CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 3 của 7 Đầu tiênĐầu tiên 12345 ... CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 61

Chủ đề: Tìm hiểu các loại vũ khí trên thế giới

  1. #21
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,225
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Tiểu liên Vityaz-SN của Nga

    Tiểu liên Vityaz-SN được phát triển dựa trên tiểu liên PP-19 Bizon để đáp ứng các yêu cầu riêng của đơn vị đặc nhiệm Vityaz của Bộ Nội vụ Nga, dùng để tiêu diệt sinh lực, kể cả khi có mặc áo giáp, và xe không bọc thép (ô tô khách, ô tô hạng nhẹ, ô tô vận tải…).

    Vityaz-SN có 2 chế độ bắn: tự động và phát một; sử dụng đạn cỡ 9х19 mm các loại. Hộp đạn tháo lắp kiểu sector chứa 30 viên đạn, có gắn cơ cấu kẹp để kẹp 2 hộp đạn thành một khối để tăng tốc độ thay băng đạn.

    Vityaz-SN có báng gập sang bên trái để tiện mang. Khi cần, súng có thể được trang bị bộ tiêu âm tháo lắp.



    Máy tự động của súng hoạt động theo nguyên lý sử dụng năng lượng giật hậu của khóa nòng tự do.

    Cơ cấu cò-kim hỏa cho phép súng bắn ở 2 chế độ tự động và phát một.

    Súng có cơ cấu ngắm cơ khí gồm thước ngắm và đầu ruồi.

    Vityaz-SN 2 phương án giá lắp để lắp máy ngắm quan học và máy ngắm chuẩn trực:

    - giá Picantini trên nắp hộp khóa nòng;

    - hoặc giá tiêu chuẩn bên sườn ở phía trái hộp khóa nòng.

    Ở chân đầu ruồi và ốp nòng có các vị trí khớp nối để lắp thiết bị chỉ thị mục tiêu laser, đèn pin và tay cầm phía trước.
    Vityaz-SN có các ưu điểm sau:

    - kích thước tối ưu, trọng lượng, sự cân bằng và tính công thái học tuyệt vời cho phép tác xạ hiệu quả
    trong không gian hẹp;

    - cơ cấu ghép 2 hộp đạn và khả năng thay thế nhanh các hộp đạn tạo ưu thế khi tác xạ;

    - có khả năng lắp các thiết bị ngắm và phụ kiện khác;

    - các thao tác chuẩn bị bắn, tác xạ và bảo dưỡng giống như các thao tác với súng AK nên tạo điều kiện thuận lợi cho huấn luyện.

    Mức độ tiêu chuẩn cao với súng АК bảo đảm độ tin cậy cao và các tính năng khai thác của tiểu liên Vityaz-SN.

    Tính năng kỹ-chiến thuật:

    Trọng lượng (không có đạn), kg: 2,9

    Chiều dài, khi mở báng / gấp báng, mm: 705 / 480

    Chiều dài, khi mở báng / gấp báng, mm: 67 / 90

    Chiều dài nòng, mm: 237,5

    Chiều cao (tính cả hộp tiếp đạn), mm: 265

    Tầm bắn có ngắm, m: 200

    Dung lượng hộp đạn, viên: 30

    Đạn sử dụng, mm: 9x19

    Sơ tốc đạn, m/s: 360

    Các chế độ bắn: tự động, phát một

    Tốc độ bắn, phát/phút: 700

    Tốc độ bắn thực tế, phát/phút:

    + ở chế độ tự động: đến 120

    + ở chế độ phát một: đến 40
    Nguồn: Izhmash, rian.

    No Avatar

    huuthanh

     14:53, 17th Jan 2012 #3224 

    "Máy tự động của súng hoạt động theo nguyên lý sử dụng năng lượng giật hậu của khóa nòng tự do. " Nghe vô lý nhỉ. Cái ốp trích khí ở trên để làm gì?



  2. #22
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,225
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Tìm hiểu sức mạnh của tên lửa Iskander


    Hệ thống tên lửa đường đạn tầm ngắn Iskander (phương Tây gọi là SS-26 Stone) - loại tên lửa đường đạn phi chiến lược hiệu quả và đáng sợ nhất hiện nay.



    Hệ thống tên lửa đường đạn chiến thuật tầm ngắn Iskander (SS-26 Stone)


    Hệ thống tên lửa đường đạn tầm ngắn Iskander (phương Tây gọi là SS-26 Stone) - loại tên lửa đường đạn phi chiến lược hiệu quả và đáng sợ nhất hiện nay - đang là tâm điểm tranh cãi chính trị-quân sự ở Nga, châu Âu và Trung Đông trong bối cảnh mâu thuẫn Nga-Mỹ gia tăng liên quan đến việc Mỹ xúc tiến các kế hoạch mở rộng NATO, triển khai lá chắn tên lửa tại Ba Lan và Czech. Từ Oka đến Iskander

    Năm 1980, Liên Xô đưa vào trang bị hệ thống tên lửa đường đạn tầm ngắn cơ động 9K714 Oka (SS-23 Spyder). Đây là loại ên lửa 1 tầng, nhiên liệu rắn, có tầm bắn lên tới 450 km, độ chính xác cao, mang 1 đầu đạn hạt nhân hoặc thông thường. Hệ thống Oka do Viện Thiết kế Chế tạo máy Kolomna (KBM) phát triển để thay thế hệ thống tên lửa đường đạn tầm ngắn cơ động tầm bắn 300 km 9K72 Elbrus (SS-3B Scud) nổi tiếng, nhưng đã lạc hậu, có trong trang bị quân đội Liên Xô và khối Varsava.

    Độ chính xác rất cao của tên lửa Oka (sai số vòng tròn xác suất 30 m) khiến Mỹ rất lo ngại . Năm 1987, lợi dụng chiều hướng thoả hiệp của Mikhail Gorbachev, Mỹ đã tìm cách đưa được Oka (còn có ký hiệu OTR-23) vào danh sách các hệ thống tên lửa phải thủ tiêu theo Hiệp ước thủ tiêu tên lửa tầm trung Mỹ-Xô (INF - Intermediate-Range Nuclear Forces), mặc dù hiệp ước chỉ áp dụng với những tên lửa có tầm bắn trên 500 km.

    Theo Hiệp ước INF, Liên Xô đã buộc phải phá hủy toàn bộ 106 xe bệ phóng (TEL) cùng 339 tên lửa Oka vào năm 1991. Sau đó, Mỹ cũng đòi các đồng minh cũ của Liên Xô đơn phương phá huỷ các hệ thống tên lửa Oka mà họ nhận được vào giữa thập kỷ 1980: Bulgaria - 8 xe TEL và 25 tên lửa Oka), Cộng hoà Czech - 2 xe TEL và 12 tên lửa Oka; Slovakia - 2 xe TEL và 24 tên lửa Oka. Giới quân sự Liên Xô đã tranh cãi kịch liệt xung quanh việc phá hủy các tên lửa Oka theo Hiệp ước INF và đây bị coi là một ví dụ rõ ràng về “sự phản bội” của của Gorbachev. Bởi như vậy, Liên Xô và Nga đã bị tước bỏ loại tên lửa đạn đạo tầm ngắn hiệu quả nhất của mình, trong khi loại tên lửa đường đạn tầm ngắn (Nga gọi là tên lửa chiến thuật-chiến dịch) Elbrus R17 (SS-3B Scud) vốn được chế tạo dựa trên thiết kế tên lửa đường đạn nhiên liệu lỏng V-2 của Đức, đã bị loại khỏi trang bị vì có độ chính xác thấp và công nghệ lỗi thời.

    Trước tình hình đó, Viện KBM đã bắt đầu phát triển loại tên lửa tầm ngắn 1 tầng nhiên liệu rắn cơ động, mới và hiện đại hơn, có độ chính xác cao và tầm bắn tới 500 km để phù hợp với quy định của Hiệp ước INF. Hệ thống tên lửa mới được đặt tên là Iskander - tên của Alexander Đại đế trong tiếng Ba Tư và được dùng để lấp đầy khoảng trống mà các hệ thống Oka và Elbrus bị thủ tiêu để lại. Sau này, Nga quyết định sử dụng Iskander để thay thế các hệ thống tên lửa đạn đạo cơ động tầm ngắn Tochka và Tochka-U (SS-21 Scarab) có tầm bắn lần lượt là 70 và 120 km vì chúng đã hết tuổi thọ khai thác sau năm 2000.



    Tên lửa đường đạn Iskander có chiều dài 7,3 m; đường kính thân 0,92 m, khối lượng phóng 3.800-4.020 kg tuỳ thuộc loại đầu đạn. Tên lửa lắp động cơ tên lửa 1 tầng nhiên liệu rắn của hãng Soyuz NPO Tốc độ bay cao của tên lửa cho phép nó đột phá các hệ thống phòng thủ chống tên lửa của đối phương. Tên lửa Iskander có thể bay theo một quỹ đạo thấp dưới 50 km và có thể cơ động tránh đạn với quá tải lên tới 30 g ở giai đoạn bay cuối để đối phó với tên lửa đất-đối-không của đối phương.

    Iskander có thể mang các loại đầu đạn thông thường khác nhau có khối lượng 480-700 kg tuỳ thuộc chủng loại. Người ta cho rằng, các loại đầu đạn của Iskander bao gồm: đầu đạn chùm (cassette) chứa các đạn con phá-mảnh sát thương và chống phương tiện kỹ thuật, chứa đạn con tấn công diện; đầu đạn nổ mạnh đơn khối, đầu đạn nhiên liệu không khí; đầu đạn xuyên nổ mạnh chống boongke và đầu đạn phá-mảnh chống radar. Iskander cũng có thể mang 1 đầu đạn hạt nhân mặc dù khả năng này không được công bố công khai. Tên lửa còn có thể mang các đạn mồi bẫy chiến thuật.

    Hệ dẫn của tên lửa Iskander do Viện Nghiên cứu khoa học Quốc gia về Tự động hoá và Thuỷ lực (TsNIIAG) phát triển gồm 1 hệ dẫn quán tính và 1 đầu tìm tương quan quang-điện tử giai đoạn cuối sử dụng dữ liệu ảnh mục tiêu số. Tên lửa có độ chính xác (sai số vòng tròn xác suất) 10-30 m, thậm chí còn cao hơn. Một số biến thể được trang bị hệ dẫn có thể cập nhật dữ liệu từ các hệ vệ tinh định vị toàn cầu GPS/GLONASS trong khi bay và thay đổi mục tiêu tấn công trong khi bay. Iskander còn có thể được trang bị các hệ dẫn giai đoạn cuối khác sử dụng đầu tự dẫn radar chủ động hoặc ảnh hồng ngoại.

    Hệ thống tên lửa đường đạn Iskander có 2 biến thể cơ bản: 9K723 Iskander (còn gọi là Iskander-M hoặc Tender) được chế tạo giành cho quân đội Nga, sử dụng tên lửa đường đạn 9M723 có tầm bắn tối đa lên tới 450-500 km và biến thể xuất khẩu 9K720 Iskander-E sử dụng tên lửa đường đạn 9M720-E lắp đầu đạn nhẹ hơn - đến 480 kg, và có tầm ngắn hơn - đến 280 km để tuân thủ quy định của chế độ cấm phổ biến công nghệ tên lửa MTCR.

    Mỗi xe bệ phóng 9P78 được lắp 2 tên lửa. Xe 4 cầu 9P78 do Viện Thiết kế Trung ương Titan ở Volgograd thiết kế dựa trên khung gầm xe Minsk MZKT-7930. Xe bệ phóng có chiều dài 13,1 m, chiều rộng 2,6 m và chiều cao 3,55 m, mang 2 tên lửa nằm ở tư thế hành quân. Tổng trọng lượng có tải của xe là 42.850 kg. Xe được lắp 1 động cơ diesel 650 mã lực, có tốc độ tối đa trên đường nhựa là 70 km/h và dự trữ hành trình không tiếp dầu là 1.100 km. Khẩu đội trên xe gồm 3 người. Xe có khả năng phòng chống vũ khí hạt nhân-sinh-hoá và khả năng bơi.

    Xe bệ phóng còn bao gồm 1 đài chỉ huy với hệ thống điều khiển hoả lực tự động nên mỗi xe bệ phóng có thể hoạt động độc lập nếu cần. Đài chỉ huy có các vị trí thực hiện các nhiệm vụ xử lý dữ liệu mục tiêu và chỉ thị mục tiêu, đạo hàng, kiểm soát thời tiết, cũng như trang bị kiểm thử hệ thống. Xe bệ phóng có thể triển khai ở địa hình nghiêng và cân bằng bằng 4 chân đỡ thuỷ lực trong vòng 30-80 s. Các tên lửa chỉ mất khoảng 20 s để nâng đến góc tầm 85°. Thời gian phản ứng của hệ thống là 5-16 phút, 2 tên lửa có thể phóng loạt cách nhau 60 s.

    Hệ thống Iskander còn có 1 xe chở-tiếp đạn 9T250 sử dụng khung gầm MZKT-7930 chở 2 tên lửa dự phòng và có 1 cần cẩu. Kíp xe 9T250 gồm 2 người, khối lượng có tải đầy đủ là 40.000 kg.

    Ngoài ra còn có 4 xe tải 6 cầu KamAZ-43101, gồm: 1 xe chỉ huy/điều khiển 9S552 với 4 vị trí công tác và 1 bộ khí tài liên lạc; 1 xe lập kế hoạch tác chiến 9S920 với 2 vị trí công tác,;1 xe bảo đảm và 1 xe nghỉ ngơi cho khẩu đội.

    Một đại đội Iskander tác chiến tiêu chuẩn được biên chế 2 xe bệ phóng, 2 xe nạp đạn, 2 xe chỉ huy/điều khiển, 2 xe vạch kế hoạch tác chiến, 1 xe bảo đảm và 1 xe nghỉ ngơi cho khẩu đội. Một tiểu đoàn Iskander gồm 2 đại đội tác chiến.

    Một lữ đoàn tên lửa Iskander gồm 3 tiểu đoàn tên lửa, với 12 xe bệ phóng TEL và 12 xe tiếp đạn, và tổng cộng 48 tên lửa đường đạn.

    Hệ thống Iskander bắt đầu được thử nghiệm tại trường bắn Kapustin Yar ở tỉnh Astrakhan từ năm 1995. Các cuộc thử nghiệm quốc gia đã hoàn tất tháng 8/2004 và năm 2007, Iskander chính thức được Bộ Quốc phòng Nga nhận vào trang bị. Hệ thống được sản xuất loạt nhỏ từ năm 2005. Tên lửa đường đạn Iskander được sản xuất tại Nhà máy chế tạo máy Votkinsk ở Udmurtia, còn các động cơ tên lửa nhiên liệu rắn thì do Liên hiệp Soyuz NPO (nay là bộ phận của Tập đoàn Tên lửa Chiến thuật - Tactical Missiles Corporation) ở Dzerzhisky sản xuất. Các xe bệ phóng và tiếp đạn được chế tạo tại Nhà máy Barrikady ở Volgograd.


    Hệ thống tên lửa đường đạn chiến thuật tầm ngắn Iskander (SS-26 Stone)

    Hệ thống tên lửa Iskander có thể được hiện đại hoá để nâng cao sức chiến đấu bằng cách trang bị tên lửa hành trình dưới âm chính xác cao R-500 (3M14) do Viện Thiết kế Novator ở Yekaterinburg phát triển. Tên lửa R-500 thực tế là biến thể mang đầu đạn thông thường của tên lửa hành trình tầm xa của Liên Xô 3M10 (RK-55), có tính năng tương đương tên lửa hành trình Tomahawk của Mỹ. 3M10 được sử dụng cho hệ thống tên lửa Granat (SS-N-21) tầm bắn lên tới 2.600 km trang bị cho các tàu ngầm hạt nhân của Hải quân Nga và trước đó được triển khai trong hệ thống tên lửa hành trình cơ động mặt đất tầm xa Relief (SSC-4) đã bị thủ tiêu theo Hiệp ước INF năm 1987. R-500 được trang bị 1 đầu đạn thông thường và có tầm bắn tới 500 km để tuân thủ quy định của Hiệp ước INF. Tuy nhiên, một số nhà quan sát cho rằng, có thể dễ dàng nâng tầm bắn của R-500 lên đến 1.000 km, thậm chí lên tới 2.500 km tuỳ thuộc vào kích cỡ đầu đạn.

    Tháng 11/2007, Thượng tướng Vladimir Zaritsky, Tư lệnh Bộ đội Tên lửa và Pháo binh của Lục quân Nga, đã nói rằng, “hiện tại, hệ thống tên lửa Iskander-M tuân thủ đầy đủ các quy định của Hiệp ước INF nhưng nếu quyết định chính trị về việc rút khỏi Hiệp ước này được đưa ra thì chúng tôi sẽ nâng cao khả năng tác chiến của hệ thống, kể cả tầm bắn”.

    Hệ dẫn của tên lửa R-500 gồm 1 hệ dẫn quán tính, 1 hệ đạo hàng vệ tinh GPS/GLONASS và 1 đầu tìm quang-điện tử tương quan giai đoạn cuối sử dụng dữ liệu số về khu vực mục tiêu hoặc 1 đầu tìm radar chủ động. Việc thử nghiệm R-500 tại trường bắn Kapustin Yar đã hoàn tất năm 2007 và Nga đã thông báo đưa tên lửat này vào trang bị cùng hệ thống Iskander vào năm 2009.

    Hệ thống Iskander trang bị tên lửa R-500 có tên gọi Iskander-K. Mỗi xe bệ phóng tiêu chuẩn 9P78 có thể mang 6 ống phóng thẳng đứng chứa tên lửa R-500 thay cho 2 tên lửa đường đạn.

    Quá trình đưa Iskander vào trang bị

    Ngày 1/1/2007, Tiểu đoàn Tên lửa huấn luyện 630 - đơn vị đầu tiên kiểu này - với 4 xe bệ phóng đã được thành lập tại Trung tâm Huấn luyện chiến đấu số 60 của Bộ đội Tên lửa lục quân tại trường bắn Kapustin Yar, đóng tại quân khu Bắc Kavkaz đã được thành lập.

    Theo Chương trình trang bị vũ khí quốc gia giai đoạn 2007-2015, quân đội Nga sẽ mua sắm 60 hệ thống tên lửa đường đạn sản xuất loạt Iskander (tức là 60 xe bệ phóng) để trang bị cho 5 trong số 10 lữ đoàn tên lửa của Nga. Các lữ đoàn trang bị tên lửa Iskander sẽ được triển khai trên khắp lãnh thổ Nga: Lữ 26 ở Luga, gần St. Petersburg thuộc quân khu Leningrad, Lữ 92 ở Kamenka, gần Penza thuộc quân khu Volga-Urals, Lữ 103 ở Ulan-Ude, quân khu Siberia, Lữ 107 ở Semistochny, gần Birobidzhan thuộc quân khu Viễn Đông, và Lữ 114 ở Znamensk, gần Astrakhan, quân khu Bắc Kavkaz. Các lữ đoàn này đang được trang bị các hệ thống tên lửa đường đạn tầm ngắn Tochka và Tochka-U.

    Các lữ đoàn tên lửa 92 và 107 sẽ là các lữ đầu tiên được tái trang bị bằng Iskander vào năm 2011, những hệ thống tên lửa Iskander đầu tiên được chuyển giao từ năm 2008. Đáng lưu ý là trong số 5 lữ đoàn sẽ nhận Iskander không có Lữ tên lửa 152 ở Kaliningrad, 2 lữ tên lửa của quân khu Moskva (Lữ 50 ở Shuya và Lữ 448 ở Kursk), và 1 lữ khác của quân khu Bắc Kavkaz (Lữ 1 ở Krasnodar).

    Ngày 9/5/2008, 4 xe bệ phóng mang tên lửa Iskander của Tiểu đoàn Tên lửa huấn luyện 630 thuộc Trung tâm Huấn luyện chiến đấu số 60 của Bộ đội Tên lửa lục quân đã tham gia diễu binh trên Quảng trưởng Đỏ ở Moskva.

    Tháng 8/2008, Tiểu đoàn 630 đã tham gia cuộc chiến 5 ngày với Gruzia ở Nam Ossetia. Có tin quân đội Nga đã phóng một số tên lửa 9M723 mang đầu đạn chùm (và đầu đạn nổ mạnh đơn khối vào các mục tiêu quân sự ở Gruzia. Theo các báo cáo chưa được xác nhận thì 1 tên lửa Iskander đã tấn công chính xác vào căn cứ của tiểu đoàn xe tăng độc lập Gruzia ở Gori. Quả tên lửa này đã bắn trúng 1 kho vũ khí làm nổ kho này và gây thiệt hại lớn cho tiểu đoàn tăng Gruzia. Phía Nga không thừa nhận có sử dụng tên lửa Iskander chống Gruzia. Tuy nhiên, các báo cáo không chính thức đã xác nhận hiệu quả cao của các tên lửa Iskander và là một trong những vú khí uy lực và chính xác nhất trong kho vũ khí trang bị của Nga.

    Hệ thống tên lửa Iskander chuyển sang bước ngoặt mới ngày 5/11/2008 khi Tổng thống Nga Dmitry Medvedev tuyên bố trong Thông điệp Liên bang rằng, Nga sẽ triển khai tên lửa Iskander ở tỉnh Kaliningrad để đáp lại kế hoạch triển khai các bộ phận của hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ ở Ba Lan và Czech. Về nguyên tắc, thông báo của Medvedev không phải là điều đáng ngạc nhiên với những ai theo dõi những diễn biến trong lĩnh vực quân sự của Nga. Phó Thủ tướng thứ nhất Sergey Ivanov đã nói đến điều đó từ tháng 7/2007, giới quân sự Nga cũng nhiều lần có những tuyên bố tương tự năm 2008. Thậm chí, tờ báo Sao Đỏ (Krasnaya Zvezda) của Bộ Quốc phòng Nga tháng 9/2008 cũng có 1 bài nói về kế hoạch triển khai Iskander. Thực tế đó chỉ là việc thay thế các tên lửa Tochka-U của Lữ đoàn Tên lửa Cận vệ số 152 đóng ở Chernyakhovsk, tỉnh Kaliningrad, một bộ phận của Đặc khu quân sự Kaliningrad dưới quyền chỉ huy của Bộ Tư lệnh Hải quân Nga.

    Việc tái trang bị Lữ đoàn Tên lửa 152 bằng tên lửa Iskander sẽ cho phép tên lửa 9M723 tầm bắn 500 km với tới toàn bộ lãnh thổ Ba Lan, phần Đông nước Đức và miền Bắc Cộng hoà Czech, tấn công tất cả các bộ phận của hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ dự kiến triển khai ở khu vực này, kể cả trận địa radar ở Cộng hoà Czech. Độ chính xác của tên lửa 9M723 đủ để tiêu diệt cả những mục tiêu cự kỳ kiên cố, kể cả các tên lửa chống tên lửa GBI bố trí trong giếng phóng của Mỹ, bẳng đầu đạn thông thường. Tên lửa hành trình R-500 sẽ cho phép tiêu diệt hiệu quả hơn các mục tiêu ở châu Âu từ Kaliningrad, cũng như các mục tiêu ở xa hơn. Nga cũng không loại trừ khả năng trang bị đầu đạn hạt nhân cho hệ thống tên lửa Iskander.

    Tuy nhiên, quyết định tái trang bị Lữ đoàn Tên lửa Cận vệ 152 bằng tên lửa Iskander chỉ là một phần trong việc xem xét lại tổng thể các kế hoạch ban đầu triển khai các tên lửa này. Hai ngày sau diễn văn của ông Medvedev, một quan chức cao cấp của Bộ Quốc phòng Nga đã nói với Thông tấn xã RIA Novosti rằng, một kế hoạch mới sẽ bao gồm việc trang bị hệ thống tên lửa Iskander cho toàn bộ 5 lữ đoàn “đối mặt với phương Tây” vào năm 2015. Điều đó sẽ có nghĩa là thay vì trang bị Iskander cho các lữ đoàn tên lửa 92, 103 và 107, loại vũ khí mới này sẽ được triển khai cho các lữ đoàn tên lửa 50 và 448 của quân khu Moskva, Lữ 152 ở Kaliningrad và Lữ 26 ở quân khu Leningrad, Lữ 114 ở Bắc Kavkaz. Căn cứ vào các tuyên bố chính thức sau đó, có lẽ Lữ tên lửa 152 ở Kaliningrad sẽ được trang bị Iskander không trước năm 2011 và sẽ trùng hợp về thời gian với việc triển khai các tên lửa đánh chặn GBI của Mỹ ở Ba Lan.

    Rõ ràng là quyết định thay đổi kế hoạch triển khai tên lửa Iskander để tập trung cho việc trang bị lại cho các đơn vị tên lửa ở phần châu Âu của Nga trước tiên phản ánh sự suy giảm đáng kể quan hệ giữa Nga và phương Tây trong vài năm gần đây, nhất là sau cuộc chiến 5 ngày với Gruzia. Về quân sự, việc triển khai các hệ thống Iskander ở Kaliningrad và các khu vực ở phần châu Âu của Nga sẽ nâng cao cơ bản khả năng của các đơn vị chiến đấu Nga thực hiện các đòn tấn công chính xác cao chống bất kỳ mục tiêu nào ở Đông, Trung và Nam Âu. Các hệ thống phòng không dù là hiện đại nhất hiện nay và tương lai của phương Tây sẽ rất khó đánh chặn tên lửa đường đạn Iskander. Các xe bệ phóng tên lửa đã cho thấy chúng khó bị phát hiện và tương đối khó tiêu diệt đối với các lực lượng Mỹ trong 2 cuộc chiến chống Iraq năm 1991 và năm 2003.

    Việc các nước phương Tây phản ứng quyết liệt đối với tuyên bố triển khai hệ thống Iskander ở Kaliningrad không phải là một điều ngạc nhiên vì nó sẽ tăng cường cơ bản tiềm năng quân sự của Nga tại khu vực này. Nhưng châu Âu cũng không được quên rằng, chính kế hoạch của Mỹ triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa dọc biên giới Nga đã dẫn đến việc Nga đưa ra quyết định này. Kremlin đã nói rõ rằng, Iskander sẽ là một lý lẽ có trọng lượng cho các cuộc thảo luận ở châu Âu về việc họ có sẵn sàng hy sinh các lợi ích an ninh trực tiếp của chính họ để phục vụ tham vọng chính trị-quân sự của Mỹ hay không. Nói cho cùng thì tên lửa Iskander ở Kaliningrad vừa gần hơn nhiều và vừa thực tế hơn nhiều bất kỳ loại tên lửa tưởng tượng nào của Iran.

    Cơ hội xuất khẩu

    Hệ thống tên lửa đường đạn cơ động tầm ngắn Iskander-E đã được công khai chào bán xuất khẩu năm 1999 mặc dù việc bán loại vũ khí nhạy cảm như vậy sẽ gặp phải nhiều trở ngại chính trị. Syria và Iran là những nước đầu tiên bày tỏ sự quan tâm đối với Iskander năm 2000 mặc dù Nga từ chối vì sợ làm tổn hại quan hệ với Mỹ và Israel. Vào cuối năm 2004, Nga đã ký hợp đồng bán 18 hệ thống Iskander cho Syria, nhưng Tổng thống Putin đã huỷ bỏ hợp đồng vào phút cuối. Tuy nhiên, những vụ mua bán tương lai sẽ không thể loại trừ và Nga rõ ràng đang tận dụng khả năng bán Iskander cho Iran làm con bài mặc cả với Mỹ và Iran. Iskander-E đã trở thành lá bài nặng ký trong tay nước Nga trong ván bài phức tạp ở Trung Đông.

    Các cuộc đàm phán với Các Tiểu vương quốc Arập Thống nhất (UAE) cũng đã được tiến hành, hãng Rosoborneksport còn nêu tên Algeria, Kuwait, Yemen, Việt Nam, Singapore và Hàn Quốc như các khách hàng tiềm năng của Iskander. Năm 2006, các đại diện của KBM đã thông báo rằng, một hợp đồng bán Iskander-E đã được ký kết nhưng không nêu rõ tên khách hàng mua. Thông tin này đến nay vẫn chưa được tiết lộ.

    Viện Novator cũng đã chào bán hệ thống tên lửa Club-M trang bị tên lửa hành trình 3M14E và tên lửa chống hạm 3M54E/E1 (SS-N-27). Club-M thực tế là biến thể xuất khẩu của hệ thống Iskander-K. UAE đã bày tỏ sự quan tâm đến hệ thống này.

    Tuy nhiên, nhiều khả năng Belarus sẽ là nước đầu tiên mua Iskander-E. Tháng 11/2007, Tướng Mikhail Puzikov đã thông báo quyết định của chính phủ Belarus mua hệ thống tên lửa Iskander-E để tái trang bị cho Lữ đoàn Tên lửa 465 của Belarus vào năm 2015-2020. Puzikov nói rằng, kinh phí mua tên lửa đã được cấp và Belarus sẽ mua Ikander với giá nội bộ của Nga căn cứ các điều khoản của Hiệp định Tashkent của Tổ chức An ninh Tập thể ODKB. Những hệ thống Iskander-E đầu tiên sẽ được chuyển giao năm 2010.

    Iskander-E và Club-M là những loại vũ khí tối tân và hiếm có trên thị trường vũ khí toàn cầu vì những tính năng kỹ thuật và khả năng tác chiến của chúng. Iskander-E, loại vũ khí xuất khẩu tiên tiến nhất của công nghiệp quốc phòng Nga, một khi được bán cho bất kỳ nước nào cũng chắc chắn sẽ tác động đến tương quan lực lượng ở bất kỳ khu vực nào trên thế giới.

    Nguồn: Iskander the Great / Mikhail Barabanov // MDB (Centre for Analysis of Strategies and Technologies - CAST)


    Sửa lần cuối bởi trucngon; 06-03-2012 lúc 08:28 AM.

  3. Có 1 người thích bài viết này


  4. #23
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết
    Hệ thống tên lửa S-500
    Chương trình phát triển tổ hợp NIP НИР "Samodzerzes – Samoderzes – A-A" / "Самодержец" / "Самодержец-А-А" - là chương trình nghiên cứu khoa học nhằm chế tạo các tổ hợp tên lửa phòng không đa nhiệm của trung tâm nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ quân sự thuộc Bộ Quốc phòng Liên bang Nga. Trong quá trình phát triển có sự tham gia của Tập đoàn sản xuất và chế tạo vũ khí phòng không Anmaz – Antei. Thành phần chủ yếu đầu tiên của chương trình phòng thủ vũ trụ là: S-500.
    Chương trình NIR Samoderzer và NIR Blastelin-TP (НИР "Самодержец", НИР "Властелин-ТП")
    Hệ thống tên lửa phòng không tầm xa S-500/55R6M "Triumphant-M", tổ hợp 98ZH6M1. С-500 / 55Р6М "Триумфатор-М", 98Ж6М1
    Hệ thống S-1000 (С-1000)


    Hệ thống tổ hợp tên lửa tầm xa/ tên lửa phòng không và tên lửa đánh chặn tên lửa đạn đạo PVO và PRV. Hệ thống được thiết kế và phát triển bởi Trung tâm nghiên cứu chế tạo tên lửa phòng không và đánh chặn thuộc Tập đoàn Almaz – Antei. Vào năm 2002 Tổ hợp nghiên cứu khoa học và thiết kế chế tạo Almaz trình bầy các văn bản thiết kế chi tiết hệ thống tên lửa phòng không đánh chặn thế hệ thứ 5, giới thiệu chi tiết các thông số kỹ chiến thuật của hệ thống. Thiết kế chế tạo mẫu sơ bộ đầu tiên của S-500 bắt đầu vào năm 2003. Vào năm 2004 bắt đầu thiết kế hệ thống tổ hợp S-500. Vào năm 2005 Tổ hợp nghiên cứu khoa học và thiết kế chế tạo Almaz theo đơn đặt hàng của Bộ Quốc phòng Liên bang Nga năm 2005 đã sản xuất các thiết bị và bộ phận cho hoạt động nghiên cứu khoa học " Vlastelin” và chương trình nghiên cứu khoa học mang tên "Samoderzes” đây cũng chính là hệ thống tên lửa phòng thủ vũ trụ - phòng không thế hệ thứ 5. Thế nào là Vlastelin – TP và Samoderzes.

    Thứ nhất – Theo tuyên bố của báo Sao đỏ, chủ nhiệm dự án tuyên bố, dự án có mục tiêu chế tạo hệ thống phòng thủ VKO Vlastelin TP sẽ bao gồm tập hợp các hệ thống tiêu diệt mục tiêu và các hệ thống chỉ huy, trinh sát, kiểm soát - điều khiển. Trên thực tế hệ thống Vlasstelin sẽ bao gồm các vật thể bay trong không gian - phương tiện bay trong vũ trụ. Vlastelin sẽ là hệ thống liên hợp phòng thủ có căn cứ trên mặt đất – trên không – trên vũ trụ và có thể được bố trí trên toàn bộ lãnh thổ nước Nga, bao gồm cả mặt đất, trên không trung và trên vũ trụ.
    Chương trình nghiên cứu thiết kế chế tạo thứ hai là những hoạt động nghiên cứu khoa học mang tên Samoderzes, định hướng của chương trình là chế tạo một tổ hợp vũ khí phòng không đa nhiệm, đa đạn và đa tầng, đảm bảo trong cùng một thời điểm thực hiện nhiệm vụ phòng không, phòng thủ tên lửa và phòng thủ vũ trụ. Tuy duy phát triển loại vũ khí đa nhiệm này được hình thành từ những thành tựu khoa học quân sự của Mỹ như tầu không gian X-37B hoặc vũ khí động năng trượt với vận tốc siêu âm. Trên thực tế, đây cũng là vũ khí phòng không thế hệ thứ V.
    Vào năm 2006 theo quyết định của Ủy ban nghiên cứu khoa học của Hội đồng Công nghiệp Quốc phòng Liên bang Nga trong cuộc họp của Hội đồng Các Bộ trưởng và cuộc hội thảo với các tổng giám đốc tập đoàn sản xuất vũ khí phòng không Almaz-Antei đã xác định cho Trung tâm thiết kế hệ thống công nghệ về đặt mục tiêu chế tạo tổ hợp tên lửa chống tên lửa và phòng không PVO-PRO thế hệ thứ 5. Ngày 27 tháng 2 năm 2007. Hội đồng Công nghiệp Quốc phòng Liên bang Nga với sự có mặt của chính phủ Liên bang đã khẳng định Trung tâm thiết kế hệ thống công nghệ là nhà thiết kế chính hệ thống tên lửa phòng không - đánh chặn tên lửa đạn đạo. Trong đó, tổ hợp tên lửa S-500 là một trong những thành tố cấu tạo lên hệ thống.


    Hệ thống được dự kiến sử dụng các phương tiện của S-400 với các trang bị được nâng cấp, sử dụng các tên lửa tầm xa và siêu xa đã được thiết kế

    Năm 2008 thực hiện giai đoạn 4 của chương trình nghiên cứu Vlastelin– TP, tiến hành nghiên cứu chế tạo và thử nghiệm hệ thống điều hành tiên tiến nhất, điều khiển máy bay chiến đấu và hệ thống phòng không 97L6 . Vào năm 2009. Theo thông báo trên mạng InterNet, Tập đoàn đang phát triển hệ thống tên lửa S-500, đồng thời cũng tiến hành thiết kế chi tiết, các giải pháp kỹ thuật và hồ sơ thiết kế cho tên lửa S-500. Tháng 6 năm 2009, trên các phương tiện thông tin đại chúng về thử nghiệm tên lửa 40N6, tên lửa sẽ được đưa vào hệ thống S-500 với tầm bắn xa nhất hiện nay, đồng thời năm 2009, các thông tin cho rằng đang thử nghiệm tên lửa 40N6 tại các trường bắn quân đội.



    Các thùng phóng tên lửa 77P6 trên thân xe BAZ-69096 trong tổ hợp S-500. 10.06.2011

    Theo tổng kết năm 2010 . Trung tâm nghiên cứu thiết kế và chế tạo công nghệ của tập đoàn Almaz-Antei đã thiết kế kỹ thuật hệ thống phòng không hoàn chỉnh, phát triển các trang thiết bị thông tin liên lạc dành cho hệ thống, tiến hành thử nghiệm các hệ thống điều khiển (đã được chế tạo), hệ thống điều khiển có tên là 55R6M ( có bằng sáng chế) đồng thời phát triển tính toán thiết kế tên lửa đánh chặn tầm xa 98Z6M1(S-1000), tên lửa này sẽ được đưa vào hệ thống tên lửa đánh chặn S-500, phát triển các modules và chu trình điều khiển các tên lửa siêu tầm, đồng thời cũng phát triển hệ thống tự dẫn tên lửa. Tiến hành đánh giá vùng sát thương phá hại của tên lửa. Phát triển hệ thống S-500 sẽ dự kiến kết thúc vào năm 2012.

    Thử nghiệm hệ thống S-500 (PVO-PRV) ПВО/ПРО С-500 được tính toán và nghiên cứu phát triển vào năm 2002, dự kiến được đưa vào thử nghiệm mẫu Ao áp dụng thử vào năm 2010. (Nhưng trong năm 2010, thông tin về thử nghiệm tên lửa không có) Trong năm 2010, Trung tâm nghiên cứu và chế tạo công nghệ PVRO chỉ tiến hành thử nghiệm các mẫu 77T6, 77N6, 77N6N1, chế tạo khung sườn và tính toán lắp đặt thiết bị của tên lửa 98Z6M1, phát triển chương trình điều khiển. Thử nghiệm tên lửa dự kiến kết thức vào năm 2015. Ngày 27 tháng 1 năm 2011, Tư lệnh trưởng các lực lượng phòng không và phòng thủ vũ trụ O.Ostaplenco thông báo, đã bắt đầu tiến trình sản xuất các mẫu thử nghiệm của hệ thống phòng thủ tên lửa, đồng thời trên bãi thử Sara-Sagan đã bắt đầu tiến hành thử nghiệm một số các thành phần của hệ thống. trên thao trường Sary-Shagan.

    Tiếp nhận biên chế vào lực lượng PVO. Hệ thống S-500 theo các thông số thử nghiệm vào năm 2010 có dự kiến sẽ được thay thế hệ thống tên lửa khác sau khi đã kết thúc quá trình thử nghiệm hệ thống- theo dự kiến sẽ là 2020. 7 tháng 2 năm 2011. từ tập đoàn sản xuất tên lửa, có thông báo xác định kế hoạch sản xuất các thành phần của hệ thống S-500 được bắt đầu vào năm 2014 và đến năm 2020, các lực lượng PVO nước Nga sẽ nhận được 10 hệ thống (tiểu đoàn) S-500. Trong giai đoạn đầu tiên, hệ thống các đơn vị tên lửa S-500 sẽ nằm trong biên chế tác chiến liên kết phối hợp với S-400.

    Hệ thống theo lý thuyết kỹ thuật cần được đưa vào biên chế cho lực lượng các lữ đoàn phòng không – phòng thủ vũ trụ trên cả nước, theo các phương tiện thông tin đại chúng, S-500 có thể sử dụng để phòng không, phòng thủ tên lửa đạn đạo và tên lửa hành trình. Hệ thống S-500 được thiết kế dựa trên cơ sở của S-400 Triumf, nhưng một phần tên lửa sử dụng cho S-500 sẽ là các tên lửa phòng không được cải tiến trong hệ thống phòng thủ tên lửa bảo vệ Mocscow. Từ thực nghiệm của tên lửa phòng không S-500 sẽ chế tạo các hệ thống tên lửa cho lực lượng Hải quân. Để chế tạo hàng loạt hệ thống S-500, tập đoàn Almaz – Anteicos kế hoạch xây dựng 2 nhà máy mới (một để sản xuất tên lửa, một để sản xuất các thiết bị trên mặt đất).
    Theo dự kiến, hệ thống phòng thủ trên không S-500 sẽ bao gồm có 3 lớp tên lửa tầm trung, tầm xa và tầm siêu xa, hoặc nếu tính đến các loại vũ khí phòng không có trong biên chế hiện tại và khả năng đồng bộ hóa C4I2, S-500 sẽ có hai lớp tên lửa tầm xa và tầm siêu xa với nhiệm vụ trong tâm là phòng thủ tên lửa.
    Tính năng chiến thuật dự kiến của tổ hợp S-500:
    1. Tiêu diệt các tên lửa đạn đạo với tầm hoạt động lên đến 3500 km, tốc độ bay là 5 km/s;
    2. Tiêu diệt các mục tiêu đạn đạo đã được nâng cấp, cải tiến (theo dự kiến tiềm năng);
    3. Tiêu diệt các mục tiêu động năng trong không gian;
    4. Tiêu diệt các mục tiêu – trạm chỉ huy tác chiến trên không và các máy bay thực hiện nhiệm vụ phóng tên lửa hành trình;
    5. Tiêu diệt các mục tiêu bay bằng động năng có tốc độ cao (siêu tốc độ- hypersonic);
    6. Tiêu diệt các vệ tinh chiến đấu tầm thấp;

    Hệ thống điều khiển và thiết bị trinh sát, dẫn đường, chỉ thị mục tiêu:
    Trên các tên lửa tầm trung có dự kiến sử dụng các đài radar tự động hóa và các đầu tự dẫn tầm nhiệt.

    Trong chường trình phát triển các trang thiết bị NIR Vlastelin – TP "НИР "Властелин-ТП" có đưa vào hệ thống radar đa tầng 97L6, loại radar này tương tự như radar 96L6 có khả năng phát hiện mục tiêu ở mọi tầng cao và được đưa vào hệ thống thiết bị chống tên lửa đạn đạo như một hệ thống radar phát hiện, theo dõi và chỉ thị mục tiêu cho các tổ hợp trang bị hỏa lực.

    Hệ thống phòng thủ chống tên lửa sẽ bao gồm radar tầm xa đóng trong container Mars ở trong các trạm radar cố định hoặc cơ động.
    Đài radar đa nhiệm sử dụng bước sóng dm là loại đài radar được đóng gói và triển khai trong xe container thông thường Mars "МАРС" / "МАРС-Э" Đây là đài radar thích hợp với nhiều hệ thống khí tài quan sát và điều khiển hỏa lực khác nhau, có thể được sử dụng để tạo thành các ô lá chắn nhiều tầng, nhiều lớp phục vụ:
    • Các tổ hợp phòng không và phòng thủ tên lửa khu vực;
    • Là bộ khí tái kiểm soát không gian vũ trụ và cảnh báo sớm khả năng tấn công bằng tên lửa.
    • Hệ thống phòng không PVO trên chiến trường..
    Khả năng phát hiện mục tiêu đạt 0.95:
    - toàn bộ tên lửa đạn đạo - 2000 km
    - đầu đạn mang của tên lửa đạn đạo với hiệu ứng phản xạ hiệu dụng là 0.1 m2 – 1300km
    Số lượng theo dõi và bám mục tiêu trên không và trên vũ trụ ( thời gian quét 1 phút) là từ 5 đến 20 mục tiêu.
    Khả năng cùng một lúc theo dõi và dẫn bắn các tên lửa chống tên lửa đạn đạo với thời gian quét là 1 phút là từ 5-10 tên lửa.
    Khả năng dung sai quét trong khoảng thời gian mở rộng là 150s là 2 km.
    Dung sai xác định điểm rơi của đầu đạn hạt nhân trong khoảng ô vuông là 15 km.
    Bước sóng sử dụng , cm 10
    Tâm hoạt động của radar theo hướng:
    - lớn nhất 3000 km
    - nhỏ nhất 30 km.



    Những trang thiết bị của hệ thống S-500; Từ trên xuống dưới, xe phóng đạn 77P6, đài radar 96L6-1, đài radar 77T6, 76T6, xe điều hành và kiểm soát tác chiến 55K6MA hoặc 85ZH6-2. Bản vẽ giới thiệu trong triển lãm xe cơ giới và phòng không lục quân tại Bronnitsy. 10.06.2011.,

    Các trang thiết bị mặt đất của hệ thống S-500 (ЗРС С-500) được lắp đặt trên xe cơ giới: BAZ 69096 (БАЗ-69096):
    Khung sườn thân xe - 10 х 10 ( có hai trục bánh lái trước).
    Đông cơ diesel 550 mã lực.
    Khối lượng thân xe - 21000 kg
    Khối lượng tải trọng hữu ích - 33000 kg
    Tổng khối lượng toàn xe - 54000 kg
    Leo dốc – 30 độ.
    Vượt hào - 1.7 m
    Xe kéo mooc BAZ-6403.01 БАЗ-6403.01 (mooc):
    Khung sườn thân xe - 8 х 8 (có 2 trục bánh lái trước)
    Động cơ diesel 500 mã lực.
    Khối lượng thân xe - 19750 kg
    Khối lượng tải trọng hữu ích thân xe - 21000 kg
    Khối lượng rơ mooc kéo - 80000 kg
    Tải trọng hữu ích thân xe - 54000 kg
    Vượt dốc - 30 độ. / 20 độ
    Vượt hào - 1.7 m

    BAZ -69092-012 (БАЗ-69092-012):
    Кhung sườn thân xe - 6 х 6 ( một trục lái )
    Động cơ diesel công suất 470 mã lực.
    Khối lượng thân xe - 15800 kg
    Khối lượng tải trọng có ích - 14200 kg
    Khối lượng đủ tải - 30000 kg
    Vượt dốc - 30 độ.
    Vượt hào - 1.7 m

    Bệ phóng tên lửa:
    СПУ Hệ thống ống phóng tên lửa thẳng đứng 77P6 (77П6) trên thân xe VAZ – 69096. số lượng ống phóng đạn – 2.

    Hệ thống tên lửa S-500 (С-500):
    Tuyến phòng không Tuyến phòng không tầm gần Tuyến phòng không tầm trung Tuyến phòng không tầm xa Phòng thủ tên lửa và đánh chặn tầm xa (phương án 1) Phòng thủ tên lửa và đánh chặn tầm xa (phương án 2)
    Trong biên chế tổ hợp S-500 Không (dự kiến) Không có (dự kiến) Giả định Giả định Giả định
    Mã hiệu tên lửa. 9М96Е
    9М98 ?
    9М96Е2
    9М99 ?
    48N6Е3
    48N6D
    48N6DМ
    40N6 45Т6 (tương đương hệ thống chống tên lửa và đánh chặn А-235)
    Số lượng tầng phóng đạn 1 1 1 2 1 hoặc 2
    Chiều dài 4.75 m 5.65 m 7.5 m
    Đường kính đạn 240 mm 240 mm 519 mm
    Sải cánh 480 mm 480 mm 1835 mm
    (1133 mm)
    Khối lượng 333 kg 420 kg 1835 kg
    (1600-1900 kg)
    2000 kg
    Khối lượng thuốc nổ 26 kg 26 kg 143 kg
    Tầm chiến đấu hiệu quả 1-40 km 1- 120 km 3 - 150-200-250 km 400 km
    Tầm cao tác chiến 5 - 20000 m 5 – 30000 m 10 - 27000 m Đến 165 km
    Tốc độ Vmax 900 m/s 1000 m/s 2500 m/s Lớn hơn 3600 m/s
    Tốc độ mục tiêu. 2780 m/s


    Khả năng phát hiện mục tiêu của các thiết bị thuộc tổ hợp S-500. - 600-750 km
    Khả năng tiêu diệt mục tiêu của tuyến phòng không tầm xa - 200 km
    Tầm cao tiêu diệt mục tiêu của tuyến phòng không tầm xa – đến 100 km
    Tầm cao tiêu diệt mục tiêu của tuyến phòng thủ tầm trung và tầm gần S-500 - 40-50 km

    Khả năng tiêu diệt mục tiêu: 10 mục tiêu tên lửa đạn đạo.

    Nâng cấp cải tiến và các bước thiết kế vũ khí phòng không S-500:
    Chương trình phát triển tổ hợp NIP НИР "Samodzerzes – Samoderzes – A-A" / "Самодержец-А-А" "Самодержец" / "Самодержец-А-А" - là chương trình nghiên cứu khoa học nhằm chế tạo các tổ hợp tên lửa phòng không đa nhiệm của trung tâm nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ quân sự thuộc Bộ Quốc phòng Liên bang Nga. Trong quá trình phát triển có sự tham gia của Tập đoàn sản xuất và chế tạo vũ khí phòng không Anmaz – Antei. Trong khuôn khổ của chương trình có đề nghị chế tạo một tổ hợp phòng chống tên lửa đạn đạo và phòng không đa tầm của trung tâm nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ của Tập đoàn chế tạo máy Marinski (Antei) và OKB Trung tâm nghiên cứu chế tạo thử nghiệm tên lửa phòng không Novator trên cơ sở thành công của tổ hợp tên lửa phòng không S-300PMU với các ống phóng tên lửa trên thân xe Kraz -260. ( 1990).

    Chương trình phát triển NIR Vlastelin/Vlastelin – TP – chương trình nghiên cứu khoa học và phát triển hệ thống tên lửa phòng không và tên lửa chống tên lửa đạn đạo (2008 – 2010). Trong chương trình có sự tham gia phát triển của toàn bộ Tập đoàn chế tạo tên lửa Almaz – Antei.

    S-500 / 55R6М " Triumphant-M -Триумфатор-М" – hệ thống tên lửa phòng không cơ bản.
    S-1000 – hệ thống tên lửa nâng cấp của tên lửa S-500, có tầm phóng tên lửa siêu tầm (về tầm bắn – tầm với) phục vụ mục đích tiêu diệt tên lửa đạn đạo và các vệ tinh quân sự (X37B).

    Nước phát triển: nước Nga
    - 2008. – thực hiện bước thứ 4 của quá trình nghiên cứu hệ thống tên lửa Vlastelin – TP triển khai phát triển hệ thống radar 97L6 ( có khả năng là radar phát hiện mục tiêu) nghiên cứu sản xuất tên lửa 40N6 để tiến hành thử nghiệm cấp quốc gia trên cơ sở của hệ thống S-400/45R6 (С-400 / 40Р6).

    - 2009. – triển khai phát triển và hoàn thiện hệ thống văn bản thiết kế cơ sơ của S-500. Thủ nghiệm các trang thiết bị trong hệ thống.

    - tháng 7 năm 2009. theo thông báo của các phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống tên lửa tầm siêu xa 40N6 sẵn sàng cho thử nghiệm.

    - 2010. – thẩm định và phê chuẩn thiết kế kỹ thuật hệ thống tên lửa S-500/56R6M С-500 / 55Р6М.

    - 2011. Cuối tháng 1 bắt đầu chuẩn bị đưa S-500 vào biên chế cho các đơn vị phòng không – phòng thủ vũ trụ. Trong sự kiến kế hoạch sẽ triển khai hệ thống phòng thủ quanh Moscow và vành đai các nước châu Âu.

    - 2011. 24 tháng 2 – Thứ trưởng bộ quốc phòng Liên bang Nga V-Popokin tuyên bố, trong giai đoạn từ năm 2011 – 2020 có kế hoạch đặt mua 10 tổ hợp S-500. Chương trình thử nghiệm Ao bắt đầu vào năm 2015.

    - 2011 . 5 tháng 10 trên báo Izvestria xuất hiện thông tin về việc chậm tiến trình phát triển hệ thống S-500 so với kế hoạch là 2 năm. Chương trình chế tạo tổ hợp dự kiến sẽ kết thúc vào năm 2015, sản xuất hàng loạt bắt đầu vào năm 2017. Chế tạo các mẫu thử khác nhau sẽ kết thúc vào năm 2013, sau đó sẽ đưa vào thủ nghiệm Ao. Như vậy, theo tiến độ mới, vũ khí trang bị sẽ được đưa vào biên chế vào năm 2017.

    - 2012. – kết thúc tiến trình nghiên cứu chế tạo thử và các giải pháp kỹ thuật của S-500 С-500 (theo kế hoạch là 2008 hoặc 2009).

    - 2013. – hoàn thành chế tạo các mẫu thủ nghiệm của hệ thống và đưa vào áp dụng thủ theo kế hoạch từ tháng 10 năm 2011.

    - 2014. – Bắt đầu chương trình sản xuất hàng loạt hệ thống S-500, theo kế hoạch đã được công bố ngày 17 tháng 2 năm 2011 của Chỉ huy trưởng trung tâm nghiên cứu thiết kế và chế tạo hệ thống phòng không – phòng thủ vũ trụ Trung tướng Valeria Ivanov.

    - 2015. – có kế hoạch hoàn thiện việc phát triển hệ thống S-500 và biên chế vào lực lượng vũ trang ( theo kế hoạch là 2010 hoặc trước đó một thời gian). Dự kiến từ tháng 10 năm 2010 là kết thúc phát triển hệ thống vào năm 2015.

    - 2017. – bắt đầu sản xuất hàng loạt hệ thống S-500 theo kế hoạch đã được phê chuẩn từ tháng 10 năm 2011.
    Video S-500

    Biên dịch: Trịnh Thái Bằng - Tech-edu

    Nguồn: http://militaryrussia.ru
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  5. #24
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    VERA-E, 'siêu radar' mà Việt Nam có thể mua




    Trong cuộc chiến phòng không ở Nam Tư, Tamara (thế hệ trước của VERA) đã góp phần phát hiện và bắn rơi F-117 khiến Mỹ sửng sốt.


    (ĐVO) Theo nguồn tin từ Bộ Quốc phòng Cộng hòa Séc (CH Séc), trong chuyến thăm vừa qua tới Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Vondra, hai bên đã thảo luận về việc cung cấp một số hệ thống giám sát thụ động tiên tiến VERA-E.

    Để cung cấp thông tin đầy đủ tới bạn đọc, Đất việt có bài viết giới thiệu về hệ thống giám sát thụ động VERA-E mà Việt Nam có thể mua này.

    Hệ thống radar thụ động VERA (CH Séc gọi là Věra) hay gọi chính xác hơn là hệ thống giám sát thụ động (PSS) VERA do Công ty kỹ thuật ERA của Cộng hòa Séc chế tạo.

    Hệ thống cho phép đo đạc sự chênh lệch thời gian (TDOA) của các xung điện từ do mục tiêu phát ra tới bốn trạm cảm biến trên mặt đất để phát hiện và theo dõi những vật thể phát xạ trên không, trên biển và cả trên đất liền. Qua đó tính toán, xác định tọa độ của mục tiêu về cả khoảng cách, góc phương vị, độ cao để liên kết với các hệ thống điều khiển hỏa lực tên lửa tiến hành tiêu diệt mục tiêu, kể cả tất cả các loại máy bay tàng hình tiên tiến như B-2, F-117 và thậm chí F-22, F-35, chứ đừng nói gì tới J-20.

    VERA hoạt động như một nguồn thu thập các thông tin độc lập về mọi động thái, hoạt động, sự di chuyển của tất cả các mục tiêu trên không, trên biển và trên đất liền để có thể thực hiện nhiệm vụ giám sát và hỗ trợ cho các hệ thống radar của Trung tâm Giám sát Không phận Cộng hòa Séc.


    Đài trinh sát thụ động của hệ thống VERA S/M.
    Sự ra đời của nó đã góp phần cải thiện hiệu quả, hỗ trợ hoạt động của các hệ thống giám sát thụ động trước đó như hệ thống Tamara và Tacan mà CH Séc đang sử dụng.

    Các cuộc thử nghiệm chứng minh rằng, hệ thống VERA (bản nội địa) có khả năng hoạt động với tầm xa từ 400 - 500 km.

    Phần mềm hệ thống hiện nay có khả năng tự động và theo dõi đồng thời lên tới 300 máy bay/mục tiêu khác nhau trong thời gian thực.

    Người Séc khẳng định VERA có thể phát hiện máy bay tàng hình B-2 của Mỹ từ cự li rất xa, khoảng 250km.

    Lịch sử phát triển

    Hệ thống VERA ngày nay được bắt nguồn từ là hệ thống giám sát thụ động PRP-1 Kopáč, PSS đầu tiên được phát triển cho quân đội Liên Xô từ năm 1963, có thể theo dõi 6 mục tiêu khác nhau.

    Nối tiếp sau đó là hệ thống KRTP-81 Ramona (NATO gọi là Soft Ball) được phát triển vào năm 1979, có thể phát hiện và theo dõi đồng thời 20 mục tiêu.

    Năm 1987, hệ thống được phát triển lên thành KRTP-86 Tamara (định danh NATO là Trash Can), có thể phát hiện 23 mục tiêu radar và 48 mục tiêu IFF (nhận dạng bạn thù).

    Khi đó, Cộng hòa Séc nằm trong khối XHCN ở Đông Âu nên các hệ thống giám sát thụ động trên đều được xuất khẩu rộng rãi trong khối.

    Sau biến cố chính trị năm 1989, các kỹ sư và quan chức lãnh đạo của Tesla đã thành lập công ty mới là Era ở Pardubice, chuyên sản xuất các dòng cảm biến thế hệ tiếp theo của hệ thống VERA.

    PSS VERA là sự phát triển mới nhất trong bề dày lịch sử phát triển hệ thống ESM TDOA của Cộng hòa Séc, và là sự kế thừa của hệ thống trinh sát thụ động tinh vi Tamara.

    Năm 1995, hệ thống giám sát thụ động VERA đã được thử nghiệm thành công trong mọi điều kiện thời tiết và được vận hành liên tục bởi một nhóm các chuyên gia đến từ Trung tâm Các hệ thống Thụ động Lực lượng Không quân và từ Bộ Tư lệnh Phòng không của Quân đội Cộng hòa Séc.

    Nguyên mẫu hệ thống VERA đầu tiên đã được CH Séc triển khai lắp đặt và bố trí ở một khu vực có độ cao 1.000 m để phát huy được khả năng giám sát tất cả các động thái đang xảy ra trên bầu trời và trên mặt đất của đất nước.

    Tháng 10/2006, Tổng công ty Rannoch tuyên bố mua lại ERA, tháng 2/2007 chính thức đổi tên thành Tổng công ty ERA, tháng 7/2008 ERA được mua lại bởi SRA International. Và gần đây nhất, tháng 11/2011, ERA Pardubice lại được mua lại bởi công ty xuất nhập khẩu vũ khí thương mại Omnipol của CH Séc.


    Nguyên lý hoạt động, đặc điểm kỹ - chiến thuật của PSS VERA-E

    Biến thể xuất khẩu của PSS VERA là VERA-E, tất cả các thành phần của hệ thống đều được đặt trên xe cơ động để thuận tiện trong quá trình di chuyển, ẩn náu và triển khai.

    Hệ thống được triển khai điển hình bao gồm 3 đài thu ESM bố trí theo hình tam giác đều (trường hợp lý tưởng), mỗi đài bao quát một vùng quạt rộng 120 độ (3 đài là 360 độ) và một đài thu trung tâm được đặt ở giữa (gồm thiết bị xử lý tín hiệu và máy thu ESM thực hiện vai trò như một đài thu thứ cấp, đồng thời cũng là trạm thu tín hiệu tổng hợp do 3 đài thứ cấp truyền về).



    Mô phỏng cách thức triển khai và khả năng tác chiến của hệ thống VERA-E.
    Cảm biến thế hệ đầu của hệ thống VERA chỉ có thể phát hiện và theo dõi các xung điện từ phát ra từ mục tiêu dựa vào phương pháp đo khoảng thời gian trễ nhận được xung. Đài thu hoạt động ở dải tần rất rộng, từ 1 - 18 Ghz và thường tận dụng các hệ thống thu phát của radar giám sát thứ cấp (SSR) như, radar trên không, radar thời tiết, hệ thống thu phát dẫn đường chiến thuật hàng không (TACAN), hệ thống dẫn đường có các thiết bị đo xa (DME), tín hiệu truyền thông số và các tín hiệu nhiễu xung do đối phương phát ra để tính toán tọa độ mục tiêu.

    Các đài thu thứ cấp sẽ thu tín hiệu nhận được do mục tiêu phát ra và truyền về trung tâm theo đường truyền sóng vi ba kiểu điểm - điểm (point - to - point). Trung tâm xử lý sẽ tính toán độ trễ của các xung từ ba trạm thu truyền về để tính ra TDOA (khoảng chênh lệch thời gian tới) của các xung ở mỗi đài thu.

    TDOA của một xung từ một đài thu bên cạnh và đài thu trung tâm sẽ xác định vị trí mục tiêu dựa vào việc lấy giao của các mặt hipeboloit. Trạm thu con thứ hai sẽ cung cấp TDOA của nó và tạo ra một hipeboloit thứ hai.

    Giao của hai hipeboloit sẽ xác định mục tiêu trên một đường thẳng, cung cấp một tọa độ 2D về mục tiêu (khoảng cách và góc phương vị). Khi đó, giao của hipeboloit do trạm thu thứ ba sẽ tạo ra tọa độ về độ cao mục tiêu, cung cấp một tọa độ vị trí đầy đủ dạng 3D. Máy tính trung tâm sẽ tổng hợp giao hội mọi tín hiệu thu về, theo phương pháp định vị "vi sai thời gian tới của tín hiệu" trên các tam giác, sẽ xác định được rất nhanh tọa độ mục tiêu.

    Đồng thời ngay khi tọa độ mục tiêu được xác định, thông tin về mục tiêu sẽ được truyền về các đài radar hoả lực của tên lửa phòng không, nhờ thế cũng có thông số bắn ban đầu, đạn được phóng lên, bám sát liên tục máy bay và tiêu diệt ở cự ly thích hợp.



    Mô phỏng tọa độ mục tiêu trên không gian 3 chiều.

    Trạm radar đa năng


    Theo một số nguồn tin, đài trinh sát thụ động VERA-E có thể kết hợp liên thông tín hiệu với các phân đội hoả lực tên lửa SAM của Việt Nam hiện nay như S-125, S-300... để có thể tấn công phá hủy mục tiêu bằng tên lửa. Đây là một đặc điểm khá quan trọng của hệ thống trong việc liên kết thành một mạng lưới phòng không tích hợp, chống lại mọi đòn tấn công đường không của đối phương.

    PSS VERA hoạt động chính xác hơn ở dải sóng cực ngắn, bộ đo thời gian vốn có của hệ thống phụ thuộc phần lớn vào trạm thu trung tâm. Trong thực tế, khoảng cách giữa các trạm thu con ở càng xa nhau thì độ chính xác càng cao, nhưng người ta thường triển khai hệ thống từ 3 - 4 trạm, khoảng cách các trạm con tới trạm trung tâm từ 15 - 40 km (cực đại là 50 km) để đảm bảo được cả hai yêu cầu về độ chính xác và cự li phát hiện mục tiêu.

    Đặc điểm quan trọng khác của PSS VERA là nguyên lý hoạt động của hệ thống có thể phát hiện ra tín hiệu bức xạ và xác định được vị trí của các đài radar chủ động khác của đối phương mà không hề bị phát hiện. Các mục tiêu trên mặt đất như xe tăng, xe trinh sát, rađar, các mục tiêu trên biển như tàu chiến, radar trên tàu... đều có thể phát hiện và tính toán được chính xác tọa độ, để hỗ trợ cho các đơn vị phòng thủ bờ biển, pháo binh...


    Tại trung tâm xử lý, kíp vận hành hệ thống chỉ đơn giản gồm 2 người (1 lính cộng với 1 sỹ quan) với các thiết bị điện tử trong xe xử lý tín hiệu trung tâm rất hiện đại.

    Theo các chuyên gia, PSS VERA là một hệ thống hiệu quả, bổ sung và hỗ trợ cho những hệ thống radar chủ động đang tồn tại trong việc giám sát không phận của bất kỳ một quốc gia nào.

    Thông số kỹ thuật của PSS VERA-E.

    + Thông tin đầu ra của máy tính xử lý trung tâm có tốc độ cập nhật vị trí mục tiêu có thể điều chỉnh từ 1 - 5 giây.
    + Độ nhạy máy thu của trạm thu thứ cấp rất cao (-100 dBm)
    + An ten thu của trạm thứ cấp có kích thước lớn, dài 1,3 m, rộng 0,9m, nặng 120 kg. Nguồn công suất 24 V DC/250 W.
    + Anten thu tín hiệu đường truyền điểm - điểm có đường kính 600 mm (400 mm), nặng 24 kg, chùm sóng tín hiệu rất hẹp 1,26 độ, sử dụng nguồn công suất thấp 24V DC/20 W.
    + Dải tần hoạt động cơ bản từ 1 - 18 Ghz, có thể lựa chọn thêm hai dải tần hoạt động khác là 0,1 - 1 Ghz và 18 - 40 Ghz.
    + Khả năng phát hiện và theo dõi đồng thời 200 mục tiêu khác nhau. Bao gồm tất cả các mục tiêu như radar, các hệ thống phát đáp TACAN, đài gây nhiễu, các điểm truyền sóng vô tuyến trong dải tần.
    + Mức độ tự động hóa rất cao.
    +) Yêu cầu bảo dưỡng không quá cầu kỳ.



    Trung tâm xử lý tín hiệu của toàn hệ thống được đặt trên xe cơ động.

    radar thụ động VERA-E không phát sóng mà chỉ thu tín hiệu dựa trên nguyên lý, trong một môi trường không gian đồng nhất, bất kỳ một “xao động” nào của vật thể bay cũng tạo ra các sóng điện từ trường, tuỳ theo mức độ ít nhiều.

    Khắc tinh của máy bay tàng hình

    Máy bay tàng hình (MBTH) có nhiều cách “giấu mình”, đã tạo ra rất ít sự bộc lộ đó. Nhưng suốt hành trình bay, MBTH cũng phải liên lạc và phải mở thiết bị xác định độ cao, phải mở khoang vũ khí… Có MBTH gặp mưa, tác dụng tàng hình bị giảm…lúc này, máy thu, cảm biến của radar thụ động có thể thu liên tục tất cả các dấu hiệu ấy để tính toán tọa độ chính xác về mục tiêu, hỗ trợ tên lửa phòng không tiêu diệt MBTH.


    Đài thu tín hiệu thụ động thứ cấp của hệ thống VERA-E.
    Một nhược điểm của radar chủ động là, xung phát đi, nếu gặp máy bay tàng hình, sóng bị hấp phụ hoặc tán xạ ra nhiều hướng làm cường độ tín hiệu quay trở lại máy thu quá yếu, máy thu coi như bị "mù". Đó là chưa kể một số máy bay có thiết bị “cảm nhận” đang bị “bắt sóng”, và đối phó bằng các tên lửa chống radar.

    Tuy nhiên, với nguyên lý hoạt động của các hệ thống radar thụ động, khả năng sống còn cao hơn gấp nhiều lần. Các cuộc chiến tranh ngày nay đều diễn ra bằng các đòn đánh "phủ đầu" sử dụng sức mạnh không quân, MBTH "luồn lách" qua các hệ thống radar phòng không chủ động của đối phương và "vô hiệu hóa" chúng. Chính vì vậy, lúc này các hệ thống radar thụ động sẽ là đòn đáp trả "tương xứng", luôn sẵn sàng bắt bám mục tiêu MBTH để cho tên lửa phòng không tiêu diệt.

    Xu hướng phát triển công nghệ quân sự hiện nay đang tập chung chủ yếu vào các giải pháp tàng hình, vì thế, các phương pháp "chống tàng hình" cũng đang được rất nhiều quốc gia chú trọng. Các đài radar thụ động cũng đang được nhiều nước như Israel, Đức, Nga, Mỹ... tích cực nghiên cứu chế tạo. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, VERA cùng với Kolchuga mới thực sự là hai hệ thống trinh sát thụ động có khả năng phát hiện MBTH tốt nhất thế giới.

    Các biến thể

    Nhà sản xuất cung cấp hệ thống cũng đã tạo ra các cấu hình VERA khác nhau, gồm:

    VERA - P3D, đã được thương mại hóa, phạm vi hoạt động ngắn hơn và được dùng để giám sát các thiết bị phát đáp của các phương tiện mặt đất ở các cảng hàng không.

    VERA - AP, giám sát không lưu tầm xa cho dân sự và chỉ hoạt động trong dải tầm từ 1030 - 1090 Mhz.

    VERA - E, biến thể từ hệ thống ESM của quân đội, và dành riêng cho xuất khẩu. Như vậy, có thể khẳng định Việt Nam sẽ mua hệ thống VERA-E.

    VERA S/M biến thể cơ động cho riêng quân đội CH Séc sử dụng. Ngoài ra còn một số biến thể cho các nhiệm vụ khác nhau như VERA - ADSB, VERA - HME, VERA ASCS và BORAP.


    Chiến tích trên chiến trường và thương trường



    Nam Tư đã sớm có hệ thống radar thụ động Tamara (thế hệ trước của VERA), cùng với các loại radar khác, góp phần phát hiện và bắn hạ tại chỗ 1 máy bay F-117 của Mỹ trong bảo vệ vùng trời Kosovo năm 1999. Chính vì vậy, Tamara mà sau này là VERA đã được rất nhiều nước trên thế giới rất quan tâm đến.

    Máy bay tàng hình F-117, một máy bay mà không quân Mỹ vẫn cho là “trong suốt điện từ” nhưng lại bị bắn hạ bởi một hệ thống tên lửa SA-3 đã lỗi thời với sự hỗ trợ của hệ thống Tamara. Có thể chính vì vậy, tháng 8/2005, quân đội Mỹ đã từng gửi một nhóm chuyên gia quân sự của mình đến thành phố Pardubice, phía Đông Bohemia để tiếp quản một đài radar thụ động VERA do CH Séc sản xuất từ nhà xuất khẩu vũ khí Thomas CZ.

    Tại đây, nhóm chuyên gia quân sự Mỹ đã được huấn luyện cách vận hành hệ thống VERA mà sau này, một hệ thống như vậy đã được CH Séc cung cấp cho Mỹ nhằm mục đích nghiên cứu. Từ đó đến nay, có nhiều dư luận đánh giá, bàn luận về loại radar thụ động này của CH Séc, với nhiều thông tin đáng chú ý.



    F-117 Nighthawk của Không quân được cho là đã bị hệ thống Tamara phát hiện và cung cấp tham số bắn cho tên lửa S-125 của Nam Tư bắn rơi năm 1999.

    Ở CH Séc, lần đầu tiên, hai hệ thống giám sát thụ động, biến thể di động của hệ thống VERA S/M đã được bàn giao cho Trung đoàn số 53, thuộc Trung tâm Giám sát Thụ động đóng ở České Budějovice vào ngày 7/12/2004.

    Theo báo cáo năm 2005 của Mỹ, Việt Nam, Pakistan, Malaysia và Ai cập đã thể hiện sự quan tâm đến PSS VERA của CH Séc. Tuy nhiên, tại thời điểm đó mới chỉ có Estonia là có được hệ thống này sau CH Séc, Mỹ là nước quốc gia nước ngoài thứ hai mua hệ thống VERA.

    Năm 2004, thông qua công ty xuất nhập khẩu quân sự Omnipol, Trung Quốc đã đặt mua của Cộng hòa Cezch tất cả 6 hệ thống Vera-E trị giá 55,7 triệu USD. Tuy nhiên Mỹ đã gây sức ép với Thủ tướng Séc không được bán loại vũ khí này cho Trung Quốc, vì vậy hợp đồng đã không được thực hiện.

    Theo đài truyền hình CT của CH Séc, việc nước này bán vũ khí công nghệ cao cho Việt Nam, điển hình là hệ thống giám sát thụ động VERA sẽ không gặp phải trở ngại nào. Trong khi đó, Trung Quốc vẫn tiếp tục bị “cấm vận” đối với loại vũ khí phi sát thương này.


    Phạm Thái (tổng hợp)

    Đã có "gươm" rồi, mua cả "mộc" nữa cho đủ bộ!

    trentungcayso's Avatar

    trentungcayso

     18:44, 6th Apr 2012 #4513 

    Nghe "giang hồ" đồn rằng mình có mua của hãng ThomSon vừa đắt,vừa dở (?)

    No Avatar

    huuthanh

     14:42, 6th Apr 2012 #4495 

    Cái món này mình quan tâm từ lâu, nhưng nó thuộc danh mục công nghệ cao không được chuyển giao (NATO?). Giờ chắc bên nớ cần có đối trọng khá với TQ nó mới nới ra.



  6. #25
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Tác chiến điện tử và UAV Sentinel RQ-170
    Sự kiện chiếc máy bay tàng hình không người lái UAV Sentinel RQ-170 bị hạ tại Iran hiện đã trở thành tâm điểm chú ý của tất cả các nước trên thế giới. Sự kiện đã trở thành chìa khóa cho giải pháp chiến tranh phi đối xứng giữa các nước có nền công nghiệp quốc phòng siêu hiện đại và các nước nghèo, đang phát triển. Đống thời, nó cũng có thể đặt dấu chấm hết cho sự làm mưa làm gió của các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh thông minh bằng các phương tiện tác chiến điện tử có giá thành không cao nhưng hiệu quả.
    Sau khi sự kiện chiếc UAV Sentinel RQ-170 bị hạ, mọi nghi ngờ đổ dồn về các thiết bị phương tiện tác chiến điện tử siêu hiện đại của Liên bang Nga. Có rất nhiều ý kiến cho rằng, đó là kết quả của một tổ hợp tác chiến điện tử mà Nga vừa xuất khẩu cho Iran, có thể điều đó đúng, nhưng nếu theo dõi toàn bộ diễn biến và phân tích, có thể phía sau bức màn đối ngoại chính trị là một tình huống chiến trường hoàn toàn khác, và đơn giản hơn rất nhiều lần.

    Tổ hợp tác chiến và trinh sát điện tử Avtobasa 1L222 là tổ hợp tác chiến điện tử cơ động với các đài gây nhiễu SPN-2/SPN- 4. Nhiệm vụ chủ yếu của tổ hợp trinh sát – tác chiến điện tử là – phát hiện ở chế độ thụ động các đài phát radar, bao gồm có các đài radar hàng không rà quét mặt phẳng địa hình, radar điều khiển hỏa lực và radar dẫn đường bay trên độ cao thấp và chuyển tải thông tin đến trung tâm điều khiển tự động các radar hoạt động ở chế độ đo tọa độ góc (góc tà, góc phương vị, góc nghiêng của mục tiêu), các lớp radar, dải tần số của chúng trùng với số dải tần số lưu trữ trong các đài gây nhiệu SPN-2 hoặc SPN-4.


    Đài trinh sát và gây nhiễu điện tử 1L222 "Avtobaza" (http://www.rusarmy.com).

    Nguyên lý hoạt động của tổ hợp trinh sát – tác chiến điện tử trong chế độ tự động hóa cánh anten radar đài trinh sát điện tử quay tròn đều. Tổ hợp hoạt động trên các dải tần số bước sóng dài và các dải tần số chưa được phát hiện sử dụng. Toàn bộ dải tần số hoạt động được bao trùm bởi 3 dải tần số thứ cấp A, B và V đồng bộ với các dải tần số hoạt động của đài gây nhiễu SPN-2 và SPN-4. Phát hiện các radar đang hoạt động được tiến hành trên tất cả các dải tần số thứ cấp. Xác định góc tà, góc phương vị, các thông số về mục tiêu được tiến hành theo chùm tín hiệu nhận được (15 milli giây, tốc độ quay của anten là 12 vòng hoặc 30 milli giây với tốc độ vòng quay an ten là 6 vòng/phút).
    Thông tin đã được xử lý sẽ truyền về đài chỉ huy bằng cáp hữu tuyến có độ dài đến 100m và được đóng gói, chuyển tải với tốc độ là 1200 bốt (baud, đơn vị tốc độ điện báo). Thông tin về tình huống chiến thuật trên không trung chuyển tải đến đài chỉ huy, được thể hiện trên bàn điều khiển của trắc thủ. Theo khả năng của màn hình hiển thị của trắc thủ, trắc thủ có thể xác định được góc tà, góc phương vị, thông số kỹ thuật của ra dar đang phát sóng (tần số, độ dài bước sóng và chu kỳ phát xạ sóng radar) của đài radar bị phát hiện và bám đuổi.
    Kíp chiến đấu của tổ hợp có thể xây dựng và có được một ngân hàng cơ sở dữ liệu các đài phát ra đa các loại để dễ dàng xác định chủng loại radar, giới hạn vùng tìm kiếm mục tiêu theo góc phương vị đối với mỗi một chủng loại radar và phương tiện mang đồng thời đưa ra những giới hạn phát hiện mục tiêu với những thông số tiêu chuẩn quy định như tần số, độ dài bước sóng, tần số lặp phát xung, xác định chủng loại và thông số kỹ thuật của mục tiêu khi xử lý thông tin.

    Trong tổ hợp trinh sát, tác chiến điện tử có thiết bị bảo vệ các đài gây nhiễu chống lại các tín hiệu nhiễu xạ liên tục và các tín hiệu giả lập tương đương, hệ thống tự động hóa kiểm soát trạng thái hoạt động của các thiết bị thân xe, các bộ phận và các bloc của tổ hợp. Để có thể huấn luyện kíp chiến đấu trên xe trinh sát, tác chiến điện tử có khả năng mô phỏng các tình huống tác chiến đường không.

    Sử dụng tổ hợp trinh sát, tác chiến điện tử IRTR cùng với tổ hợp xe chỉ huy điều hành tác chiến cấp tiểu đoàn cho phép giảm thiểu sác suất nhầm lẫn khi xác định tần số và loại radar mục tiêu, tăng cường hiệu quả chế áp điện tử của cụm thiết bị trinh sát – tác chiến điện tử trung bình khoảng 30%.

    Biên chế tổ hợp:
    - Xe thiết bị với an ten thu phát trên thân xe Uran – 43203 với thùng xe kín và thiết bị lọc khí, làm mát và chống độc;
    - Trạm nguồn cơ động trên thân xe KamAZ-4310;

    Thông số kỹ chiến thuật tổ hợp trinh sát, tác chiến điện tử.:
    kíp chiến đấu - 4 người.
    Bước sóng của các tần số hoạt động: cm
    Độ nhạy của các đầu thu radar -88 dB / W.
    Tôc độ vòng quay của an ten - 6 / 12 vòng /phút
    Công suất nguồn sử dụng – không lớn hơn 12 kW
    Khoảng rồng vùng trinh sát, chế áp trong cùng một thời điểm:
    - Mặt phẳng góc phương vị xác định mục tiêu - 1,0 ± 0,4 độ
    - Trên mặt phẳng nghiêng:
    - ở tần số thứ cấp A,B - 18 độ
    - ở tần số thứ cấp V - 30 độ
    Giới hạn hoạt động theo tọa độ góc:
    - theo phương vị - 0-360 độ
    - theo góc nghiêng:
    - ở tần số thứ cấp А, B - 18 độ
    - ở tần số thứ cấp V - 30 độ

    Tầm xa hoạt động trinh sát của radar thụ động - 150 km
    Độ chính xác khi phát hiện mục tiêu (sai số trong khoảng):
    - theo góc phương vị - 0,5 độ
    - theo góc nghiêng địa hình - 3 độ
    Số lượng mục tiêu ( số lượng mục tiêu có thể tự động phát hiện theo góc phương vị vòng tròn) - 60
    Độ chính xác khi xác định tần số của đài phát radar ±30 MHz
    Thời gian lưu tính từ thời điểm phát hiện mục tiêu đến thời điểm truyển tải thông tin về xe chỉ huy tự động cấp tiểu đoàn – 50 mili giây.
    Điều kiện khai thác sử dụng:
    - Nhiệt độ môi trường -45 đến +40 độ.С
    - Độ ẩm môi trường – đến 98% với t=+25 °C
    - Áp suất khí quyển – đến 60 kPa (450 mm thủy ngân)

    Sử dụng : Liên bang Nga
    - 2011 . – Có trong biên chế trong hệ thống lá chắn trinh sát - chế áp điện tử chiến trường.

    Nước ngoài :
    Ngày 26 tháng 10 năm 2011, trên các phương tiện thông tin đại chúng có thông báo về tổ hợp 1L222 được xuất khẩu sang Iran. Ngày 05 tháng 12 năm 2011, trên các phương tiện thông tin của trang website Fightglobal có bản tin về việc người Iran đã sử dụng tổ hợp trinh sát, chế áp điện tử 1L222 để hạ chiếc máy bay không người lái công nghệ tàng hình hiện đại nhất của quân đội Mỹ RQ-170 Sentinel. Với những tính toán thông thường, bản thân sự kiện máy bay không người lái có thể có trục trặc dẫn đến hiện tượng mất điều khiển mà không cần đến tác nhân bên ngoài, những thông tin nắm bắt được hoàn toàn không trùng hợp với thực tế và vượt quá năng lực kỹ thuật của tổ hợp Avtobase theo lý thuyết để có thể hạ được chiếc máy bay không người lái tàng hình.

    Dấu vết của Bạch Nga trong những sự kiện tại Iran.
    Cùng với thời gian, những sự kiện về việc Iran hạ chiếc máy bay RQ-170 của Mỹ dần dần đi vào quên lãng. Có thể là những người quan tâm đến sự kiện đó bị các sự kiện khác nóng hơn lôi cuốn, hoặc cũng có thể, sự kiện sảy ra với một nguồn thông tin quá hạn hẹp. Nhưng nếu chúng ta nghiên cứu kỹ càng tất cả những thông số kỹ thuật, cũng như các tình huống đặt ra và những thông báo của cơ quan phát ngôn Iran, có thể thấy được rất nhiều các thông tin quan trọng. Việc tìm kiếm và đánh giá thông tin đó trên phương diện công nghệ khá khó khăn, nhưng có thể thấy được những dấu vết quan trọng.


    Máy bay trinh sát không người lái tàng hình RQ-170

    Sau khi bản tin về sự kiện bắt được chiếc máy bay không người lái tàng hình RQ-170 Sentinel gần như nguyên vẹn trừ những xây sước không đáng kể, trên trang The Christian Science Monitor xuất hiện một bài phỏng vấn của phóng viên tờ báo này với một kỹ sư nào đó người Iran, dường như có tham gia trực tiếp vào quá trình hạ chiến máy bay tàng hình. Bài phỏng vấn này được coi là nguồn tin căn bản để giải mã những khả năng có thể xảy ra khi Iran hạ chiếc RQ-170.
    Theo lời của người kỹ sư này, quá trình hạ chiếc máy bay tàng hình được tiến hành thành hai giai đoạn: Giai đoạn 1 bằng phương pháp sử dụng các tổ hợp kỹ thuật tác chiến điện tử làm nhiễu loạn và bịt hoàn toàn kênh chuyển tải thông tin tín hiệu radio giữa máy bay và trung tâm chỉ huy, điều khiển bay, theo kênh truyền thông này là sự trao đổi và truyền tải mệnh lệnh từ trắc thủ điều khiển bay đến máy bay RQ-170.
    Khi không nhận được tín hiệu điều khiển, RQ-170 tự động bật chế độ avtopilot. Cần phải khẳng định rằng, để dẫn đường bay trong điều kiện không có thông tin điều khiển bay, máy bay sẽ tự động bay về căn cứ, để làm được điều đó, máy tính điều khiển máy bay phải định vị và tìm đường bằng hệ thống định vị vệ tinh GPS. Các nhà khoa học Iran biết chắc chắn được điều đó và vào thời điểm cần thiết đã đưa những thông tin giả về tọa độ của máy bay vào hệ thống điều khiển. Kết quả là Sentinel lầm lẫn khi xác định một sân bay trên lãnh thổ Iran là sân bay của Mỹ, được bố trí ở Afganixtan. Sự việc mất thông tin về hệ thống dẫn đường quán tính là yếu tố chính dẫn đến sai lầm của hệ thống máy tính điều khiển máy bay – nếu như người kỹ sư Iran thực sự có tham gia vào chiến dịch hạ RQ-170, thì yếu tố định vị theo hệ thống GPS là chìa khóa then chốt trong toàn bộ chiến dịch này.
    Nhưng người Mỹ đã từ chối hoàn toàn giả thiết của tiến trình sự kiện. Theo tuyên bố chính thức từ Lầu năm góc, RQ-170 bị hạ hoàn toàn do hệ thống máy tính trên máy bay bị hỏng, và tại sao máy bay không bị vỡ tan ra từng mảnh là do hệ thống bay an toàn hoặc một nguyên nhân may mắn nào đó. Đồng thời, có nhiều quân nhân Mỹ, trong đó có cả những người có cấp hàm cao, cho rằng đấy chỉ là một maket rất giống thật chứ không phải là chiếc RQ-170.
    Giả thiết của người kỹ sư Iran giấu tên cũng có thể được loại trừ bởi kiến trúc của hệ thống GPS. Chúng ta đều biết, hệ thống GPS có hai cấp độ sử dụng L1 và L2, được dành cho các hoạt động quân sự và dân sự. Tín hiệu vệ tinh trong tần số L1 hoàn toàn mở, còn tín hiệu L2 được mã hóa dành riêng cho các loại vũ khí, trang bị quân sự.
    Theo lý thuyết có thể phá mã của L2 và đưa các thông tin giả lập vào cho Sentinel, nhưng hoản toàn không có chút thực tế kỹ thuật nào để phá một hệ thống tuyệt đối mật như vậy, và cũng không có khả năng ứng dựng thực tế! Đồng thời cũng hoàn toàn không rõ ràng, tần số tín hiệu nào chiếc RQ -170 đang sử dụng, dân sự hay quân sự. Người Iran có thể gây nhiễu hoàn toàn tần số của GPS, đồng thời đưa các tín hiệu giả dân sự cung cấp cho chiếc Sentinel với những thông số cần thiết. trong trường hợp này, Sentinel theo lập trình giả định sẽ tìm kiếm bất cứ một tín hiệu nào từ vệ tinh, dân sự hay quân sự và đã tiếp nhận nguồn thông tin mà các kỹ sư điện tử viễn thông Iran cung cấp để hạ cánh an toàn xuống sân bay Iran.

    Lần theo dấu vết này, chúng ta sẽ tìm đến một góc khuất hay nhất trong vở kịch máy bay tàng hình không người lái. Nền công nghệ của Iran hoàn toàn không có khả năng tạo ra được một hệ thống thiết bị điện tử tầm cỡ thế giới như vậy. Đương nhiên, Iran sẽ phải tìm kiếm sự hỗ trợ từ phía bên ngoài, hoặc sự hỗ trợ tự bản thân nó tự tìm đến. Trong các bản tin về sự kiện Sentinel nhiều lần được nhắc đến tổ hợp gây nhiễu và chế áp điện tử 1L222 Avtobasa của Liên bang Nga, nhưng phải chăng chỉ có Nga tham gia vào tiến trình hạ bệ chiếc máy bay siêu hiện đại này?
    Trên thực tế, 1L222 chỉ là một thành phần rất nhỏ trong hệ thống tác chiến điện tử vô cùng phức tạp. Trong thời kỳ Liên bang Xô viết, hệ thống tác chiến điện tử được nghiên cứu và triển khai không chỉ có trên đất nước Nga, mà rộng khắp trên tất cả các nước cộng hòa của Liên bang Xô viết. Sau thảm họa tan rã của CCCP, rất nhiều hệ thống tác chiến điện tử hiện đại có thể còn lại trên lãnh thổ của những quốc gia độc lập, có nhiều cơ sở nghiên cứu không còn tồn tại sau hàng chục năm sóng gió và khó khăn kinh tế, nhưng cũng có những cơ sở vẫn đứng vững, và tiếp tục hoạt động, nghiên cứu phát triển. Thực tế có nhiều các trung tâm nghiên cứu và phát triển ở Belarusia, nơi mà có thể được coi là đồng sự tham gia bí mật, với lý do là quan điểm đối ngoại của Phương Tây với Belarusia, cũng tương tự như Iran là những nước không thể tin tưởng. Và hoàn toàn không võ đoán, nếu như một hệ thống thiết bị hiện đại trong trường hợp cụ thể này đã tham gia bổ xung vào một hoạt động chính trị nhằm củng cố vị thế của mình cùng như là một cuộc thử nghiệm.

    Tập đoàn trang thiết bị điện tử hàng đầu của Belarusia trong lĩnh vực điện tử quân sự là Trung tâm nghiên cứu thiết kế và thử nghiệm "Radar” tại thành phố Minsk. Các sản phẩm của Bạch Nga tương đối rộng rãi, từ các trạm trinh sát phát hiện nguồn bức xạ radar đến các tổ hợp chế áp điện tử có khả năng gây mất truyền dẫn liên lạc từ hàng trăm nguồn phát xung khác nhau. Trong tất cả các trang thiết bị tác chiến điện tử đó, trong sự kiện Sentinel tổ hợp gây sự chú ý nhiều nhất là "Optima-3" và "Tuman.".
    Hai tổ hợp ày được chế tạo để chế áp hoàn toàn tín hiệu của hệ thống định vị vệ tinh GPS của Mỹ. Optima – 3 phát ra bức xạ xung hai tần số gây nhiễu có cấu trúc rất phức tạp, cho phép chế áp hoàn toàn tất cả các thành phần của tín hiệu từ vệ tinh, Nhưng cũng có thể người Iran không sử dụng Optima, do các đài chế áp điện tử của Belarusia được chế tạo rất đồng bộ và gọn, cho phép khả năng cơ động nhanh chóng từ vị trí chiến đấu này sang vị trí chiến đấu khác, loại đài chế áp này rất phù hợp cho các hoạt động chế áp vũ khí chính xác trên chiến trường (tên lửa hành trình, máy bay không người lái tầm thấp và các thiết bị bay tàng hình khác) nhưng lại ảnh hưởng rất lớn đến công suất phát xung.
    Theo tuyên bố của các chuyên gia, Optima – 3 phát tín hiệu gây nhiễu có công suất lớn hơn 10W. Có thể nói kW lớn hơn hàng chục W, nhưng con số đã nêu không đủ mạnh để chế áp các thiết bị bay trên độ cao lớn, đồng thời tầm xa tác chiến của tín hiệu gây nhiễu chỉ đạt đến 100 km theo mặt phẳng ngang.
    Tổ hợp gây nhiễu và chế áp điện tử hệ thống dẫn đường định vị vệ tinh GPS, GLONASS Optima - 3




    Thiết bị gây nhiễu và chế áp điện tử Tuman -2



    Nhưng tổ hợp Tuman có vẻ như là đài chế áp điện tử phù hợp hơn để gây nhiễu toàn bộ thiết bị định vị và dẫn đường. Hệ thống Tuman được chế tạo để chế áp hoàn toàn các tần số của hệ thống GPS và GLONASS. Đài chế áp điện tử được phát triển Tuman – 2 để chế ngự các vệ tinh điện thoại Inmarsat và Iridium. Những đặc điểm khác nhau giữa Optima và Tuman là khả năng lắp đặt trên các phương tiện mang, Optima – 3 chỉ có thế lắp đặt trên các trạm mặt đất, còn Tuman có thể lắp đặt trên máy bay trực thăng, máy bay chiến đấu hoặc vận tải, cũng có thể lắp đặt trên các máy bay không người lái. Theo thiết kế, bức xạ gây nhiễu của thiết bị đặt trên phương tiện bay tương đương như bức xạ gây nhiễu của thiết bị đặt trên mặt đất. Tầm xa gây nhiễu của thiết bị cũng đạt đến 100 km. Khi công tác chuẩn bị tốt thì hiệu quả đạt được của hai loại đài phát tương đương như nhau, mặc dù có những nghi ngờ về các thông số kỹ chiến thuật của các thiết bị.

    Như vậy, về hệ thống GPS định vị và dẫn đường quán tính, có thể nói đã được phân tích khá đầy đủ. Nhưng vấn đề hoàn toàn không đơn giản như vậy. Nếu như người kỹ sư ẩn danh Iran thực sự là một kỹ sư điện tử viễn thông và đã tham gia vào chiến dịch hạ chiếc RQ-170 Sentinel, vấn đề còn lại là tìm ra một hệ thống, hệ thống có khả năng đưa các thông tin giả lập về tọa độ vào máy bay không người lái. Về lý thuyết, đài gây nhiễu hoàn toàn có thể không đơn thuần chỉ phát xung gây nhiễu, mà có thể truyển tải thông tin với những thông số nhất định. Đó là về lý thuyết, còn về thực tế, giải pháp này có thể được áp dụng cho các đài phá các tần số từ hệ thống GPS hay không, hoàn toàn không có câu trả lời. Cũng có khả năng các nhà kỹ sư thành phố Minsk có thể nhìn thấy trước được vấn đề, và đã thiết lập hệ thống thu nhập và giả lập các thông số tọa độ tương tự như GPS hoặc GLOLASS hay Bắc đẩu, nhưng cố gắng giữ bí mật không công bố rộng rãi..

    Như chúng ta đã thấy, các thiết bị tác chiến điện tử được sản xuất để chế áp hoặc gây nhiều hay giả lập các tín hiệu của hệ thống định vị vệ tinh không chỉ có ở Mỹ hoặc ở Liên bang Nga. Nhưng theo một nguyên nhân nào đó không thể hiểu nổi, tất cả các quân nhân và các nhà phân tích đều ngả về phía các phương tiện tác chiến của Nga. Chỉ có một tổ hợp Avtobasa cũng đã gây nhiều tiếng vang trên các phượng tiện thông tin đại chúng và tốn khá nhiều giấy mực. Ví dụ: Nguyên đại sứ Mỹ tại Liên hiệp quốc, ông John Bolton đã đánh giá rất cao những tính năng kỹ chiến thuật của các trang thiết bị tác chiến điện tử của nền công nghiệp quốc phòng liên bang Nga, mặc dù cách nói của ông cựu đại sứ tương đối gián tiếp – lời phát biểu của ông cựu đại sứ đại khái như sau: nếu như các phương tiện gây nhiễu tác chiến điện tử của Liên bang Nga tiếp cận Iran, thì đối với Mỹ đó là những vấn đề vô cùng nghiêm trọng. Nhưng đối với các phương tiện tác chiến điện tử từ Belarusia, vì sao đó ông ta không nhắc đến, cùng có thể đơn giản là ngài cựu đại sứ không biết. Nhưng Teheran có thế biết, và không những biết, mà có thể khai thác sử dụng nó hiệu quả. Như vậy chiếc máy bay xấu số RQ-170 Sentinel của tháng 12 có thể không phải là chiếc máy bay kém may mắn đầu tiên, và cũng chẳng phải chiếc cuối cùng.
    Xét trên góc độ vũ khí trang bị, đại đa số các loại máy bay không người lái và vũ khí chính xác đều dựa trên cơ sở phát xạ sóng radio để dẫn đường, định vị, xác định mục tiêu và tấn công mục tiêu, có nghĩa là phụ thuộc vào các hệ thống GPS, GLONASS hay Bắc Đẩu. Sự phát triển của hệ thống chế áp điện tử GPS giá rẻ sẽ làm thay đổi mọi quan điểm chiến tranh, khi các khí tài vũ khí trang bị có độ chính xác cao bị tách rời khỏi radar và hệ thống định vị, điều đó đồng nghĩa với tên lửa Tomahawk với giá tiền lên đến hơn 1 triệu USD và các trang thiết bị vũ khí thông minh và đắt đỏ sẽ trở thành loại vũ khí, phương tiện phi điều khiển dưới các dụng của nhiễu, chế áp điện tử và hoàn toàn bị vô hiệu hóa nếu các nước nghèo, trong các tuyến phòng thủ có được hệ thống tác chiến điện từ với các trang thiết bị rẻ tiền đến từ Minsk.

    Tác giả: Riabok Curill
    Biên dịch và tổng hợp: Trịnh Thái Bằng-Tech.edu
    Tổng hợp từ InterNet

  7. #26
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Tên lửa khổng lồ đời mới của Triều Tiên: Của thật hay đồ giả?

    (Tamnhin.net) - CHDCND Triều Tiên muốn gây ấn tượng với dân chúng và thế giới bằng việc đem tên lửa khổng lồ ra diễu binh, nhưng các chuyên gia Đức lại cho đây là “đồ rởm”.


    Để hù dọa kẻ thù và phục vụ cho mục đích tuyên truyền, nhiều nước đã không học theo câu châm ngôn “Binh bất yểm trá” của Tôn Tử. Iran tuyên bố sẽ nhanh chóng “sao chép” máy bay không người lái tàng hình của Mỹ mà nước này bắt được gần đây. Trước đó, Tehran cũng đã tung ra nhiều hình ảnh giả mạo về phóng thử tên lửa nhằm khiến cho phương Tây nản chí.

    Trong cuộc diễu binh ngày 15/4/2012, Bắc Triều Tiên đã “trình làng” loại tên lửa khổng lồ mà tin đồn cho là thuộc dự án “KN-08”. Theo các phương tiện truyền thông của Hàn Quốc, đó là một loại tên lửa đạn đạo xuyên lục địa mới.

    Thế nhưng, qua phân tích các bức ảnh, giới chuyên gia Đức lại cho rằng đó là “đồ rởm”, được chắp vá một cách vụng về và khiến người ta dễ dàng nhận biết chân tướng. Nếu quả là đúng, thì đây sẽ là một sự tủi hổ thứ hai của nhà lãnh đạo trẻ Kim Jong Un sau vụ phóng bất thành tên lửa Unha-3 mang vệ tinh lên quĩ đạo.

    Trong một bài phân tích dày 6 trang, chuyên gia quân sự Đức Robert Schmucker và đồng nghiệp Markus Schiller đã mổ xẻ các bức ảnh về loại tên lửa đạn đạo khổng lồ này. Nếu xét theo kích thước hiện có, loại tên lửa đạn đạo 3 tầng này có thể bắn xa tới 10.000 km.

    Thế nhưng, các bức ảnh nói trên lại bộc lộ những sự “dối trá chết người”.





    • Tên lửa không phù hợp với đế phóng: Các bức ảnh cho thấy có độ vênh đáng kể giữa tên lửa và đế phóng ở phía sau. Bề mặt của đầu đạn có nhiều lượn sóng như thể người ta hàn một lớp tôn mỏng vào khung thép. Các chuyên gia tin rằng đây là một dấu hiệu rõ ràng về tên lửa giả vì đầu đạn của tên lửa đạn đạo sẽ phải chịu được nhiệt độ và áp suất cực cao khi từ vũ trụ bay vào bầu khí quyển Trái Đất. Bề mặt lượn sóng này đã bộc lộ sự mỏng manh của vỏ đầu đạn, không hề thích hợp với tên lửa đạn đạo xuyên lục địa.

    • Giữa đầu đạn và tầng thứ ba của tên không có chỗ cho một thiết bị phân tách.

    • Đầu đạn này hoàn toàn khác với các loại đầu đạn hiện hành, với hình dáng hoàn toàn mới. Hai nhà phân tích Schmucker và Schiller viết: "Nếu Triều Tiên thực sự phát triển một đầu đạn hạt nhân, họ phải thuân thủ những thiết kế đã trải qua thử nghiệm thành công”.



    • Các tên lửa “đạn đạo xuyên lục địa” cùng loại được phô diễn trong cuộc diễu binh lại không giống nhau. Trên các bức ảnh, người ta có thể thấy rõ các dây dẫn được lắp đặt ở những vị trí khác nhau và các chi tiết cấu thành không hoàn toàn giống nhau. Thậm chí, có chi tiết được lắp ở tên lửa này nhưng lại không hề có ở các tên lửa đồng loại khác.

    • Các thành phần của động cơ tên lửa nhiên liệu đẩy rắn và lỏng rất khác nhau và không bao giờ có thể hoạt động hữu hiệu. Các chuyên gia Đức chế giễu: “Xem ra Bắc Triều Tiên đã trình làng loại tên tửa hỗn hợp dùng cả nhiên liệu rắn lẫn nhiên liệu lỏng đầu tiên trên thế giới”.

    Hai chuyên gia vũ khí Đức nói trên kết luận đây là những quả tên lửa giả được chắp vá một cách vụng về và lộ liễu. Theo họ, loại tên lửa đạn đạo xuyên lục địa khổng lồ đến thế ít ra cũng đã phải phóng thử thành công ít nhất một lần, trong khi ba vụ phóng thử tên lửa đạn đạo tầm xa của Bắc Triều Tiên đều thất bại.



    Có một điều rõ ràng là Bắc Triều Tiên vẫn đang theo đuổi chương trình tên lửa đạn đạo xuyên lục địa và biết đâu thất bại lại là "mẹ đẻ của thành công”.


    Minh Châu (theo Spiegel Online)

  8. #27
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết
    Mỹ phát triển công nghệ dẫn đường không phụ thuộc GPS
    Cục Các dự án nghiên cứu quốc phòng tiên tiến DARPA thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ đã mở thầu chế tạo hệ thống dẫn đường quán tính mới không phụ thuộc GPS.

    Hệ thống này sẽ cho phép sử dụng vũ khí chính xác cao chống các nước có các phương tiện tác chiến điện tử và chống vệ tinh mạnh.

    Hiện nay, hầu như toàn bộ các vũ khí chính xác cao của Mỹ đều dựa vào GPS. Tuy nhiên, tín hiệu GPS yếu nên ở nhiều khu vực, nhất là vùng núi thì thiết bị GPS không hoạt động được.

    Ngoài ra, một số quốc gia có lực lượng tác chiến điện tử nên Mỹ không hy vọng GPS làm việc ổn định khi xảy ra chiến tranh chống lại các nước này (ví dụ như Iran). Còn Trung Quốc thậm chí còn có các vũ khí tiêu diệt vệ tinh định vị của đối phương.
    Các hệ thống dẫn đường quán tính vi cơ điện tử dựa trên điện tử silic được phát triển từ lâu tại phòng thí nghiệm MicroSystems Laboratory, Đại học California ở Irvine. Nhưng nay quân đội Mỹ cần các phương tiện còn hiệu quả hơn (UC Irvine)
    Để hành động trong tình huống đó, các hệ thống riêng biệt của vũ khí được trang bị các bộ ổn định con quay lắp liền, bảo đảm tính toán vị trí của tên lửa, ổn định bay cho nó…

    Những thiết bị đầu tiên như vậy đã được lắp cho ngư lôi từ thế kỷ 19. Nhưng khó khăn là ở chỗ chúng đắt đỏ, cồng kềnh, nặng nề và không phải lúc nào cũng tin cậy. Chúng không thể sử dụng cho nhiều hệ thống chiến thuật cần nhẹ và cơ động cao.

    Mới đây, DARPA đã mở thầu chế tạo các mẫu hệ thống dẫn đường quán tính dựa trên một module micro hỗn hợp cơ sở duy nhất. Việc này được tiến hành trong khuôn khổ một giai đoạn của chương trình micro-PNT (Positioning, Navigation and Timing).

    Được sự quan tâm là Chip-Scale Combinatorial Atomic Navigator (C-SCAN), một hệ thống kết hợp các sensor quán tính có nguyên lý làm việc khác nhau có khả năng bổ sung thông tin cho nhau và bảo đảm cungc ấp dữ liệu chính xác và được kiểm chứng về vị trí của thiết bị.

    Các mục tiêu chính của chương trình con C-SCAN là nghiên cứu khả năng vi hình hóa và sản xuất các hệ thống dẫn đường quán tính cỡ nano và phát triển các thuật toán và cấu trúc cho phép hợp nhất dễ dàng trong một thiết bị các dữ liệu từ các thiết bị quán tính microв làm việc theo các nguyên lý khác nhau.

    Hệ thống dẫn đường quán tính micro mà DARPA muốn có được có thể tích không quá 20 cm³ và tiêu thụ không quá 1W. Hiệu suất của C-SCAN phải “cao hơn mọi thiết bị có sẵn hiện nay”. Giới hạn sai số cho phép khi xác định giá tốc của vật thể là 10-6g, còn khi xác định tốc độ góc là 10-4 độ/h. Hệ thống đạt khả năng hoạt động đầy đủ kể từ thời điểm khởi động lạnh là không quá 10 giây.

    Các nguyên lý làm việc của những hệ thống đó không còn là bí mật. Trong khuôn khổ chương trình Micro-PNT, Mỹ từ lâu phát triển các con quay dựa trên cộng hưởng từ vi hạt nhân (micro-nuclear magnetic resonance), sử dụng chuyển động quay của hạt nhân nguyên tử trong từ trường. “Loại con quay này không có các bộ phận chuyển động và không nhạy cảm với các dao động gia tốc và rung động”, lãnh đạo chương trình Andrei Shkel cho biết.

    Ngoài ra, nó lại nhỏ hơn hai chục lần và không tiêu thụ nhiều năng lượng như các loại tương tự hiện có. Theo ông Shkel, các phương án khác để giải quyết nhiệm vụ tham vọng này như các hệ thống vi cơ điện tử dựa trên điện tử silic lại nhạy cảm hơn nhiều với rung động nên không thể đáp ứng yêu cầu của DARPA. Tuy nhiên, không loại trừ sử dụng chúng làm các hệ thống phụ trợ, dự phòng cho các con quay dựa trên cộng hưởng từ vi hạt nhân.

    Phạm vi sử dụng các hệ thống dẫn đường quán tính micro có thể rất rộng, từ bảo đảm dẫn đường cho các toán lính chạy bộ trên chiến trường cho đến định hướng cho máy bay không người lái và máy bay không người lái tiểu hình, tàu lặn quân sự và tên lửa có điều khiển mà không cần đến GPS. Những hạn chế về trọng lượng và kích thước nêu trong yêu cầu cuộc thầu khắt khe đến mức về lý thuyết có thể ứng dụng cho cả các hệ thống trước đây thuộc loại chính xác cao.

    Việc thực hiện toàn quy mô các chương trình kiểu như vậy sẽ củng cố ưu thế của quân đội Mỹ trong lĩnh vực vũ khí chính xác cao trong mấy chục năm tới. Dĩ nhiên là nếu các quốc gia phát triển còn lại tiếp tục thụ động quan sát những gì đang diễn ra và không định nhảy vào cuộc đua này.

    Nam Xương (theo DARPA, Compulenta)






    No Avatar

    huuthanh

     20:47, 15th May 2012 #5547 

    Đã từng có những hệ dẫn đường nào? Thiên văn, quán tính, vô tuyến, GPS, bây giờ lại là quán tính lượng tử?



  9. #28
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,134
    Thích
    0
    Đã được thích 438 lần trong 294 bài viết
    Đột phá F-16 không người lái


    Mỹ đang nhanh chóng phát triển phiên bản không người lái (UAV) cho dòng chiến đấu cơ F-16 lừng danh của nước này.

    Mới đây, hãng máy bay Boeing đưa ra thông cáo cho biết vừa thử nghiệm thành công chiến đấu cơ QF-16, phiên bản UAV của dòng F-16. Theo đó, hồi đầu tháng 5, Boeing đã tiến hành chuyến bay thử chiếc QF-16 trong khoảng thời gian 66 phút và đạt trần độ cao gần 12,5 km. Trong lần thử nghiệm này, một phi công lão luyện vẫn có mặt trên khoang lái nhằm phòng ngừa trường hợp máy bay mất kiểm soát.
    Tuy nhiên, người phi công trên đã không phải can thiệp vào quá trình bay khi trung tâm điều khiển mặt đất hoàn toàn làm chủ tình hình trong suốt 66 phút. Ông Bob Insinna, Giám đốc chương trình QF-16 của Boeing, tuyên bố: “Đây là cột mốc lịch sử quan trọng đối với chúng tôi”. Từ thành công này, Boeing tự tin sẽ thực hiện đúng tiến độ kế hoạch bàn giao chiếc QF-16 đầu tiên cho không quân Mỹ vào năm 2014.
    Chương trình QF-16 được Boeing bắt đầu xúc tiến từ năm 2010 với chi phí nghiên cứu phát triển là 70 triệu USD do Bộ Quốc phòng Mỹ cung cấp. Theo đó, hãng này sẽ tiến hành nâng cấp hệ thống phần cứng lẫn phần mềm của dòng chiến đấu cơ F-16 để chuyển đổi thành QF-16 có thể được điều khiển bởi phi công lẫn trung tâm mặt đất. Không chỉ có khả năng vận hành tương đương F-16, QF-16 còn được trang bị hầu hết các loại khí tài như tên lửa, bom, pháo để tác chiến đa nhiệm. Tuy nhiên, đến nay, Boeing chưa chính thức công bố thông tin chi tiết về các loại vũ khí gắn trên QF-16.
    Theo kế hoạch, Boeing sẽ hoàn thiện tổng cộng 126 chiếc QF-16 cho không quân Mỹ kể từ năm 2014. Như vậy, trong tương lai không xa, Mỹ sẽ sở hữu một lực lượng hùng hậu chiến đấu cơ thế hệ 4 phiên bản UAV. Vốn dĩ, chiến đấu cơ F-16 đạt tốc độ tối đa Mach 2 (nhanh gấp 2 lần vận tốc âm thanh), tầm bay 4.200 km và bán kính chiến đấu là 550 km. Về vũ khí, F-16 có thể gắn được tên lửa đối không, đối đất lẫn đối hạm cùng nhiều loại bom khác nhau.

    Chiến đấu cơ không người lái QF-16 vừa bay thử nghiệm thành công - Ảnh: Globalnewspointer

    Fire Scout MQ-8B đang được hải quân Mỹ sử dụng - Ảnh: Jrfreeland
    Kỷ nguyên mới
    Thời gian qua, Mỹ không ngừng tăng cường phát triển phiên bản UAV cho hầu hết các chủng loại máy bay. Hồi tháng trước, chuyên trang hàng không Flightglobal dẫn thông báo từ hải quân Mỹ cho hay Tập đoàn Northrop Grumman vừa nhận được khoản đầu tư 262 triệu USD để phát triển trực thăng không người lái Fire Scout MQ-8C.
    Đây là phiên bản tiếp theo của chiếc Fire Scout MQ-8B có tốc độ bay 200 km/giờ, bán kính chiến đấu 200 km và đạt trần bay 6 km. Loại UAV này còn được trang bị tên lửa tấn công mặt đất hoặc bom dẫn đường bằng laser. Dự kiến, hải quân Mỹ sẽ đặt hàng 28 chiếc Fire Scout MQ-8C.
    Không chỉ phát triển phiên bản UAV cho trực thăng tấn công, Mỹ còn phát triển tàu không gian không người lái. Theo tờ Daily Mail, tính đến tháng 3, nước này đã nhiều lần thử nghiệm thành công máy bay X-37 được trang bị khả năng tấn công các thiết bị cảm biến không gian, vốn đảm trách việc cung cấp dữ liệu mục tiêu cho tên lửa đối hạm. Nhờ đó X-37 trở thành phương tiện phòng vệ cho tàu chiến Mỹ trước các cuộc tấn công bằng tên lửa. Như vậy, Mỹ đang hướng đến việc sở hữu phiên bản UAV của chiến đấu cơ phản lực lẫn máy bay trực thăng chiến đấu và tàu không gian. Hiện tại, quân đội Mỹ thường xuyên thực hiện nhiều phi vụ không kích bằng 2 loại UAV vũ trang là MQ-1 Predator và MQ-9 Reaper.

  10. #29
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,225
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Những khẩu súng bộ binh hàng đầu thế giới (bài 1)


    QĐND Online – Súng trường tấn công bộ binh là loại vũ khí ít thay đổi và chỉ sau mấy chục năm mới xuất hiện một thế hệ súng mới. Trình độ sản xuất súng bộ binh được xem xét như một yếu tố đánh giá tiềm lực, trình độ khoa học kỹ thuật quốc phòng một nước. Mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau lại có các loại súng bộ binh phù hợp được ra đời để đáp ứng nhiệm vụ. Dưới đây là 10 loại súng bộ binh được đánh giá tốt nhất thế giới hiện nay.
    Khẩu SCAR của Bỉ
    Ngày 15-10-2003, Bộ Tư lệnh tác chiến đặc biệt Mỹ (USSOCOM) chính thức yêu cầu Bộ Quốc phòng Mỹ cho phép lính đặc nhiệm thuộc Lực lượng tác chiến đặc biệt Mỹ sử dụng khẩu SCAR.
    Tại sao lực lượng đặc nhiệm Mỹ lại thích sử dụng loại súng này? Nó có ưu điểm gì nổi trội. Chuyên gia vũ khí phân tích: khẩu SCAR có nhiều tính năng ưu việt như: áp dụng nhiều công nghệ vũ khí mới, các phần mô-đun thiết kế hợp lý, có tính khoa học cao, dễ sử dụng, thích nghi với nhiều điều kiện tác chiến phức tạp của Lực lượng đặc nhiệm Mỹ. Một quan chức quốc phòng Mỹ tiết lộ, trong tương lai, khẩu SCAR sẽ thay thế dòng M16 và M4 mà Lực lượng đặc nhiệm Mỹ vẫn dùng.

    Khẩu SCAR có khá nhiều ưu điểm như tháo lắp dễ dàng, dễ thay đổi độ dài ngắn và đường kính nòng. Theo thiết kế, SCAR có thể thay đổi độ dài ngắn và đường kính của 3 kiểu nòng khác nhau: nòng súng tiêu chuẩn (chuẩn S); nòng súng chiến đấu cận chiến (chuẩn CQC); nòng súng bắn tỉa (chuẩn SV). Trong số này, nòng súng theo chuẩn SV là loại đặc biệt. Được thiết kế cao cấp, có độ chính xác và kết cấu phức tạp.
    Việc mô-đun hóa các chi tiết của súng cũng giúp lính đặc nhiệm cơ động và hành động hiệu quả hơn nhờ việc thay đổi nòng súng và các linh kiện đi kèm cho phù hợp với nhiệm vụ một cách nhanh chóng.

    Do thiết kế đặc biệt dành cho lính đặc nhiệm, SCAR có khả năng nổi trội là tiếng động rất nhỏ khi bắn. So sánh với nhiều loại súng khác đây là ưu thế tuyệt đối của SCAR. Cũng bởi lý do này FN - công ty chế tạo loại vũ khí này đã giành được thiện cảm của các quan chức quân đội Mỹ.

    SCAR có hai loại chính. Một loại sử dụng đạn có kích thước 5,56×45mm, đây được gọi là (SCAR-L) - còn được gọi là loại nhẹ. Một loại khác dử dụng đạn kích thước 7,62x51mm, được gọi là (SCAR-H) còn gọi là loại nặng. Quân đội Mỹ đang ưu tiên sẽ mua loại (SCAR-L). Có một điểm chung cho cả loại (SCAR-H) và (SCAR-L) là đều sử dụng chung kiểu kết hợp mô-đun hóa cả nòng súng và các bộ phận đi kèm khác trên thân súng. Điều này có nghĩa, cả hai loại súng có thể thay thế, lắp lẫn khá nhiều loại linh kiện đi kèm cho nhau. Chính tính thông dụng và khả năng lắp lẫn cho nhau giữa hai loại súng đã giúp binh lính rút ngắn thời gian huấn luyện và sử dụng; nâng cao hiệu quả nhiệm vụ, khả năng ứng biến với mọi tình huống khẩn cấp của các thành viên trong đội đặc nhiệm.Loại súng SCAR-L có thể sử dụng được cả hai loại đạn là đạn 5.56×45mm cải tiến và đạn 5.56mm cải tiến. Loại SCAR-H, ban đầu các nhà thiết kế chỉ cho phép sử dụng đạn 7.62×39mm, sau này đã điều chỉnh thêm cả loại 7.62×51mm theo tiêu chuẩn đường kính của NATO.
    Trong tương lai, các nhà sản xuất còn muốn nghiên cứu để súng có thể bắn được thêm một số loại đạn với các đường kính khác. Ví dụ SCAR-L có thể bắn được với đạn 7.62×39mm; 5.45×39mm; 6.8×43mm SPC. Trong khi đó SCAR-H có thể bắn được loại đạn 300WSM. Những khẩu súng trong hệ thống SCAR có độ bền chắc, chính xác và tin cậy cao. Súng dễ sử dụng do có chế độ tự động bắn. Ngoài ưu điểm tiếng ồn ít, SCAR còn là khẩu súng có mỹ thuật vào dạng đẹp nhất hiện nay. Thêm một ưu điểm khác là có thể bắn tốt trong mọi môi trường, không cần chế độ chăm sóc bảo dưỡng quá tỉ mỉ.SCAR tiêu chuẩn yêu cầu sử dụng đầy đủ cả báng súng. Tuy nhiên trong một số trường hợp có thể tháo phần báng. Đối với SCAR-L, khi lắp nòng súng tiêu chuẩn, báng súng xếp theo chế độ gập, toàn thân súng chỉ dài 760mm; với chế độ nòng súng tiêu chuẩn và thân báng để ở chế độ tiêu chuẩn, tổng chiều dài thân súng là 850mm. Trọng lượng súng không có hộp tiếp đạn là 3,3kg. Về các chỉ số tương ứng, SCAR-H hơn một chút so với SCAR-L là 770mm; 1020mm và nặng khoảng 4kg.
    Khẩu TAR (Tavor Assault Rifle) của Israel

    Trong những năm gần đây, thương hiệu, giá cả và trên hết là sự đa năng của khẩu TAR đang hấp dẫn thị trường vũ khí bộ binh trên thế giới, trong số này nhiều nước ở châu Á tỏ ra đặc biệt quan tâm.
    Ngoài Israel, Azerbaijan, Bồ Đào Nha, Brazil, Colombia, Ethiopia, Gruzia, Guatemala, Nigeria, các nước châu Á như Ấn Độ, Philippines, Thái Lan… đã mua và trang bị loại súng trường này và trang bị cho các đơn vị đặc biệt. TAR do công ty chế tạo vũ khí IMI của Israel nghiên cứu chế tạo. Súng sử dụng đạn 5.56mm, được ra đời với mục đích thay thế loại M16 vẫn đang được sử dụng trong nhiều đơn vị của Israel, như các đơn vị đặc nhiệm, các đơn vị chính quy làm nhiệm vụ chiến đấu thường xuyên.
    IMI khẳng định, TAR không phải là khẩu súng cải tiến từ M16, mà TAR là loại súng hoàn toàn mới, có bản sắc riêng, và là loại súng mang đầy đủ các tính năng theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng Israel.

    Ý tưởng thiết kế, chế tạo TAR được hình thành từ những năm 90 của thế kỉ trước. Tuy nhiên ý tưởng thiết kế TAR lại không do các chuyên gia chuyên về thiết kế vũ khí nghĩ ra, mà là do hai người ngoài ngành chế tạo vũ khí nghĩ ra.
    Hiện tại TAR đang đạt được doanh số bán hàng đáng khâm phục. Sở dĩ đạt được doanh số sản lượng như vậy bởi súng có khá nhiều ưu điểm đã được thẩm định bởi chính binh lính từng sử dụng: súng nhẹ, kết cấu súng chắc chắn, dễ sử dụng, độ chính xác và độ bền cao, có thể thích nghi trong nhiều môi trường tác chiến, bắn tốt cả ban ngày và ban đêm, dễ dàng tháo lắp… (còn nữa…)
    NGUYỄN HÒA (sưu tầm và biên dịch)

  11. Có 1 người thích bài viết này


  12. #30
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,225
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Những khẩu súng bộ binh hàng đầu thế giới (bài 2)

    AK200 của Nga

    QĐND Online - Báo chí Nga cho biết quân đội nước này đang có tiến hành những bước thử nghiệm cuối cùng với mẫu súng trường tấn công Kalashnikov mới - mẫu AK-200. Những ưu điểm và cải tiến của AK200 đang được kỳ vọng sẽ góp phần tăng cường sức mạnh cho người lính Nga. AK200 được chuyên gia đánh giá có hiệu quả cao hơn từ 40 - 50% so với súng thế hệ trước, là loại súng hiệu quả và phù hợp với tình hình nhiệm vụ hiện tại của quân đội Nga.
    Tính năng và thiết kế mới của AK-200 giúp nó trở thành loại vũ khí thông dụng trong các đơn vị lục quân, đặc biệt là các đơn vị đặc nhiệm. Căn cứ vào kết quả thử nghiệm, Bộ Quốc phòng Nga dự kiến sẽ đưa AK-200 vào các chương trình đặt mua vũ khí quốc gia trong thời gian tới.AK200 được xây dựng dựa trên nguyên mẫu AK-74M, loại súng tiêu chuẩn của quân đội Nga. Súng mới có giá để lắp các thiết bị phụ trợ như máy ngắm, bộ chỉ thị mục tiêu laser và đèn pin. Tuy nhiên AK200 nặng hơn AK-74M (3,8 kg so với nguyên mẫu 3,3 kg). Điểm nổi bật của khẩu AK-200 là có nhiều cỡ băng đạn 30, 50, 60 viên, trong khi khẩu AK-74M chỉ có một cỡ 30 viên).
    Chiều dài của súng cũng được tăng lên, giúp tăng độ chính xác, giảm độ giật so với súng thế hệ trước. Do đặc điểm súng nhẹ, đạn nhỏ nên một xạ thủ có thể mang được lượng đạn gấp 1,5 lần so với trước. Binh sĩ sử dụng súng này cũng dễ mang vác, xoay xở và trở nên linh hoạt hơn trên chiến trường. Tính năng kỹ, chiến thuật của AK-200 tương đương với các loại súng bộ binh tương tự và tối tân nhất trên thế giới hiện nay. AK200 cũng được thiết kế theo dạng mô-đun, cho phép thay đổi nhanh kết cấu của súng. Việc mô-đun hóa giúp AK200 tương thích với các loại thiết bị hỗ trợ và các hệ thống vũ khí khác. Đặc điểm nổi bật của AK-200 là cơ cấu ngắm hở, hộp đạn có dung lượng lớn và có khả năng thay cỡ đạn nhanh chóng bằng cách thay nòng súng.
    Tân Tổng thống V.Putin đích thân kiểm tra súng
    Hai chân giá súng có bản lề để gập vào thành tay cầm hay mở ra làm giá súng. Một điều khác dễ nhận thấy là nắp hộp súng có ray gắn khí tài rất tiện dụng và phù hợp với xu thế thiết kế súng hiện nay. Đế lắp kính ngắm đặc ở sườn súng vẫn được giữ lại, nhằm tương thích cả chuẩn Nga lẫn chuẩn NATO. Tay cầm cũng được điều chỉnh nhằm tạo sự thoải mái, chắc chắn khi cầm nắm.Ở gốc tay cầm có một cái lẫy, tác dụng chặn cò súng tạm thời. Khi súng đã mở khóa lên đạn, để tránh cướp cò không cần phải đóng tay khóa lại mà gạt lẫy chặn cò lên, khi cần bắn có thể gạt lẫy xuống nhanh chóng.
    Cựu Tổng thống Nga D.Medvedev trong một lần thử súng
    Bộ phận ngắm phía sau đã được cải tiến! Thước ngắm chia vạch định tầm, điều chỉnh bằng con trượt được thay thế bằng cơ cấu trục xoay nhiều nấc. Quanh núm điều chỉnh khắc số có tác dụng điều chỉnh cự ly ngắm bắn. Hiện tại AK200 chỉ sử dụng loại đạn 5.45mm; các chuyên gia đang phát triển AK200 trở thành loại súng có thể sử dụng nhiều loại đạn khác nhau. Theo thiết kế, rõ ràng AK200 hơn hẳn AK74M, tuy nhiên sau khi có các thử nghiệm ban đầu, các chuyên gia Nga thừa nhận, về hình thức hay về một số tính năng khác AK200 vẫn còn phải tiếp tục cải tiến để sánh ngang và cạnh tranh với các loại súng hàng đầu hiện nay.
    Khẩu CZ 805 BREN của Séc
    Khẩu CZ805 BREN của Séc ban đầu được gọi là CZ805A. Đây là một trong những loại súng bộ binh mới nhất mà Séc sản xuất. Lần đầu tiên súng được công khai tại một hội chợ quốc phòng năm 2007. Tuy nhiên, mọi chi tiết về súng vẫn chưa được công khai. Các chuyên gia vũ khí đánh giá, khẩu CZ805 BREN chịu ảnh hưởng nhiều cả về tính năng và thiết kế của khẩu FN SCAR. Ngoài ra súng có một số chi tiết khá giống với XM8 và G36.CZ805 phiên bản đầu tiên chính thức công khai lần đầu tiên năm 2009. Năm 2010, Bộ Quốc phòng Séc cho phép một số phận trong quân đội Séc sử dụng. CZ805 cũng sử dụng thiết kế mô-đun hóa. Hiện súng có hai loại sử dụng đạn 5.56×45mm và 7.62×39mm. Tới đây sẽ nâng cấp thêm một phiên bản nữa với đường kính nòng 6.8mm.
    Nòng của CZ805 cũng sử dụng theo chế độ tháo lắp nhanh. Mỗi loại đường kính nòng lại có 4 nòng với độ dài ngắn phù hợp với từng hoàn cảnh chiến đấu, như nòng ngắn để đột kích; loại nòng tiêu chuẩn; loại nòng bắn tỉa, loại nòng đa dụng tự động. Súng sử dụng theo nguyên lý hoạt động trích khí hành trình ngắn. Hệ thống dẫn khí có thiết bị điều chỉnh khí, có thể thay đổi, điều chỉnh theo nhu cầu sử dụng.Phần báng súng có thể thò ra thu vào hoặc gấp xếp theo thân súng. Thân súng có nhiều chi tiết sản xuất từ hợp kim nhôm. Phần thân trên có các khớp, rãnh vừa có thể lắp kính quang học, vừa có tác dụng làm kính nghắm thông thường. Hộp tiếp đạn tháo lắp dễ dàng. Chế độ bắn bao gồm bắn từng viên, hai viên một và bắn liên thanh. Chốt an toàn trên thân súng sẽ điều khiển từng chế độ bắn theo yêu cầu sử dụng.
    Hộp tiếp đạn được thiết kế theo phong cách hộp tiếp đạn của G36, hộp tiếp đạn được chế tạo bằng loại vật liệu tổng hợp có màu trong mờ ở phần nửa trên của hộp tiếp đạn, vì vậy có thể nhìn rõ đạn trong hộp tiếp đạn.Tuy có học hỏi nhiều của FN SCAR nhưng nhiều chi tiết cũng cho thấy sự sáng tạo của nhà thiết kế. Ví dụ, năm 2010, phần báng súng cũng đã được cải tiến để súng có thể ôm sát người sử dụng, chống rung, giật tốt trong quá trình bắn.
    (còn nữa…)
    NGUYỄN HÒA (sưu tầm và biên dịch)

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •