CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 1 của 8 123 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 71

Chủ đề: Theo Dấu chân Anh [HỒ SƠ - TƯ LIỆU]

  1. #1
    Ngày tham gia
    03-10-2010
    Vị trí hiện tại
    Indochina
    Bài viết
    365
    Thích
    685
    Đã được thích 127 lần trong 88 bài viết

    Theo Dấu chân Anh [HỒ SƠ - TƯ LIỆU]

    Theo thống kê của Cục Người có công, Bộ LĐ-TB-XH, hiện có mộ 318.953 liệt sĩ khuyết danh hoặc chưa đủ thông tin và 237.297 liệt sĩ chưa tìm được hài cốt.

    Tức là, hiện có 556,250 liệt sĩ (bằng ½ tổng số liệt sĩ hi sinh trong 2 cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc) mà SaigonGuider tôi thường hay dùng cụm từ mang khái niệm "CÁC ANH VẪN CHƯA VỀ".

    Tức là, cũng từng ấy số gia đình đã cống hiến con em, chồng, cha của mình cho sự nghiệp độc lập của Tổ quốc, còn chưa được biết người thân của mình đã sống, chiến đấu và ngã xuống, nằm lại ở nơi đâu...

    Và nhiều hơn từng ấy nỗi chờ mong, khắc khoải với một niềm tin "CÁC ANH SẼ VỀ"

    Từ nhiều năm qua, nhất là trong những năm gần đây... Hầu hết mọi cơ quan chức năng, đoàn thể, tập thể và cá nhân - các đồng đội của Liệt sĩ - đã cùng nhau tiến hành những cuộc quy tập và tìm kiếm "TÌM THEO DẤU CHÂN CÁC ANH" và đã có không ít những kết quả tốt đẹp như mong muốn - dẫu rằng, biết chắc không ít trường hợp trong số đó, thân xác các Anh đã hòa quyện vào đất trời, tạo nên hồn thiêng sông núi và màu thắm hồng của lá cờ tổ quốc chúng ta.

    Công việc ấy là một nghĩa cử cao đẹp - là một việc làm cần thiết, để đền ơn đáp nghĩa những người anh, người đồng đội, người con của đất nước, dân tộc Việt đã hy sinh cho chúng ta - gồm cả những người lính chúng ta, "may mắn hơn", được trở về cuộc sống đời thường...

    Trong chừng mực đó - diễn đàn bé nhỏ KHÚC QUÂN HÀNH của chúng ta, gồm những con người từng khoác màu xanh áo chiến binh và những anh chị em hoặc là thân nhân của chiến sĩ, liệt sĩ... hoặc là những bạn trẻ yêu cuộc đời người lính... cũng đang góp một chút bé nhỏ của mình trong công việc chung sức này.

    SaigonGuider tôi, luôn tự hào với nỗi "may mắn hơn người" ở chỗ chính mình đã trực tiếp thụ hưởng kết quả "được tung cánh với biển trời non sông liền một dãi, cung đường nối tiếp cung đường". Đã từng là một quân nhân, nhiều lần không khỏi rơi lệ xúc động khi trên bước đường của mình bắt gặp những chuyến xe thầm lặng, thắm hồng màu đỏ cờ tổ quốc...



    ... ngược xuôi trên mọi nẻo đường... bất kể ngày giờ mưa nắng.
    Nghĩa là một người đồng đội, một người anh đã trở về!



    Vâng, chúng ta sẽ cùng vào cuộc, cùng "chung sức", để đóng góp một phần dù nhỏ bé của mình... Với cả một niềm tin "CÁC ANH RỒI SẼ TRỞ VỀ, DÙ CÓ MUỘN"

    -o0o-

    Như đã nêu trên, cả xã hội, cả cộng đồng đang cùng chung sức cho công việc nghĩa cử ấy.
    Ngày nay, nhờ vào sức mạnh của KHKT, từ tin học, truyền thông, thông tin đại chúng... cũng như từ những mối "quan hệ trong thế giới phẳng"... Chúng ta có thể vận dụng được mọi nguồn tư liệu liên quan...

    Và SaigonGuider, xin phép được mở chuyên mục này, mang tính HỒ SƠ-TƯ LIỆU - để từ đó, ta dùng vào việc "TÌM THEO DẤU CHÂN ANH"

    Xin lưu ý: Mọi thành viên KQH, đều có thể đóng góp bài vở trong phần này, nhưng phải tuân thủ nguyên tắc "chỉ là những bài để được dẫn" trong phần Giúp đỡ tìm người mà thôi!
    Các bài post vào đây, phải hội đủ yêu cầu "có nguồn" và mang nhiều lượng thông tin theo đúng chủ đề đã nêu. Mỗi bài viết phải được đặt tựa cho rõ nghĩa.

    Hy vọng rằng, "các nguồn" (gồm các đơn vị web, NXB và báo chí) - xét theo tiêu chí vừa nêu trên - có thể thông cảm và tha thứ cho chuyên mục chúng tôi về các yếu tố mang tính... bản quyền.
    Hoặc ít nhất, SaigonGuider tôi xin chịu trách nhiệm cá nhân khi cần thiết.

    Trân trọng,
    CHIẾN BINH ĐẤT NUNG __________________________________________________ ________________
    Một đời chinh chiến, đôi khi chỉ vì... một nụ hôn...!____________________________________________ Kẻ thù buộc ta ôm cây súng...
    0979839899 - 0938797565 - (+855)885795798

  2. Có 3 người thích bài viết này


  3. #2
    Ngày tham gia
    03-10-2010
    Vị trí hiện tại
    Indochina
    Bài viết
    365
    Thích
    685
    Đã được thích 127 lần trong 88 bài viết

    Địa danh Dốc Ông Thủ

    SGG: Bài trích Báo Quảng Nam online Thứ tư, 25 Tháng 2, 2009 - 18:54 (link trong tựa đề)

    Từ Khe Cổng đến Dốc Ông Thủ



    Nhà bia di tích lịch sử - cách mạng Khe Cổng.
    Theo chân ông Nguyễn Quốc Mên, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Trưởng Công an huyện, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Đại Hồng, chúng tôi đến Khe Cổng (thuộc thôn Ngọc Thạch, trước đây là thôn Ngọc Kinh Đông, xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc). Khe Cổng không còn là một rừng tre bạt ngàn, từ triền sông Vu Gia đến tận chân núi nhưng dấu ấn của sự kiện lịch sử bi hùng cách đây hơn nửa thế kỷ vẫn luôn in sâu tâm trí đồng chí, đồng bào. Và, tại đây tọa lạc "Nhà bia di tích lịch sử- cách mạng Khe Cổng" khắc ghi tội ác của Mỹ- Diệm và ngợi ca sự mưu trí, dũng cảm của một con người từng được đặt tên cho một con dốc huyền thoại…

    Cuộc trả thù hèn hạ, dã man
    Ông Nguyễn Quốc Mên chậm rãi kể lại những năm tháng đen tối của cách mạng một thời chưa xa trên đất Đại Hồng. Ngày ấy, khi Hiệp định Giơ - ne- vơ ký chưa ráo mực, vừa tiếp quản vùng tự do của ta, địch đã cho một tiểu đoàn nhảy dù xuống cồn Lục Nam để phô trương thanh thế, dương oai dễu võ. Tát nước theo mưa, bọn phản động tại chỗ điên cuồng truy lùng những người kháng chiến cũ để trả thù và uy hiếp tinh thần quần chúng. Không khí lo sợ bao trùm khắp xóm thôn. Cán bộ, đảng viên phải thường xuyên thay đổi chỗ ở, có lúc phải vào núi lánh địch nhưng mạng sống vẫn bị treo lơ lửng. Lúc này, đồng chí Phan Thanh Thủ (tức Phan Phòng) và một số đảng viên nòng cốt của xã được Đảng phân công bí mật ở lại lãnh đạo nhân dân đấu tranh trong hoàn cảnh hết sức ngặt nghèo: có súng nhưng theo chủ trương của cấp trên phải chôn giấu, chỉ được đấu tranh bằng phương pháp hòa bình. Muốn tiêu diệt bọn tay sai đang ngóc đầu dậy nhưng lại sợ địch lấy cớ để khủng bố, thảm sát. Không chịu bó tay chờ chết, trong tình hình bị đứt liên lạc với Huyện ủy, các đồng chí Phan Thanh Thủ, Lê Xưng, Phan Thanh Long, Nguyễn Châu bí mật họp tại gò Mồ Côi (thôn Hoằng Phước) để bàn việc thành lập căn cứ tại núi Am Thông dùng làm chỗ tạm lánh địch và cũng là nơi chờ bắt liên lạc với cấp trên. Đồng chí Thủ chịu trách nhiệm tổ chức bộ phận tiếp tế. Thế nhưng, địch theo dõi quá chặt nên các đồng chí ta không thể liên lạc với nhau, việc xây dựng căn cứ này không thành.

    Tháng 11 - 1954, đồng chí Lê Xưng, sau hai ngày bị bắt lên Hà Tân (Đại Lãnh), đã trốn thoát, theo thuyền xuôi Đà Nẵng, rồi vào Quảng Ngãi, Bình Định để phản ảnh tình hình với đồng chí Võ Văn Đặng, phụ trách tổ Liên hiệp chiến trường Quảng Nam. Đồng chí Nguyễn Châu đi ra Huế. Đã vậy, tin dữ loan đến Đại Hồng càng khiến mọi người thêm hoang mang: Một số cán bộ ta ở Đại Quang, Đại Minh bị địch thủ tiêu với các hình thức dã man như bắt trói bỏ vào bao tời, chặt đầu, buộc xác vào đá, dìm xuống nước. Ở Đại Đồng, cả 6 đồng chí xã ủy bị trói tay hai người làm một, bắn chết, đạp xuống ghềnh sông Vu Gia, cạnh Động Hà Sống, rồi lấy đá đè lên xác...

    Khi địch dụ dỗ được một người nguyên là Chủ nhiệm Việt Minh xã cung cấp toàn bộ danh sách cán bộ, đảng viên; tình hình của xã Đại Hồng ngày càng đen tối. Tối 10 - 12 - 1954, bốn đồng chí: Ngô Lưu, Phan Thanh Long, Nguyễn Đức Tám, Trần Xưởng rơi vào tay giặc. 8 giờ sáng ngày hôm sau, chúng bắt được Phan Thanh Thủ. Năm đồng chí bị giam tại nhà bà Nghè Mỹ, thôn Dục Tịnh. Địch thay nhau đánh đập tàn nhẫn nhưng vẫn không tài nào khuất phục được ý chí của những người cộng sản kiên trung. Cay cú, chúng quyết định đưa đi thủ tiêu bí mật để che mắt và tránh phẫn nộ của quần chúng, đồng thời vu cho các đồng chí ta tự sát.

    Khuya ngày 11 - 12 - 1954, địch dùng vải bịt mắt, trói tay chân và đưa 5 đồng chí đi hành quyết. Biết rõ âm mưu thâm độc của kẻ thù, các chiến sĩ cách mạng cố giằng co với địch từng bước đi để tìm cơ hội trốn thoát và nếu bị giết, quần chúng có thể hay biết. Tại Khe Cổng ở cuối làng Ngọc Kinh Đông, 2 cái hố nhỏ đã được đào sẵn, cách nhau 10 m. Địch bắt các đồng chí Tám, Long, Lưu ngồi trên miệng hố phía đông; hai đồng chí Thủ và Xưởng ngồi trên miệng hố phía tây. Sau này, trong một chuyến công tác, đồng chí Phan Thanh Thủ kể lại cho ông Nguyễn Quốc Mên, trước giây phút cận kề cái chết, đồng chí tỉnh táo lạ thường, quyết tìm đường sống. Vừa nghe tiếng hô: "Bắn!", đồng chí Phan Thanh Thủ nhanh trí nghiêng người lại. Vừa bắn xong, sợ quần chúng phát giác hành vi trả thù đê hèn của mình, những tên sát nhân vội vàng mang súng bỏ đi, không kịp lấp hố phi tang. Chúng không ngờ, đồng chí Phan Thanh Thủ không chết mặc dù đạn trúng vào tay trái và ngực. Các đồng chí Nguyễn Xưởng và Ngô Lưu bị bắn trượt. Hai đồng chí Nguyễn Đức Tám và Phan Thanh Long hy sinh tại chỗ.

    Trong đêm khuya thanh vắng, hai đồng chí Xưởng và Lưu chạy vào khe Hóc Chùa, rồi trèo núi chạy qua Đại Thạnh. Riêng Phan Thanh Thủ phần bị trói, phần bị trọng thương, máu ra nhiều, có lúc ngất xỉu nhưng giữa mong manh sự sống và cái chết, đồng chí ráng hết sức lê người về phía bờ sông Vu Gia. Trưa hôm sau, ông được các quần chúng tốt cứu và đưa về nhà mẹ Trương Thị Ty ở thôn Ngọc Kinh Tây băng bó vết thương.
    Nhận được tin báo đồng chí Thủ còn sống, gia đình vui mừng khôn xiết và thuê ghe bí mật đưa đi Đà Nẵng chữa trị. Nằm ở bệnh viện được một tuần, phát hiện địch đang sục sạo, tìm kiếm, có nguy cơ bị lộ, đồng chí bàn bạc với người thân quyết định vào Quy Nhơn để gặp Ủy ban Liên hiệp đình chiến quốc tế. Cải trang thành một người di cư vào Nam, đồng chí đã qua trót lọt các trạm kiểm soát của địch. Vào đến Quy Nhơn, Phan Thanh Thủ tìm cách liên lạc với ông Đặng Tường, người Quảng Nam, là sĩ quan của ta tham gia Ủy ban Liên hiệp đình chiến quốc tế để tố cáo hành động trả thù hèn hạ người kháng chiến cũ của địch, vi phạm trắng trợn điều 14C của Hiệp định Giơ - ne - vơ. Trước chứng cứ rõ ràng và lời lẽ đanh thép của người chiến sĩ cách mạng, kẻ thù một phen bẽ mặt.

    Từ cõi chết trở về
    Ông Nguyễn Quốc Mên kể tiếp: Sau chuyến đi có tiếng vang ấy, đồng chí Phan Thanh Thủ được đưa ra Bắc điều trị và bố trí công tác tại cơ quan Mậu dịch Trung ương. Những ngày sống trên miền Bắc, ông được đưa đi nhiều nơi kể lại cuộc thảm sát đê hèn, vạch trần tội ác dã man của Mỹ - Diệm, khơi dậy lòng căm thù sâu sắc quân xâm lược và bè lũ tay sai bán nước.
    Tháng 6-1959, Phan Thanh Thủ tình nguyện trở về Nam hoạt động. Tháng 10 năm ấy, được Huyện ủy Đại Lộc phân công phụ trách xã Đại Hồng, ông bắt tay ngay vào việc vận động thanh niên địa phương thoát ly gia đình lên căn cứ tham gia kháng chiến; xây dựng cơ sở tại các thôn, thành lập các đội công tác. Ông Nguyễn Quốc Mên là một trong số 4 thanh niên Đại Hồng "lên xanh" sớm nhất.

    Khó có thể diễn tả hoàn cảnh sống vô cùng khó khăn của đồng chí Thủ lúc bấy giờ. Trong điều kiện địch tìm mọi cách vây bắt, một mình sống trong hang đá nhỏ, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, ông kiên trì phương châm "đi không dấu, nấu không khói, nói không to", cần mẫn xâu chuỗi, bắt rễ. Tháng 4 - 1961, Phan Thanh Thủ cùng các đồng chí: Nguyễn Châu, Lê Thành Nguyên và một số thanh niên hợp pháp (cải trang thành bộ đội) đột nhập vào ấp chiến lược Ngọc Kinh tuyên truyền, kêu gọi đồng bào vùng lên chống Mỹ-Diệm, giành chính quyền về tay nhân dân. Ngụy quyền ở Lộc Vĩnh (Đại Hồng) bị một phen khiếp đảm. Còn nhân dân địa phương quá hể hả, nhân đó răn đe bọn ác ôn: “Mấy ông liệu hồn, coi chừng ông Thủ lấy đầu chừ!”.

    Hang đá - nơi ở của đồng chí Phan Thanh Thủ gần một con dốc cao, lồng lộng gió ngàn thuộc núi Hòn Cối, gồm ba đoạn, đi bộ phải mất một tiếng đồng hồ. Dốc có vị trí khá đặc bịêt, nằm ở ngã tư đường: lên Thạnh Mỹ (Nam Giang), qua Đại Hồng, xuống vùng B Đại Lộc và đi Quế Sơn. Không rõ do ai đặt tên, từ năm 1962, con dốc được mang tên "Dốc Ông Thủ" và trở thành đường dây của thanh niên xung phong Đại Lộc. Các đồng chí Hồ Nghinh, Phạm Đức Nam đã đến đây trong các chuyến công tác chỉ đạo phong trào cách mạng Quảng Đà. Bộ đội, cán bộ, du kích mỗi khi xuống đồng bằng hoặc trở lại căn cứ đi qua con dốc này, nghỉ chân. Cho đến nay, nhiều người còn nhớ câu ca: “Leo lên trên dốc (ông Thủ)/Ăn tán đường đen/ Đường tình đường nghĩa/ Đường quen buổi đầu”. Trong tâm khảm những người kháng chiến ở Đại Lộc và Quảng Đà, ba tiếng "Dốc Ông Thủ" không chỉ là những tiếng gọi thân thương mà còn trở thành niềm tin, là chỗ dựa tinh thần vô giá trong những năm tháng đầy cam go "một mất, một còn" với quân thù.

    Điều đặc biệt là trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, địch chưa khi nào đến được Dốc Ông Thủ. Năm 1964, quân giải phóng hành quân qua Dốc Ông Thủ về giải phóng vùng B Đại Lộc, tạo bàn đạp để trụ lại đồng bằng. Tròn 10 năm sau, trong chiến dịch Thượng Đức lịch sử, một bộ phận lực lượng ta đã vận chuyển vũ khí, đạn dược qua Dốc Ông Thủ, trút căm hờn lên đầu kẻ thù, mở toang "cánh cửa thép" của địch bảo vệ thành phố Đà Nẵng từ phía Tây - Nam, tạo ra một trong những cơ sở thực tiễn để ta hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975 - 1976 và nếu thời cơ đến, giải phóng miền Nam trong năm 1975.
    PHAN VÂN TRÌNH
    Đồng chí Phan Thanh Thủ sinh năm 1921, tại thôn Đông Phước, xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc. Tham gia cách mạng năm 1945, tích cực tham gia khởi nghĩa giành chính quyền, sau đó làm Chủ tịch UBND cách mạng lâm thời làng Hoằng Phước, rồi Trưởng thôn Hoằng Phước. Trong kháng chiến chống Pháp, ông làm Phó Bí thư Nông hội xã Đại Hồng; cuối năm 1951 được cử làm Bí thư chi bộ xã. Từ tháng 10 - 1952, làm Thường vụ Nông hội huyện Đại Lộc. Thời chống Mỹ, ông từng là Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Đại Lộc; Phó Ban Kinh tài, Chính trị viên Ban Dân y, Phó Ban Dân vận, Trưởng ty Lương thực tỉnh Quảng Đà. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông làm Bí thư Huyện ủy Đại Lộc cho đến lúc nghỉ hưu, năm 1980, qua đời năm 1996.
    Sửa lần cuối bởi SaigonGuider; 19-08-2011 lúc 05:10 PM.
    CHIẾN BINH ĐẤT NUNG __________________________________________________ ________________
    Một đời chinh chiến, đôi khi chỉ vì... một nụ hôn...!____________________________________________ Kẻ thù buộc ta ôm cây súng...
    0979839899 - 0938797565 - (+855)885795798

  4. Có 2 người thích bài viết này


  5. #3
    Ngày tham gia
    03-10-2010
    Vị trí hiện tại
    Indochina
    Bài viết
    365
    Thích
    685
    Đã được thích 127 lần trong 88 bài viết

    Về địa danh Ba Khe (ở vùng B Đại Lộc trong chiến tranh)

    SGG: Bài trích Báo Quảng Nam online Thứ sáu, 11 Tháng 5 2007 14:51 (link trong tựa đề)

    Khe Tân: Điểm du lịch sinh thái lý tưởng


    Hồ chứa nước Khe Tân. Ảnh tư liệu.
    Hồ chứa nước Khe Tân (Đại Lộc) được kiến tạo ở độ cao 300 mét so với mặt nước biển. Lưu vực hồ rộng 840ha, dung tích 46 triệu mét khối nước. Ngoài chức năng cung cấp nước tưới cho hàng nghìn héc ta lúa và hoa màu ở 7 xã vùng B Đại Lộc, hồ chứa nước Khe Tân còn là điểm du lịch sinh thái lý tưởng cho du khách gần xa. Để tận hưởng vẻ đẹp của hồ, khách tham quan có thể du thuyền, lướt ván trên mặt hồ, thưởng thức phong cảnh thiên nhiên trời mây non nước. Nước lòng hồ trong xanh, từng đợt sóng vỗ lăn tăn xô thuyền lắc lư bồng bềnh. Trong lòng hồ có đến hàng chục hòn đảo lớn nhỏ với nhiều tên gọi dễ thương như hòn Cò, hòn Én, hòn Cóc, hòn Sấu, hòn Sư Tử, hòn Nón, hòn Ôm... tạo nên phong cảnh vốn đã thơ lại càng nên thơ hơn. Rời lòng hồ, ngược dòng suối Róc Rách du khách sẽ bắt gặp ngọn thác đổ trắng xóa nằm giữa khu rừng nguyên sơ. Trong lòng suối, có nhiều nhũ đá mang dáng hình long, lân, quy, phụng trông rất đẹp mắt. Rừng nguyên sinh An Bằng, Hữu Niên nằm đan xen với rừng trồng ưu hợp nhiều loại thực vật như: chò, dẻ, cồng, kiền kiền, dầu rái và nhiều chủng loại chim muông, thú vật như nai, mang, nhím, chồn, gà rừng, heo rừng, cu ngói, chim mía, cò trắng... tạo nên sự phong phú, đa dạng của thiên nhiên hoang sơ đầy hấp dẫn.

    Hơn thế nữa, nơi đây trong những năm chiến tranh ác liệt, là “chiếc nôi cách mạng", có nhiều căn cứ như: Khe Rèn, Khe Rúc, dốc Gió, dốc Ông Thủ... gắn liền với tên đất, tên làng quen thuộc như: Tập Phước, Thọ Lâm, Phúc Hương, Hữu Niên - đã từng là cơ quan, là nhà, là quê hương của nhiều chiến sĩ cách mạng.

    Vùng đất Lộc Sơn, Lộc Thành xưa, Đại Thạnh, Đại Chánh ngày nay còn là nơi giàu tiềm năng về thơ ca, hò vè; là nơi nổi tiếng hát hò khoan đối đáp. Gánh hát "Bàu Toa" lừng danh khắp tỉnh. Đây chính là quê hương của nghệ nhân hát tuồng Đội Tảo - Nguyễn Nho Túy - người được mệnh danh là "Con rồng trên sân khấu hát tuồng" Quảng Nam. Nay vẫn còn lưu giữ truyền thống và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu; là liều thuốc làm xoa dịu những suy tư, nhọc nhằn sau một ngày lao động.

    Nếu ai đã một thời ở đây rồi ra đi thì chắc hẳn không bao giờ quên những món ăn dân dã như bánh ít lá gai, mít trộn, thịt trâu xào lá lốt, lá sưng, bánh tráng thịt heo hay tô mì Quảng..., uống ly rượu nếp Trà Cân, thưởng thức bát nước chè xanh An Bằng tại các quán bình dân thôn dã hay các món ăn, nước uống của thời hiện đại tại nhà hàng Lộc Phước lịch lãm, yên bình cũng đều có chung cảm nhận: ăn rồi, uống rồi, đi xa lâu lắm rồi mà lòng vẫn nhớ!
    Đại Thạnh, Đại Chánh nói riêng, các xã vùng B Đại Lộc nói chung giờ đã bừng lên sức sống mới. Nước mát Khe Tân đã làm cho đồng lúa tốt tươi nặng hạt, cây trong vườn đơm hoa kết trái. Đã lùi xa những mái nhà tranh lụp sụp, xiêu vẹo để thay vào đó là những ngôi nhà mới xây còn tươi nguyên màu vôi trắng, vôi hồng khang trang bên đường cái quan vừa thảm nhựa.

    Hy vọng rằng, trong cuộc hành trình du lịch Bắc - Nam qua miền Trung và Tây Nguyên, du khách thập phương không những dừng chân tại Huế, Đà Nẵng, Hội An... mà còn về Đại Lộc tham quan đường Hồ Chí Minh huyền thoại, rồi vào thăm Tây Nguyên hùng vĩ. Hoặc từ Cửa Đại (Hội An) ngược dòng sông Thu Bồn hiền hòa đáp qua Khe Tân hít thở không khí trong lành thoáng đãng rồi lên thuyền đi tiếp về Hòn Kẽm Đá Dừng chiêm ngưỡng vẻ đẹp mê hồn của vùng đất Quảng Nam yêu thương.

    Khe Tân - điểm đến rồi đi, nhưng nơi đây sẽ đọng lại trong du khách sự nuối tiếc về một phong cảnh hữu tình, nên thơ; sẽ thức đậy trong lòng mỗi người về một chiến trường xưa chan chứa tình người...
    TRUNG VƯƠNG
    CHIẾN BINH ĐẤT NUNG __________________________________________________ ________________
    Một đời chinh chiến, đôi khi chỉ vì... một nụ hôn...!____________________________________________ Kẻ thù buộc ta ôm cây súng...
    0979839899 - 0938797565 - (+855)885795798

  6. Có 1 người thích bài viết này


  7. #4
    Ngày tham gia
    22-12-2010
    Bài viết
    639
    Thích
    487
    Đã được thích 210 lần trong 128 bài viết
    Trích dẫn Gửi bởi SaigonGuider Xem bài viết
    SGG: Bài trích Báo Quảng Nam online Thứ tư, 25 Tháng 2, 2009 - 18:54 (link trong tựa đề)

    Từ Khe Cổng đến Dốc Ông Thủ



    Nhà bia di tích lịch sử - cách mạng Khe Cổng.

    PHAN VÂN TRÌNH
    Có tư liệu về Dốc ông Thủ , lão tuaans biết mà không chịu phòi ra cho thành viên đi tìm liệt sỹ.
    May mà SGG công bố. Vậy là trường hợp của thành viên đi tìm LS hy sinh tại dốc ông Thủ, đã mở ra rồi, Mời các bác lên đường.

    SaigonGuider's Avatar

    SaigonGuider

     18:10, 19th Aug 2011 #268 

    @ONGBOM-K5: Đừng nói như thế! Lão Tuaans đã cho link và nhiều "từ khóa" rồi, nhưng có vẻ như Bác heno không "xử lý tốt" thông tin được đó thôi!



  8. #5
    Ngày tham gia
    03-10-2010
    Vị trí hiện tại
    Indochina
    Bài viết
    365
    Thích
    685
    Đã được thích 127 lần trong 88 bài viết

    Lightbulb Nhật ký Ls Hoàng Kim Lếnh và địa bàn Đại Lộc B

    Thưa cả nhà KQH,
    Có lẽ qua hai bài "trích báo" trên kia, chúng ta đã hiểu ý của SGG - với trọng trách MOD, cùng với Bác Rongxanh, quản nhiệm chuyên mục Giúp đỡ tìm người rồi hén.

    Vâng, tranh thủ các lợi thế về sử dụng nguồn thông tin đại chúng trên xa lộ internet, nhưng cũng tuân thủ các luật, lệ, nguyên tắc về sử dụng và phổ biến thông tin trên mạng cũng như các vấn đề liên quan đến... bản quyền - SGG khởi xướng thực hiện mục "Hồ Sơ - Tư liệu" như thế này, nhằm chúng ta không chỉ có thể góp phần giải quyết được một số "vấn đề trước mắt", mà còn để phục vụ cho những sự việc về sau nữa...

    Thật vậy, ta không thể "đưa các bài dạng" vào phần thảo luận trong chuyên mục vì rồi theo thới gian sẽ trôi qua mất, sẽ bất tiện cho các lần sau.
    Và tất nhiên ta cũng không thể tùy tiện trích chép thành một mục riêng, vì những nguyên tắc mà ai cũng đã biết.

    -o0o-

    Như cả nhà đều biết, trong những ngày qua, chúng ta đã thảo luận nhiều về việc có một "trạm xá" như thế nào ở khu vực chiến trường Đại Lộc, Quảng Đà... nơi mà theo trường hợp Ls nhà Bác Heno đã nêu... liên quan đến cái tên "Dốc Ông Thủ"

    Một sự rất tình cờ đã xảy ra ngay trong những ngày này - đó là các bài báo trên CATPHCM Online về cuốn "Nhật ký của Liệt sĩ Hoàng kim Lếnh" - người đã từng chiến đấu và hy sinh ở địa bàn này.

    SaigonGuider cũng đã từng băng qua vùng chiến trường xưa ấy - sẽ trình bày trong phần thảo luận bên kia...Trước mắt, trong niềm xúc động, xin phép được giới thiệu với chúng ta các bài báo liên quan...

    Các Bác chú ý nhé... các thông tin sau đây thật giá trị:
    "...đơn vị chuyển về chân dốc Ông Thủ. Sau hơn một tuần sốt liên miên, tôi quá mệt và được đưa đi bệnh xá D. Bệnh xá lúc này ở bên kia Dốc Gió, nếu khỏe vừa đi vừa về một ngày nhưng tôi đi hai ngày mới tới..."

    Thì cũng chính từ những bài báo ấy mà SGG có ý tưởng thực hiện phần chuyên mục này.
    Xin gửi chút lòng thành kính đến anh linh Liệt sĩ Hoàng Kim Lếnh.
    Cùng lời cảm ơn chân thành đến tác giả cùng Báo CATPHCM Oline
    Bài trích Báo Công An Tp.HCM online Thứ ba, 26/07/2011 06:30 (link trong tựa đề)

    Rưng rưng những dòng nhật ký chiến trường

    (CATP) Liệt sĩ Hoàng Kim Lếnh sinh năm 1949 tại thôn Mỹ Hảo, xã Ngọc Liên, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Nhập ngũ tháng 7-1967, chiến đấu trên chiến trường Quảng Đà, ở tuổi 25, trong một trận chiến đấu ác liệt tại Quảng Nam, Hoàng Kim Lếnh đã hy sinh ngày 15-6-1974. Hơn 40 năm sau, ngày 27-7-2007, đơn vị và gia đình đã tìm được hài cốt của Liệt sĩ Lếnh tại xã Điện Chính, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Trong những di vật của Liệt sĩ Lếnh, có cuốn nhật ký chiến trường ghi chép những tháng ngày gian khổ, những trận chiến đấu một mất một còn với kẻ thù. Nhân ngày Thương binh - Liệt sĩ 27-7, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một số đoạn trong cuốn nhật ký này.



    Liệt sĩ Hoàng Kim Lếnh

    NHỮNG NGÀY GIAN KHÓ
    - Tháng 3-1969: Địch đã rút khỏi hậu cứ của ta, chúng tôi trở về C3 (Thành Mỹ). Tôi bị sốt đợt hai, 4, 5 ngày không ăn nổi hạt cơm, thậm chí sữa cũng không nuốt nổi. Trong khi đó, đơn vị chuyển về chân dốc Ông Thủ. Sau hơn một tuần sốt liên miên, tôi quá mệt và được đưa đi bệnh xá D. Bệnh xá lúc này ở bên kia Dốc Gió, nếu khỏe vừa đi vừa về một ngày nhưng tôi đi hai ngày mới tới, nhiều đoạn phải có y tá cõng. Sau mấy ngày điều trị ở bệnh xá, có đêm tôi bị ngất trong lúc đi giải vì kiệt sức. Sau hơn một tháng, tôi đã bớt tuy người vẫn ớn và xanh, sức còn yếu nhưng tôi vẫn xin về đơn vị. Về đơn vị lúc này cũng vẫn nhiệm vụ cũ, vừa chuyển đạn, vừa chuyển gạo. Thời gian này địch bom pháo hết sức căng thẳng và ác liệt. Chúng tôi toàn ngủ dưới hầm vì ngày đêm bom đạn, cứ ít ngày là có người hy sinh. Mặc dù ác liệt, đơn vị vẫn tiếp tục nhiệm vụ và công việc cũ, tức là hai ngày đi xuống đồng bằng một lần, ngày bị chết hụt 4 - 5 lần do bom pháo, biệt kích.

    - Cuối năm 1969: Tình hình ngày càng căng, lương thực thiếu trầm trọng, cả ngày chỉ hai bữa với mỗi bữa một bát cơm có ngày hai bát cháo. Không những thế biệt kích lại đổ lên núi nhiều, đơn vị tôi được phân công tuần tra cảnh giới và chốt giữ khu vực dốc Ông Thủ. Khu vực này suốt ngày bom tọa độ và pháo bầy. Trước kia ở đây cây cối mọc um tùm, người đông vui nhưng chỉ sau một thời gian ngắn đã trở nên đổ nát tiêu điều, trơ trụi, nếu bốc nắm đất ít nhất cũng có 1/3 là sắt thép.

    Những ngày đầu mới lên chốt, chúng tôi phải ngủ một người một công sự, có những hôm trời mưa suốt đêm, rét, ướt đẫm, đành thức trắng. Thậm chí nước uống cũng không có, phải dùng nước hố bom. Lúc trời nắng phải đi xa 30 phút, kèm cảnh giới, nên việc ăn uống thật cực, có bữa ăn không có nước uống. Mặt mũi, chân tay, quần áo hàng tuần mới rửa ráy, giặt giũ. Chúng tôi trở nên đen xạm, mỗi ngày ăn 1/2 lon gạo và đã lâu không gặp một bóng người, căng thẳng lại rất buồn.

    - Tết năm 1969: Chúng tôi tổ chức ăn Tết tại danh trại khu Dốc Gió. Đêm giao thừa, tất cả ngồi quây quần ở một chiếc hầm trâu. Bữa cơm cuối năm là một chén bắp hầm. Khi nghe anh Thép đại đội phó nói chuyện ngày Tết, chúng tôi không sao nén nổi xúc động, nhớ quê, có đồng chí rớt nước mắt. Đêm đó vì quá đói và mệt, tôi ngủ thiếp không biết giao thừa đã đi qua lúc nào. Lúc này tình hình càng trở nên trầm trọng, cả đại đội hơn 40 người mà trong kho không còn một hạt gạo, chỉ còn khoảng một lon muối và 1/2 lon mì chính. Đại đội phải tổ chức đi kiếm sắn ở bản Bà Dương cách bốn ngày đường. Vì đã đói sẵn, chúng tôi vào mót được ít củ mang ra luộc ăn, cả năm anh em đều say. Riêng tôi bị nhẹ phải tìm rau nấu để chữa cho anh em. Vì quá nặng nên suốt một ngày sau các anh mới tỉnh, thật tội nghiệp. Lúc đó tôi cũng chỉ biết khóc mà chẳng biết làm sao, vì quá xa đơn vị.

    - Vừa về đến nhà, đơn vị lại nhận lệnh cả C (đại đội) phải bổ sung đi tiểu đoàn khác. Sau bảy ngày hành quân leo đồi lội suối ăn đói, chúng tôi đến vị trí mới. Ở đây còn gian khổ và thiếu thốn hơn ở đơn vị cũ. Bữa ăn chủ yếu là rau rừng, mỗi ngày được hai bát cháo gạo. Nhiều hôm đại đội không còn gì, sau vay được ba lon gạo nấu cháo cho 40 người.

    - Tháng 3-1970: Đơn vị tôi được phân công xuống sát gianh Lộc Quang chuyển gạo lên. Một buổi chiều, tôi được phân công xuống chợ nhận gạo theo đường gianh (Lâm Tây). Khi chúng tôi vừa bước tới bờ tre làng thì bị địch phục kích bắn ra như mưa. Vì quá gần tôi chỉ kịp nằm xuống bờ đất cạnh đó, sau ít phút, chúng tôi bò ra xa và một đồng chí đã hy sinh. Một đêm khác cũng đi lấy gạo về để cứu đói cho đơn vị, chúng tôi bị Mỹ phục kích. Cách không đầy 20m, chúng bắn như đổ đạn, pháo sáng như ban ngày. Nhưng nhờ có bụi rậm và bờ cao, tôi và một số anh em lặn xuống bò ra xa. Hơn ba tiếng đồng hồ căng thẳng, chúng tôi đã thoát ra khỏi vòng vây an toàn.
    Một lần khác, chúng tôi đi theo bờ sông xuống khu vực Mỹ thường tập kích, nên du kích đánh mìn dầy đặc. Mới khoảng 4 giờ 30 sáng, chúng tôi vấp phải mìn, tiếng nổ xé tai, hai đồng chí Chinh và Nhì bị thương. Tôi băng bó cho đồng đội, may có du kích đến khiêng về một chiếc hầm hoang, cỏ cây lấp hết cả miệng hầm. Rồi họ lại đi về hết, vì khu vực này Mỹ thường chụp quân đánh bom tọa độ. Thế là chỉ trơ lại mình tôi và hai đồng chí bị thương. Sau đó khoảng 10 giờ thì Chinh hy sinh, tôi mai táng rồi dẫn Nhì vào một hầm bị Mỹ mới đốt gần đó, tìm về đơn vị.
    (Còn tiếp)

    Trang đầu cuốn nhật ký của Liệt sĩ Hoàng Kim Lếnh
    và các hình vẽ minh họa chiến đấu trong cuốn nhật ký






    NHẬT KÝ
    CHIẾN BINH ĐẤT NUNG __________________________________________________ ________________
    Một đời chinh chiến, đôi khi chỉ vì... một nụ hôn...!____________________________________________ Kẻ thù buộc ta ôm cây súng...
    0979839899 - 0938797565 - (+855)885795798

  9. Có 2 người thích bài viết này


  10. #6
    Ngày tham gia
    03-10-2010
    Vị trí hiện tại
    Indochina
    Bài viết
    365
    Thích
    685
    Đã được thích 127 lần trong 88 bài viết

    Nhật ký Ls Hoàng Kim Lếnh và địa bàn Đại Lộc B (tt)

    Bài trích Báo Công An Tp.HCM online Thứ năm, 28/07/2011 06:00 (link trong tựa đề)

    Rưng rưng những dòng nhật ký chiến trường
    (CATP) (Tiếp theo và hết)
    BỐN NGÀY KIÊN CƯỜNG GIỮ CHỐT
    Châu Ký là xóm nhỏ có bốn gia đình và 30 nhân khẩu nằm trên gò đất của xã Xuyên Hòa, tỉnh Quảng Đà, xung quanh bao bọc và ngăn cách bởi những đồng nước ngập. Nơi đây địch có thể dùng để khống chế vùng giải phóng của hai xã Xuyên Khương và Xuyên Hòa - nên chúng mưu toan chiếm lại cái xóm nhỏ bé này. Nhận thấy tầm quan trọng của xóm, tiểu đoàn giao cho trung đội tôi gồm chín đồng chí, bằng giá nào cũng giữ vững Châu Ký bảo vệ sườn cho các đơn vị bạn. Chúng tôi gồm có Thân, Độ, Ngân, Hai, Hiệp, Tờ, Đô, Sáu và Tám.

    Liệt sĩ Hoàng Kim Lếnh
    - 29-1-1973: Địch lởn vởn đi lại và đóng bên ngoài cách 200m và giở trò ngừng bắn, hòa hợp. Tôi ra gặp nói chuyện với chúng, còn anh em ở trong nhà nghỉ ngơi, tắm giặt. Ngày hòa bình thứ hai đã trôi qua, tôi thấy bước đầu cũng thoải mái và cảm tưởng như những ngày sống trên đất Bắc. Tôi đã mơ ước ngày trở lại quê hương. Nhưng thấy ngừng bắn rồi sao bọn địch vẫn ở lại vùng giải phóng, đêm vẫn đi gài mìn? Tôi đoán nhất định chúng có thủ đoạn, nên ngay đêm đó đã quán triệt anh em cảnh giác, sẵn sàng đánh trả khi chúng giở trò.

    - 30-1: Tôi cử hai đồng chí ra cảnh giới, đề phòng chúng giở trò lật lọng. Còn anh em ở lại số đi tắm, số đi làm nhà giúp dân. 8 giờ, tôi vừa bước chân vào nhà thì nghe tiếng cối nổ, ngó ra thấy hai quả cối địch bắn vào công sự. Tôi tổ chức cho anh em ra vị trí, sẵn sàng đánh khi chúng có những hành động phá hoại hiệp định. Khi tôi vừa ra tới công sự thì hàng loạt cối + pháo bắn cấp tập vào vị trí chúng tôi. Ngớt pháo, chúng tay lăm lăm súng đi vào. Cách 20m, tôi nổ súng. Bị đòn phủ đầu, chúng chống trả yếu ớt, số mang xác đồng bọn ra, số còn lại lợi dụng bờ cao tránh đạn. 11 giờ, chúng tăng viện và tổ chức lần 2. Khi địch đến gần, Hiệp nổ một phát B40, một số tên bị tiêu diệt, số còn lại tháo chạy và gọi pháo bắn cấp tập vào trận địa. Mùi thuốc khét lẹt, đất đá bụi mù. Nhưng lá cờ do chính tay tôi cắm vẫn bay phất phới, tuy đã bị những mảnh pháo văng vào.

    - 2 giờ chiều, Hiệp và Ngân bị thương, trận địa đã hết bóng giặc, chỉ để lại những lỗ đất chi chít, đỏ sạm khói thuốc. Chúng tôi rút ra khỏi công sự, lúc đó mới thấy bụng đói và mới nhớ là cả ngày chưa ăn cơm. Bữa ăn sau một ngày chiến đấu căng thẳng thật đầm ấm, vui vẻ, anh em chúng tôi đều có mặt đầy đủ. Đêm đó tôi thao thức không ngủ, cùng Ngân dự đoán và ra tình huống cách đánh ngày mai.

    - 31-1: Chúng tôi dậy sớm hơn so với mọi ngày. Ai cũng biết âm mưu của địch nên tranh thủ ăn cơm để ra công sự. Tôi nhanh chóng sửa lại hầm vì đã bị pháo bắn nát tối qua. Chưa sửa xong thì trời đã sáng, tôi nghe một loạt AK nổ ngắn gọn, mới biết lợi dụng sương mù, bọn địch mò vào tập kích. Thường phát hiện nổ súng, tiếp theo là những loạt đạn của tôi, Tờ nổ giòn giã bắt bọn chúng phải lui ra xa. Chúng gọi pháo cối bắn như vãi vào trận địa. Ngồi dưới hầm đất rung lên, khói hắt vào nhiều lúc tôi phải tranh thủ ló đầu ra để thở. Biết là đang bắn pháo địch chưa dám vào, tôi nói với Tờ chú ý cảnh giới, lần này để thật gần mới bắn.

    - Khi pháo bắn rời rạc, tôi quan sát thấy địch khoác balô đi về phía chợ Gò, còn một số vẫn ở lại. Tôi đếm được 72 thằng. Đến Gò cách đó 200m, chúng rẽ xuống thôn La Châu (tức bên phải chúng tôi). Tôi phán đoán và thông báo cho toàn trung đội biết, địch sẽ chia làm hai mũi, một theo hướng hôm qua, một từ La Châu thọc sang. Anh em điều động lại lực lượng, quan sát kỹ, chuẩn bị cho đợt chiến đấu mới. Đúng như dự đoán, khi chúng đã triển khai bao vây chúng tôi thì pháo cối cấp tập bắn vào trận địa. Đã biết thủ đoạn của chúng nên khi pháo mới ngớt, chúng tôi đã chờ sẵn. Bọn chúng đi dò dẫm vào tưởng sẽ ngon ăn, nhưng chưa kịp nổ súng thì tôi đã phóng một quả B40 làm pháo lệnh cho trận đánh. Cuộc chiến diễn ra ác liệt, kéo dài tới 16 giờ, địch buộc phải lui ra trận địa, để lại những chiếc mũ sắt, những vũng máu và mùi khét của thuốc súng. Tôi cho anh em rút và đi thăm lại các công sự rồi về sau. Về đến nhà, T. đã cười và nói những câu dễ thương như mọi bữa. Tuy người mệt và đói do cả ngày không ăn uống, nhưng tôi rất vui vì anh em vẫn đầy đủ. Ăn cơm xong, chúng tôi nhanh chóng họp rút kinh nghiệm và xác định trận đánh quyết liệt mới.

    - 1-2: Theo dự kiến sau ba ngày bị thua đau, địch sẽ dùng cơ giới và lực lượng lớn để chiếm Châu Ký, nên hôm nay chúng tôi ăn cơm và ra công sự sớm hơn. Ngay khi sương tan, tôi đã phát hiện địch cách chỗ tôi chừng 150m. Cảnh giới suốt từ sáng đến 12 giờ, chỉ nghe chúng nói vọng tới vài câu nghe rất rõ. Mấy ngày trước giờ này súng nổ quyết liệt, nhưng hôm nay trời đã ngả về chiều mà vẫn yên, tôi nói với T. có lẽ địch bị đánh đau không dám vào, T. nở nụ cười thoải mái. Tôi và T. nói những câu chuyện và mơ ước sau này. Câu chuyện đang say mê thì pháo bắn như mưa vào trận địa. Trong tiếng pháo, tôi nghe có tiếng 12 ly 7 của xe bọc thép nổ thùng thùng. Lợi dụng vách tường, tôi nhô đầu quan sát thì thấy bảy chiếc M113 chở đầy lính đang chạy vào hướng trận địa. Tôi nhảy xuống nói với Sáu và T. chuẩn bị đối phó. Tiếp theo là tiếng súng AK, B40 nổ giòn áp đảo cả tiếng AR15 đại liên và 12 ly 7 của địch.

    Cuộc chiến đấu kéo dài, tiếng súng nổ như bắp rang, rực lửa. Tôi nghe tiếng chửi rủa của bọn chỉ huy thúc lính lên. Còn chúng tôi chiến đấu đã hơn bốn tiếng liên tục, đạn gần hết, chỉ còn mỗi người một băng, súng chống tăng B40 đã hết mà địch vẫn còn bâu như đỉa đói. Chúng dùng xe tấn công rồi cho bộ binh mò vào, tình hình cực kỳ nguy hiểm. Ngân, Tờ, anh Thâm đã hết đạn, chỉ còn quả lựu đạn cuối cùng, khi ném ra khỏi tay thì hy sinh. Lợi dụng tình thế đó, bọn chúng đã tiến vào chốt Châu Ký.

    Lúc này tôi chỉ còn một băng đạn và bốn quả lựu đạn. Bọn địch vào cách tôi 50m, tình thế rất hiểm nghèo. Tôi quyết định chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Tôi vừa bắn vừa ra hiệu cho Sáu và T. lợi dụng bờ cao lui về sau. Thấy chỉ còn một súng ở một hướng bắn, địch dựa vào xe tiến tới. Tôi lúc ở chỗ này, lúc ra chỗ khác bắn nghi binh để có thời gian cho T. và Sáu lui về. Súng chỉ còn năm viên đạn, tôi lui về đưa cho Sáu hai trái lựu đạn, nói cậu ra cảnh giới phía đó, tôi cảnh giới hướng này, nếu xe đến ta thà hy sinh chứ quyết không để chúng làm nhục đến thân thể (đến bây giờ tôi nghĩ sao lúc đó ai đã cho tôi ý chí và nghị lực quả quyết như vậy).

    Giữa lúc gian nguy, tôi sực nhớ tới ba quả pháo hiệu mà đơn vị giao cho để khi cần sẽ báo cho đơn vị biết. Tôi suy nghĩ giây lát rồi lấy một quả mầu đỏ ra. Lúc này mặt trời đã xế, ánh nắng xuyên qua những đám khói của súng đạn, tôi giật mạnh chốt quả pháo hiệu, chếch về hướng cơ quan chỉ huy. Tôi chắc là các đồng chí ở phía đó đã biết chúng tôi gặp khó khăn. Sau 5 phút khi bắn quả pháo hiệu, tình thế vẫn căng, địch càng vào gần hơn. Lúc này chúng tưởng đã làm chủ hoàn toàn, thằng đi trước súng sách tay mắt nhấc nháo. Tôi ngắm kỹ, bóp từng viên. Bị bất ngờ, chúng ùa nhau chạy và tôi cũng vừa hết đạn. Tôi ra hiệu cho T. và Sáu lui về sau rồi giật quả pháo hiệu thứ hai.

    Lợi dụng lúc bọn chúng còn lúng túng và cối của cấp trên chi viện, chúng tôi vượt đồng nước rút lui về vùng 7 Xuyên Khương. Đạn xe của địch đuổi theo líu chíu... Giữ chốt bốn ngày ròng rã, chúng tôi đã về gặp đơn vị. Về đến nơi, tôi nói với T. và Sáu bây giờ mới biết là còn sống.
    NHẬT KÝ
    CHIẾN BINH ĐẤT NUNG __________________________________________________ ________________
    Một đời chinh chiến, đôi khi chỉ vì... một nụ hôn...!____________________________________________ Kẻ thù buộc ta ôm cây súng...
    0979839899 - 0938797565 - (+855)885795798

  11. Có 4 người thích bài viết này


  12. #7
    Ngày tham gia
    03-10-2010
    Vị trí hiện tại
    Indochina
    Bài viết
    365
    Thích
    685
    Đã được thích 127 lần trong 88 bài viết

    Một trạm phẫu tiền phương ở mặt trận Quảng Đà trước 1968

    Bài trích Báo điện tử Người Đại biểu Nhân dân online 31/03/2009 (link trong tựa đề)

    “Hang đá nhà thương” đang bị lãng quên

    Trạm phẫu thuật tiền phương - trạm phẫu ban đầu khá quan trọng trong việc cấp cứu thương binh từ các mặt trận như Tuý Loan, Thượng Đức... trong kháng chiến chống Mỹ. Tuy nhiên, sau khi kết thúc sứ mệnh lịch sử của mình, khu di tích này đang bị lãng quên.
    Nằm cách TP Đà Nẵng khoảng 30km về phía Tây, trên trục đường ĐT 604 từ Đà Nẵng đi Quảng Nam, có Trạm phẫu thuật tiền phương, nằm gần khu du lịch sinh thái Suối Hoa, xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thuộc bệnh viện Hòa Vang trong kháng chiến chống Mỹ. Nơi đây là trạm đón tiếp, sơ cứu ban đầu thương bệnh binh của ta từ các mặt trận như Tuý Loan, Thượng Đức... Từ đây, các y bác sỹ lựa chọn bệnh nhân đi theo tuyến điều trị nào, có những cán bộ chiến sỹ khi về đến đây, do vết thương nặng đã trút hơi thở cuối cùng, cũng đựơc bộ đội và nhân dân địa phương chôn cất tại chốn này. Tuy nhiên, khu di tích này đã và đang bị bỏ quên.

    Theo lời kể của anh Alăng Dũng, hiện là công an viên thôn Phú Túc, xã Hòa Phú, Trạm phẫu thuật tiền phương (người dân địa phương gọi là Hang đá nhà thương) ra đời từ khoảng đầu những năm 60 của thế kỷ trước do nhu cầu phục vụ kháng chiến cứu nước, trạm phẫu thuật được đặt trong một hệ thống hang đá “dài không đếm nổi”, tuy nhiên đường vào hang đá lớn nhất có chu vi rộng khoảng hơn 20m2 thì chỉ có một khe hở 1 người đi lọt nên người dân địa phương gọi là khe Chẹt. Tại hang đá chính, các y, bác sỹ thời đó đã dùng làm “phòng phẫu thuật” cho thương binh từ các nơi chuyển đến. “Phòng ở” của các y, bác sỹ cũng như dân quân, du kích đi khiêng thương binh hồi đó là những hốc đá tự nhiên có sẵn trong hệ thống hang động này. Khi thương binh được chuyển về đây nhiều thì tất cả nhân viên phục vụ đều huy động các hang đá sạch sẽ và bằng phẳng nhất cho người bệnh, có những khi cùng lúc trạm phẫu này đã đón tiếp, sơ cứu cho khoảng 15 người.

    Thậm chí nơi đây còn là nơi “nghỉ dưỡng tạm thời” cho bộ đội ta đánh giặc ở những vùng xung quanh đó vì hệ thống hang động tại đây rất kỳ lạ, được tạo thành bởi những trụ đá lớn và phía bên trên là những tảng đá to, dày đến hàng mét nằm vắt ngang, nên khi bom hoặc pháo kích Mỹ, ngụy đổ đến thì thương binh và bộ đội ta vẫn an toàn.

    Theo người dân địa phương, Trạm phẫu kết thúc sứ mệnh lịch sử vào khoảng thời gian sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân-1968. Tuy nhiên, khu vực di tích này hiện đã bị hoang hóa. Vào thời điểm sau giải phóng, chính quyền địa phương đã phá một phần trạm phẫu này để làm đường ĐT 604. Bên cạnh đó, do lâu ngày, lại trải qua gió mưa, bão lụt khốc liệt, cát bồi, đá lở nên trạm phẫu đã bị cây cối cũng như cỏ dại gần như phủ kín. Chính quyền địa phương cũng chưa có động thái tích cực gì để phục hồi, hoặc lập bia ghi nhớ công lao những người đã cống hiến, hoặc đã ngã xuống vì độc lập Tổ quốc.

    Bí thư Đảng ủy xã Hòa Phú, Phan Phụng Trung cho biết: Tôi là người không trực tiếp tham gia hoạt động tại Trạm phẫu thuật tiền phương (hang đá nhà thương), tuy nhiên nghe thế hệ trước kể lại thì đây là trạm phẫu ban đầu khá quan trọng trong việc cấp cứu thương binh rồi chuyển lên tuyến trên. Bên cạnh đó, đây còn là khu vực nghỉ ngơi của bộ đội ta mà theo tôi biết thì đó là Đại đội ông Cật; Tiểu đoàn Lam Sơn; Trung đoàn kết nghĩa với Hải Phòng... Hiện nay, chúng tôi cũng đang thu thập tài liệu để đề xuất với cơ quan chức năng lập bia tưởng niệm tại đây nhằm khắc ghi lịch sử hào hùng của dân tộc, đồng thời là bài học để nhắc nhở thế hệ trẻ sau này tiếp nối truyền thống cha ông, gắng sức mình bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước.

    Nguyễn Sơn (TTXVN)
    CHIẾN BINH ĐẤT NUNG __________________________________________________ ________________
    Một đời chinh chiến, đôi khi chỉ vì... một nụ hôn...!____________________________________________ Kẻ thù buộc ta ôm cây súng...
    0979839899 - 0938797565 - (+855)885795798

  13. Có 1 người thích bài viết này


  14. #8
    Ngày tham gia
    03-10-2010
    Vị trí hiện tại
    Indochina
    Bài viết
    365
    Thích
    685
    Đã được thích 127 lần trong 88 bài viết

    Trạm phẫu mặt trận "cánh trung" Hòa Vang

    Bài trích Báo điện tử Người Đại biểu Nhân dân online 27/04/2009 (link trong tựa đề)

    Viết thêm về “Hang đá nhà thương”

    Sau khi đọc bài “Hang đá nhà thương” đang bị lãng quên (Báo NĐBND số 90 ra ngày 31.3.2009), tôi được đánh thức bởi những kỷ niệm trong quãng thời gian chiến đấu ở chiến trường Quảng Đà, trong đó có những kỷ niệm khó quên ở nơi mà tác giả đề cập trong bài. Tôi xin cung cấp thêm một số thông tin về trạm phẫu tiền phương đó.
    Trước tiên, tôi xin sửa lại lời dẫn đầu bài báo về địa danh Thượng Đức. Đúng ra là Hữu Đức, vì Hữu Đức lúc đó là quận lỵ cùng với các cứ điểm Gò Cà, Dương Mẹo, cao điểm 386, sân bay Hòa Bình… là nơi Mỹ ngụy có căn cứ đóng quân thuộc huyện Hòa Vang, Đà Nẵng. Quân giải phóng thường tổ chức tác chiến ở đây, đồng thời thương binh từ đây đưa về trạm phẫu gần hơn. Còn căn cứ Thượng Đức (nay là xã Đại Lãnh, Đại Lộc), thương binh được chuyển về Viện 79 hoặc Viện A15, A17 (Bến Giằng, Nam Giang).

    Khi đơn vị chúng tôi về tác chiến tại Hòa Vang (cuối năm 1968) lúc đó được gọi mặt trận “cánh Trung” là địa phương đi đầu lập “vành đai diệt Mỹ”, còn các đơn vị tác chiến tại Đèo Hải Vân là “cánh Bắc”. Thương binh tại hai “cánh” đều được chuyển về trạm phẫu tiền phương của Hòa Vang để sơ cưu, cấp cứu ban đầu. Lúc đó chúng tôi vẫn thường gọi trạm phẫu này là “phẫu cánh Trung” hoặc “phẫu ông Lý”, do lúc đó đồng chí Lý là người phụ trách trạm phẫu này.

    Cuối năm 1968 và đầu năm1969, trạm phẫu này đặt ở khu vực nằm giữa chân sân bay An Định (điểm cao 1001) và Orai của người Katu. Trạm cũng được đặt trong các hang đá, có nhiều hang rộng, căng đủ một chiếc dù pháo sáng để làm phòng phẫu thuật và nơi điều trị cho thương binh. Địa điểm này có thể là vị trí chuyển đến mới của trạm phẫu để bảo đảm an toàn, do vị trí cũ (ở Suối Hoa) gần Đồng Bằng, địch dễ càn quét, còn ở nơi mới nằm trên cao thuộc dòng suối Sông Hương phía trên thác nước, suối Sông Hương khoảng 30 phút trèo dốc.

    Theo tôi, trạm “phẫu cánh Trung”, “phẫu ông Lý” vẫn là trạm phẫu tiền phương của Hòa Vang và nó vẫn tiếp tục tồn tại theo chiều dài các trận đánh, để thực hiện nhiệm vụ cứu chữa thương binh cho đến hết chiến tranh, chứ không kết thúc sau Mậu Thân 1968.

    Liên quan đến trạm “phẫu cánh Trung”, “phẫu ông Lý” tôi còn được nghe kể về tấm gương hy sinh dũng liệt của y tá Mai (y tá trạm phẫu). Chị đã ngoan cường cùng các đồng đội nữ chiến đấu dũng cảm với địch đến viên đạn cuối cùng để bảo vệ trận địa. Khi đồng đội hy sinh hết, còn một mình, tuy đã bị thương, hết đạn nhưng chị không chịu để địch bắt sống, mà phá súng, chờ cho quân địch áp sát mới rút chốt quả lựu đạn cuối cùng, hy sinh nhưng vẫn diệt được giặc.

    Còn “ông Lý”, người phụ trách trạm “phẫu cánh Trung” sau giải phóng được cử giữ chức Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng (đã nghỉ hưu) là nhân chứng sống của trạm “phẫu tiền phương” Hòa Vang khi xưa chắc sẽ có nhiều kỷ niệm về thời kháng chiến.

    Cũng xin nói thêm địa bàn “cánh Trung” (thuộc mặt trận 44- Quảng Đà) vào giai đoạn 1967 – 1968 có E.BB31F2 đóng quân, cùng hoạt động còn có các tiểu đoàn chủ lực khác là D573, 575, 577 gồm công binh đường đèo (Hải Vân) và pháo binh hỏa tiễn A12 – DKB và các tiểu đoàn địa phương của tỉnh. Như vậy quân giải phóng thuộc “cánh Trung” (Hòa Vang) khoảng 2 trung đoàn. Sau khi trung đoàn 141 chúng tôi đến thay thế (tháng 7.1968) E31 chuyển về địa bàn “Quảng Tín” theo sư đoàn 2. Tháng 4.1970, chúng tôi chuyển sang tham gia chiến dịch đường 9 Nam Lào và sau này đi sâu vào Tây Nguyên, Bình Định nên không biết hoạt động của trạm phẫu đó nữa.

    Trong những đợt về lại hậu cứ chiến trường xưa để tìm mộ đồng đội thuộc các huyện Hòa Vang, Đại Lộc, Đông Giang, nhiều khu “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” nay đã bị khai thác kiệt quệ. Vì vậy, song song với việc phục dựng tôn tạo các khu di tích cách mạng và kháng chiến, đề nghị các địa phương cũng cần khoanh vùng bảo vệ các khu rừng nơi có di tích để giống với nguyên trạng. Vì đã là căn cứ bí mật thì không thể nằm phơi giữa ánh sáng trời. Là một cựu chiến binh, tôi rất mong nguyện vọng đó sớm được thực hiện để tô thêm truyền thống cách mạng của mảnh đất “Trung dũng kiên cường- đi đầu diệt Mỹ; đánh Mỹ thì đến Hòa Vang…”
    Hoàng Thanh Phú
    Cựu chiến binh E141F3
    CHIẾN BINH ĐẤT NUNG __________________________________________________ ________________
    Một đời chinh chiến, đôi khi chỉ vì... một nụ hôn...!____________________________________________ Kẻ thù buộc ta ôm cây súng...
    0979839899 - 0938797565 - (+855)885795798

  15. Có 1 người thích bài viết này


  16. #9
    Ngày tham gia
    03-10-2010
    Vị trí hiện tại
    Indochina
    Bài viết
    365
    Thích
    685
    Đã được thích 127 lần trong 88 bài viết
    Trích dẫn Gửi bởi SaigonGuider Xem bài viết
    “Hang đá nhà thương” đang bị lãng quên

    Trạm phẫu thuật tiền phương - trạm phẫu ban đầu khá quan trọng trong việc cấp cứu thương binh từ các mặt trận như Tuý Loan, Thượng Đức... trong kháng chiến chống Mỹ. Tuy nhiên, sau khi kết thúc sứ mệnh lịch sử của mình, khu di tích này đang bị lãng quên.
    Nằm cách TP Đà Nẵng khoảng 30km về phía Tây, trên trục đường ĐT 604 từ Đà Nẵng đi Quảng Nam, có Trạm phẫu thuật tiền phương, nằm gần khu du lịch sinh thái Suối Hoa, xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thuộc bệnh viện Hòa Vang trong kháng chiến chống Mỹ. Nơi đây là trạm đón tiếp, sơ cứu ban đầu thương bệnh binh của ta từ các mặt trận như Tuý Loan, Thượng Đức... Từ đây, các y bác sỹ lựa chọn bệnh nhân đi theo tuyến điều trị nào, có những cán bộ chiến sỹ khi về đến đây, do vết thương nặng đã trút hơi thở cuối cùng, cũng đựơc bộ đội và nhân dân địa phương chôn cất tại chốn này.
    ...
    Theo lời kể của anh Alăng Dũng, hiện là công an viên thôn Phú Túc, xã Hòa Phú, Trạm phẫu thuật tiền phương (người dân địa phương gọi là Hang đá nhà thương) ra đời từ khoảng đầu những năm 60 của thế kỷ trước do nhu cầu phục vụ kháng chiến cứu nước, trạm phẫu thuật được đặt trong một hệ thống hang đá “dài không đếm nổi”, tuy nhiên đường vào hang đá lớn nhất có chu vi rộng khoảng hơn 20m2 thì chỉ có một khe hở 1 người đi lọt nên người dân địa phương gọi là khe Chẹt...
    ...
    Theo người dân địa phương, Trạm phẫu kết thúc sứ mệnh lịch sử vào khoảng thời gian sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân-1968. Tuy nhiên, khu vực di tích này hiện đã bị hoang hóa. Vào thời điểm sau giải phóng, chính quyền địa phương đã phá một phần trạm phẫu này để làm đường ĐT 604...
    Trích dẫn Gửi bởi SaigonGuider Xem bài viết
    Viết thêm về “Hang đá nhà thương”

    Sau khi đọc bài “Hang đá nhà thương” đang bị lãng quên (Báo NĐBND số 90 ra ngày 31.3.2009), tôi được đánh thức bởi những kỷ niệm trong quãng thời gian chiến đấu ở chiến trường Quảng Đà, trong đó có những kỷ niệm khó quên ở nơi mà tác giả đề cập trong bài. Tôi xin cung cấp thêm một số thông tin về trạm phẫu tiền phương đó.
    Trước tiên, tôi xin sửa lại lời dẫn đầu bài báo về địa danh Thượng Đức. Đúng ra là Hữu Đức, vì Hữu Đức lúc đó là quận lỵ cùng với các cứ điểm Gò Cà, Dương Mẹo, cao điểm 386, sân bay Hòa Bình… là nơi Mỹ ngụy có căn cứ đóng quân thuộc huyện Hòa Vang, Đà Nẵng. Quân giải phóng thường tổ chức tác chiến ở đây, đồng thời thương binh từ đây đưa về trạm phẫu gần hơn. Còn căn cứ Thượng Đức (nay là xã Đại Lãnh, Đại Lộc), thương binh được chuyển về Viện 79 hoặc Viện A15, A17 (Bến Giằng, Nam Giang).

    Khi đơn vị chúng tôi về tác chiến tại Hòa Vang (cuối năm 1968) lúc đó được gọi mặt trận “cánh Trung” là địa phương đi đầu lập “vành đai diệt Mỹ”, còn các đơn vị tác chiến tại Đèo Hải Vân là “cánh Bắc”. Thương binh tại hai “cánh” đều được chuyển về trạm phẫu tiền phương của Hòa Vang để sơ cưu, cấp cứu ban đầu. Lúc đó chúng tôi vẫn thường gọi trạm phẫu này là “phẫu cánh Trung” hoặc “phẫu ông Lý”, do lúc đó đồng chí Lý là người phụ trách trạm phẫu này.

    Cuối năm 1968 và đầu năm1969, trạm phẫu này đặt ở khu vực nằm giữa chân sân bay An Định (điểm cao 1001) và Orai của người Katu. Trạm cũng được đặt trong các hang đá, có nhiều hang rộng, căng đủ một chiếc dù pháo sáng để làm phòng phẫu thuật và nơi điều trị cho thương binh. Địa điểm này có thể là vị trí chuyển đến mới của trạm phẫu để bảo đảm an toàn, do vị trí cũ (ở Suối Hoa) gần Đồng Bằng, địch dễ càn quét, còn ở nơi mới nằm trên cao thuộc dòng suối Sông Hương phía trên thác nước, suối Sông Hương khoảng 30 phút trèo dốc.

    Theo tôi, trạm “phẫu cánh Trung”, “phẫu ông Lý” vẫn là trạm phẫu tiền phương của Hòa Vang và nó vẫn tiếp tục tồn tại theo chiều dài các trận đánh, để thực hiện nhiệm vụ cứu chữa thương binh cho đến hết chiến tranh, chứ không kết thúc sau Mậu Thân 1968.
    ...
    Cũng xin nói thêm địa bàn “cánh Trung” (thuộc mặt trận 44- Quảng Đà) vào giai đoạn 1967 – 1968 có E.BB31F2 đóng quân, cùng hoạt động còn có các tiểu đoàn chủ lực khác là D573, 575, 577 gồm công binh đường đèo (Hải Vân) và pháo binh hỏa tiễn A12 – DKB và các tiểu đoàn địa phương của tỉnh. Như vậy quân giải phóng thuộc “cánh Trung” (Hòa Vang) khoảng 2 trung đoàn. Sau khi trung đoàn 141 chúng tôi đến thay thế (tháng 7.1968) E31 chuyển về địa bàn “Quảng Tín” theo sư đoàn 2...
    Điều đầu tiên có thể nói là Bác "Cựu" của E141F3 có chút hiểu nhầm với tác giả Nguyễn Sơn về việc đánh giá nhiệm vụ của "hang đá nhà thương" ở chỗ "trạm phẫu ban đầu khá quan trọng trong việc cấp cứu thương binh từ các mặt trận như Tuý Loan, Thượng Đức"

    Vì chính xác nhiệm vụ này của trạm phẫu là phục vụ cho cả hai mặt "Túy Loan và Thượng Đức"
    Ngay từ địa danh Hữu Đức mà Bác "Cựu" đính chính cũng không chính xác luôn - có lẽ do cách phát âm địa phương, và nhất là có lẽ do nhiệm vụ của đơn vị Bác ấy, E141F3, sau Mậu thân (7/1968) chỉ mang tính "trấn đường thông địa bàn" ngang Duy Xuyên về cánh duyên hải Bắc Bình định, rồi sau đó rút về phía Bắc tham gia đường 9 Nam Lào như Bác ấy đã nêu.

    Bởi không có quận lỵ Hữu Đức... mà là Hiếu Đức! Gò Cà, Dương Mẹo là những cái tên địa danh ngay chính tây Hòa Vang, nay nằm cạnh trục lộ 14B, từ nút giao thông vòng xoay cầu vượt Hòa Cầm đi về hướng đường 604, có Dốc Kiền cao hơn ngàn thước, đi B'rao Hiên, nơi mà năm 2000 đã làm lễ động thổ thực hiện Đường HCM Công nghiệp hóa.

    Chính ở đỉnh dốc Kiền này, có khu hang đá Chẹt, một trong hộ thống hang đá "dài không đếm nổi" có trạm phẫu "hang đá nhà thương" nói trên - và đúng là người ta đã "vỡ" nhiều núi và hang để làm con đường 604 ấy, mà thêm một lần gần đây nhất là cuối năm 2010 vừa qua, khi phải "hạ độ cao" của dốc Kiền.

    Vâng, với lợi thế cả chuỗi núi đá, nhiều hang, khe - trong đó đẹp nhất là thung lũng đá Túy Loan - nằm ngay góc dựng phía tây nam của dãy Bà nà... Trạm phẫu "Hang đá nhà thương" này nằm ở độ cao hơn ngàn thước, một mặt hướng bắc về phía suối Hoa, mặt phía nam "gác thềm" một sân bay dã chiến - và sân bay này chỉ là sân đỗ trực thăng, bãi đáp phụ của sân bay An Điềm (không phải là An Định) - đây là một "cứ điểm liên hoàn" với... Chi khu Thượng Đức, phía nam của dãy và nằm gần ngã ba sông Côn, nhánh sát tả ngạn sông Giàng
    Sông Giàng, tiếng dân tộc katu gọi là sông Giàng/sông trời - bản đồ cũ ghi tên là sông Yang, tên con sông thượng nguồn tận cùng... mà nay ta có chuỗi thủy điện... "A Vương" trên một nhánh lớn... Rồi thì nhờ thêm vài phụ lưu nữa để con sông này ở hạ lưu "đủ nước" chia nhiều nhánh tên khác nhau như sông Bung, sông Hà nha, sông Vu Gia và sông Thu Bồn

    (@Rongxanh: Ngày nay trên đường HCM. từ Hiên đi Nam Giang, có cầu đẹp Bến Giằng - còn Bến giang thì lại là một địa danh khác nằm trên nhánh QL14D ra cửa khẩu sang đất bạn Lào đó Bác ạ)

    Lại nói về trạm phẫu "cánh trung" này - phải hiểu đây là "cánh trung của Hòa Vang", chỉ là một phần của "cánh trung Quảng Đà" thôi. Ngay trong dịp trong và sau Mậu thân, "đội phẫu" này đã xuống đồng bằng và đến tận khu duyên hải Ngũ Hành Sơn...

    Vấn đề là - ở đây - chúng ta đang quan tâm đến địa bàn khu vực để suy luận đến các chi tiết "thông tuyến tải thương thuận lợi", liệu có khả năng "mai táng liệt sĩ ngay tại khu vực" cũng như các khả năng về "quy tập" sau này.

    SaigonGuider's Avatar

    SaigonGuider

     22:40, 20th Aug 2011 #289 

    Bác BOM, em không có ý gì khác ngoài việc muốn nêu về địa bàn/thực địa. Phiên hiệu được nhắc đến như thế chỉ để bổ nghĩa cho cái tên của Bác "Cựu" ấy (như chữ ký đã dẫn trong post#8)

    No Avatar

    ONGBOM-K5

     19:03, 20th Aug 2011 #286 

    cho SGG làm tổng TMT thì quân phải cơ động chết luôn. e.141 mải tháng 6-1973 mới về f3 cụ ơi


    CHIẾN BINH ĐẤT NUNG __________________________________________________ ________________
    Một đời chinh chiến, đôi khi chỉ vì... một nụ hôn...!____________________________________________ Kẻ thù buộc ta ôm cây súng...
    0979839899 - 0938797565 - (+855)885795798

  17. Có 1 người thích bài viết này


  18. #10
    Ngày tham gia
    03-10-2010
    Vị trí hiện tại
    Indochina
    Bài viết
    365
    Thích
    685
    Đã được thích 127 lần trong 88 bài viết

    Hồ sơ điện tử về liệt sĩ (QĐND Online)



    Bài trích Báo Quân đội Nhân dân online Thứ Sáu, 19/08/2011, 23:45 (GMT+7) (link trong tựa đề)

    Viết theo yêu cầu bạn đọc
    Hồ sơ điện tử về liệt sĩ

    QĐND - Ngay sau khi biết tin Cục Chính sách (Tổng cục Chính trị) tổ chức lớp tập huấn chuyển giao phần mềm hồ sơ điện tử về liệt sĩ cho các đơn vị, Báo Quân đội nhân dân đã nhận được nhiều cuộc điện thoại từ thân nhân các gia đình liệt sĩ gọi đến hỏi rõ hơn về những tiện ích của phần mềm này trong việc tra cứu thông tin về liệt sĩ? Những thắc mắc của thân nhân liệt sĩ xoay quanh các câu hỏi: Cần tra cứu thì tra cứu ở đâu? Thủ tục thế nào? Thông tin có được sau khi tra cứu gồm những gì...?. Đáp ứng yêu cầu của nhiều thân nhân các liệt sĩ, chúng tôi xin cung cấp thêm những thông tin liên quan.

    Tra cứu ngay tại Bộ CHQS các tỉnh, thành phố


    Theo thông tin từ Cục Chính sách thì từ ngày 1-9-2011, các đơn vị bắt đầu ứng dụng phần mềm hồ sơ điện tử về liệt sĩ để cung cấp thông tin cho thân nhân các liệt sĩ trên địa bàn mình quản lý dựa vào số liệu đã có. Trao đổi với chúng tôi xung quanh việc chuyển giao phần mềm này về các đơn vị, Đại tá Ngô Công Đoàn, Trưởng phòng Hậu phương Quân đội, Cục Chính sách, Tổng cục Chính trị nói:

    Cán bộ chính sách các đơn vị đang tập huấn về phương pháp khai thác phần mềm hồ sơ điện tử về liệt sĩ.


    Cán bộ chính sách các đơn vị đang tập huấn về phương
    pháp khai thác phần mềm hồ sơ điện tử về liệt sĩ.

    - Từ trước tới nay, trung bình mỗi ngày Phòng Hậu phương Quân đội tiếp đón từ 30 đến 40 thân nhân các liệt sĩ đến đề nghị được cung cấp thông tin về liệt sĩ, ngày cao điểm có thể lên tới 60-70 thân nhân. Số lượng này có chiều hướng tăng do nhu cầu cần biết thông tin về liệt sĩ của thân nhân ngày càng cao, điều này vừa gây ra tình trạng quá tải cho cơ quan, vừa gây tốn kém cho thân nhân trong việc đi lại.

    Để giải quyết tình trạng trên và triển khai Kế hoạch số 1696 ngày 8-11-2010 của Tổng cục Chính trị được Bộ Quốc phòng phê duyệt về việc hoàn thiện và ứng dụng hồ sơ điện tử về liệt sĩ làm cơ sở tra cứu thông tin phục vụ việc giải quyết chính sách đối với quân nhân; phục vụ công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và cung cấp thông tin cho thân nhân các liệt sĩ; thời gian qua, Cục Chính sách đã phối hợp với Cục Quân lực (Bộ Tổng tham mưu) và Cục Cán bộ (Tổng cục Chính trị) tiến hành rà soát hồ sơ, danh sách quân nhân hy sinh, từ trần, mất tin, xây dựng cơ sở dữ liệu cho phần mềm hồ sơ điện tử về liệt sĩ. Việc chuyển giao phần mềm trên cho Bộ CHQS các tỉnh, thành phố và Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội là cơ sở để các đơn vị trích lục, cung cấp thông tin về liệt sĩ theo quản lý ban đầu cho thân nhân các liệt sĩ có yêu cầu như: Đơn vị khi hy sinh; tọa độ hy sinh; nơi an táng...

    Nói rõ thêm về vấn đề này, Đại tá Ngô Công Đoàn cho biết:

    - Trong chiến tranh, theo quy định, sau khi quân nhân hy sinh, các đơn vị tổng hợp, lập danh sách báo tử lần 1 về Cục Chính sách với thông tin khá đầy đủ về liệt sĩ. Căn cứ vào danh sách của các đơn vị, Cục Chính sách tiến hành báo tử lần 2 về Bộ CHQS các tỉnh, thành phố với thông tin ngắn gọn, bảo đảm tính bí mật. Do vậy, nếu căn cứ vào những thông tin được ghi trong giấy báo tử, thân nhân các gia đình không thể xác định được đơn vị hoặc nơi hy sinh của người thân. Giờ đây, phần mềm hồ sơ điện tử về liệt sĩ sẽ cung cấp toàn bộ thông tin ban đầu về liệt sĩ cho thân nhân biết. Tuy nhiên, phần mềm hồ sơ điện tử về liệt sĩ chưa thể trả lời được thông tin về mộ liệt sĩ hiện nay.

    Trao đổi thêm với chúng tôi, sau khi dự lớp tập huấn về chuyển giao phần mềm hồ sơ điện tử về liệt sĩ, Trung tá Vũ Anh Tuấn, Trưởng ban Chính sách Bộ CHQS tỉnh Thanh Hóa chia sẻ:

    - Trước đây, khi thân nhân các liệt sĩ đến tra cứu thông tin, anh em chúng tôi phải lật từng bộ hồ sơ lưu trữ, xem xét kỹ lưỡng, nên có khi một ngày chỉ giải quyết được cho 3-4 thân nhân. Nay áp dụng phầm mềm này, tôi tin rằng việc tra cứu thông tin về liệt sĩ cho các thân nhân sẽ rất thuận tiện. Qua tập huấn, chúng tôi thấy rất rõ hiệu quả việc ứng dụng phần mềm này trong giải quyết công việc. Hiệu quả công việc tăng gấp 5-6 lần so với làm thủ công. Hơn nữa, việc phân cấp theo từng đơn vị, từng địa phương sẽ tạo điều kiện cho thân nhân các liệt sĩ tra cứu ngay tại địa phương mà không cần phải đến Cục Chính sách, hoặc tìm vào đơn vị mà người thân từng công tác, chiến đấu trước khi hy sinh.

    Thủ tục đơn giản, nhanh chóng

    Trao đổi với chúng tôi về thủ tục và trách nhiệm của các đơn vị trong việc triển khai phần mềm hồ sơ điện tử về liệt sĩ, Đại tá Nguyễn Việt Dĩnh, Phó cục trưởng Cục Chính sách, Tổng cục Chính trị nói:

    - Cùng với tổ chức tập huấn, Cục Chính sách cũng đã biên soạn tài liệu hướng dẫn cách quản lý, khai thác hồ sơ điện tử về liệt sĩ cho đội ngũ cán bộ chuyên trách ở từng địa phương, đơn vị; đồng thời quy định rõ trường hợp được cung cấp thông tin, trách nhiệm, nghĩa vụ của từng cơ quan, đơn vị. Theo đó, những trường hợp sau đây sẽ được cơ quan chính sách cung cấp thông tin về liệt sĩ: Các đơn vị, các đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; thân nhân của liệt sĩ theo quy định tại Điều 14, Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, bao gồm: Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con, người có công nuôi dưỡng liệt sĩ khi còn nhỏ; anh, chị, em ruột của liệt sĩ; người thờ cúng liệt sĩ và đang hưởng chế độ thờ cúng liệt sĩ; người được ủy quyền của gia đình liệt sĩ.

    Cũng theo Đại tá Nguyễn Việt Dĩnh, khi đến yêu cầu đơn vị cung cấp thông tin về liệt sĩ, thân nhân các liệt sĩ cần làm đơn đề nghị, trong đó nêu rõ lý do xin cung cấp thông tin và quan hệ với liệt sĩ (đơn có xác nhận của UBND xã, phường; trường hợp được ủy quyền phải có giấy ủy quyền của gia đình liệt sĩ, có xác nhận của chính quyền địa phương); chứng minh thư (hoặc giấy tờ tùy thân khác); giấy báo tử liệt sĩ (trường hợp không có giấy báo tử phải có giấy tờ khác về liệt sĩ do cơ quan Nhà nước cấp như: Bằng Tổ quốc ghi công; Huân chương kháng chiến…

    Về phía các đơn vị: Phải có trách nhiệm tiếp nhận đơn, kiểm tra giấy tờ của người đề nghị theo quy định và phải trích lục khách quan, chính xác hồ sơ, cung cấp thông tin về liệt sĩ cho thân nhân liệt sĩ bằng văn bản theo quy định. Trường hợp chưa thể trả lời ngay thì cấp phiếu hẹn cho thân nhân các liệt sĩ và cung cấp thông tin trong thời gian sớm nhất theo lịch đã hẹn. Nếu trong hồ sơ điện tử chưa có thông tin liên quan đến liệt sĩ thì thông báo cho thân nhân các liệt sĩ biết và ghi lại những yếu tố liên quan đến liệt sĩ để tiến hành xác minh, so sánh, đối chiếu, phản ánh về Cục Chính sách nhằm tiếp tục bổ sung vào hồ sơ điện tử về liệt sĩ. "Nghiêm cấm mọi hành vi in sao dữ liệu, cung cấp sai đối tượng hay gây phiền hà cho thân nhân các liệt sĩ"- Đại tá Nguyễn Việt Dĩnh nhấn mạnh.

    Bài và ảnh: Duy Thành
    CHIẾN BINH ĐẤT NUNG __________________________________________________ ________________
    Một đời chinh chiến, đôi khi chỉ vì... một nụ hôn...!____________________________________________ Kẻ thù buộc ta ôm cây súng...
    0979839899 - 0938797565 - (+855)885795798

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •