổ súng tiến công Phan Rang.

    Dẫn đầu đội hình là Đại đội XT3, tiếp đó là 2 đại đội xe thiết giáp 8 và 9. Sau các xe TTG của Tiểu đoàn TTG 4 là các xe tải chở bộ binh của Trung đoàn 101.




    Chiếc xe com-măng-ca của Đại tá Đào Huy Vũ do lái xe Nông Đức Nam điều khiển chạy lẫn trong đoàn xe tải. Trên xe, Đại tá Đào Huy Vũ và các xe vừa căng mắt quan sát tình hình vừa dỏng tai nghe các xe TTG trao đổi với nhau qua chiếc máy vô tuyến điện 2 oát.
    Trận kịch chiến bắt đầu từ khu vực Bà Râu, Ba Tháp. Binh lính VNCH bố trí trong các công sự làm gấp dùng mọi loại hỏa lực ngăn chặn lực lượng tiến công. Do tiến công theo một trục đường, bắt buộc phải sử dụng đội hình hàng dọc nên rất khó triển khai hỏa lực.
    Trong lúc đó, từ phía nam hàng chục chiếc máy bay cả phản lực và trực thăng xuất hiện. Chúng thay nhau lao xuống cắt bom, phóng tên lửa, bắn 20 mm như mưa vào đội hình tiến công. Một xe tăng K63-85 và một xe thiết giáp K63 trúng đạn bùng cháy.
    Tuy nhiên, kể cả bộ binh dưới đất và không quân trên trời cũng không ngăn nổi lực lượng Quân giải phóng (QGP). Sau hơn 2 giờ chiến đấu, Thê đội 1 của QGP đã đột nhập thị xã Phan Rang, chiếm dinh tỉnh trưởng, cảng Ninh Chữ và cử một mũi lên hỗ trợ Sư đoàn 3 đánh chiếm sân bay Thành Sơn.
    Sau khi gặp Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn TTG 4 Phạm Ngọc Bảng để nắm tình hình và giao nhiệm vụ tiếp theo, Đại tá Đào Huy Vũ quyết định lên sân bay Thành Sơn. Vì tin tưởng rằng đã có 1 phân đội xe tăng, thiết giáp đi trước lên hỗ trợ cho Sư đoàn 3 đánh sân bay Thành Sơn nên ông hạ lệnh cho lái xe Nam: "Lên sân bay Thành Sơn!".
    Bằng trí nhớ của một người đã từng chiến đấu ở địa bàn này và tấm bản đồ trong tay, ông hướng dẫn lái xe Nam đi vào đường 11 nhằm hướng Tây thẳng tới.
    Ra khỏi thị xã, cảnh vật càng ngày càng hoang vắng. Con đường Quốc lộ 11 chạy giữa hun hút những cánh rừng lúp xúp cỏ lau và cây bụi, đôi chỗ là những vườn nho xanh mướt. Khi thấy phía trước có tấm biển chỉ dẫn giao nhau với đường sắt, ông Đào biết là sắp đến lối rẽ vào sân bay nên nhắc lái xe Nam: "Qua đường sắt, gặp ngã ba thì rẽ phải!".
    Bỗng nhiên, trên đoạn đường sắt xuất hiện một đoàn người. Từ xa không nhìn rõ trang phục nhưng thấy đều mang súng. Khi cả xe còn đang phân vân không biết là ta hay địch thì một loạt đạn đã cày ngay trước mặt*.
    Với một phản xạ cự kỳ nhanh nhạy, lái xe Nông Đức Nam lượn sát ra lề đường rồi cua một vòng gấp quay ngược đầu xe về phía thị xã, mấy thày trò trên xe đều bị dạt sang một bên.
    Từ phía đường sắt quân số địch đã tăng lên và hỏa lực nhằm vào chiếc xe con đơn thương độc mã cũng tăng lên theo. Những làn đạn chiu chíu xung quanh xe, xuyên qua cả bạt che làm tất cả mọi người trên xe đều phải cúi rạp đầu tránh đạn. Mấy khẩu AK dắt trên tấm bạt cuối xe song không ai kịp lấy ra để bắn trả.
    Bỗng chiếc xe lạng đi, một lốp xe đã bị trúng đạn. Lái xe Nam vẫn căng người giữ vững tay lái. Chiếc xe như người thọt một chân thập thễnh chạy giữa làn đạn dày đặc. Mấy giây sau cả 4 chiếc lốp đều trúng đạn. Nam vẫn dấn chân ga hết cỡ, chiếc xe như nặng hơn hàng tấn so với ngày thường nhưng vẫn chạy được với tốc độ khá cao.
    Cho đến khi ra khỏi tầm đạn địch, cả xe mới thở phào nhẹ nhõm. Tất cả xuống xe và hết sức kinh ngạc khi 4 bánh xe đang bốc khói khét lẹt. Còn tấm vải bạt mui xe cũng thủng lỗ chỗ vài lỗ.
    Nhìn những lỗ thủng trên mui xe, Đại tá Đào Huy Vũ chậm rãi: "Cậu Nam hôm nay xử trí tốt lắm! Nếu không ta chết cả rồi. Tớ già rồi có chết cũng chẳng sao nhưng còn các cậu, trẻ thế kia mà chết thì tiếc lắm!".

    (*) Sau này điều tra mới rõ đây là tàn quân địch từ sân bay Thành Sơn chạy về phía nam theo đường sắt.

    Nguồn: http://soha.vn/chuyen-di-don-thuong-...3110414298.htm

    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  18. Có 1 người thích bài viết này


  19. #100
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,154
    Thích
    328
    Đã được thích 1,863 lần trong 994 bài viết
    CÚ HÚC ĐỂ ĐỜI TRONG ĐÊM

    Trong chiến tranh, những cuộc đối đầu trực diện giữa tăng thiết giáp với nhau không nhiều. Mặc dù sức mạnh khác nhau song phần thắng thường nghiêng về phía những người có ý chí kiên cường hơn, hành động táo bạo, quyết liệt hơn.

    Một trong những lần đấu đầu hiếm hoi giữa xe thiết giáp K63 của Quân giải phóng (QGP) và xe thiết giáp M113 của Quân lực VNCH (VNCH) đã xảy ra đêm 18.4.1975 tại thị xã Phan Thiết. Trước hết ta hãy so sánh 2 loại xe này đơn thuần về mặt kỹ thuật.

    M113 và K63 cái nào mạnh hơn?

    Xe thiết giáp M113 là loại xe thiết giáp do Mỹ sản xuất, được đưa vào sử dụng từ năm 1950 và cho đến nay vẫn còn được sử dụng trong quân đội nhiều nước.
    Về cấu tạo, xe thiết giáp M113 có vỏ bằng hợp kim nhôm với chiều dày từ 12- 38 mm, có thể chịu được các loại đạn súng bộ binh cỡ nhỏ. Hai bên dải xích có lắp thêm các tấm "vè" bằng cao su, tạo cho xe M113 có khả năng bơi và vượt qua các vật cản nước khá dễ dàng.
    Về kết cấu, do đặt động cơ ở phía trước nên vừa tăng khả năng bảo vệ cho xe vừa tạo sự rộng rãi cho khoang chở quân ở phía sau, cho phép xe có thể chở được 1 tiểu đội bộ binh hoặc đặt các loại vũ khí khác khá dễ dàng. Xe có 1 cửa lật mở ra phía sau nên bộ binh lên xuống rất dễ dàng và an toàn.
    Vũ khí chính trên xe là 1 khẩu súng máy M50 (M2 Browning) cỡ 12,8 mm. Tuy nhiên, tùy theo biến thể xe M113 có thể mang khá nhiều loại vũ khí khác nhau như: pháo không giật, tên lửa chống tăng TOW, cối, súng phun lửa v.v...
    Do có vỏ bằng hợp kim nhôm nên trọng lượng của xe chỉ có 12,3 tấn. Kết hợp với động cơ khá mạnh, công suất 275 mã lực, đảm bảo công suất riêng đạt 22, 36 mã lực/ tấn nên M113 có thể đạt tốc độ cao nhất tới 67,6 km/ giờ. Khi bơi nước đạt tốc độ 5,8 km/ giờ.


    Thiết giáp M113 là một trong những trang bị phổ biến của quân lực VNCH. Ảnh tư liệu.

    Vì sự tiện dụng cao, có nhiều phiên bản, đặt được nhiều loại vũ khí lại có khả năng lội nước nên M113 trở thành loại xe thiết giáp chở quân phổ biến nhất trên thế giới. Cho đến nay đã có khoảng 80.000 chiếc được sản xuất và được sử dụng ở hơn 50 nước.
    Ở Việt Nam, xe thiết giáp chở quân M113 có mặt từ năm 1961 nhằm phục vụ cho chiến thuật "thiết xa vận" của Mỹ và VNCH. Nó đặc biệt thể hiện tác dụng ở các vùng sông nước đồng bằng sông Cửu Long và cũng đã gây rất nhiều khó khăn cho QGP.
    Cho đến khi kết thúc chiến tranh (ngày 30.4.1975) đã có khoảng 1.700 xe M113 được đưa vào chiến trường miền Nam Việt Nam.
    Còn xe thiết giáp K63 (tên chính thức Type-63, mã định danh công nghiệp là YW-531) là loại xe thiết giáp chở quân do Trung Quốc sản xuất, chính thức đưa vào biên chế từ năm 1964.
    Nói cho công bằng, mặc dù có một số điểm khác biệt song có thể coi K63 là một "phiên bản xa" của M113. Về kết cấu chung của xe khá giống M113: động cơ cũng đặt phía trước, vị trí trưởng xe, lái xe, xạ thủ và khoang chở bộ binh, cửa mở phía sau... nhìn chung đều mang dáng dấp của M113.
    Cấu tạo của dải xích và hộp xích cũng khá giống nhau nên K63 cũng có khả năng bơi tương tự M113.
    Điểm khác biệt cơ bản của 2 loại xe trên là K63 được bao bọc bởi lớp giáp thép với chiều dày trung bình 14 mm. Với chiều dày như vậy, lớp giáp này cũng chỉ chống được đạn súng bộ binh cỡ nhỏ mà thôi.
    Về vũ khí chính của xe K63 có 1 khẩu trọng liên kiểu DShK cỡ 12,7 mm. Xe cũng có khả năng chở được 1 tiểu đội bộ binh.
    Một số tính năng chính của xe K63 là: Trọng lượng của xe 12,6 tấn; công suất động cơ 320 mã lực; tốc độ tối đa của xe đạt 65 km/ giờ; tốc độ bơi nước khoảng 6 km/giờ.
    So sánh các tính năng cơ bản của 2 loại xe này ta thấy sức mạnh mọi mặt của chúng về cơ bản là tương đương nhau, "kẻ tám lạng, người nửa cân"! Còn nói về sự đa dạng và bền bỉ trong sử dụng thì M113 có phần nhỉnh hơn.

    Bộ đội ta ngồi trên xe thiết giáp K63. Ảnh tư liệu.

    Sức mạnh tương đương, vậy nếu đối đầu nhau, cái nào sẽ thắng?

    Mất Phan Rang, phía VNCH dự định thành lập tuyến phòng ngự mới ở Phan Thiết hòng liên kết với Long Khánh - Xuân Lộc ngăn chặn QGP tiến về Sài Gòn.
    Phan Thiết là thủ phủ tỉnh Bình Thuận, cách Sài Gòn 200 km. Lực lượng VNCH phòng thủ ở thị xã Phan Thiết bao gồm Liên đoàn 21 Biệt động quân, 8 tiểu đoàn bảo an, 1 tiểu đoàn pháo, 1 chi đội xe bọc thép và tàn quân của Sư đoàn 2 Bộ binh vừa bị thua ở Phan Rang chạy về.
    Về phía QGP, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 quyết định tung Trung đoàn 18 (Sư đoàn 325), 2 tiểu đoàn TTG 4 và 5 và một số đơn vị nữa vào tiến công Phan Thiết. Các mục tiêu chủ yếu gồm dinh tỉnh trưởng, Tiểu khu Bình Thuận.
    Về cách đánh vẫn áp dụng phương thức tiến công trong hành tiến, đưa bộ binh ngồi lên xe tăng, xe thiết giáp dẫn đầu đội hình, gặp địch là đánh không cần trinh sát trước. Theo kế hoạch, giờ nổ súng là 17 giờ ngày 18.4.1975.
    Nguyễn Thái Sinh, quê xã Đạo Đức, Bình Xuyên, Vĩnh Phú- chiến sĩ lái xe của Tiểu đoàn 4, Lữ đoàn xe tăng 203 được giao nhiệm vụ lái xe thiết giáp K63 số 146 làm xe trinh sát dẫn đầu một mũi tiến quân.
    Trên xe, ngoài Trưởng xe Phạm Đình Vạng; Pháo thủ Lò Khăm Pua còn có Trưởng phòng Quân báo quân đoàn Nguyễn Văn Bảo, Trung đội trưởng Trinh sát Nguyễn Văn Dần và bốn chiến sĩ.
    Chạng vạng tối, đội hình chiến đấu đến Cầu Mới ở ngoại vi thị xã. Sau khi bắt liên lạc và nắm tình hình địch qua một đơn vị địa phương đang chốt giữ ở đây, các mũi bắt đầu triển khai tiến công.
    Phát hiện xe tăng, xe thiết giáp QGP, lực lượng đồn trú của VNCH ở đây chống cự quyết liệt. Các xe tăng, xe thiết giáp của QGP dùng hỏa lực trực tiếp bắn trả mãnh liệt buộc địch lùi dần.
    Đội hình chiến đấu của QGP tiếp tục tiến sâu vào thị xã. Đến một ngã ba, đột nhiên xuất hiện 3 chiếc xe thiết giáp M113 lao thẳng về phía xe 146. Chắc là quân địch cũng đã phát hiện ra xe này chỉ có một mình nên 1 chiếc vẫn lao thẳng, còn 2 chiếc rẽ sang hai bên tạo thành thế gọng kìm. Khoảng cách giữa hai bên nhanh chóng gần lại.

    Bộ đội ta sử dụng xe thiết giáp M113 chiến lợi phẩm. Ảnh tư liệu.

    Đúng lúc đó, qua máy liên lạc nội bộ, Sinh nghe tiếng trưởng xe Vạng hạ lệnh cho pháo thủ Pua bắn nhưng Pua trả lời: "Súng hỏng!".
    Tình hình lúc này thật là nguy cấp. Không còn đường nào để tránh. Mà nếu có tránh cũng khó thoát khỏi hỏa lực từ xe địch. Lùi cũng không được, cũng sẽ ăn đạn mà thôi. Trong tích tắc, Sinh quyết định sẽ lao thẳng vào đầu xe địch.
    Nghĩ vậy, Sinh hét lên: "Các đồng chí, bám chắc vào!" rồi lập tức tăng chân dầu. Chiếc xe 146 đột ngột chồm lên rồi lao thẳng về phía 3 xe địch.
    Có lẽ bọn địch trên 3 xe M113 cũng đã nhận ra ý định của đối phương. Nhưng có lẽ cái quyết định ấy nằm ngoài sức tưởng tượng của chúng nên có phần lúng túng không kịp nổ súng.
    Và nếu chúng có quyết định gì thì cũng đã muộn! Một tiếng động lớn vang lên. Hai khối kim loại trọng lượng hơn chục tấn đã đâm sầm vào nhau tóe lửa. Chiếc xe M113 đi giữa bị đẩy dạt ra bên đường.
    Mấy tên lính trong xe hoảng sợ nhảy ra ngoài lẩn nhanh vào bóng đêm bỏ lại 3 chiếc M113 còn nguyên vẹn. Vậy là trong cuộc đối đầu này, K63 đã thắng!
    Phía sau, đội hình chiến đấu của quân đoàn đã áp sát tiến đánh và nhanh chóng tiến vào nội đô đánh chiếm các mục tiêu quy định. Tỉnh trưởng Bình Thuận bị bắt sống vào hồi 22 giờ. Đến 2 giờ ngày 19-4, QGP làm chủ hoàn toàn thị xã Phan Thiết. Vào 9 giờ sáng 19-4, Ủy ban Quân quản tỉnh Bình Thuận vào tiếp quản thị xã.
    Ngay sáng 19-4, ba xe M113 chiến lợi phẩm đã được bàn giao cho Quân đoàn 2. Nguyễn Thái Sinh cùng cán bộ, chiến sĩ trên xe tiếp tục làm nhiệm vụ giải phóng các tỉnh khác và tham gia giải phóng Sài Gòn.
    Kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Thái Sinh được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì và được cử đi đào tạo sĩ quan tại Trường sĩ quan Tăng Thiết Giáp.
    Tuy nhiên, cú húc để đời ấy cũng làm cho Nguyễn Thái Sinh bị gãy mất một chiếc răng do va vào kính lái. Cũng vì vậy, anh em trong đơn vị đã tặng cho anh cái hỗn danh đầy trìu mến: Sinh "sứt".

    Nguồn: http://soha.vn/cu-huc-de-doi-trong-d...5095405919.htm


    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  20. Có 1 người thích bài viết này


Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •