CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 1 của 4 123 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 67

Chủ đề: Tìm hiểu về Quân đội các cường quốc chính

Xem kiểu ghép

  1. #1
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết

    Tìm hiểu về Quân đội các cường quốc chính

    CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA
    I. THÔNG TIN CHUNG

    1. Dân số (người): 1.330.044.605

    2. GDP (USD): 3,24 nghìn tỉ USD (năm 2007) 4,22 nghìn tỉ USD (năm 2008)

    3. Thu nhập bình quân theo đầu người (USD): 2.455 USD (năm 2007) 3.178 USD (năm 2008)

    4. Ngân sách quốc phòng: 46,1 tỉ USD (năm 2007) 61,1 tỉ USD (năm 2008)

    5. Chi phí quốc phòng: ...........???

    II. QUÂN SỐ

    1. Lực lượng thường trực:
    - Lục quân: Khoảng 1.600.000, trong đó 800.000 lính nghĩa vụ
    - Không quân: 300.000 - 330.000
    - Hải quân: Khoảng 255.000, trong đó 40.000 lính nghĩa vụ.
    - Hải quân đánh bộ: khoảng 10.000

    2. Lực lượng dự bị: khoảng 700.000

    3. Lực lượng khác:

    - Lực lượng tên lửa chiến lược (Pháo binh số II): trên 100.000
    - Lực lượng bán quân sự: 700.000


    III. TỔ CHỨC LỰC LƯỢNG:

    1, Lục quân:

    - Cụm tập đoàn quân: 18. Các tập đoàn quân với biên chế tổ chức khác nhau, tổng cộng: 1 lữ BBCG, 1 lữ chống tăng, 12 lữ bọc thép, 12 lữ pháo phòng không, 14 lữ pháo, 15 f bộ binh, 2 f đổ bộ tiến công, 22 lữ bộ binh mô tô hoá, 24 f bộ binh mô tô hoá, 3 f BBCG, 4 e chống tăng, 7 f pháo, 9 f bọc thép, 9 lữ phòng không (SAM/pháo phòng không); 3 sư đoàn phản ứng nhanh đường không và hai lữ hải quân.

    - Pháo binh/không quân: phòng thủ bờ biển

    - Đại quân khu: 7; 5 quân khu có các đơn vị phản ứng nhanh.

    - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh: 28

    - Sư đoàn độc lập: 8
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  2. #2
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,228
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Tìm hiểu lực lượng Hải giám Trung Quốc

    Trong tương lai gần, lực lượng giám sát biển của Trung Quốc sẽ không chỉ có khả năng giám sát mà còn có khả năng tấn công trên biển, sẵn sàng chuyển sang trạng thái chiến đấu khi có xung đột hoặc chiến tranh xảy ra, hoàn toàn có khả năng hỗ trợ đắc lực cho hành động của hải quân trung Quốc.Lực lượng Hải giám, hay còn gọi là "Lực lượng Giám sát biển” là lực lượng rất được Trung Quốc chú trong phát triển trong những năm gần đây. Ngay từ khi mới được thành lập, Lực lượng Hải giám của Trung Quốc được đầu tư kinh phí để đóng, chế tạo các tàu và máy bay giám sát; mặt khác sử dụng các tàu không còn sử dụng của các bộ, ngành khác để cải tiến đáp ứng yêu cầu. Điển hình, Trung Quốc đã cải tiến tàu săn ngầm của Hải quân Trung Quốc thành tàu Hải giám 20 và tàu Hải giám 32, cải tiến tàu khảo sát thủy văn hải dương loại 1.120 tấn thành tàu Hải giám 40, cải tiến tàu của Cục Bưu chính loại 949 tấn thành tàu Hải giám 35.
    Năm 1999, Quốc vụ viện Trung Quốc phê chuẩn cho Cục Hải dương quốc gia Trung quốc đóng 13 tàu hải giám từ 1.000 tấn trở lên, và 05 máy bay giám sát biển với tổng vốn đầu tư khoảng 1,6 tỷ NDT. Đến tháng 11/2005, Trung Quốc đã đưa vào sử dụng 04 chiếc tàu cỡ 1.000 tấn, 01 chiếc 3.000 tấn, 01 chiếc 1.500 tấn và 02 máy bay giám sát biển. Tháng 6/2011, hoàn thành giai đoạn 2 với việc đưa vào sử dụng 03 máy bay giám sát biển và 07 tàu hải giám còn lại, đúng như kế hoạch đề ra.
    Lực lượng Hải giám Trung Quốc thuộc Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc, biên chế chủ yếu có 03 Tổng đội giám sát tại 3 khu vực biển là Tổng đội Giám sát Bắc Hải (căn cứ Thanh Đảo). Tổng đội Giám sát Đông Hải (căn cứ tại Thượng Hải) và Tổng đội Giám sát Nam Hải (căn cứ tại Quảng Châu).
    Tổng đội Giám sát Bắc Hải
    Tổng đội Giám sát Bắc Hải được thành lập ngày 18/8/1999. Nhiều năm trở lại đây Tổng đội Giám sát Bắc Hải đã trở thành một đội ngũ chấp pháp, giám sát biển hiệu quả, có tính lỷ luật cao và trang bị hiện đại. Tổng đội Giám sát Bắc Hải chịu sự lãnh đạo của Phân cục Bắc Hải, Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc. Tổng đội đảm nhận nhiệm vụ giám sát, chấp pháp tại toàn bộ khu vực biển phía Bắc Hà Khẩu, Tú Châm, tỉnh Giang Tô.
    Đối tượng giám sát là các máy bay, tàu chiến, giàn khoan, tàu công trình, tàu điều tra hải dương của nước ngoài đi vào khu vực; các vật trôi nổi trên mặt biển hoặc tàu thuyền khả nghi; các sự vụ như số lượng lớn sinh vật biển bị chết, ô nhiễm dầu và sóng thần; các sự cố tràn dầu tại các đường ống dẫn dầu, các giàn khoan dầu khí trên biển; các hành vi vi phạm quy định thải rác ra biển và các hành vi khác phá hoại môi trường sinh vật biển; các hành vi đánh bắt thả neo gây nguy hại đến sự an toàn của các đường ống dẫn, dây cáp quang dưới đáy biển tại phạm vi cách 2 hải lý hai bên đường ống dẫn, dây cáp dưới đáy biến; các hành vi khai thác cát biển không được cấp giấy phép; các hành vi sử dụng trái phép một khu vực biển cố định nào đó; các hành vi không được sự cho phép liên quan đến dự báo môi trường biển, sử dụng khu vực biển, khảo sát, thăm dò công trình biển.
    Về tổ chức biên chế, Tổng đội Giám sát Bắc Hải có: Đội giám sát số 1, thực hiện nhiệm vụ giám sát chấp pháp trên khu vực biển Bột Hải và Hoàng Hải, biên chế 110 cán bộ, nhân viên. Đội giám sát số 2 đảm nhận nhiệm vụ giám sát chấp pháp trên phạm vi từ vịnh Bột Hải, vịnh Lai Châu và cửa biển Sơn Hải đến các khu vực biển phía Nam Bột Hải, Hà Bắc và khu vực ven bờ Thiên Tân. Đội giám sát số 3, thực hiện nhiệm vụ giám sát chấp pháp trên phạm vi từ Bắc Hoàng Thành đến khu vực biển phía Bắc Bột Hải và Hoàng Hải. Đội giám sát đường không trên biển Bắc Hải, biên chế 28 nhân viên và 5 phòng chức năng. Đội sử dụng các máy bay Y-12 loại B-3807 và B-3808 để thực hiện tuần tra, giám sát, chấp pháp trên biển. Các máy bay này có tầng hoạt động bao phủ các khu vực phía Bắc Bột Hải, Hoàng Hải. Trải qua hơn 10 năm xây dựng và phát triển, Đội giám sát đường không trên biển Bắc Hải đã ứng dụng thành công công nghệ kỹ thuật cảm nhận dao động cho các máy bay tuần tra trong công tác giám sát đường không trên biển.
    Lực lượng tàu hải giám, Tổng đội Giám sát Bắc Hải có: Tàu Hải giám 11, thực hiện nhiệm vụ điều tra tổng hợp, tiến hành nghiên cứu điều tra đối với các vấn đề thủy văn, hóa học, khí tượng, địa chất, sinh vật tại khu vực ven biển. Tàu Hải giám 18, vừa thực hiện giám sát biển (quản lý, chấp pháp, giám sát các hoạt động vi phạm trên biển, bảo vệ môi trường, bảo vệ lợi ích trên biển) vừa kiêm cả nhiệm vụ điều tra hải dương (các lĩnh vực khí tượng, thủy văn, sinh vật, hóa học, địa chất). Tàu Hải giám 21, là tàu giao thông ven biển và điều tra khoa học biển. Khu vực biển hoạt động là khu vực biển A2. Tàu Hải giám 22, thực hiện các nhiệm vụ giám sát, chấp pháp và điều tra nghiên cứu khoa học, trong đó có cả điều tra về âm thanh nước biển và gia tốc trọng lực trên biển tại các khu vực Đông Hải, Hoàng Hải và Biển Đông. Ngoài ra còn kiêm cả nhiệm vụ làm trạm giám sát phao tiêu. Tàu Hải giám 28, phạm vi hoạt động không hạn chế, chủ yếu là các khu vực biển trung và viễn dương. Tàu Hải giám 15, trang bị các thiết bị giám sát, chấp pháp hiện đại như: Hệ thống giám sát thu thập vô tuyến điện từ vệ tinh, máy quang điện, máy chuyển thông tin tần suất siêu âm vô tuyến. Tàu Hải giám 23, trang bị hệ thống giám sát khống chế mạng lưới với tất cả các tàu.
    Lực lượng máy bay giám sát, biên chế 02 máy bay giám sát đường không trên biển Y-12 (Yên 12). Ngoài ra còn trang bị những thiết bị giám sát cảm nhận dao động chở trên máy bay phù hợp với công tác quản lý chấp pháp trên biển. Y-12 là loại máy bay vận tải đa năng hai động cơ hạng nhẹ do công ty máy bay Cáp Nhĩ Tân chế tạo, có hai số hiệu là B-3807 và B-3808, được thiết kế vào năm 1980. Ngày nay loại máy bay này vẫn được Trung Quốc sử dụng cho lực lượng giám sát biển, nhưng đã được cải tiến nhiều về mặt kỹ thuật. Cụ thể, máy bay này sử dụng thiết kế hai động cơ bên cánh, có cánh đơn trên, cánh chéo ngang và đuôi đơn cố định. Về trang bị, máy bay Y-12 ngày nay được trang bị các thiết bị chở trên máy bay giám sát hiện đại như: 2 bộ thiết bị chuyên môn chấp pháp, chủ yếu bao gồm ra-da, máy quét hồng ngoại cực tím, máy phát sóng vi-ba và các thiết bị thu thập chứng cứ, chụp ảnh đường không. Các thiết bị hiện đại chở trên máy bay được gắn kết với hệ thống xử lý thông tin dưới mặt đất. Hệ thống xử lý thông tin giám sát chấp pháp do mạng lưới, các dữ liệu phần cứng, phần mềm, các thiết bị chuyển/nhập cấu thành. Có khả năng thu thập số liệu, dữ liệu địa đồ/hải đồ, khả năng nhập số liệu hình ảnh/họa đồ và số hóa tư liệu ảnh chụp, có khả năng xử lý ảnh đồ/họa đồ, có thể xử lý những tư liệu mà bộ phận cảm ứng dao động của vệ tinh. Máy bay có độ cao tuần tra: 500m-1.000m; cao độ thu thập chứng cứ: 100m-3.000m; khả năng hành trình: 5,25 giờ; tầm bay cao nhất: 7km, tốc độ bay tuần tra lớn nhất: 300km/h, tốc độ bay tiết kiệm: 250km/h, hành trình bay tuần tra: 1.000km; trọng tải cát cánh nhanh nhất: 8,8m/s, trọng tải cất cánh lớn nhất: 5,3 tấn,
    Tổng đội Giám sát Đông Hải
    Tổng đội Giám sát Đông Hải là một cơ quan quản lý, giám sát, chấp pháp trên biển khu vực biển Đông Hải, chịu sự lãnh đạo song trùng bởi phân cực Đông Hải và Tổng đội Giám sát trên biển của Trung Quốc, Khu vực giám sát, chấp pháp, tuần tra là khu vực biển Đông Hải từ tỉnh Giang Tô đến tỉnh Phúc Kiến thuộc quyền quản lý của Trung Quốc. Tổng đội gồm: Đội giám sát số 4; Đội giám sát số 5; Đội giám sát số 6; Đội giám sát đường không trên biển; Đội chấp pháp duy trì chủ quyền ở Đông Hải.
    Tổng đội Giám sát Đông Hải được trang bị các tàu Hải giám 40, 41, 42, 44, 46, 47, 49, 51, 52, 53, 61, 62, 68, 69; máy bay giám sát biển Y-12, trực thăng Z9A. Trực thăng Z9A là loại trực thăng chở trên tàu, do công ty chế tạo máy bay Cáp Nhĩ Tân thiết kế phục vụ cho công tác giám sát chấp pháp trên biển. Z9A có trọng tải cất cánh lớn nhất là 4,1 tấn, có khả năng duy trì hành trình 5 giờ đồng hồ, tốc độ bay lớn nhất 324km/giờ, có thể sử dụng rộng rãi cho các công tác chi viện gần biển, cứu hộ trên biển, tuần tra, chụp ảnh không trung, quan sát đàn cá. Trực thăng sử dụng những nguyên liệu thiết kế tổng hợp, có những ưu điểm đáng tin cậy, tiết kiệm kinh tế.
    Tổng đội Giám sát Nam Hải
    Trong số 3 tổng đội bộ phận tại 3 khu vực biển của Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc, Tổng đội Giám sát Nam Hải là lực lượng giám sát xa bờ và quan trong nhất. Tổng đội Giám sát Nam Hải thành lập tháng 8/1999, chính thức tổ chức triển khai hoạt động ngày 26/4/2000 tại Quảng Châu. Tổng đội Nam Hải đảm nhận nhiệm vụ tuần tra, giám sát khu vực vịnh Bắc Bộ, phía tây nam quần đảo Đông Sa, phía bắc quần đảo Hoàng Sa, phía đông đảo Hải Nam và quần đảo Trường Sa. Lực lượng của Tổng đội Giám sát Nam Hải gồm: Đội giám sát đường không trên biển; Đội giám sát số 7; Đội giám sát số 8; Đội giám sát số 9.
    Đội giám sát đường không trên biển, thành lập ngày 19/11/2002, là đội giám sát chấp pháp trên biển có tư cách pháp nhân hoạt động độc lập và quản lý nhân viên theo nhiệm vụ. Biên chế công vụ có 25 người, trong đó: ban lãnh đạo đội 3 người, phòng tổng hợp 5 người, phòng kỹ thuật thông tin 4 người, phòng quản lý chấp pháp 4 người, đại đội giám sát đường không 9 người. Ngoài ra, Đội có 4 phòng chức năng. Lực lượng máy bay giám sát, chủ yếu sử dụng các máy bay giám sát Y-12.
    Đội giám sát số 7, trước là Đại đội giám sát số 7. Hiện biên chế 246 nhân viên, trong đó công vụ 110 người, công nhân viên 136 người. Về cơ cấu tổ chức, chia thành 5 phòng chức năng, gồm văn phòng đội (bao gồm cả tài vụ), phòng chỉ huy, phòng chấp pháp, phòng kỹ thuật trang bị, phòng tổ chức nhân sự. Các lực lượng trực thuộc gồm có các tàu Hải giám 72, tàu Hải giám 73, tàu Hải giám 74, tàu Nam Thủy 701, đội dự bị, trung tâm phục vụ cơ quan đội.




    Đội giám sát số 8, thành lập ngày28/6/2000, là lực lượng được kiện toàn về tổ chức biên chế, cán bộ nhân viên tổng cộng 190 người. Bố trí ở đảo Hoàng Bộ - Quảng Châu, phía đông giáp khu vực nước sông Sa Lộc, phía nam giáp khi vực nước Châu Giang, có hai cảng nước sâu lớn có thể neo đậu những loại tàu trên 1.000 tấn. Cơ cấu gồm 5 phòng chức năng là phòng chấp pháp, phòng chỉ huy, phòng kỹ thuật trang bị, phòng tổ chức nhân sự và văn phòng đội. Lực lượng chấp pháp trên biển gồm có tàu khảo sát viễn dương Mặt trời đỏ-14, tàu Hải giám 81, 82, 84, tàu tiếp tế dầu Phương Nam 701. Đội giám sát số 8 là lực lượng chấp pháp trên biển có trọng tải lớn nhất trong số các lực lượng giám sát chấp pháp của Trung Quốc ở biến Đông.
    Đội giám sát số 9, thành lập ngày 31/7/2000, gồm 4 phòng chức năng là văn phòng, phòng giám sát chấp pháp, phòng quản lý khu vực và bảo vệ môi trường, phòng kỹ thuật trang bị và thông tin. Đội biên chế 80 người, là đội giám sát có lực lượng cán bộ nhân viên chấp pháp đông nhất và trang bị mạnh nhất trong Tổng đội Giám sát Nam Hải. Ngoài các nhiệm vụ giám sát chấp pháp do Tổng đội Giám sát Nam Hải giao phó, Đội giám sát số 9 đảm nhận nhiệm vụ giám sát tuần tra đối với khu vực biển ở vịnh Bắc Bộ do Trung Quốc quản lý (bao gồm cả các vùng ven biển). Đội được trang bị máy bay trực thăng số hiệu B-7112 do Trung Quốc tự chế tạo (biên chế cho tàu Hải giảm số 83).
    Như vậy, phần lớn các tàu giám sát, tàu tuần tra mới, có tính năng hiện đại nhất của Trung Quốc hiện nay đều được bố trí đến khu vực biển Đông. Đáng chú ý, lực lượng giám sát biển của Trung Quốc không ngừng được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt sự phát triển các loại hình phương tiện giám sát luôn lấy tiêu chuẩn của quân sự để cơ cấu lực lượng, chiều hướng quân sự hóa lực lượng giám sát trên biển là rất rõ rệt. Trong tương lai, Trung Quốc còn chủ trương trang bị cả các loại pháo 40mm-76mm cho các tàu Hải giám. Trong tương lai gần, lực lượng giám sát biển của Trung Quốc sẽ không chỉ có khả năng giám sát mà còn có khả năng tấn công trên biển, sẵn sàng chuyển sang trạng thái chiến đấu khi có xung đột hoặc chiến tranh xảy ra, hoàn toàn có khả năng hỗ trợ đắc lực cho hành động của hải quân trung Quốc./.


    Huy Toàn


    (Tổng hợp theo Tạp chí
    Kiến thức quốc phòng hiện đại)

  3. #3
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,228
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Tên lửa và máy bay của Hải quân Trung Quốc

    từ cải cách mở cửa 1978 đến nay, với 4 hiện đại hóa trong đó có hiện đại hóa quốc phòng, Hải quân Trung Quốc đã đi một bước dài về chất lượng.
    Trong đó, lực lượng này đã đạt được một số tiến bộ về tàu chiến với tính cơ động, thông tin – radar và hệ thống hỏa lực, từ các loại ngư lôi, thủy lôi, pháo phòng phông, đến tên lửa phòng không và tên lửa đối hải, tầm chiến thuật đến tầm chiến dịch.
    Tên lửa đối hạm tiến bước dài
    - Các loại tên lửa tầm ngắn:
    + Tên lửa đối hạm C-801 là tên lửa đối hạm đa năng tốc độ cao, trang bị cho tàu khu trục, tàu hộ vệ, tàu ngầm thông thường, tàu tuần tiễu cao tốc hoặc trên máy bay ném bom cường kích. Chủ yếu dùng để tiến công tàu khu trục, tàu hộ vệ…
    Thông số kỹ thuật: chiều dài 5,82m, trọng lượng 815kg, đầu đạn 165kg, động cơ 2 tầng, nhiên liệu rắn, tầm bắn 8-40km (trang bị trên hạm), 10-15km (trang bị trên máy bay), tốc độ 0,9M, độ tin cậy 80%.
    Phương thức phóng quả hay phóng loạt, sau khi phóng từ tàu, động cơ trợ đẩy hoạt động, sau mấy giây động cơ này từ từ tách ra, tên lửa đạt tốc độ Mach 0,9, lúc đó động cơ chính mới hoạt động, tên lửa bay ở chế độ hành trình, khi cách mục tiêu dự định ở cự ly nhất định thì thiết bị quét và bám mục tiêu điều khiển tên lửa tiến công mục tiêu.
    Nếu phóng từ máy bay, tên lửa không sử dụng động cơ trợ đẩy, sau khi phóng động cơ chính làm việc ngay, tên lửa nhanh chóng hạ độ cao, bay theo mặt biển cho tới khi đến mục tiêu.

    Tên lửa đối hạm C-801 rời bệ phóng.

    + Tên lửa đối hạm C-801: Chiều dài 6,39m, tầng hai dài 5,14m, đường kính 0,36m, cánh mở 1,22m, cánh gập 0,72m, trọng lượng 715kg, tầng hai là 530kg, đầu đạn 165kg, tốc độ 0,9M , tầm bắn hiệu quả 12-120km.
    + Tên lửa đối hạm C-701: Là loại tên lửa mới nhất do công ty xuất khẩu Tinh Mật chế tạo, phóng từ tàu chiến và máy bay. Chiều dài 2m, đường kính 250mm, trọng lượng 150kg, tốc độ cực đại 0,8M, tầm bắn hiệu quả 15-20km. C-701 gắn thiết bị tìm mục tiêu bằng hồng ngoại, chủ yếu để tiến công các mục tiêu nhỏ như tàu tuần tiễu cao tốc hoặc dùng làm tên lửa chiến thuật không đối đất.
    +Tên lửa siêu tốc đối hạm C-101: nó có trọng lượng 1.500kg, dài 7,5m trang bị trên máy bay, tầm bắn hiệu quả 4,5km, đầu đạn 300kg, tốc độ bay ngang 2M, chiều rộng sải cánh 1,62m; có loại 1.800kg, dài 6,5m trang bị cho tàu chiến.
    + Tên lửa bờ đối hạm, hạm đối hạm HY-2: Tầm bắn hiệu quả lớn nhất 20-100km, tốc độ 0,9M, đãn đường tự chủ khống chế và tự động, độ cao điểm phóng từ 0-400m, phương thức phóng quả một hay phóng loạt, trọng lượng 300kg, đường kính 0,76m, sải cánh 2,4m, đầu đạn 513kg.
    + Tên lửa bờ đối hạm, không đối hạm HY-4: Chiều dài 7,36m, đường kính 0,76m, sải cánh 2,4m, đầu đạn 513kg, hiệu quả 70%, dẫn đường tự khống chế và dẫn đường tự động. Tầm bắn hiệu quả 35-135km, tốc độ 0,85M, giá phóng nghiêng 85 độ, phương thức phóng quả một hay phóng loạt, trọng lượng 2.000kg (bờ đối hạm), 1.740kg (không đối hạm).
    - Tên lửa tầm trung, tầm xa:
    + Tên lửa đạn đạo tầm trung Cự Lãng-1 (JL-1) hoặc còn được gọi là CSS-N-3. Tên lửa được phóng đi tàu ngầm là loại tên lửa đẩy 2 tầng, cải tiến từ tên lửa Đông Phong 4 (DF-4). JL-1 có chiều dài 9,8m, đường kính 1,34m, tầm bắn 2.800km, phương thức phóng là đẩy 2 tầng, nhiên liệu rắn, hệ thống dẫn đường bằng quán tính. Tàu ngầm hạt nhân lớp Hạ có 12 JL-1.
    +Tên lửa đạn đạo tầm xa JL-2 (CSS-N-4): kết cấu 3 tầng, nhiên liệu rắn, trọng lượng 19 tấn, tầm trên 8.000km, sai số dưới 100m, hệ thống dẫn đường bằng quán tính và GPS, trang bị cho tàu ngầm hạt nhân lớp Tấn, loại tàu ngầm hiện đại nhất của Trung Quốc.
    - Các loại tên lửa đối hạm mua của Nga: Tên lửa Moskit (SS-N-22)
    Phần trên nói về các loại tên lửa đối hạm do Trung Quốc tự sản xuất hoặc sản xuất theo mẫu nước ngoài. Riêng với lớp tàu khu trục hiện đại (Sovremnny) mua của Nga 4 chiếc thì trang bị tên lửa đối hạm siêu âm Moskit (SS-N-22) với 8 tên lửa tầm bắn 160km.
    Tên lửa đối không “Thức dậy”
    Phòng không trên tàu là điểm yếu của tàu chiến Trung Quốc trước đây. Nay có một số loại tên lửa phòng không:
    - Loại SA-N-7 của Nga trên tàu khu trục hiện đại, mỗi tàu có 2 bệ với 44 quả tầm bắn xa 25km và độ cao 50.000m.
    - Loại HQ-7 (hay FM-80) trang bị trên tàu khu trục lớp Lữ Hải, có 1 giá phóng tên lửa 8 nòng, tầm bắn xa 12km và độ cao 5.000m, dài 3m, trọng lượng 84,5kg, tốc độ cực đại 2,3M, dẫn đường bằn radar hay tự động bám mcuj tiêu bằng hình ảnh có thể đánh mục tiêu tầm thấp, trung, siêu thấp.
    - Loại “rắn chuông biển” trên tàu khu trục lớp Lữ Hộ có 1 giá phóng 8 nòng, cơ số đạn 26 quả, dẫn đường vô tuyến, tốc độ 2,4M, tầm bắn 13km, bộ phận chiến đấu nặng 14kg.

    Tên lửa phòng không HQ-61.

    - Loại Hồng Kỳ 61 (HQ-61) trên tàu hộ vệ lớp Giang Vệ, 1 giàn 6 nòng PL-9/RF-61 (CSA-N-2) bán chủ động dò tìm mục tiêu, tầm bắn 10km. Đây là loại cải tiến từ HQ-61, tên lửa cơ động dặt trên xe do Trung Quốc tự sản xuất và trang bị cho lực lượng phòng không từ những năm 1980. Chiều dài 3,99m, đường kính 286mm, trọng lượng 300kg, sải cánh 1,17m, tốc độ lớn nhất 3M.
    - Loại Hồng Kỳ 16 (HQ-16) vừa thử nghiệm trên tàu khu trục ở Hạm đội Nam Hải, mô phỏng hệ thống tên lửa trên tàu khu trục hiện đại, dài 5,5m, trọng lượng 690kg, đầu đạn 70kg, tầm bắn hiệu quả 35km, tầm bắn 14.000 đến 22.000m, tốc độ 3M.
    Máy bay Hải quân Trung Quốc
    - Máy bay ném bom, rải lôi có H-6 (nguyên bản Tu-16 của Liên Xô) và cải tiến từ H-6 như H-6D/T…
    + H-6T do công ty Tây An cải tiến từ H-6 để không những có thể ném bom các mục tiêu trên đất liền và trên biển mà còn gắn 2 tên lửa chống hạm C-601 ở hai bên cánh. Thông số kỹ thuật: dài 34,8m, sải cánh 34,19m, cao 10,34m, trọng lượng cất cánh tối đa 75.800kg, vũ khí mang tối đa 9.000kg, trần bay 12.000m, tốc độ tuần tiễu 786km/h, hành trình 4.300km, bán kính hoạt động 1.800km, thời gian bay liên tục 5h40 phút.
    + H-7A là loại ném bom tầm trung mới nhất đã tham gia một số cuộc diễn tập. H-7A gắn động cơ AL-31SM do Nga chế tọa, có sức đẩy cực đại lên 13 tấn, vũ khí mang theo 10.000kg, có hệ thống tiếp dầu trên không và hệ thống dẫn đường vũ khí hoàn hảo.
    H-7A mang các tên lửa đối hạm AM-39, C-601/611, C-801/802 và C-803 cải tiến, đặc biệt có tên lửa Kh-65SE (sản xuất phỏng theo tên lửa của Nga) và tên lửa đối hạm Kh-31A (AS-17), chống bức xạ Kh-31P và tên lửa đối hạm trên biển Kh-41, phát triển từ Kh-31A, trọng lượng phóng 4.500kg, đầu đạn nặng 320kg, sử dụng quán tính và dẫn đường chủ động/bị động. Tốc độ phóng ở tầm cao 3M, tầm thấp là 2,1M, tầm phóng tối đa lần lượt là 250km và 150km. Các loại tên lửa đối hạm trên tàu khu trục hiện đại cũng có thể gắn vào H-7A sử dụng.
    + Thủy phi cơ ném bom H-5 có trọng lượng cất cánh 45 tấn, trọng tải 18 tấn (9 tấn xăng dầu, 9 tấn hàng) tốc độ tối đa 570km/h.

    Máy bay cường kích JH-7.

    - Máy bay cường kính Q-5, JH-7, Su-30MK2:
    + Q-5: là thành phần hỗ trợ phạm vi gần, có các loại Q-5 cơ bản, Q-5I tăng hành trình, Q-5II, Q-5III xuất khẩu, loại mới nhất Q-5C, loại hợp tác sản xuất với Italia Q-5M. Thông số kỹ thuật: dài 15,6m, sải cánh 9,68m, cao 4,33m, bán kính hoạt động 500km, vũ khí có 2 pháo 23mm, tên lửa đối không…tối đa 1.500kg.
    + JH-7 mang 4 tên lửa lửa đối hạm YJ-6 (C-601) dài 21m, sải cánh 12,8m, cao 6,22m, vũ khí mang theo 5.000kg, bán kính hoạt động 900km.
    + Su-30MK2 (Trung Quốc gọi là J-13): 2 người lái, 1 pháo 30mm, 6 tên lửa R-27ER, mang 8.000kg bom, dài 21,94m, sải cánh 14,7m, vận tốc tối đa 2.820km/h.
    - Máy bay tiêm kích bom “báo bay” FBC-1: Do tổng công ty công nghiệp hàng không Trung Quốc thiết kế, dài 23,32m, sải cánh 12,7m, cao 6,57m, vũ khí gắn ngoài tối đa 6.500kg, gắn pháo 23mm và các loại tên lửa không đối không, đối đất, đối hạm. Tốc độ hành trình 1,7M, bán kíh hoạt động 1.450km.
    - Máy bay tiêm kích J-8B/D/F/I: J-8 do công ty chế tạo máy bay Thẩm dương sản xuất. Thông số kỹ thuật: dài 21,52m, sải cánh 9,34m, cao 5,41m, tốc độ tối đa 2,2M, trần bay 20.500m, bán kính hoạt động 600km, vũ khí 2 pháo nòng kép 23mm, 5 giá treo các loại tên lửa PL-2/5/7/9/10. Các loại J-8B/D/F/I cải tiến để phát hiện và tiến công mục tiêu cả ngày lẫn đêm và quan trọng nhất là nâng bán kính hoạt động lên 800km.
    - Máy bay tiêm kích J-7 có các loại J-7E/FS. J-7E có 1 cánh hình tam giác thành 2 hình tam giác, giảm tiêu hao nhiên liệu, tên lửa tính năng cao, có thêm hai điểm treo, tăng cường hỏa lực đối hạm…
    - Trực thăng hạng nặng Z-8A, Z-78S/TH: trọng lượng 6.980kg, tốc độ tối đa 300km/h, độ cao (treo một chỗ) 1.900-5.500m, thời gian trôi trên mặt nước 6-10h.
    (tienbh)

  4. #4
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,228
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Phòng không nhà ta có được con này thì ngon quá!




    Tên: PGZ 2000.(Pháo phòng không 35 ly )
    Tầm bắn hiệu quả: 4.000 mét
    Tốc độ bắn: 550 phát/phút


    H3-1100/85's Avatar

    H3-1100/85

     02:46, 2nd Mar 2012 #3963 

    bảo thằng có nó nhượng cho...xem thằng nào thích rượu,thịt,gọi ra bờ rào đổi...hi..ii


    Sửa lần cuối bởi trucngon; 08-12-2011 lúc 03:45 PM.

  5. #5
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết
    Khu trục hạm của Hải quân Trung Quốc vươn tới đại dương

    Cuối những năm 1990-x sang những năm đầu của thế kỷ 21, Hải quân Trung Quốc đã có những bước tiến mạnh mẽ nhằm khẳng định sức mạnh của một cường quốc quân sự đang có chiến lược trên các đại dương. Một trong những bước tiến mạnh mẽ đó là ngành đóng tầu quân sự Trung Quốc đã có những thành công có tính quyết định. Đó là các lớp tầu khu trục - phòng không. Type 051 và Type 052C.

    Type 052C. Tháng 5 năm 2003, tạp chí Jane's Defense Weekly đã giới thiệu tầu khu trục kiểu mới của Trung quốc Type 052C (Luyang-II class), được nhiều thông tin nhắc đến như một sản phẩm mang nhiều bản copy công nghệ không có bản quyền của nước ngoai.

    Cần phải thẳng thắn thừa nhận rằng, Type 052C là sản phẩm thật sự của công nghiệp đóng tầu hiện đại Trung Quốc phát triển với đặc điểm là có hệ thống phòng không rất mạnh. Tầu khu trục được trang bị hệ thống phóng tên lửa thẳng đứng và radar anten mạng pha, tên lửa phòng không HQ-9 với tầm bắn rất xa. Hải quân Trung Quốc dự kiến sẽ đóng nhiều tầu có hệ thống phòng không cực mạnh và có lượng giãn nước lớn. Sự xuất hiện của Type 052C đã làm giảm đi đáng kể ưu thế Không Hải của lực lượng quân đội Mỹ trong khu vực Thái bình dương và Vịnh Thái lan.
    Từ cuối những năm 1960, trên thế giới đã có xu hướng phát triển các tên lửa chống tầu có tầm bắn xa, tốc độ cao và trần bay thấp. Điều đó buộc các nhà đóng tầu quân sự phải tiến hành triển khai nghiên cứu thiết kế các chiến hạm có khả năng phòng ngự đánh chặn các đòn tấn công bằng tên lửa chống tầu với số lượng lớn trong đội hình hải chiến. Từ đó, xuất hiện những tầu chiến được trang bị các ống phóng tên lửa phòng không thẳng đứng, cho phép trong 1 thời gian ngắn có thể phóng các tên lửa phòng không đánh chặn tên lửa chống tầu có số lượng lớn, đồng thời sử dụng các radar tìm kiếm, bám dính và bắt mục tiêu dạng anten mạng pha, các radar dạng mạng pha có khả năng phát hiệt và theo dõi nhiều mục tiêu trên không cùng một lục, đồng thời có thể đảm bảo tấn công đánh chặn cả máy bay chiến đấu và tên lửa chống tầu. Từ đó, các hệ thống phóng tên lửa phòng không thẳng đứng đặt dưới sàn và khoang tầu đang làm một cuộc cách mạng trong công nghệ đóng tầu quân sự hiện nay.


    Hệ thống tên lửa phòng không tầm xa ống phóng thẳng đứng


    Vào những năm 1980, Liên xô và Mỹ đã chế tạo thành công các hệ thống tên lửa phòng không trên biển. Người Mỹ đã chế tạo hệ thống AEGIS với radar anten mạng pha SPY-1 và hệ thống phóng tên lửa thẳng đứng Мк41. Liên bang Xô viết cũng thiết kế thành công hệ thống tên lửa phòng không Fort-M với hệ thống phóng đạn kiểu ổ xoay sử dụng tên lửa S-300( hệ thống tên lửa có ống phóng đạn kiểu revolve được thế giới biết đến với cái tên russian – revolve. Vào năm 2002, theo thông tin trên mạng Internet Nga, người Trung Quốc đã bỏ 200 triệu USD để có được 2 hệ thống phóng tên lửa Fort-M của Nga nhằm trang bị cho 2 tầu khu trục type -051C. Vụ mua bán trên không gây ra tiếng vang ở trên thị trường vũ khí trên thế giới cho đến khi, sau một năm xuất hiện các thông tin về tầu khu trục hiện đại mẫu type 052C và giới truyền thông quân sự phương Tây bắt đầu xôn xao. Năm 2004, một trạng mạng của Mỹ thông báo, người Trung quốc đã copy hệ thống tên lửa S-300, và hệ thống điều khiển tên lửa thì copy từ hệ thống điều khiển tên lửa đánh chặn Patriot-2. Đồng thời, một trang web của châu Âu cũng đưa tin, hệ thống radar của Trung Quốc có an ten giống hệt như hệ thống ăn ten của Mỹ SPY-1. Như vậy, Phương Tây đang cố gắng tưởng tượng thiết kế của tầu khu trục type 052C là sản phẩm của quá trình lắp ghép các bản copy công nghệ phi bản quyền của các cường quốc công nghệ quân sự nước ngoài.

    Nhưng cùng với những công bố trên mạng và điều tra thực tế, các chuyên gia quân sự châu Âu đã phát hiện ra rằng, cấu tạo thiết kế của hệ thống ống phóng tên lửa Trung Quốc không phải là hệ thống phóng tên lửa revolve của Nga, người Trung Quốc đã lắp các ống chứa đạn tên lửa và đồng thời là ống phóng đạn tên lửa lên tầu. Mỗi thùng chứa là một ống phóng đạn. Hệ thống Fort-M của Nga chỉ có 1 cửa phóng, trống chứa đạn tên lửa quay quanh trục và đưa tên lửa đến ống phóng (tương tự như hệ thống nạp đạn của xe thiết giáp BMP-1. Đồng thời cũng thấy rằng, hệ thống an ten mạng pha của Trung Quốc là hệ thống phát xạ tích cực, chứ không hấp thụ sóng radar thụ động như của Spy-1 của Mỹ.


    Ống phóng tên lửa S-300F trên boong tầu


    Từ những quan sát và nhận định đã nêu, các chuyên gia quân sự phương Tây đã cho rằng, Trung Quốc với mẫu tầu khu trục Type 052C đã bước lên nhóm nước chế tạo tầu chiến cấp II (Nga, Anh và Đức) , nhưng còn xa mới đạt được cấp I (Mỹ). Trước khi xuất hiện thế hệ tầu khu trục Type 052C, Trung Quốc đứng ở hàng thứ III, tương đương với Ấn Độ. Trên trang web militaryphotos.net giới thiệu hình ảnh mô phỏng của tầu khu trục Type 052C (Luyang-II class), có rất nhiều điểm tương đồng với tầu khu trục Mỹ Arleigh Burke.


    Mô phỏng 3D cấu tạo tầu khu trục lớp Luyang-II class


    Hiện nay mới có 2 tầu khu trục lớp 052C được chế tạo, đó là tầu 170 Lanzhou ( Lan Châu), kết thúc vào cuối năm 2002. hạ thủy vào ngày 29.04.2003, được biên chế vào lực lượng Hải quân Trung Quốc vào tháng 7 năm 2004 thuộc hạm đội Nam Hải và tầu 171 Haikou (Hải Khẩu) hạ thủy vào ngày 30.10.2003, biên chế vào lực lượng Hải quân Trung Quốc, thuộc hạm đội Nam Hải vào năm 2005.

    Tầu khu trục lớp type 052C được trang bị hệ thống điện toán điều khiển hỏa lực H/ZBJ-1 – hệ thống tương đương với hệ thống Aegis của Mỹ, hệ thống tự đồng số hóa xử lý, liên kết và truyền dữ liệu thông tin HN-900 (tương tự như hệ thống Link-11), hệ thống thiết bị kết nối vệ tinh truyền thông SNTI-240, radar Type 438 (dải băng tần S-band, tầm phát hiện mục tiêu lên đến – 450 km) với 4 dàn anten mạng pha, phát triển bởi Viện nghiên cứu công nghệ điện tử viễn thông Nam Kinh (Nanjing Research Institute of Electronic Technology) trước đây là Viện nghiên cứu 14, hai radars phát hiện tọa độ mục tiêu trên không Type 571Н-1 Knife Rest, Radar điều khiển hỏa lực tên lửa chống tầu và pháo hạm МР-331 «Мinheral-МE» xuất xứ từ Nga , radar điều khiển hỏa lực МЗАК Type 347G Rice Lamp (EFR-1), hệ thống tìm kiếm xác định mục tiêu bằng sonar – thủy âm gắn vào thân tầu ГАС SJD8/9 (nâng cấp của hệ thống DUBV-23) và hệ thống tìm kiếm xác định mục tiêu sonar-thủy âm kéo theo tầu ГАС ESS-1 (hoàn thiện từ hệ thống DUBV-43). Hệ thống thiết bị quang điện tử : OFC-3. Hệ thống thiết bị chế áp quang điện tử: 4x18-ống Type 726-4 decoy RL.


    Các bộ phận vũ khí trang bị trên boong tầu Type 052C

    Tính năng kỹ chiến thuật của tầu khu trục

    - Lượng gián nước - 6600 tấn
    - Chiều dài – 153,0 m
    - Chiều rộng lớn nhất– 16,5 m
    - Mức ngấn nước – 6 m
    - Động cơ – 2 trục truyền lực, 2 Động cơ tuốc bin DA80/DN80 (Ucraina, 48600 mã lực.), 2 động cơ điesen Shaanxi (bản copy MTU-20V956 TB92, 8840 mã lực.)
    - Tốc độ – 29 knots
    - Thủy thủ đoàn – 250 người. (bao gồm có. 40 sĩ quan)
    Vũ khí trang bị
    - 2х4 hệ thống phóng tên lửa hành trình chống tầu YJ-62
    - 6х6 (phần mũi tầu) và 2х6 (phần đuôi tầu) Ống phóng tên lửa phòng không HQ-9 (S-300F)
    - Pháo hạm 1х1 100-mm
    - Pháo phòng không 2х7 30-mm МЗАК Type 730
    - Hai bệ phóng ngư lôi 2х3 -324-mm (ngư lôi Yu-7)
    - Ống phóng rocket chống ngầm 2х12 240-mm Loại Type 75
    Ống phóng rôc két chống ngầm 4х18 РБУ
    - Máy bay trực thăng hải quân: 1 Ка-28 hoặc Z-9C trong khoang tầu.


    Khu trục hạm lớp Luhu Type 051 Trung Quốc


    Hai tầu khu trục đầu tiên của Trung Quốc là mẫu tầu Type 051 (Luhu – class) được thiết kế bởi Viện thiết kế chiến hạm Trung Hoa (tên đầy đủ là Viên nghiên cứu khoa học số 7 Bộ Quốc phòng - Seventh Academy of the Ministry of National Defense), nhà máy đóng tầu Giang Nam đã. No.112 Cáp Nhĩ Tân là tầu khu trục đầu tiên được đóng, sau đó là tầu No.113 Thanh Đảo. Cả hai tầu bắt đầu được đưa vào biên chế cho lực lượng Hải quân Trung Quốc vào tháng 5 năm 1994.
    - Động cơ trạm nguồn
    Đông cơ tuốc bin112 Harbin - 2 General Electric LM2500 , 55,000 mã lực (41 MW) + Động cơ điện MTU Friedrichshafen 12V 1163TB83 diesel, 8,840 mã lực (6.5 MW)
    Động cơ diesel 113 Thanh đảo – Động cơ gas tuốc bin 2 x Ukraine GT-25000, 48,600 mã lực (35.7 MW) + động cơ phát điện trạm nguồn MTU Friedrichshafen 12V 1163TB83 diesel, 8,840 mã lực (6.5 MW)
    - Chiều dài - 467.8 feet / 142.6 m
    - Chiều rộng thân tầu - 49.5 feet / 15.3 m
    - Mức ngấn nước - 16.7 feet / 5 m
    - Lượng giãn nước - 4,200 tấn (tiêu chuẩn), 4,800 tấn (đủ tải)
    - Tốc độ hải trình - 31 knots
    - Dự trữ hải trình - 4,000 nmi (1nm = 1,852 met) với tốc độ 15 knots
    - Thủy thủ đoàn - 260 (40 sĩ quan).

    Hệ thống C3I
    ZKJ-4B (hệ thống quản lý điều hành tác chiến, điều khiển hỏa lực và trang thiết bị thân tầu tương tự như hệ thống Thomson-CSF TAVITAC với tốc độ truyền dữ liệu là > 1 MPBS)
    Hệ thống quang điện tử 2 x Type 630 (GDG-775)
    Hệ thống liên kết dữ liệu: HN-900 (Tương đương với hệ thống Link 11A/B.
    Thiết bị liên kết vệ tinh: SNTI-240 SATCOM
    Các thiết bị Radar/Sonar
    - Type 363 radar tương đương hệ thống Thomson-CSF TSR 3004 (DRBV-15) Sea Tiger radar trên không và trên mặt biển, dải băng tần số E/F (112 Harbin)
    - Type 360S (SR60) radar trên không và trên biển, dải băng tần số E/F band (113 Thanh đảo)
    - Type 518 (REL-1/2) radar theo dõi tầm xa 3D Hải Jinh3D , dải băng tần L
    - Type 362 (ESR-1) radar quan sát, tìm kiếm và theo dõi mục tiêu tầm thấp, dải băng tần I
    - Type 345 (MR35) Radar điều khiển hỏa lực tên lửa HQ-7 Hải đối không dải băng tần J
    - Type 344 (MR34) Radar điều khiển tên lửa chống tầu YJ-8x SSM và pháo hạm 100 mm, dải băng tần I/J
    - 2 x Type 347G (EFR-1) Radar điều khiển hỏa lực của pháo phòng không 37 mm AA, dải băng tần I
    - 2 x Racal RM-1290 radar định vị và dẫn đường điều khiển tầu, dải băng tần I
    - DUBV-23 (SJD-8/9) thiết bị trinh sát sonar thủy âm gắn với đáy tầu
    - DUBV-43 (ESS-1) thiết bị trinh sát sonar thủy âm kéo theo tầu VDS
    Vũ khí trang bị
    - 4 x 4 YJ-83 (C-803) AShM tên lửa chống tầu
    - 1 x 8-thùng phóng tên lửa HQ-7 SAM với 8 tên lửa sẵn sàng phóng và 16 tên lửa dự phòng.
    - Pháo hạm 1 x Type H/PJ33A 100 mm/56.
    - Pháo phòng không 4 x Type H/PJ76A 37 mm AA
    - Ống phóng ngư lôi 2 x Type 7424 324 mm Yu-7 ASW torpedo
    - Bệ phóng rocket chống tầu ngầm 2 x Type 75 (RBU-1200) 240 mm 12-ống ASW.
    - Hệ thống tác chiến điện tử và chế áp điện tử
    1 x Type 984-1 ECM băng tần số 'X' đài radio gây nhiễu(truyền phát tín hiệu)
    1 x Type 984-4 ECM 'X' băng tần số đài radio (thu tín hiệu)
    1 x Type 928A ESM
    2 x Type 946 15-ống phóng đạn gây nhiễu mảnh /lưới gây nhiễu radar.
    Máy bay trực thăng
    2 x Kamov Ka-27 'Helix' hoặc Harbin Z-9C (bản copy có bản quyền trực thăng Eurocopter Dauphin)

    Biên dịch: Trịnh Thái Bằng.tech.edu

    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  6. #6
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,228
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Chế độ quân hàm của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc


    QĐND - Trước khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã hai lần dự định thực hành chế độ quân hàm. Nhưng do hoàn cảnh, hai lần dự định ấy đều không thể thực hiện. Sau khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, nhằm tăng cường xây dựng quân đội Trung Quốc chính quy hóa, hiện đại hóa, mùa đông năm 1952, quân đội Trung Quốc đã bắt tay nghiên cứu chế độ quân hàm. Ngày 26-11-1952, trong báo cáo với Chủ tịch Mao Trạch Đông và Quân ủy Trung ương, Cục Cán bộ Tổng bộ Chính trị đã sơ bộ đệ trình kế hoạch và những vấn đề chuẩn bị thực hành chế độ quân hàm.
    Lễ tấn phong quân hàm Nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, năm 1955. Chủ tịch Mao Trạch Đông trao quân hàm cho Nguyên soái Chu Đức.

    Năm 1955, quân đội Trung Quốc chính thức thực hiện chế độ quân hàm. Xây dựng cấp bậc của chế độ quân hàm lần này được dựa trên cơ sở của hệ thống cấp bậc quân hàm truyền thống của Trung Quốc, đồng thời có tham khảo theo chế độ quân hàm của các nước Liên Xô, Triều Tiên. Chế độ quân hàm đặt 4 cấp 14 bậc, tức Đại nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Đại nguyên soái thực tế không thụ phong); Đại tướng, Thượng tướng, Trung tướng, Thiếu tướng; Đại tá, Thượng tá, Trung tá, Thiếu tá; Đại úy, Thượng úy, Trung úy, Thiếu úy.
    Ngày 27-9-1955, Hội nghị lần thứ 22 Quốc hội Trung Quốc đã thông qua Nghị quyết thụ phong quân hàm Nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Cùng ngày, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã thụ phong quân hàm Nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho 10 vị: Chu Đức, Bành Đức Hoài, Lâm Bưu, Lưu Bá Thừa, Hạ Long, Trần Nghị, La Vĩnh Hằng, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn, Diệp Kiếm Anh. Thủ tướng Quốc vụ viện Chu ân Lai đọc mệnh lệnh và thụ phong quân hàm Đại tướng nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho 10 người: Túc Dụ, Hoàng Khắc Thành, Đàm Chính, Tiêu Kinh Quang, Vương Thụ Thanh, Trần Canh, La Thụy Khanh, Hứa Quang Đạt, Từ Hải Đông, Trương Vân Dật; Thụ phong quân hàm Thượng tướng cho 55 người; Thụ phong quân hàm Trung tướng cho 175 người; Thụ phong quân hàm Thiếu tướng cho 801 người (trong đó có đồng chí Hồng Thủy -Nguyễn Sơn, người Việt Nam, người nước ngoài duy nhất được phong hàm cấp tướng của Trung Quốc).Về sau, trong thời gian từ năm 1956 đến năm 1964, lại tiếp tục tấn phong một loạt tướng quân.
    Đến năm 1965, tổng cộng đã thụ phong quân hàm cấp tướng cho 1.614 người. Ngày 22-5-1965, Hội nghị Thường vụ lần thứ 9 Quốc hội Trung Quốc khóa 3 đã thông qua “Quyết định về thủ tiêu chế độ quân hàm Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc”, bắt đầu thi hành từ ngày 1-6-1965.
    Tháng 3-1980, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Đặng Tiểu Bình đề xuất cần thực hiện lại chế độ quân hàm. “Luật Binh dịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” do Hội nghị Thường vụ lần thứ 2 Quốc hội Trung Quốc khóa 6 họp ngày 31-5-1984 thông qua, đã quy định: “Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc thực hành chế độ quân hàm”. Tháng 6-1985, Quân ủy Trung ương triệu tập Hội nghị mở rộng, kiên quyết đề xuất cắt đứt thể chế quân hàm đã thực hành từ năm 1965 về trước, “thực hành chế độ quân hàm mới”.
    Ngày 1- 7-1988, Hội nghị Thường vụ lần thứ 2 Quốc hội Trung Quốc khóa 7 đã thông qua “Điều lệ Quân hàm Sĩ quan Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc”. Chế độ quân hàm của hạ sĩ quan, chiến sĩ đồng thời được lập. Chế độ quân hàm mới công bố không lập cấp Nguyên soái, Đại tướng và Đại úy, coi cấp Thượng tướng là quân hàm cao nhất. Quân hàm sĩ quan thiết lập 3 cấp 11 bậc, tức là Cấp tướng gồm Thượng tướng cấp 1, Thượng tướng, Trung tướng, Thiếu tướng; Cấp tá gồm Đại tá, Thượng tá, Trung tá, Thiếu tá; Cấp úy gồm Thượng úy, Trung úy, Thiếu úy. Sĩ quan hải quân, không quân quân hàm thêm từ “Hải quân”, “Không quân”. Sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, trong quân hàm thêm từ “Chuyên môn kỹ thuật”. Lãnh đạo Quân ủy Trung ương Đặng Tiểu Bình, Dương Thượng Côn chủ động đề xuất bản thân mình không nhận quân hàm, vì thế, bậc Thượng tướng cấp 1 bỏ trống.
    Ngày 12-5-1994, Hội nghị Thường vụ lần thứ 7 Quốc hội Trung Quốc khóa 8 thông qua Quyết định về sửa đổi “Điều lệ Quân hàm Sĩ quan Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc”. Điều lệ Quân hàm sau khi sửa đổi thiết lập 3 cấp 10 bậc, tức Thượng tướng, Trung tướng, Thiếu tướng; Đại tá, Thượng tá, Trung tá, Thiếu tá; Thượng úy, Trung úy, Thiếu úy. Ngày 10-9-1995, ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc khóa 8 thông qua “Luật Sĩ quan dự bị nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, quy định quân hàm sĩ quan dự bị thiết lập 3 cấp 8 bậc, tức Thiếu tướng; Đại tá, Thượng tá, Trung tá, Thiếu tá; Thượng úy, Trung úy, Thiếu úy. “Luật Binh dịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” công bố tháng 12-1998 quy định: Thời gian làm nghĩa vụ quân sự là 2 năm, và không kéo dài thời hạn làm nghĩa vụ nữa. Theo luật này, từ năm 1999 về sau, bỏ quân hàm Hạ sĩ quan và Quân nhân chuyên nghiệp.
    Lễ Tấn phong quân hàm Thượng tướng cho 6 sĩ quan cao cấp QGPNDTQ, ngày 23-7-2011. Ảnh tư liệu

    Quân hàm biên chế của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, về cơ bản thực hành chế độ một chức vụ biên chế hai bậc quân hàm, “Điều lệnh quân hàm sĩ quan…” sửa đổi do ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc thông qua năm 1994, quy định: Các chức vụ Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương, ủy viên thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng bộ Chính trị biên chế quân hàm là Thượng tướng. Không thụ phong quân hàm Thượng tướng cho Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Biên chế quân hàm cho các chức vụ khác như sau:
    Chức Trưởng Đại quân khu: Trung tướng, Thượng tướng;Chức Phó Đại quân khu: Thiếu tướng, Trung tướng; Chức Trưởng Quân khu: Thiếu tướng, Trung tướng;Chức Trưởng Sư đoàn: Đại tá, Thiếu tướng;Chức Phó Sư đoàn (chức Trưởng Lữ đoàn): Thượng tá, Đại tá;Chức Trưởng Trung đoàn (Chức Phó Lữ đoàn): Trung tá, Thượng tá;Chức Phó Trung đoàn: Thiếu tá, Trung tá;Chức Trưởng Tiểu đoàn: Thượng úy, Thiếu tá; Chức Phó Tiểu đoàn: Thượng úy, Thiếu tá;Chức Trưởng Đại đội: Trung úy, Thượng úy;Chức Phó Đại đội: Trung úy, Thượng úy;Chức Trung đội: Thiếu úy, Trung úy.
    Ngày 23-7-2011, Quân ủy Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã tổ chức Lễ tấn phong quân hàm Thượng tướng cho 6 sĩ quan cao cấp là Tôn Kiến Quốc, Hầu Thụ Sâm, Phó tổng tham mưu trưởng; Giả Bình An, Phó chủ nhiệm Tổng bộ Chính trị; Lưu Hiểu Giang, Chính ủy Hải quân; Trương Hựu Hiệp, Tư lệnh Quân khu Thẩm Dương; Lý Trường Tài, Chính ủy Quân khu Lan Châu.Tính đến ngày 23-7-2011, Quân Giải phóng nhân dân và Bộ đội cảnh sát vũ trang của Trung Quốc đã có 191 sĩ quan cao cấp được phong quân hàm Thượng tướng, quân hàm cao nhất ở Trung Quốc hiện nay.
    Vũ Phong Tạo
    Sửa lần cuối bởi trucngon; 01-03-2012 lúc 03:02 PM.

  7. #7
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết
    Nghệ thuật tiến hành chiến dịch đổ bộ đường biển khối NATO - Mỹ

    Trong giai đoạn ngày này, để vươn đến một nền kinh tế hải dương, lực lượng Hải quân các nước đang phát triển mạnh mẽ cả về vũ khí trang bị và khoa học công nghệ, Học thuyết sử dụng lực lượng Lĩnh thủy đánh bộ đang được coi trọng như là một công cụ đa năng nhằm chiếm lĩnh, thống trị những khu vực kinh tế quan trọng trên biển, đồng thời giải quyết các mâu thuẫn, xung đột và chiến tranh cục bộ trong khu vực. Điểm then chốt trong học thuyết này chính là Nghệ thuật chiến dịch đổ bộ đường biển của Lính thủy đánh bộ.

    Phương thức tiến hành các chiến dịch đổ bộ đường biển được tiến hành bởi lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ và NATO.

    Đổ bộ đường biển


    Lực lượng lính thủy đánh bộ (LTĐB)

    Số lượng lính thủy đánh bộ Mỹ khoảng hơn 200000 sĩ quan và binh sĩ. Trong giai đoạn hiện nay lực lượng thường trực chiến đấu của Lính thủy đánh bộ chiến khoảng 172 nghìn sĩ quan và hạ sĩ quan, binh sĩ, dự bị động viên chiếm khoảng 42 nghìn binh sĩ. Cơ cấu biên chế của lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ có 3 sư đoàn lính thủy đánh bộ, 3 trung đoàn không quân (1,2 và 3) 3 phân đội trinh sát, 3 phân đội đảm bảo hậu cần kỹ thuật, các tiểu đoàn đảm bảo an ninh cho những hoạt động đối ngoại của chính phủ, các đơn vị huấn luyện đào tạo và các phân đội huấn luyện. Một sư đoàn viễn chinh là lực lượng dự bị của Lính thủy đánh bộ.
    Lực lượng Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ được dự kiến sử dụng trong biên chế tổ chức cấp chiến dịch: Ba sư đoàn lính thủy đánh bộ viễn chinh, ba lữ đoàn viễn chinh và 7 tiểu đoàn (11,13,15,22,24,26,31). Một sư đoàn viễn chính có khoảng 50 nghìn ngươi, bao gồm sư đoàn LTĐB, và các tiểu đoàn đánh bộ. Một sư đoàn viễn chinh có quân số khoảng 50 nghìn sĩ quan binh sĩ, sư đoàn được biên chế sư đoàn lính thủy đánh bộ, một trung đoàn không quân lính thủy đánh bộ, phân đội trinh sát và phân đội hậu cần kỹ thuật.
    Một lữ đoàn viễn chính bao có quân số khoảng 16 nghìn binh sí, có trong biên chế một trung đoàn tăng cường (2 – 5 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ với các đơn vị tăng cường theo biên chế), một phân đội không quân hỗn hợp và một phân đội hậu cần kỹ thuật cấp lữ đoàn..
    Tiểu đoàn viễn chinh lính thủy đánh bộ bao gồm có khoảng 2,5 nghìn sĩ quan binh si (bao gồm có một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ với các đơn vị thuộc quyền tăng cường, một tiểu đoàn không quân hỗn hợp, phân đội trinh sát và phân đội hậu cần kỹ thuật..
    Để tăng cường khả năng cơ động chiến lược của lực lượng lính thủy đánh bộ, có triển khai 3 liên đội tầu kho hàng (tổng cộng 14 tầu) được đậu tại Biển Ấn độ dương (đảo Diego Garcia), trên Thái bình dương tại quần đào Guam và tại Biển Địa Trung Hải. Trên boong tầu có lưu kho vũ khí trang bị hạng nặng cho 3 sư đoàn viễn chinh tuyến 1 của lực lượng lính thủy đánh bộ, quân số biên chế 17300 binh sĩ với đầy đủ cơ số cơ sở vật chất hậu cần kỹ thuật, đảm bảo có thể triển khai các hoạt động tác chiến cấp chiến dịch trong thời gian 30 ngày liên tục. (mỗi sư đoàn có 58 xe tăng, 36 khẩu pháo – cối đi cùng từ 24 đến 81 mm. 100 xe bộ binh cơ giới lội nước BTP, 30 xe thiết giáp LAV, 6 tổ hợp tên lửa phòng không, 96 tổ hợp tên lửa chống tăng TOW, 96 tổ hợp tên lửa chống tăng Dragon.

    Vũ khí trang bị và hỏa khí đi cùng của LTĐB (video).

    Vũ khí trang bị của lữ đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ được lưu giữ trong các kho quân dụng ở bờ biển Na Uy. Trong biên chế của Lực lượng hải quân Mỹ có 35 tầu đổ bộ, 4 tầu chỉ huy lực lượng đổ bộ, 11 tầu đổ bộ đa nhiệm, 12 tầu đổ bộ có sàn và hầm chứa máy bay trên boong tầu cho khả năng đổ bộ đường không, 8 tầu vận tải kiêm cầu tầu cơ động, và 334 xuồng độ bộ các loại.
    Trong khuôn khổ các tài liệu nghiên cứu về "Sự phát triển của lực lượng đổ bộ Mỹ trong giai đoạn đến năm 2025” có kế hoạch trên cơ sở luân phiên trực chiến đảm bảo sự hiển diện trên năm khu vực hải dương quan trọng của thế giới lực lượng viễn chinh chủ lực mà nòng cốt là các sư đoàn viễn chinh của lính thủy đánh bộ Mỹ. Trong đó, cơ cấu biên chế tổ chức của lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ theo truyền thống sẽ bao gồm các các lực lượng trên mặt đất, trên không và trên biển, sử dụng Tập đoàn quân lực lượng LTĐB được thực hiện trong cơ cấu biên chế tổ chức liên quân, bao gồm cả các lượng lượng đặc nhiệm của các cơ quan quyền lực nhà nước Mỹ và lực lượng tham gia các chiến dịch đặc biệt. .
    Để thực hiện được sứ mệnh do chính phủ Mỹ giao cho, Bộ Tư lệnh lực lượng Lính thủy đánh bộ Mỹ yêu cầu 31 tầu đổ bộ thế hệ mới, trong đó có 10 tầu đổ bộ có hầm chứa trực thăng đổ bộ và sân bay trực thăng model San Antonio.
    Trong khu vực có tầm quan trọng chiến lực của Bộ tư lệnh khối quân sự NATO tại Địa Trung hải có một tiểu đoàn, hai trung đoàn và 5 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ. Trong nhiệm vụ đảm nhiêm phân vùng khu vực của Thái Bình dương cơ cấu biên chế của lực lượng hải quân có: khu vực Trung Quốc 2 tiểu đoàn, khu vực Hàn Quốc 2 sư đoàn và một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ, Khu vực Đài loàn 3 lữ đoàn lính thủy đánh bộ, khu vực Việt Nam – 2 lữ đoàn lính thủy đánh bộ; Thái Lan – một sư đoàn lính thủy đánh bộ, trong khu vực Indonesia – 2 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ, tại Philippin có 3 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ.
    Nhiệm vụ cơ bản của các đơn vị hợp thành và các phân đội của lực lượng lính thủy đánh bộ, đó là tham gia tác chiến hiệp đồng quân binh chủng với các lực lượng khác của Hạm đội, lực lượng Lục quân và lực lượng không quân trong các chiến dịch đổ bộ với chức năng là lực lượng đổ bộ thê đội I trong đội hình tấn công thứ nhất, với nhiệm vụ đánh chiếm bàn đạp tấn công trên bờ biển của đối phương, tạo điều kiện thuật lợi cho các lực lượng chủ yếu đổ bộ lên bờ.
    Các mô hình chiến dịch đổ bộ (cấp chiến dịch).
    Chiến dịch đổ bộ theo quan điểm bộ tổng tư lệnh lực lượng vũ trang các nước Phương Tây là: chiến dịch tấn công, được triển khai từ hướng biển lên đất liền bằng lực lượng đổ bộ đường biển của lính thủy đánh bộ và các lực lượng khác trên các chiến hạm, bao hàm cả đổ bộ lực lượng lên khu vực đối phương đang chiếm giữ và phòng thủ. Chiến dịch đổ bộ có thể được triển khai để thực hiện các nhiệm vụ quan trọng sau: nhằm mục đích liên kết phối hợp với các quân binh chủng khác, tiến hành các hoạt động tác chiến tiến công trên hướng biển; chiếm lĩnh các căn cứ và mục tiêu quan trọng của lực lượng hải quân đối phương, tấn công đánh chiếm các mục tiêu quan trọng trên vành đai phòng thủ bờ biển đối phương, các quần đảo và đảo đơn lẻ, chiếm lĩnh các vùng nước có dòng chảy mạnh, triển khai các hoạt động phá hoại tuyến đường vận tải và các mục tiêu quân sự, kinh tế chính trị của đối phương trong vùng hậu phương của đối phương..
    Theo quan điểm tác chiến của các bộ tổng tham mưu các lực lượng quân sự phương Tây, các chiến dịch đổ bộ đường biển của lính thủy đánh bộ có thể giải quyết các nhiệm vụ từ cấp chiến thuật, chiến dịch đến chiến lược. Các chiến dịch có không gian chiến trường rộng lớn và có ý nghĩa chiến lược với sự tham gia đến cấp sư đoàn viễn chinh nằm dưới quyền chỉ huy điều hành tác chiến của Bộ Tổng tham mưu liên quân (trong khối quân sự NATO sẽ là Bộ tổng tư lệnh các lực lương liên quân của khu vực tác chiến chiến lược NATO), trong các chiến dịch có không gian chiến trường nhỏ hơn – tư lệnh trưởng Hạm đội (Mỹ -Anh- Pháp). Chỉ huy trực tiếp các chiến dịch đổ bộ được thực hiện bởi Chỉ huy trưởng lực lượng hỗn hợp đổ bộ, khi đó sẽ thành lập Ban tham mưu hỗn hợp các lực lượng. Quyết định chỉ huy trưởng lực lượng đổ bộ được giao cho đại diện chính thức của lực lượng Hải quân, đồng thời cũng là chỉ huy trưởng của lực lượng hải quân tham gia chiến dịch đổ bộ.
    Theo các quan điểm tác chiến hiện nay, các chiến địch đổ bộ phụ thuộc vào mục tiêu đặt ra, giới hạn không gian chiến trường và nhiệm vụ thực hiện được chia thành 3 hình thức tác chiến: Xâm chiếm, Đánh chiếm và Đột kích. Ngoài ra, khối NATO còn có hình thức chiến dịch Nghi binh và Chiến dịch đổ bộ di tản. .
    Xâm chiếm – Là chiến dịch đổ bộ được tiến hành với sự tham gia của tất cả các lực lượng quân binh chủng với toàn bộ sức mạnh đột phá. Một trong những Ví dụ về Xâm chiếm trên địa bàn của nước Nga trong giai đoạn chiến tranh Crưm năm 1853 – 1856, quân đoàn viễn chinh của Anh – Pháp đã tiến hành chiến dịch xung phá lên bán đảo Crum, được bảo vệ bằng tuyến phòng thủ của quân đội Nga. Tham gia chiến dịch có 89 chiến hạm, khoảng 300 tầu vận tải, đã đổ bộ lên bờ biển công phá tuyến phòng thủ của quân đội Nga khoảng 62000 binh sĩ, thành công trong chiến dịch chống lại quân đoàn của tướng A.S.Mensisicov, có quân số trong biên chế là 34000 binh sĩ.


    Sơ đồ đổ bộ lên bờ biển Normandi nước Pháp

    Chiến dịch Xâm chiếm lớn nhất là chiến dịch đổ bộ đường biển "Overlord" lên bờ biển Normandi của liên quân Anh – Mỹ lên phía Bắc của nước Pháp, bắt đầu vào 6 tháng 7 năm 1944. Trong biên chế tổ chức có 4 tập đoàn quân (2,8 triệu quân) 3 sư đoàn đổ bộ đường không, tham gia có 1213 chiến hạm, 5786 tầu vận tải và các tầu hộ tống, hậu cần kỹ thuật. Chiến dịch được tiến hành dưới sự chỉ huy của tướng Dwight D. Eisenhower. Sau trở thành Tổng thống của nước Mỹ.
    Đánh chiếm: chiến dịch đổ bộ có ý nghĩa chiến dịch, được thực hiện với mục tiêu đánh chiếm các khu vực và giữ khu vực đánh chiếm được như các khu vực ven biển, các khu vực bàn đạp đầu cầu, các căn cứ hải quân ven biển, các hải cảng lớn, các đảo đơn lẻ hoặc các cụm đảo, quần đảo. Thông thường chiến dịch được tiến hành bởi lực lượng của hải quân và lính thủy đánh bộ. Vào năm 1945, lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ đã tiến hành các hoạt động tác chiến đánh chiếm hai hòn đảo quan trọng trong khu vực biển Nhật Bản.

    Sơ đồ đánh chiếm Đảo Iwo Jima của Nhật bản trong chiến tranh thế giới lần thứ II


    Sơ đồ đổ bộ đánh chiếm Okinawa của Nhật bản

    Đột kích- là hình thức tác chiến cấp chiến thuật của lực lượng lính thủy đánh bộ. Đột kích thường tiến hành với mục đích trinh sát hỏa lực – phá hoại hoặc biểu dương thị uy lực lượng từ cấp đại đội đến cấp trung đoàn. Ví dụ lực lượng LTĐB Mỹ đánh chiếm 2 hòn đảo Faylah và Bubiyan trong Vịnh Pec xich trong Chiến dịch Lá chắn Sa mạc và Bão táp Sa mạc năm 1991. Các phân đội lính thủy đánh bộ Mỹ đã tiến hành đổ bộ lên đảo bằng trực thăng và các phương tiện đổ bộ khác, các tầu chiến sử dụng hỏa lực yểm trợ với chiều sâu chiến dịch lên đến 20 km.

    Sơ đồ tác chiến đổ bộ của lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ trong chiến dịch bão táp Sa mạc

    Chiến dịch Bão táp Sa mạc 1991

    Chiến dịch Bão táp sa mạc lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ cũng đã sử dụng hình thức chiến thuật nhằm nghi binh đánh lừa giấu kín lực lượng và gây áp lực với sự tham gia lực lượng quân sự Đa quốc gia trong khu vực Vịnh Pec xich, tiến hành các hoạt động tác chiến trinh sát hỏa lực dọc bờ biển của Cô oet, rà quét thủy lôi và phá hủy các vật cản dưới nước, tập hợp 2 sư đoàn (1 và 2) lính thủy đánh bộ Mỹ triển khai dọc bờ biển. Nhưng các chiến dịch đột kích chỉ đánh chiếm các hòn đảo đơn lẻ, còn lực lượng chủ lực lính thủy đánh bộ tấn công dọc theo bờ biển của vịnh Pec xích.
    Hình thức chiến thuật (di tản) được đề xuất để tiến hành di tản lực lượng từ bờ biển của đối phương với việc sử dụng lực lượng và hỏa lực từ phía biển. Có thể nói, mô hình chiến dịch này xuất phát từ hàng loạt các cuộc chiến tranh khu vực và xung đột khu vực mà trong đó, các hoạt động quân sự NATO không đem lại kết quả mong muốn.

    Những chiến dịch đổ bộ điển hình

    Chiến dich Mercury "Operation Mercury" 20 tháng 5 năm 1941. Quân đội phát xít Đức tiến hành chiến dịch đổ bộ đường biển kết hợp với đổ bộ đường không, trong đó đổ bộ đường biển đóng vai trò nghi binh do tướng Student chỉ huy đã đánh chiếm đảo Crete, một hòn đảo được coi là không thể đổ bộ thành công được. Với 22750 binh sĩ thuộc lực lượng đổ bộ đường không đã đánh chiếm đảo, tiêu diệt và bắt sống hơn 40000 quân thuộc lực lượng quân Đồng Mình do Anh đứng đầu


    Chiến dịch đổ bộ trên bãi biển Heron - Cu Ba. Rạng sáng ngày 15-4-1961, Các phi đội máy bay bất thần không kích lãnh thổ Cuba, nhằm triệt phá những mục tiêu quân sự, trước hết là hệ thống sân bay, cầu cảng. Hai ngày sau, ngày 17-4-1961, hơn 1.200 lính đánh thuê được CIA và Quân đội Mỹ huấn luyện, trang bị, tổ chức và chỉ huy, đổ bộ lên bãi biển Hy-rôn, nằm ở miền Trung Cuba, cách thủ đô La Habana khoảng 500 km. Trận đánh kéo dài từ sáng sớm ngày 17 đến cuối giờ chiều ngày 19-4- 1961. toàn bộ lực lượng đổ bộ bị tiêu diệt. Đây là trận đổ bộ cấp chiến dịch có ý nghĩa chiến lược, nhưng đã không đánh giá đúng được tình hình quân đội Cuba, nên lực lượng đổ bộ đã bị bao vây, chia cắt và tiêu diệt toàn bộ.

    Chiến dịch Just Cause - Panama. Từ 20 tháng 12 năm 1989 đến 31 tháng 1 năm 1990 do Tổng thống Mỹ George H. W. Bush ra lệnh xâm chiếm Panama, lật đổ và bắt giữ Tổng thống Noriega, tiêu diệt lực lượng quân đội Panama. Lực lượng tham gia 26000 quân thuộc lực lượng đổ bộ đường không và lực lượng lính thủy đánh bộ. Quân đội Panama (PDF) bị đánh tan rã và thiệt hại nặng nề, tổng thống Noriega bị bắt và bị xử 40 năm tù trên đất Mỹ.

    Chuẩn bị và lên kế hoạch chiến dịch đổ bộ.
    Không phụ thuộc vào cấp độ của các chiến dịch đổ bộ đường biển. Hình thức chiến dịch đổ bộ bao gồm có năm bước thực hiện: Lên kế hoạch đổ bộ, đưa lực lượng đổ bộ lên các tầu đổ bộ và các chiến hạm, diễn tập thử đổ bộ lực lượng lên bờ, triển khai hành quân vượt biển, đổ bộ lính thủy đánh bộ và các hoạt động tác chiến trên bờ biển..


    Sơ đồ tổng quan tiến hành một chiến dịch đổ bộ đường biển

    Kế hoạch tác chiến đổ bộ

    Bước I: lên kế hoạch bao gồm giai đoạn thời gian tính từ thời điểm nhận được chỉ thị của cơ quan tham mưu cấp trên về nhiệm vụ triển khai chiến dịch đổ bộ cho đến điểm bắt đầu chiến dịch. Trong tiến trình lập kế hoạch sẽ nghiên cứu các vấn đề về điều hành, liên kết phối hợp, hỏa lực không quân yểm trợ, cơ động hành quân trên biển, đổ bộ lực lượng và tổ chức đánh chiếm bàn đạp đổ bộ. Thời gian chuẩn bị lên kế hoạch phụ thuộc vào quy mô không gian chiến trường và độ phức tạp của chiến dịch. Thông thường được tính là: để lên kế hoạch đổ bộ cấp tiểu đoàn cần khoảng thời gian không dưới 15 ngày, trung, lữ đoàn không dưới 30 ngày, sư đoàn – 60 ngày. Lên kế hoạch đổ bộ các chiến dịch lớn có ý nghĩa chiến lược, được tiến hành với khoảng thời gian lên đến nhiều tháng ( 3-4 tháng).
    Tập kết và đưa lực lượng lên hạm tầu

    Bước II. Đưa lực lượng đổ bộ và vũ khí phương tiện lên tầu là giai đoạn tập trung lực lượng và vũ khí trang bị, phương tiện đổ bộ, vận chuyển lên các tầu đổ bộ và các chiến hạm được phân công. Sau khi hoàn tất quá trình chuẩn bị chiến đấu cho các lực lượng cho chiến dịch, các lực lượng được cơ động bằng phương tiện cơ động trên mặt đất về khu vực tập kết, gần với khu vực và các điểm chuyển lực lượng lên tầu. Cơ động di chuyển bằng phương tiện mặt đất được thực hiện theo cấp tiểu đoàn bằng xe cơ giới (ô tô vận tải), nhưng khu vực xa hơn được cơ động bằng tầu hỏa, tầu hỏa cao tốc hoặc máy bay vận tải. Để phân tán lực lượng đề phòng bị tập kích, các lực lượng thông thường được vận tải bí mật, các hải cảng, căn cứ chuyển quân lên tầu có thể có từ hai đến nhiều hơn, với khoảng cách cách nhau từ 150 km đến 300 km.

    Các xe bộ binh cơ giới lội nước trên tầu đổ bộ

    Các trạm vận chuyển lực lượng lên tầu có thể là các hải cảng quân sự, dân sự được trưng dụng, hoặc các khu vực được lắp đặt các trang bị vận chuyển, bốc xếp bến đỗ cầu tầu trên bãi biển nằm ngoài khu vực hải cảng. Lực lượng vận tải và phương tiện kỹ thuật tập trung tại điểm vận chuyển lên tầu thông thường được tập kết trước 24 h trước khi lên tầu. Các tầu đổ bộ, chiến hạm đổ bộ tiếp nhận lực lượng trước từ 1 đến 2 ngày tập trung neo đậu tại các vịnh kín và neo đậu gần với khu vực (hải cảng ) vận chuyển lực lượng lên tầu. Đồng thời tổ chức lực lượng phòng thủ bằng lực lượng không quân, lực lượng hải quân bảo vệ chống tấn công và lực lượng phòng thủ chống ngầm, đồng thời với lực lượng tuần tra canh gác của không quân căn cứ. Khi tiến hành các hoạt động đổ bộ với lực lượng là một sư đoàn viễn chinh lính thủy đánh bộ, trước 5 ngày đến khi tổ chức lực lượng hỗn lợp đổ bộ, bắt đầu xếp cơ sở vật chất đảm bảo xuống tầu, từ hai đến 3 ngày đưa các phương tiện hạng nặng (xe tăng, xe thiết giáp nặng, pháo binh hạng nặng, sau đó, trước 1 đến 2 ngày, các lực lượng phân đội của đơn vị đổ bộ.
    Thời gian đưa binh lực và phương tiện chiến đấu cho một sư đoàn viễn chinh lính thủy đánh bộ (quân số khoảng 50 nghìn người) kéo dài khoảng 5 ngày, lữ đoàn ( đến 16 nghìn binh sĩ) kéo dài khoảng 2 ngày, tiểu đoàn (2500 binh sĩ và sĩ quan) trong vòng 24 giờ. Khu vực tập kết lực lượng (các đơn vị và phân đội) lính thủy đánh bộ gần kề với khu vực đưa lực lượng và vũ khí trang bị lên tầu. Trong khu vực tập kết, sư đoàn tập trung theo cấp tiểu đoàn (trên khoảng cách từ 2-4 km) trong các lán trại tạm thời. Chuyển binh lực và vũ khí trang bị thông thường trên nhiều khu vực, mỗi khu vực có nhiều điểm tập trung đưa lực lượng lên tầu.
    Tập trung đưa lực lượng và vũ khí trang bị lên tầu tiền hành theo hai phương pháp, phương pháp «trong chiến đấu » và phương pháp «tổ chức hành chính». Phương pháp đưa lực lượng lên tầu "Trong chiến đấu” là phương pháp chủ yếu khi tiến hành các chiến dịch đổ bộ và được sử dụng để chuyển lực lượng chiến đấu tuyến thứ nhất (thê đội 1) của sư đoàn viễn chinh, khi triển khai đổ bộ lực lượng này trực tiếp từ tầu đổ bộ lên bờ biển đối phương mà không có phương tiện, trang bị (cầu tầu, bến cảng) với các phương tiện đổ quân chiến đấu. Trong trường hợp này, tập trung sự chú ý vào duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu cao nhất và sẵn sàng chiến đấu ngay khi cập bờ. Vì vậy, các lực lượng đổ bộ xuống bờ biển đối phương đầu tiên (tuyến thứ nhất – thê đội 1) được tập trung đưa lên tầu cuối cùng.
    Phương pháp tập trung đưa lực lượng kiểu «Tổ chức hành chính» là phương pháp sử dụng tối đa khả năng vận tải của các tầu đổ bộ, tầu vận tải để chuyển quân, vũ khí trang bị, phương tiện chiến tranh và cơ sở vật chất hậu cần kỹ thuật. Vấn đề chiến thuật trong sử dụng lực lượng khi dùng phương pháp này không được đặt ra (không cần thiết), chính vì vậy nó phù hợp cho việc vận chuyển lực lượng thông thường hoặc các thê đội tiếp theo tính từ thê đội 2 (ví dụ: cơ động lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ từ căn cứ cấp châu lục này này sang căn cứ cấp châu lục khác – khu vực khác).
    Để tính toán sức chứa của các tầu, chiến hạm đổ bộ, thông thường với một sư đoàn viễn chinh, khối lượng của một lính thủy đánh bộ với đầy đủ vũ khí trang bị khoảng 100 kg, chiếm một diện tích 0,3m2 và thể tích là 3m3. Với tất cả những nhu cầu cần thiết cho sinh hoạt, một tầu đổ bộ khi đủ quân, thể tích dư theo phương án tổ chức hành chính là khoảng 20%. Còn nếu sử dụng phương án trong chiến đấu sẽ trống đến 50% trên tầu.

    Diễn tập đổ bộ

    Bước III: Diễn tập đổ bộ lính thủy đánh bộ nhằm mục đích kiểm tra kế hoạch tác chiến được đề ra và quy trình đổ bộ, tập huấn cơ cấu tổ chức điều hành tác chiến và thông tin liên lạc. Trong quá trình diễn tập, các đơn vị tổ hợp quân binh chủng sẽ diễn tập đồng bộ hoặc theo từng đơn vị riêng biệt, đồng thời các ban chỉ huy và tham mưu áp dụng thử 1 hoặc nhiều kịch bản đổ bộ, sát với thực tế chiến đấu. Đặc biệt chú ý đến việc tập huấn liên kết phối hợp, điều khiển hỏa lực và không quân yểm trợ khi lính thủy đánh bộ đổ bộ và trận đánh chiếm bàn đạp đầu bãi đổ bộ, trước khi diễn tập và trong quá trình thực hiền diễn tập luôn được cập nhật và thông báo để các cấp từ chỉ huy đến binh sĩ hiểu được và từ đó đánh giá được cấp độ hiểu biết rõ ràng về kế hoạch đổ bộ của cấp trên. Diễn tập đổ thường được triển khai với những biện pháp bảo đảm bí mật, không bộc lộ ý đồ tác chiến, mục tiêu tác triến và nhiệm vụ được giao cho lực lượng lính thủy đánh bộ. Các cuộc diễn tập, thông thường được tiến hành lúc rạng đông và theo thời gian không được vượt quá 2 ngày.
    Cơ động hành quân trên biển.

    Bước IV: Các đơn vị tập hợp quân binh chủng triển khai cơ động hành quân trên biển bắt đầu từ thời điểm các tầu đổ bộ, vận tải nhổ neo rời khỏi điểm tâp trung đưa lực lượng lên tầu cho đến thời điểm đến khu vực đổ bộ. Khi các phân đội quân binh chủng đã được tập trung lên tầu (diễn tập), các tầu đổ bộ lập tức dời bến cảng dưới sự yểm trợ của các tầu hộ tống cơ động hành quân đến khu vực tổ chức theo biên chế thành hải đoàn đổ bộ binh chủng hợp thành. Các tầu đổ bộ từ điểm tập trung lực lượng khởi hành ra khơi thông thường vào thời gian ban đêm, tối trời.
    Khu vực tổ chức theo biên chế thành đơn vị binh chủng hợp thành cách xa khu vực tập trung lực lượng tạm thời là 40 dặm (75km), hải chiến đoàn quân binh chủng hợp thành có khoảng cách đến 200 dặm (370km). Trong khu vực này với mục tiêu giữ được điều kiện thuận lợi cho điều hành, kiểm soát các hoạt động của chiến dịch, trước thời điểm các tầu đổ bộ đến điểm tập kết biên chế đội hình đơn vị đổ bộ binh chủng hợp thành hoặc hải chiến đoàn, lực lượng máy bay chủ lực không quân hải quân và các đội tầu tìm kiếm tấn công chủ lực. Để biên chế đơn vị đổ bộ binh chủng hợp thành trên biển cần 3-4h, các Hải chiến đoàn quân binh chủng hỗn hợp khoảng từ 20 – 24 giờ.
    Lực lượng chống ngầm và lực lượng phòng không được tổ chức trong đội hình của lực lượng đổ bộ, triển khai thành các đơn vị không quân cường kích đánh chặn và các liên đội chiến hạm tìm kiếm tấn công chủ lực. Hai lực lượng không quân và hải quân sẽ hình thành đội hình cảnh giới và yểm trợ bảo vệ các tầu thuộc đơn vị đổ bộ trong xuốt thời gian cơ động trên biển. Thông thường, để bảo vệ cho lực lượng đổ bộ cơ động có quân số và vũ khí trang bị của một sư đoàn lính thủy đánh bộ viễn chinh, sẽ bao gồm có từ 1 – 2 liên đội máy bay cụm tầu tác chiến chủ lực, đơn vị chống ngầm và chiến hạm nổi có từ 10 đến 15 tầu hộ tống đa nhiệm, các tầu tuần tiễu tên lửa và phóng ngư lôi thực hiện nhiệm vụ cảnh giới đánh chặn. Lực lượng cảnh giới của một tiểu đoàn viễn chinh có thể có từ 4 đến 6 chiến hạm.


    Sơ đồ cơ động đổ bộ và đổ bộ thẳng đứng bằng trực thăng trên tầu sân bay.

    Hành quân cơ động trên biển của các đơn vị quân binh chủng hợp thành được bố trí một đội hình cảnh giới trực tiếp, bao gồm các tầu thuộc lớp tầu khu trục hoặc hộ tống, phân bổ theo thông lệ thành đội hình vòng cung trên khoảng cách từ 20 – 50 sải, tương đương với 4-9 km so với tầu trung tâm (tầu dóng chỉnh đội hình). Trên các hướng có nguy cơ có tầu ngầm đối phương, lực lượng đổ bộ sẽ đưa liên phi đội máy bay cường kích chống ngầm chủ lực lên khoảng cách 30 đến 130 hải lý, tương đương với 55 – 240 km. Và lực lượng liên đội tầu truy tìm – chống ngầm (20 – 70 hải lý). Để sẵn sàng phòng không chống lực lượng không quân đối phương, che chắn cho tầu đổ bộ, nhóm tầu tuần dương tên lửa hoặc khu trục mang tên lửa phòng không được đưa lên phía trước trên khoảng cách từ 20 đến 40 dặm (18 – 75km). Bảo vệ từ trên không do lực lượng không quân hải quân tiêm kích của tầu sân bay đảm nhiệm. Các máy bay tiêm kích đánh chặn được cơ động lên hướng có nguy cơ không kích của đối phương trực chiến trên khoảng cách là 150 dặm (280 km) so với đoàn tầu đổ bộ, trên mỗi hướng có nguy cơ không kích của đối phương sẽ có từ 1 đến 2 máy bay tiêm kích ở độ cao từ 3000 đến 14000m, bay trực chiến trong khoảng thời gian từ 1,5 – 2h và thay bằng phi đội khác. Lực lượng chống ngầm cho đoàn tầu đổ bộ và tầu vận tải thực hiện nhiệm vụ ở khoảng cách gần, chống ngầm trực tiếp là 50 dặm, ở tầm trung (đến 130 dặm) máy bay chống ngầm và trực thăng chống ngầm, các chiến hạm chống ngầm, tầm xa ( khoảng 200 dặm tính từ vành đai phòng thủ của đoàn tầu đổ bộ - máy bay tuần tiếu của căn cứ (2 – 5) chiếc máy bay cường kích đánh chặn.
    Lực lượng phòng thủ tấn công chủ lực của cụm quân đổ bộ là liên đoàn không hải quân hỗn hợp: Liên đoàn tấn công chủ lực hỗn hợp bao gồm: tầu sân bay, 8 – 10 tầu hộ tống và đảm bảo, 1-2 tầu ngầm (bao gồm cả tầu ngầm nguyên tử đa nhiệm). Theo đánh giá của các chuyên gia quân sự Mỹ, vị thế của tầu sân bay đóng vai trò quan trọng then chốt trong lực lượng tấn công chủ lực trong nhiệm vụ bảo vệ đoàn tầu đổ bộ của hạm đội.
    Trong giai đoạn hiện nay có 9 nước có tầu sân bay trong biên chế lực lượng Hải quân. Mỹ có 11 tầu sân bay, nhưng bộ tư lệnh Hải quân Mỹ đã gửi đến Quốc hội Mỹ đề nghị giảm xuống tạm thời còn 10 tầu trong giai đoạn từ 2012 – 2015. Anh quốc có trong biên chế 3 tầu sân bay lớp "Invincible" và có 2 chiếc đang neo đậu từ seria "Nữ hoàng Elisabet”. Ý có hai tầu sân bay "Conti di Cavour" và "Giuseppe Garibaldi". Ấn độ có tầu "Viraat" Tây Ba Nha tầu sân bay "Principe de Asturias" Brazin có tầu sân bay "Sao Paulo" Pháp có tầu "Charles de Gaulle", và Thái Lan có tầu - "Chakri Narubet". Chiếc tầu duy nhất của Hải quân Liêng bang Nga đang sử dụng là tầu Đô đốc Kyrnhetsov. Đồng thời Trung Quốc cũng đang chảy thử tầu sân bay Varyar ( trước năm 1990 còn có tên là Riga) mua của Ucraina và đặt tên là Thi Lang. Tầu hiện đang có mặt ở nhà máy sửa chữa tầu biển tại thành phố Đại Liên. .
    Trong giai đoạn cuối cùng của hành quân cơ động vào khu vực đổ bộ, theo kế hoạch đã được xác lập cho chiến dịch đổ bộ, có thể tiến hành chuẩn bị bãi đổ bộ bằng binh lực của thê đội 1, lực lượng này đã tập kết trong khu vực đổ bộ từ 3 – 4 ngày và phân tán khỏi đội hình thê đội 1.
    Nhiệm vụ chuẩn bị khu vực đổ bộ bao gồm: tiêu diệt và phá hủy binh lực, sinh lực đối phương đang phòng thủ trên bờ biển (trận địa tên lửa và pháo binh, sở chỉ huy điều hành tác chiến, thông tin liên lạc và các mục tiêu quan trọng khác); phát hiện và phá hủy các bãi mìn, tiêu diệt các tầu ngầm của đối phương, chiến hạm và các tầu xuồng chiến đấu, đang neo đậu hoặc hoạt động trong khu vực diễn ra chiến dịch đổ bộ; tiến hành các hoạt động trinh sát, phát hiện chính xác các công trình chống đổ bộ, hệ thống phòng thủ, biên chế tổ chức chống lực lượng đổ bộ, hệ thống công trình công binh, tìm kiếm và phát hiện lực lượng dự bị thê đội II, chuẩn bị sẵn sàng các đường cửa mở qua bãi mìn và hệ thống vật cản chống đổ bộ dưới nước và trên bờ biển, đặt các vật chuẩn cọc tiêu chỉ thị khu vực đổ bộ; tiến hành đổ bộ nghi binh đối phương hướng khác khu vực đổ bộ lực lượng chủ lực, tiến hành đấu tranh và chế áp điện tử, thu thập các điều kiện thủy văn, môi trường. Trong trường hợp thuận lợi, hình thức chiến thuật tấn công chuẩn bị bãi đổ bộ có thể không cần thực hiện nếu yếu tố bí mật, bất ngờ được đảm bảo.
    Khi lực lượng chủ yếu tập kết vào khu vực đổ bộ, các lực lượng chính của cụm đơn vị hỗn hợp quân binh chủng triển khai về các điểm và khu vực đã được phân công neo đậu và cơ động. Lực lượng không quân hải quân chủ lực làm nhiệm vụ che chắn và bảo vệ các chiến hạm neo đậu và cơ động triển khai thành các liên đội công kích chủ lực, cơ động trên khoảng cách 100 – 120 dặm (180 – 220 km) so với bờ biển. Ở những hướng có thể có tầu ngầm đối phương tiến hành hoạt động tác chiến của các liên đội tầu tìm kiếm – tấn công trên khoảng cách đến 70 dặm (130km) so với bờ biển.
    Đổ bộ đường biển.

    Bước V: Hoạt động tác chiến đổ bộ đường biển bao gồm: dọn khu vực chuẩn bị đổ bộ, hỏa lực của pháo binh và không quân dòn đường cho cuộc đổ bộ và yểm trợ. Triển khai các tầu và chiến hạm đổ bộ vào đội hình đổ bộ, triển khai binh lực và vũ khí trang bị trên các phương tiện đổ bộ, lực lượng đổ bộ dưới sự yểm trợ của hỏa lực cơ động từ tầu vào khu vực đổ bộ, thê đội 1 đổ bộ lên khu vực bờ biển, hoạt động tác chiến của lực lượng khi đánh chiếm đầu cầu và mở rộng bàn đạp tấn công, vận tải cơ sở vật chất, đạn và vật chất y tế, cơ động vận chuyển lực lượng thê đội hai và tiếp theo; các thê đội mở rộng hoạt động tác chiến, thực hiện nhiệm vụ được giao.

    Hoạt động tác chiến của chiến dịch đổ bộ(Video)

    Một trong những phương án tác chiến được coi là thích hợp nhất do có tình động bộ cao trong tác chiến là: 2/3 quân số của thê đội 1 được đổ bộ bằng các phương tiện đổ bộ trên biển, 1/3 quân số được đổ bộ thẳng đứng, từ trên không bằng các phương tiện, máy bay trực thăng vào sâu trong tuyến phòng thủ bờ biển đối phương. Thời gian tiến hành đổ bộ kéo dài trong khoảng từ 2 -3 ngày đối với một sư đoàn lính thủy đánh bộ viễn chinh, thê đội 1 của sư đoàn lính thủy đánh bộ (tương đương lữ đoàn viễn chinh) chiếm khoảng 8 đến 12 giờ, tiểu đoàn – khoảng từ 1,5 đến 3 giờ. Khu vực đổ bộ của sư đoàn được chia thành các khu vực nhỏ hơn của các trung đoàn và được đánh dấu trên bản đồ bằng các mầu khác nhau ( đỏ, vàng…), các khu vực của trung đoàn lại chia thành các khu vực đổ bộ của các tiểu đoàn theo mã số (đỏ 1, đỏ 2; vàng 1, vàng 2…)


    Sơ đồ phân khu đổ bộ đánh dấu theo mầu

    Từ thời điểm từ tầu đổ bộ tập kết tại khu vực đổ các phương tiện đổ bộ xuống nước, neo đậu hoặc di chuyển cơ động, lực lượng đổ bộ (lính thủy đánh bộ) vào các xe bộ binh cơ giới lội nước và các xuống đổ bộ, các phương tiện sau khi đủ quân số bắt đầu xuống nước và theo lộ trình và đội hình đã được vạch ra (dãn cách, hướng tiến, tốc độ…) tiếp cận tuyến triển khai đội hình đợt (sóng). Sau khi nhận đủ quân số, các xuồng đổ bộ và xe bọc thép thê đội 1 của đợt 1 xuống nước, tiếp cận tuyến triển khai đội hình đợt 1 khoảng từ 1000 – 1500m đối với lực lượng phòng thủ yếu, đến 4000 m cách bờ biển đối với lực lượng phòng thủ tương đương, sử dụng tốc độ cao nhất (8-10 knots) dưới sự yểm trợ và phát huy hỏa lực của tất cả các loại vũ khí yểm trợ, chi viên tiến thẳng lên bờ. Phương thức này áp dụng cho tất cả các đợt tấn công tiếp theo nhưng với các tuyến triển khai đội hình có thay đổi khoảng cách so với bờ biển trong trường hợp hỏa lực phòng thủ mạnh.


    Sơ đồ đổ bộ bằng phương tiện lội nước và phát triển tấn công từ bàn đạp

    Sử dụng hỏa lực của pháo – tên lửa hạm tầu, các đòn tấn công của không quân, sử dụng hỏa lực cận chiến, các phân đội lính thủy đánh bộ đánh chiếm tuyến phòng thủ bờ biển của đối phương. Các bãi mìn, vật cản được phá hủy bởi hỏa lực pháo, tên lửa trong thời gian bắn chuẩn bị và dọn bãi, tạo thành hành lang vượt qua khu vực phòng thủ. Đại đội đổ bộ của thê đội 1 đổ quân không được vượt quá 2 đợt, có nghĩa là trong vòng từ 5 đến 10 phút trên mỗi đoạn bờ biển đổ bộ tham chiến không dưới một đại đội lính thủy đánh bộ. Thông thường khi đổ bộ sau từ 6 đến 9 đợt tấn công chuyển quân, sẽ đưa quân số tham chiến lên đến tiểu đoàn lính thủy đánh bộ thuộc thê đội 1 với đầy đủ vũ khí trang bị, thuốc và cơ sở vật chất y tế, cơ số đạn và vật chất đi cùng trong các đại đội. Sau khi kết thúc giai đoạn một của các đợt đổ bộ (từ 1 đến 1,5 giờ), lực lượng tham chiến trên bờ biển đạt cấp tiểu đoàn thiếu phân đội hậu cần kỹ thuật. Nhiệm vụ của các tiểu đoàn lính thủy đánh bộ là chiếm lĩnh khu vực bàn đạp có diện tích khoảng 5 x 5 km, tạo điều kiện địa hình và công sự tạm thời, vật che chắn và hỏa lực trực tiếp bảo vệ thuận lợi cho giai đoạn đổ bộ lực lượng dự bị (thê đội II của trung, lữ đoàn). Trong điều kiện thê đội I (các tiểu đoàn hoàn thành nhiệm vụ, các hoạt động tác chiến phát triển thuận lợi) các đơn vị tham gia đổ bộ sẽ vận chuyển các lực lượng yểm trợ hỏa lực, tăng cường quân số cho thê đội 1, đổ bộ thê đội II mở rộng trận địa, vận chuyển cơ sở vật chất như: lương thực, thuốc và vật phẩm y tế, đạn và vật chất đi cùng theo "Yêu cầu” của lực lượng đổ bộ thê đội I.
    Trong một số trường hợp, các đợt đổ bộ theo "Yêu cầu” sẽ không tổ chức, thay vào đó các xuồng đổ bộ cao tốc và máy bay trực thăng vận tải chuyên dụng sẽ thực hiện nhiệm vụ tăng cường lực lượng và cơ sở vật chất đảm bảo khi các phương tiện này được giải phóng khỏi nhiệm vụ đổ bộ theo đợt (sóng). Lực lượng đổ bộ thê đội 1 hình thành các đơn vị phòng thủ bờ biển hướng nội địa, hình thành các khu vực hành lang neo đậu, các khu vực neo đậu này được sử dụng để đổ bộ các phương tiện không lội nước như xe tăng từ các tầu vận tải có cửa đổ bộ hoặc các tầu vận tải – phà (Ro – Ro). Lực lượng thê đội II của trung, lữ đoàn, theo điều lệnh tác chiến, được tăng cường các phân đội xe tăng, dưới sự yểm trợ của hỏa lực pháo binh chiến trường, phát triển những kết quả tấn công của thê đội I và lực lượng đổ bộ thẳng đứng (trực thăng chiến đấu) , chọc thủng tuyến phòng thủ của đối phương và phát triển theo hướng tấn công chính. Đồng thời đánh tan ra và tiêu diện các đơn vị phòng thủ tuyến 1 của hệ thống phòng thủ bờ biển đối phương, kết nối các bàn đạp tấn công đã chiếm lĩnh được thành tuyến tấn công thứ nhất. Mục đích cuối cùng của các hoạt động tác chiến đổ bộ trên bờ biển đối phương là tiêu diệt và vô hiệu hóa các cụm tập trung binh lực đối phương, đánh chiếm các mục tiêu ven biển và hình thành tuyến bàn đạp đầu cầu, diện tích của các bàn đạp tấn công vào sâu trong lục địa sẽ là: - cấp tiểu đoàn viễn chinh hỗn hợp 5 x 5 km, trung lữ đoàn viễn chinh hỗn hợp 7 - 10 x 10 - 15 km; sư đoàn viễn chinh hỗn hợp 20 – 30 x 30 -40 km.


    Đổ bộ bằng xe thiết giáp lội nước

    Đổ bộ xe tăng bằng tầu đổ bộ kiểu - Phà (Ro - Ro)

    Đổ bộ bằng tầu cao tốc chạy trên đệm khí

    Ngay sau khi đổ bộ lên bờ biển và chiếm lĩnh thành công tuyến phòng thủ bờ biển thứ nhất của đối phương theo nhiệm vụ đặt ra, chỉ huy trưởng lực lượng đổ bộ phải dùng các hoạt động tấn công phát triển theo chiều sâu và hình thành tuyến phòng thủ vững chắc ngay cả trong trường hợp lực lượng phòng thủ đối phương tan ra, có thuận lợi cho phát triển tiếp theo.
    Đổ bộ bằng máy bay trực thăng được thực hiện đồng thời với đổ bộ bằng phương tiện đường thủy hoặc sau khoảng 30 – 40 phút sau giờ H. phụ thuộc vào biên chế tổ chức của lực lượng, đổ bộ có thể tiến hành theo chiều sâu chiến dịch từ 5 km đến 15 km tính từ bờ biển (tiểu đoàn theo chiều sâu nhiệm vụ là 10 đến 15 km, đại đội từ 3 – 5 km). Đổ bộ đại đội lính thủy đánh bộ được thực hiện bằng 16 máy bay trực thăng đổ bộ hạng trung CH-46 Sea Knight hoặc 10 máy bay trực thăng đổ bộ hạng nặng СН-53 Sea Stallion. Để vận chuyển và đổ bộ lực lượng chủ yếu của một tiểu đoàn cần sử dụng 70 máy bay trực thăng hoặc 70 lượt chuyến đổ bộ, và nếu vận tải đầy đủ một tiểu đoàn viễn chinh với vũ khí trang bị và cơ sở vật chất đảm bảo cần 200 chuyến bay của trực thăng đổ bộ. Các chuyến bay đổ bộ của trực thăng vận tải bay theo một lộ trình nhất định nhưng ở những độ cao khác nhau, trong khu vực đổ bộ tầm bay là 100 – 500 m, bay ngược trở lại ở độ cao từ 500 đến 1000m.


    Điều hành tác chiến đổ bộ đường không được thực hiện bởi chỉ huy trưởng, tư lệnh đơn vị đổ bộ hỗn hợp quân binh chủng thông qua trung tâm điều khiển bay chiến thuật trên tầu chỉ huy. Trong thời gian 2 ngày liên tiếp, tần suất sử dụng máy bay trực thăng chiến đấu rất cao, từ 90 – 100% máy bay đang sẵn sàng chiến đấu với thời gian bay trong ngày là từ 6 đến 10 giờ bay, sau đó, máy bay trực thăng chiến đấu sẽ phải trải qua công đoạn kiểm tra, bảo trì và phục vụ kỹ thuật. Khi lên kế hoạch tác chiến có sử dụng máy bay trực thăng đổ bộ hoặc tác chiến đường biển, lượt bay đầu tiên tham chiến đến 90% máy bay trực thăng, lượt cất cánh thứ hai khoảng 80% máy bay có mặt trên boong tầu. Khi chiến dịch kéo dài, tần suất các chuyến bay sẽ giảm xuống còn từ 60 70% số lượng máy bay sẵn sàng chiến đấu với số giờ bay khoảng từ 2 đến 3 giờ trong ngày.

    Các phương tiện đổ bộ Video 1

    Các phương tiện đổ bộ Video 2

    Sự phát triển tương lai của các chiến dịch đổ bộ đường biển
    Bộ tư lệnh liên quân các lực lượng vũ trang khối quân sự Bắc Đại Tây dương và nước ngoài trong giai đoạn hiện nay đang tiến hành đồng bộ tập hợp các giải pháp nhăm nâng cao khả năng đổ bộ bằng các phương tiện đường thủy và lực lượng lính thủy đánh bộ, phương án chủ yếu vẫn là tăng cường mua sắm các phương tiện chiến đấu hiện đại như: vũ khí trang bị trên tầu, mua sắm các loại tầu đổ bộ hiện đại và các xuồng đổ bộ tốc độ cao, đồng thời hoàn thiện công tác tổ chức chỉ huy lực lượng đổ bộ và hạm đội, cơ cấu tổ chức các đơn vị hỗn hợp viễn chinh lính thủy đánh bộ, trong đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong mô phỏng hóa chiến trường và tự động hóa hệ thống điều khiển chiến trường đổ bộ đóng một vai trò quan trọng. Các chuyên gia nhận định rằng, trong tác chiến đổ bộ đường biển, đối với các lực lượng tương đương hiện nay (Trung Quốc, Liên bang Nga), hoàn toàn có khả năng tổn thất chính trung tâm chỉ huy điều hành tác chiến trên tầu chỉ huy, đổ bộ. Do đó, nội dung tự động hóa và mô phỏng hóa chiến trường sẽ vẫn hoạt động bình thường theo chế độ đa kênh lưu trữ và truyền thống với chế độ bảo toàn hệ thống ngay cả khi trung tâm chỉ huy chính bị đánh trúng bằng tên lửa đạn đạo tập trung.
    Đồng thời, các chuyên gia quân sự cũng nghiên cứu xem xét khả năng đổi mới nguyên tắc đổ bộ đường biển của các lực lượng lính thủy đánh bộ theo phương án " Đổ bộ ngoài đường chân trời” nội dung then chốt của hình thức tác chiến này là "khu vực đổ bộ nằm ngoài tầm quan sát của các trạm quan sát, trinh sát trên bờ biển và nằm ngoài vùng hỏa lực hiệu quả của vũ khí phòng thủ chống đổ bộ (30 – 50 dặm cách bờ biển). Hoạt động đổ bộ của các lực lượng lính thủy đánh bộ và phương tiện tác chiến được thực hiện bằng các tầu đổ bộ cao tốc – các tầu đổ bộ chạy trên đệm khí LСАС, trực thăng đổ bộ hạng nặng СН-53 Sea Stallion và máy bay vận tải cất cánh thẳng đứng như trực thăng МV-22А "Osprey".
    Những chiếc MV-22 Osprey đã hoạt động tác chiến tại Iraq và Afganistan, đồng thời các phi đội máy bay chiến thuật F-35 Lightning II, như đã thông báo, có thể được đưa vào biên chế vào năm 2012. Đồng thời, việc sử dụng các phương tiện đổ bộ hiện đại thế hệ mới sẽ cho phép tăng cường năng lực đổ bộ của lính thủy đánh bộ, mở rộng diện tích khu vực bàn đạp đầu cầu và giảm thời gian vận chuyển binh lực tấn công đột phá của thê đội I từ 2 đến 3 lần. Đồng thời tăng cường cấp độ bí mật, bất ngờ đổ bộ trên nhiều khu vực khác nhau trên suốt chiều sâu phòng thủ, chia cắt, phân tán lực lượng đối phương. Giải pháp đổ bộ trên biển và trên không (sea – air) đáp ứng yêu cầu lực lượng lính thủy đánh bộ không bị phụ thuộc quá nhiều vào hỏa lực của chiến hạm và không quân hải quân chuẩn bị khu vực đổ bộ, yểm trợ và phát triển vào sâu tuyến phòng thủ đối phương.
    Trong các cuộc xung đột khu vực tương lai gần, các hoạt động tác chiến cấp chiến dịch của lực lượng lính thủy đánh bộ NATO và Mỹ nói riêng, các nước phát triển nói chung đóng vai trò quyết định, đặc biệt trong các vấn đề tranh chấp biển, quần đảo, đảo cũng như các hoạt động tấn công phá hoại, gây áp lực trong các cuộc chiến tranh xung đột trong khu vực. Lính thủy đánh bộ NATO và Mỹ có thể tham gia nhiều hình thức chiến dịch, từ tuyên bố, không tuyên bố đến những hoạt động có tầm cỡ chiến lược như tham gia vào những chiến dịch bạo loạn, lật đổ các nước có chủ quyền. Để tăng cường sức mạnh của lực lượng lính thủy đánh bộ, trong tương lai, lực lượng này sẽ có cơ cấu tổ chức biên chế rất đồng bộ, cấp độ tự động hóa và đồng bộ hóa cao, đồng thời được biên chế vũ khí trang bị, phương tiện chiến tranh với những công nghệ tiên tiến nhất trong lĩnh vực quân sự và lưỡng dụng.
    Biên dịch và tư liệu: Trịnh Thái Bằng.tech.edu

    Nguồn:[URL]http://studysphere.ru/
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  8. #8
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,228
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Quân ủy Trung ương Trung Quốc
    Một bộ máy, hai tên gọi

    QĐND - Tạp chí “Quân sự sử lâm”của Viện Bảo tàng Quân sự Trung Quốc có bài viết về “Tiến trình diễn biến của Quân ủy Trung ương”, nội dung tóm tắt như sau: Quân ủy Trung ương là tên gọi tắt Hội đồng quân sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Hội đồng quân sự Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, thực chất đó là “Cơ quan chỉ huy quân sự và quyết sách quân sự cao nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc”, là Bộ thống soái tối cao lãnh đạo LLVT nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
    Sự ra đời và những năm tháng chiến tranh
    Năm 1931, Trung ương cục Khu xô viết của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thành lập tại Thụy Kim, tỉnh Giang Tây, bên dưới có thành lập Hội đồng quân sự cách mạng Trung ương. Các nhà lãnh đạo chủ yếu của Khu xô viết Trung ương là Hạng Anh, Mao Trạch Đông, Chu Đức lần lượt làm Chủ tịch. Tháng 11 cùng năm, Chính phủ Trung ương lâm thời nước Cộng hòa xô viết Trung Hoa thành lập, Chu Đức nhậm chức Chủ tịch Hội đồng quân sự cách mạng Trung ương; Bành Đức Hoài, Vương Gia Tường nhậm chức Phó chủ tịch; 15 người, bao gồm Mao Trạch Đông, Chu ân Lai, Diệp Kiếm Anh… làm ủy viên. Quân ủy cách mạng Trung ương trong lịch sử Hồng quân bắt đầu từ đó.
    Ảnh 12 thành viên Quân ủy Trung ương Trung Quốc hiện nay
    Tháng 5-1933, Chính phủ Trung ương lâm thời quyết định: Bổ sung Tần Bang Hiến (Bác Cổ), Hạng Anh làm ủy viên Quân ủy cách mạng Trung ương. Trong thời gian Chu Đức chỉ huy tác chiến tại tiền phương, Hạng Anh đảm nhiệm Quyền chủ tịch. Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của nước Cộng hòa xô viết Trung Hoa, Chu Đức lại được bầu làm Chủ tịch Quân ủy cách mạng Trung ương; Chu ân Lai, Vương Gia Tường được bầu làm Phó chủ tịch.
    Sau Hội nghị Tuân Nghĩa năm 1935, Mao Trạch Đông, Chu ân Lai, Vương Gia Tường tổ chức Tổ quân sự ba người, trở thành Cơ quan quyết sách quân sự tối cao trong cuộc Vạn lý trường chinh, mà thành viên của Quân ủy cách mạng Trung ương không thay đổi. Tháng 6, Hồng quân Trung ương hội sư với Phương diện quân 4 Hồng quân tại Mạo Công, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc triệu tập “Hội nghị Lưỡng Hà Khẩu” nổi tiếng. Hội nghị quyết định Trương Quốc Đào đảm nhiệm Tổng chính ủy Hồng quân, Phó chủ tịch Quân ủy cách mạng Trung ương. Tháng 9, Quân ủy cách mạng Trung ương thực hành chế độ Đoàn chủ tịch 7 người do Mao Trạch Đông đứng đầu. Sau khi Hồng quân cải tổ biên chế thành Bát Lộ quân, nhằm bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với quân đội trong tình hình mới kháng Nhật, ngày 22-8-1937, Trung ương ĐCSTQ quyết định thành lập Hội đồng quân sự cách mạng Trung ương của Đảng, Mao Trạch Đông làm Chủ tịch; Chu Đức, Chu ân Lai làm Phó chủ tịch; Bành Đức Hoài, Nhiệm Bật Thời, Hạ Long, Lâm Bưu, Lưu Bá Thừa, Trương Hạo, Diệp Kiếm Anh, Từ Hướng Tiền là ủy viên. Như vậy, Quân ủy Trung ương trở thành bộ máy lãnh đạo chỉ huy quân sự thuộc Trung ương ĐCSTQ.
    Thời kỳ đầu thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
    Ngày 1-10-1949, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời. Cùng ngày, Hội đồng quân sự cách mạng nhân dân của Chính phủ nhân dân Trung ương cũng tuyên bố thành lập, Mao Trạch Đông làm Chủ tịch. Ngày 19-10, Chính phủ nhân dân Trung ương bổ nhiệm Chu ân Lai, Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài, Trình Tiềm làm Phó chủ tịch Hội đồng quân sự cách mạng nhân dân; 22 người gồm Hạ Long, Trần Nghị, Từ Hướng Tiền, Lâm Bưu… là ủy viên. Chu ân Lai chủ trì công tác hàng ngày.
    Ngày 26-9-1959, Bộ Chính trị Trung ương ĐCSTQ quyết định Quân ủy Trung ương do Mao Trạch Đông làm Chủ tịch; Lâm Bưu. Hạ Long, Nhiếp Vinh Trăn làm Phó chủ tịch; Lâm Bưu chủ trì công tác hàng ngày của Quân ủy. Mùa hè năm 1965, Quân ủy Trung ương bãi bỏ chế độ quân hàm. Ngày 8-1-1966, 4 vị nguyên soái Trần Nghị, Lưu Bá Thừa, Từ Hướng Tiền, Diệp Kiếm Anh được bầu bổ sung làm Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương. Trong thời gian “Cách mạng văn hóa”Do sự phá hoại nghiêm trọng của Lâm Bưu, Giang Thanh, công tác hàng ngày của Quân ủy Trung ương bị hạn chế, Hội đồng Quốc phòng trên thực tế cũng bị đình chỉ công tác hàng ngày. Tháng 8-1967, Quân ủy Trung ương quyết định Tổ thường trực Quân ủy gồm Ngô Pháp Hiến, Diệp Quần, Khưu Hội Tác, Trương Tú Xuyên; Tháng 9, giao quyền Tổng Tham mưu trưởng Dương Thành Vũ làm Tổ trưởng. Tháng 3-1968, Hoàng Vĩnh Thắng, Tư lệnh quân khu Quảng Châu được điều về làm Tổng tham mưu trưởng kiêm Tổ trưởng thường trực Quân ủy.
    “Một bộ máy hai tên gọi”
    Tháng 7-1977, tại Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ ba khóa 10 ĐCSTQ, Hoa Quốc Phong được bầu là Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương, Chủ tịch Quân ủy Trung ương; Đặng Tiểu Bình được khôi phục các chức vụ lãnh đạo, trong đó bao gồm Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương kiêm Tổng tham mưu trưởng. Từ ngày 12 đến 18-8-1977, Đại hội 11 ĐCSTQ họp, Hoa Quốc Phong được bầu làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương; Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình, Lưu Bá Thừa, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn làm Phó chủ tịch.Tháng 6-1981, tại Hội nghị Trung ương lần thứ sáu khoá 11 ĐCSTQ, Hoa Quốc Phong từ chức Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương và Chủ tịch Quân ủy Trung ương; Hồ Diệu Bang và Đặng Tiểu Bình lần lượt được bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương và Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Ngày 4-12-1981, bộ Hiến pháp thứ tư trong lịch sử nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời tại Hội nghị lần thứ 5 của Quốc hội Trung Quốc khóa 5. Bộ Hiến pháp quy định: Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thiết lập Hội đồng quân sự Trung ương thống lĩnh lực lượng vũ trang toàn quốc, gồm Chủ tịch, Phó chủ tịch, một số ủy viên; Thực hành chế độ Chủ tịch phụ trách. Ngày 18-6-1983, tại Hội nghị Trung ương lần thứ nhất khóa 6 ĐCSTQ, Đặng Tiểu Bình được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quân sự Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Ngày 20-6, theo đề nghị của Đặng Tiểu Bình: Diệp Kiếm Anh, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn, Dương Thượng Côn làm Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương. Đây là lần thứ ba trong lịch sử, Quân ủy Trung ương trở thành cơ quan chức năng chung của Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ và Chính quyền quốc gia. Thiết lập Quân ủy quốc gia là một cải cách trọng đại của ĐCSTQ đối với thể chế quốc gia và thể chế quân đội. Trong điều kiện lịch sử mới, Quân ủy Trung ương và Quân ủy quốc gia trên thực tế là “một bộ máy, hai danh xưng” (lưỡng cá bài tử, nhất thao nhân mã).
    Ngày 1-11-1987, Đại hội 13 ĐCSTQ thông qua Dự án sửa đổi một số điều của Điều lệ Đảng, trong đó quy định “Thành viên của Hội đồng quân sự Trung ương do Ban Chấp hành Trung ương quyết định”, điều quy định này liên tục kéo dài đến Điều lệ Đảng mới thông qua tại Đại hội 16. Ngày 2-11-1987, Đặng Tiểu Bình lại được bầu làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Triệu Tử Dương làm Phó chủ tịch thứ nhất, Dương Thượng Côn làm Phó chủ tịch thường trực. Ngày 8-4-1988, tại Hội nghị lần thứ nhất Quốc hội Trung Quốc khóa 7, Đặng Tiểu Bình được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quân sự Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Ngày 9-4, Triệu Tử Dương, Dương Thượng Côn được bầu làm Phó chủ tịch. Từ ngày 6 đến ngày 9-11-1989, tại Hội nghị Trung ương lần thứ năm, khóa 13 ĐCSTQ, Đặng Tiểu Bình từ chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Giang Trạch Dân lên thay; Dương Thượng Côn được bầu Phó chủ tịch thứ nhất, Lưu Hoa Thanh làm Phó chủ tịch Quân ủy.Từ ngày 12 đến ngày 18-10-1992, Đại hội 14 của Đảng Cộng sản Trung Quốc bầu Giang Trạch Dân làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương ĐCSTQ; Lưu Hoa Thanh, Trương Chấn được bầu làm Phó chủ tịch Quân. Ngày 28-3-1993, Giang Trạch Dân được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quân sự Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đồng thời đề nghị Lưu Hoa Thanh, Trương Chấn làm Phó chủ tịch. Từ ngày 19 đến 22-9-1999, Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa 15 ĐCSTQ bầu bổ sung Hồ Cẩm Đào làm Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương. Quân ủy Trung ương Trung Quốc hiện nay gồm 12 thành viên: Chủ tịch Hồ Cẩm Đào; 3 Phó chủ tịch: Tập Cận Bình, Quách Bá Hùng, Từ Tài Hậu; 8 ủy viên: Lương Quang Liệt, Trần Bỉnh Đức, Lý Kế Nại, Liêu Tịch Long, Thường Vạn Toàn, Đoan Chí Viễn, Ngô Thắng Lợi, Hứa Kỳ Lượng.
    Cấp bậc của các thành viên Quân ủy Trung ương Trung Quốc
    Chủ tịch Quân ủy Trung ương thông thường do Tổng bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc kiêm Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đảm nhiệm, không mang quân hàm.Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương, cấp bậc Thượng tướng, quân hàm cao nhất Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc hiện nay. Vị trí lãnh đạo và quyền lực tương đương ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, Phó chủ tịch nước, Phó chủ tịch Quốc hội, Phó thủ tướng.Ủy viên Quân ủy Trung ương, cấp bậc Thượng tướng, quân hàm cao nhất trong Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc hiện nay, vị trí và quyền lực tương đương ủy viên Quốc vụ viện; cao hơn Thủ trưởng 4 cơ quan Bộ tổng (Tham mưu, Chính trị, Hậu cần, Trang bị) của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc; cao hơn Tư lệnh Đại quân khu. Cho nên, ủy viên Quân ủy Trung ương tuy không phải là một chức danh, một bậc thang lãnh đạo trong hệ thống Đảng, Chính quyền, Quân đội ở Trung Quốc, nhưng có vị trí và thực quyền
    .Vũ Phong Tạo

  9. #9
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,228
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Chiến thuật chung (P1)

    Giáo trình Chiến thuật chung là tài liệu phục vụ cho huấn luyện, đào tạo sĩ quan dự bị thuộc Khoa quân sự Trường đại học Kỹ thuật quốc gia Tambov. Liên bang Nga. Đồng thời cũng là tài liệu dùng để tham khảo, nghiên cứu khoa học dành cho các giảng viên - giáo viên quân sự trong các trường dân sự thuộc liên bang.
    Bộ Giáo dục và Khoa học
    Cơ sở Đào tạo bậc đại học cấp Nhà nước
    «Trường đại học kỹ thuật quốc gia Tambov"
    V.N. Zaritsky, L.A.Kharkevich
    GIÁO TRÌNH

    CHIẾN THUẬT CHUNG
    Tài liệu được biên soạn và thẩm định của các trường quân sự cao cấp trong quân đội với mục đích yêu cầu là giáo trình chính thức dành cho sinh viên trong các nhà trường cao đẳng và đại học thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Liên bang Nga theo chương trình đào tạo sĩ quan dự bị trong lĩnh vực chỉ huy điều hành các lực lượng vũ trang theo chuyên đề “Hoạt động tác chiến của các đơn vị binh chủng hợp thành và các phân đội pháo binh – tên lửa mặt đất”
    Tambov.
    Nhà xuất bản
    2007

    Thẩm định:
    Trưởng khoa” Chiến thuật và điều lệnh quân sự chung” Trường đại học quốc gia Tambov. Phó Giáo sư,Tiến sĩ,Đại tá Y.T. Zyryanov
    Trưởng khoa quân sự chung trường đại học quốc gia Voronezh, Đại tá Shcherbakov
    Phó trưởng khoa giáo dục quân sự chung. Giáo sư, Tiến sĩ Khoa tự nhiên, Đại tá M.Y. Sergin.
    Giáo trình trình bày các cơ sở lý luận cơ bản về công tác tổ chức và điều hành các hoạt động tác chiến của các đơn vị binh chủng hợp thành và các phân đội pháo binh – tên lửa. Những khái niệm căn bản và định nghĩa nhằm xác định đối tượng học tập “Chiến thuật chung”. Giáo trình trình bày những phương pháp xây dựng đội hình hành quân cơ động và đội hình tác chiến cấp chiến thuật của các đơn vị binh chủng hợp thành khi tiến hành các hình thức chiến thuật trong trận chiến đấu, các nguyên tắc phòng thủ và phản công địch. Giáo trình cũng giới thiệu cơ cấu tổ chức, biên chế của lực lượng vũ trang trong nước và nước ngoài, vũ khí trang bị trong biên chế và các hình thái chiến thuật đặc trưng. Tài liệu được biên soạn cùng với các chiến lệ, sơ đồ chiến thuật, bảng biểu, hình ảnh đặc trưng. Giáo trình được dành cho sinh viên học tập, nghiên cứu trong các khoa quân sự theo chuyên ngành Pháo binh mặt đất.
    Lời nói đầu:
    Vào những năm gần đây, trong công tác huấn luyện các chuyên gia quân sự, một vấn đề được quan tâm đặc biệt, gắn liền với yêu cầu cấp thiết về việc tối ưu hóa cơ cấu tổ chức, biên chế các đơn vị vũ trang, đồng thời tiến hành các hình thức chiến đấu tiến công và phòng ngự trong điều kiện chiến tranh hiện đại. Đây là những vấn đề cấp thiết trong thực tế khốc liệt của những cuộc xung đột vũ trang trong thời gian gần đây trong lãnh thổ đất nước và ở nước ngoài. Những kinh nghiệm tác chiến có được đã phân tích, tổng kết và được cập nhật trong những hoạt động tác chiến của các phân đội và các đơn vị lực lượng vũ trang. Một nội dung được đặc biệt quan tâm chú ý, đó là vấn đề hoàn thiện cơ cấu tổ chức và các hình thái chiến thuật có sử dụng các phân đội và các đơn vị của lực lượng Lục quân, trong đó chú trọng các đơn vị binh chủng hợp thành và pháo binh mặt đất.
    Giáo trình Chiến thuật chung chủ yếu được sử dụng để sinh viên các khoa quân sự của các trường đại học quốc gia hiểu được, nắm chắc được những kiến thức đã được trình bày theo điều lệnh “ Chiến thuật chung” đồng thời cũng phụ vụ cho mục tiêu quan trọng là tài liệu cơ bản dành cho các giảng viên quân sự xây dựng bài giảng và thực hành bài giảng theo nội dung “ Chiến thuật chung” Nội dung tư liệu cung cấp trong giáo trình hoàn toàn phù hợp với chương trình giáo dục đào tạo của sinh viên trong các khoa quân sự của các trường đại học dân sự cấp nhà nước.
    Giáo trình có đặc điểm khác biệt là các nội dung được trình bày liền mạch, liên kết chặt chẽ, có tính logic cao, các nguồn tư liệu được giới thiệu trong một cấu trúc chặt chẽ và có tính khoa học quân sự cao, dễ dàng nắm bắt nội dung chính, được minh họa với một khối lượng rất lớn các chiến lệ, sơ đồ, bảng biểu, các thông tin đều được trích dẫn và các hình ảnh minh họa. Giáo trình đã được giảng dạy thử nghiệm trong khoa quân sự trường Đại học Kỹ thuật quốc gia Tambov và có được những nhận xét tốt từ phía giảng viên và các sinh viên dự giảng. Mục tiêu chủ yếu của giáo trình là giới thiệu những vấn đề lý luận cơ bản cơ cấu tổ chức và tiến hành các hoạt động tác chiến trên cơ sở nội dung “Chiến thuật chung”. Giáo trình cũng là được coi là một giải pháp thực nghiệm nhằm lấp đầy một khoảng trống kiến thức trong nội dung các tài liệu đã được xuất bản nhằm mục đích đào tạo các sĩ quan dự bị trong các trường đại học dân sự. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, nội dung giáo trình được xây dựng trên cơ sở nhiều năm tích lũy kinh nghiệm giảng dạy, đứng lớp và nghiên cứu khoa học của khoa quân sự trong công tác huấn luyện sĩ quan dự bị thuộc các trường dân sự. Chúng tôi cũng cho rằng, giáo trình đã nêu cũng có thể được sử dụng để tham khảo và bổ sung tài liệu huấn luyện giảng dạy các học viên thuộc các trường cao cấp quân sự của lực lượng vũ trang, do các vấn đề được trình bày trong tài liệu từ góc nhìn của các nhà sư phạm học quân sự trong cơ cấu biên chế giáo viên khoa quân sự có được tầm nhìn rộng hơn trong nội dung lý luận khoa học thực hiện các nhiệm vụ chiến thuật. Đồng thời, tài liệu cũng có thể được coi như là cuốn cẩm nang của các sĩ quan dự bị trong trường hợp tập trung huấn luyện, hoặc động viên cục bộ.
    Từ quan điểm của tác giả, chúng tôi nhận thức rằng, tập tài liệu được xây dựng trên cơ sở của nhưng vấn đề cấp thiết trong đào tạo sinh viên các trường đại học dân sự trong các khoa quân sự, là nhu cầu cần có các ấn phẩm phục vụ giảng dạy quân sự phù hợp với điều kiện ngày nay. Nhưng không phải tất cả các yếu tố cần và đủ đã được trình bày đầy đủ trong giáo trình, do tính phát triển nhanh chóng và đầy biến động của xã hội hiện đại. Do đó, nội dung của giáo trình không phải là tuyệt đối đầy đủ mà là những vấn đề căn bản để phát triển tư duy nghiên cứu, học tập và giảng dạy cũng như thực hành trong thực tế công tác. Chúng tôi xin chân thành cám ơn tập thể bộ môn Pháo binh thuộc Khoa quân sự trường đại học kỹ thuật quốc gia Tambov đã có những nhận xét và phê bình có tinh thần trách nhiệm cao, đóng góp cho biên soạn giáo trình. Với lòng biết ơn sâu sắc, chúng tôi xin được tiếp nhận những đánh giá và góp ý từ phía bạn đọc. Xin chân thành cám ơn.
    Tác giả
    MỞ ĐẦU
    Nghệ thuật quân sự bao gồm 3 phần chủ yếu:
    1) Chiến lược quân sự - tư tưởng chiến lược và thực tế chuẩn bị đất nước và các lực lượng vũ trang cho chiến tranh, lên kế hoạch sẵn sàng chiến đấu và tiến hành cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
    2) Nghệ thuật chiến dịch: tư duy chiến dịch và thực tiến chuẩn bị và tiến hành chiến dịch của các đơn vị quân binh chủng của lực lượng vũ trang;
    3) Chiến thuật.
    Chiến thuật
    – Lý luận và thực tiến chuẩn bị và tiến hành một trận chiến đấu của các đơn vị, các phân đội và các lực lượng quân binh chủng, các đơn vị binh chủng hợp thành, quân binh chủng hỗn hợp. Chiến thuật được chia ra thành chiến thuật của các quân chủng, các binh chủng và chiến thuật chung.
    Chiến thuật các quân chủng, các binh chủng – Là các nội dung chiến thuật đặc chủng được phát triển khi sử dụng các phân đội, các đơn vị và các lực lượng đặc biệt trong các trận đánh hiệp đồng quân binh chủng hoặc các trận đánh độc lập của từng lực lượng riêng biệt.
    Chiến thuật chung nghiên cứu quy luật của một trận đánh của lực lượng quân sự nói chung và đưa ra vấn đề cụ thể về chuẩn bị cho trận đánh, các phương pháp triển khai một trận đánh với sự nỗ lực đồng bộ của các phân đội, các đơn vị và các lực lượng binh chủng hợp thành. Cơ sở căn bản của chiến thuật chung là chiến thuật của lực lượng bộ binh.
    Phần I
    CƠ CẤU BIÊN CHẾ TỔ CHỨC ĐƠN VỊ CHIẾN ĐẤU VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC TIẾN HÀNH TRẬN CHIẾN ĐẤU.
    Chương I
    1.1 Cơ cấu biên chế tổ chức và các quân binh chủng.
    Trong lực lượng vũ trang Liên bang Nga được tổ chức thành nhiều mô hình đơn vị chiến đấu, cơ cấu tổ chức khác nhau, đồng thời chiến thuật tác chiến cũng khác nhau dựa trên mục đích sử dụng và yêu cầu nhiệm vụ được giao. Chiến thuật của các đơn vị đó sẽ được giới thiệu trong các bài giảng chiến thuật. (bảng. 1.1.1).
    1.1.1. Mô hình các đơn vị tác chiến của quân chủng bộ binh liên bang.
    Các đơn vị trực tiếp chiến đấu (Bộ binh cơ giới – Tăng thiết giáp).
    Các đơn vị hỏa lực – Pháo binh
    Phân đội:
    - Tiểu đội (kíp xe)
    - Trung đội BBCG ( b T)
    - Đại đội BBCG- c BBCG (cT)
    - Tiểu đoàn BBCG – dBBCG (dT)
    Đơn vị:
    - Trung đoàn BBCG – e BBCG (eT)
    Đơn vị ( hợp thành):
    - Sư đoàn BBCG – f BBCG (fT)
    Đơn vị hợp nhất:
    - Quân đoàn
    - Tập đoàn quân
    Phân đội:
    - Tiểu đội (kíp trắc thủ)
    - Trung đội (b) điều hành, trinh sát, thông tin liên lạc, hỏa lực)
    - Khẩu đội (pháo binh, súng cối …)
    - Tiểu đoàn (Pháo binh, pháo phản lực, trinh sát hỏa lực…).
    Đơn vị:
    - Trung đoàn e PB
    Đơn vị hợp thành
    - Sư đoàn pháo binh (Lữ đoàn pháo binh)f.




    Lực lượng vũ trang Liên Bang
    Cơ cấu tổ chức biên chế lực lượng vũ trang nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong mỗi giai đoạn phát triển của Tổ quốc.
    Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang liên bang Nga: Tổng thống Liên bang.
    Cơ quan chỉ huy trực tiếp của lực lượng vũ trang là Bộ Quốc phòng, đứng đầu là bộ trưởng Bộ quốc phòng, lực lượng vũ trang liên bang bao gồm có 3 lực lượng chủ yếu: Quân chủng lục quân, Quân chủng không quân và Quân chủng hải quân, đồng thời, lực lượng vũ trang liên bang còn có: Lực lượng tên lửa chiến lược, Lực lượng vũ trụ và Lực lượng hậu cần (Bảng. 1.1.1).

    Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
    Các thứ trưởng bộ quốc phòng
    Bộ tổng tham mưu các lực lượng vũ trang
    Lực lượng tên lửa chiến lược
    Lực lượng vũ trang
    Lực lượng tên lửa chiến lược cố định (hầm phóng)
    Quân chủng
    Không quân
    Quân chủng
    Lục quân
    Quân chủng
    Hải quân
    Lực lượng tên lửa chiến lược cơ động Binh chủng Binh chủng Lực lượng đặc nhiệm Binh chủng
    Lực lượng vũ trụ Chiến trường Bộ binh cơ giới Bộ đội trinh sát đặc công Tầu ngầm
    Hậu cần quân đội Tiêm kích Tăng thiết giáp Bộ đội tác chiến điện tử Chiến hạm nổi
    Vận tải quân sự Tên lửa và pháo binh Bộ đội phòng hóa Không quân hải quân
    Tầm xa Phòng không bộ binh Kỹ thuật hạt nhân chiến trường Phòng thủ bờ biển
    Tên lửa phòng không Không quân lục quân Kỹ thuật quân chủng Đổ bộ đường biển
    Công nghệ thông tin và truyền thông Đổ bộ đường không Lực lượng vận tải Pháo binh- tên lửa phòng thủ bờ biển.
    Công binh Bảo vệ hậu phương
    Thông tin liên lạc


    Mỗi quân chủng thuộc lực lượng vũ trang bao gồm các binh chủng và lực lượng đặc biệt, các binh chủng và lực lương phụ thuộc vào tính chất yêu cầu nhiệm vụ thực hiện được trang bị vũ khí khí tài đặc chủng, trang bị kỹ thuật và cơ cấu biên chế tổ chức riêng biệt.

    Quân chủng lục quân.
    Có yêu cầu nhiệm vụ chính là đập tan hoàn toàn lực lượng đối phương trên chiến trường châu lục và chiếm lĩnh những khu vực quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trên bộ. Theo năng lực tác chiến, quân chủng lục quân có khả năng tác chiến độc lập hoặc liên kết phối hợp, hiệp đồng tác chiến với các quân binh chủng khác tiến hành chiến đấu tấn công tiêu diệt, làm tan rã và bẻ gãy sức kháng cự của các cụm lực lượng hỗn hợp của đối phương, chiếm lĩnh khu vực tấn công, giáng những đòn tấn công hỏa lực vào sâu trong lãnh thổ của đối phương, phòng thủ vững chắc trên các tuyến phòng thủ. .
    Quân chủng không quân.
    Được giao nhiệm vụ chiến lược đặc biệt quan trọng, bảo vệ an toàn chắc chắn mọi mục tiêu hành chính cấp nhà nước, các trung tâm kinh tế - quân sự , các trung tâm thông tin và truyền thông, các lực lượng và phượng tiện của hệ thống điều hành cấp nhà nước và hệ thống điều hành quân đội cấp cao, các mục tiêu trong hệ thống năng lượng quốc gia và các mục tiêu trong hệ thống hạ tầng cơ sở công nghiệp, nông nghiệp của liên bang Nga trước những đòn tấn công ồ ạt của đối phương từ trên không.
    Quân chủng hải quân.
    Có nhiệm vụ cân bằng lực lượng chiến lược, đảm bảo những lợi ích của quốc gia, dân tộc Nga trên biển và đại dương, bảo vệ chắc chắn biên giới lãnh hải từ hướng biển. Những nhiệm vụ chiến đấu của hải quân là kiểm soát tình hình hạt nhân, hiệp đồng tác chiến cùng với các lượng khác trên các mặt trận từ hướng biển và đại dương, tiêu diệt các cụm tầu ngầm của đối phương. Thực hiện nhiệm vụ phòng thủ bờ biển và hải đảo.
    Lực lượng tên lửa chiến lược.
    Có chức năng thực hiện những nhiệm vụ chiến lược trong điều kiện thời bình và thời chiến. Lực lượng tên lửa chiến lược có khả năng trong thời gian ngắn nhất tiêu diệt các tập đoàn quân lớn của đối phương, các mục tiêu kinh tế chính trị quan trọng, đánh quỵ tiềm năng kinh tế quân sự của đối phương, tiêu diệt các phương tiện mang đầu đạn hạt nhân, kho tàng vũ khí hạt nhân, các cơ sở sản xuất và chế tạo vũ khí hạt nhân.

    Lực lượng vũ trụ
    Thực hiện các nhiệm vụ chuẩn bị và tiến hành phóng tất cả các phương tiện mang – tên lửa, điều khiển các hoạt động của các thiết bị bay trên quỹ đạo không gian, phát triển theo đơn đặt hàng các tổ hợp vũ trụ và các hệ thống trong không gian, định hướng các hoạt động nghiên cứu khoa học và các hoạt đông công nghiệp kinh tế quốc phòng trong lĩnh vực khoa học vũ trụ, kiểm soát chặt chẽ tình hình sử dụng không gian vũ trụ vào mục đích hòa bình, giới hạn và ngăn chặn quân sự hóa không gian bằng các loại vũ khí tấn công, chú trọng hàng đầu là vũ khí hạt nhân.

    Lực lượng hậu cần (tương đương TCHC)
    là đơn vị có chức năng nhiệm vụ đảm bảocơ sở vật chất, vũ khí và phương tiện chiến tranh, niêm cất lưu trữ và bảo quản dự trữ khí tài, đạn, cơ sở vật chất cho các đơn vị quân đội, sửa chữa vũ khí trang bị, phương tiện chiến tranh bị hư hỏng, thực hiện công tác cứu chữa thương bệnh binh thời bình cũng như thời chiến, tiến hành các hoạt động vệ sinh dịch tễ và phòng trừ lây nhiễm. Đồng thời thực hiện hàng loạt những nhiệm vụ hậu phương quân đội.
    1.2 LỰC LƯỢNG LỤC QUÂN, CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ.
    Lực lượng lục quân
    – Là lực lượng có quân số đông nhất trong các quân chủng, có chức năng nhiệm vụ tiến hành các trận chiến đấu, giáng những đòn quyết định và đập tan mọi cụm tập đoàn quân đối phương, giữ vững và phòng thủ chặt chẽ những khu vực đánh chiếm được, các vùng và các tuyến phòng thủ trong hệ thống phòng thủ đất nước. Lực lượng lục quân được biên chế các loại vũ khí khí tài, phương tiện chiến đấu, bao gồm từ vũ khí hạt nhân, vũ khí thông thường và vũ khí công nghệ hiện đại
    а) Các binh chủng: Bộ binh cơ giới, tăng thiết giap, đổ bộ đường không, binh chủng tên lửa và pháo binh, binh chủng phòng không chiến trường, không quân bộ binh, công binh, thông tin liên lạc;
    б) Các lực lượng đặc nhiệm: Lực lượng trinh sát đặc công, binh chủng hóa học (phòng chống vũ khí hóa học, sinh học và phóng xạ). Lực lượng đảm bảo kỹ thuật, lực lượng kỹ thuật hạt nhân, lực lượng vận tải đường bộ và lực lượng cảnh vệ hậu phương.
    Binh chủng bộ binh cơ giới
    có chức năng nhiệm vụ tiến hành các hoạt động tác chiến độc lập hoặc hiệp đồng tác chiến với các binh chủng khác và các lực lượng đặc nhiệm. Binh chủng bộ binh cơ giới có năng lực hoạt động trong điều kiện sử dụng vũ khí phương tiện chiến tranh thông thường hoặc vũ khí hủy diệt lớn. Binh chủng có hỏa lực mạnh, có khả năng cơ động cao, có khả năng chịu đựng và hoạt động tác chiến trong mội trường chiến tranh có sử dụng vũ khí hủy diệt lớn. Binh chủng bộ binh cơ giới có khả năng tấn công và chọc thủng các tuyến phòng thủ dày đặc được chuẩn bị kiên cố hoặc tuyến phòng thủ tạm thời của đối phương, phát triển tấn công với nhịp độ cao và trên chiều rất sâu của tuyến phòng thủ đối phương, hiệp đồng cùng với các binh chủng khác tiêu diệt đối phương, phỏng thủ chặt và giữ vững địa bàn đánh chiếm được. tuyến phòng thủ khác.
    Binh chủng tăng thiết giáp
    là lực lượng tấn công chủ lực của quân chủng lục quân. Tăng thiết giáp có khả năng tác chiến độc lập hoặc hiệp đồng tác chiến cùng với các quân binh chủng khác trên chiến trường. lực lượng tăng thiết giáp thông thường được sử dụng trên các hướng tấn công chính nhằm tạo ra những đòn tấn công đột phá mạnh, do có hỏa lực rất mạnh, có khả năng tự bảo vệ tốt và t khả năng cơ động và hành tiến với tốc độ cao trên mọi địa hình, có sức đột kích và khả năng thọc sâu vào tuyến phòng thủ vững chắc của đối phương. Tăng thiết giáp có khả năng phát triển cao những kết quả của các đòn tấn công hỏa lực bằng vũ khí hạt nhân hoặc pháo binh, tên lửa thông thường và có khả năng trong thời gian ngắn đạt được mục đích của trận đánh hoặc của chiến dịch.
    Binh chủng pháo binh – tên lửa
    là lực lượng hỏa lực yểm trợ và chi viện chủ yếu của lục quân. Binh chủng có chức năng nhiệm vụ là tấn công tiêu diệt địch bằng hỏa lực mạnh, tập trung chính xác đồng thời chi viện, che chắn cho bộ binh hoặc tăng thiết giáp. Trong tiến trình các hoạt động tác chiến, binh chủng pháo binh tên lửa thực hiện hàng loạt các nhiệm vụ khác nhau: chế áp và tiêu diệt sinh lục địch, vũ khí trang bị, phương tiện chiến tranh, pháo binh, tên lửa, xe tăng thiết giáp, pháo tự hành và các phương tiện chiến tranh khác, phá hủy các công trình phòng thủ của đối phương, ngăn chặn và phá hủy khả năng cơ động của đối phương.
    Binh chủng phòng không bộ binh:
    Binh chủng có chức năng nhiệm vụ che chắn, phòng không bảo vệ các cụm tập đoàn quân và các mục tiêu quan trọng của bộ binh trước những đòn tấn công từ trên không của đối phương. Phòng không bộ binh có thể hoạt động độc lập theo từng cánh quân hoặc liên kết phối hợp với lực lượng không quân tiêu diệt máy bay và các phương tiện bay không người lái của đối phương, chiến đấu với lực lượng đổ bộ đường không của đối phương khi địch đanh trên đường bay hoặc trong giai đoạn địch đang đổ quân, đồng thời tiến hành các hoạt động trinh sát điện tử và thông báo cho lục quân về các đòn tập kích đường không của đối phương.
    Không quân lục quân
    là lực lượng có chức năng nhiệm vụ yểm trợ đường không cho lục quân trên chiến trường. Những nhiệm vụ của không quân lục quân có thể là tiến hành các đòn tấn công hỏa lực đường không, nhiệm vụ bảo đảm đường không và bảo đảm hậu phương tiền phương. Nhiệm vụ chủ yếu được giao là tiến hành các đòn tấn công hỏa lực đường không vào binh lực của đối phương, tiêu diệt lực lượng đổ bộ đường không, các lực lượng tập kích, lực lượng tấn công tuyến đầu hoặc lực lượng đối phương bọc sườn, bọc hậu, đổ bộ đường không và yểm trợ đường không cho lực lượng đổ bộ, tác chiến đường không với các máy bay trực thăng chiến đấu của đối phương, tiêu diệt các mục tiêu như vũ khí hạt nhân, tên lửa, pháo binh, tăng thiết giáp, trung tâm chỉ huy điều hành tác chiến, các trạm thông tin liên lạc và các thành phần của hạ tầng cơ sở đổi phương.
    Lực lượng đổ bộ đường không
    là lực lượng tác chiến ở sau hâu phương của đối phương. Những khả năng chiến đấu của lực lượng đổ bộ đường không là có khả năng nhanh chóng tiếp cận những khu vực xa nhất của chiến trường, triển khai những đòn tấn công bất ngờ, tiến hành các trận đánh hiệp đồng binh chủng hiệu quả cao. Lực lượng đổ bộ đường không có thể nhanh chóng đánh chiếm và chốt chặt các vị trí đặc biệt quan trọng sâu trong hậu phương của đối phương, phá hủy các cơ quan điều hành nhà nước, chính phủ và lực lượng vũ trang đối phương, đánh chiếm các hòn đảo, các khu vực ven biển, các căn cứ hải quân và không quân của đối phương, hiệp đồng tác chiến và tạo điều kiện tối ưu cho các lực lượng khác vượt qua chướng ngại vật nước sâu và rộng (đổ bộ đường biển, vượt sông) nhanh chóng vượt qua các chướng ngại vật đèo, đồi núi hiểm trở, tấn công tiêu diệt các mục tiêu quan trọng của đối phương.
    Binh chủng công binh
    có chức năng nhiệm vụ đảm bảo hoạt động tác chiến của tất cả các binh chủng trong lực lượng bộ binh, lực lượng công binh phải đảm bảo nhịp độ tấn công nhanh, khả năng tiêu diệt các cụm cứ điểm vững chắc của đối phương, được phòng thủ bằng hệ thống hàng rào, vật cản và mìn dày đặc, đồng thời trong thời gian ngắn nhất, xây dựng được hệ thống phòng thủ vững chắc, đủ khả năng bảo vệ sinh lực và vũ khí khí tài trước các loại hỏa lực của đối phương. Trong điều kiện thời binh, binh chủng công binh thực hiện các nhiệm vụ xây dựng các công trình có kết cấu thiết kế và giá trị sử dụng phục vụ cho mục đích quốc phòng – an ninh.
    Binh chủng thông tin liên lạc
    làlực lượng đảm bảo thông tin liên lạc bền vững và điều khiển hoạt động tác chiến của các đơn vị quân binh chủng hợp thành. Nhiệm vụ của binh chủng thông tin liên lạc là trong mọi điều kiện tình huống chiến trường phải đảm bảo mạch thông tin thông suốt giữa các bộ, ban tham mưu, các ban chỉ huy đơn vị và các đơn vị trực thuộc, đảm bảo thông tin liên lạc liên tục giữa các phân đội và các đơn vị binh chủng hợp thành tham gia hiệp đồng tác chiến, đảm bảo các nội dung thông tin liên lạc điều hành tác chiến đến đúng thời gian, địa chỉ và chính xác.
    1.3. CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ, BIÊN CHẾ TỔ CHỨC VÀ VŨ KHÍ TRANG BỊ CỦA BINH CHỦNG PHÁO BINH.


    Trong trận đánh hiệp đồng binh chủng hiện đại, sử dụng vũ khí thông thường, hỏa lực của pháo binh – tên lửa kếp hợp với các đòn tấn công của không quân là một trong những thành phần hỏa lực chủ yếu tiêu diệt binh lực đối phương. Vì vậy, pháo binh – tên lửa là binh khí có hỏa lực mạnh và chính xác, có tầm bắn xa, có khả năng cơ động linh hoạt và nhanh chóng tập trung hỏa lực đối với những mục tiêu quan trọng. Các phân đội pháo binh – tên lửa được sử dụng để tiêu diệt các mục tiêu như vũ khí hạt nhân và hóa học, các thành phần của hệ thống vũ khí chính xác, pháo binh, xe tăng, thiết giáp, vũ khí chống tăng và các loại trang thiết bị khác của đối phương. Pháo binh có nhiệm vụ chi viện hỏa lực tiêu diệt sinh lực, máy bay trực thăng của đối phương khi cất, hạ cánh, các loại vũ khí, khí tài phòng không, các vị trí sở chỉ huy đối phương, hầm hào giao thông, công trình quân sự, phá hủy bãi mìn và hàng rào vật cản, chiếu sáng chiến trường ban đêm và bắn dựng màn khói ngụy trang che mắt địch..
    Các phân đội pháo chống tăng có chức năng nhiệm vụ tiêu diệt các loại xe tăng thiết giáp, xe cơ giới của đối phương.
    Các phân đội trinh sát pháo binh có nhiệm vụ tìm kiếm, nắm bắt thông tin về vị trí và binh lực của đối phương nhằm mục đích tiêu diệt mục tiêu, đồng thời phục vụ cho chỉ thị mục tiêu và điều chỉnh bắn cho hỏa lực pháo binh trong chiến trường.
    Tiểu đoàn pháo binh- Là đơn vị hỏa lực và là đơn vị tác chiến hiệp đồng binh chủng của binh chủng pháo binh. Tiểu đoàn pháo binh có thể tham gia chiến đấu nhiều tiểu đoàn tập trung vào một mục tiêu, hoặc mỗi tiểu đoàn theo một mục tiêu.
    Khẩu đội pháo binh – là đơn vị chiến đấu cấp chiến thuật của lực lượng pháo binh. Khẩu đội pháo binh có thể cùng một lúc tiêu diệt 1 hoặc 2 mục tiêu từ vị trí được che khuất bằng đường đạn cầu vồng hoặc nhiều mục tiêu bằng đường ngắm thẳng. Trung đội hỏa lực – là phân đội hỏa lực của lực lượng pháo binh. Phân đội hỏa lực có thể thực hiện nhiệm vụ độc lập hoặc tham gia tác chiến trong đội hình khẩu đội. Trung đội điều hành thuộc ban chỉ huy (khẩu đội hoặc tiểu đoàn) có chức năng nhiệm vụ trinh sát mục tiêu, phục vụ xác định tọa độ hỏa lực và điều chỉnh bắn, thành viên trung đội còn thực hiện nhiệm vụ thông tin liên lạc giữa các đầu mối đơn vị.
    Trong biên chế của pháo binh hiện đại có rất nhiều các chủng loại pháo khác nhau, đáp ứng một dải rộng lớn các yêu cầu nhiệm vụ khác nhau.
    Pháo dã chiến (dã pháo)
    là vũ khí hỏa lực của binh chủng pháo binh, có chức năng là phóng đạn tới các mục tiêu trên đất liền, trên không và trên biển. Đối với dã pháo, đặc điểm kỹ thuật là nòng dài, tốc độ đầu đạn Vo rất cao, nên khối lượng đầu đạn rất lớn.
    Lựu pháo
    là vũ khí hỏa lực của pháo binh, thông thường có tốc độ đầu nòng thấp, do đó nòng súng không dài, chiều dài đường nòng không vượt quá 50 lần cỡ nòng, do đó đầu đạn có khối lượng đầu đạn không cao, đồng thời góc tầm bắn cũng không lớn. Sử dụng chủ yếu là đường đạn cầu vồng vào mục tiêu bị che khuất.
    Lựu – dã pháo và dã – lựu pháo
    là pháo, có thể có cả hai tính chất kỹ thuật và có thể thay thế cho lựu pháo hoặc dã pháo.
    Pháo cối
    – là hệ thống cơ khí cứng, nòng trơn, không có bộ phận chống giật, được sử dụng để bắn các loại đạn cối theo đường đạn cầu vồng.
    Pháo phản lực: Là hệ thống ống phóng đạn – rocket bắn loạt, được sử dụng để tiến hành bắn loạt các loại rocket mang đầu đạn nổ phá mảnh hoặc các loại đạn khác nhau. Rocket mang đầu đạn thường có liều phóng phản lực, có khả năng tự quay trong không khí để điều chỉnh đường bay, có thể lắp các cánh ổn định ở đuôi rockets hoặc động cơ tuốc bin phản lực.
    Tên lửa chống tăng có điều khiển:
    là các loại tên lửa – rockets chống tăng có điều khiển bay theo mặt phẳng ngang. Trong biên chế thường có các loại hệ thống tên lửa vác vai, tên lửa chống tăng tự hành trên thân xe BTR hoặc BMP, hoặc trên máy bay trực thăng săn tăng. Tầm bắn có thể từ 85 m đến 400 m và có thể đạt đến hàng nghìn km, khả năng xuyên thép có thể từ 500 mm hoặc lớn hơn.

    Biên dịch: Trịnh Thái Bằng-tech.edu

    Nguồn: Tài liệu huấn luyện quân sự Trường đại học kỹ thuật quốc gia Tambov - Liên bang Nga

  10. Có 1 người thích bài viết này


  11. #10
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,228
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Chiến thuật chung (P2).
    Những khái niệm cơ bản về trận chiến đấu hiệp đồng binh chủng trong chiến tranh hiện đại, với sự hiệp đồng tác chiến của nhiều lực lượng khác nhau trên chiến trường không bộ.
    Phần I
    CƠ CẤU BIÊN CHẾ TỔ CHỨC ĐƠN VỊ CHIẾN ĐẤU VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC TIẾN HÀNH TRẬN CHIẾN ĐẤU.

    Chương 2
    NHỮNG YẾU TỐ CĂN BẢN CỦA TRẬN CHIẾN ĐẤU HIỆP ĐỒNG BINH CHỦNG HIỆN ĐẠI.
    2.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNHИ, PHÁT TRIỂN VÀ HOÀN THIỆN CỦA TRẬN CHIẾN ĐẤU HIỆP ĐỒNG BINH CHỦNG.
    Phương thức duy nhất để dành chiến thắng trong các cuộc xung đột có vũ trang với kẻ thù là trận chiến đấu.
    Trận chiến đấu đến trước thời điểm xuất hiện hỏa khí là những trận chiến đấu bằng vũ khí lạnh, trên một khu vực địa hình có diện tích không lớn và không được xây dựng các công trình quân sự.
    Với sự phát triển và hoàn thiện của hỏa khí vào thế kỷ XIV – XVII. Một yếu tố quan trọng dành thắng lợi trên chiến trường là sử dụng hỏa khí (súng phun, bắn lửa, địa lôi, và những vật chất dễ cháy khác…). Trận chiến đấu được bắt đầu bằng hành động sát thương đối phương sử dụng hỏa khí, và kết thúc bằng các hoạt động chiến đấu giáp lá cà với vũ khí lạnh. Nhưng vào thế kỷ XVIII – XIX, trận đánh vẫn bị giới hạn địa hình tác chiến, do các loại hỏa khí thời điểm đó vẫn là hỏa khí nòng trơn, có tầm bắn không xa, tốc độ bắn và độ chính xác không cao.
    Sự phát triển hỏa khí có rãnh xoắn bắt đầu vào giữa thế kỷ XIX, tiếp theo là sự phát triển tầm xa sát thương phá hủy của pháo binh và súng máy đã mở rộng không gian trận chiến đấu cả vê chiều rộng lẫn chiều sâu chiến trường.
    Quá trình biên chế pháo binh và súng máy cho tất cả các đơn vị chiến đấu, đưa tăng thiết giáp và không quân trong chiến tranh thế giới lần thứ I đã đưa đến những xu hướng phát triển chiến thuật chủ yếu – hiệu quả tác chiến trên chiến trường đạt được nhờ sự nỗ lực hiệp đồng tác chiến của các quân binh chủng trên chiến trường.
    Trong những năm của chiến tranh Nội chiến, xuất hiện thêm yếu tố cơ động cao và năng lực phối hợp tác chiến giữa binh lực và phương tiện chiến tranh, tăng cường tính quyết liệt trong các hoạt động tác chiến.
    Vào những năm 1930-х trong biên chế của lực lượng vũ trang Xô viết bắt đầu có được những vũ khí trang bị mới. Đồng thời cùng với vũ khí trang bị hiện đại hơn, quan điểm tác chiến đã được nâng cao bằng lý luận tác chiến theo chiều sâu chiến trường. Đặc điểm cơ bản của nguyên lý này là đồng thời, trong cùng một thời điểm triển khai các đòn tấn công tiêu diệt đối phương trên cả chiều sâu phòng tuyến chiến đấu của địch bằng sức mạnh tổng hợp các đòn tấn công của bộ binh, xe tăng, pháo binh và không quân.
    Sự phát triển cao của nghệ thuật tác chiến chiều sâu trận đánh được thể hiện rõ nhất trong những năm Đại chiến thế giới lần thứ II. Yếu tố quyết định của chiến thắng trong một trận đánh là hỏa lực tập trung của tất cả các loại vũ khí. Đòn tấn công trực diện của bộ binh được sử dụng rất ít.
    2.2 BẢN CHẤT CỦA TRẬN CHIẾN ĐẤU HIỆP ĐỒNG BINH CHỦNG VÀ NHỮNG TÍNH CHẤT ĐẶC TRƯNG. ĐIỀU KIỆN CẦN CÓ ĐỂ DÀNH THẮNG LỢI TRONG TRẬN CHIẾN ĐẤU HIỆP ĐỒNG BINH CHỦNG. NHỮNG LOẠI HÌNH TRẬN ĐÁNH HIỆP ĐỒNG BINH CHỦNG VÀ NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC LOẠI HÌNH ĐÓ.
    Trận chiến đấu hiệp đồng binh chủng hiện đại – là hình thái cơ bản của những hoạt động tác chiến của các quân binh chủng, được hiểu là cơ cấu tổ chức và đồng bộ hóa các đòn tấn công theo mục tiêu, vị trí và thời gian bắt đầu các đòn tấn công, hỏa lực và cơ động của các đơn vị binh chủng hợp thành với một mục đích chung nhất, đó là đập tan, tiêu diệt hoặc làm tan rã lực lượng đối phương, phòng thủ và phản công mạnh mẽ trước các đòn tấn công của đối phương, thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu khác trong một khu vực giới hạn và trong một khoảng thời gian giới hạn.
    Mục đích của trận chiến đấu – tiêu diệt và bắt tù binh sinh lực của đối phương, tiêu diệt và thu giữ phương tiện chiến tranh, vũ khí trang bị và đè bẹp mọi khả năng kháng cự của đối phương. Mục đich cuộc chiến đấu đạt được bằng đòn tấn công mạnh mẽ của tất cả các chủng loại vũ khí, được sử dụng đúng lúc và đúng thời điểm, đồng thời với việc khai thác kết quả tấn công của hỏa lực là đòn tấn công đúng thời điểm, với nỗ lực tích cực cao nhất, quyết liệt nhất của các đơn vị binh chủng hợp thành.
    Trận chiến đấu có thể là: trận đánh hiệp đồng binh chủng, trận đánh phòng không, trận đánh trên không (không chiến) và trận hải chiến.
    Trận chiến đấu hiệp đồng binh chủng là trận đánh được tổ chức và tiến hành với sự nỗ lực quyết liệt của các đơn vị hợp thành tham gia tác chiến với sự tham gia của lực lượng tăng thiết giáp, pháo binh, lực lượng phòng không, máy bay, trực thăng chiến đấu.
    Những đặc điểm đặc trưng của trận chiến đấu hiệp đồng binh chủng:
    • Tính quyết liệt cao;
    • Cường độ tác chiến rất cao;
    • Tốc độ chiến đấu và nhịp độ tác chiến rất nhanh;
    • Hoạt động tác chiến cả trên không và trên bộ (tác chiến không – bộ);
    • Hỏa lực rất mạnh bao trùm toàn bộ chiến tuyến và suốt chiều sâu của hệ thống phòng thủ cả hai bên tham chiến;
    • Sử dụng nhiều hình thức tác chiến khác nhau để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu;
    • Sự chuyển biến nhanh chóng từ một phương thức tác chiến sang phương thức tác chiến khác (các hình thái chiến thuật biến đổi nhanh chóng);
    • Tình huống môi trường tác chiến điện tử rất phức tạp;
    Kết quả của trận chiến đấu phụ thuộc rất nhiều vào lòng dũng cảm, sức chịu đựng, can đảm , ý chí quyết tâm dành chiến thắng, những giá trị tinh thần cao của người chiến sĩ và cấp độ được rèn luyện sẵn sàng chiến đấu của cán bộ chiến sĩ lực lượng vũ trang, vũ khí trang bị và khí tài, phương tiện chiến tranh. Trận chiến đấu hiệp đồng quân binh chủng hiện đại đòi hỏi các lực lượng, các đơn vị binh chủng hợp thành liên tục tiến hành trinh sát, đánh giá đối phương và các tình huống chiến trường, sử dụng thành thạo và phát huy hết tính năng kỹ chiến thuật của vũ khí trang bị, khí tài phương tiện, các khí tài bảo vệ và mọi dụng cụ, phương tiện ngụy trang che giấu lực lượng, có khả năng cơ động rất cao và cơ cấu tổ chức biên chế khoa học, năng động sáng tạo. Những khả năng đã nêu chỉ có thể đạt được bằng con đường học tập, huấn luyện và rèn luyện thực tiễn trên thao trường chiến đấu, với ý thức trách nhiệm cao nhằm đạt được mục tiêu: giữ gìn danh dự người chiến sĩ, sức chịu đựng gian khổ, lòng quả cảm, bản lĩnh chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu cao của các cán bộ chiến sĩ trong biên chế đơn vị, sẵn sàng trong mọi điều kiện tình huống luôn nỗ lực chiến đấu và chiến thắng kẻ thù.
    Kinh nghiệm chiến đấu cho thất, chiến thắng trong một trận chiến đấu luôn ở phía, người nào dũng cảm nhất trong trận chiến, luôn có tư duy sáng tạo, giải pháp tác chiến thông minh, sử dụng những hình thức tác chiến và phương thức tiến hành trận đánh mới, luôn dành thế chủ động, buộc đối phương phải chiến đấu theo cách đánh của mình. Thảm bại trên chiến trường không đến với những người, trong cố gắng nỗ lực tiêu diệt kẻ thù, không đạt được mục tiêu của trận chiến đấu, mà thường đến với những người không có năng lực hành động, không thể quyết đoán trong các tình huống chiến trường và không sử dụng mọi khả năng hiện có để thực hiện xuất sắc nhiệm vụ được giao.
    Những nguyên tắc cơ bản tiến hành một trận chiến đấu hiệp đồng binh chủng hiện đại là::
    • Duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu cao của các đơn vị, phân đội binh chủng hợp thành;
    • Tính chủ động, quyết tâm cao và liên tục chiến đấu tiến công;
    • Hoạt động tác chiến bí mật, bất ngờ, liên tục và hiêp đồng chuẩn xác, kiên quyết tập trung mọi nỗ lực chính của các đơn vị binh chủng hợp thành vào hướng tấn công chính trong thời điểm quan trọng nhất;
    • Liên kết hiệp đồng giữa hỏa lực với cơ động, sử dụng thành thục phương pháp cơ động liên tục của các đơn vị chiến đấu và các đơn vị hỏa lực.;
    • Thực hiện công tác tư tưởng chính trị tinh thần triệt để, chú trọng đông viên tinh thân, giữ vững tâm lý của cán bộ chiến sĩ, hướng đến quyết tâm thực hiện nhiệm vụ được giao.;
    • Đảm bảo về mọi mặt cơ sở vật chất, tinh thần cho trận đánh, đảm bảo điều hành tác chiến kiên quyết và liên tục các hoạt động của các đơn vị tham gia chiến đấu.
    Các hình thức chiến thuật chủ yếu của trận đánh hiệp đồng quân binh chủng chủ yếu là chiến đấu tấn công và phòng ngụ. Trong cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc, hình thức phòng ngự là hình thức tác chiến quan trọng hàng đầu và là hình thức tác chiến phổ biến nhất..
    Phòng thủ có thể được thực hiện do tình huống chiến trường bắt buộc hoặc với mục đích ngăn chặn cuộc tấn công của đối phương, gây cho địch những tổn thất nặng nề, giữ vững khu vực đã chiếm được và tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng tác chiến chuyển sang tấn công. Hình thức tác chiến Phòng thủ có thể được sử dụng rộng rãi không chỉ trong thời kỳ đầu của cuộc chiến tranh, mà ngay cả trong tiến trính chiến tranh bảo vệ tổ quốc. Nhưng chỉ phòng thủ không thể dành thắng lợi trên chiến trường.
    Tấn công là hình thức tác chiến với mục tiêu đập tan và tiêu diệt hoàn toàn lực lượng quân sự của đối phương. Tấn công bao gồm có: đòn tấn công hỏa lực tiêu diệt và chế áp mọi sự kháng cự của đối phương, lực lượng bộ binh binh chủng hợp thành (lính thủy đánh bộ trong tác chiến không hải bảo vệ biển đảo) tấn công mạnh mẽ và quyết liệt, các đơn vị cơ động thọc sâu, vu hồi nhanh chóng, đánh chiếm các khu vực quan trọng và tiêu diệt mọi sức kháng cự. Hình thức tấn công thường thấy là trận chiến đống tấn công từ tuyến phòng ngự đan xen với tuyến chiến đấu của địch, các đơn vị đang trong hình thức tác chiến phòng ngự chuyển sang tấn công.
    Các hình thức các trận chiến đấu binh chủng hợp thành gắn kết chặt chẽ với nhau. Trong tiến trình các hoạt động tác chiến của Bộ binh cơ giới, Tăng thiết giáp, trên cơ sở tình huống chiến trường, biên chế tổ chức và cơ sở vật chất đảm bảo, nhiệm vụ được giao có thể nhanh chóng chuyển từ hình thức chiến thuật này sang hình thức chiến thuật khác.
    2.3 NHỮNG KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH NGHĨA CƠ BẢN CỦA CHIẾN THUẬT CHUNG.
    Trong các phần đã nêu, nhận thấy rõ ràng rằng: trận chiến đấu là cơ cấu tổ chức biên chế và đồng bộ hóa giữa: Đòn tấn công, Hỏa lực và Cơ động. Trong chuyên mục này, nội dung chủ yếu cần nghiên cứu là đưa ra những khái niệm và định nghĩa, thế nào là : Đòn tấn công, Hỏa lực và Cơ động chiến đấu.

    Đòn tấn công
    – là tập hợp các hành động cùng một thời điểm nhằm tiêu diệt binh lực, sinh lực cụm lực lượng đối phương bằng phương pháp sử dụng đồng bộ, triệt để sức mạnh của tất cả các vũ khí khí tài và binh lực có trong biên chế của lực lượng tham gia trận chiến đấu. Các loại hình đòn tấn công có thể là: hình. 2.3.1.
    Hỏa lực – Sức mạnh của các loại vũ khí, khí tài chiến đấu cũng một thời điểm khai hỏa nhằm tiêu diệt mục tiêu. Hỏa lực được triển khai với mục đích nhằm tiêu diệt, chế áp, đẩy lùi đối phương, hoặc được sử dụng để phá hủy các công trình, tranh thiết bị kỹ thuật quân sự của đối phương. hình. 2.3.2.

    Cơ động chiến đấu
    – tổ chức di chuyển các đơn vị, các lực lượng trong quá trình tiến hành trận chiến đấu với mục đích chiếm lĩnh vị trí có lợi thế hơn so với quân địch, tập trung lực lượng và vũ khí trang thiết bị đủ mạnh, tiến hành các đòn tấn công hoặc lặp lại các đòn tấn công với cường độ cao hơn nhằm tăng cường khả năng hiệu quả tiêu diệt địch. Các hình thức cơ động chiến đấu có thể là: cơ động bọc hậu, cơ động vu hồi, rút lui khỏi vị trí hoặc thoát ly sang hướng khác, cơ động hướng các đòn tấn công và hỏa lực.
    Cơ động vu hồi: là phương thức các đơn vị thoát ly vị trí ban đầu, cơ động sang hai phía nhằm mục đích thực hiện đòn tấn công vào cạnh sườn đội hình tác chiến của đối phương.
    Cơ động bọc hậu:
    Là phương thức cơ động sâu của vu hồi, với mục đích đánh vào hậu phương, phía sau trận địa của đối phương.
    Rút lui hoặc thoát ly trận địa: – là hình thức cơ động với mục đích đưa lực lượng thoát ly dưới tầm hỏa lực mạnh hơn của đối phương, kéo dài thời gian và chiếm lĩnh vị trí có lợi hơn so với quân địch. Rút lui quân hoặc thoát ly trận địa chỉ được thực hiện khi có lệnh hoặc được sự cho phép từ trước của người chỉ huy cấp cao hơn.
    Cơ động đòn tấn công hoặc hỏa lực là trong cùng một thời điểm hoặc thời điểm tiếp theo, các đòn tấn công dồn dập hoặc hỏa lực tập trung vào các mục tiêu quan trọng của đối phương, hoặc được chuyển sang hướng các mục tiêu mới.
    Vai trò quan trọng giải quyết chiến trường là của lực lượng bộ binh cơ giới và lực lượng tăng thiết giáp. Phụ thuộc vào điều kiện, tình huống chiến trường, các phân đội, đơn vị sẽ được sử dụng ở đội hình: hành quân chiến đấu, trước trận đánh và trong đội hình chiến đấu.
    Hành quân chiến đấu – đội hình các phân đội cơ động hành tiến theo đội hình hàng dọc. Hành quân chiến đấu được sử dụng trong điều kiện tình huống truy kích địch, hoặc cơ động hành quân từ vị trí này sang vị trí khác, hành quân chiến đấu yêu cầu phải đảm bảo tốc độ cơ động cao nhất, có thể nhanh chóng triển khai vào đội hình hành tiến trước trận đánh và đội hình cơ động chiến đấu.
    Đội hình hành tiến trước trận đánh – là đội hình triển khai hành tiến của các phân đội, được thực hiện đồng thời trong thời gian hành quân nhằm làm giảm thời gian triển khai đội hình chiến đấu, giảm tổn thất trước những đòn tấn công hỏa lực của đối phương từ tất cả các loại vũ khí hỏa lực.
    Đội hình chiến đấu – là đội hình của các phân đội, các đơn vị khi tham gia vào trận đánh. Nhằm đạt được mục tiêu độc lập tác chiến, các phân đội tăng thiết giáp hoặc bộ binh cơ giới được giao cho một hoặc một số phân đội phối thuộc thuộc binh chủng khác.
    Ký tín hiệu chỉ huy tác chiến:
    Theo nguyên tắc, người chỉ huy phân đội sẽ quy định ký tín hiệu điều hành tác chiến trong từng trận đánh và thông báo cho cán bộ thuộc quyền trong mệnh lệnh chiến đấu.
    Để điều khiển đội hình hành quân trong quân đội Liên bang Nga thường sử dụng các ký tín hiệu đã quy chuẩn trong điều lệnh đội ngũ, ký tín hiệu được đưa ra bằng tay với cờ hiệu hoặc đèn phin. Các cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, phân đội cần phải biết rõ các ký tín hiệu đó, thành thục khi phát tín hiệu và thực hiện nghiêm chỉnh như mệnh lệnh của người chỉ huy.
    Trong điều kiện chiến đấu, để giữ bí mật, các ký tín hiệu được quy định trong từng mệnh lệnh và phương pháp trả lời nhằm thông báo cho người chỉ huy biết đã nhận được mệnh lệnh và tiến hành thực hiện. Ví dụ: Ký tín hiệu khai hỏa, ký tín hiệu di chuyển hỏa lực….có thể được phát lệnh bằng vô tuyến, hữu tuyến, bằng pháo sáng hoặc trực tiếp bằng hỏa lực của đạn pháo đi kèm đạn chiếu sáng vào mục tiêu…..”
    Cán bộ, chiến sĩ trong nhiệm vụ quan sát, khi phát hiện hoặc nghe thấy ký tín hiệu, lập tức báo cáo người chỉ huy trực tiếp. Trong mọi tình huống chiến trường, đối với các phân đội binh chủng, có quy định: để phát ký tín hiệu, cần quay về hướng người nhận ký tín hiệu. Để tập trung sự chú ý, chỉ huy trưởng trước khi phát tín hiệu nội dung cần phát tín hiệu ‘ chú ý”. Người nhận được ký tín hiệu cần đáp lại ký tín hiệu đó (phát lại) thông báo cho người chỉ huy biết đã hiểu rõ ký tín hiệu. ngoại trừ một số các ký tín hiệu đã được quy định trong chiến đấu (nổ súng, hỏa lực tập trung….được thể hiện bằng ký tín hiệu đã quy định trong mệnh lệnh tác chiến).

    Biên dịch: Trịnh Thái Bằng-tech.edu

    Nguồn: Tài liệu huấn luyện quân sự Trường đại học kỹ thuật quốc gia Tambov - Liên bang Nga

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •