CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 3 của 5 Đầu tiênĐầu tiên 12345 CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 41

Chủ đề: CUỘC ĐỜI VÀ CHIẾN TRẬN

  1. #21
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    115
    Thích
    1
    Đã được thích 8 lần trong 4 bài viết

    Re: CUỘC ĐỜI VÀ CHIẾN TRẬN

    Chiến dịch Hòa Bình – đường số 6 kết thúc thắng lợi,cuối năm 1952 chúng ta đã mở thong tuyến bàn đạp nối liền với đồng bằng Bắc Bộ với chiến trường Tây Bắc rộng lớn.Từ đó,quân ta tiến lên Tây Bắc và chiến đấu trên vùng chiến trường Thượng Lào là vùng xung yếu về mặt chiến lược của giặc Pháp.
    Sau khi quân ta chiến thắng oanh liệt, tiêu diệt hoàn toàn đồn Tu Vũ, chiến dịch Tây Bắc được mở màn vào ngày 14 tháng 10 năm 1952.
    Trong khi các Đại đoàn 316 và 312 đánh tiêu diệt các vị trí Ca Vịnh và Sài Lương,Đại đoàn 308 được lệnh tiến về bao vây Nghĩa Lộ.
    Trung đoàn 88 của chúng tôi được lệnh tiêu diệt đồn giặc ở Nghĩa Lộ phố-còn Trung đoàn 102 tấn công Nghĩa Lộ đồi.
    Căn cứ Nghĩa Lộ phố bên A(mặt Bắc, Nam,Tây đều là ruộng nước và đồi trọc, dân cư ở phía Đổngất đông đúc). Địch tổ chức nhiều trạm cảnh giới nhỏ gây khó khăn cho việc tổ chức tân công của quân ta.
    Các đơn vị đã lợi dụng pháo sang của địch tiến nhanh vào vị trí xuất phát xung phong.
    3 giờ sang ngày 18 tháng 10 năm 1952, trung đoàn hạ lệnh cho các đơn vị chuẩn bị sẵn sang phát hỏa. Đại đội 209 nghe lầm, truyền cho tiểu đoàn 23 thành “lệnh phát hoa”, nên đơn vị đã đánh ngay 5 quả bộc phá mở đột phá khẩu.
    Trước tình hình đó, trung đoàn trưởng lập tức hạ lệnh nổ súng tấn công.
    Tôi dẫn đại đội 211 đánh sang phía tiểu đoàn 29, chiếm lĩnh lô cốt đầu cầu, tạo điều kiện cho đại đội Tô Văn tiến lên mở cửa. Đại đội trưởng Lê Trần Quang cùng các chiến sỹ hành động mau lẹ, cắt gọn từng lớp dây thép gai.
    Quân địch chống trả quyết liệt. Chúng hy vọng máy bay đến chi viện cùng với quân dù ứng cứu. Quân ta dung trung liên áp chế, tạo thời cơ cho bộ đội bắc ván trải chăn, vượt qua hang rào kẽm gai, xông thẳng vào đồn giặc.
    Trung đội trưởng Phạm San nhanh chóng dẫn đội đột kích 1 nhảy vào chiếm ngay ụ sung địch, trung đội phó Bùi Thế Miến dẫn đội đột kích 2 vào theo, chiếm ngay luôn 2 căn nhà trước mặt. Quân địch lập tức châm lửa vào thùng xăngđốt ngay căn nhà sát liền đó, tạo thành bức tường lửa ngăn chặng quân ta. Đồng chí Bùi Thế Miến bị súng máy bắn trúng, tay phải gãy lủng lẳng. Anh nghĩ tới tấm gương của La Văn Cầu, can đảm, bình tĩnh bảo một chiến sỹ:”Lưỡi lê đâu, chặt cánh tay mình đi cho khỏi vướng!”. Xong, anh buộc chặt phần cánh tay còn lại tiếp tục chỉ huy chiến đấu.
    Các mũi tấn công của quân ta mạnh nhưng địch chống trả quyết liệt. Trung đoàn lệnh tổ chức lại đội hình, chia khu trung tâm thành đôi, mỗi tiểu đoàn đánh địch trong từng khu vực.
    Tôi được lệnh dẫn một trung đội xung kích thọc sâu vào đánh bộc phá trong lô cốt Múi Khế cuối cùng của đồn giặc. Trong lô cốt có một tên lính Mẹo bị xích chân vào khẩu đại liên, nó chống cự đến cùng. Ngay khi tôi cùng các chiến sỹ đánh bộc phá thì DKZ lại bắn thẳng vào hỏa điểm, làm tôi trúng mảnh đạn và sức ép, bị thương nặng.
    Trận Nghĩa Lộ phố kết thúc lúc 5 giờ 30 phút sáng. Đây là trận đánh công kiên điển hình về thời gian quân ta chuẩn bị nhanh, tiêu diệt gọn và ít thiệt hai.
    Trong Đông- Xuân 1952-1953, nổi bật lên là 2 trận đánh lớn mang tính chiến dịch, đó là trận đánh tập đoàn cứ điểm Nà Si- Nà Sản.
    Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ở Bắc Bộ, lần đầu tiên cũng là lần duy nhất quân chủ lực của ta thất bại tại Nà Sản. Sau cả hai đợt tập trung sức mạnh cao của các đơn vị bộ đội chủ lực đánh vào Nà Sản,chúng ta đều không giải quyết được chiến trường.
    Đại đội tôi bấy giờ tiến công Nà Si. Nà Si-Nà Sản cùng một số đồn bốt, bãi mìn, lô cốt liên hoàn phụ cận ở vùng Thượng Lào này lập thành tập đoàn cứ điểm chiếm đóng, kiểm soát, kiềm chế một vùng chiến lược rộng lớn. Rút kinh nghiệm những khó nhăn thất bại ở Nà Sản, trong trận công kiên đánh đồn diệt giặc rất quyết liệt ở Nà Si, chúng tôi đã cùng các đơn vị bạn hợp đồng tác chiến dũng mãnh và chặt chẽ, làm quân địch không chống cự nổi. Lần đó tôi bị thương nặng khi vào đặt bọc phá đánh cửa mở bị sức nổ mạnh hất xuống suối cạn, nằm bất tỉnh. Tôi mê man nằm nằm cạnh một đồng chí tổ trưởng xung kích đã bị tử thương. Sau 3 ngày đêm đơn vị mới trở lại tìm kiếm, đón được tôi về căn cứ, thì xác đồng chí ấy đã trương sình, thối rữa…
    Lúc ấy, hình ảnh đồng chí liệt sỹ và cảnh tượng chiến trường mịt mù khói lửa sau khi quân ta tiêu diệt được đồn giặc rút đi, tôi chỉ còn mơ màng thoáng nhớ thoáng quên để rồi sau đó ngất lịm đi như một cái xác chết. Người ta thường cho tôi là”cao số”, nhưng sau này suy nghiệm lại, mình sống được sau 3 ngày đêm một phần là do cơ thể và sinh lực của tuổi trẻ đang độ sung mãn, tiềm tang, lại nhờ có những cơn mưa nhỏ mát dịu về ban đêm dội lên thân thể.

  2. #22
    Ngày tham gia
    22-12-2010
    Bài viết
    639
    Thích
    487
    Đã được thích 210 lần trong 128 bài viết

    Re: CUỘC ĐỜI VÀ CHIẾN TRẬN

    Trích dẫn Gửi bởi dksaigon
    Mấy cha này í ới cái giề ?! lão Sông Lô tay nghề gõ phím tính ra đã mấy năm, tất nhiên trình phải nâng cao " chai tay bắn giỏi ", không phục à ? :lol:

    Lão ấy được " lên trung ương " thì phải chúc mừng, liên hoan ( chờ đấy lão sắp vào rồi ) ! cứ thắc mắc thế này thế nọ như GiangNH, thì coi chừng bị điều... lên giữ đền Preah Vihear bây giờ ! :mrgreen:
    Thôi chết em rồi, thế mà nọ tới nay cứ ăn nói linh tinh, phạm thượng chết. Hắn mà soi là chết iem.
    Dưng mà cụ dk phải nói kỹ là hắn "được lên trung ương" là trung ương nào chứ :
    - TW fulro ? TW kháng chiến của thằng đệ tử lão hàng xóm xấu tính ? hay là TW của ...Tân Việt ? :lol: :roll: :???:

  3. #23
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    115
    Thích
    1
    Đã được thích 8 lần trong 4 bài viết

    Re: CUỘC ĐỜI VÀ CHIẾN TRẬN

    V. ĐIỆN BIÊN PHỦ , DẤU ẤN VÀNG SON

    Sau những ngày hành quân đánh giặc từ Tây Bắc sang Thượng Lào, đơn vị đã trở về căn cứ của Đại đoàn.
    Bị thương nặng ở Na Sì, tôi được về thu dung điều trị một thời gian rồi quay về đơn vị. Đông- Xuân 1953, tôi đã là đại đội trưởng đại đội mũi nhọn của lực lượng bộ binh xung kích của Đại đoàn 308, vẫn thuộc Trung đoàn 88, do các đồng chí Thái Dũng , Nam Hà chỉ huy. Từ cuối năm 1952 đến hết mùa đông 1953, phần lớn những hoạt động của Trung đoàn là đánh giặc trong chiến dịch Tây Bắc. Mùa Xuân 1953, các sư đoàn quân tinh nhuệ của chúng ta đã tập trung về Tây Bắc, từ Thượng Lào, từ Thanh Hóa đến đường số 6 Hòa Binh, chuẩn bị cho chiến trường Điên Biên Phủ lịch sử.
    Khi Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bộ đội các Đại đoàn 308, 312, 304, các đoàn công pháo 351… đã sẵn sàng; tinh thần, ý trí chiến đấu lên rất cao. Cán bộ chiến sỹ nô nức chờ đón chiến dịch. Và cùng với nhân dân, mà tiêu biểu là các đoàn dân quân hỏa tuyến, chính những chiến sỹ, cán bộ của các đơn vị này đã viết lên trang sử hào hung, góp phần to lơn trong tất cả những trận đánh trên mặt trận Điện Biên Phủ oai hùng, góp phần làm lên chiến thắng lịch sử mang ý nghĩa cực kỳ trọng đại về chính trị cũng như quân sự, đưa cách mạng giải phóng dân tộc lên bước phát triển mới .
    Chiều ngày 13 tháng 3 năm 1954, ta mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ. Đại đoàn 312 tiêu diệt cứ điểm Him Lam.( Chỉ huy Pháp đặt tên là Pe’atrice) được quân địch mệnh danh là” pháo đài bất khả xâm phạm”. Đêm 14 rạng sáng ngày 15 tháng 3 năm 1954, Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) được giao nhiệm vụ đánh vào hướng đông bắc đồi Độc lập, Trung đoàn 165 (Đại đoàn 312) đảm nhiệm hướng đông nam đồi Độc lập. (Chỉ huy Pháp đặt tên là Gabrienlle). Đây là vinh dự cho Trung đoàn 88 của chúng tôi, vì là trận đánh đầu tiên của Đại đoàn 308.
    Các đại đội Tô Văn, 211,213,219,225 đều là quân xung kích của Trung đoàn 88, tôi được chỉ huy đại đội 225.
    Cứ điểm Độc lập có lô cốt và chiến hào vững chắc, bố trí trên toàn bộ một quả đồi, nằm độc lập với các cứ điểm khác. Nó án ngữ con đường từ Lai Châu về Mường Thanh. Cứ điểm này dài 700m rộng 200m, bao bọc bằng nhiều lớp hàng rào kẽm gai dày trên 100m.
    Lực lượng địch gồm có 1 tiểu đoàn An-giê-ri và 1 đại đội lính ngụy Thái, được tăng cường 4 khẩu cối 120 ly, có đại pháo ở Mường Thanh- Hồng Cúm chi viện mạnh. Đây là “cánh cửa sắt” của tập đoàn cứ điểm Điên Biên Phủ.
    Đơn vị của chúng ta mới hành quân vu hồi, trở về sau chiến dịch Thượng Lào.
    Trung đoàn 88 chịu trách nhiệm đột kích hướng đông bắc, tức là quay lưng về hướng cụm cứ điểm Mường Thanh, nằm đúng vào khu vực địch chú trọng kiểm soát và đã có sẵn tọa độ bắn cho pháo binh và máy bay.
    Ban đêm, bộ đội rải đội hình đào hào giao thông; ban ngày, nghe phổ biến bàn kế hoạch tác chiến, hiệp đồng chiến đấu, chuẩn bị trang bị vật chất, đạn dược.
    Tôi còn nhớ mãi một kỷ niệm. Trước ngày tiến công giặc, sáng 13 tháng 3 năm 1954, đại đội tôi quân phục chỉnh tề, đứng tập trung trong chiến hào. Ai cũng biết giờ phút quan trọng đã đến. Đồng chí chính trị viên đại đội đọc to: “Thư của Hồ Chủ Tịch gửi toàn thể cán bộ, chiến sỹ Điện Biên Phủ”. Tiếp đó công bố lệnh tổng động viên của Đại tướng Tổng tư lệnh: “Kiên quyết tiêu diệt quân địch tại Điện Biên Phủ”.
    Bộ đội ta vô cùng xúc đông. Người người phấn đấu trước trách nhiệm nặng nề của người chiến sỹ Cách mạng bừng bừng khí thế tấn công. Ngay chiều tối hôm đó, cứ điểm Him Lam bị tiêu diệt bởi Đại đoàn 312.
    Mất Him Lam nên suốt chiều ngày 14 tháng 3 địch bắn phá dữ dội xung quanh cứ điểm Đôc Lập hòng phá cuộc tiến công của quân ta.
    15 giờ chiều, những mũi giao thông hào đã đến sát đồn địch, cự ly gần nhất 150m.
    Tiểu đoàn 29 được làm mũi đột kích. Đại đội Tô Văn được làm mũi chủ công, đã dàn sẵn đội hình theo dọc đường giao thông hào, có trục xẻ sâu bên sườn núi, có cây cối rậm rạp che kín. Máy bay địch gầm rú trên bầu trời trận địa.
    Trung đoàn hạ lệnh cho đơn vị tiến ra chiếm lĩnh vị trí xuất phát tấn công. Lúc này, sơn pháo 75 ly phối thuộc vẫn chưa đến kịp.
    Bộ đội chuyển động dưới trời mưa tầm tã. Quân ta bất chấp địch bắn pháo 105 và 155 ly mỗi lúc một dồn dập, các chiến sỹ cởi áo để che bộc phá và súng đạn, khẩn trương tiến vào chiếm lĩnh trận địa. Nhiều cán bộ, chiến sỹ đã hy sinh và bị thương trên đường tiến quân.
    Pháo địch bắn ác liệt, đến mức ở tuyến hỏa lực ngắm bắn trực tiếp sát bờ suối, cách đồn địch 150m, một tiểu đội trưởng của khẩu đội Mac-xim bị chấn động thần kinh, mất trí, đột nhiên hét toáng lên:” Xung phong!”trong khi toàn trận địa đang lặng im giữ bí mật suốt trong đêm. Chỉ huy tuyến hỏa lực phải lập tức ra lệnh đưa người tiểu đội trưởng này về tuyến sau, vào quân y trung đoàn.
    Bắt đầu từ 17 giờ, lựu pháo 105 ly của ta đã bắn vào đồi Độc Lập. Địch ở Mường Thanh bắn trả. Sự việc này đã diễn đi diễn lại đến nửa đêm. Lựu pháo của ta buộc phải bắn kéo dài để chờ sơn pháo 75 ly và cối 120 ly đến kịp.
    Trời đổ mưa to, giao thông hào ngập nước, bùn lầy quánh lại, di chuyển rất khó khăn. Bộ đội phải kiên nhẫn chờ đợi trong trận địa ngập nước dưới làn pháo hạng nặng của địch trút xuống liên hồi.
    Đúng 3 giờ 30 phút, từ phía Đông trọng pháo 105 ly gầm lên, trút bão lửa xuống đồn địch. Đồng thời tuyến hỏa lực ngắm bắn trực tiếp của tiểu đội và trung đoàn gồm 9 khẩu đội ĐKZ ở cự ly gần 150m đồng loạt bắn thẳng vào những ụ súng, từng hỏa điểm. Sáu khẩu đại liên Mac-xim nổ ròn, làn đạn liên thanh xia thẳng vào những hỏa điểm trong và bên sườn cứ điểm còn lập lòe. Ở tuyến hỏa điểm bắn thẳng cách đồn địch 100m, 10 khẩu đội Ba-zô-ka đồng thời phóng những quả đạn lõm vào đồn giặc.
    Bị hỏa lực ta áp chế, tuyến tiền duyên vòng ngoài của địch bị tê liệt. Thời điểm đột phá thuận lợi đã đến. Pháo 105 ly của ta đã chuyển làn vào trung tâm .
    Lúc ấy, Nguyễn Văn Ty nằm ở cuối đội hình trung đội cũng đã lên đến đường mở. Anh chợt lo lắng vì thấy ánh chớp của các quả bộc phá dần dần bị chếch đi. Đường mở lệch hướng chăng? Nguyễn Văn Ty từng là liên lạc của ban chỉ huy các tiểu đoàn ở các trận đánh Gối Hạc (Ninh Bình), Tu Vũ (Hòa Bình) và Nghĩa Lộ, nên hiểu rõ và thấm thía sự nguy hiểm của việc” Mở lệch đường”.
    Lợi dụng pháo sáng địch, Ty ngắm đúng hướng rồi xông xáo dẫn từng chiến sỹ bộc phá lao lên. Bộc phá nổ liên tiếp theo đúng hướng đã chỉnh. Mười chiến sỹ bộc phá đều đã hoàn thành xuất sắc công việc mở đường, mở cửa. Lô cốt địch đã hiện ra rất gần. Tôi lập tức dẫn đại đội 225 xông lên, đưa đơn vị bộc phá tiếp ứng cho đồng chí Ty và an hem đại đội Tô Văn mở đường thắng lợi.
    Đến 4 giờ 30 phút ngày 15 tháng 3 năm 1954, đại đoàn thông báo cho trung đoàn 88 biết, ở mũi Đông Nam, Trung đoàn 165 đã có một bộ phận vào đột phá tung thâm đồn địch. Nhưng pháo địch bắn chặn ác liệt, chưa một đồng chí nào vượt lên được. Đại đội trưởng gọi điện báo về trung đoàn. Chính ủy trung đoàn chỉ thị:”Dù khó khăn đến thế nào cũng phải tổ chức xung phong cho bằng được! Trên sẽ tạo điều kiện cho các đồng chí hoàn thành nhiệm vụ”.
    Bộ chỉ huy mặt trận cho pháo binh áp chế pháo địchở Mường Thanh. Và một trận đấu pháo dữ dội diễn ra làm rung chuyển cả thung lũng Mường Thanh. Mười phút sau, các chiến sỹ xung ích đã nhất tề vùng dậy, xông thẳng vào đồn địch.
    Không phải ngẫu nhiên mà các tướng lĩnh đế quốc, kể cả đại tướng Mỹ Ô-đa-ni-en (O Daniel) người có trách nhiệm đôn đốc, giám sát việc thực hiện kế hoạch Na-va (H. Navarre) ở chiến trường Đông Dương, sau khi thị sát chiến trường Điện Biên Phủ đã đánh giá là cứ điểm bất khả xâm phạm. Địch còn ngạo mạn coi Điện Biên Phủ là Véc-đoong (Verdum) của Pháp trong chiến tranh Đông Dương. Những kẻ cầm đầu đội quân xâm lược Pháp quả là đã dương một cái bẫy bất lợi nhằm thu hút và tiêu diệt các binh đoàn chủ lực của ta. Chỉ nhìn vào đại đội 211 của tôi đã thấy sự hy sinh là khá lớn; sự thử thách ý chí, quyết tâm, lòng dũng cảm và trí tuệ đạt tới đỉnh cao. Quân số, súng đạn, trang bị liên tục bổ sung mà vẫn thiếu. Nhiều chiến sỹ mới tôi chưa kịp nhớ tên đã vĩnh viễn nằm lại mảnh đất này. Cực khổ, thiếu thốn thì không sao tả xiết. Suốt ngày dầm mưa để đào hào, đánh lấn. Nhìn anh em bùn đất từ đầu đến chân, tôi nảy ra sáng kiến cạo trọc đầu, vừa thể hiện quyết tâm chiến đấu vừa cho mát, cho tiện lúc đánh giáp lá cà không bị bọn lính Pháp cao hơn túm tóc. Sáng kiến này được cả đại đội đồng tình. Thế là người nọ cắt tóc, cạo đầu cho người kia, chả mấy chốc cả đơn vị đầu trọc lốc như sư. Từ đó, đại đội 211 có cái tên“ đại đội trọc đầu” và tôi mang biệt danh” đại đội trưởng trọc đầu”. Không ngờ cái biệt danh này trở lên ấn tượng, đến tai các anh ở sở chỉ huy mặt trận, 30 40 năm sau, khi Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp gặp tôi, vẫn còn gọi” đại đội trưởng trọc đầu”.

    Hết trang 56

  4. #24
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    115
    Thích
    1
    Đã được thích 8 lần trong 4 bài viết

    Re: CUỘC ĐỜI VÀ CHIẾN TRẬN

    Chiều ngày 14 tháng 3 năm 1954, từ dưới công sự đường hầm , tôi đang đi kiểm tra lại vị trí xuất phát xung phong và động viên chiến sỹ chuẩn bị tinh thần cho trận đánh mang tính quyết định mở màn chiến dịch, thì trung đoàn trưởng điện xuống hỏi:
    “Đại đội đã sẵn sàng chưa?” Tôi trả lời:- “ Tất cả đã sẵn sàng xuất kích” . Tôi vừa nói xong thì pháo binh ta dội bão lửa xuống đồn giặc. Trời đất rung chuyển. Cứ điểm địch trên đồi Độc Lập mịt mù khói lửa.
    Bộc phá đã hoàn thành nhiệm vụ, xung kích ào ạt tiến công vào tung thâm. Trận địa sáng rực dưới ánh sáng của bãi mìn mà quân ta bắn trúng. Một hình ảnh vô cùng xúc động. Mặt đất đỏ lửa, không gian chói lòa ánh lửa màu vàng, với những tia chớp giật xanh lè ánh lên nền trời hòa đầy khói lửa.
    Tôi dẫn đầu đại đội xông lên, sau khi đại đội 211 bộc phá dọn đường qua bãi mìn và kẽm gai, đánh cùng với đơn vị đồng chí Nguyễn Ngọc Doãn trung đoàn 165- Đại đoàn 312.Quân địch dựa vào lô cốt chống trả quyết liệt. Đại đội chủ công của Trung đoàn 165 đang quần nhau quyết liệt với chúng. Chúng tôi đã phối hợp chặt chẽ với trung đoàn 165 đánh tiêu diệt sở chỉ huy và tiểu đoàn Âu- Phi.
    Đến 6 giờ 30 phút ngày 15 tháng 3 năm 1954, Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Độc Lập. Trong cuộc chiến này nổi lên gương hy sinh anh dũng chiến đấu của nhieeufanh hùng, dũng sỹ. Những chiến sỹ của đại đội tôi cũng như các đại đội xung kích, đã nêu nhiều tấm gương anh dũng chiến đấu tuyệt vời, nhiều cán bộ chỉ huy trực tiếp và chiến sỹ ở chiến hào đã hy sinh lẫm liệt. Đại đội trưởng Đại đội 213 Nguyễn Phạm dung súng ngắn tiêu diệt giặc. Sau khi diệt được 3 tên địch, anh bị thương nặng và đã trút hơi thở cuối cùng ngay tại chiến trường khói lửa. Anh là cán bộ đại đội” dao nhọn” cùng lớp chúng tôi ở Điên Biên Phủ, đã cùng kề vai sát cánh trên chiến hào đỏ lửa. Họ là những cán bộ - chiến sỹ của Đại đoàn Quân tiên phong anh hùng.
    Mỗi lần nghĩ về trận chiến đồi Độc Lập, tôi là nhớ đến các anh, những chiến sỹ xung kích oai hùng ngày ấy.
    Đối với tôi, trận đánh đồi Độc Lập đã ghi dấu ấn sâu sắc về cách đánh giặc mưu trí và dũng cảm, khéo léo và linh hoạt. Đặc biệt quan trọng là bài học về “ mở đường” và” mở cửa” khi phát động công kích, xung phong.
    Bài học thực tế chiến đấu ở đồi Độc Lập ngấm sâu vào tâm trí tôi. Nhất là cách đánh thọc sâu, chia cắt vùng tung thâm, đánh vào sở chỉ huy. Đó cũng là những bài học cho bộ binh cấp phân đội sau ngày ứng dụng và phát huy trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
    Trận đánh đồi Độc Lập để lại bao kỷ niệm sâu sắc. Những hình ảnh sinh động ở chiến trường cam go đầy máu lửa mãi mãi còn lại trong tâm trí mình, giữa muôn ngàn tấm gương hy sinh dũng cảm của đồng đội, với ý trí kiên cường bất khuất, với tinh thần quyết chiến, quyết thắng xông lên tiêu diệt quân thù.
    Hơn 50 năm đã trôi qua, những hình ảnh và diễn biến chiến trường kể từ khi mở màn chiến dịch ở đồi Độc Lập trên chiến trường Điện Biên Phủ năm xưa còn đọng lại trong tâm trí và tiềm thức của tôi rõ nét, sinh động. Từng giờ khắc của từng trận đánh, từng ngày , từng đêm,vật lộn với quân giặc trong từng đường hầm, lô cốt, rào kẽm gai, bãi mìn, dưới làn bom đạn của quân thù. Đại đội của tôi đã đứng vững, góp phần giành thắng lợi trong trận đánh lớn mang tính lịch sử.
    Sau này, khi đã trở thành cán bộ chỉ huy cấp cao, trong nhiều chiến dịch, tôi trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh Mỹ- Ngụy. Khi gặp những tình huống đánh công kiên, tiến công cứ điểm phòng ngự chắc, tôi lại nhớ các trận đánh và kinh nghiệm tác chiến đồi Độc Lập-1954, đồn Tu Vũ-1951.
    Tiếp theo chiến thắng đồi Độc Lập là thời gian chuẩn bị xây dựng trận địa bao vây tấn công. Đơn vị tôi tham gia xây dựng trận địa bao vây tấn công. Đơn vị tôi tham gia xây dựng trận địa ở phía Tây Mường Thanh, tổ chức lại đường hào phía nam đồi Độc Lập qua bản Kéo, chuẩn bị trận địa tấn công cứ điểm Huyghet (Huguette) trong trung tâm đề kháng của sân bay, và cứ điểm 311A.
    Bộ đội vừa qua những ngày đêm máu lửa nay lại hăng hái dũng cảm, bền bỉ vượt qua mệt nhọc và giá rét lạnh lẽo. Suốt đêm thâu, đào trận địa xuyên qua đất đá, ruộng lầy, đóng cọc dưới trời mưa xối xả. Chúng ta dũi tới bằng cách đào giao thông hào dưới lòng đất. Nhớ lại tôi càng thấy thấm thía cái dũng khí can trường của chiến sỹ quân đội Cách mạng, truyền thống đó được chủ tịch Hồ chí Minh từng đúc kết thành câu nói ngắn ngọn và đầy đủ: “ Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” !.
    Chính trong những ngày tháng khó khăn, gian khổ thiếu thốn tại chiến hào, chúng tôi, những cán bộ chiến sỹ mặt trận Điện Biên Phủ, được nghe thư của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Đó là nguồn động viên, cổ vũ tinh thần to lớn đối với bộ đội ta. Nhận thức ý nghĩa đó, tôi cùng cả đội xung kích tổ chức đọc thư của Đại tướng. Từng tiểu đội, từng trung đội, sau khi nghe thư, có phát biểu thu hoạch, nhận thức tình hình và nhiệm vụ nặng nề của mặt trận.
    Sau khi nghe thư của Đại tướng, mọi cán bộ chiến sỹ đã nhận ra lợi ích sống còn của việc xây dựng trận địa. Bộ đội ta rất phấn khởi, rất hăng say, quên hết mọi mệt nhọc, làm rất tốt nhiệm vụ đào chiến hào để chuẩn bị tổng công kích.
    Gần đây khi viết hồi ký “ Điện Biên Phủ- Điểm hẹn lịch sử”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết về chiến hào trong chiến dịch Điện Biên như sau:
    “ Trận địa địch là những đường hào, hầm hố đỏ quạch, bố trí rất tập trung, khép kín, nằm chết cứng giữa rừng dây thép gai màu chì và bãi mìn, chi chit những chiếc dù sặc sỡ. Trận địa ta là những đường hào trục chạy dài ngút tầm mắt bao quanh trận địa địch không có vật cả thuần một màu đất đỏ tươi, bên trong có nhiều nhánh vươn về phía trận địa địch, trong quá trình phát triển tự nó lại mọc thêm những nhánh mới. Vòng dây khổng lồ sinh sôi nhanh chóng này, chính là cái đã quyết định số phận của con nhím thép Điện Biên Phủ”.
    Còn phía địch, một số sỹ quan Pháp có tuổi, giàu kinh nghiệm, đã cảnh báo Cô-nhi ( Rene’ Cogny), Tư lệnh quân Pháp ở Bắc Bộ, người đã 11 lần đến cứ điểm Điện Biên Phủ, phải chuẩn bị cho Đờ-Cát sẵn sàng đối phó với” Chiến tranh chiến hào”.
    Quyết định đánh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là quân ta đã chính thức chấp nhận sự thách thức từ lâu của quân thù. Và lần đầu tiên, hình thức chiến đấu trận địa xuất hiện ở Điện Biên Phủ. Lịch sử của quân đội viễn chinh Pháp và lịch sử của quân đội Cách mạng non trẻ Việt nam, trên một bình diện chiến trị đối nghịch sẽ gặp nhau ở cánh đồng Mường Thanh. Nơi đây sẽ diễn ra trận chiến sinh tử, quyết định số phận của thực dân Pháp trên bán đảo Đông Dương. Đây cũng là lần đầu tiên quân ta chọn và áp dụng linh hoạt hình thức tác chiến bằng trận địa bao vây và tiến công.
    Còn một kỷ niệm không thể nào quên trong đợt tiến công sân bay Mường Thanh của đội quân xung kích chúng tôi. Vào đầu cuộc tiến công, ngày 20 tháng 4 năm 1954, đại đội 225 của tôi được sự hỗ trợ của đại đôi 213, đã phản xung phong, khôi phục và giữ vững trận địa. Lúc đó đại đội 213 do chính trị viên Nguyễn Hữu Hiệp và đại đội trưởng Mai Viết Thiềng chỉ huy, vừa về tới hào giao thông thì bị súng cối và pháo 105 ly của địch bắn tới tập vào đúng trận địa của đại đội tôi, đồng thời pháo địch đồng loạt bắn cấp tập vào sau lưng đội hình của đại đội 211 và tổ chức phản kích giành lại địa bàn. Tiểu đoàn ra lênh cho đại đội 213 lập tức phản công xung phong, đẩy địch ra khỏi trận địa, dung một tiểu đội xông thẳng lên đánh giáp lá caf với địch dọc theo các đường hào hẹp. Theo kế hoạch hợp đồng trước đó, tiểu đoàn gọi pháo 105 ly và súng cối của trung đoàn kịp thời chi viện.
    Hai giờ sau, Đại đội 213 khôi phục được trận địa, yểm trợ cho đại đội tôi phản xung phong lần hai, khôi phục trận địa. Địch ngoan cố, đã chiếm mất một đoạn chiến hào. Đồng chí Nguyễn Quốc Trị, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 5 duyệt phương án kiềm chế địch ở hai mũi phụ, tập trung toàn lực cho bộ đội xung kích phản xung phong, quyết tử chiếm lại đoạn chiến hào đã mất.

  5. #25
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    115
    Thích
    1
    Đã được thích 8 lần trong 4 bài viết

    Re: CUỘC ĐỜI VÀ CHIẾN TRẬN

    Đứng trước tình thế nhạy cảm và khẩn trương đó, tôi tuy còn bình tĩnh hơn nhưng trong lòng vẫn còn sự hồi hộp lo lắng cho trận đánh ác liệt.
    Đại đội trường Mai Văn Thiềng nhận lệnh:” Phải kiên quyết chiếm lại đoạn hào đã mất”. Giây phút nóng bỏng đó in sâu mãi mãi vào tâm trí của cán bộ, chiến sỹ quân xung kích. Khi thấy chính trị viên đại đội cùng đơn vị không chút ngần ngại lao vụt ra sân bay, chiến sỹ trẻ Nguyễn Quốc Ân, một thiếu sinh quân Việt Nam mới nhập ngũ, lại vừa qua cơn ốm, mặc quần đùi xách súng xông ra bám tổ chiến đấu Phan Văn Diện. Trung liên, súng trường quét hạ gục quân thù như ngả rạ. Từ điểm cao 206, các anh dũng cảm diệt địch, bảo vệ sườn trái cho đại đội tôi phối hợp đánh phản xung phong thắng lợi.
    Và giờ phút hào hùng, khoảnh khắc lịch sử vinh quang đã điểm: Quân ta đánh bại hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954. Đó cũng là ánh hào quang chiến thắng tỏa sáng cuộc đời chiến trận của tôi.
    53 năm đã qua, bao giờ nhớ về buổi chiều hôm ấy, lòng tôi vẫn còn hồi hộp xúc động. Buổi chiều quang vinh của quân ta và buổi chiều dịnh mệnh của quân thù. Sau này, văn học và phim ảnh đã làm sống lại khúc khải hoàn ca hùng tráng ấy. Nhưng có lẽ không ai hết, những người trong trận, những chiến sỹ cơm vắt ngủ hầm ngày ấy, mới thấm thía hết giá trị thiêng liêng và ý nghĩa sâu sắc và to lớn của chiến thắng Điện Biên Phủ.
    Sau này, khi đối đầu với giặc Mỹ và quân Ngụy ở chiến trường Nam Bộ, tôi đã vận dụng kinh nghiệm Điên Biên để áp dụng linh hoạt các kế sách như: Bao vây và tấn công, phòng ngự trận địa và tiến công, tấn công linh hoạt trong hành tiến, đánh tiêu diệt cứ điểm và cụm cứ điểm, tấn công tiêu diệt địch phòng ngự kiên cố v.v…
    Có thể nói cách đánh địch ở Điện Biên Phủ của quân đội ta thời chống Pháp được lặp lại, nâng cao, linh hoạt, biến hóa, đạt hiệu quả cao trong cuộc chiến đấu kiên cường khốc liệt của quân và dân ta chống quân xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai sau này.
    Trong các trận công đồn diệt địch ở Điện Biên Phủ tôi là một đại đội trưởng xung kích; đến khi đánh Xuân Lộc tôi đã là sư đoàn trưởng. Dù ở cương vị chỉ huy nào tôi vẫn xông pha cùng đồng đội, đi với từng đơn vị nhỏ,không chỉ cùng họ đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, mà cùng cán bộ chiến sỹ tiếp cận tình thế chiến đấu để cùng họ bàn cách đánh giặc sao cho có hiệu quả và ít tổn thất thương vong.
    Tôi ở trong quân ngũ trên 56 năm, ba phần tư cuộc đời có mặt trên các chiến trường. Dấu ấn sâu đậm trong ký ức tôi vẫn là Điện Biên Phủ oai hùng, lừng lẫy chiến công, vô vàn gian khổ, đầy hy sinh. Chính tại nơi đó, qua thực tế đầy biến động, những người” lính Cụ Hồ” như tôi đã được rèn luyện để trưởng thành.
    Sau này, giữa thập niên 80, tôi được Đảng, Nhà nước, quân đội cho đi học ở các trường học viện quân sự cấp cao. Khi tiếp thu bài giảng về lý luận quân sự, về nghệ thuật tổ chức, chỉ đạo chiến tranh Cách mạng, tổ chức thực hành chiến dịch, tôi tâm niệm phải luôn ôn lại thực tiễn chiến đấu trên chiến trường Điện Biên Phủ; lấy nó làm trung tâm so sánh, đối chiếu và áp dụng. Tôi hiểu rõ vì sao chiến thắng Điện Biên Phủ đã được học thuyết về lý luận quân sự Cách mạng Việt Nam lên một tầm vóc mới về chất và lượng. Chiến thắng Điện Biên 1954, soi sáng ý nghĩa tác dụng to lớn và quyết định của chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc của chúng ta.
    Tôi là một trong số anh em may mắn còn sống và khỏe mạnh sau khi toàn quân và toàn dân ta thực hiện trọn vẹn Di chúc của Bác Hồ: “ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Hình dung lại toàn cảnh hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ kéo dài tới 30 năm, thì thấy rõ một điều: Điện Biên Phủ là một trường học lớn, như một thao trường vĩ đại, mà ở đó đã đào tạo ra nhiều tướng lĩnh tài ba cho dân tộc, cho quân đội. Lớp cán bộ có mặt trong 55 ngày đêm ở Điện Biên Phủ, nếu không bị hy sinh, đã trưởng thành nhanh chóng để nối tiếp nhau đi tiếp cuộc trường chinh dưới ngọn cờ” Quyết chiến quyết thắng” của Đảng và của Bác, để giành toàn thắng vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Rồi khi Tổ quốc bị xâm lăng, cùng với lớp đàn em kế cận, nhiều chiến sỹ Điện Biên tiếp tục chiến đấu, không chỉ làm tròn nhiệm vụ giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc mà còn giúp nước bạn Cam-pu-chia thoát khỏi nạn diệt chủng. Tại dinh Độc Lập, trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi đã gặp các đồng đội, nhiều người là đồng cấp, hồi chiến đấu ở Điện Biên Phủ. Tại Phnom Penh, ngày 17 tháng 1 năm 1979, tôi lại cùng nhiều anh em chiến sỹ Điện Biên hân hoan chúc mừng thắng lợi. Nếu tôi nhớ không lầm thì những người làm công tác nghiên cứu nghệ thuật quân sự trên thế giới xác định, chiến dịch Biên Giới (1950) và chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) nằm trong số ít trận đánh hay nhất lịch sử chiến tranh của nhân loại.
    Thật tự hào thay được làm “ CHIẾN SỸ ĐIỆN BIÊN”!

  6. #26
    Ngày tham gia
    07-10-2010
    Bài viết
    242
    Thích
    2
    Đã được thích 30 lần trong 15 bài viết

    Re: CUỘC ĐỜI VÀ CHIẾN TRẬN

    Các bác cho em hỏi tại sao hồi KCCP ta lại gọi là Đại đoàn nhỉ? Khi nào thì quân ta xuất hiện Quân đoàn, Quân khu(lại cả Đặc khu nữa, ví dụ Đặc khu Quảng ninh, Đặc khu Vũng tàu)?

    Mà thế giới lại có cả Phương diện quân, Tập đoàn quân...nữa. Liên xô, Trung quốc chẳng hạn?

    Lùng bùng quá, các bác giúp em tại sao sau KCCP, mình lại bỏ cái tên Đại đoàn?

  7. #27
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    115
    Thích
    1
    Đã được thích 8 lần trong 4 bài viết

    Re: CUỘC ĐỜI VÀ CHIẾN TRẬN

    Như chúng ta đã từng biết , QDNDVN được thành lập năm 1944 với 32 chiến sỹ dưới gốc đa Tân Trào Thái Nguyên , bước khởi đầu của một quân đội nghèo nàn chỉ có vậy , nếu biên chế thành đơn vị thì số quân lúc đó dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ bằng cấp trung đội chính quy sau này . :lol:
    Nói như vậy để GiangNH hiểu được QD chúng ta lúc đó rất non trẻ , mọi kinh nghiệm chiến trận gần như không có , những người lính cũng lấy từ nhân dân , nông dân mà ra , người chỉ huy QD đầu tiên cũng xuất thân từ nhà giáo mà đứng dậy cầm quân . Lòng nhiệt tình Cách mạng , giải phóng dân tộc đặt lên trên tất cả chứ chúng ta không có một chút kinh nghiệm chiến trận nào .
    Không biết thì sẽ học hỏi và QD chúng ta chịu ảnh hưởng rất nhiều từ QD của Trung Quốc lúc đó , cứ bắt chước họ có sao mình làm theo vậy và người TQ thì có Tiểu sẽ có Trung và có Trung rồi thì sẽ có Đại . :lol:
    Tiểu đội - Trung đội - Đại đội . Cao hơn nữa có Tiểu đoàn - Trung đoàn và cuối cùng thì Đại đoàn . :lol:
    Sau này , khi QD chúng ta đã lớn mạnh lên rồi với nhiều Đại đoàn ngang bằng với tầm cỡ QD thế giới thì phải chuyển đổi cách gọi cho phù hợp , họ gọi cấp Đại đoàn là Sư đoàn thì ta cũng chuyển cách gọi là Sư đoàn .
    Khoảng năm 1973 chúng ta mới thành lập những Quân Đoàn chính quy , còn Quân Khu thì chia từ lâu rồi có lẽ có từ thời KCCP , chia khu vực để dễ điều hành và tập trung quân , các đơn vị hoạt động trong địa bàn quen với địa hình và điều động cũng nhanh hơn .

    Còn chuyện Đặc khu thì không liên quan đến QD mà nó chỉ dùng cho những khu vực kinh tế , ví dụ như Đặc khu Kinh tế Quảng Ninh , đặc khu kinh tế Vũng Tàu Côn đảo .
    Tập đoàn quân và Phương diện quân thì chúng ta chưa đủ quân số , biên chế đó chỉ có ở những QD nước lớn với quân số đông tới vài chục triệu quân . Lịch sử chiến tranh thế giới mới có vài nước huy động được đến quân số này .

  8. #28
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    115
    Thích
    1
    Đã được thích 8 lần trong 4 bài viết

    Re: CUỘC ĐỜI VÀ CHIẾN TRẬN

    Những chiến sỹ Điện Biên năm xưa, ngày nay còn lại đều là những nhân chứng lịch sử và họ được quyền tự hào, được nhân dân kính trọng. Tôi lại thầm nhủ từ đáy lòng mình; trong cuộc đời chiến trận, mình đã chứng kiến bao nhiêu kỳ tích anh hùng, nhìn thấy những tấm gương hy sinh cao cả, đã từng được kề vai sát cánh với những đồng đội, đồng chí đã vĩnh viễn ra đi vì sự nghiệp của Tổ quốc. Họ nằm lại trên đồi Him Lam, đồi Độc Lập, Hồng Cúm, trên những cánh đồng Mường Thanh đầy máu lửa, và trên đồi A1 vinh quang, mang đầy sự tích anh hùng.
    Hàng năm, những ngày kỷ niệm chiến thắng Điên Biên Phủ, tôi lại tìm kiếm thăm hỏi, gặp gỡ, tâm sự cùng đồng đội, cán bộ chiến sỹ Điện Biên năm xưa. Nếu còn sống, lớp người đó đều trên tuổi “Thất Thập”. Phần lớn đều đã trưởng thành. Nhiều người trong số đó đã trở thành những vị tướng thao lược, tài năng, dày dạn kinh nghiệm trận mạc của quân đội chúng ta.
    Bản thân tôi những lúc chỉ huy đơn vị đánh giặc, khi gặp trở ngại khó khăn, dù nguy hiểm đến bao nhiêu hay trong hoàn cảnh và tình huống xấu đến đâu tôi cũng quyết tâm xác định;”nếu biết cách đánh giặc thì có thể thắng giặc”. Bài học Điên Biên Phủ đã ngấm sâu vào tâm can và đầu óc của tôi.
    Chính nhờ đó, những ngày gian lao nhất trong chiến dịch Nguyễn Huệ, đường 13 lịch sử, đối với quân thù trang bị hiện đại, được yểm trợ hỏa lực máy bay, pháo binh, tên lửa, xe tăng thiết giáp tối đa, chúng tôi, Sư đoàn 7 Anh hùng, vẫn trụ vững hơn 150 ngày đêm với hàng trăm trận đánh ác liệt. Cuối cùng, cũng giống như Điện Biên Phủ năm xưa, chúng tôi đã thắng, thắng oanh liệt, oai hùng và giòn giã.
    Khi gặp khó khăn trên chiến trường Xuân Lộc trong chiến dịch lịch sử mùa xuân 1975, tôi suy nghĩ đến việc thay đổi cách đánh ở trận Đông Khê, việc “kéo pháo vào, kéo pháo ra”, việc Đại đoàn Quân tiên phong tạm thời rời Điện Biên Phủ tiến quân sang Thượng Lào. Nên mới hiến kế sách cùng lãnh đạo quân đoàn tìm phương án giải tỏa bế tắc, rút quân ra vòng ngoài, tổ chức bao vây, tiến công ngăn chặn, diệt viện chia cắt lực lượng của cả cụm phòng ngự, cô lập khu trung tâm đề kháng Xuân Lộc. Phải quan niệm, Mỹ- Ngụy tổ chức phòng ngự ở đây như một dạng cứ điểm quy mô kiên cố.
    So với Điện biên Phủ, không gian tác chiến của nó rộng lớn hơn, đầy đủ hơn. Thời gian lịch sử tuy xa, địa hình đặc điểm địa lý khác nhau, cứ điểm phòng thủ Xuân Lộc lạị nằm ngay trong đô thị, xen kẽ với nhân dân.
    Nhờ thay đổi cách đánh, áp dụng chiến thuật mới, đánh địch từ ở vòng ngoài, sau đó tiêu diệt từng cứ điểm nhỏ, tiến lên tiêu diệt cứ điểm lớn của địch, để cuối cùng bao vây chặt khu trung tâm đề kháng Xuân Lộc, đánh bại chúng ngay trận tuyến thép này, mở ra chiến thắng lịch sử cho Quân đoàn 4 năm 1975, phá tan cánh cửa thép Đông Bắc cho Đại quân ta tiến vào giải phóng Sài gòn- Gia Định.
    Đó chính là bài học kinh nghiệm quý báu mà chiến dịch Điện Biên Phủ đã để lại cho quân đội ta.
    Chiến thắng Điện Biên Phủ là “cây cột mốc bằng vàng” (lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh) trong lịch sử đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc ta.
    Ngày nay khi nghiên cứu học tập về “Tư tưởng Hồ Chí Minh”, tôi càng thấy được sự anh minh sáng suốt của Người về những luận điểm và phương pháp tổ chức, chỉ đạo chiến tranh cách mạng, tư tưởng “tất thắng” trong cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện của Người, tạo ra niềm tin “Kháng chiến trường kỳ nhất định thắng lợi!”. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã chia cuộc chiến tranh dài lâu làm 3 giai đoạn: Phòng ngự- cầm cự- tổng phản công. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã chứng minh điều đó.
    Khi cờ trắng đầu hàng của thực dân Pháp xuất hiện ngày càng nhiều ở chiến trường Điện Biên Phủ và quân đội ta ào ạt xông lên, tung mũ, tung nguy trang lên trời mừng chiến thắng, chúng tôi tưng bừng khí thế, bây giờ nhớ lại lòng còn rưng rưng xúc động. Không hiểu sao lúc ấy, sau khi chấm dứt chiến sự ở Điện Biên, tôi tin chắc có một cuộc mít tinh, và như vậy tôi sẽ thấy mặt mấy ông sư đoàn trưởng. Một nhà lý luận quân sự thế giới đã nói một câu rất hay: Làm người lính chân chính phải có ước mơ trở thành tướng giỏi. Thật tình khi làm đại đội trưởng, tôi đã mơ có ngày làm sư đoàn trưởng như các ông Vương Thừa Vũ, Sư trưởng Sư 308. Lê Trọng Tấn, Sư Trưởng Sư 312, Lê Quảng Ba, Sư trưởng Sư 316, Hoàng Minh Thảo, Sư trưởng Sư 304. Nhưng ngoài cả sức tưởng tượng của tôi, trong lễ mừng chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi không chỉ thấy mấy vị “Sư” mà còn được nhìn thấy Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, người trực tiếp cầm quân đánh Điện biên, người đã viết thư động viên từng chiến sỹ ở chiến hào. Sau này về Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu hoặc xuống chỉ huy đơn vị, nhiều lần được tiếp xúc và gần gũi Đại tướng, tôi nhận ra rằng, nhìn vào đôi mắt của ông, ta sẽ nhận ra được hai điều: mắt ông vừa sắc sảo vừa ấm áp. Sắc sảo là tài thao lược và ấm áp là tấm lòng nhân hậu. Anh em có điều may mắn làm việc bên cạnh anh Văn kể với tôi rằng, kết thúc mỗi trận đánh lớn nhỏ, sau khi hỏi kết quả, bao giờ Đại tướng Tổng tư lệnh cũng hỏi đến thương vong của ta và nhiều lần ông đã khóc! Tài năng và đức độ của người Anh cả trong quân đội hòa quyện vào nhau – đó là hạnh phúc của toàn quân.
    Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ta đạt được ký kết Hiệp định đình chiến Giơ-ne-vơ. Hòa bình được lập lại trên toàn cõi Đông Dương.

  9. #29
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    115
    Thích
    1
    Đã được thích 8 lần trong 4 bài viết

    Re: CUỘC ĐỜI VÀ CHIẾN TRẬN

    Quân đội ta lại bắt tay vào những nhiệm vụ mới, Đại đoàn Quân tiên phong cùng các đơn vị bạn, vinh quang được về tiếp quản Thủ đô sau ngày chiến thắng. Nhớ khi quân Pháp mở rộng chiến tranh, đoàn quân Cách mạng rời Thủ đô khói lửa ngập trời và “Người ra đi đầu không ngoảnh lại/ Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”. Sau chin năm kháng chiến trường kỳ và gian khổ, chúng tôi hiên ngang và tự hào đi trong rừng cờ rừng hoa. Bộ đội Cụ Hồ ngày nay trở về trong quân phục chỉnh tề, đội ngũ trang nghiêm, hùng dũng . Hàng chục vạn đồng bào Thủ đô hân hoan náo nức chào đón, đúng như lời ca “Năm cửa Ô đón mừng đoàn quân tiến về”.
    Tôi là người nông dân trở thành chiến sỹ, đã cầm súng mười năm, lòng tự hào phơi phới, nghĩ thấy bản than mình được vinh dự lớn trong ngày 10 tháng 10 năm 1954 vẻ vang này, được tiếp quản và làm quân quản Thủ đô là điều mấy tháng trước trên chiến trường chưa hề nghĩ tới. Đó là lần thứ nhất tôi đi tiếp quản, để rồi 21 năm sau lại tiếp quản Thủ đô của ngụy ở Sài Gòn- Gia Định. Và 25 năm sau tiếp quản Thủ đô Phnom Penh của nước bạn trong chiến thắng thắm tình hữu nghị Việt Nam _ Căm-pu-chia. Thực là vinh dự và sung sướng cho đời một người lính ba lần được dự phần đại thawngstreen một chiều dài thời gian 30 năm chiến đấu liên tục.
    Mùa đông năm 1954 sang Xuân 1955 là những ngày tháng vui vẻ, hòa bình phấn khởi trên đất Thăng Long ngàn năm văn vật. Bộ đội 308 được giao làm công tác quân quản Thủ đô; đồng chí Vương Thừa Vũ, Đại đoàn trưởng, làm Trưởng ban Quân quản. Đồng chí Trần Duy Hưng làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố, đồng chí Trần Quốc Hoàn, Bộ Công an, là đại diện của Trung ương ở bên cạnh.
    Ngày 1 tháng 1 năm 1955, Bác Hồ cùng Trung ương Đảng và Chính phủ làm lễ ra mắt nhân dân Thủ đô ở quảng trường Ba Đình lịch sử. Đơn vị tôi được tham gia lễ diễu binh trong dịp đó. Bộ đội chủ lực và các đơn vị phòng không, pháo binh, thiết giáp rồi hải quân, dân quân, du kích, tự vệ diễu hành qua lễ đài. Lần đó, Bác Hồ cùng đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có mặt trên lễ đài và đích than Đại tướng duyệt đội quân danh dự.
    Bác Hồ vui cười, vẫy chào đoàn quân chiến thắng trở về. Nhân dân vô cùng xúc động phấn khởi. Sau khi Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng đọc diễn văn khai mạc, Bác Hồ đã nói chuyện với nhân dân Thủ đô và bộ đội. Buổi lễ đó mang tính chất lễ mừng chiến thắng của cả dân tộc ta sau 9 năm kháng chiến.
    Những năm tháng làm công tác quân quản ở Hà Nội, chúng tôi phải vừa công tác vừa học hỏi để có thể hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao cho. Chúng tôi chưa am hiểu nếp sống của một thành phố nhiều năm bị giặc chiếm đóng, bị tuyên truyền xuyên tạc và nô dịch. Việc đoàn kết các tầng lớp nhân dân, phát động quần chúng giữ an ninh trật tự, xây dựng nếp sống văn minh là những nhu cầu lớn. Cần phải tuyên truyền giải thích, phổ biến chính sách của Đảng và Nhà nước cho toàn dân hiểu biết để thực hiện.
    Sau một thời gian làm công tác quân quản, tôi được cấp trên cho nghỉ phép. Thế là sau 9 năm xa cách, tôi được về thăm gia đình, quê hương, xóm làng xưa. Bấy giờ tôi đã là cán bộ tiểu đoàn. Từ cậu bé thanh niên nghịch ngợm ngày xưa, từ chàng Lê Hoàng Thống ở làng quê Phú Mỹ, nay về làng trở thành anh chỉ huy bộ đội “oai phong hùng dũng”, súng ngắn, quân phục chỉnh tề. Gia đình quá đỗi mừng vui, làng quê xôn xao chào hỏi, thanh niên trai gái trong làng ríu rít đến gặp gỡ chuyện trò. Tôi hỏi chuyện quê huwowngconf bà con bạn bè hỏi chuyện chiến đấu và thành tích của tôi. Tôi được chính quyền địa phương tuyên dương thành tích công trạng. Quê nhà vừa hoàn thành công tác cải cách ruộng đất, xóm làng đã có nhiều thay đổi. Lớp nông dân nghèo khó ngày trước đã bắt đầu mở mày mở mặt. Sau khi được chia quả thực công điền và ruộng đất của địa chủ, một quan hệ sản xuất mới được hình thành để chuẩn bị bước vào thời kỳ sản xuất tập thể dưới hình thức “hợp tác xã” nông nghiệp.
    Mẹ già cùng các em và bà con đều mong tôi sớm lập gia đình. Tôi cũng thấy đây là một việc cần thiết cho bản thân. Thế là trong một buổi gặp mặt với thanh niên phụ nữ trong làng, vẫn lối tếu nghịch ngày xưa, sau khi kể chuyện chiến đấu ở Điện Biên Phủ, tôi hỏi: “Có O mô ưng lấy tau không?”. Nhiều người tưởng tôi nói đùa. Chị em có nhiều người giơ tay, trong đó có O Mai là người giơ tay lên nhanh nhất và cao nhất, O Mai chính là vợ tôi sau này. Mấy ngày sau mẹ tôi nói, O Mai là con người cô họ Lê của tôi. Tôi tìm tới, bà nói: “Tau có hai đứa con gái, cho mi một đứa, tùy mi chọn”. Hết kỳ nghỉ phép, được hai gia đình ưng thuận, tôi đón O Mai ra Hà Nội, lên đơn vị ở bên cầu Chui, Gia Lâm, ngoại ô Hà Nội. Lễ thành hôn do Trung đoàn 88 tổ chức, đồng chí Trung đoàn trưởng Bùi Nam Hà làm chủ hôn.
    Khi đã yên bề gia thất, vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn, sang năm 1956 tôi nhận được quyết định đi học bổ túc văn hóa gấp rút tại Kiến An, bồi dưỡng trình độ để đi học ở Học viện Quân sự nước ngoài. Trường này do đồng chí Lê Quang Hòa làm hiệu trưởng. Hồi đó văn hóa của tôi mới hết cấp một (tương đương lớp 4). Hoàn thành chương trình bổ túc cơ bản, tôi phải nỗ lực phấn đấu hết mình, ngày đêm phấn đấu, học tập không biết mệt mỏi, và tự đặt mục tiêu phải học tập để còn học cao nữa. Nhờ ý chí và quyết tâm đó, cuối cùng tôi đã hoàn thành các khóa học bổ túc văn hóa.
    Cùng trong năm đó, ở nhà vợ tôi sinh cháu trai đầu lòng đặt tên là Lê Việt Hà.
    Tiếp sau trường bổ túc văn hóa quân đội, tôi được Bộ quốc phòng tuyển chọn cho đi học ở Học viện Quân sự Hoàng Phố (Nam Kinh- Trung Quốc). Đây là một Học viện quy mô với nhiều phân ban và chuyên ngành, đào tạo bồi dưỡng các sỹ quan cấp cao. Trường này có lịch sử từ thời nhà đại Cách mạng Tôn Trung Sơn sáng lập, đến thời Quốc- Cộng hợp tác chống Nhật. Nơi đây từng có nhiều nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc giảng dạy, nhiều cán bộ quân sự cao cấp của Hồng Quân- Bát Lộ Quân, Tân Tứ Quân đã học tập trưởng thành ở đây. Trong quân đội ta, nhiều cán bộ chỉ huy, tướng lĩnh từng học tập ở Học viện Hoàng phố. Vì vậy, được đến học ở Hoàng Phố là một vinh dự lớn. Nó đánh dấu giai đoạn trưởng thành của tôi về mặt tri thức quân sự, tư duy chiến thuật, nghệ thuật tổ chức chỉ huy tác chiến. Sau này tôi đã vận dụng vào thực tế chiến đấu trên chiến trường.
    Sau 5 năm học tập tại Học viện, tốt nghiệp trở về nước năm 1960, tôi được điều về Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu. Là sỹ quan mới ra trường về nhận nhiệm sở, ban đầu tôi rất e dè, khiêm tốn học hỏi các cán bộ đi trước, đến trước. Phần lớn, họ đều có trí thức, văn hóa cao, chững chạc và oai vệ. Tôi tuy có kinh nghiệm chiến đấu, nhưng dù sao vẫn là người chưa quen nếp làm việc cơ quan, nhất là ở cơ quan Bộ, cấp chiến lược, phần tôi văn hóa thấp hơn, lại xuất thân từ một nông dân mộc mạc. Phải xong một thời gian tôi mới phát huy được năng lực công tác, và bộc lộ được năng khiếu tham mưu của mình.
    Thời gian công tác ở Cục tác chiến, tôi học hỏi them ở các đàn anh, mở rộng nhiều hiểu biết về lý luận quân sự cũng như thực tế tham mưu ở các chiến trường.

  10. #30
    Ngày tham gia
    09-05-2011
    Bài viết
    184
    Thích
    42
    Đã được thích 188 lần trong 109 bài viết

    Re: CUỘC ĐỜI VÀ CHIẾN TRẬN

    Trích dẫn Gửi bởi Crasna Poliana
    Như chúng ta đã từng biết , QDNDVN được thành lập năm 1944 với 32 chiến sỹ dưới gốc đa Tân Trào Thái Nguyên , .
    __________________________________________________ ____________________________________
    -Bạn có nhớ nhầm không đó ! QDNDVN được thành lập vào ngày 22 tháng 12 năn 1944. dưới gốc đa thuộc khu rừng Trần Hưng Đạo huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng. Lúc đó đồng chí Võ Nguyên Giáp là trung đội trưởng với 34 chiến sĩ.
    _Nếu tôi nhớ không nhầm. :lol: :lol: :lol: .
    Biên Cương Có Giặc Ta Quyết Giữ.
    Hậu Phương Yên Bình Gắng Dựng Xây.

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •