CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 1 của 7 123 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 61

Chủ đề: Tìm hiểu các loại vũ khí trên thế giới

  1. #1
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,231
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Tìm hiểu các loại vũ khí trên thế giới

    F-22 Raptor-Hoa kì

    Nhằm vượt Nga trong cuộc chạy đua vũ trang, Mỹ đẩy mạnh việc chế tạo máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm. Sản phẩm đầu tiên là chiến đấu cơ F-22 có nhiều tính năng đáng kể, tuy nhiên, loại máy bay này vẫn còn nhiều hạn chế.

    Những năm 1990, nước Nga ngập đầu trong khó khăn, nhưng vũ khí của họ, đặc biệt là những hệ thống phòng không hiện đại và các loại máy bay thế hệ thứ tư như Mig-29, Su-27 vẫn đến được nhiều quốc gia ưa chuộng.

    Điều này thách thức thế độc tôn quân sự của Mỹ. Ba công ty của Mỹ là Lockheed Martin, Boeing và General Dynamic đã được giao nhiệm vụ cùng phối hợp để thiết kế một loại máy bay thế hệ thứ năm, vượt trội hơn hẳn các máy bay thế hệ thứ tư đang thống lĩnh bầu trời thế giới.
    Máy bay F-22 đang biểu diễn.
    Theo đó, máy bay thế hệ thứ năm cần phải thỏa mãn những yêu cầu hết sức ngặt nghèo:

    * Tàng hình: Phải có khả năng tác chiến 24/7 mà không bị radar đối phương phát hiện
    * Phải có khả năng bay tuần tiễu ở tốc độ siêu âm, có thể đạt được tốc độ Mach 1,5 (510m mỗi giây) mà không cần đốt nhiên liệu lần hai.
    * Phải cực kỳ linh hoạt, cho phép thao diễn tốt ở tốc độ cao
    * Hệ thống radar nhạy bén, cho phép phi công luôn kiểm soát được trận chiến ở mọi hướng
    * Có khả năng phối hợp tốt cùng với các máy bay cũng như các khí tài khác

    Dựa trên mẫu thiết kế ra mắt năm 1990 là YF-22, đến tháng 4/1997, chiếc F-22 đầu tiên đã ra đời và được đặt tên là Raptor (có nghĩa là chim ăn thịt). Tháng 9/2002, Không quân Hoa Kỳ quyết định đổi tên chiếc máy bay thành F/A-22 để miêu tả khả năng tấn công toàn diện của nó bao gồm tất cả các mục tiêu trên không. Đến tháng 12/2005, chiếc máy bay được đổi tên thành F-22A sau khi hoàn thành các bài kiểm tra về khả năng chiến đấu.
    Khoang vũ khí chính trong thân F-22


    F-22 bắt đầu được sản xuất hạn chế từ tháng 8/2001 với số lượng 49 chiếc tại nhà máy của Lockheed Martin và theo các hợp đồng mà không quân Mỹ đã ký thì cho đến năm 2011, họ sẽ mua 183 chiếc F-22.

    Mặc dù nhu cầu về loại máy bay này của Không quân Mỹ là 381 chiếc nhưng do thiếu kinh phí nên dự án về F-22 đã được Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gate chính thức đình chỉ vô thời hạn.
    Vì thế, tại thời điểm tháng 7/2008, số F-22 mà không quân Hoa Kỳ đã được giao là 122 chiếc.

    Hiện nay, Lockheed Martin đang có chương trình nghiên cứu để chế tạo ra phiên bản tấn công mặt đất chuyên dụng cho F-22 là FB-22 với cánh delta, tầm bay xa và khả năng mang đến 15.000kg vũ khí (trong đó có 4.500 kg được treo bên ngoài) và phiên bản F-22N có thể sử dụng trên tầu sân bay.

    Công nghệ chế tạo

    Vật liệu chế tạo F-22 gồm: 39% ti tan, 24% composite, 16% nhôm và 1% chất dẻo nhiệt theo khối lượng. Titan được sử dụng với khối lượng lớn để chịu lực và chịu nhiệt cho các chi tiết trọng yếu. Sợi composite các bon được sử dụng để bao bọc khung thân, cửa hút khí, cánh máy bay giúp gia tăng khả năng tàng hình.

    Buồng lái F-22 được thiết kế hiện đại với những màn hình LCD 6 màu, điều khiển bằng hệ thống điện tử Kaiser, có khả năng hiển thị các mục tiêu trên không cũng như trên mặt đất. Ngoài ra, các mối nguy hiểm cùng với dữ liệu tìm kiếm mục tiêu hiển thị trên hai màn hình LCD khác.

    Hệ thống hiển thị hình ảnh trên mũ bay phi công (HUD) sẽ cung cấp các thông số như tình trạng mục tiêu, tình trạng vũ khí và giúp phi công ngắm bắn. Các thông số hiển thị trên HUD sẽ được một camera ghi lại để phân tích sau trận chiến.

    Hệ thống vũ khí

    F-22 được trang bị một khẩu pháo 6 nòng M61A2 phía bên cánh phải, ngay phía trên cửa lấy khí. Tuy nhiên, 480 viên đạn dự trữ chỉ giúp vũ khí này có tác dụng trong một thời gian ngắn vì khẩu pháo cỡ nòng 20 mm này có thể
    bắn với tốc độ 100 phát đạn mỗi phút.
    F-22 với tên lửa AIM-9 Sidewinder gắn ở mấu cứng trên cánh.

    F-22 có ba khoang vũ khí có thể đóng mở được nằm trong thân: một khoang lớn phía dưới thân và hai khoang nhỏ phía bên cạnh cửa hút gió. Ngoài ra nó cũng có bốn mấu cứng ở cánh, thường chỉ để gắn thùng dầu phụ trong những phi vụ bay tuần tiễu, tuy nhiên cũng có thể gắn tên lửa, điều này sẽ làm giảm khả năng tàng hình rất nhiều.

    Vũ khí mang theo của F-22 có thể thay đổi tùy theo nhiệm vụ. Để không chiến, F-22 sẽ mang theo 6 tên lửa AIM-120C AMRAAM tầm xa (tầm bắn 90 km) và hai tên lửa AIM-9 Sidewinder ở hai khoang cạnh thân.

    Để tấn công mặt đất, bốn tên lửa AIM-120C ở khoảng giữa thân sẽ được thay bằng hai bom thông minh GBU-32 JDAM loại 204 kg ( hoặc bỏ cả 6 tên lửa AMRAAM để thay bằng hai bom GBU-30 JDAM loại 454 kg), Trong nhiệm vụ tuần tiễu, F-22 chỉ mang theo bốn thùng dầu phụ và 8 tên lửa tầm ngắn AIM-9.
    Lắp tên lửa AIM-120C lên F-22.

    Radar AN/APG-77 của F-22 được hai công ty Northrop Grumman và Raytheon sản xuất. Mỗi radar này chứa 2.000 thiết bị truyền dẫn tín hiệu, cho phép phát sóng với tần số thay đổi trên một dải băng thông rộng, giúp F-22 tránh được việc bị phát hiện bởi những dàn radar thụ động của đối phương.

    Thiết bị thông tin liên lạc và định vị trên F-22 có tên TRW CNI được Boeing sản xuất có nhiệm vụ đảm bảo liên lạc trong suốt hành trình, chia sẻ mục tiêu trong những nhiệm vụ phối hợp và nhận biết bạn - thù. Ngoài ra, F-22 còn trang bị thiết bị dẫn đường bằng laser LTN-100G và hệ thống GPS cùng cảm biến hạ cánh sản xuất bởi Northrop Grumman.

    Hệ thống động cơ

    F-22 được trang bị hai động cơ Pratt & Whitney F-119-100. F-119 là loại động cơ tua bin khí cực mạnh, có thể tạo ra lực đẩy lên tới 156 kN.

    Tuy nhiên, động cơ F-119 chỉ là loại động cơ có khả năng chỉnh hướng phụt 2D, nghĩa là miệng xả của F-119 chỉ có thể chỉnh hướng theo hướng trên dưới, lạc hậu hơn các loại động cơ chỉnh hướng phụt đa hướng của máy bay Mig-29OVT và Su-35BM của Nga, do đó khả năng thao diễn của F-22 vẫn thua kém những loại máy bay này.
    Thử nghiệm lực đẩy động cơ F-119-100 trang bị trên F-22.

    Việc sản xuất F-22 là kết quả của sự phối hợp đầu tư của rất nhiều công ty sản xuất thiết bị lớn với những công nghệ tiên tiến hàng đầu nên giá thành của F-22 bị đội lên đến mức khủng khiếp. Toàn bộ chi phí cho chương trình phát triển F-22A cho đến lúc sản xuất xong 141 chiếc đầu tiên vào tháng 5/2009 là 65 tỷ USD, nghĩa là bình quân 461 triệu USD triệu một chiếc.

    Mặc dù nhà sản xuất cho biết nếu sản xuất với số lượng lớn, giá thành của F-22 có thể giảm xuống đến mức 137,5 triệu USD mỗi chiếc nhưng điều này xem ra khó thành hiện thực vì Chính phủ Mỹ đã dừng chương trình F-22 và loại máy bay này cũng bị cấm không được xuất khẩu.

    Dù cho là loại máy bay chiến đấu hao tiền tốn của nhất trên thế giới, F-22 vẫn chưa đạt đến độ hoàn hảo cần có. Những trục trặc kỹ thuật vẫn xảy ra, điển hình là vụ phi công F-22 bị mắc kẹt trong buồng lái ngày 10/4/2006 khiến các nhân viên cứu hộ phải dùng đến cưa máy để giải thoát. Trầm trọng hơn, hai vụ tai nạn xảy ra vào tháng 12/2004 tại Nevada và ngày 25/3/2009 khiến không quân Mỹ mất toi hai chiếc máy bay đắt đỏ và một phi công thiệt mạng.

    Dù sao, khi máy bay Sukhoi T-50 của Nga chưa ra đời, F-22 vẫn mang trong mình niềm kiêu hãnh là chiếc máy bay thế hệ thứ năm duy nhất trên toàn cầu, biểu tượng đáng để các quốc gia muốn đối đầu với Mỹ cần cân nhắc. Gần đây, khi vấn đề hạt nhân tại bán đảo Triều Tiên trở nên căng thẳng, Mỹ đã gia tăng sự hiện diện quân sự của mình tại khu vực Đông Bắc Á, trong đó có việc điều 12 "siêu" máy bay F-22 tới căn cứ không quân Kadena trên đảo Okinawa, phía Nam Nhật Bản.

    Theo Electronics
    Loại chiến đấu cơ này đang nằm trong danh mục cấm xuất khẩu vũ khí của chính phủ Hoa Kì[/b]

  2. #2
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,231
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Tìm hiểu các loại vũ khí trên thế giới

    Máy bay ném bom B-1B Lancer Hoa kì!

    B-1 là trụ cột trong số các máy bay ném bom tầm xa của Mỹ. Nó có thể phóng ra nhiều vũ khí chính xác và không chính xác, chống lại đối thủ ở bất kỳ đâu trên thế giới một cách nhanh chóng và chỉ sau một thời gian ngắn.
    Cấu tạo cánh/thân máy bay kết hợp với thiết kế hình học có thể thay đổi và động cơ phản lực cánh quạt đẩy làm B-1 có thể di chuyển với khoảng cách lớn hơn, tốc độ nhanh hơn. Cấu tạo cánh tiên tiến được sử dụng cho cất, hạ cánh và chuyến bay trên độ cao lớn. Thiết kế đuôi máy bay hiện đại làm máy bay có thể bay với tốc độ cả trên và dưới âm thanh. Tốc độ của B-1 và trọng tải lớn là nhân tố quan trọng trong một chiến dịch.
    Đặc điểm chính
    Chức năng chính: Máy bay ném bom hạng nặng, tầm xa, đa chức năng
    - Nhà sản xuất: Boeing
    - Chiều dài: 44,5 mét
    - Sải cánh: 41,8 mét
    - Chiều cao: 10,4 mét
    - Trọng lượng không tải: 86,183 kg
    - Trọng lượng tối đa khi cất cánh: 216,634 kg
    - Tốc độ: trên 1.448 km/h
    - Phi hành đoàn: 4 người (chỉ huy chuyến bay, phi công phụ, sĩ quan phụ trách hệ thống tấn công và sĩ quan phụ trách hệ thống phòng thủ)
    - Vũ khí: 3 khoang có thể chứa 84 quả bom Mk-82 hoặc thuỷ lôi Mk-62, 30 quả bom mẹ CBU-87/89 và 24 quả bom do hệ thống định vị toàn cầu hướng dẫn GBU-31 hoặc Mk-84.

    Lắp Bom MK-62 trên B1B-lancer
    Các thiết bị tiên tiến được áp dụng trên máy bay B-1 bao gồm hệ thống radar tấn công thu nhận hình ảnh tổng hợp, thiết bị báo mục tiêu di động dưới mặt đất, radar theo dõi mặt đất, hệ thống định vị toàn cầu/hệ thống dẫn đường quán tính vô cùng chính xác, bộ kiểm soát công nghệ điện tử hàng không, radar Doppler, dụng cụ đo độ cao radar. Những nhân tố này giúp phi hành đoàn định hướng trên toàn cầu, lựa chọn vị trí của máy bay một cách chính xác mà không cần sự trợ giúp từ dưới mặt đất, cập nhật thông tin, mục tiêu của chuyến bay, điều phối hoạt động trong chuyến bay và ném bom chính xác.

    Động cơ GE F101 sử dụng cho B-1B
    Ngoài ra, hệ thống cảnh báo, vị trí radar, biện pháp đối phó hồng ngoại giúp máy bay có thể thâm nhập những vùng không phận nóng bỏng. B-1 có thể phát hiện nguy cơ từ đối thủ và áp dụng biện pháp đối phó hợp lý.
    Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, các B-1Bs được chuyển đổi sử dụng vũ khí thông thường, 32 chiếc dừng hoạt động, niêm cất từ năm 2001, 68 chiếc còn lại được nâng cấp, hoán cải để tăng khả năng mang vác, sử dụng cùng lúc nhiều loại vũ khí thông thường. khả năng trong tương lai bao gồm radio kỹ thuật số mới, màn hình hiển thị buồng lái và cải tiến bộ cảm biến được cải thiện hệ thống đối phó điện tử, máy thu cảnh báo radar, năng lực vận chuyển bên ngoài và tích hợp các loại vũ khí mới.

    Buồng lái của B-1B lancer
    Hiện nay, Lầu Năm Góc đang cải tiến loại máy bay này trong chương trình cập nhật nhiệm vụ thông thường. Theo đó, B-1 có sức tàn phá lớn hơn, thời gian sử dụng lâu hơn. Với vũ khí chính xác thu nhỏ, như bom bán kính nhỏ, sắp được trang bị, phi hành đoàn có thể nhận biết tình hình nhanh hơn, chính xác hơn và việc áp dụng biện pháp đối phó điện tử hợp lý được tăng cường.
    Loại máy bay này cũng nằm trong danh mục cấm xuất khẩu của chính phủ Hoa kì.

  3. #3
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,231
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Re: Tìm hiểu các loại vũ khí trên thế giới

    JH-7 là máy bay ném bom chiến thuật của không quân và không quân thuộc hải quân Trung Quốc. Đây là một trong những thiết kế của Trung Quốc có tỉ lệ nội địa hóa rất cao kể từ khâu thiết kế tới chế tạo.

    Lịch sử phát triển

    Năm 1973, Bộ công nghiệp hàng không Trung Quốc bắt đầu đưa ra lý thuyết máy bay ném bom chiến thuật siêu âm nhằm thay thế vai trò máy bay ném bom hạng nhẹ H-5 và Q-5 đang phục vụ trong Không quân Trung Quốc. Nhiệm vụ phát triển được giao cho viện 603 (viện thiết kế máy bay Tây An).

    Đầu năm 1977, Hội đồng Nhà nước và Ủy ban quân sự Trung Ương quyết định phê chuẩn chương trình phát triển máy bay ném bom mới. Viện 603 chịu trách nhiệm là nhà thiết kế máy bay chính, nhà máy chế tạo máy bay Tây An làm nhiệm vụ sản xuất. Việc phát triển động cơ được giao cho nhà máy 403 (Nhà máy chế tạo động cơ hàng không Tây An). Ban đầu, tên hiệu máy bay được gọi là Hong-7 (H-7).

    Những năm 1980, giống như hầu hết các chương trình quốc phòng khác thì dự án H-7 gần như dừng lại để dành cho ưu tiên phát triển kinh tế Trung Quốc thời điểm đó. Tuy vậy, do quân đội đang rất cần thay thế máy bay ném bom quá lạc hậu H-5. Nên năm 1982, lãnh đạo Trung Quốc đã nhất chí ưu tiên kinh phí phát triển H-7.

    Năm 1985, dự án H-7 một lần nữa phải đối mặt với việc bị hủy bỏ, nhưng rất may sau đó nó đã được “hồi sinh”.

    Nguyên mẫu H-7 hoàn thiện tháng 8/1988 và tiết lộ lần đầu tháng 12/1988 ở triển lãm hàng không quốc tế Farnborough. Cũng năm đó, H-7 thử nghiệm cất cánh thành công và để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới thì nó chính thức đổi tên thành JH-7. Chữ “JH” phiên âm tiếng Trung là Jianjiji Hongzhaji (tiêm kích – bom).

    Đầu những năm 1990, JH-7 lại một lần nữa đứng trước nguy cơ “loại bỏ” khi Trung Quốc tiến hành nhập khẩu máy bay chiến đấu tiên tiến Sukhoi Su-27 và Su-30 từ Nga. Nhưng một lần nữa, JH-7 lại “gặp may” nó vẫn được phát triển và đưa vào trang bị trong lực lượng Không quân của Hải quân Trung Quốc năm 1992.

    Không quân Trung Quốc ban đầu đã không đồng ý tiếp nhận JH-7 vì họ cho rằng loại máy bay này sử dụng công nghệ cũ và trang bị động cơ không đáng tin cậy. Phải tới năm 2004, không quân mới chấp thuận biên chế JH-7 sau một số cải tiến hệ thống điện tử và vũ khí với công nghệ hiện đại.

    Thiết kế của JH-7

    JH-7 là máy bay tiêm kích – bom thiết kế và trang bị cho không quân thuộc Hải quân Trung Quốc với vai trò chủ yếu là chống hạm.

    Phiên bản JH-7 trang bị radar điều khiển hỏa lực Type 232 H Eagle Eye (mắt đại bàng) để thực nhiệm vụ không đối không và không đối hải. “Mắt đại bàng” tồn tại điểm thiếu sót lớn nhất là không thể hỗ trợ các cuộc tấn công bằng vũ khí chính xác cao trên đất liền.

    JH-7 còn lắp thiết bị nhận diện bạn - thù, thiết bị đối phó điện tử, radar cảnh báo sớm, thiết bị gây nhiễu chủ động/bị động.

    JH-7 vũ trang pháo hai nòng tự động GSh-23L cỡ 23mm có tốc độ bắn 300 viên/phút. Nó có 9 giá treo (6 giá dưới cánh, 2 giá ở đầu mút cánh và 1 ở dưới thân) mang tổng cộng 9.000kg vũ khí các loại.


    Trong nhiệm vụ không đối hải, JH-7 mang 4 tên lửa đối hạm cận âm YJ-81 và 2 tên lửa không đối không tầm ngắn PL-5C/E cùng 1.400 lít nhiên liệu phụ. Máy bay khi đó sẽ bay ở độ cao thấp nhằm tránh sự phát hiện của radar đối phương và phóng YJ-81 khi cách tàu mục tiêu khoảng 30-40km.

    Ngoài ra, JH-7 có khả năng mang 20 quả bom không điều khiển loại 250kg cho nhiệm vụ đối đất. Để mang số bom lớn như vậy, trên các giá treo JH-7 lắp hệ thống giá phụ .

    Máy bay trang bị hai động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt đẩy Roll – Royce Spey Mk202 cho phép đạt tốc độ tối đa 1.808km/h, tầm hoạt động gần 4.000km, trần bay 16.000m.


    Cải tiến nổi bật của JH-7A

    Lực lượng Không quân Trung Quốc “không chịu tiếp nhận” JH-7 do nó không đáp ứng yêu cầu mà không quân đặt ra. Đặc biệt, đó là nó không có khả năng thực hiện nhiệm vụ tấn công bằng vũ khí chính xác cao mà đây lại là yêu cầu không thể thiếu của chiến tranh hiện đại.

    Vì vậy, cơ quan thiết kế Tây An đã cải tiến JH-7 với công nghệ mới, tiên tiến hơn.

    Cấu trúc thân JH-7A sử dụng vật liệu composite và hợp kim làm giảm trọng lượng rỗng của máy bay (khoảng 400kg) trong khi trọng lượng cất cánh tối đa tăng thêm 10%.

    JH-7A trang bị radar điều khiển hỏa lực đa chức năng JL-10A với 11 chế độ làm việc gồm: đánh chặn tầm trung, không chiến tầm ngắn, tấn công mục tiêu mặt biển/mặt đất, định vị… . Radar có tầm phát hiện mục tiêu tới 80km và cự ly theo dõi 40km.

    Buồng lái cải thiện hơn về sự “tiện nghi” với màn hình HUD và hai màn hình LCD đa năng hiển thị thông tin liên quan đến chuyến bay, tình trạng vũ khí.

    JH-7A có tới 11 giá treo vũ khí (6 dưới cánh, 2 ở đầu mút cánh, 1 dưới thân và 2 dưới thân gần vị trí cửa hút khí).


    Cấu hình vũ khí của JH-7A cũng tương tự JH-7 nhưng bổ sung khả năng mang vũ khí tấn công chính xác cao như: tên lửa chống radar YJ-91, tên lửa không đối đất dẫn đường TV KD-88 và bom dẫn đường bằng laze loại 250kg.

    Phiên bản cải tiến JH-7A trang bị động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt đẩy WS-9 (mẫu sao chép từ động cơ Mk202).

    JH-7 còn có một phiên bản dành cho mục đích xuất khẩu là FBC-1 Flying Leopard. Nhưng hiện tại không có bất kỳ khách hàng quốc tế nào ngó ngàng tới FBC-1.

    Ngày nay, trong biên chế Không quân thuộc Hải quân Trung Quốc có ba trung đoàn JH7/7A nằm ở ba hạm đội. Không quân Trung Quốc có sự phục vụ của một trung đoàn JH-7A. [justify:3iimmqog]N. Hoàng[/justify:3iimmqog]

  4. #4
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,231
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Sứ mệnh của hệ thống tàu đổ bộ cơ động nhất thế giới

    Hiện nay, các tàu đổ bộ mang trực thăng lớp Wasp (ong bắp cày) đang biên chế trong lực lượng Hải quân Mỹ là những tàu đổ bộ lớn nhất thế giới, và cũng là những tàu đổ bộ được thiết kế đặc biệt nhất để sử dụng cả tàu đổ bộ đệm khí và máy bay tiêm-cường kích AV-88 Harrier-2.

    Tàu đổ bộ mạnh, cơ động nhất thế giới

    Chiến tranh Lạnh kết thúc cũng là lúc nổ ra một cuộc cách mạng trong lĩnh vực quân sự. Các cường quốc quân sự trên thế giới đua nhau nâng cấp và hoàn thiện hệ thống vũ khí trang bị của mình, chủ yếu là để đủ sức tiến hành các chiến dịch quân sự quy mô lớn có sử dụng vũ khí hạt nhân.
    Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, nhu cầu về tính cơ động trong lực lượng vũ trang các nước lại ngày càng tăng lên. Điều này dẫn tới các cường quốc lại tập trung vào nghiên cứu, phát triển các loại tàu sân bay, tàu ngầm, các loại máy bay tiền phương… những phương tiện có tầm hoạt động lớn và khả năng cơ động cao.
    Đáng chú ý, một phần quan trọng trong biên chế của lực lượng Hải quân các nước lúc này đã tập trung vào lực lượng đổ bộ trên biển bởi vì lực lượng này có thể nhanh chóng triển khai các hoạt động tác chiến ở bất cứ khu vực nào. Đây là lực lượng lý tưởng để tiến hành các hoạt động tác chiến trong các cuộc chiến tranh hiện đại.
    Hiện nay, trong biên chế của Hải quân Mỹ có khoảng 8 hạm đội tàu đổ bộ. Mỗi hạm đội này đều có các tàu đổ bộ, tàu đổ bộ mang trực thăng, tàu vận tải đổ bộ, đội quân bảo đảm cho quá trình đổ bộ, đội rò phá mìn, phi đội chỉ huy không quân chiến thuật, cụm tác chiến đặc biệt và phân đội cứu thương, thông tin liên lạc.

    Phương tiện đầu tiên chuyên chở các phân đội đổ bộ xuống khu vực cần đánh chiếm là máy bay trực thăng, song chúng lại không thể chở vũ khí và phương tiện tác chiến đi cùng phân đội đổ bộ. Do vậy, hiện nay, các loại vũ khí, phương tiện và cả phân đội đổ bộ được đưa vào bờ bằng tàu đổ bộ cao tốc đệm khí loại LCAC hiện đang được trang bị cho các tàu đổ bộ hiện đại của Hải quân các nước Mỹ, Pháp, Hà Lan và một số quốc gia khác.
    Tàu đổ bộ lớp Wasp của Hải quân Mỹ hiện nay là tàu đổ bộ lớn nhất thế giới và cũng là loại tàu duy nhất được thiết kế chuyên để sử dụng tàu đổ bộ đệm khí và máy bay tiêm-cường kích AV-8B Harrier-2.
    Chiếc tàu đổ bộ đầu tiên lớp này là tàu LHD-1, được nâng cấp từ tàu đổ bộ đa năng lớp Tarawa. Nó có khả năng vận chuyển một tiểu đoàn do thám lính thủy đánh bộ với số lượng gần 2.000 người cùng các phương tiện vận chuyển đổ bộ thông dụng và máy bay trực thăng.
    Tàu đổ bộ lớp Wasp có hầm chứa chuyên dụng với chiều dài 81m và rộng 15,2m, đủ sức chứa 40 xe vận tải bọc thép, 3 tàu đổ bộ đệm khí loại LCAC hoặc 12 tàu đổ bộ thông thường loại LCU. Mỗi chiếc ca nô đa năng tải trọng 375 tấn mang vỏ thép có thể chở được 2 chiếc xe tăng hoặc 350 người.
    Bên cạnh đó, trên tàu đổ bộ lớp Wasp còn có thể triển khai trên boong tàu 20 xe vận tải bọc thép, 17 chiếc ca nô đổ bộ tải trọng 64 tấn loại LCM-6 để chở phương tiện tác chiến quân sự. Mỗi chiếc ca nô loại này có thể chở được 80 lính thủy đánh bộ với đầy đủ vũ khí trang bị. Ngoài ra, trên boong tàu đổ bộ lớp Wasp còn bố trí 9 vị trí đỗ dành cho 42 máy bay trực thăng các biến thể khác nhau, trong đó có trực thăng yểm trợ hỏa lực AH-1 Sea Cobra, trực thăng vận tải MH-47 Chinook hoặc MV-22B Osprey.
    Khi đảm nhiệm vai trò của một chiếc tàu sân bay đa năng thì tàu đổ bộ lớp Wasp có thể sẽ được bố trí triển khai thêm 20 máy bay tiêm-cường kích AV-8B Harrier-2 và 6 chiếc trực thăng săn ngầm hiện đại.
    Cũng như các tàu chiến hạng nặng khác, tàu đổ bộ lớp Wasp cũng được trang bị hệ thống tác chiến vô tuyến điện tử mạnh, bao gồm có hệ thống radar tìm kiếm, hệ thống điều khiển hỏa lực pháo và dẫn đường tên lửa, anten thông tin liên lạc và định vị.
    Hệ thống vũ khí trang bị trên tàu chủ yếu là tổ hợp pháo phòng không Vulkan-Phalanx cỡ 20mm có khả năng tiêu diệt tên lửa đối phương đang bay tới ở cự ly rất gần, khoảng 1,5km, song tốc độ bắn của loại hỏa lực này lại có thể đạt tới 4.500 phát/phút.
    Tàu đổ bộ Mỹ thực hiện sứ mệnh ở Libya

    Mỹ quyết định tăng cường thêm một tàu đổ bộ mang máy bay trực thăng và lính thủy đánh bộ tới khu vực Địa Trung Hải. Tuyên bố này do đại diện chính thức của Lầu Năm Góc tiết lộ với báo chí vào ngày 19/3.
    Theo đó, tàu đổ bộ Bataan hiện đang triển khai tại Norfok bang Virginia đã nhận được lệnh di chuyển tới sát bờ biển của Libya trên Địa Trung Hải trước ngày 23/3, sớm hơn thời gian dự kiến ban đầu. Ngay từ đầu tháng 3 này, Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates đã hạ lệnh điều động một số tàu chiến từ Biển Đỏ tới Địa Trung Hải để sẵn sàng ứng phó, thực thi các nhiệm vụ tác chiến khi có lệnh của Tổng thống Obama.
    Hiện nay, trên Địa Trung Hải có khoảng 7 tàu chiến của Mỹ gồm: 3 tàu khu trục, 2 tàu đổ bộ cỡ lớn là Kearsage và Pons, một tàu chỉ huy của Hạm đội số 6 mang tên Mount Whitney và tàu ngầm nguyên tử tấn công Providence. Ngoài ra, Mỹ còn có 2 tàu sân bay đang hoạt động gần khu vực này.
    Tuy nhiên, hiện nay hai chiếc tàu sân bay này chưa kịp di chuyển đến áp sát bờ biển của Libya do đang phải hỗ trợ cho các chiến dịch của Mỹ tại Afghanistan: tàu sân bay Enterprise hiện đang tuần tra trên Biển Đỏ, còn tàu sân bay Carl Vinson hiện đang hoạt động trên Biển Ả Rập.
    Trong thời gian này, Italia cũng đưa ra tuyên bố, 7 căn cứ quân sự của nước này sẵn sàng tiếp nhận máy bay của lực lượng quốc tế vào thực thi Nghị quyết 1973 mới được Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc thông qua ngày 17/3 vừa qua về thành lập vùng cấm bay đối với Libya.
    Không loại trừ khả năng, chính lực lượng Không quân của Italia cũng sẽ tham gia chiến dịch quân sự này, đồng thời một số chiến hạm và tàu sân bay của Italia cũng đang tiến tới bờ biển của Libya - khẳng định của người đại diện Bộ Quốc phòng Italia.
    Bảy căn cứ quân sự của Italia kể trên bao gồm: 2 sân bay quân sự ở phía Nam tỉnh Apulia là Amendola và Gioia del Colle; 2 căn cứ trên đảo Sicily là Sigonella và căn cứ ở thành phố Trapani; 1 căn cứ trên đảo Panteleriya phía Nam Sardinia; 1 căn cứ không quân ở phía Bắc Apennines là Aviano và 1 sân bay hỗ trợ hậu cần trên đảo Sardinia là Dechimomaunnu.
    Phát biểu trước báo giới trong nước và quốc tế, Bộ trưởng Quốc phòng Italia Ignazio La Russa cho biết, Italia sẽ ủng hộ toàn diện tất cả các hoạt động của lực lượng quốc tế nhằm thực thi Nghị quyết mới của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.
    Hải quân Mỹ ngày 23/3 đã cử tàu tiến công đổ bộ USS Bataan (LHD5) đến Địa Trung Hải để tham gia thực hiện sứ mệnh quân sự tại Libya. Tàu tiến công đổ bộ là tên gọi mới của các hàng không mẫu hạm thời Thế chiến II. Các tàu tiến công đổ bộ là lực lượng nòng cốt của chiến tranh đổ bộ Mỹ.
    Các tàu này có sức mạnh tương tự các hàng không mẫu hạm, chỉ khác là lực lượng tấn công là các lực lượng trên bộ. Các tàu này cung cấp chỉ huy, điều hợp và hỗ trợ toàn diện cho tất cả thành phần của một đơn vị thủy quân lục chiến viễn chinh Mỹ, gồm khoảng 2.200 binh sĩ trong một cuộc tấn công sử dụng cả các loại xe và phi cơ đổ bộ.
    Giống như những hàng không mẫu hạm loại nhỏ, tàu tiến công đổ bộ có khả năng thực hiện các chiến dịch sử dụng loại phi cơ cánh cố định lên xuống thẳng đứng, phi cơ cất và hạ cánh sử dụng đường băng ngắn hay các loại phi cơ cánh quạt. Chúng cũng có một sàn sát mặt nước để hỗ trợ cho việc sử dụng tàu đổ bộ chạy trên đệm không khí và các loại xuồng tấn công đổ bộ khác.
    Hiện tại, các tàu tiến công đổ bộ được triển khai như lực lượng trung tâm của một liên đoàn viễn chinh tấn công. Một liên đoàn viễn chinh tấn công thường gồm có thêm một tàu vận tải đổ bộ phục vụ chiến tranh đổ bộ và một tuần dương hạm hay khu trục hạm có trang bị hệ thống Aegis, tàu khu trục nhỏ, và tàu ngầm tấn công để phòng vệ cho liên đoàn.
    Tàu đổ bộ lớn nhất của hải quân Nga

    Ra đời từ những năm 70 của thế kỷ trước, Ivan Rogov đang là lớp tàu đổ bộ lớn nhất của hải quân Nga. Tuy nhiên, trong tương lai không xa Ivan Rogov sẽ bị tàu Mistral soán ngôi. Tàu đổ bộ lớp Ivan Rogov thuộc dự án 1174 do Nhà máy Yantar chế tạo. Tất cả có ba chiếc được sản xuất. Chiếc tàu đầu tiên mang tên Ivan Rogov hạ thủy năm 1976, chính thức đưa vào phục vụ năm 1978. Hai chiếc còn lại là tàu Aleksandr Nikolayev và Mitrofan Moskalenko lần lượt biên chế trong các năm 1983 và 1990.
    Tàu đổ bộ của Nga là một trong những thiết kế sức chứa lớn. Tàu đổ bộ lớp Ivan Rogov có lượng choán nước 14.000 tấn, dài 157,5m, rộng 23,8m. Khoang chứa hàng của tàu có kích thước 54m x 12,3m với diện tích 660m2, bố trí cầu ra vào mũi tàu chuyên dùng cho nhiệm vụ đổ bộ. Đuôi tàu có một cửa ra vào, bên trong khoang đó có thể làm ngập nước trợ giúp hoạt động của tàu đổ bộ cỡ nhỏ lớp Ondatra (lượng choán nước 145 tấn) và tàu đổ bộ đệm khí lớp Lebed (lượng choán nước 110 tấn).

    Sức chứa của lớp Ivan Rogov khá lớn, bên trong khoang tàu chở 2.500 tấn hàng hóa, một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ (520 người) và 25 xe tăng. Hoặc nếu không mang thêm các tàu đổ bộ cỡ nhỏ thì sức chứa tối đa khoảng 50 xe tăng và 80 xe thiết giáp chở quân. Lớp Ivan Rogov còn có khả năng mang được bốn trực thăng săn ngầm Kamov Ka - 27 và trực thăng vận tải vũ trang Ka - 29. Các trực thăng Kamov đặt trong khoang chứa, có hai sân cất hạ cánh bố trí phía mũi tàu và đằng sau đuôi.
    Tàu đổ bộ lớp Ivan Rogov trang bị một pháo hai nòng đa năng AK 726 cỡ 75mm. AK 726 thiết kế chuyên tiêu diệt các mục tiêu cỡ nhỏ trên biển, chống máy bay và tên lửa hành trình đối hạm. Pháo có tầm bắn 15,7km, tốc độ bắn tối đa 100 viên/phút, dự trữ đạn 1.000 viên. AK 726 được điều khiển theo ba chế độ: tự động hoàn toàn sử dụng radar kiểm soát hỏa lực; bán tự động sử dụng thiết bị kính ngắm quang học Prizma; thủ công sử dụng kính ngắm của pháo thủ để xác định mục tiêu.
    Tháng 12/2010, Moskva công bố, 2 chiếc tàu đổ bổ có sân bay trực thăng lớp Mistral đã được Pháp và Nga cùng hợp tác đóng tại Nhà máy đóng tàu STX ở Saint-Nazaire (Pháp), và 2 chiếc tàu khác sẽ được chế tạo sau tại Nga. "Quyết định đóng các tàu đổ bộ lớp Mistral trên đảo Kotlin, gần thành phố St Petersburg đã được thông qua. Các xưởng đóng tàu mới này sẽ thuộc Công ty đóng tàu Admiralty", nguồn tin tiết lộ.
    “Nhà máy đóng tàu mới này sẽ được xây dựng chuyên dụng để chế tạo tàu Mistral, nhưng sau đó nhà máy sẽ được sử dụng để chế tạo các tàu vận tải thương mại và tàu chiến cỡ lớn", một quan chức quân sự Nga phát biểu.
    Nga có thể sẽ bắt đầu đóng các tàu tấn công đổ bộ lớp Mistral sau năm 2014. Trong khi đó, chiếc tàu lớp Mistral đầu tiên, trị giá hơn 700 triệu Euro, đang được chế tạo trong vòng 36 tháng sau khi Nga thanh toán trước một khoản tiền cho Pháp, vào tháng 1/2011 theo kế hoạch. Một chiếc tàu tấn công đổ bộ lớp Mistral có khả năng mang và triển khai 16 máy bay trực thăng, 4 phương tiện đổ bộ, chở được tới 70 xe bọc thép bao gồm 13 xe tăng chiến đấu, và 450 binh sĩ.

    Trung Quốc hạ thủy tàu đổ bộ cỡ lớn

    Sự kiện Trung Quốc hạ thủy tàu đổ bộ cỡ lớn có tên Tĩnh Cương Sơn- tàu đổ bộ lớn nhất của nước này cho đến nay, đã gây rất nhiều sự chú ý đối với giới nghiên cứu quân sự thế giới. Lập tức, giới phân tích quân sự thế giới lại quay trở lại với sự kiện năm 2009, khi quân đội Trung Quốc đã hoàn tất chiến thuật đánh chiếm các hòn đảo do các nước khác nắm giữ tại vùng Biển Đông và đã huấn luyện lực lượng theo phương án đó.
    Tàu này có trọng tải 18.000 tấn và có sân đáp cho bốn máy bay trực thăng cùng một lúc. Để ngăn không cho đối phương tiếp ứng, đồng thời với chiến dịch tấn công đánh chiếm mục tiêu, các đơn vị chính thuộc hai hạm đội Bắc Hải và Đông Hải của Trung Quốc sẽ có mặt tại những vị trí ngoài khơi để chặn không cho tàu sân bay Mỹ đến gần chiến trường. Vấn đề, theo ghi nhận của Nhật báo Asahi Shinbum, là sau khi kế hoạch được soạn thảo xong, Trung Quốc đã cho quân đội rèn luyện ngay hai chiến thuật này trong các cuộc tập trận của họ trên quy mô rộng lớn tại vùng Biển Đông.
    Đến đầu tháng 10/2010, một cuộc tập trận bắn đạn thật huy động 1.800 lính thủy quân lục chiến Trung Quốc lại được tiến hành trên một khu vực trải dài từ Trạm Giang thuộc tỉnh Quảng Đông cho đến tận đảo Hải Nam. Tàu đổ bộ và xe tăng đã được dùng để tung quân lên bờ, trong khi lực lượng tấn công nỗ lực phá nhiễu điện từ và tên lửa do các đơn vị đóng vai quân địch bắn ra.
    Đối với tờ báo Nhật Bản, trái với thông lệ là giữ kín bí mật các cuộc tập trận, quân đội Trung Quốc lần này đã mời 273 tùy viên quân sự từ 75 nước đến quan sát cuộc diễn tập. Trung Quốc vẫn đang theo đuổi mục tiêu phát triển các loại vũ khí công nghệ cao, chạy đua vũ trang với các cường quốc quân sự trên thế giới, mục tiêu mà họ muốn vươn tới là các loại vũ khí mới nhất của Mỹ với phương châm: "Những gì Mỹ có thì Trung Quốc nhất định phải có".
    Một minh chứng thực tế cho các loại vũ khí "khủng" của Trung Quốc là tàu đổ bộ Type-071 lớp Ngọc Chiêu (Yuzhao), là loại tàu đổ bộ lớn nhất và hiện đại nhất của Hải quân Trung Quốc, chiếc đầu tiên được khởi đóng vào năm 2006 tại Nhà máy đóng tàu Hồ Đông, Thượng Hải chỉ chưa đầy 2 năm sau, ngày 12/5/2007, tàu đổ bộ này đã hoàn thành và được biên chế vào Hải quân Trung Quốc. Hoạt động trong Hạm đội Nam Hải, chiếc Ngọc Chiêu thứ nhất mang số hiệu 998 Côn Lôn.
    Đây được xem là một bước tiến nhảy vọt cả về công nghệ và tốc độ đóng tàu của công nghiệp hàng hải Trung Quốc. Tàu đổ bộ Type-071 có thông số cơ bản như sau: dài 210m, rộng 28m, mớn nước 7m, tải trọng tiêu chuẩn 20.000 tấn.
    Theo nhà sản xuất, tàu được đóng theo công nghệ khá hiện đại, có thể chở từ 500-800 binh sỹ, 15-20 xe bọc thép lội nước, được trang bị bốn tàu đổ bộ khí đệm, 2 hệ thống đổ bộ cơ giới. Trên mặt boong có sàn đáp và nhà chứa máy bay có khả năng chở 2-4 trực thăng hạng nặng Z-8 Super Frelon. Tàu đổ bộ Type-071 được trang bị hệ thống vũ khí có nguồn gốc từ Nga, 1 pháo hạm AK-176 76mm, 4 pháo bắn nhanh AK-630 30mm, 4 hệ thống phóng mồi bẫy.
    Sự ra đời của tàu đổ bộ Type-071 được xem là một nỗ lực lớn của Trung Quốc trong việc tăng cường năng lực đổ bộ cho hải quân nước này. Type-071 được cho là có thể so sánh với tàu đổ bộ lớp San Antonio của Hải quân Mỹ, nhưng chi phí xây dựng chỉ bằng 1/3 so với tàu đổ bộ của Mỹ. Tuy nhiên, chiếc tàu đổ bộ hiện đại nhất của Hải quân Trung Quốc chưa sử dụng được bao lâu đã bị xuống cấp.
    Một số hình ảnh được đăng trên các trang mạng Trung Quốc cho thấy, con tàu này đã bị ăn mòn khá nghiêm trọng cho dù thời gian hoạt động trên biển của nó chưa được bao lâu. Dù lớp sơn ở phía trên từ mặt nước trở lên vẫn còn mới, nhưng phần từ mặt nước trở xuống đã bị ăn mòn khá nghiêm trọng. Một số thành viên trên các trang mạng Trung Quốc nhận định rằng, do chạy theo tốc độ hiện đại hóa quá nhanh mà vấn đề chất lượng của các con tàu cũng như các trang thiết bị đi kèm chưa được chú trọng một cách triệt để

    Trần Tú (tổng hợp)

  5. #5
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,231
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Pháo đài bay B-52Stratofortress = Con ngáo ộp của USA AIRFORCE

    Máy bay B-52 là loại máy bay ném bom chiến lược hạng nặng, tầm xa, rất nổi tiếng của Không quân Hoa Kỳ.
    Lần đầu tiên B-52 tham chiến là tại Chiến tranh Việt Nam và được nổi tiếng với uy lực ném bom rải thảm tàn phá ghê gớm của nó. Cũng tại Chiến trường Việt Nam,B-52 lần đầu tiên bị bắn hạ bằng tên lửa phòng không SAM-2 do Liên Xô cung cấp.B-52 cũng đã bị máy bay tiêm kích MiG-21 của Việt Nam bắn rơi.

    Lịch sử



    Nhà sản xuất : Boeing,bắt đầu sx từ năm 1954.

    • Mẫu thử nghiệm đầu tiên: ngày 28 tháng 11 năm 1951
    • Trang bị cho không quân chiến lược Mỹ: 1955
    • Từ năm 1955 đến năm 1961 cải tiến 8 lần
    • Ném bom lần đầu tiên:
      • Ngày 18 tháng 6 năm 1965 tại Bến Cát (Tam giác sắt),Bình Dương.
      • Ngày 12 tháng 4 năm 1966 ở đèo Mụ Giạ, tỉnh Quảng Bình.
    • Từ tháng 6 năm 1965 đến tháng 8 năm 1973 đã dùng ở Đông Dương trên 120.000 lần-chiếc.Phương tiện chủ yếu tiến hành cuộc tập kích đường không của quân Mỹ vào Hà Nội và Hải Phòng từ 18 đến 30-12 năm 1972.
    • Chiến tranh vùng Vịnh năm 1990 và 1991.Chiến tranh Nam Tư,1999. Afghanistan năm 2001.
    Tính năng kỹ thuật




    Sải cánh 56,39 m - Dài 40,05 m - Cao 12,4 m - 8 động cơ

    • Khối lượng cất cánh tối đa 221,35 tấn - Mang 30 tấn bom
    • Tầm bay: 12.000 km - 16.000 km - Độ cao 15 km so với mặt biển
    • Tổ lái: 6 người:chỉ huy,phi công,sĩ quan phụ trách radar,sĩ quan dẫn đường,sĩ quan tác chiến điện tử và một xạ thủ súng máy ở phía đuôi máy bay..


    Trang bị




    • Pháo chống máy bay: B-52 có pháo ở đuôi chỉ để duy trì tác dụng tâm lý.B-52 được máy bay tiêm kích hộ tống.
    • Bom:30 tấn,khoảng 150 quả (bom tiêu chuẩn gần 250 kg.)
    • Tên lửa: Sau Chiến tranh Việt Nam,Hoa Kỳ dần dần không sử dụng B-52 vào mục đích ném bom nữa mà chuyển sang trang bị tên lửa hành trình,B-52 phóng tên lửa hành trình từ xa vào các mục tiêu của đối phương như trong Chiến tranh Iraq, Chiến tranh Kosovo.
    • Hệ gây nhiễu điện tử: mỗi máy bay có từ 9 đến 15 máy do một sỹ quan điện tử phụ trách, trong thời gian Chiến tranh Việt Nam người sỹ quan điện tử này thường có quân hàm cao nhất trong tổ lái và có vai trò quan trọng nhất trong việc đảm bảo an toàn của máy bay.
      • Máy gây nhiễu có hai loại: máy gây nhiễu thụ động và máy gây nhiễu chủ động.
    • Các thiết bị liên lạc, dẫn đường và radar chuyên dụng.
    B-52 giữ ba kỉ lục trong Chiến tranh Việt Nam



      1. Lần đầu tiên máy bay B-52 tham chiến là tại Chiến tranh Việt Nam.
      2. Lần đầu tiên B.52 bị bắn hạ bằng tên lửa phòng không SAM-2 do Việt Nam cải tiến.
      3. Lần đầu tiên,B-52 bị bắn rơi bằng máy bay tiêm kích MiG-21 do phi công VN điều khiển.
    Máy bay B-52 thường đi thành nhóm ba chiếc theo đội hình mũi tên,trên độ cao 9-10 km và ném khoảng gần 100 tấn bom với mật độ dày đặc xuống một khu vực khoảng 2,5 km². Nếu một quả bom tiêu chuẩn gần 250kg thì mật độ bom rơi là khoảng 150 quả trên 1 km², tức là khoảng cách trung bình giữa hai hố bom cạnh nhau là khoảng 80 mét,xác xuất huỷ diệt trong bãi bom là cao.
    Mĩ đã sử dụng rất rộng rãi máy bay này trên chiến trường B,C,K và trên đường Hồ Chí Minh và tỉnh Quảng Bình, Vĩnh Linh là khu dân cư,đồng ruộng,làng mạc không có phương tiện phòng không để đối chọi với loại máy bay này.B-52 liên tưởng đến sự chết chóc huỷ diệt,tàn phá nhà cửa,ruộng vườn,cầu đường,bệnh viện trường học...

    B-52 trong Chiến dịch Linebacker II



    Trong chiến dịch Linebacker II phía Việt Nam công bố đã bắn hạ 34 máy bay B-52.Phía Mỹ chỉ công nhận mất 15 chiếc là những chiếc bị bắn rơi tại chỗ và những chiếc có phi công nhảy dù bị bắt sống tức là chỉ công nhận các trường hợp bị bắn rơi có nhân chứng, vật chứng rõ ràng. Nếu tính tỷ lệ những máy bay trúng đạn cố bay ra biển rồi bị rơi (hầu hết máy bay B-52 bị bắn tại Hải Phòng đều cố thoát ra biển nhảy dù để được Hải quân Mỹ cứu) hoặc rơi tại Lào, Thái Lan thì số liệu của phía Việt Nam là đáng tin cậy và có cơ sở hơn, nó phù hợp với thống kê của hãng thông tấn AP: Cứ theo tốc độ bị bắn rơi như thế này thì sau ba tháng B-52 sẽ tuyệt chủng.
    Sau Chiến tranh Việt Nam, phía Mỹ trang bị lại cho loại máy bay này, các máy bay B-52 được trang bị tên lửa hành trình và sẽ phóng tên lửa từ xa thậm chí không cần bay vào vùng trời mục tiêu. Phương án vũ trang này làm giảm nguy cơ bị bắn hạ của B-52 nhưng nó chỉ thích hợp với loại chiến tranh hạt nhân hoặc chiến tranh thông thường với các mục tiêu đơn lẻ có giá trị cao. Hiệu ứng tâm lý gây choáng bị ném bom rải thảm sẽ không còn nữa
    Từ năm 1965, Mỹ đã đem B-52 tới Việt Nam tham chiến. Hầu hết các máy bay B-52 đều cất cánh từ hai sân bay Utapao (Thái Lan) và Anderson (Guam).
    Chiến dịch Linebacker II năm 1972, bên cạnh các loại máy bay chiến đấu chiến thuật thì B-52 chính là “quân át chủ bài” mà Tổng thống Nixon tung ra hòng “đưa miền bắc Việt Nam về thời kỳ đồ đá”, tạo thế thuận lợi trên bàn đàm phán hiệp định Paris. Để thực hiện mưu đồ này, chúng đã huy động 193 chiếc B-52D/G (chiếm gần 50% số B-52 mà Mỹ có).

    Tên lửa hành trình AGM-28 bay tầm cao ở tốc độ siêu âm thì tầm bắn lên tới 800km, còn bay ở tầm thấp và tốc độ cận âm thì tầm bắn giảm xuống còn trên 300km. Tên lửa AGM-28 có khả năng trang bị đầu đạn hạt nhân
    Lớp hỏa mù che đậy hành tung B-52
    Bốn tên lửa “mồi bẫy” ADM-20 Quail (chim cút).

    • Vũ khí có khả năng đánh lừa được radar địch, thu hút tên lửa tầm nhiệt K-13 của MiG-21.
    • Tên lửa sử dụng một động cơ phản lực Pratt & Whiteney J85, tầm bắn khoảng 700km, tốc độ Mach 0.9
      • Trang bị trên chưa đủ để B-52 vượt qua được lưới lửa phòng không miền Bắc hay “rồng lửa” SAM-2. Không quân Mỹ đã trang bị thêm cho “con ngáo ộp” này 16 máy gây nhiễu điện tử tích cực, hai máy gây nhiễu tiêu cực và hai máy thu tần số radar đối phương.
      • Hệ gây nhiễu điện tử tích cực: tự động thu và phân tích tần số sóng radar đối phương,sĩ quan phụ trách sẽ lựa chọn phát tần số sóng để chế áp đài radar đối phương.
      • Hệ gây nhiễu tiêu cực:là các “quả bom” chứa hàng triệu triệu sợi kim loại màu bạc,rất mỏng,nhẹ (mỗi quả bom chứa 450 bó nhiễu).Những sợi nhiễu này còn được thả từ các tốp F-4, khi gặp sóng radar sẽ phản xạ hiển thị trên màn hình theo dõi thành các chấm nhỏ li ti che giấu mục tiêu thật.Tất cả được kỳ vọng sẽ hình thành một hành lang an toàn cho B-52 xâm nhập bầu trời thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn ở miền Bắc Việt Nam.
      • Đắc ý với những vũ khí siêu hiện đại như vậy, không quân Mỹ hoàn toàn tự tin cho một chiến thắng.Nhưng chúng đã lầm, với ý chí quật cường, lòng quyết tâm cao độ quân dân miền bắc đã bẻ gãy chiến dịch Linebacker II làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ trên không lẫy lừng.
      • Trong 12 ngày đêm (từ 18 tới 30/12), lực lượng phòng không - không quân miền bắc đã bắn hạ 81 máy bay. Trong đó, có 34 chiếc B-52. Đến nay, Việt Nam là nước đầu tiên và cũng là duy nhất trên thế giới từng bắn hạ pháo đài bay B-52.
    • Nguồn: www.vietpilots.com và nguồn khác


    baogt's Avatar

    baogt

     15:04, 12th Oct 2011 #1229 

    Bác Truc ngon bôi đen cả và đổi font thành time new romand và size 3 là chuẩn đấy bác à.


    Sửa lần cuối bởi trucngon; 17-01-2012 lúc 10:46 AM.

  6. #6
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Đọc ttvnol (mấy dòng cuối trang), thấy có giới thiệu loại cối 81 (L60A2) của Nhật, tổng trọng lượng cả nòng, đế, chân súng có 38kg! vì khẩu cối này chế bằng hợp kim nhôm!
    Có cái hình, 1 lính Nhật vai vác nòng, tay cắp luôn đế cối! đúng là nhẹ thật.
    Không như cối 82 của VN xài: phải có 1 (hoặc 2) khiêng nòng, 1 (hoặc 2) khiêng đế, 1 vác bộ chân và khẩu đội trưởng đeo túi đựng hộp chứa máy ngắm quang học!

    Các bác coi link: http://ttvnol.com/quansu/1174594/page-96
    Sửa lần cuối bởi dongdoi_f2; 13-10-2011 lúc 07:53 PM.

  7. #7
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,231
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Tàu cũng có loại cối siêu nhẹ!

    Pháo cối siêu nhẹ QLT-89 của Trung Quốc

    Sau những cuộc xung đột biên giới ở những vùng rừng núi với các nước láng giềng cuối thập niên 1970, đến đầu những năm 1980, Trung Quốc đã thấy được sự cần thiết của những hệ thống pháo cối siêu nhẹ để trang bị cho lực lượng đặc nhiệm hay sơn cước của mình.
    Đầu thập niên 1990, sau nhiều năm phát triển và “tham khảo” pháo cối siêu nhẹ Fly-K của Bỉ, Trung Quốc đã cho ra đời loại pháo cối siêu nhẹ của riêng mình với tên QLT-89.

    Pháo cối QLT-89 của Trung Quốc (trái) và Fly-K của Bỉ (phải)

    Pháo cối QLT-89 dài 60 cm và nặng 4,1 kg, chỉ tương đương với một khẩu súng bộ binh thông thường. Nhờ độ gọn gàng của nó (thậm chí còn ngắn hơn súng phóng lựu M-79), một người lính dễ dàng mang theo khẩu pháo cối này kèm thêm khá nhiều đạn và đi bộ hành quân trên các địa hình đồi núi.
    Pháo cối QLT-89 có cỡ nòng 50 mm, có thể sử dụng nhiều loại đạn bao gồm đạn nổ mảnh, đạn xuyên giáp, đạn khói và đạn cháy.

    Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) luyện tập với pháo cối QLT-89.

    QLT-89 có tầm bắn từ 200 – 800m, rất hữu hiệu để tiêu diệt sinh lực và khí tài của đối phương sau vật cản hoặc được các đơn vị biệt kích sử dụng để tập kích bất ngờ địa điểm đóng quân và phá hủy các khí tài đắt tiền.
    Loại đạn sử dụng chủ yếu của QLT-89 là đạn nổ mảnh, đạn có khối lượng 0,7kg và dài 33cm. Khi loại đạn này nổ, nó có thể tạo ra 800 mảnh văng và có sức sát thương trong bàn kính 16m.

    Pháo cối QLT-89A, bản nâng cấp của QLT-89, có khả năng bắn chính xác để thích hợp với tác chiến đô thị.
    Tốc độ bắn tối đa của QLT-89 có thể đạt 30 phát/phút, do đó, loại pháo cối này cũng là hỏa lực hỗ trợ tấn công hữu hiệu. Ngoài ra, nhờ cơ chế vận hành đơn giản, QLT-89 rất dễ sử dụng và có độ bền cao. Theo quân đội Trung Quốc, nòng của QLT-89 có thể bắn tới 6.000 phát đạn trước khi phải thay mới.
    Điểm yếu của QLT-89 ở chỗ hệ thống ngắm bắn của nó còn rất thô sơ, yêu cầu thời gian huấn luyện và kinh nghiệm đáng kể mới có thể bắn chính xác.
    Đặc điểm này khiến QLT-89 không thích hợp với yêu cầu tác chiến trong đô thị. Do đó, Trung Quốc cũng đã sản xuất bản nâng cấp của loại pháo cối này có tên QLT-89A với khả năng xạ kích chuẩn xác hơn rất nhiều.

  8. #8
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết
    Tìm hiểu về Hàng không mẫu hạm (Aircraft Carrier)

    Có thể nói TSB là biểu tượng sức mạnh của quân đội nói chung và hải quân nói riêng, là niềm tự hào của một đất nước. Chúng ta cùng tìm hiểu nhé.

    Chú ý: Do lỗi hệ thống nên ảnh minh họa không hiển thị hết so với kích thước gốc. Để xem hết hình ảnh bạn vui lòng Click vào hinh ảnh cần xem.


    1. GIỚI THIỆU:

    Có nhiều loại tàu sân bay (TSB), nhưng về cơ bản chúng hoạt động gần như giống nhau nên trong bài viết này mình sẽ nói về chiếc USS Nimitz, một trong những siêu hàng không mẫu hạm lớn nhất thế giới của Hải quân Hoa Kỳ. Tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân từ 2 lò phản ứng, có khoảng 5.000 thủy thủ đoàn và trên dưới 90 máy bay trên boong, bao gồm cả phản lực và trực thăng. Giá thành của USS Nimitz khoảng 4,5 tỷ USD.

    Có thể nói TSB là biểu tượng sức mạnh của quân đội nói chung và hải quân nói riêng, là niềm tự hào của một đất nước. Nó là loại tàu chiến mạnh mẽ nhất trong quân đội, đóng vai trò vừa là tàu chiến, tàu hỗ trợ, đồng thời vừa được xem như một căn cứ quân sự di động nổi trên biển, có thể đi đến gần như bất cứ vùng biển nào, giúp cho quân đội có thể triển khai không lực đến mọi nơi trên thế giới. Về kích thước, chúng là những tàu chiến có kích cỡ đồ sộ nhất hiện nay, cao tương đương một tòa nhà 20 tầng (gần 77 mét), dài bằng với chiều cao của tòa nhà Chrysler Building 77 tầng của Mỹ (gần 333 mét) và nặng hơn 91.000 tấn khi được trang bị đầy đủ (máy bay, bom, đạn dược, tên lửa...). USS Nimitz có sức chứa 90 máy bay và khả năng phóng liên tục 4 máy bay chỉ trong vòng 1 phút (phóng mỗi chiếc mất 25 giây)..


    Tàu USS Nimitz


    Tàu sân bay USS Nimitz:


    • 2 lò phản ứng hạt nhân cho phép tàu hoạt động liên tục suốt 20 năm mà không cần bơm nhiên liệu.
    • 4 tua-bin hơi nước, mỗi cái có thể tạo ra 8.000 kW điện, đủ để vận hành cả 1 thành phố cỡ nhỏ.
    • Có thể phục vụ 18.000 đến 20.000 bữa ăn mỗi ngày.
    • Kho lương thực đủ nuôi 6.000 người trong 70 ngày.
    • 2 tiệm hớt tóc, cắt cho hơn 1.500 cái đầu mỗi tuần.
    • Văn phòng Bưu điện trên tàu xử lý hơn 450 tấn thư từ mỗi năm.
    • Phòng khám nha khoa với 5 nha sĩ.
    • Khu y tế có 80 giường bệnh6 bác sĩ có thể làm việc bất cứ lúc nào, bao gồm cả bác sĩ phẫu thuật.
    • 4 máy chưng cất nước có thể cung cấp hơn 1,5 triệu lít nước mỗi ngày dùng cho sinh hoạt và vận hành TSB.


    Điểm nổi bật dễ thấy nhất của TSB đó là chúng có một boong tàu bằng phẳng và dài. Boong tàu được dùng để đậu máy bay và cũng là đường băng để các máy bay cất và hạ cánh. Vì đường băng trên TSB có chiều dài hạn chế nên người ta phải lắp thêm các hệ thống phóng máy bay bằng hơi nước để giúp chúng dễ cất cánh hơn.

    Ngoài việc "nuôi giữ" hàng chục máy bay có chức năng tấn công ra, TSB còn được trang bị nhiều loại súng ống, tên lửa và các trang thiết bị hiện đại đủ để phòng thủ cũng như tiêu diệt các tàu chiến, máy bay khác dám bén mảng đến gần. Kết hợp với các tàu hộ tống, tàu khu trục, tàu ngầm và máy bay trên không, TSB sẽ trở thành trung tâm của một đội hình tác chiến vừa có khả năng chiến đấu cao, phòng thủ tốt lại vừa có thể di chuyển đến khắp các vùng biển với vận tốc tương đương 60 km/h. Cho phép quân đội một nước có thể đưa quân vào các lãnh thổ trong đất liền mà không cần quan tâm nơi đó có căn cứ quân sự của mình hay không, vì thực chất TSB đã là một căn cứ quân sự rồi.

    Các thành phần chủ yếu có trên boong tàu:

    • 4 bệ phóng (đường băng): Bệ phóng dùng để đẩy và phóng máy bay từ boong tàu lên không trung trong thời gian ngắn.
    • Trạm điều khiển bệ phóng: Có chức năng tính toán và điều khiển lực đẩy cần thiết để phóng máy bay lên, tùy vào từng loại máy bay mà người ta cần phải tính toán lực đẩy cho phù hợp. Lực đẩy quá yếu hay quá mạnh đều gây ra nguy hiểm cho máy bay lẫn phi công.
    • Thang máy nạp vũ khí: Vận chuyển vũ khí từ dưới kho lên boong tàu để các thủy thủ lắp vào máy bay.
    • Thang máy: Vận chuyển máy bay từ dưới khoang chứa lên boong tàu để chuẩn bị bay.
    • Tháp đảo: Trung tâm điều khiển tàu, trung tâm chỉ huy tác chiến của các chỉ huy và đô đốc.
    • Hàng rào lưới: Dùng để phanh gấp các máy bay hạ cánh trong tình huống khẩn cấp. Các máy bay sẽ bay thẳng vào lưới này để giảm vận tốc cho đến khi dừng lại hoàn toàn.
    • Khối ăng-ten: Chứa các ăng-ten, radar.
    • Cáp giữ máy bay khi hạ cánh: có 4 dây cáp, máy bay khi hạ cánh lên TSB sẽ thả một cái móc ở phía đuôi máy bay ra, cái móc này sẽ móc vào sợi dây cáp để giữ máy bay lại.
    • Đầu chặn ống xả từ động cơ máy bay: Các máy bay phản lực khi khởi động sẽ tạo ra một lực đẩy vô cùng lớn ở phía sau động cơ của nó, người ta đặt các đầu chặn ngay phía đuôi máy bay để hướng lực đẩy đó lên phía trên, để không ảnh hưởng đến các thủy thủ trên tàu.
    • Hệ thống đèn chỉ dẫn hạ cánh: Nằm gần đường băng, bao gồm nhiều đèn tín hiệu có chức năng báo hiệu cho phi công hạ cánh.
    • Mk-15 Phalanx CIWS: Súng máy chống tên lửa, định hướng bằng Radar.
    • Mk-29 Sea Sparrow SAM Launcher: Tên lửa dẫn đường chống máy bay, chống tên lửa.





    2. CẤU TRÚC CỦA MỘT TÀU SÂN BAY:




    TSB là loại tàu có cấu trúc vô cùng phức tạp bởi nó kiêm nhiệm quá nhiều chức năng. Có thể kể ra một số chức năng như vận chuyển máy bay xuyên đại dương, phóng và hạ cánh máy bay, trung tâm chỉ huy di động cho các nhiệm vụ quân sự, là nơi sinh hoạt, làm việc của hàng ngàn thủy thủ đoàn... do đó, nó cần có những thứ sau đây:

    • Đường băng: dùng cho máy bay cất và hạ cánh.
    • Khoang chứa máy bay: Nằm bên trong thân TSB, chứa các máy bay không sử dụng.
    • "Tháp đảo": Phần công trình nhô lên trên boong tàu, dựng các loại ăng-ten. Nơi các viên chỉ huy điều khiển con tàu và máy bay.
    • Hệ thống phòng ốc cho các thủy thủ sinh hoạt và làm việc.
    • Động cơ điện và hệ thống động cơ đẩy để di chuyển toàn bộ con tàu, tạo ra điện để sử dụng. Nimitz dùng động cơ điện hạt nhân.
    • Một loạt các hệ thống khác tương tự như trong thành phố như hệ thống cống, xử lý rác thải, thư từ, Radio, TV, báo, nhà máy xử lý nước, kho lương thực...
    • Thân tàu.


    Thân tàu được làm từ các tấm thép siêu cứng dày đến mấy inch, bảo vệ TSB trước hỏa lực của kẻ địch. Phần dưới của tàu (phần chìm dưới mặt nước biển) được thiết kế thành 2 sàn riêng biệt cách nhau bởi một khe hở. Thiết kế này sẽ tăng thêm sức bảo vệ cho tàu khi gặp phải ngư lôi hay các tai nạn trên biển. Và lỡ như có bị bắn trúng và làm thủng một lỗ trên thân tàu thì thiết kế 2 sàn riêng biệt này sẽ ngăn không cho lỗ thủng to ra.

    3. CẤT CÁNH TỪ TÀU SÂN BAY:




    Boong của TSB là một trong những nơi có môi trường làm việc nguy hiểm nhất thế giới. Do mật độ cất/hạ cánh trên boong tàu khá lớn và diễn ra trên một không gian chật hẹp nên dù chỉ một sai sót nhỏ, một phút lơ là không cảnh giác là bạn có thể bị hút vào động cơ máy bay hoặc bị thổi bay xuống biển. Ngoài ra, nếu phi công hạ cánh không tốt dẫn đến tai nạn thì những thủy thủ trên boong cũng sẽ dễ gặp nạn.

    Một chiếc máy bay muốn cất cánh cần phải có đường băng đủ dài để tăng tốc (ngoại trừ trực thăng), trong điều kiện đường băng khiêm tốn như trên TSB thì người ta phải dùng tới các bệ phóng đặc biệt để giúp nó tăng tốc cực kỳ nhanh mà không cần đến đường bằng dài. Bên cạnh đó, người ta còn có thể cho tàu chạy ngược chiều gió để lợi dụng sức gió tác động lên cánh máy bay giúp nó dễ cất cánh hơn.

    Nhìn từ bên ngoài, bệ phóng của TSB khá đơn giản do nó chỉ gồm có một cái chốt nằm chính giữa đường băng. Người ta đưa máy bay vào đường băng, gắn bánh xe của chúng vào cái chốt này và cái chốt sẽ đẩy nó đi với một lực cực lớn, giúp máy bay tăng tốc nhanh hơn bình thường và bay lên dễ dàng. Tuy nhiên, bên dưới bệ phóng đó là cả một hệ thống gồm nhiều piston và xylanh dẫn động, lấy năng lượng từ động cơ hơi nước của tàu để tạo ra lực đẩy. Bên cạnh các đường băng, bạn sẽ thấy có một cái ụ nhỏ được lắp cửa sổ bằng kính giống như đài quan sát, gọi là trạm điều khiển bệ phóng (Catapult Control Station), bên trong trạm này, các thủy thủ sẽ tính toán lực đẩy cần thiết để phóng máy bay, máy bay khác nhau cần lực đẩy khác nhau. Nếu tính toán sai, lực đẩy quá yếu, máy bay sẽ không bay lên được và rớt xuống biển, còn nếu lực đẩy quá mạnh thì có thể gây ra hư hại cho thiết bị và nguy hiểm đến mọi người. Vì vậy mà mọi thứ cần phải được chính xác. Nếu tính toán đúng, một bệ phóng có thể đưa một chiếc máy bay nặng 20 tấn tăng tốc từ 0 - 266 km/h chỉ trong vòng 2 giây.

    Và trong khi các thủy thủ đưa máy bay vào bệ phóng thì các thủy thủ khác sẽ cho nâng đầu chặn ống xả máy bay lên, đó là một tấm kim loại lớn gắn ở phía đầu bệ phóng. Bởi khi khởi động, lực đẩy từ các động cơ của máy bay tạo ra là rất lớn, có thể thổi bay những người đứng phía sau nó xuống biển nên người ta phải chặn nó lại bằng tấm thép này. Khi mọi thứ đã sẵn sàng, thủy thủ đứng dưới trạm điều khiển bệ phóng sẽ bấm nút để bệ phóng hoạt động, đưa máy bay bay lên.

    4. HẠ CÁNH XUỐNG TÀU SÂN BAY:

    Hạ cánh xuống TSB cũng nguy hiểm không kém gì lúc cất cánh. Vì phi công phải đáp xuống đường băng chỉ dài có 150 mét, máy bay đang bay hết tốc lực và trên boong thì đang có nhiều thủy thủ và các máy bay khác. Nếu hạ cánh trong đêm hay ngày có nhiều sương mù với tầm nhìn bị hạn chế thì mức độ khó khăn và nguy hiểm cũng tăng lên rất nhiều.

    Để hạ cánh, khi máy bay hạ độ cao gần bằng với boong tàu, phi công phải thả một cái móc ở phía đuôi máy bay ra. Cái móc này sẽ móc vào 1 trong 4 sợi cáp bằng thép ở phía cuối đường băng. Nếu móc trúng, sợi cáp sẽ giữ cho máy bay dừng hẳn lại và coi như đã hạ cánh thành công. Còn nếu không móc trúng, phi công phải cho máy bay bay lên lại thêm một vòng nữa để hạ cánh lần thứ 2, đây chính là lý do vì sao lúc hạ cánh, phi công không được giảm tốc độ mà phải để máy bay bay hết công suất, để lỡ không móc trúng sợi cáp thì vẫn có thể bay lên lại ngay lập tức 4 sợi cáp trên không đơn giản chỉ là sợ dây gắn chặt ở 2 đầu mà nó được nối với các ống xylanh thủy lực bên dưới đường băng. Khi máy bay móc trúng sợi cáp, nó sẽ kéo sợi cáp ra, đồng thời hệ thống thủy lực sẽ hấp thu hết nguồn năng lượng của máy bay làm cho nó dừng hẳn lại. Do đó, sợi cáp có thể chặn một máy bay nặng 24,5 tấn đang bay với vận tốc 241 km/h dừng hẳn lại trong vòng 2 giây trên một đường băng dài có 96 mét. Người ta đặt 4 sợi cáp này nằm song song với nhau và mỗi sợi cách nhau 15 mét. Thông thường, phi công sẽ nhắm vào sợi cáp thứ 3 để móc vào vì đây là khoảng cách an toàn và hiệu quả nhất để hạ cánh. Họ không bao giờ chọn dây thứ nhất vì rất dễ đâm sầm vào phần đuôi của tàu.

    Việc hạ cánh trên TSB được điều khiển bởi trạm không lưu tương tự như các sân bay trên mặt đất. Các máy bay cần phải "xếp hàng" chờ đến lượt mình được hạ cánh, theo nguyên tắc ai còn ít nhiên liệu thì xuống trước, ai còn nhiều thì xuống sau. Các thủy thủ trên boong sẽ dùng radio để liên lạc với phi công hướng dẫn họ hạ cánh, trong điều kiện thời tiết xấu hay tầm nhìn kém thì họ còn dùng tới đèn báo hiệu để chỉ dẫn cho phi công. Sau khi hạ cánh thành công, người ta sẽ kéo máy bay ra khỏi vùng hạ cánh và cho nó vào bãi đậu chung với những máy bay khác. Tại đây chúng được cố định chắc chắn trên boong để không bị xê dịch mỗi khi tàu di chuyển.

    Bên cạnh việc bảo vệ cho phi công và máy bay được an toàn, người ta cũng không quên trang bị những thứ cần thiết để bảo vệ tính mạng của những thủy thủ làm việc trên boong. Thứ nhất là lắp đặt nhiều lưới xung quanh boong tàu để ngăn không cho ai bị rớt xuống biển, hai là trang bị áo phao, đèn báo hiệu phòng trường hợp bị rơi xuống biển và sau cùng là một chiếc mũ bảo hiểm cỡ lớn để bảo vệ đầu và tai khỏi những âm thanh gầm rú của động cơ máy bay

    Máy bay thả móc chuẩn bị hạ cánh

    5. THÁP ĐẢO (ISLAND):

    Tháp đảo chính là phần công trình nhô lên trên boong tàu, nơi bạn thấy có nhiều ăng-ten nhất. Đây chính là trung tâm chỉ huy của TSB, nơi điều khiển mọi hoạt động như lái tàu, điều khiển máy bay cất/hạ cánh và cũng là nơi làm việc của các cấp chỉ huy. Tòa tháp cao khoảng 46 mét, phần đáy (tầng trệt) rộng chừng 6 mét còn các tầng trên thì được nới rộng ra hơn.

    Trên đỉnh của tháp đảo có rất nhiều ăng-ten dùng để định vị và theo dõi các tàu thuyền/máy bay xung quanh, phát hiện máy bay địch, tên lửa địch, can thiệp và gây nhiễu sóng radar của đối phương, thu nhận tín hiệu vệ tinh cho điện thoại và TV... Tầng bên dưới là trạm không lưu điều khiển máy bay cất/hạ cánh trên boong tàu và trong bán kính 8 km. Tầng dưới nữa là trung tâm chỉ huy, nơi thuyền trưởng trực tiếp ra lệnh điều khiển tàu như hướng di chuyển, tốc độ, định vị... Và tầng dưới nữa chính là trung tâm chỉ huy dành cho cấp Đô đốc, chịu trách nhiệm cho cả hạm đội bao gồm TSB, tàu hộ tống, tàu ngầm, máy bay...

    Bên dưới tầng này nữa (tầng trệt) là các trung tâm vận hành đường băng, có nhiệm vụ theo dõi và quản lý tất cả máy bay trên boong lẫn trong khoang chứa máy bay. Trong tầng này, người ta làm việc trên một cái bàn nhựa gọi là "Ouija Board". Chiếc bàn này mô phỏng y hệt như boong tàu thật. Trên đó có các mô hình máy bay tượng trưng cho các máy bay hiện có trên boong, mỗi khi có chiếc nào di chuyển từ điểm A sang điểm B thì họ cũng di chuyển mô hình theo tương tự, hoặc có chiếc nào bị hư cần sửa chữa thì họ lật úp mô hình của nó xuống. Thật bất ngờ khi mà trên con tàu ứng dụng nhiều công nghệ cao và hiện đại như TSB vẫn phải sử dụng cách quản lý bằng tay này.


    Bên dưới tầng trệt (dưới boong tàu) là một trạm không lưu khác nữa nhưng có tầm quan sát rộng hơn trạm không lưu trên tháp đảo. Trạm không lưu này sẽ theo dõi toàn bộ máy bay trong cả khu vực xung quanh tàu. Kế bên trạm này còn có trung tâm tác chiến (Combat Direction Center), nơi điều khiển hệ thống chiến đấu của tàu (các ụ súng phòng không, súng máy), có nhiệm vụ xử lý thông tin từ các mối đe dọa thù địch để báo cáo lên cấp chỉ huy.
    "Ouija Board"


    6. KHOANG CHỨA MÁY BAY:




    Với số lượng máy bay lên đến gần trăm chiếc, boong tàu chắc chắn không thể chứa đủ, vì thế người ta đã thiết kế hẳn một khoang chứa nằm bên dưới boong tàu và xem nó như một ga-ra máy bay, dùng để chứa những chiếc máy bay không sử dụng.

    Khoang chứa máy bay rộng khoảng 34 mét, cao 8 mét, dài 209 mét, tương đương 2/3 chiều dài của tàu và được chia thành 4 khu vực ngăn cách nhau bởi các tấm cửa kéo, có tác dụng ngăn chặn lửa lây lan khi có cháy. Nó có sức chứa khoảng 60 máy bay cùng rất nhiều động cơ dự phòng, thùng nhiên liệu và một số phụ tùng khác. Phía ngoài của khoang chứa có 4 thang máy thủy lực dùng để đưa máy bay từ dưới khoang lên boong tàu. Mỗi cái có thể đưa cùng lúc 2 máy bay có tải trọng 34 tấn mỗi chiếc lên boong dễ dàng.



    Ở phía cuối của khoang chứa còn có khu bảo trì và sửa chữa máy bay gọi là Aircraft Intermediate Maintenance Division. Các thủy thủ ở đây sẽ sửa chữa những máy bay bị hư hỏng, kiểm tra từng loại phụ tùng và thậm chí cho "chạy thử" cả một động cơ phản lực trong khu vực thử động cơ.

    Khu vực chứa vũ khí và thử động cơ (phải)


    7. CUỘC SỐNG TRÊN TÀU SÂN BAY:

    Những siêu hàng không mẫu hạm như USS Nimitz được mệnh danh là "thành phố trên biển cả" bởi nó là nơi sinh hoạt, ăn ngủ nghỉ, làm việc và giải trí của khoảng 5000 - 6000 người trong nhiều tháng liền. Tuy làm việc trên biển nhưng có rất nhiều người trong số đó thậm chí không nhìn thấy mặt trời trong nhiều tuần liền, đặc biệt là những cô cậu lính mới. Boong tàu, khoang chứa máy bay và đuôi tàu là những nơi tuyệt vời để ngắm cảnh nhưng vì môi trường làm việc ở đó quá nguy hiểm và chật hẹp nên họ thường không được phép lên đây. Họ cũng không được phép có mặt trên tháp đảo vì nơi đó quá chật chội và chứa nhiều thông tin nhạy cảm.
    Bên trong TSB mới là một thành phố thật sự, tuy nhiên nó hơi chật chội nên người ta phải khom người và luồn lách nếu muốn đi từ nơi này sang nơi khác. Ở đây người ta chia ra thành nhiều khu, mỗi khu có khoảng 60 người, ngủ trên những chiếc giường treo được kê khá chật chội. Mỗi người đều có thùng đồ riêng để cất vật dụng cá nhân của mình. Ở mỗi khu còn có 1 phòng tắm chung, phòng sinh hoạt tập thể có TV vệ tinh. Phòng của chỉ huy có cơ sở vật chất tốt hơn nhưng vẫn phải chịu cảnh chật hẹp như thường.
    Tuy có khá nhiều việc làm trên TSB nhưng tựu chung lại thì có thể chia thành hai nhóm, một nhóm gồm khoảng 2.500 nam thanh nữ tú, là các phi công lái và bảo trì máy bay. Nhóm còn lại khoảng 3.000 người có nhiệm vụ chung là điều hành con tàu. Những người trong nhóm đầu chỉ quan tâm đến máy bay, còn công việc của nhóm thứ hai thì đa dạng hơn, từ các việc "hạng nhẹ" như rửa chén, nấu ăn cho đến các việc "hạng nặng" như chăm lo vũ khí và bảo trì lò phản ứng hạt nhân. Ngoài ra, TSB còn có rất nhiều nhà bếp, phòng giặt ủi, phòng khám nha khoa, bệnh viện, phòng điện thoại, bưu điện và rất nhiều cửa hàng nhỏ lẻ khác



    Phòng tập thể dục và phòng ngủ


    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  9. #9
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết
    8. CÁC CÔ CẬU XANH, ĐỎ, TÍM, VÀNG... TRÊN BOONG:
    Trên boong tàu có rất nhiều thủy thủ cùng làm việc với nhau, mỗi thủy thủ đều được phân công nhiệm vụ rõ ràng. Nhìn vào màu áo của mỗi người, ta có thể biết được công việc của họ là gì:



    1. Áo XANH LÁ: Nhân viên bảo trì, bảo dưỡng máy bay, đường băng.



    1. Áo XANH DƯƠNG: Vận hành thang máy, xe kéo.



    1. Áo ĐỎ: Tiếp tế đạn dược, bom, tên lửa cho máy bay.



    1. Áo TÍM: Tiếp nhiên liệu, xăng dầu cho máy bay.



    1. Áo VÀNG: Hướng dẫn cho phi công và máy bay cất cánh.



    1. Áo TRẮNG: Nhân viên hướng dẫn hạ cánh, thanh tra máy bay, nhân viên y tế...


    Do đó, mỗi khi có chiếc máy bay nào chuẩn bị cất cánh hay hạ cánh, sẽ có một tốp các cô cậu mặc áo xanh, đỏ, tím, vàng tụm lại xung quanh máy bay. Mỗi người ai làm việc nấy để đảm bảo máy bay luôn ở trong trạng thái hoạt động tốt nhất.




    9. HỆ THỐNG VŨ KHÍ/TẤN CÔNG CỦA TÀU SÂN BAY:

    Nhắc đến TSB thì người ta hay nghĩ tới sức mạnh khủng khiếp của nó. Vậy sức mạnh của TSB nằm ở đâu? Bao gồm những loại vũ khí gì?

    Trước đây mình nghĩ TSB có rất nhiều súng ống, đại bác và tên lửa trên boong, là một pháo đài nổi trên biển. Nhưng thực tế số lượng các ụ súng trên tàu không nhiều, ví dụ như chiếc siêu hàng không mẫu hạm cỡ lớn như USS Nimitz cũng chỉ có 6 ụ súng và chia làm 2 loại, chúng có chức năng phòng thủ là chính nhưng đôi lúc cũng có thể dùng để tấn công, bao gồm:

    • 3 ụ súng máy Mk-15 Phalanx CIWS: Súng máy chống tên lửa, định hướng bằng radar.
      Súng máy hiện đại, chức năng: phòng thủ, chống tên lửa diệt hạm. Dùng đạn: 20 mm, tầm bắn hiệu quả: 3,6 km, tốc độ bắn: 4.500 viên/phút (75 viên/giây), hộp tiếp đạn: 1.550 viên, nặng: 6,2 tấn.
    • 3 ụ tên lửa phòng không Mk-29 Sea Sparrow SAM Launcher: Tên lửa dẫn đường chống máy bay, chống tên lửa diệt hạm.
      Bao gồm 8 ổ tên lửa có chức năng: phòng không, bắn máy bay, chống tên lửa diệt hạm. Tốc độ tên lửa: 4.250 km/h, tầm hoạt động: 18,5 km. Dẫn đường bằng radar.



    Mk-15 Phalanx CIWS (trái) và Mk-29 Sea Sparrow SAM Launcher

    Vậy TSB mạnh ở chỗ nào? Xin thưa là sức mạnh của TSB nằm ở chính các máy bay mà nó mang theo. Với số lượng hàng chục chiếc, mỗi chiếc lại được trang bị súng máy và tên lửa có khả năng tấn công trên trời, mặt đất lẫn mặt nước thì ta có thể xem mỗi chiếc máy bay là một ụ súng rất đáng gờm. Đặc biệt, các "ụ súng mọc cánh" này còn có thể ném bom những mục tiêu cách xa TSB đến hàng ngàn Kilomét, vì vậy mà khả năng tấn công của TSB là rất đa dạng, rộng lớn và kinh khủng.

    Ví dụ, tàu USS Nimitz có khoảng 90 máy bay, được chia thành 9 tổ đội, bao gồm các loại máy bay sau:

    • F/A-18F Super Hornet: Máy bay tiêm kích chiến đấu đa chức năng, 2 chỗ ngồi. Khả năng tấn công ngày và đêm ở trên không, trên biển lẫn mặt đất. Được trang bị nhiều loại vũ khí dẫn đường và khả năng tiếp nhiên liệu trên không.
    • F-14 Tomcat: Máy bay siêu âm chiến đấu 2 chỗ ngồi. Có khả năng chiến đấu trên không vượt trội và là thành phần chủ chốt trong đội hình bảo vệ TSB.
    • E-2C Hawkeye: Máy bay mang radar cảnh báo sớm trên không. Có chức năng thu thập tình hình quân địch.
    • S-3B Viking: Phi cơ chuyên "làm thịt" các loại tàu ngầm.
    • EA-6B Prowler: Máy bay 2 động cơ có chức năng gây nhiễu radar đối phương và làm tắc nghẽn hệ thống liên lạc của địch.
    • SH-60 SeaHawk: Máy bay trực thăng 2 động cơ. Chuyên dùng để tấn công tàu ngầm và làm nhiệm vụ tìm kiếm, cứu hộ.



    F/A-18F Super Hornet


    10. ĐỘI HÌNH PHÒNG THỦ CỦA TÀU SÂN BAY:

    Do kích thước siêu lớn của mình mà TSB rất dễ trở thành mồi ngon cho đối phương. Vì vậy để đảm bảo an toàn, người ta thường bố trí nhiều tàu hộ tống cho nó, giúp nó không bị đơn độc trên biển cả. Một đội hình bảo vệ sẽ gồm bảo vệ từ trên không, trên mặt nước và cả dưới mặt nước. Bao gồm các lớp:

    • Lớp trong cùng, gần TSB nhất: 1 tàu tiếp tế, có chức năng cung cấp nhiên liệu, đạn dược, lương thực cho TSB.
    • Lớp tiếp theo: 1 tàu tuần dương (Cruiser) mang theo tên lửa dẫn đường.
    • Lớp tiếp nữa: 2 tàu khu trục (Destroyer) mang theo tên lửa dẫn đường.
    • Lớp tiếp tiếp nữa, bên dưới: 1 tàu ngầm tấn công nhanh lớp Los Angeles (LA), chạy bằng năng lượng hạt nhân.
    • Lớp ngoài cùng, trên cao: Phi đội máy bay F/A-18F Super Hornet, bay cách TSB 460 km.



    Đội hình bảo vệ tàu sân bay
    Với đội hình hạm đội trên, các tàu hộ tống và máy bay có thể đảm đương khá tốt vai trò phòng thủ và bảo vệ TSB khỏi sự tấn công của kẻ địch, phòng thủ từ trên không, trên mặt biển và thậm chí cả dưới mặt nước. Nếu như có ai đó có khả năng liên tiếp "tỉa" hết toàn bộ máy bay F/A-18F Super Hornet, tiêu diệt toàn bộ tàu khu trục, tàu tuần dương, né được hết toàn bộ tên lửa và đạn pháo, nhấn chìm được chú tàu ngầm lớp LA kia thì sẽ có cơ hội được diện kiến TSB khổng lồ, trước khi lại phải đối mặt với hàng chục chiếc máy bay tỏa ra từ con tàu vĩ đại đó. Ngoài ra, bản thân TSB còn được trang bị hệ thống phòng thủ chống ngư lôi mang tên AN/SLQ-25 Nixie cho phép nó đánh lạc hướng các quả ngư lôi đang hướng về phía mình..



    Phi đội máy bay F/A-18F Super Hornet bảo vệ lớp ngoài cùng



    =MỘT SỐ HÌNH ẢNH THAM KHẢO=


    F-14 Tomcat
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  10. #10
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết


    E-2C Hawkeye


    3B-Viking


    EA-6B Prowler


    SH-60 SeaHawk


    2 lò phản ứng hạt nhân của tàu sân bay


    Hệ phóng phóng bên dưới đường băng


    Cấu trúc bên trong
    tàu sân bay


    Thang máy vận chuyển máy bay từ khoang chứa lên boong tàu


    4 dây cáp hạ cánh ở cuối đường băng


    Hệ thống đèn chỉ dẫn hạ cánh


    Thủy thủ VÀNG hướng dẫn máy bay vào đường băng, chuẩn bị cất cánh


    Thủy thủ ĐỎ tiếp tế đạn dược


    Thủy thủ TÍM tiếp nhiên liệu


    Thủy thủ XANH bảo trì máy bay


    Bên trong trạm điều khiển bệ phóng


    Nạp tên lửa vào ụ súng phòng không Mk-29 Sea Sparrow SAM Launcher


    Dịch bởi TDNC - Tinh Tế
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •