CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 3 của 8 Đầu tiênĐầu tiên 12345 ... CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 71

Chủ đề: Theo Dấu chân Anh [HỒ SƠ - TƯ LIỆU]

  1. #21
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    6,060
    Thích
    112
    Đã được thích 801 lần trong 586 bài viết
    Chiều ngày 10-6, xã Mỹ Thắng (huyện Phù Mỹ - Bình Định) phối hợp Ban liên lạc Hội CCB Sư đoàn 3 Sao Vàng, Phòng Lao động - TBXH huyện, Cơ quan quân sự huyện Phù Mỹ đã tổ chức trọng thể Lễ truy điệu và an táng ba hài cốt liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ xã Mỹ Thắng.
    Ba liệt sĩ này đều là cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 3 Sao Vàng. Trong đó, đã xác định rõ danh tính liệt sĩ Nguyễn Văn Năng, SN 1946, thôn 8, xã Mỹ Thắng, huyện Phù Mỹ, nhập ngũ tháng 10-1964, quân hàm Thượng úy. Chức vụ khi hy sinh là Tiểu đoàn phó, Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 2, Sư đoàn 3 Sao Vàng.
    Theo xác định ban đầu, hai chiến sĩ còn lại ở miền Bắc vào Nam chiến đấu, nhưng không rõ tên tuổi, quê quán cụ thể ở đâu.
    Tối ngày 7-3-1975, đồng chí Năng cùng nhiều chiến sĩ được lệnh cấp trên vượt qua đường 19 chuẩn bị sẵn sàng cho Tiểu đoàn 1 cơ động chốt chặn tiêu diệt Trung đoàn 42 (Sư đoàn 22) của địch thì bị địch phát hiện. Đồng chí Năng và hai chiến sĩ của anh hy sinh sáng ngày 8-3.
    Địch đem xác ba đồng chí đốt và chôn chung tại một địa điểm ven đường 19 thuộc thôn Tả Giang 1, xã Tây Giang, huyện Tây Sơn (Bình Định).

    XUÂN LỘC
    (Đài TT Phù Mỹ- Bình Định)

  2. Có 1 người thích bài viết này


  3. #22
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    906
    Thích
    62
    Đã được thích 151 lần trong 102 bài viết
    Việt Nam - Campuchia hợp tác hồi hương 14.510 hài cốt liệt sĩ

    Từ năm 2001 đến tháng 6/2012, Việt Nam và Campuchia đã phối hợp chỉ đạo tìm kiếm, cất bốc, hồi hương được 14.510 hài cốt liệt sĩ, theo số liệu được công bố tại Hội nghị lần thứ 11 giữa Ủy ban chuyên trách cấp nhà nước Việt Nam - Campuchia nhằm tiếp tục hợp tác hữu nghị về tìm kiếm, quy tập và hồi hương hài cốt bộ đội tình nguyện Việt Nam năm 2012-2013 diễn ra sáng ngày 12/6 tại Phnôm Pênh, Campuchia.

    Tại Hội nghị, hai bên đã thống nhất đánh giá: Thực hiện Hiệp định đã ký giữa hai Chính phủ từ năm 2000 đến nay, Ủy ban chuyên trách Chính phủ, các quân khu, các cấp chính quyền địa phương, lực lượng vũ trang và nhân dân Campuchia đã phối hợp chặt chẽ, giúp đỡ tận tình, cung cấp, xác nhận thông tin, bảo vệ an toàn và dẫn đường cho các đội quy tập của Việt Nam. Việc tổ chức lễ tiễn đưa, đón nhận hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại các địa phương được hai bên tổ chức chu đáo, trang nghiêm, phù hợp với truyền thống, phong tục tập quán của nhân dân hai nước.


    Hội nghị thống nhất đánh giá, đến nay còn khoảng hơn 5.000 hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh trong các thời kỳ chiến tranh còn lại trên đất Campuchia; trong đó, 1.699 điểm mộ có thông tin về nơi hy sinh.


    Hai bên đã thỏa thuận nội dung phối hợp trong năm 2012-2013, theo đó, tiếp tục duy trì 11 đội chuyên trách, sang Campuchia làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập từ cuối tháng 10/2012 để có thể tiếp tục tìm kiếm, cất bốc, hồi hương khoảng 800 hài cốt liệt sĩ Việt Nam.


    Trần Chí Hùng (P/v TTXVN tại Campuchia)

  4. #23
    Xin tu xoa Guest

    Trận đồn Bàu Ốc của D840/D600 - đêm 7 rạng 8/11/1967 ở Bình Thuận

    Liên quan đến trận đánh đồn Bàu Ốc của D840/D600 - đêm 7 rạng 8/11/1967 ở Bình Thuận:

    Nước mắt tìm cha của người con liệt sĩ

    BT- Đôi giày vải bám bùn, chiếc áo thun sờn và ba lô cũ õ, anh Trần Quang Thể suốt nhiều năm đi khắp chiến trường Bình Thuận tìm cha, liệt sĩ Trần Quang Thuyết, hy sinh tại trận đánh đồn Bàu Ốc đêm 8, rạng sáng ngày 9/11/1967.
    Anh Trần Quang Thể xúc động đọc lá thư cuối cùng của cha. (ảnh: Đình Hòa)
    Với đôi mắt đỏ hoe, ngân ngấn nước, anh Thể len lỏi giữa dòng người, mong có được thông tin chính xác về người cha thân yêu của mình. Đã mấy ngày nay, anh bỏ việc ở xưởng cơ khí, thuộc Tổng Công ty cổ phần số 5- Bộ Xây dựng đóng tại thành phố Hồ Chí Minh để về Bình Tân- Bắc Bình tìm cha, vì được một đồng đội cũ của cha anh thông báo, có người biết về trận đánh đồn Bàu Ốc năm xưa. Ông Bùi Xuân Thành, đồng đội của liệt sĩ Trần Quang Thuyết, hiện đang sống tại xã Hồng Liêm cho biết: Đó là trận đánh sở chỉ huy địch đêm ngày 8, rạng sáng ngày 9/11/1967 của Tiểu đoàn 840 (Tiểu đoàn 600) phối hợp các đơn vị khác. Sau khi ta rút quân, đến gần buổi trưa, tôi mới hay tin số chiến sĩ hy sinh có anh Trần Quang Thuyết, người bạn chiến đấu cùng quê. Hòa Bình lập lại, tôi về sinh sống tại Hồng Liêm, đã nhiều lần về khu vực này tìm kiếm, mong tìm được xác đồng đội nhưng vô vọng. Thương là thương cho mẹ con thằng Thể hơn 40 năm nay luôn hy vọng tìm thấy cha. Nó đã đi khắp chiến trường Bình Thuận rồi. Tấm lòng của nó khiến tôi không ngại khó, đưa nó về lại những nơi chúng tôi đã từng chiến đấu để dò kiếm thông tin.

    Anh Thể lục tìm trong ba lô và nâng niu như báu vật túi nilong đựng những giấy tờ, hồ sơ liên quan đến người cha thân yêu của mình. Quê anh tận xã Nhân Phúc, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Bố Thuyết đi B, hy sinh khi anh mới được 2 tuổi, và duy nhất một lần, anh được bố hôn. Sau giải phóng, đến đầu tháng 10/1975, mẹ con anh nhận được giấy báo tử gửi về từ chiến trường Đông Nam bộ. Thương con, mẹ anh ở vậy nuôi con khôn lớn và 2 mẹ con cứ lặng lẽ tìm, mong có ngày đưa được người thân yêu nhất về quê. Duyên may anh gặp được chú Thành, khẳng định chắc chắn liệt sĩ Trần Quang Thuyết hy sinh tại trận Bàu Ốc, anh liền lần khăn gói vào Bình Thuận tìm cha từ những năm 1990. Anh xin làm việc hẳn tại Nhà máy Đường Bình Thuận; rồi hai mẹ con tìm kiếm khắp khu vực Bình Tân, Hồng Liêm suốt hơn 3 tháng trời. Sau đó, vì công việc không ổn định, anh chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống. Nhưng mỗi năm vài lần, anh Thể lại về Hồng Liêm để cùng chú Thành tìm cha.

    Tháng 7 này cũng vậy, khi hay tin Sở Lao động Thương binh &ø Xã hội phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức tìm kiếm hài cốt liệt sĩ tại khu vực đồn Bàu Ốc, anh Thể lại khăn gói về. Nhưng, mắt anh đỏ hoe khi nhìn sự thất vọng của các đơn vị tìm kiếm, do chưa xác định đúng vị trí sau 40 năm địa hình thay đổi. Tâm sự với chúng tôi mà nước mắt anh, người đàn ông 43 tuổi không ngừng rơi. Anh kể về cha cho chúng tôi nghe bằng những gì mẹ đã kể với anh, đó cũng là những lời ru cho anh trưởng thành. Túi “báu vật” anh luôn mang bên mình có giấy báo tử của cha, quyết định thăng cấp hàm của cha từ hạ sĩ lên trung sĩ vào năm 1965, giấy chứng minh nhân dân và nhiều giấy tờ liên quan khác... Đặc biệt là gần 100 lá thư bố Thuyết gửi cho mẹ Hảo, mà có lá thư anh đã thuộc lòng. Anh lại khóc khi đọc lá thư bố viết cho mẹ ngày 18/6/1965, khi đó anh mới được 4 tháng tuổi: Em thương của anh. Tối 12/3, Đảng tổ chức kết nạp cho anh. Sáng hôm sau, anh lên đường chiến đấu với tư thế rất khẩn trương…. Anh và em đã 3 năm xa cách với bao nhớ nhung. 3 năm qua, vợ chồng mình đã hiến dâng tình yêu, tuổi trẻ cho đất nước. Mặc dù có đôi lúc còn lo nghĩ tình cảm riêng tư, nhưng chưa bao giờ anh lung lay về trách nhiệm với Tổ quốc. Chờ tết đến, vợ chồng mình sẽ gặp nhau tâm tình… Đó có lẽ cũng là lá thư cuối cùng mẹ anh nhận được.

    Chia tay anh Thể, tôi cứ ám ảnh hình ảnh anh quay đi, lau vội hai hàng nước mắt khi đợt tìm kiếm kết thúc không có kết quả. Tôi chưa kịp nói lời động viên thì anh đã chào mọi người lên đường ra Nha Trang, để gặp một đồng đội cũ của cha vừa liên lạc được. Còn chuyến về anh sẽ ghé lại Tánh Linh, Đức Linh và nhiều chỗ nữa; trong anh chưa bao giờ tắt hy vọng tìm được cha.

    Mong rằng, các đồng đội cũ của liệt sĩ Trần Quang Thuyết, hay những người đã từng biết về trận đánh đồn Bàu Ốc năm xưa, nếu có những thông tin chính xác xin báo cho Sở Lao động Thương binh & Xã hội, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Hội Cựu chiến binh… hoặc địa phương nơi mình sinh sống. Để người thân của các liệt sĩ, trong đó có người con hiếu thảo như anh Thể được yên lòng.
    QUANG HUY

    Tuổi Trẻ Online - Chủ Nhật, 20/07/2008, 01:04 (GMT+7)
    Tìm kiếm những người nằm xuống

    Ông Thịnh (phải) và ông Thành, hai người từng là lính ở hai chiến tuyến cùng tìm kiếm hài cốt liệt sĩ. Ảnh: Y.Trinh
    TT - Chiến tranh đã lùi vào quá khứ. Nhưng bao cuộc đời liên quan đến một trận chiến vẫn day dứt khôn nguôi.
    "Nhẹ. Nhẹ tay thôi. Không khéo mình làm đau các anh!" - tiếng ai đó khe khẽ giữa đám đông. Dưới hố đào dở dang, hai mái đầu bạc chụm vào nhau. Họ cùng nâng niu một nắm đất đen. Phải xương cốt của các anh đây không? - "Phải! 41 năm rồi còn gì. Xương biến thành đất cả rồi". "Không, đất. Chỉ là đất thôi!". Những ánh mắt hết hi vọng lại sa sầm. Trưa tháng bảy, trời Bình Thuận nắng như đổ lửa, hai ông già chuyền tay nhau chai nước. Ai hay gần nửa thế kỷ trước họ từng là những con người ở hai chiến tuyến.
    Lương tri thao thức
    Những nếp nhăn hằn sâu như hình ruộng bậc thang, khắc khổ co dãn theo từng vốc đất được xới lên. Tay ông Nguyễn Phúc Thịnh đặt lên ngực. Run rẩy. Hồi hộp. Hình ảnh 41 năm trước như đang nhảy múa trong tâm trí ông. Thời ấy, ông Thịnh là sĩ quan chế độ cũ đồn trú tại Bàu Ốc, xã Bình Tân, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận. Sau một trận chiến rã rời, sáng 8-11-1967 ông Thịnh chỉ huy một toán lính đi gom xác người. Ông đã cho chôn xác 26 chiến sĩ cách mạng vào một hố. Chuyện bình thường trong thời chiến. Ông cứ ngỡ mình sẽ quên đi...

    Nhưng...
    Hòa bình lập lại ông Thịnh cởi chiếc áo lính. Buổi sáng hoang tàn ấy vẫn như một đoạn phim sống trong vỏ não ông. Day dứt khôn nguôi. Ông đạp xe từ TP.HCM ra Bình Thuận tìm lại cái hố năm xưa mong thắp một nén nhang. Vật đổi sao dời. Tất cả trở thành đồng lúa. Ông lặng lẽ lên cao nguyên, những mong chôn vùi ký ức kia ở một vùng đất mới.
    41 năm sau, ông Thịnh là ông ngoại, ông nội của một đàn cháu, sống ở xã Ea Yông, huyện Krông Păk, tỉnh Đắc Lắc. Nhưng buổi sáng đầy mùi thuốc súng và máu vẫn ám ảnh ông từng ngày. Nghe tin nhắn tìm đồng đội trên báo đài, nhiều lần ông muốn tìm đến cơ quan chức năng để báo về cái hố chôn tập thể kia. Chân này muốn bước đi mà chân kia cứ níu lại. Mặc cảm, sợ hãi. Mãi đến khi nghe cơ thể mình rệu rã ở tuổi 69. "Có lẽ tui sắp chết. Nếu không nói ra, không tìm ra xác những anh bộ đội ấy, tui chết không nhắm mắt" - tự nhủ vậy, ông đặt bút viết một lá thư gửi cho báo Cựu Chiến Binh thông báo địa điểm và kêu gọi mọi người cùng chung tay tìm hài cốt bộ đội. Từ manh mối của ông Thịnh, một tháng sau, các cơ quan chức năng cùng những đồng đội cũ đã tổ chức cuộc tìm kiếm này.

    Cuộc tìm kiếm cho tương lai
    "Tui là Bùi Xuân Thành, đồng đội của các anh đây. Chỉ cần thấy chiếc dép râu, thắt lưng hay cúc áo của các anh thôi. Không thấy xương cốt, chúng tôi cũng sẽ hốt nắm đất nơi đây về thờ!" - vừa nói, bàn tay gân guốc của người đàn ông vẫn cào từng vốc đất. Nắng như thiêu. Mái đầu ngả màu sương của ông vẫn lặng lẽ cúi xuống, mắt đăm đắm tìm.
    Bên cạnh ông Thành còn có mái đầu bạc của thương binh Trần Văn Kiệt - cũng là đồng đội của ông. Ông Kiệt vừa đến sau chuyến xe đò đường dài từ Bến Tre. Chiến tranh qua đi, ông Kiệt về Bến Tre sống. Con cái khôn lớn thành đạt nhưng nỗi ray rứt về những đồng đội đã hi sinh chưa tìm thấy hài cốt vẫn canh cánh. Càng về chiều, nỗi day dứt ấy càng nặng hơn trong lòng. Cách đây khoảng một tháng, ông bắt gặp dòng tin của ông Thịnh trên báo Cựu Chiến Binh. Những người ông Thịnh đã chôn chính là đồng đội của ông Kiệt. Ông Kiệt nhấc điện thoại gọi cho ông Thịnh và hẹn một ngày gặp gỡ...
    Thời gian đã trĩu nặng lên những phận đời. 26 hài cốt kia vẫn còn ở một nơi thăm thẳm nào đó trong lòng đất sau hai ngày kiếm tìm. Thế nhưng nhiều người vẫn vững tin vào một kết thúc có hậu khi nhìn ông Thịnh, ông Kiệt, ông Thành - những người lính từng ở hai chiến tuyến - chụm đầu bên nhau dưới hố đất đào dở dang. Cách hố đào dở dang chưa đầy trăm mét là đường xe lửa. Những chuyến tàu nối liền các vùng đất cứ xình xịch trôi qua như cuộc sống luôn đi về phía trước, phải nhớ, phải quên và phải yêu thương.
    Bố ở đâu?
    Anh Thể đã mấy mươi năm mòn mỏi tìm cha. Ảnh: Y.Trinh
    Lẫn giữa dòng người tìm hài cốt liệt sĩ, một người đàn ông trung niên thất thểu quảy chiếc balô đã đứt một quai. Đó là anh Trần Văn Thể, hiện là thợ cơ khí sống ở Sài Gòn. Anh đi tìm cha là liệt sĩ Trần Quang Thuyết. Thời ấy, mẹ con anh Thể sống ở Hà Nam. Còn ông Thuyết theo tiếng gọi non sông vào chiến trường Đông Nam bộ. Nghe mẹ kể lại lúc anh ba tháng tuổi, bố có lần về vội vã rồi đi luôn không trở lại. Đó là lần duy nhất hai bố con gặp nhau.
    Nâng niu trang thư ố vàng bố gửi cho mẹ có nhắc về đứa con bé bỏng, nước mắt lăn dài trên khuôn mặt dày dạn gió sương của người đàn ông 44 tuổi. Sau giải phóng, anh Thể theo một người đồng đội của bố để hỏi bố hi sinh ở đâu, mặc dù người đồng đội ấy bị bệnh tâm thần khi nhớ khi quên. Trong một khắc tỉnh táo, người ấy đã thốt lên hai chữ: Bình Thuận. Vậy là anh quảy balô mang theo kỷ vật của bố vào Nam. Có thời gian ba năm ròng anh Thể chuyển công tác ra Bình Thuận để có điều kiện tìm hài cốt của bố. Không nhớ nổi bao lần bước chân anh đã dò khắp các vùng căn cứ cũ ở Bắc Bình. Tự tay anh đào từng xẻng đất. Hi vọng. Rồi lấp đất lại trong tuyệt vọng.
    YẾN TRINH

  5. #24
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    6,060
    Thích
    112
    Đã được thích 801 lần trong 586 bài viết
    Đánh chốt – không như nhiều người vẫn kể

    Mỗi người cựu chiến binh từng kinh qua thời khói lửa đều có những kỉ niệm không thể nào quên. Những năm tháng đó, so với cuộc sống trong một đời có thể không dài lắm. Nhưng trên thực tế, đó là những năm tháng đã theo họ trọn đời, với nghĩa tình và bản lĩnh kiên trung. Gặp gỡ bác Lê Xuân Trự, ở Thành Phố Vinh, được nghe bác kể lại những kí ức tuổi trẻ trên chiến trường, chúng tôi thấy rất xúc động, xin được ghi lại câu chuyện cuộc đời bác Trự.
    Thủa nhỏ mình ở quê đi học, cùng chăn trâu cắt cỏ với những đứa trẻ khác. Vừa học hết lớp 7, tháng 4/1968, theo tiếng gọi của tổ quốc, mình lên đường nhập ngũ đầu quân tại đơn vị K8A, mặt trận B5. Trong đợt tân binh này, hai huyện Nam Đàn và Hưng Nguyên có 500 quân đi. Vào môi trường quân ngũ huấn luyện được hơn một tháng là đi ra chiến trường. Trước lúc lên đường đi B, hầu như 500 quân đều trích 10 đầu ngón tay lấy máu viết quyết tâm thư đi đánh Mỹ. Bây giờ chắc những bức huyết thư đó không còn nữa.

    Cuộc đời lính chiến gian lao

    Tháng 6/1968, đơn vị vào chiến trường Quảng Trị, trận đầu tiên đánh vào Động Tiên, Động Lóc, rồi Khe Sanh công kích Cù Đinh, Ba De, Cồn Tiên, Dốc Miếu. Hồi đó, toàn đơn vị còn rất trẻ tuổi, 18-19 tuổi, nhưng đánh rất oanh liệt. Vào đơn vị khi đó ông Nguyễn Hữu Thu, người Triều Sơn – Thanh Hóa, làm chính trị viên đại đội; Nguyễn Long Trọng, người Quảng Yên – Quảng Sương – Thanh Hóa, làm đại đội phó; ông Chương, người Can Lộc – Hà Tĩnh làm đại đội trưởng. Đưa lớp này đi toàn anh trẻ đẹp cả, đánh một trận là các vị rất thích thú, cuộc chiến thì khốc liệt. Bước vào đánh trận Cậu Sơn anh em đồng đội hy sinh rất nhiều, đơn vị phải vận chuyển đưa từ Bến Hải sang Vĩnh Ô để mai táng, khiêng tử sĩ 3 ngày ba đêm liền. Sau khi làm lễ truy điệu đồng đội xong, đơn vị tiếp tục hành quân đi chiến đấu.Tháng 9/1968 toàn bộ đơn vị hành quân ra Tuyên Hóa – Quảng Bình lúc này đúng mùa mưa, trời mưa tầm tã. Đơn vị không có gì ăn phải chọn 20 người để đi gùi sắn, trong đó có mình, phải bơi qua sông Lệ Thủy hàng cây số mới vào được bờ. Sau đánh Cù Đinh, Ba De quay về Lệ Thủy – Quảng Bình an dưỡng gần một tháng. Đến 15/10/ 1968, K8A và K8B sát nhập thành lập trung đoàn 28.Tháng 11/1968, trung đoàn 28 được lệnh bí mật hành quân bộ vào Tây Nguyên vừa đi vừa làm đường. Gần ba tháng rõng rã, vai vác nặng, dọc đường không còn gạo cả đơn vị phải ăn sắn, rồi ăn rau rừng. Vào đến Kontum bắt đầu ở hậu cứ Đắk Song (ngã ba biên giới, nơi gà gáy ba nước nghe thấy). Ăn xong cái tết, tháng 01 (1969) mặt trận B3 (mặt trận Tây Nguyên) giao cho trung đoàn 28 tiêu diệt một trung đội Mỹ. Trận đầu đánh Chử Đô ra quân loạt đầu tiên đánh diệt gọn một đại đội Mỹ da trắng. Sau đó, mặt trận B3 lệnh cho đơn vị ra bảo vệ trận địa pháo Sa Thầy - cao điểm Chư Hinh. Ra đến đó là đêm, trời thì tối như bưng, ở trong rừng nên đường đi toàn đất đá lởm chởm. Ở đó, đánh trận Chí Đô, đồng chí Vương Tú Hoàng, nguyên khẩu đội phó, người Nông Cống – Thanh Hóa, bị trúng bom na ban cháy cả người nhưng vẫn bắn rơi hai máy trực thăng tại chỗ. Sau đó đồng chí ấy hy sinh. Đơn vị ra Chư Hinh, đúng 10h đêm hôm đó, địch rải hai loạt B52 đúng đội hình của trung đoàn. Quân ta chết nhan nhản, chết vô cùng tận. Đồng chí Dung (sau này làm chủ tịch CCB Nam Đàn) bị thương ở cổ, nhiều người bị thương cụt chân cụt tay phải đưa cả xuống hố bom. Trong đêm nan giải, cơ cực vô cùng. Trời vừa sáng, anh em binh lính đang giải quyết hậu quả thì một đại đội Mỹ da đen ập đến, ta lại phải tiếp tục đánh và tiêu diệt đại đội đó.Trận đầu tiên bọn mình vào Tây Nguyên là diệt hai đại đội Mỹ, mình tham gia với vai trò một người lính bộ binh – lập chiến công lớn nhất từ khi vào quân ngũ. Tiếp tục đánh 702, 751, 1338, vây ép Play Cần, Biển Hồ - ngâm trong nước mấy ngày đêm liền, vì hắn ở trên đồi - cục diện rất nan giải. Hồi đó không có gì ăn: Không muối, không gạo… quanh năm đói chứ không phải một hai tháng, toàn đơn vị phải ăn rau rừng, ăn củ mài…Tháng 6 năm 1969, cả chiến trường Tây Nguyên gặp nhiều khó khăn, ngoài đói, còn không có súng đạn, tình hình rất gay go, hầu như là đến mức kiệt quệ. Nếu hành quân ra Bắc thì quá xa. Sang Lào thì cũng không có gì cả. Bắt buộc phải cho đơn vị kéo nhau sang Campuchia chuyển đạn gạo về Việt Nam. Khi đó là mùa mưa ở Phước Long (Bình Phước), hành quân từ Kon Tum vào đó mất hơn ba tháng. Chuyển đạn, gạo về thì vướng đúng một tháng B52. Nan giải lắm, lính chết đói, chết bệnh đủ kiểu. Ăn toàn rau rừng. Lúc đó tình hình lính B2 khả quan hơn rất nhiều. Họ có gạo, có tiền. Quân B3 bị B2 gọi là “mọi rợ”, toàn ăn rau, ăn măng rừng. 2/9/1968 tin Bác mất, đơn vị làm lễ truy điệu, trên đầu B52 rải một tháng ròng. Nguyên lúc đó cậu Chiêu, trung đội trưởng vệ binh, có một người anh vào Nam từ năm 1954, không biết nó liên lạc với nhau từ đâu mà đơn vị hành quân từ ngoài vào toàn bị B52. Đêm hôm đó, hắn lên cắt cổ ông Ẩm - bảo vệ và ông Hoàn – trưởng ban địch vận của đơn vị. Sau hoàn thành đơn vị vận chuyển ra đánh ở Đắk Lắk: Bù Đăng, Đức Lập, Núi Lửa – ngã ba Đắk Song (Đắk Nông). Đánh trận đó thất bại. Đói quá! Có đồng chí Tuyến, là y tá - người Hà Bắc, đào củ mài, cúi xuống lấy củ mài gục xuống chết luôn. Ăn măng rừng, ăn mục nhĩ, cái lá bép, môn ngứa cũng phải nấu lên ăn. Ngứa móc họng cũng phải ăn. Cái bép hay còn gọi là lá mì chính ấy ăn say như thế cũng phải ăn. Ăn hết, ăn toàn rau, bộ đội kiếm lá ăn trụi cả rừng.Hành quân ra Kon Tum, đi qua Gia Lai, đang mùa khô, nước không có, nắng gắt. Đơn vị phải cho lính dùng B40 bắn voi, sấy khô lên để ăn chống đói không thì chết hết. Hành quân ra đến Kon Tum mất hơn ba tháng. Tiếp tục đánh vây ép Play Cần, 1338, Ngọc Bờ Biêng, Chư Mom Ray, Ngọc Hồi, Đắc Xiêng, 10F, 702, 751 nói chung đánh liên tục. Đang đánh đồn Đắk Xiêng (1970) thì bộ chỉ huy điều sang Lào. Trung đoàn sang thị xã A-tu-bơ, Bô-lô-ven, hành quân sang đến nơi có chuyện lịch sử đi dọc đường hành quân: lính đói đi lấy sắn lấy măng, đêm mưa bị lạc phải đốt hết cả dép cao su để ra khỏi rừng. Rất cơ cực. Sang bên Lào, đi thẳng lên cao nguyên Bô-lô-ven. Hai tiếng đánh đuổi 16 tiểu đoàn phỉ Hoàng Bao, đánh xong lấy pà đẹt nếp bỏ vào chõ tre hông xôi ăn thoải mái. Mấy bữa anh nào anh nấy béo tròn đi. Lính nói vui với nhau “kiểu này lính không muốn về nữa, đánh bên Lào sướng quá, lại không ác liệt”. Đến khi đơn vị hành quân về Kon Tum, về Tây Nguyên lại khổ. Năm 1971, đánh các cứ điểm ở Kon Tum.Năm 1972, sư đoàn 10, quân đoàn 3 tiến đánh Đắk Tô, Tân Cảnh, Bãi Ủi, Lò Gạch, đánh vào thị xã Kon Tum. Lúc đó có một tiểu đoàn của ta bị xóa sổ ở Kon Tum, không còn lực lượng. Nếu lúc đó có lực lượng đầy đủ thì chỉ cần một đại đội đủ là mình có thể giải phóng thị xã Kon Tum, chứ không phải đợi sang năm 1975. Cuối 1972, mình đã là đại đội trưởng, được cử đi phá ấp giành dân, cả đơn vị phải đi bộ từ Kon Tum vào Đắk Lắk, Bôn Hồ được các cô gái biệt động đón, vào đó chờ kí hiệp định Paris. Lúc đó chỉ cần nó kí xong là mình đánh để chiếm đất, chiếm dân. Trong đó gai cây xấu hổ dày kịt đi, mà bộ đội không có găng tay găng chân gì. Đêm các cô gái bắt nằm chung, một nam một nữ nằm chung. Lính bọn này rầy không dám nằm. Các cô ấy bảo “nếu các anh không nằm chung thì bọn em báo cáo với huyện”. Kết cục, phân tích ra để thế chân kiềng, nằm một nam một nữ khi giặc đến thì đang nằm có thể ngồi dậy là đánh nhau được. Nhưng lúc đó chờ mãi hiệp định Paris vẫn chưa được kí. Thế là chia tay với đội biệt động về Kon Tum. Các cô gái khóc. Bọn mình không biết tên tuổi các cô ấy và ở đâu nữa. Năm đó còn ít tuổi (21, 22 tuổi) mình làm chỉ huy chững chạc lắm, lập phương án, chỉ huy đánh giặc nhưng đối diện với con gái vẫn ngơ ngơ, chả biết gì. Năm 1973, kí hiệp định Paris xong, ta chủ động lấn đất chiếm dân. Chính ta đi vây chiếm đất chiếm dân chứ không phải địch. Trong khi vừa kí hiệp định thì ta và địch ngồi với nhau chuyện trò đi bắt cá bắt tép nấu ăn cùng nhau, đánh bóng chuyền với nhau vui vẻ lắm. Quân giải phóng với ngụy quân ngụy quyền như nhau, rất thân thiết. Hiệp định kí xong, hai bên lấn chiếm nhau, hai bên phân chia, chuẩn bị sẵn sàng đánh nhau. Ta lấn chiếm lên Đồi Tròn Trung Nghĩa (Thị xã Kon Tum). Ba tháng ròng rã trên một cái đồi tròn, sáu bảy trăm địch với hai mấy xe tăng. Trong khi đó mình có mấy anh em nằm trên đồi tròn, may mà súng đạn nhiều. Lính khiếp quá, không dám ra. Mình giơ súng AK bắn túi bụi trên đầu hô lính phải lên đánh, không lên đánh thì chết. Thế là cả bọn lao lên đánh từ 10h sáng đến 8h tối thì địch rút. Sau xác chết thối inh ỏi lên. Ba tháng ròng rã không tắm rửa không nước nôi gì. Đêm, anh nào mò lên lấy được bình tông nước chia nhau uống mấy ngày. Sau đó đơn vị mình đánh giải vây cho trung đoàn 66 (Sư đoàn 10) ở đồi tròn Trung Nghĩa – thị xã Kon Tum, rồi qua đánh cứ điểm Chư Dệt. Trận này, mình bị thương nặng “Đánh nhau tránh sao khỏi được”. Như anh Vũ Khắc Bua, người Nông Cống – Thanh Hóa, đại tá, tư lệnh phó quân đoàn 3, giờ nghỉ hưu rồi, ông ấy đánh nhau trăm lần như một đều bị thương, đều bị về cuối trận, đều vào phần mềm. Năm 1974, sư 10 đánh Măng Đen, Măng Bút, giáp Ba Tơ (Quãng Ngãi) diệt gọn cả tiểu đoàn, cả cứ điểm luôn không từ một tên nào, những tên còn lại đều bị bắt. Cuộc chiến tương đối nan giải. Cuối 1974, mình giữ chức vụ chủ nhiệm pháo trung đoàn, được đi họp mặt trận của bộ chính trị chuẩn bị chiến trường 1975, giải phóng một số thị xã quan trọng làm bàn đạp cho giải phóng toàn miền Nam 1976. Thời điểm đó, sư đoàn 10 đi đến đâu, Mỹ theo tới đó, ta lại mở chiến dịch đến đó. Tình hình chiến trường bắt buộc ta phải lấy một sư đoàn bên Lào về thay chân sư đoàn 10 công kích Kon Tum và Gia Lai. Còn sư đoàn 10 hành quân vào Đắk Lắk chuẩn bị chiến trường đầu tiên là thị xã Gà Nghĩa sau đó là Buôn Ma Thuật, Bu Bơ Răng, Đức Lập, núi lửa, Đắk Nông. Chiến dịch 1975 nổ tiếng súng đầu tiên là ở Bu Bơ Răng, Đức Lập, núi lửa, ngã ba Đắk Song - Đắk Lắk, bộ quyết định mặt trận miền gồm có các đồng chí: Văn Tiến Dũng, Chu Huy Mân, Phạm Hùng chỉ huy, ngoài này là Bác Giáp làm chỉ huy. Bắt đầu, bộ quyết định “Nợ máu phải trả bằng máu”, lệnh cho sư đoàn 10 đánh Bu Bơ Răng, Đức Lập, Núi Lửa, Đắk Song, năm 1969 đã thất bại. Đến tháng 03/3/1975 quay về cùng 316 đánh giải phóng toàn bộ Buôn Ma Thuật. Chiến trường miền Nam cũng là sư đoàn 10 nổ tiếng súng đầu tiên. Lúc đó, địch nhận định sư đoàn 10 ở Kon Tum và Gia Lai nên chúng cho quân ra đó. Ta tổ chức đánh vào hậu cứ, đánh xuống Phước An, Khánh Dương, đèo Phượng Hoàng theo đường 21 về Nha Trang. Về tới Nha Trang, ta cho bắn ba quả pháo. Hắn chạy rồi: Cam Ranh chạy, Ninh Thuận chạy. Phan Rang, Phan Thiết cũng chạy hết rồi. Về đến đó không hề có lực lượng tiếp quản nào vào. Cuối cùng Phan Rang, Phan Thiết bị địch chiếm lại. Còn Cam Ranh thì có tàu biển, máy bay, trung đoàn 28 và sư đoàn 10 đánh. 320 thì đánh Chèo Leo, Phú Bổn, ở đó một thời gian, bộ chính trị quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh. Đang thắng mặt trận miền, Bộ chính trị đề nghị giải phóng miền Nam năm 1975, chứ không phải 1976 như trước. Biết tin ta mở chiến dịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Thiệu nói: “Quân giải phóng vào đến Sài Gòn phải mất hai tháng”. Trên thực tế tình hình hành quân của quân ta khi đó là đúng như vậy, vì quân từ Tây Nguyên phải hành quân bộ vào, không có phương tiện. Chúng nhận định chỉ có quân giải phóng Tây Nguyên vào mới vào giải phóng được Sài Gòn. Quân ngoài Bắc chúng khinh thường. Chúng sợ là sợ quân Tây Nguyên, sư đoàn 10, quân đoàn 3.Quân đoàn 3 hành quân, anh em binh lính của ta không có con đường nào khác là hỏi địch. Số quân địch ta bắt được bao nhiêu cũng phải phóng thích cả, mình không giữ được, vì rất nhiều vấn đề: Nơi giam giữ, lính canh, và vấn đề quan trọng nhất là lương thực. Ta hỏi chúng “Đứa nào biết lái xe” chúng nhao nhao “Con, con biết lái”. Thế là toàn bộ xe của địch bỏ lại xe zeep, xe DMC… bọn chúng lái được xe gì liền lái xe đưa bộ đội đi. Quân ta bám theo đông không còn biết đường nào cả, dân từ Quảng Trị, Huế, Thừa Thiên, Tây Nguyên tất cả các tỉnh chạy vào đến Cam Ranh thì cầu Ba Ngòi sập, không còn đường đi nữa đành bỏ dân lại. Sau đó lập barie chặn đón xe của dân để chở bộ đội, đích thân chủ xe lái bộ đội đi. Họ rất phấn khởi “Lúc đó có lẽ họ sợ hơn là họ tự nguyện”. Vào đến giới tuyến tập kết ở Dầu Tiếng, cách Sài Gòn 60 km, mất 6 ngày, hành quân là mở đường đi chứ không đi theo đường 1. Dự kiến ta phải đi trong hai tháng nhưng chỉ đi mất có 6 ngày đã đến nơi.Các cô gái biệt động Sài Gòn ra đón, dẫn đường. Ba cô gái ngồi trên xe bọc thép 113. 3 xe tăng đi qua cầu Sáng, xe thứ tư đến thì sập cầu Sáng. Tiến đánh vào Tân Sơn Nhất, 3 xe vào chiến đấu, hy sinh cả ba. Đơn vị còn lại quay về Đồng Dù, Củ Chi theo trục đường đánh về hướng trại huấn luyện Quang Trung. Trên đường bắt sống hai vạn quân mặc quần xà lỏn ngồi dọc trục đường 13. Sau rồi đánh vào Bà Quẹo, Bảy Hiền, Tân Sơn Nhất và bộ tổng tham mưu.Khi đánh vào Sài Gòn, dân ra đón rất đông, xe không đi nổi. Họ đưa cơm nắm, bánh kẹo, thuốc lá… cho bộ đội. Bộ đội không lấy là dân họ sợ. Chính sách khi đó của quân giải phóng là không động chạm, không lấy cái gì của dân. Quân giải phóng đánh xong, giải phóng toàn bộ Sài Gòn, là đơn vị kéo nhau về Bình Dương. Tất cả còn lại giao cho quân tiếp quản từ ngoài Bắc vào.

    Hoàn thành hai nhiệm vụ

    Ở Bình Dương, lúc đó là cuối năm 1975 – đầu 1976, đơn vị cũng không có tiền, toàn quân chia làm ba tầng lớp sĩ quan. Thứ nhất, như bọn mình là số một, cho đi hậu tuyến, ra học ở Sơn Tây. Thứ hai ở lại xây dựng đơn vị. Tầng lớp thứ ba về các huyện tỉnh ở miền Nam xây dựng cơ sở. Đến khi tầng lớp thứ nhất học xong, về đơn vị thì tầng lớp thứ hai cho ra quân. Bây giờ họ bị thiệt thòi, vì khi ra quân không có giấy tờ gì cả nên nhiều anh nhập ngũ những năm 58, 59, 60, 61… sau không có chế độ gì cả. Lúc đó ai cũng chỉ nghĩ còn sống để về là may, nghĩ gì đến hơn thiệt sau này. Tầng lớp thứ ba, kém nhất thì về làm chủ tịch huyện, chủ tịch tỉnh, giám đốc nọ kia… giờ lớp này họ sướng. Chiến tranh để lại nhiều cái bất cập như vậy đấy.Từ 1976 đến 1978, mình về học lớp tiểu đoàn trưởng ở trường 400 pháo binh. Lúc ra Bắc chưa cưới vợ, yêu lơ mơ lắm, nói đúng ra là chưa biết yêu đương gì. Nhiều cô theo đuổi nhưng còn lơ mơ về tình yêu lắm. Thời gian đó có cô Hà, người Thanh Hóa, làm dược sĩ trong trường 400, trắng trẻo trẻ đẹp lắm, cô ấy yêu rồi cắt tóc thề. Thứ bảy chủ nhật đòi về nhà chơi. Hồi đó cứ ngơ ngơ, không biết gì hết, rầy quá trời. Các cô trường thương nghiệp và các nơi rủ nhau đến trường tìm, mình phải dặn ông cảnh vệ nói là đi diễn tập rồi.Khi mình trở về đơn vị thì vào đánh Tây Nam. Đang đánh thì đơn vị có lệnh cử hai sĩ quan dẫn 550 quân tuổi 18 – 25 tuổi ra Bắc để giao các trường. Mình không muốn đi, đúng là không thiết tha gì ra Bắc mà chỉ muốn ở lại đánh nhau. Lúc đó, ông Vũ Bá Thước, sư trưởng sư 10, người Cẩm Giàng – Hải Dương, cũng không muốn cho đi. Nhưng bộ tư lệnh, thường vụ quyết định mình phải đi. Ông Thước gọi lên giao cho hai nhiệm vụ một là hoàn thành nhiệm vụ giao quân và hai là phải cưới vợ nhanh rồi vào.Không còn cách nào, mình phải tuân lệnh cấp trên. Lúc xe đưa quân ra đến Tân Biên thì mình điện tín về, (Lúc đó bà ấy đang học trường thương nhiệp) nội dung là “Ngày 25/9 em có mặt nhà xin phép về tổ chức”. Về giữa cơn bão, đến Quảng Bình thì đường bị tắc, anh nào anh nấy cổ khản đặc, đói quá. Nằm đó hai ngày không kịp tiến độ giao quân, lại không có gì ăn. Đi làm thuê cho dân đường sắt, mỗi ngày được công gói mì tôm. Sau đó đường thông, anh em lên đường ra Vinh. Tới ga Vinh, ông trưởng ga bắt xuống. Nhưng xuống đó không có ai đón, do chậm thời gian hẹn ngày đó không có điện thoại để liên lạc. Lúc ấy còn mắc kẹt cái, khi nghe tin sẽ cưới vợ nên mua gạo, gà, thuốc lá, cau trầu… tất tật từ Tây Ninh. Cũng may biết anh vợ làm bí thư Đảng ủy ở ga Vinh liền cho lính đưa vào phòng anh. Lính thì nhao nhác cả lên “thủ trưởng ơi cho tụi em về”. Mình phải nói với ông trưởng ga cho tàu ra Cầu Giáp rồi dừng hai phút, để quân xuống ở đó chứ xuống ga Vinh thì hắn phá nát ga Vinh. Tàu ra cầu Giáp thì nước ngập mênh mông, không xuống được. Lính lại nhao nhác “thủ trưởng ơi cho tụi em về”. Tình hình như vậy, mình mới lệnh bây giờ ai ở Cao Bằng, Lạng Sơn thì vào mượn nhà dân ở, còn lại cho về tất, đúng 30/9/1978 có mặt trở về trường quân sự, quân khu IV. Mình mượn được cái xe đạp, đạp xe từ cầu Giáp về đến Vinh. Trời mưa như trút, nửa đêm mới về đến quê hương Hưng Hòa. Lúc đó mưa vỡ đê, dân làng sơ tán hết, trong nhà tối bưng, mình phải đi bơi nhà này nhà kia giúp bà con chuyển mèo, chó, lợn, gà… cho họ lên trên trạm. Đến sáng thì cho người nhà lên ga chở gà, chở gạo… về. Khi ra quân khu IV, mình được phân cho một phòng riêng, có một cô gái phục vụ. Cô này trắng trẻo đẹp lắm nhưng chẳng hỏi tên là gì. Ăn cơm gạo trắng với cá, không như trong Tây Nguyên tư lệnh quân khu phải ăn bo bo. Cô ta dọn cơm thì mình ở ngoài, đến khi cô ta ra thì mình vào ăn. Mình ăn xong cô ta vào tranh đòi rửa bát. Tắm rửa xong, cô ta cũng vào đòi giặt quần áo, nói là “thủ trưởng ơi để em làm, đó là nhiệm vụ của em”. Suốt ba tháng ròng rã ở đó mà không biết tên cô ta là gì, không dám tiếp xúc. Ở quân khu VI đến tháng thứ hai thì quân rải rác vào. Quân khu nói “các ông lập valie đón quân”. Đêm nằm nghĩ kiểu này cưới vợ nghe khó. Vậy là liền nhảy lên quê vợ. Xin đăng kí. Ngặt nỗi ở quê vợ không biết mình là ai, vì chưa lên đó bao giờ. Mình lại không có giấy tờ gì. Trình bày với ông bố vợ là tụi con thương nhau thế này thế kia. Ông bố trù tính mãi, cuối cùng thách đố “anh lên ủy ban họ đăng kí cho anh được thì tôi đồng ý”. Thế là mò lên ủy ban, rón rén vào gặp ông phó chủ tịch ủy ban xã Ngọc Sơn – Đô Lương. Nghe mình trình bày câu chuyện, ông ta nói “Gia đình người ta không có ai ở đây, anh lại không có giấy tờ gì, nên không thể đăng kí được”. Mình lại trình bày “Tôi là lính chiến trường, giấy chiến trường ra. Còn giấy tờ xác định chưa vợ chưa gì thì không có, nhân đi công tác nên về cưới luôn. Còn vợ thì bận thi cử không về kịp”. Ủy ban dứt khoát không cho. Thế là ngồi tán chuyện mãi, họ hội ý, rồi cho đăng kí. Trường hợp đặc biệt cho đăng kí kết hôn. Đăng kí xong, về báo cáo để đơn vị bố trí mình ra Sơn Tây. Theo đúng kế hoạch mình và bà ấy bàn với nhau sẽ tổ chức cưới luôn ngày 24 ở Đô Lương, 26 ở Hưng Hòa. Lên làm việc với bến xe Đô Lương, họ đồng ý. Mình về trước, bà xã về sau. Bến xe nhất trí. Đến 25 ra bến xe thì thấy thông báo “hôm nay sơ tán tù binh”, không có xe. Mình phải nhảy tăng bo từng đoạn, từng đoạn một về đến Diễn Châu về đến Hưng Hòa. Sáng 26, mình đạp xe đi đón bà chị gái vợ ở trên Vinh, chở cùng đứa cháu 3 tuổi. Trên đường nó bị kẹp chân vào lan hoa, máu chảy loe loét hết, thật cơ cực, mãi 2h chiều mới về đến. Về nhà thì gia đình đã liên hoan xong rồi mà chả thấy chú rể đâu. Ở nhà được bốn hay năm ngày. Mình thấy tình hình bây giờ phải đi, không đi không được, nghĩ cách lừa hai bên gia đình là vào Sài Gòn chơi. Vào Sài Gòn được một ngày rồi đón xe đi Tân Biên đến tòa thánh Tây Ninh. Thăm quan tòa thánh Tây Ninh xong, bắt xe ôm đi ra bến xe Tây Ninh thì pháo 130 bắn ra. Hắn bắn 30 phút tan tành cả. Dân tán loạn cả, mình hô hét dân nằm xuống gốc cây. Bà ấy sợ đòi về. Khi về thì gặp một cậu, bảo cậu ta sáng mình đi sớm, không được nói gì với bà ấy. Sang Campuchia để đánh nhau, sang bàn giao công việc mất một tuần. Về đơn vị đưa gạo và các thứ cho nấu ăn. Có một cô tên Bưởi người Thanh Hóa và cô Loan người Thái Bình – vào thăm chồng, cô Loan đang có thai 3 tháng. Sau chồng cô Loan bị bắn chết, cô ấy không muốn về nữa. Anh em đồng đội phải động viên mãi cô ấy mới chịu về quê.Tháng giêng 1979, ta mở chiến dịch Campuchia đánh một tuần là đến Bắc Tam Bong, đánh hăng quá qua biên giới Thái Lan mất 60 km. Lúc đó ta không chủ tâm, đang đà đánh cứ thế tiến thôi. Gặp lính Thái, hắn nói “Thaithai” mình không biết tiếng, quân Thái Lan cho cả xe tăng ra án ngữ. Việc này đài BBC nói rùm lên. Nhưng chuyện chẳng có gì, lúc đó hai bên vẫy nhau lại bắt tay, mình xin lỗi đã đánh nhầm. Quân đoàn 3 giúp bạn thành lập chính phủ Campuchia, thành lập tiểu đoàn 15 bàn giao lại cho đơn vị bạn quân khu 7, quân khu 9 – quân đoàn 4, tất cả các đơn vị về biên phòng. Quân đoàn 3 được lệnh ra Việt Bắc.

    Giải quyết bất cập thời bình

    Cuối 1982, đầu 1983, quân đoàn 3 ra Việt Bắc đánh Trung Quốc. Hết chiến tranh, mình xin về quân khu 4 cho gần nhà. Lúc đó gia đình gặp nhiều khó khăn, cái xe đạp cũng không có mà đi. Quân khu 4 nhận, bảo mình ra làm trung đoàn trưởng trung đoàn, ở Quỳnh Lưu – Nghệ An. Mình không ra. Quân khu lại bảo lên phòng pháo quân khu mình cũng không lên. Mình muốn xin làm trợ lý tác chiến của tỉnh đội, hay huyện đội cũng được không cần quan chức gì, miễn được ở gần nhà là được rồi. Các ông ấy nói “như vậy bằng kỉ luật cậu à”. Mình nói sẽ làm đơn tình nguyện, các ông ấy bảo rằng “quân đội không có tình nguyện”. Vừa hay lúc đó có cậu Khánh, người Nam Định, cùng đơn vị ngày trước, đang làm tổ chức ở tổng cục đường sắt. Thế là mình xin về làm trưởng phòng quân sự phụ trách từ Quảng Bình đến Nam Định. Về đó mình làm được nhiều việc, được thiếu tướng Lê Thế Tiệm và thiếu tướng Nguyễn Khánh Toàn tặng bằng khen. Thứ nhất, giải quyết vụ thương binh chắn tàu hỏa từ Vinh ra Hà Nội. Vụ đó kể ra thì cũng đơn giản, không có gì, nhưng nhà nước cũng đã phải đau đầu về trường hợp đó. Hôm ra Hà Nội họp về việc giải quyết vụ thương binh, giờ nghỉ trưa ở ga Hàng Cỏ, lúc đó không quen Hà Nội, đi lững thững ở ga gặp mấy anh lính kéo vào hàng ăn uống. Hắn gọi ba mươi mấy đứa, mình bảo mình không có tiền. Mấy tay lính nói “bữa nay khao thủ trưởng”. Cả bọn ngồi vừa ăn vừa nói chuyện hoàn cảnh gia đình, công việc làm ăn. Họ đều khó khăn nên đi buôn lạc từ miền Trung ra, kiếm đồng lời. Việc buôn lạc bây giờ thì có vấn đề gì đâu, nhưng lúc đó còn bao cấp nên mới nói rùm lên vậy. Mình mới bảo với các cậu ấy, bây giờ cho hai con đường để lựa chọn. “Một là thằng nào còn gọi một tiếng thủ trưởng thì quay về trại 4, không buôn bán nữa. Hai là ai con đi buôn lạc thì gọi mình là thằng”. Họ im lặng không hứa hẹn gì, nhưng sau mình biết họ đã bỏ, không đi buôn nữa.Vụ việc thứ hai, ở làng Hạc – Thanh Hóa, dân ở đó toàn công giáo, ra quấy phá ga Thanh Hóa rất tàn bạo. Nghe báo cáo thấy ghê gớm quá, không có dân địa phương đâu lại như thế được. Mình xin vào ga giải quyết, công an Thanh Hóa không cho vào, nói là “vào hắn đập chết”. Mình cứ quyết vào. Khi vào mình đó thì gặp tay Cường cầm đầu ở đó. Hắn hỏi mình “là ai, tới đây làm gì”. Mình bảo mình lính chiến trường ra, đi đây đi đó ngắm cảnh thôi. Hắn gọi lại uống nước, ngồi nói chuyện một lúc, hắn nháy đệ tử. Mình cáo về ăn cơm. Hắn giữ lại mời ăn cơm, ăn cơm nếp với thịt gà. Ăn xong hắn bảo từ nay sẽ không còn ai quấy phá ga Thanh Hóa nữa. Sở dĩ hắn và bà con quấy phá là vì tức một số công an, chính quyền ra đó cậy thần cậy thế dọa dân, nên hắn ghét. Giải quyết vụ đó xong, về họp báo cáo với lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa. Lúc đó đúng là lực lượng công an liên ngành nhiều tay ác ôn lắm. Dân các nơi đi bán hàng rong, hắn đá đổ rất tàn nhẫn. Rất là cám cảnh, người ta vì mưu sinh cuộc sống, nếu anh đàng hoàng thì sắp xếp chỗ cho người ta ngồi bán, người ta phục vụ bà con. Hắn đi đá đổ cả từ cái nồi cháo của người ta. Ngày đó ác ôn lắm. Mình lính từ chiến trường về thấy đời bao cảnh trái ngang vậy, cũng buồn lắm.Đến năm 1991, xí nghiệp đầu máy Vinh cử ông tổ chức Đảng ủy, cũng nhiều tuổi rồi, về làm trợ lý cho mình. Mình bảo ông ấy: “Anh thay tôi thì được chứ làm trợ lý cho tôi thì không được. Anh không đủ trình độ, làm trợ lý cho tôi thì phải giỏi hơn tôi. Tôi đủ điều kiện nghỉ hưu rồi, anh chưa đủ…” Thế là mình về.

    Thử sức với thương trường

    Về nhà, mình vay mượn được hai mươi triệu mới đi vào Sài Gòn buôn gạo. Lần đầu thì thắng. Nhưng đến lần thứ hai thì lỗ hết. Trong nhà có cái xe máy 78 cũng phải bán đi trả nợ. Anh em bạn bè cứ nói không lấy, nhưng mình phải trả. Đâu ra đấy. Trả rồi khi khác lại vay. Ra tết, bạn bè anh em động viên, mình lại vay mượn đi buôn gạo, buôn mì tôm, sữa… từ Sài Gòn ra Bắc bán. Ngày đó nhờ những người quen biết họ cho mình đưa cả lô bột mì trị giá mấy chục ngàn đô la ra Bắc bán, rồi trở vào mới trả tiền. Sau nghĩ, nếu mình tham, bán xong mình không vào nữa thì không biết sẽ thế nào.Năm 1999, lụt ở Huế, Đà Nẵng chưa đâu đưa được hàng cứu trợ về đó. Mình điện ra ban cứu trợ trung ương hỏi số điện thoại ở Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng. Gọi vào đó trình bày mình có hai xe mì tôm, một xe chở 13 tấn đang nằm trên trục đường 1 địa phận Thừa Thiên Huế, nếu họ gặp được hai xe đó thì đưa về, tỉnh trực tiếp giải tỏa cứu đói cho dân. Không phải báo cáo cho chủ tịch tỉnh hay tổ chức nào, cứ cứu cho dân trước. Còn một xe ở bên Đà Nẵng, đang bị kẹt vì đèo Hải Vân bị lở. Xe ở bên kia, các vị ở bên này chịu không lấy được. Ở ngoài Vinh, Nghệ An cũng tổ chức cứu trợ, dân đưa vật dụng, lương thực đến ban cứu trợ không chịu lấy, họ đòi lấy tiền mặt. Xã hội mình quá phức tạp. Năm 2000, một ông lão 93 tuổi có con hy sinh ở Tây Nguyên năm 1973, viết thư hỏi khắp nơi. Họ mới giới thiệu tới gặp mình. Mình mới bảo con cụ hy sinh ngay trước mặt mình, nhưng giờ cũng chẳng biết ở đâu mà bốc mộ được. Ông cụ mới nhờ mình đưa vào nơi con cụ hy sinh. Thế là đưa cả nhà ông cụ vào đó, chỉ cho cụ. Sau phải đưa đi thêm ba lần nữa. Bạn bè đều bảo mình liều, đưa một ông lão 93 đi vào cứ điểm Đắk Xiêng – Kon Tum, xa như vậy. Cũng năm 2002, mình mua đất ở Nghi Xuân – Hà Tĩnh, trên trục đường 1, xây dựng cây xăng Thái Hậu (Tên bà vợ mình). Xây dựng nhà hàng Tây Nguyên, kỉ niệm chiến trường Tây Nguyên. Tuyển dụng con cháu đồng đội: Từ sứt môi, lồi rốn, què cụt… có hết. Bạn bè có người nói tụi nó vậy thì làm được gì. Vậy mà rồi các cháu làm được việc hết. Cũng năm đó, xảy ra lụt ở Nghệ An, Hà Tĩnh, mình liên lạc được với một đoàn phật giáo Hoa Kì ở chùa Vĩnh Nghiêm - Sài Gòn, mình cho xe chở hàng từ Sài Gòn ra Nghệ An, Hà Tĩnh, gồm năm mươi mấy người. Tiền của thì họ giúp dân mình, còn việc ăn ở đi lại của họ thì mình lo hết. Các địa phương không phải lo bất kể cái gì.

    Đôi điều chia sẻTrải qua thời kì chiến tranh, rồi sau làm kinh tế… sự nghiệp có lúc vinh quang, có khi nhiều mưu lợi, nhưngnhững kí ức thời kì cầm súng vẫn luôn được bác Lê Xuân Trự trân trọng nhất.
    Khi được hỏi nhân sinh quan của bác về con người trong thời chiến và bây giờ, bác Trự chia sẻ: Thời chiến đấu, con người sống vô tư, có tình có nghĩa. Khi bắt tay làm kinh tế tình hình trở nên rất nan giải. Chế độ công quyền, nhiều người ỷ thế dọa dân, không còn tình cảm gì.Lúc nhập ngũ, tuổi còn trẻ vậy, có bác khi nào bác thấy sợ, hay nhụt chí không? Mình nhập ngũ giữa những năm khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Được huấn luyện chưa đầy một tháng để chuẩn bị, rèn luyện rồi viết huyết thư nhảy ra chiến trường đánh luôn. Thời khắc đó hầu như thế cả, cứ ra mặt trận rồi vừa đánh vừa học. Khi vào trận, cho ở tuyến sau không ở, tất cả như nhau lao ra mà đánh. Chết cũng xông vào, đó đã thành một phong trào. Ở tuyến sau thấy buồn lắm. Mấy anh sốt rét, thương binh cho ở tuyến sau vậy mà cũng cố gắng để vượt lên để đánh. Cái máu cách mạng nổi lên mà. Đặc biệt dân miền Trung: Thanh – Nghệ – Tĩnh – Bình Trị Thiên. Tất cả các đơn vị đánh nhau, chỗ nào khó khăn ác liệt nhất là thì có dân mấy tỉnh đó. Ngoài tham gia như một phong trào, bác có từng nghĩ đến việc lập công? Đương nhiên mình cũng muốn lập công chứ. Lập công là phải diệt càng nhiều địch càng tốt. Năm 1968 – 1975, mình được tặng rất nhiều huân huy chương chiến công, quyết thắng các loại.Hồi đánh trận ở Chư Dệt, bị thương nặng máu chảy, lấy bùn đắp vào vết thương ba ngày liền. Bản thân mình bị thương cũng vậy, nhìn đồng đội đổ máu hay hy sinh cũng vậy chưa khi nào mình thấy sợ hãy. Lính hồi đó anh nào anh nấy như nhau cả, đã ra trận là không bao giờ sợ, không sợ cái chết, biết chết vẫn lao vào mà đánh. Nếu đánh quân dã ngoại, nghe điện đài của địch thì biết hắn đến tọa độ nào, lực lượng bao nhiêu, tiểu đoàn hay trung đoàn hay đại đội ở bình độ nào. Ta bắt đầu ém vây trong đêm đó, sáng là đánh luôn. Hắn trở tay không kịp. Ta thám thính địch có một tiểu đoàn, ta phải bố trí ba tiểu đoàn. Còn đánh đồn địch thì nan giải hơn, rất kì công, không đơn giản như nhiều anh nói cứ thế lao vào mà đánh được. Ta phải cắt 12, thậm chí là 15 hàng rào dây thép gai. Bên dưới có pháo sáng, mìn, lựu đạn cài khắp nơi. Đêm trước trinh sát của mình phải vào cắt hàng rào, cắt cơ cực lắm, kìm cộng lực phải cắt nhẹ nhàng không làm rung dây thép gai, cắt xong phải dò mìn, lựu đạn bỏ sang bên, pháo sáng lấy chốt không có nó bật một cái là lộ, địch phts hiện nó bắn chết ngay. Cắt xong, mò vào trong chốt giữa khi hắn thức mình vẫn phải mò vào trong xác định vị trí chỗ nào là sở chỉ huy, đâu là điện đài, đâu là hỏa điện, đâu là lô cốt… mà không để địch phát hiện. Xong rồi quay trở ra báo cáo lãnh đạo, lãnh đạo phải đích thân đi kiểm tra, rồi mới cho quân vào đánh. Đầu tiên phải đào hầm, đào cách địch 20, 30 mét thôi chứ không phải đào xa. Trong đêm đó địch thức, ta phải đào hầm mà không để địch phát hiện. Ta tập kết đạn dược, mìn lên cả ba hướng vòng ngoài. Đến sáng, rõ mặt người phát lệnh cái là lao lên đánh, mù mịt khói lửa, địch trở tay không kịp. Ta bắt tù binh, thu vũ khí thu dọn chiến trường chỉ trong mấy phút.Những năm chinh chiến ở Tây Nguyên, đa phần lính đều không nghĩ đến điều còn sống để trở về. Chúng tôi chỉ ước nhìn thấy mảnh đất Vĩnh Linh (Đại diện cho miền Bắc) 10 phút là chết được rồi. Còn khi đánh ở Campuchia, ta đổ máu quá nhiều, nhiều hơn cả đánh Mỹ.
    Bác tham gia đánh giặc vì điều gì? Rất đơn giản để giải phóng quê hương, giải phóng dân tộc. Ý thức đó hoàn toàn tự giác.
    Kí ức sâu đậm nhất của bác khi giữ vai trò một người lính là gì? Thời gian là lính bộ binh, kí ức nhớ nhất, cũng là mục tiêu duy nhất là làm sao đánh thắng trận, diệt nhiều địch.
    Trong các trận chiến ác liệt như vậy, có khi nào bác sáng tạo, hay nghĩ đến phương pháp mới? Không, ngoài chiến trường điều đó không thể xảy ra. Việc chuẩn bị một trận đánh là mang tính chất tập thể, phương pháp tập thể, tuyệt đối không được chệch. Chệch là chết luôn. Thậm chí người sau phải dẫm lên dấu chân người đi trước để bước. Nhưng đánh chốt thì phải sáng tạo, muôn hình muôn vẻ. Trận vây ép Play Cần (1971), mình tìm cách lên chốt. Hắn có 3 mỏm ở trên cao, còn mình ở dưới, đào hầm nước mạch cứ vào. Mình cứ ngóc cái cổ lên vây ép ròng rã thế, đợi hắn mò lên là mình xỉa. Ngược lại, mình mò lên hắn cũng xỉa. Cách nhau mấy chục mét. Cách gì thì cách cũng nhằm mục đích tiêu diệt lực lượng địch. Mình không diệt hắn thì hắn sẽ diệt mình.Đồi Tròn Trung Nghĩa năm 1973, hắn có hai tiểu đoàn, vây quanh mình. Hắn cũng đào hầm. Mình nhằm đêm xuống tìm cách ném lựu đạn vào hầm hắn, bò sao để hắn không phát hiện, tới khoảng cách nhất định ném xong là phải chạy về ngay. Cứ liên tục như thế ba tháng ròng rã, cuối cùng hắn khiếp, phải rút.
    Kí ức nhớ nhất của bác khi làm đại đội trưởng? Hồi đó, đại đội trưởng có uy thế lắm. Quân lệnh như sơn, lệnh gì là lính răm rắp đó. Năm 1974, đánh trận Măng Đen, mình lệnh cho một cậu ở Lạng Sơn bắn DK75, bắn lô cốt để cho bộ binh lên. Cậu ấy bắn không trúng, mình liền đẩy cậu ấy ra, lấy DK75 bắn liền 23 viên đạn, bắn tan tành, thắng toàn bộ, diệt toàn bộ lô cốt. Sau đó ba ngày liền mình không nghe thấy gì cả.
    Sau này khi trở thành một doanh nhân, lúc thất bại bác có lo lắng, suy nghĩ nhiều không, vì số tiền 20 triệu lúc đó rất lớn? Thực sự không lo lắng, suy nghĩ gì bởi mình có sự quyết đoán chính xác rồi lại được bạn bè vô tư, tin tưởng mình. Mình cũng tin tưởng bản thân sẽ làm được. Dù mình có thất bại rồi cũng sẽ làm lên được cả. Khi mình làm từ thiện cũng chỉ có một chữ tâm, một chữ nghĩa tình thôi. Chưa bao giờ mình nghĩ đến điều phải được ca ngợi này kia. Bây giờ ở quê nhiều người giàu có, nhưng chẳng thấy ai xây dựng cho quê hương cái gì. Mình làm đường, làm cầu cống không phải vì ở quê người ta đề nghị, chỉ là mình thấy cần phải làm cho nơi chôn nhau cắt rốn, vậy thôi.Bác Lê Xuân Trự cũng giữ vững “nguyên tắc sống bất di bất dịch là trung thực, tình nghĩa, không bao giờ lừa dối, làm hại ai. Khi mà cái Tâm thanh thản thì suy nghĩ sẽ sáng suốt, công việc sẽ hanh thông”. Bác luôn đau đáu nỗi mong mỏi “xã hội sẽ tạo điều kiện cho lớp trẻ có học, có tài thực sự được tạo môi trường để cống hiến cho quê hương, cho đất nước. Họ là tài sản quý giá nhất, phải được bố trí những cương vị xứng đáng chứ không phải nhiều vị giành ghế cho con ông cháu cha này nọ ngồi”.
    Vũ Thu Vân
    Sửa lần cuối bởi trucngon; 18-06-2012 lúc 01:44 PM.

  6. #25
    Ngày tham gia
    11-04-2012
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    3
    Thích
    87
    Đã được thích 3 lần trong 2 bài viết
    Em đọc được bài này trên trang web của thầy giáo Hồ, xin chia sẻ cùng mọi người

    Nghe theo ngoại cảm có thể trở thành tội ác

    "Khi nhận bàn giao, tôi đã đến kiểm tra thực tế mộ trên NTLS và so sánh với hồ sơ quản lý, tôi đã cho gỡ bỏ 70 bia mộ do các nhà ngoại cảm "chỉ đạo" cho các gia đình liệt sĩ gắn lén vào NTLS này".
    Đó là bộc bạch của anh Lân, phó Phòng LĐTB&XH huyện Hớn Quản khi tôi hỏi vì sao trước đây có một số mộ liệt sĩ đã có bia mộ nhưng bây giờ bị mất đâu?

    Vâng! Thưa quý vị!
    Tháng 6/2010, khi đang trên đường đi tìm thông tin về liệt sĩ tại Phước Long, tôi đã phải hết sức vất vả vì chiếc điện thoại của tôi liên tục đổ chuông. Đó là các cuộc gọi của anh T (em ruột liệt sĩ Vũ Duy Toàn quê Hải Hưng). Số là năm 2009, tôi đăng tải ảnh mộ liệt sĩ tại NTLS huyện Bình Long, anh T đã thấy bia mộ anh trai mình trong đó. Anh đã cùng 6 người trong gia đình vào Bình Long viếng mộ liệt sĩ Toàn. Khi đến NTLS Bình Long, anh không tìm thấy vị trí mộ liệt sĩ Toàn nên mới liên tục điện thoại nhờ tôi hướng dẫn. Anh còn nhờ tôi đến đó để dẫn đường nhưng tôi không thể vì tôi đang ở Phước Long. Đến cuộc điện thoại thứ 6, tôi đã bắt đầu nóng người, tôi nói: "Có tới 14 con mắt mà các anh không thể tìm được một mộ liệt sĩ trong một NTLS chưa đầy 2.700 mộ. Vậy thì làm sao tôi nhớ cụ thể vị trí từng mộ trong hàng trăm NTLS tôi đi qua!". Nói thế chứ mộ liệt sĩ Toàn nằm tại lô mộ ngay phía sau đài Tổ Quốc Ghi Công của NT, tôi còn nhớ. Khoảng hơn nửa tiếng sau, anh T điện thoại thông báo cho tôi rằng đã tìm thấy mộ liệt sĩ Vũ Duy Toàn và đã thắp hương viếng mộ.


    Rồi đến 2011, anh T dẫn theo chi H (vợ liệt sĩ Toàn) vào Hớn Quản để đón hài cốt liệt sĩ Vũ Duy Toàn về quê. Hôm đó tôi cùng nhóm làm phim BTV cũng cùng đi. Nhưng hỡi ơi! Khi đến NTLS huyện Bình Long thì bia mộ liệt sĩ Vũ Duy Toàn đã biến mất. Chị H thì khóc lăn, anh T thì đòi kiện, chúng tôi thì ngỡ ngàng, ...

    "Không phải các gia đình liệt sĩ ai cũng như anh đâu anh ơi!".
    Đó là nhận xét của anh Lân, Phó Phòng LĐTB&XH huyện Hớn Quản khi trả lời câu hỏi của tôi vì sao bia mộ Vũ Duy Toàn biến mất? Bia mộ liệt sĩ Vũ Duy Toàn là một trong số các bia mộ bị gỡ đi vì không có trong danh sách quản lý của ngành!


    Bia mộ LS Vũ Duy Toàn trong đống bia bị gỡ bỏ mà tôi đã trăn trở 2 năm nay giờ mới tìm thấy nằm sau nhà quản trang.

    Anh Lân nói tiếp: "Sắp tới anh Xây quản trang sẽ phải kiểm điểm vì để người ngoài lẻn vào gỡ bia mộ có đầy đủ thông tin để gắn bia mộ của liệt sĩ do NNC chỉ cho gia đình".

    Mộ liệt sĩ có đầy đủ thông tin đã bị gỡ bỏ và thay vào đó là bia mộ liệt sĩ do NNC chỉ cho. Quý vị để ý sẽ thấy mẫu bia mộ hoàn toàn khác.

    Thiết nghĩ, các cơ quan thực thi pháp luật phải vào cuộc. Điều 246 Bộ Luật Hình sự và Điều 629 Bộ Luật Dân sự đã quy định về việc xâm phạm mồ mả, hơn nữa đây là mồ mả liệt sĩ, mồ mả của những người đã hi sinh xương máu cho hoà bình độc lập....

    link đầy đủ: http://teacherho.vnweblogs.com/post/9313/369659

  7. Có 1 người thích bài viết này


  8. #26
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    6,060
    Thích
    112
    Đã được thích 801 lần trong 586 bài viết
    Bước đầu xác định khu vực chôn cất liệt sĩ trận đánh Đak Pơ (Gia Lai)


    QĐND - Sáng 25-6, CCB Trương Quang Quyền, thuộc Ban liên lạc truyền thống Trung đoàn 96 tại Hà Nội (đơn vị đánh trận Đak Pơ) đã đến Báo Quân đội nhân dân thông báo, Huyện ủy, UBND huyện Đak Pơ phối hợp với Ban liên lạc CCB Trung đoàn 96 bước đầu xác định được khu vực chôn cất hài cốt liệt sĩ hy sinh trong trận đánh Đak Pơ ngày 24-6-1954, tại khu vực phía Tây hồ Ktung, thuộc xã Đak Pơ, huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai. Địa điểm cách đường Đông Trường Sơn khoảng 150m, nằm phía bên trái đường bê tông xuống hồ Ktung 10m. Đây cũng chính là khu vực Trạm phẫu của Trung đoàn 96 và cũng là nơi chôn cất các liệt sĩ.Đây là kết quả sau Hội thảo ngày 12-10-2011 do UBND huyện Đak Pơ phối hợp với Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh Gia Lai tổ chức và Cuộc họp ngày 22-2-2012 giữa Huyện ủy, UBND huyện và Ban liên lạc CCB Trung đoàn 96, do đồng chí Bùi Bá Sơn, Chủ tịch huyện Đak Pơ chủ trì để thống nhất xác định khu vực chôn cất các hài cốt liệt sĩ trận đánh Đak Pơ.Báo Quân đội nhân dân đã giới thiệu trận đánh Đak Pơ trong 5 số báo liên tục từ ngày 20 đến ngày 24-7-2011. Cách đây 58 năm về trước, ngày 24-6-1954, Trung đoàn 96 chủ lực, thuộc Liên khu 5 đã tổ chức trận đánh tiêu diệt hoàn toàn Binh đoàn cơ động số 100 (GM 100) lực lượng tinh nhuệ nhất của quân đội xâm lược Pháp. Trận đánh có ý nghĩa góp phần cùng Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954 thúc đẩy cuộc đàm phán dai dẳng giữa ta và Pháp đi đến ký kết Hiệp định đình chiến ngày 20-7-1954, kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Đông Dương. Ngay sau trận đánh Trung đoàn 96 được lệnh hành quân gấp ra miền Bắc; tiếp đó là cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài hơn 20 năm ác liệt, làm thay đổi địa hình nên hơn 140 liệt sĩ của Trung đoàn hy sinh trong trận đánh được chôn cất tại Trạm phẫu của Trung đoàn chưa tìm và cất bốc được.
    Ngay khi nhận được tin, Báo Quân đội nhân dân đã thông báo và cung cấp trực tiếp các tài liệu có liên quan cho đồng chí Cục trưởng Cục Chính sách, thuộc Tổng cục Chính trị đề xuất phương án phối hợp với địa phương tìm kiếm, khai quật cất bốc các liệt sĩ.
    Báo Quân đội nhân dân mong tiếp tục nhận được các thông tin về khu vực chôn cất các liệt sĩ trận đánh Đak Pơ và sẽ tiếp tục theo dõi, thông tin kịp thời tới bạn đọc về quá trình tìm kiếm, cất bốc các liệt sĩ trận đánh Đak Pơ.
    Nhật Huy

  9. Có 1 người thích bài viết này


  10. #27
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    6,060
    Thích
    112
    Đã được thích 801 lần trong 586 bài viết
    Ký ức màu đỏ

    QĐND - 40 năm đã trôi qua nhưng những trận đánh ở chiến trường như vẫn hiển hiện hằng ngày trong tôi. Trong miền ký ức màu đỏ nhưng nhức ấy, có biết bao hình ảnh thân thương của đồng đội, nhiều người đã ngã xuống cho tôi được sống đến hôm nay…

    Đồng đội tôi không về
    Sau tết Âm lịch năm 1972, Trung đoàn 165 thuộc Sư đoàn 312 tiếp tục tấn công địch tại điểm cao 1.300 tại khu vực Sảm Thông thuộc tỉnh Xiêng Khoảng – nước bạn Lào. Vừa đánh xong cao điểm, bọn tàn quân địch chạy tan tác vào những cánh rừng ẩn náu. Trung đội pháo cối của tôi được lệnh cử một tiểu đội cùng đơn vị bộ binh truy kích. Vì có Đại đội phó Đào trực tiếp chỉ huy mũi truy kích của Tiểu đoàn nên tôi được “ở nhà”. Bộ phận truy kích địch vừa rời khỏi nơi trú quân khoảng 30 phút thì chúng tôi đã nghe thấy tiếng súng nổ râm ran tại khu rừng trước mặt. Chúng tôi chẳng ai bảo ai nhưng đều nghĩ: “Đụng địch rồi”. Quả nhiên chỉ sau 5 phút đã có điện báo về tiểu đoàn: “Ta vừa gặp bọn tàn quân địch, diệt khoảng 10 tên.
    Đồng chí Đào và đồng chí Thăng đã anh dũng hy sinh”. Trời ơi! Tôi không còn tin vào tai mình nữa. Mới về chỉ huy trung đội được ít ngày, tôi đã biết hoàn cảnh của anh Đào ra sao? Còn đồng chí Thăng là chiến sĩ của tôi nên tôi biết khá rõ. Thăng mới 19 tuổi, quê ở Quảng Ninh, bố mẹ mất sớm để lại mấy anh em nheo nhóc nuôi nhau nên người cậu ta nhỏ thó. Cả đàn em trông vào người anh cả của gia đình! Cậu ta lại là “cây văn nghệ” của trung đội, đơn ca nổi tiếng với bài “Con vỏi con voi”… Đến nay, mỗi khi nghe có người hát bài này, hình ảnh Thăng lại hiện ra trước mắt tôi!

    Đau thương chồng lên đau thương. Ngay sau đó, tôi lại được lệnh trực tiếp chỉ huy khẩu đội cối chốt ở đồi Mâm Xôi để yểm trợ cho bộ binh giữ chốt. Vì đã phát hiện ra chúng tôi nên bọn địch thường bắn hàng trăm quả đạn pháo tới khu vực trận địa mỗi ngày. Tới ngày thứ tám, tôi về báo cáo với anh Hiền, đại đội trưởng tình hình tư tưởng và sức khỏe của anh em. Nghe xong, anh Hiền liền nói:- Ngày mai anh ở nhà nghỉ ngơi, tôi lên chốt thay anh và cũng để động viên anh em.Thế là sáng hôm sau, khi tôi tỉnh dậy thì anh Hiền đã lên trận địa pháo từ lúc nào!
    Cựu chiến binh Trịnh Duy Sơn (người ngồi giữa) gặp đồng đội
    từng chiến đấu ở Quảng Trị năm 1972. Ảnh: Ngọc Phúc.
    Khoảng 10 giờ trưa hôm đó, ngay sau 3 loạt bom tọa độ thì cậu Nạp từ trên trận địa hớt hải chạy về. Cậu ta chỉ nói được đúng một câu: “Chết hết cả rồi” và lăn ra đất, bất tỉnh nhân sự. Mặc cậu Nạp nằm đấy, chúng tôi vội vớ cuốc xẻng chạy ngược lên đồi, bất chấp pháo địch đang nã tới tấp. Trời ơi! Quả bom quái ác sao lại rơi vào đúng giữa hầm pháo. Chúng tôi chỉ còn biết tản ra khắp bãi cỏ tranh nhặt từng mảng xương thịt đồng đội gom lại…Sau chiến tranh, tôi được điều đi công tác ở nhiều đơn vị khác nhau, mỗi ngày mỗi xa đơn vị cũ.

    Tới năm 1992 được nghỉ hưu tôi mới có điều kiện tìm về sư đoàn. Cũng may còn nhớ cả tên và ngày hy sinh của 7 anh nên tôi dễ dàng tìm ra quê quán và tên cha mẹ các anh. Và cũng đến lúc này tôi mới biết chính xác trong số 7 anh hy sinh chỉ duy nhất có anh Hiền đã có vợ và 2 con gái.Lần mò mãi tôi mới tìm được gia đình anh Hiền. Ngày đó mẹ anh đã tròn 84 tuổi. Tôi cứ ngồi lặng như một khúc gỗ để mẹ và vợ anh Hiền ôm ghì lấy tôi, khản tiếng kêu khóc: “Hiền ơi! Hiền ơi sao hôm nay con mới về với mẹ…!”, “Anh Hiền ơi! Anh ra đi mà không nhắn cho em lấy một lời!”... Tôi không cầm được nước mắt khi 2 người đàn bà hơn kém nhau cả mấy chục tuổi mà có mái tóc bạc trắng như nhau, than khóc như nhau. Đến tháng 4-2011, cụ Gái - mẹ anh Hồi ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh là bà mẹ cuối cùng trong số 14 cụ là cha mẹ của 7 anh đã ra đi. Trước khi qua đời cụ Gái còn dặn con cháu đưa vào quan tài cái túi bằng cước do anh Hồi đan từ chiến trường Lào gửi về tặng cụ. Cụ đã giữ chiếc túi kỷ vật của con mình để đựng trầu suốt 39 năm và còn muốn đem theo về cõi vĩnh hằng…

    10 chiến sĩ trẻ và cuộc kiếm tìm 40 năm
    Tháng 4-1972, cả Sư đoàn 312 được lệnh hành quân gấp từ chiến trường Lào về chiến trường Quảng Trị. Tôi nhận quyết định sang làm Chính trị viên phó Đại đội 11. Lúc này Ban chỉ huy đại đội chỉ có đồng chí Hoán - Đại đội trưởng và tôi. Anh Hoán đi trước cùng với Đoàn tiền trạm của trung đoàn. Tôi chịu trách nhiệm dẫn đoàn quân của đại đội với 73 cán bộ, chiến sĩ (trong đó có trên một nửa là lính mới) đi cùng đội hình trung đoàn từ Nam Đàn – Nghệ An tới bờ Nam sông Thạch Hãn.

    Cuộc chiến giữ Thành cổ Quảng Trị và ngăn chặn địch lấn chiếm vùng giải phóng thật khốc liệt vô cùng. Sáu sư đoàn chủ lực và tám quân, binh chủng lần lượt thay nhau giành giữ từng tấc đất của tỉnh Quảng Trị vừa được giải phóng, quyết không cho địch vượt sang bờ Bắc sông Thạch Hãn. Sau khi ta rút khỏi Thành cổ, Sư đoàn 312 được đảm nhận chốt giữ từ Động Tiên, Động Ông Do, Khe Trai, Đá Đứng, Như Lệ, Tích Tường tới đầu cầu sắt thị xã Quảng Trị, với tổng độ dài 35km, trong khoảng thời gian từ tháng 8-1972 đến tháng 4-1973.
    Để chuẩn bị đánh địch tái chiếm làng Như Lệ, tôi được tiểu đoàn báo lên nhận quân bổ sung. Khoảng 5 giờ chiều 1-8-1972, bầu trời Quảng Trị đã hơi âm u, những đám mây sà xuống các thung lũng như thể sương mù. Bởi vậy tôi mạnh dạn đi trên những thửa ruộng trống để đến khu vực đóng quân của tiểu đoàn mà không cần ngụy trang.
    Đồng chí Phiên, Chính trị viên phó tiểu đoàn đưa cho tôi tờ giấy và nói:- Đại đội 11 lần này được bổ sung 10 đồng chí, trong đó có một đồng chí là trung đội trưởng, còn lại là tân binh từ Quân khu 3 đưa vào. Đây là danh sách “trích ngang” của các đồng chí ấy. Nhận bàn giao xong, tôi dẫn đoàn quân vừa được bổ sung về phía đơn vị mình. Tới một con suối cạn, tôi đưa anh em đi theo lòng suối và chỉ 2 người vào một hầm. Hầm được đào khoét vào bờ suối như kiểu hàm ếch. Tôi giao các đồng chí này cho đồng chí trung đội trưởng quản lý và dặn: “Các đồng chí cứ ngủ nghỉ cho lại sức, sáng mai nhận nhiệm vụ mới”. Xong xuôi tôi về hầm của mình.
    Khu đóng quân của đại đội bộ ở trên một sườn đồi cách nơi ở của các tân binh khoảng 400 mét nhưng chỉ cách quả đồi trước mặt chừng 300 mét. Quân số lúc này chỉ có tôi, đồng chí Hồng - liên lạc, đồng chí Cơi - quản lý, đồng chí Hợp - y tá và đồng chí Nà - anh nuôi. Sau một đêm với những giấc ngủ chập chờn, khoảng 5 giờ sáng, đồng chí Nà đến kéo tôi dậy, nói với giọng hốt hoảng:- Chính trị viên ơi! Em nghe như có bộ đội nói tiếng miền Nam ở quả đồi trước mặt.- Chết thật! Ở đây làm gì có đơn vị Quân giải phóng nào. Có lẽ bọn địch tối qua nó lẻn vào chiếm đất đấy.
    Quan sát ít phút chúng tôi khẳng định, bọn người đang đứng lố nhố ở quả đồi trước mặt là lính ngụy. Trời sáng mất rồi, trở tay không kịp nữa. Không còn cách nào bắt liên lạc với các trung đội đang nằm ngay trong tầm mắt địch. Không có đường dây thông tin báo về tiểu đoàn. Cả khối đại đội bộ chỉ còn một khẩu AK với 2 băng đạn và một khẩu súng ngắn của tôi. Ai mà ngờ được tình huống địch luồn sâu vào giữa đội hình đóng quân của tiểu đoàn trong đêm tối. Trước tình huống này tôi đã lệnh cho mọi người phải giữ bí mật. Chỉ khi địch tấn công trực tiếp vào đội hình ta thì mới được nổ súng, quyết chiến đấu tới cùng… Hướng các đồng chí tân binh đang ở dọc bờ suối thì không ai có thể phát hiện địch đang ở đỉnh đồi. Đã lác đác có vài đồng chí xuất hiện trên đám ruộng khô. Thật là “lạy ông tôi ở bụi này”. Nhìn các đồng chí của mình đi lại vô tư trong khi chỉ cách địch vài trăm mét mà lòng tôi thắt lại. Các đồng chí xuất hiện mỗi lúc một đông và ngay lập tức một trận mưa pháo ập tới. Đại đội 12 ở bên cạnh trung đội tân binh cũng nằm trong mịt mù khói pháo. Khoảng 8 giờ, vừa có ánh nắng rõ thì từng đoàn máy bay phản lực thay nhau đến trút bom. Một vùng đất rộng chừng 1ha có cây xanh lúp súp, chỉ sau 2 tiếng đồng hồ đã chi chít hố bom, hố pháo, không còn một thân cây, ngọn cỏ nào đứng yên…Đêm hôm ấy ta phải dùng 2 xe tăng và 1 đại đội bộ binh để đánh chiếm lấy lại quả đồi.

    Ngày hôm sau tôi và mấy chiến sĩ trở lại con suối cạn tìm mãi mới được 6 thi thể. Chúng tôi không thể nhận ra và phân biệt được đâu là thi thể của ai?
    Năm 1992, về tìm danh sách các đồng chí của Đại đội 11 hy sinh ngày 2-8-1972 tại Đồi cây mít, tôi cũng không thấy có tên các đồng chí tân binh hy sinh do chính tôi chôn cất. Và 4 người không thấy xác thì liệu có còn sống hay bị vùi lấp dưới hố bom? Cha mẹ người thân của các anh có biết các anh hy sinh ở đâu, trong hoàn cảnh nào? Thời làm lính trực tiếp chiến đấu và chỉ huy chiến đấu của tôi không nhiều nên bao nhiêu cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị hy sinh tôi đều nhớ cả. Chỉ có điều tôi day dứt nhất là 9 đồng chí tân binh và một cán bộ trung đội do tôi đón về đại đội hôm mồng 1-8-1972 tên là gì, quê quán ở đâu, cha mẹ người thân của họ là ai, liệu có còn đồng chí nào sống sót không?

    Sau 40 năm tìm tòi lần hỏi, đến nay tôi vẫn chưa hề có câu trả lời nào. Qua bài báo này, nếu ai biết tin về 10 cán bộ, chiến sĩ tôi nhận về Đại đội 11 vào buổi chiều 1-8-1972 thì vui lòng cho tôi biết qua số điện thoại 0903100046.
    Hoặc qua Nguyệt san Sự kiện và nhân chứng, Báo Quân đội nhân dân, số 7 Phan Đình Phùng, Hà Nội, điện thoại 069.554743, 0986.588.268.
    Trịnh Duy Sơn

  11. Có 1 người thích bài viết này


  12. #28
    Ngày tham gia
    03-10-2010
    Vị trí hiện tại
    Indochina
    Bài viết
    602
    Thích
    681
    Đã được thích 122 lần trong 84 bài viết
    Bài trích từ website Hội Truyền thống Trường sơn: Còn mãi K200 Yên Bái
    17/06/2012 | 11:05

    K200 - NIỀM TỰ HÀO CỦA CÁC DÂN TỘC YÊN BÁI
    Bùi Hòa Bình - Chủ tịch Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, tỉnh Yên Bái


    Lãnh đạo Tỉnh Yên Bái và Lãnh đạo TW Hội chụp chung với các đại biểu K200 dự Đại hội.
    Chiến tranh đã đi qua 36 năm. Miền quê xứ Ngọc của chúng tôi đang ngày ngày phát triển. Thị trấn Yên Thế khắp nơi nhà 3–4 tầng mọc lên san sát. Các bản làng những nếp nhà sàn gỗ lý sáng bóng. Khói lam chiều thơm mùi nếp mới biểu hiện cho sự vững chãi vươn lên của Lục Yên giàu đẹp.
    Buổi sáng hôm nay, một ngày thu nắng vàng rực rỡ, chúng tôi tổ chức họp mặt để nhận Kỷ niệm chương “Chiến sỹ Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh Anh hùng”, một phần thưởng cao quý cho những người lính Trường Sơn năm xưa.. Vui quá, tự hào quá nhưng trên nét mặt của những con người đã có hàng chục năm đội mưa bom, bão đạn, từng ngày giáp mặt với quân thù và đã trải qua bao phong sương gian khó vẫn có một cái gì man mác, bâng khuâng!.
    Sau khi nhận Kỷ niệm chương, anh Hoàng Kim Quế ghé tai tôi thì thầm: “ Giá bây giờ còn thằng Lý Hồng Miêu và bọn chúng nó... giá hai thằng Hoàng Tiến Nam, Phạm Văn Khâm tháng trước không bị ung thư...! Chỉ nói vậy rồi Hoàng Kim Quế im lặng nhìn lảng đi giấu những giọt nước mắt...
    Thế đấy, đồng đội chúng tôi những Người lính Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh vẫn mang trọn nghĩa tình đồng đội. Vui, buồn vẫn luôn nhớ đến nhau. Thế nhưng Đoàn quân ngày ấy, cái ngày hôm nay 20/9 của 45 năm về trước đã có hơn 200 người con của các dân tộc Lục Yên lên đường vào Nam chiến đấu từ bản Lũng, xã Tân Lập (đây là đợt giao quân lớn nhất của Lục Yên ngày đó) đã không còn được nhắc lại và bị lãng quên để đến hôm nay khi chỉ còn hơn 60 người.
    Để tri ân với những đồng đội đã khuất, để dòng truyền thống của huyện Lục Yên không bị lãng quên tên một đơn vị toàn con em các dân tộc Lục Yên đã chiến đấu và chiến thắng vẻ vang tại chiến trường được đánh giá là gian khổ, ác liệt, lâu dài nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Chúng ta sẽ cùng nhau nhớ lại ngày 20/9/1966 và theo chân đoàn quân vào chiến trường với họ.

    Ngày 20/9/1966, hưởng ứng lời kêu gọi của Tổ quốc, con em các dân tộc huyện Lục Yên nô nức ghi tên tình nguyện tòng quân lên đường đánh Mỹ. Sáng tháng 9 cỏ còn đẫm ướt sương thu, núi rừng Yên Thế vẫn mờ trong màn mây, nhưng tất cả đã bừng dậy khi tiếng trống, tiếng kẻng và tiếng người gọi nhau vọng xa khắp các bản làng. Từng tốp thanh niên nam nữ lũ lượt đưa nhau về bản Lũng xã Tân Lập. Nhiều bà Mế sách cóng xôi, gói thịt lợn rừng ra bãi tập trung cố nhét vào ba lô cho các cậu trai làng (vì Mế sợ chúng nó sức trai dễ đói). Bãi tập trung giao quân toàn huyện hôm nay thật nhộn nhịp vì có đủ các chàng trai: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mường, La Chí, Hoa... của tất cả các xã từ Lâm Thượng, Khánh Thiện, Mai Sơn, Mường Lai đến An Phú, Phan Thanh, Phúc Lợi, Liễu Đô, Khánh Hoà, An Lạc, Tô Mậu...Họ hăng hái tòng quân ra trận, họ tạm biệt bản làng nơi có mái nhà sàn với những bếp lửa hồng và người cha, người Mế, người em, người vợ thân thương mới bén hơi nhau được dăm ngày cưới... họ ra đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Hồ Chủ Tịch “Không có gì quý hơn độc lập tự do” và miền Nam đang chờ họ.
    Rời quê hương Lục Yên, xe ôtô, tàu hoả đưa đoàn tân binh đến Đại Từ, Thái Nguyên nơi luyện quân trước khi đi B (vào Nam). Sau 6 tháng rèn luyện, những chàng trai dân tộc có nước da trắng hồng, ngây ngô, bỡ ngỡ ngày nào đã trở thành những chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam rắn chắc, lực lưỡng, vững vàng tay súng sẵn sàng nhận lệnh lên đường.
    Ngày 09/4/1967 tại sở chỉ huy Trung đoàn 1, sư đoàn 250 Quân khu Việt Bắc, Trung tá Trung đoàn trưởng Hồ Nhĩ Quang trang nghiêm nhận từ tay Thiếu tướng Phó tư lệnh Quân khu Bằng Giang lá cờ Giải phóng (Trung đoàn nhận lệnh lên đường ra trận). Các chiến sỹ của quê hương Lục Yên được biên chế ở Tiểu đoàn 2B.

    Đoàn quân đi bộ vào Nam từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1967 thì vượt sông Bến Hải và đi sâu vào vùng Quảng Trị. Và từ ngày đó Tiểu đoàn 2B đã Trở thành đơn vị Quân giải phóng của Quân khu Trị thiên–Huế. Thấy các chiến sỹ của tiểu đoàn hầu hết là người dân tộc thật thà, cần cù và có tính kỷ luật cao rất cần cho đơn vị đặc biệt đang làm một nhiệm vụ bám trụ có nhiều hy sinh, gian khổ nhất. Mặt trận đã đặt mật danh cho Tiểu đoàn là K200 và điều Tiểu đoàn đến T11 nhận nhiệm vụ gùi thồ chi viện cho các hướng chiến trường của Trị Thiên.
    T11 nằm dưới chân đèo Ba Đỉnh (bộ đội còn gọi tên là đèo Bà Định), nơi ngọn nguồn của sông Chinh Hinh, K200 cùng một số tiểu đoàn của Trị thiên – Huế được chia thành các Trạm: T1 đến T3,T5,T7,T9,T11,T13,T15. Địa bàn hoạt động của K200 rộng lại luôn bị pháo hạm, pháo trên các cứ điểm Đầu Mầu, Dốc Miếu, Cồn Tiên, Cam Lộ, Gio Linh bắn chặn. Máy bay Mỹ rải chất độc hoá học, đánh bom liên tục ngày đêm. Mặt khác địch đổ thám báo, biệt kích chặn ta ở các ngả đường, khi phát hiện hoặc nghi có quân giải phóng là gọi pháo, máy bay bắn phá rồi đổ quân vây bắt.

    Cán bộ, chiến sỹ K200 âm thầm, bí mật rải quân ngay trên các trọng điểm ra sát Đường 9 để chuyển lương thực, đạn dược, khí tài thuốc men cho mặt trận Trị Thiên. Nhiều trung đội, tiểu đội của K200 vấp phải địch phục kích đã dũng cảm đánh địch đông gấp nhiều lần và hy sinh anh dũng như tiểu đội của đồng chí Lý Thông Lịnh của T15 gồm 8 chiến sỹ là người Lục Yên, 2 đồng chí ở Nghệ An, 1 đồng chí là người Tà Ôi (Thừa Thiên) khi bị địch phát hiện đã dũng cảm chiến đấu tiêu diệt được 1 tiểu đội địch. Cay cú vì không diệt được lực lượng của ta, chúng gọi B52 đánh thẳng vào khu vực của tiểu đội. Sau đợt B52 đầu tiên, anh em rút vào một hang đá cạnh đường 9. Địch phát hiện đã cho nhiều đơn vị biệt kích đánh vào quyết liệt đều bị đẩy lùi. Máy bay trực thăng vừa đổ quân vừa bắn như vãi đạn cối xuống hang. Ngớt bắn cối một đại đội biệt kích nguỵ đã liều chết xông vào. Chúng bị các chiến sỹ đánh trả quyết liệt. Xác giặc ngổn ngang trước hang. Không làm gì được, chúng phải dùng thủ đoạn hèn hạ cho máy bay thả hàng chục quả bom tấn, bom khoan lấp kín hang. 11 chiến sỹ đã hy sinh anh dũng.

    Có thể nói vùng Quảng trị – Thừa Thiên là chiến trường cực kỳ ác liệt và gian khổ. Bom đạn ngày đêm, mùa khô thì khắc nghiệt, nắng chói chang lại thêm chất độc hóa học địch rải làm các cánh rừng chết trơ trụi. Nắng như đổ lửa. Mùa mưa lại dầm dề, xối xả, lở đất, lở núi, mưa Trường Sơn hàng tháng trời không dứt. Các đơn vị chủ lực thường “Ăn cơm Bắc, đánh giặc Nam” đó là đánh xong các chiến dịch lớn của mùa khô là rút ra miền Bắc nghỉ ngơi, luyện quân rồi mùa khô sang năm lại vào dánh. Nhưng K200 thì không có mùa mà phải bám trụ cả 2 mùa, chịu nắng, chịu mưa, chịu đói, chịu rét và ngày đêm phải đánh địch liên tục để lập chân hàng, bảo vệ hàng, đưa thương binh ra khỏi các vùng địch chiếm... Vì vậy K200 được Mặt trận coi là đơn vị trung kiên nhất, chịu đựng gian khổ nhất. Nhiều đồng chí đói quá, mệt quá, sốt rét quá đã trút hơi thở cuối cùng bên gốc cây khi trên lưng vẫn cõng 2 hòm đạn K63...

    Chiến công của K200 ngày nào, mùa nào cũng suất sắc nhưng đáng nhớ nhất là mùa mưa 1968 và mùa khô 1969. Sau cuộc Tổng tiến công Mùa xuân 1968, địch điên cuồng đổ quân xuống các khu vực đường tuyến của Đoàn 559 vì chúng biết rằng mọi xuất phát của sức mạnh tấn công mà quân Giải phóng có được là từ đây (Quân đội tinh nhuệ, khí tài, đạn dược, lương thực đều do Hậu phương lớn miền Bắc đưa vào) nên chúng đã dùng nhiều sư đoàn với hoả lực do Mỹ chi viện tối đa (Pháo hạm, pháo ở các cứ điểm, máy bay của Hải, Lục, Không quân Mỹ trên đảo Guam, trên các tuần dương hạm, khu trục hạm mỗi ngày hàng ngàn lần chiếc đánh phá toàn tuyến đường 559 nhưng ác liệt nhất, tập trung nhất là khu vực Binh trạm 42 và 44 (Trị Thiên – Huế).
    Ngày 18/4/1968 máy bay B52 liên tục ném bom rải thảm các khu vực dốc Con Mèo, A Lưới, A Sầu nhằm dọn bãi cho cuộc đổ bộ lớn.
    Ngày 19/4/1968 địch mở cuộc hành quân lớn. Sư đoàn Kỵ binh bay số 1 Mỹ và Lữ đoàn dù số 3 của nguỵ dồn dập đổ quân xuống A Sầu, A Lưới, Đông Sơn.
    Ngày 24/4/1968 địch đổ thêm 8 tiểu đoàn xuống Đru Đốc, ngày 28/4/1968 chúng tiếp tục đổ thêm 12 tiểu đoàn Mỹ – nguỵ xuống khu vực Pa Đu, A Lưới, ngã ba Tà Lương đi Hà Tía nhằm phá kho tàng của ta và cắt đứt đường chi viện cho chiến trường Trị Thiên–Huế.
    Những ngày đầu vận chuyển của ta vào hướng Trị Thiên và bắc Khu 5 đã bị tắc mất 26 ngày, ngăn chặn một số đơn vị binh khí kỹ thuật cơ động chi viện cho mặt trận Huế và gây cho các binh trạm của Đoàn 559 một số tổn thất: gần 1.000 cán bộ chiến sỹ bị thương vong, 40 ôtô, 1 số khẩu pháo, trên 1.000 tấn hàng bị phá hủy. Lúc này trên khu vực A Sầu các đơn vị bộ binh, pháo binh, pháo cao xạ với trên 10.000 người hành quân vào các chiến trường phải tạm dừng trên các cánh rừng quanh tuyến. Nhu cầu tiêu thụ vật chất, thuốc men rất lớn. Nhiều đơn vị từ mặt trận sau Mậu thân cũng rút lên. Thương binh không vận chuyển ra tuyến ngoài được đều ùn tắc lại. Cái đói đã làm các đơn vị kiệt sức.

    Đứng trước tình thế cấp bách đó, Bộ tư lệnh Trường Sơn đã quyết định thành lập thêm Binh trạm 43 do đồng chí Hoàng Điền làm Binh trạm trưởng, Đồng chí Hồ Anh làm Chính ủy, tổ chức gùi thồ từ Xưởng Giấy vào Bù Lạch. K200 là đơn vị được điều về Binh trạm 43 làm nhiệm vụ này. K200 đã không quản ngày đêm, vượt những dòng nước lũ của các con suối sau những cơn mưa như, nước ngầu bọt hung dữ gùi từng cân gạo cứu đói, từng gói thuốc cứu thương binh. Quân số sau khi vượt suối đã vơi dần, gạt nước mắt nhớ thương đồng đội, họ lại lầm lũi vượt dốc cao trơn nhầy nhụa, tay bám dây mây đến tuột da, đỏ máu. Trên lưng họ cõng gạo nhưng họ vẫn ăn củ chuối rừng chát đắng vì gạo để dành cứu thương binh... Nhiều đêm tối các đơn vị gùi trên lưng hơn 40 kg đạn, gạo, thuốc quân y luồn qua cứ điểm Cồn Tiên, Động Ông Do, Cô Ca ác, A Dơi..., địch bắn cối dày như vãi trấu đi mười người thương vong hơn nửa nhưng ai cũng sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Chỉ trong 15 ngày các chiến sỹ K200 đã thương vong trên 100 người (trong đó có trên 20 người con của đất Lục Yên như: Nông Văn Cập, Tăng Văn Thăng, Hứa Kim Bích, Lương Quang Tác, Lương Quang Lai vv...)

    Chiến tranh đã đi qua, Lục Yên đổi mới từng ngày. Sự thanh bình đã hiện hữu trên quê hương xứ Ngọc. Những người lính của K200 ngày nào đã trở về bình lặng sống dưới mái nhà sàn ấm nồng bếp lửa. Sau gần 40 năm tóc họ đã bạc, lưng đã còng. Nhiều đồng đội đi đã phải chống gậy hoặc con cháu phải dìu. Nhiều đồng chí đã ra đi mãi mãi vì di chứng của chiến tranh hay chất độc Điôxin. Nhưng hôm nay những người còn, họ gặp lại nhau nắm tay nhau mà thấy mình may mắn hơn nhiều đồng đội... Bất chợt một giọng khàn khàn ở hàng ghế các đồng đội xã Lâm Thượng, ai đó đọc lên 4 câu thơ:
    “ Bản Lũng ngày ấy ra đi
    Lục Yên ơi – mãi khắc ghi trong lòng
    Tự hào lính K200
    Sống trung kiên, chết anh hùng vẻ vang”.
    B.H.B
    CHIẾN BINH ĐẤT NUNG __________________________________________________ ________________
    Một đời chinh chiến, đôi khi chỉ vì... một nụ hôn...!____________________________________________ Kẻ thù buộc ta ôm cây súng...
    0979839899 - 0938797565 - (+855)885795798

  13. #29
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    6,060
    Thích
    112
    Đã được thích 801 lần trong 586 bài viết
    Đưa 56 bộ hài cốt liệt sĩ Việt Nam hy sinh tại Campuchia về nước

    Ngày 29-6, chính quyền và tỉnh đội tỉnh Kandal (Campuchia) đã tổ chức trọng thể lễ đưa tiễn và bàn giao cho Quân khu 9 Việt Nam 56 bộ hài cốt chiến sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh trong các thời kỳ chiến tranh trên địa bàn tỉnh.



    Đưa hài cốt các liệt sĩ Việt Nam về với quê hương
    Mùa khô năm 2011-2012, Đội K90, Quân khu 9 cùng với lực lượng vũ trang tỉnh Kandal của nước bạn đã phối hợp tìm kiếm, cất bốc được 56 bộ hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh trong các thời kỳ chiến tranh. Đến nay, đội K90 đã quy tập được 1.359 hài cốt, trong đó có 914 hài cốt được tìm thấy trên địa bàn tỉnh Kandal.
    Phát biểu tại buổi lễ tổ chức tại xã Prach Tà Meth, huyện Khsach, tỉnh Kandal, ông Chhun Sirun, Tỉnh trưởng tỉnh Kandal nêu bật ý nghĩa to lớn và sự hy sinh cao cả của các anh hùng liệt sỹ quân tình nguyện Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng nhân và đất nước Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng tàn bạo.
    Ông Chhun Sirun nói: “Chúng tôi không bao giờ quên sự hy sinh to lớn của nhân dân và bộ đội tình nguyện Việt Nam – những gia đình đã để con, em, cha, chồng yêu quý của mình sang giúp giải phóng nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng. Chúng tôi khâm phục lòng dũng cảm mang tính nhân đạo cao cả của nhân dân và quân đội Việt Nam. Đó chính là bằng chứng về quan hệ hữu nghị, hợp tác tốt đẹp đời đời giữa hai dân tộc Campuchia và Việt Nam’’.
    Từ năm 2000 đến nay, các đội tìm kiếm của Quân khu 9 đã quy tập được 5.661 hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam. Theo số liệu tổng hợp, cũng trong khoảng thời gian này, hai nước đã phối hợp tìm kiếm, cất bốc, hồi hương được 14.510 hài cốt liệt sĩ.
    Riêng trong mùa khô 2011 – 2012, đã tìm kiếm, cất bốc, hồi hương được 585 hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và các chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Campuchia qua các thời kỳ chiến tranh.

    Theo VOV

  14. #30
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    6,060
    Thích
    112
    Đã được thích 801 lần trong 586 bài viết
    Bờ sông Kôn có 23 liệt sĩ


    Các lực lượng chức năng tổ chức tìm kiếm hài cốt liệt sĩ bên bờ sông Kôn khu vực xã Bình Tường (tháng 5-2012).
    QĐND - Sông Kôn chảy qua thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường (Tây Sơn, Bình Định), mùa lũ nước trắng bờ nhưng vào mùa khô khá thơ mộng. Bãi bồi ngày càng dài rộng ôm lấy những thửa ruộng xanh tốt dưới chân núi Ngang. Ít ai biết rằng nơi đây có rất nhiều liệt sĩ bị địch vùi lấp mà 43 năm nay vẫn chưa được tìm thấy....Ngày 29-8-2011, ông Hồ Tấn Lực, công nhân của Công ty TNHH Gia Yên, khi khai thác cát tại sông Kôn bất ngờ phát hiện được dép cao su, áo mưa thời chiến tranh lẫn trong cát. Biết là của các liệt sĩ, ông liền báo cho chính quyền xã. Nhận được tin, Ban CHQS huyện Tây Sơn phối hợp với địa phương khoanh vùng, dừng các hoạt động trên bờ sông. Bà con cho rằng, đây là nơi bãi rác cũ, địch thường vùi lấp các liệt sĩ bị chúng sát hại. Cơ quan chức năng của huyện đã nhiều lần tổ chức kiếm tìm nhưng chưa phát hiện được. Vậy là kế hoạch khai quật với quy mô lớn được khẩn trương thực hiện. Tuy nhiên, vì đã sát mùa mưa lũ nên phải chờ đến mùa khô năm sau.Ngày 28-5-2012, gần 30 cán bộ, chiến sĩ của Bộ CHQS tỉnh Bình Định được huy động tìm kiếm hài cốt liệt sĩ ở khu vực trên. Rất đông người dân trong xã đổ về sông Kôn chứng kiến sự kiện có ý nghĩa đặc biệt này. Những đôi tay chùng lại khi chỉ đào sâu chừng khoảng từ 1 đến 1,5m là đã thấy hài cốt liệt sĩ. Phạm vi đào bới được mở rộng đến 500m2. 10 hài cốt nằm rải rác và 13 hài cốt nằm chung một chỗ được các lực lượng chức năng tìm thấy cùng nhiều di vật như dép cao su nữ, dép rọ nhựa, chéo dù, võng dù, đồng xu... Tiễn đưa các hài cốt liệt sĩ về Nghĩa trang Bình Tường, ai nấy không khỏi bùi ngùi xúc động khi nghĩ đến bao nhiêu năm nay các anh, các chị đã phải nằm dưới giữa dòng sông lạnh lẽo...Căn cứ vào những chiếc dép nữ được tìm thấy, ông Võ Công Đoàn, nguyên Bí thư Huyện ủy Tây Sơn cho chúng tôi biết khá tỉ mỉ về những người đã hy sinh. Ông Đoàn kể: “Cuối năm 1969, một đội công tác gồm khoảng 10 người của xã Bình Giang (nay là xã Tây Giang và Tây Thuận) về bám dân ở thôn Thượng Giang. Tôi lúc đó là phụ trách thanh niên xã, trong đoàn có anh Nguyễn Đình Tự là Bí thư Đảng ủy và Lê Văn Tiến là Xã đội trưởng. Cùng đi với chúng tôi có 3 cán bộ huyện đội, trong đó có chị Huỳnh Thị Đào (sau này là Anh hùng LLVT nhân dân). Đông nhất là một đoàn vận tải (có thể tên là Sông Cầu) bao gồm cả người miền Bắc và miền Trung, với hơn nửa quân số là nữ. Họ mặc thường phục mang dép cao su, dép rọ nhựa, đội mũ tai bèo. Ai cũng vác trên vai vũ khí nặng từ 60kg trở lên. Đây là đoàn nữ duy nhất đi qua Tây Giang. Họ tập kết ở bờ suối Co, sau đó khoảng 7 giờ tối, cả đoàn hơn 30 người bắt đầu vượt sông Kôn. Trời tối mịt mùng, khi đoàn hành quân đến hết núi Giữa thì bất ngờ lọt vào trận địa mìn plâymo của bọn lính thuộc sư đoàn Mãnh Hổ (Nam Triều Tiên) đóng tại đây. Tôi bị thương, được anh Võ cõng chạy thoát. Anh Tự bị thương nặng cũng được cõng đến núi Giữa sau đó hy sinh và bị bọn lính gom xác. Chị Đào bị thương vẫn ráng cõng thương binh đi mấy cây số, hai ngày sau chị hy sinh ở căn cứ. Như vậy, có khoảng 13 người đã hy sinh ngay tại trận phục kích, trong đó có 4 cán bộ của xã Tây Giang là Lê Văn Tiến, Nguyễn Đình Tự, Nguyễn Thị Bửu và Trần Đình Trọng. Sau đó địch dùng xe tăng đến lượm xác các liệt sĩ đem về phơi nắng ở cầu 15 để thị uy nhân dân…”.Bà Trần Thị Hường, mẹ của liệt sĩ Nguyễn Thị Bửu, nhớ lại sự kiện đau thương 43 năm trước: “Chúng nó phơi xác con gái tôi và đồng đội trên cầu 15. Tôi lạy lục xin đem về chôn mà chúng không cho. Ba ngày sau, chúng cho lính chặn đầu rồi dùng xe cẩu xúc các liệt sĩ đem đổ xuống đâu đó trên mép sông Kôn và lấp lại. Bao nhiêu năm tôi đi tìm hài cốt con gái mà chẳng thấy. Chắc chắn trong số 13 liệt sĩ chôn chung đó có con Bửu nhà tôi”.Việc tìm tên tuổi những chiến sĩ trong đội vận tải và phiên hiệu chính xác của đơn vị bị vùi lấp ở bờ sông Kôn khu vực xã Bình Tường vẫn là câu hỏi mà các cơ quan chức năng cần tiếp tục giải đáp để “trả lại tên” cho các liệt sĩ đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
    Bài và ảnh: HỒNG VÂN

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •