CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 5 của 7 Đầu tiênĐầu tiên ... 34567 CuốiCuối
Kết quả 41 đến 50 của 67

Chủ đề: Tìm hiểu về Quân đội các cường quốc chính

  1. #41
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,235
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Chiến thuật chung(P3)
    6/12/2012 1000 AM Cơ cấu biên chế tổ chức và vũ khí trang bị các đơn vị và phân đội trong các đơn vị binh chủng hợp thành chủ lực của Lực lượng lục quân Liên bang Nga.
    Chương 3
    BIÊN CHẾ TỔ CHỨC, VŨ KHÍ TRANG BỊ, PHƯƠNG TIỆN CHIẾN ĐẤU CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH CƠ GIỚI, TIỂU ĐOÀN TĂNG, TIỂU ĐOÀN PHÁO BINH – TÊN LỬA.
    3.1 BIÊN CHẾ TỔ CHỨC, VŨ KHÍ TRANG BỊ, PHƯƠNG TIỆN CHIẾN ĐẤU CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH CƠ GIỚI.
    Trận chiến đấu hiệp đồng binh chủng được tiến hành với sự phối hợp chặt chẽ của các lực lượng binh chủng khác nhau và các chủng loại vũ khí, trang bị, phương tiện chiến đấu. Đặc trưng đó phản ánh rất rõ trong cơ cấu biên chế tổ chức của các phân đội bộ binh cơ giới BBCG và Tăng thiết giáp.
    Tiểu đoàn BBCG, tiểu đoàn TTg là đơn vị chiến đấu cơ bản của lực lượng binh chủng hợp thành. Các đơn vị cấp tiểu đoàn được biên chế tổ chức thành các đơn vị cấp trung đoàn, lữ đoàn.
    Đại đội BBCG (TTg) – là phân đội cấp chiến thuật, nằm trong biên chế của cấp tiểu đoàn.
    Các đơn vị BBCG (TTg) căn cứ theo các tình huống chiến trường, tính chất của vũ khí trang bị, phương tiện chiến đấu có được những cơ cấu biên chế khác nhau theo số lượng binh lực, vũ khí trang bị, phương tiện tác chiến và các phân đội thuộc quyền, có thể là những phân đội thuộc các binh chủng khác. Đơn vị tác chiến binh chủng hợp thành có sức nặng trong lực lượng lục quân là các tiểu đoàn BBCGvà các tiểu đoàn xe tăng trong các trung đoàn, lữ đoàn tăng thiết giáp và bộ binh cơ giới. Trong các tiểu đoàn BBCG có cơ cấu tổ chức: ban chỉ huy tiểu đoàn, ban tham mưu, các phân đội chiến đấu và các phân đội bảo đảm chiến đấu. Hình 3.1.1.
    Ban chỉ huy tiểu đoàn: Tiểu đoàn trưởng, Phó tiểu đoàn trưởng tác chiến, phó tiểu đoàn trưởng binh lực (chính trị), Phó tiểu đoàn trưởng kỹ thuật, Phó tiểu đoàn trưởng hậu cần và cán bộ chuyên trách pháo binh. Ban tham mưu tiểu đoàn bao gồm Tham mưu trưởng, phó tham mưu trưởng, chỉ huy trưởng thông tin (theo thông lệ là Trung đội trưởng trung đội thông tin), hướng dẫn viên, thư ký. Đối với ban chỉ huy và ban tham mưu được biên chế 2 xe BMP và hai xe BTR.
    Đại đội BBCG trên xe BMP và xe BTR có cơ cấu biên chế tương đương nhau và chỉ khác nhau bởi vũ khí trang bị cơ bản thân xe. Trong một tiểu đoàn có 3 đại đội bộ binh cơ giới, một khẩu đội súng cối, trung đội súng phóng lựu, trung đội thông tin, trung đội y tế quân sự và trung đội hậu cần. Trung đội súng chống tăng tăng cường trên xe BTR có 3 khẩu súng chống tăng SPG-9, 6 tổ hợp tên lửa chống tăng Fagot.
    Trong lữ đoàn BBCGvà lữ đoàn tăng theo biên chế có xe BMP. Điểm khác nhau trong cơ cấu tổ chức của tiểu đoàn BBCG trên xe BMP nếu so sánh với biên chế cấp trung đoàn là bổ xung thêm trung đội chống tăng (3 xe thiết giáp BPM chống tăng, tổ hợp tên lửa Fagot – 6), thay vào vị trí của trung đội thông tin là trung đội điều hành tác chiến (tiểu đội trinh sát, tiểu đội điều hành của tham mưu trưởng, tiểu đội thông tin), thay vào vị trí của trung đội hậu cần là trung đội đảm bảo cơ sở vật chất và đảm bảo kỹ thuật).
    Phụ thuộc vào khu vực chiến trường ( các khu vực phía tây, phía Nam hoặc phía Đông) tiểu đoàn có thể được tăng cường đơn vị phòng không chiến trường, các phân đội trinh sát, và cơ sở cho cơ động di chuyển – các xe vận tải). Sự khác nhau về cơ sở vật chất giữa đơn vị BMP và BTP là sự khác nhau theo quân số biên chế và vũ khí trang bị.
    Đại đội BBCG trên xe BMP có bộ phận điều hành tác chiến (ban chỉ huy đại đội), 3 trung đội BBCG. Trong bộ phận điều hành tác chiến có Đại đội trưởng, Phó đại đội trường binh lực (Chính trị viên), sĩ quan chuyên nghiệp, sĩ quan chuyên nghiệp kỹ thuật, y sĩ, trưởng xe, pháo thủ số 1 và pháo thủ số 2, lái xe – kỹ thuật viên, trắc thủ radar tầm gần. Trong bộ phận điều khiển (ban chỉ huy đại đội) có biên chế là 2 xe BMP.
    Tiểu đoàn trên xe BTR khác hơn so với BMP do không có vũ khí chống tăng, chính vì vậy trong đại đội có thêm một tiểu đội súng chống tăng gồm 9 chiến sĩ, 3 tổ hợp tên lửa chống tăng "Metis." Phương tiện cơ động – xe BTR. Trong ban chỉ huy đại đội có 8 người: Đại đội trưởng, phó đại đội trưởng binh lực (Chính trị viên), Sĩ quan chuyên nghiệp, sĩ quan chuyên nghiệp kỹ thuật, y sĩ, lái xe, xạ thủ súng máy, trắc thủ radar trinh sát tầm gần.
    Đại đội BBCG trong cơ cấu biên chế của Lữ đoàn khác với đại đội BBCG trong cơ cấu biên chế của trung đoàn trên xe BMP là được biên chế một trung đội súng phóng lựu, bao gồm 3 tiểu đội 8 chiến sĩ trên 1 xe BMP và 2 súng phóng lựu AGS -17. Toàn bộ trung đội có 26 người, 3 xe BMP, 6 khẩu súng AGS-17.
    Trung đội BBCG trên xe BMP có ban chỉ huy trung đội và 3 tiểu đội, mỗi tiểu đội có 8 người. Trong ban chỉ huy có Trung đội trưởng, trung đội phó, xạ thủ bắn tỉa, xạ thủ súng máy, pháo thủ 1, y sĩ – chiến sĩ. Toàn trung đội có 30 người, 3 xe BMP.
    Trung đội BBCG trên xe BTR – 32 người. Trong hai tiểu đội có 9 người, (tăng cường 1 chiến sĩ) một tiểu đội có 8 người.
    Trung đội trên xe BMP cấp lữ đoàn có 32 người, ban chỉ huy trung đội 5 người, trong các tiểu đội có 9 người.
    Tiểu đội BBCG có các biên chế khác nhau và có từ 8 đến 9 chiến sĩ. Phương án tiêu chuẩn là: Tiểu đội trưởng – trưởng xe – pháo thủ số 1, lái xe – kỹ thuật, xạ thủ súng phóng lựu, chiến sĩ – xạ thủ phóng lựu số 2 (giúp số 1), xạ thủ súng máy, hạ sĩ quan xạ thủ AK, xạ thủ AK chiến sĩ (trong trung đội trên xe BTR – xạ thủ bắn tỉa), tiểu đội có 1 xe BMP (BTR).
    3.2 BIÊN CHẾ TỔ CHỨC TIỂU ĐOÀN XE TĂNG.
    Biên chế chủ yếu trong các phân đội xe tăng – xe tăng. Trong tiểu đoàn xe tăng, tương tự như BBCG có Ban chỉ huy tiểu đoàn và ban tham mưu, 3 đại đội xe tăng, các trung đội thông tin, kỹ thuật đảm bảo, hậu cần – cơ sở vật chất đảm bảo và y tế quân sự. Trong biên chế có khoảng 150 sĩ quan và binh sĩ, 31 xe tăng. Trong đại đội có 3 trung đội, 33 sĩ quan binh sĩ, 10 xe tăng. Trong một trung đội có 3 xe tăng và 9 sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ.

    3.3 NĂNG LỰC CHIẾN THUẬT CỦA CÁC ĐƠN VỊ. TÍNH NĂNG KỸ CHIẾN THUẬT VŨ KHÍ TRANG BỊ CỦA TIỂU ĐOÀN TĂNG THIẾT GIÁP VÀ BỘ BINH CƠ GIỚI.
    Tiêu diệt lực lượng tiến công của đối phương chủ yếu bằng hỏa lực của lực lượng phòng thủ, do đó, chỉ số năng lực chiến thuật của đơn vị được tình bằng khả năng phát huy hỏa lực. Khả năng phát huy hỏa lực được tính bằng số lượng mục tiêu có thể bị tiêu diệt.
    Sơ đồ
    Tiểu đoàn BBCG trên xe BMP có khả năng tiêu diệt hơn 80 xe tăng hoặc 130 xe bọc thép BMP của đối phương, trong điều kiện tăng cường 1 đại đội xe tăng và một trung đội súng chống tăng PTUR tiểu đoàn có khả năng tiêu diệt đến 110 – 120 xe tăng và đến 170 xe BMP đối phương. Cần chú ý khi tác chiến hỏa lực tập trung sử dụng để diệt tăng sẽ chiếm 70% và hỏa lực diệt xe BMP đối phương sẽ chiếm khoảng 30% . Trong trường hợp này, khả năng diệt tăng thiết giáp của tiểu đoàn BBCG trên xe BMP sẽ khoảng 80 xe tăng và khoảng 50 xe BMP hoặc BTR.
    Trong giai đoạn ngày nay, Các lực lượng vũ trang Liên bang được trang bị các hệ thống vũ khí hàng đầu thế giới, để có được thành quả hôm nay là nỗ lực của những cán bộ, nhân viên kỹ thuật tốt nhất của quốc gia. Vũ khí trang bị, phương tiện chiến đấu được sản xuất từ những trí tuệ của nước Nga đang bảo vệ vững chắc an ninh và độc lập chủ quyền của quốc gia. (hình 3.3.1 – 3.3.5).
    3.3.1 Tính năng kỹ chiến thuật các xe tăng chủ lực
    Tính năng kỹ thuật T72 T80U T84 T90
    Khối lượng T 40 46 46 46.5
    Kíp xe và chiến sĩ theo xe 3 3 3
    Vũ khí trang bị
    Pháo
    Súng máy
    Tên lửa chống tăng
    125 mm
    PKT 7,62
    AA: 12,7
    125 mm
    PKT 7,62
    AA: 12,7
    9K119
    125 mm
    PKT 7,62
    AA: 12,7
    9K119
    125 mm
    PKT 7,62
    AA: 12,7
    9K119
    Tốc độ, km/h
    - đường bê tông.
    75 75 75 60
    Công suất động cơ kW 780 1250 1200 840
    3.3.2 Thông số kỹ chiến thuật vũ khí của tiểu đoàn BBCG – Vũ khí bắn thẳng.
    Tính năng PM AKM AK74 RPK PK RPG-7 SPG-9 AGS-17
    Cỡ nòng 9 7.62 5.45 7.62 7.62
    Khối lượng 0.81 3.6 3.3 6.8 15.5 6.3 47 18 +12st
    Tầm bắn thước ngắm 50 1000 1000 1000 1500 500 1300 1700
    Tốc độ bắn. Phát/phút 30 600 700 600 650 4 – 6 6 350 – 400
    Vo đầu đạn 315 715 900 745 825 300 700 185
    Băng đạn 8 30 30 40; 75 100 – 200 3 đạn 6 29
    Khối lượng đạn,g 10 16.2 10.75 16.2 21.8 2200 4400 350
    Khả năng xuyên giáp 180 200
    Người sử dụng 2 4 2
    3.3.3 Tính năng kỹ chiến thuật vũ khí trang bị tiểu đoàn BBCG – Súng cối
    Tính năng kỹ thuật 2B14 Podnos 2B9 Vasilek
    Cỡ nòng 82 82
    Tầm bắn,m
    - Max
    - Min
    4085
    87
    4270
    800
    Vòng cung xạ kích. Độ 360 30
    Khối lượng kg 42 662
    Thời gian vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu. phút 1.3 2
    Tốc độ xạ kích 9 120
    Cơ động Mang vác GAZ 66
    Kíp pháo thủ 5 4
    Cơ số đạn 120/60 300/266

    3.3.4 Tính năng kỹ chiến thuật các tổ hợp chống tăng trang bị tiểu đoàn BBCG


    Tổ hợp tên lửa chống tăng Fagot


    Tính năng kỹ thuật Metis Fagot
    Cỡ nòng 60 120
    Tầm bắn,m
    - Max
    - Mim
    1000
    60
    2000
    70
    Xuyên thép.mm 460 360
    Tốc độ xạ kích, phát/phut 3 - 4 2 - 3
    Hệ thống điều khiển tên lửa Bán tự dẫn – điều khiển dây cáp. Bán tự dẫn – điều khiển dây cáp.
    Khối lượng Balo đựng số 1 16,5
    Balo đựng số 2- 19
    Ống và giá phóng tên lửa 22,5
    Tên lửa 13,
    Kíp trắc thủ 2 3
    Cơ số đạn 8 8
    3.3.5 Tính năng kỹ chiến thuật các xe bọc thép, bộ binh cơ giới.
    Tính năng kỹ thuật BMP-2 BMP-3 BTR-70 BTR-80 BTR-T
    Khối lượng T 14 18.7 11.5 13.6 38.5
    Kíp xe và chiến sĩ theo xe 3+7 3 2+8 2+8 2+5
    Vũ khí trang bị
    - Pháo
    - Súng máy
    - Tên lửa chống tăng
    30 mm
    PKT 7,62
    9M111
    100 mm
    30mm
    PKT 7,62 x 2
    ZT 14,5mm
    PKT 7,62
    30mm
    ZT 14,5mm
    PKT 7,62
    200 mm
    Tốc độ, km/h
    - đường bê tông.
    - Khi bơi
    68
    7
    70
    10
    80
    10
    90
    10
    80
    Công suất động cơ kW 300 368 2x115 = 230 191 Thân xe T55
    3.4 BIÊN CHẾ TỔ CHỨC TIỂU ĐOÀN PHÁO BINH.
    Lực lượng pháo binh được biên chế trong các đơn vị binh chủng hợp thành như một thành phần đơn vị, hình thành lực lượng pháo binh Quân đoàn, Sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn và cấp tiểu đoàn.
    Pháo binh đơn vị có chức năng thực hiện các nhiệm vụ hỏa lực trong mục đích chung của các Tập đoàn quân, quân đoàn, các đơn vị binh chủng hợp thành, các đơn vị và các phân đội, trong đội hình chiến đấu của đơn vị, pháo binh đơn vị có nhiệm vụ tăng cường sức mạnh hỏa lực của các đơn vị và phân đội, khi tác chiến trên các hướng chủ yếu của mặt trận khu vực.
    Đơn vị tác chiến chiến thuật cơ bản của lực lượng pháo binh là tiểu đoàn pháo binh. Hình. 3.4.1).
    Được biên chế trang bị các loại vũ khí hiện đại và tổ hợp các thiết bị điều hành tác chiến, tiểu đoàn pháo binh có khả năng độc lập giải quyết các nhiệm vụ hỏa lực và các nhiệm vụ chiến thuật trên chiến trường.
    Là đơn vị tác chiến hỏa lực cơ bản của pháo binh, tiểu đoàn có khả năng với độ chính xác cao tiêu diệt nhiều loại mục tiêu, các mục tiêu có thể trong công sự hoặc ngoài công sự, mục tiêu cố định và di động, có thể quan sát được và không quan sát được, trên mặt đất và trên mặt nước, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ hỏa lực khác.
    Khả năng cơ động di chuyển của tiểu đoàn pháo binh và thực hiện tốt công tác hiệp đồng tác chiến liên tục với các đơn vị binh chủng hợp thành khác, tiến hành trận chiến đấu trong nhịp độ các là tính chất đặc trưng của tiểu đoàn pháo binh như một đơn vị tác chiến cấp chiến thuật.
    3.5 BIÊN CHẾ TỔ CHỨC KHẨU ĐỘI PHÁO CHỐNG TĂNG.
    Khẩu đội pháo chống tăng là đơn vị hỏa lực và tác chiến cấp chiến thuật. Nhiệm vụ hỏa lực và tác chiến khẩu đội có thể thực hiện độc lập hoặc trong đội hình chiến đấu của tiểu đoàn pháo binh.

    Phân đội hỏa lực pháo binh là trung đội hỏa lực (chống tăng) trung đội thực hiện các nhiệm vụ được giao trong đội hình khẩu đội.
    3.6 THÔNG SỐ KỸ CHIẾN THUẬT CỦA PHÁO BINH VÀ PHÁO CHỐNG TĂNG.
    Trong giai đoạn ngày nay, lực lượng pháo binh được biên chế các loại vũ khí trang bị khí tài chiến đấu hiện đại nhất, đáp ứng mọi yêu cầu chiến đấu trong mọi tình huống chiến trường. (bảng. 3.6.1 – 3.6.4).
    3.6.1 Các loại pháo được trang bị trong tiểu đoàn pháo

    Pháo hạng nặng D-30 do xe vận tải kéo.

    Tính năng kỹ chiến thuật D-30 MT-12 (Rapier) 2A65 (Msta) 2A65
    (Hyacinth)
    Cỡ nòng 122 100 152.4 152,4
    Tầm bắn max, m 15300 8100 24000 28300
    Tầm bắn thẳng, m 870 2130 1350 1530
    Xuyên thép 450 350
    Vùng hỏa lực, độ 360 54 70 50
    Khối lượng, kg 3200 3100 6800 9500
    Thời gian đưa vào trạng thái SSCĐ 2.5 1 2-2.5 4
    Tốc độ bắn ph/p 8 6 7 5
    Xe kéo Ural MT-LB Kraz Kraz
    Dự trữ hành trình 850 500 800 800
    Khẩu đội 7 6 8 8
    Cơ số đạn 80 80 60 60
    3.6.2 Pháo phản lực dàn

    Pháo phản lực Smerch
    Tính năng kỹ chiến thuật Smerch Grand Uragan
    Cỡ nòng 122 100 220
    Tầm bắn:
    Max
    Min
    70000
    20000
    20700 34000
    Tốc độ loạt bắn.s 6 20 8
    Khối lượng đạn.kg 800 66 280
    Khối lượng chung.kg 30000 10700 20000
    Tốc độ cơ động di chuyển, km/h 90 75 65
    Khẩu đội 4 6 4
    Thân xe MAZ 543A Uran 375A ZIL- 135
    Cơ số đạn 24 120 48
    Thời gian chuyển trạng thái SSCĐ 2 3 3
    3.6.3 Pháo tự hành

    Pháo tự hành 152 mm "Hyacinth"

    Tính năng kỹ chiến thuật SG 2S5
    "Hyacinth"
    SG 2S1
    "Carnation"
    СГ 2А65
    "Мста-С"
    SG 2S3
    "Acacia"
    2S9
    "Nona"
    Cỡ nòng 152.4 122 152.4 152.4 120
    Tầm bắn max 28000 15200 24700 17300
    Tốc độ bắn,s 8 4-5 2 3 – 4
    Khối lượng đạn,kg 46 21.8 43.6
    Khối lượng chung 27500 15700 42000 27500 8000
    Kíp pháo thủ 7 5 9 6 4
    Thân xe OB123 MT-LB OB123
    Cơ số đạn dự trữ 60 60
    Dự trữ đạn thân xe 30
    Thời gian chuyển trạng thái SSCĐ 3 0.3 2 – 2.5 0.5
    Góc quay hướng 35 35
    Góc nâng tầm 56 -5 - 80
    3.6.4 Súng cối tự hành dã chiến

    Súng cối tự hành Tulpan


    Tính năng kỹ chiến thuật 2S4 "Tulpan"
    Cỡ nòng 240
    Tầm bắn đạn nổ phá mảnh 9507
    Tầm bắn đạn đặc chủng có điều khiển. m 18100
    Tốc độ xạ kích 1
    Khối lượng đạn nổ phá mảnh 130,7
    Khối lượng chung 27500
    Vcđ của tổ hợp km/h 60
    Kíp pháo thủ 7
    Thân xe OB123
    Cơ số đạn dự trữ 40
    Thời gian đưa vào trạng thái SSCĐ 3

    Biên dịch: Trịnh Thái Bằng-tech.edu

    Nguồn: Tài liệu huấn luyện quân sự Trường đại học kỹ thuật quốc gia Tambov - Liên bang Nga

  2. #42
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,235
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Chiến thuật chung (P4)

    Cơ cấu biên chế, tổ chức và vũ khí trang bị đơn vị chiến đấu lực lượng bộ binh khối quân sự NATO, cấp chiến thuật.
    Chương 4
    CƠ CẤU TỔ CHỨC, VŨ KHÍ TRANG BỊ VÀ PHƯƠNG TIỆN CHIẾN ĐẤU CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH CƠ GIỚI, TĂNG THIẾT GIÁP, CÁC PHÂN ĐỘI PHÁO BINH CÁC NƯỚC KHỐI QUÂN SỰ BẮC ĐẠI TÂY DƯƠNG – NATO.
    4.1 CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ, BIÊN CHẾ TỔ CHỨC, VŨ KHÍ TRANG BỊ CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH CƠ GIỚI VÀ TĂNG THIẾT GIÁP, TÍNH NĂNG KỸ CHIẾN THUẬT CỦA VŨ KHÍ TRANG BỊ TRONG BIÊN CHẾ.

    Bộ tư lệnh các lực lượng quân sự nước ngoài, huấn luyện và chuẩn bị lực lượng vũ trang để tiến hành chiến tranh, có sử dụng vũ khí hủy diệt lớn, hoặc chỉ sử dụng vũ khí thông thường, thường xuyên đổi mới cơ cấu biên chế tổ chức đồng thơi nâng cấp, thay đổi các loại vũ khí trang bị, phương tiện chiến đấu.
    Theo thông tin báo chí nước ngoài, các quân đội nước ngoài đặt rất nhiều sự quan tâm đến hoàn thiện cơ cấu biên chế tổ chức của các tập đoàn quân, các đơn vị binh chủng hợp thành, các đơn vị và các phân đội binh chủng của lực lượng Lục quân.
    Quân đội Mỹ, cùng với sự biên chế vào lực lượng xe bộ binh cơ giới BMP M2 "Bradley", xe "Bradley" và xe tăng M1 Abraham, đã tiến hành những thay đổi trong cơ cấu tổ chức của các tiểu đoàn bộ binh cơ giới và các tiểu đoàn tăng thiết giáp.
    Lực lượng quân đội Liên bang Đức, là lực lượng tác chiến chủ lực của khối quân sự NATO trên chiến trường trung tâm của châu Âu,thường xuyên hoàn thiện cơ cấu tổ chức của các lực lượng quân đội. Lực lượng bộ binh đã chuyển sang cơ cấu mới – được gọi là cơ cấu tổ chức model thứ 4 cho các binh đoàn, các đơn vị binh chủng hợp thành, các phân đội. Ngoài những đơn vị tiểu đoàn bộ binh cơ giới trên xe BTR và các tiểu đoàn xe tăng, đã xây dựng các tiểu đoàn BTR “Marder " và hỗn hợp, đồng thời hình thành các tiểu đoàn tăng hỗn hợp. các tiểu đoàn hỗn hợp hình thành lên các lữ đoàn BBCG và các lữ đoàn Tăng Thiết giáp.
    Quân đội Anh, lực lượng tham gia và hoạt động tích cực trong khối quâ sự NATO, tiến hành xây dựng quân đội dựa theo những tiêu chuẩn đồng bộ của chính sách quân sự, khẳng định sự ủng hộ tích cực những chiến lược sách lược quân sự đang được nước Mỹ tiến hành trong và ngoài khuôn khổ của NATO. Rất nhiều chương trình quân sự gắn liền với tư duy mở rộng không gian những hoạt động của quân đội Hoàng gia ra khỏi “vùng có nghĩa vụ” của khối NATO. Trong quân đội của Anh, cũng thường xuyên thay đổi cơ cấu biên chế tổ chức các lực lượng vũ trang.
    Tiểu đoàn bộ binh cơ giới (BBCG)
    là đơn vị chiến đấu cơ bản và có thể sủ dụng để cơ cấu biên chế lên các cụm binh lực cấp chiến thuật, trong biên chế của tiểu đoàn có ban chỉ huy tiều đoàn – ban tham mưu, sáu đại đội, đại đội tham mưu chỉ huy, 4 đại đội BBCG và một đại đội chống tăng. (hình. 4.1.1).
    Hình. 4.1.1

    Biên chế tổ chức BMP M2 Bradley Tổ hợp tên lửa TOW Tổ hợp tên lửa Dragon Súng cối tự hành 106,7mm
    896 54 12 36 6
    Xe chỉ huy SVM
    M577A1
    BMP M3 Bradley BTR M113A1 Xe vận tải Đài thông tin
    8 6 23 114 247
    Ban tham mưu tiểu đoàn bao gồm tham mưu trưởng và 4 phân đội – trinh sát, tác chiến, binh lực và hậu cần lỹ thuật đảm bảo. Xe BMP của tiểu đoàn trưởng cũng nằm trong biên chế của Tham mưu tiểu đoàn. Toàn bộ đại đội tham mưu chỉ huy có 22 người, 2 xe BMP Bradley, xe chỉ huy CSV M577A1 3 chiếc, đài thông tin 10.
    Đại đội tham mưu có ban chỉ huy và 6 trung đội: trinh sát, súng cối, thông tin, sủa chữa, hậu cần và quân y. Toàn bộ quân số là 345 người, có xe BRM M-3 Bradley – 6, súng cối tự hành 106,7mm -6; xe BTR M113A1 – 15; xe chỉ huy CSV M557A1 – 5, đài thông tin 104, ô tô 114.
    Đại đội bBCG bao gồm có ban chỉ huy điều hành tác chiến và 3 trung đội BBCG mỗi trung đội có 3 tiểu đội BBCG, toàn bộ quân số là 116 người, xe BMP M-2 Bradley 13; tổ hợp tên lửa chống tăng Dragon – 9, xe BTR 113A1 -1, đài thông tin – 28.
    Đại đội chống tăng bao gồm có ban chỉ huy đại đội, ba trung đội chống tăng với 2 phân đội trong mỗi trung đội. Toàn bộ có 65 người, tổ hợp tên lửa chống tăng "TOW" tự hành M901 – 12, BTR 113A1 – 4, đài thông tin 21.
    Toàn bộ biên chế tiểu đoàn BBCG gồm có 896 người, xe BMP M-2 Bradley – 54, xe BRM M-3 Bradley 6, xe tổ hợp tên lửa chống tăng TOW M901 – 12, tên lửa chống tăng Dragon – 36, súng cối tự hành 106,7mm – 6, xe BTR 113A1 – 23, xe chỉ huy CSV M577A1 – 8, ô tô – 114, đài thông tin – 247.
    Tiểu đoàn Tăng thiết giáp.
    Là phân đội tác chiến cơ bản của lữ đoàn và có thể được sử dụng làm đơn vị tác chiến cấp cơ sở để triển khai nhóm chiến thuật cấp tiểu đoàn. (hình. 4.1.2).
    Quân số 538
    M-1 Abrams 58
    Xe chỉ huy M577A1 8
    BMP M-3 Bradley 6
    Cối tự hành 106,7 mm 6
    BTR M113A1 11
    Xe ô tô các loại 89
    Đài thông tin 171


    Ban tham mưu tiểu đoàn bao gồm có tham mưu trưởng và 4 phân đội: - trinh sát, tác chiến, binh lực và hậu cần kỹ thuật tiểu đoàn. Xe tăng của tiểu đoàn theo biên chế nằm trong đội hình của bân tham mưu. Ban tham mưu tiểu đoàn gồm có: quân số: 22 người, xe tăng Abrams M-1 – 2 Xe chỉ huy tác chiến M577A1 – 3, đài thông tin – 11.
    Đại đội tham mưu bao gồm phân đội điều hành và 6 trung đội: trinh sát, súng cối, thông tin liên lạc, sửa chữa, đảm bảo hậu cần kỹ thuật và quân y. Toàn đại đội gồm có 257 người, BMP M-3 Bradley – 6, súng cối tự hành 106,7 mm – 6, BTR M113 – 11, xe chỉ huy CSV 577A1 – 5, đài thông tin – 96, xe ô tô – 85, đài thông tin – 96.
    Đại đội xe tăng bao gồm có ban chỉ huy đại đội và 3 trung đội xe tăng, mỗi trung đội có 4 xe tăng Abragam M-1, Toàn bộ biên chế gồm có: tăng M-1 Abrams – 14, xe ô tô -1, đài thông tin – 16.
    Trong tiểu đoàn xe tăng có 583 người, tăng M-1 Abrams – 58. BMP M-3 Bradley – 6, súng cối tự hành 106,7mm – 6, BTR-113A1 – 11, Xe chỉ huy CSV M577A1 – 8, xe ô tô – 89, đài thông tin – 171.
    Các thông số tính năng kỹ chiến thuật của vũ khí trang bị tiểu đoàn bộ binh cơ giới và tiểu đoàn tăng quân đội Mỹ được thể hiện ở các bảng sau: 4.1.1– 4.1.4.
    Tính năng kỹ chiến thuật vũ khí khí tài của tiểu đoàn BBCG Mỹ
    Tính năng Cối 81 mm tự hành Tổ hợp tên lửa Tow Tổ hợp tên lửa Dragon
    Kíp lái 6 2 1
    Khối lượng trong trạng thái chiến đấu. T 11,4 - -
    Khối lượng đạn (tên lửa) kg 3,2 – 5,1 20,1 8,8
    Tầm bắn xa nhất km 4.7 3.75 1
    Tầm bắn gần nhất, m - 65 30
    Tốc độ bắn, phát/ phút 1-12 - -
    Khả năng xuyên giáp, mm 620 430
    Tính năng kỹ chiến thuật xe bộ binh cơ giới lục quân Mỹ
    Tính năng Xe bộ binh cơ giới bánh xích M113 A1 Xe thiết giáp M2 Bradley
    Kíp lái + Bộ binh 1+12 3 + 6
    Khối lượng 11 22.3
    Độ dầy vỏ giáp mm 38 Chống đạn bộ binh
    Vũ khí trang bị 12.7mm Pháo 25 mm tự động
    Súng máy 7.62mm, tên lửa chống tăng TOW
    Công suất động cơ 215 506
    Tốc độ cơ động km/h 65 66
    Tính năng kỹ chiến thuật xe tăng
    Tính năng M60A1 M1 Abrahams
    Kíp lái 4 4
    Khối lượng 49.7 54.5
    Kích thước thân xe:
    Dài:
    Rộng
    Cao
    6.9
    3.6
    3.26
    7.9
    3.65
    2.4
    Vũ khí trang bị
    Pháo tăng
    Súng máy
    Súng phòng không
    105
    7.62
    12.7
    (105) 120
    7.62
    12.7/7.62
    Công suất động cơ 750 1500
    Dự trữ hành trình, km 500 440
    Tính năng kỹ chiến thuật vũ khí bộ binh
    Vũ khí trang bị Khối lượng vũ khí Tầm bắn hiệu quả Tốc độ bắn chiến đấu Khối lượng đầu đạn Số lượng đạn trong băng (hộp)
    9mm súng ngắn Valter P1 (LBĐức). 0,77 50 16 8 8
    11.43 súng ngắn Colt M1911A1 Mỹ 1,2 70 14 15,2 7
    11,43mm súng ngắn tự động M3A1 Mỹ 3,7 90 60 – 120 15,2 30
    9mm súng ngắn tự động MP2A1 Đức 3,75 200 120 8 25
    5,56mm tiểu liên M16A1 Mỹ 3,22 500 150 – 200 2,5 20(30)
    7,62 mm súng trường tự động G3 Đức 4,1 400 100 9,1 20
    7,62 mm súng máy tiêu chuẩn M60 Mỹ 10,4 1100 200 9,3 250
    7,62 mm súng máy tiêu chuẩn MG3 Đức 11,6 1200 250 9,3 250
    12,7mm súng máy hạng nặng Brouning M2HB 38,1 1800 100 100
    4.2 BIÊN CHẾ TỔ CHỨC VÀ VŨ KHÍ TRANG BỊ TIỂU ĐOÀN PHÁO BINH.
    Bộ tư lệnh quân đội Mỹ, khi huấn luyện và chuẩn bị sẵn sàng tiến hành chiến tranh có sử dụng vũ khí hạt nhân, vũ khí hủy diệt lớn, hoặc vũ khí thông thường, đặc biệt quan tâm tăng cường sức mạnh hỏa lực của các đơn vị liên hợp, các đơn vị binh chủng hợp thành bằng phương pháp hiện đại hóa các hệ thống hỏa lực đã có sẵn và xây dựng các hệ thống hỏa lực mới. Trong đó, một vị trí quan trọng được quan tâm chủ yếu là hệ thống hỏa lực pháo binh chiến trường, hiện đại hóa và hoàn thiện khả năng sử dụng pháo binh trên chiến trường.
    Đơn vị tác chiến cơ bản của pháo binh chiến trường là tiểu đoàn lựu pháo tự hành 155 mm.
    Tiểu đoàn lựu pháo tự hành 155 mm có chức năng yểm trợ hỏa lực trực tiếp cho lữ đoàn. Tiểu đoàn bao gồm ban tham mưu và 5 khẩu đội – phân đội tham mưu tác chiến, 3 khẩu đội pháo tự hành 155 mm (8 khẩu pháo tự hành và 8 tổ hợp tên lửa Dragon), phân đội hậu cần kỹ thuật. (hình. 4.2.1).

    Quân số 774
    Lựu pháo tự hành 155mm 24
    Tổ hợp tên lửa Dragon 24
    Xe chỉ huy chiến đấu M977A1 13
    Xe bộ binh cơ giới M113A1 15
    Xe vận tải 177
    Đài thông tin 240

    Trong tiểu đoàn có quân số 774 người, trong lữ đoàn xe tăng tiểu đoàn pháo có 698 người, pháo tự hành 155 mm – 24, tổ hợp tên lửa Dragon – 24, xe chỉ huy M977A1 – 13, xe BTR M113A1 – 15, xe ô tô 177, đài thông tin – 240. Trên mỗi xe pháo tự hành 155 mm biên chế 36 đạn pháo.
    Bắn loạt của tiểu đoàn pháo 155 mm có thể phủ trên diện tích đến 5 ha.
    Bảng. 4.2.1 thông số tính năng kỹ chiến thuật của pháo tự hành của quân đội Mỹ.
    Tính năng 203,2 mm pháo tự hành М110А2 A1 155 mm pháo tự hành М109А2
    Kíp xe pháo thủ 5 5
    Khối lượng xe 28,3 25
    Tầm bắn
    Đạn thông thường
    Đạn phản lực
    24,3
    29
    22,5
    30
    Tốc độ bắn 3
    Công suất động cơ 405 405
    Tốc độ cơ động 55 56
    Dự trữ hành trình 730 390
    Lượng đạn theo pháo và lượng đạn trên xe 150/2 150/36



    Biên dịch: Trịnh Thái Bằng-tech.edu

    Nguồn: Tài liệu huấn luyện quân sự Trường đại học kỹ thuật quốc gia Tambov - Liên bang Nga

  3. #43
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,235
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Chiến thuật chung (P5)

    Chiến đấu phòng ngự, một hình thức tác chiến chiến thuật cơ bản, được thực hiện trong điều kiện chiến tranh, khi lực lượng đối kháng có ưu thế về binh lực, vũ khí trang bị. Hoặc được tổ chức thực hiện nhằm đạt được những ý đồ chiến dịch, chiến lược cụ thể trong đấu tranh vũ trang.
    Phần Hai.
    CHIẾN ĐẤU TIẾN CÔNG VÀ CHIẾN ĐẤU PHÒNG NGỰ
    Chương 5
    NHỮNG CƠ SỞ CĂN BẢN TRONG CHIẾN ĐẤU PHÒNG NGỰ CỦA CÁC ĐƠN VỊ BINH CHỦNG HỢP THÀNH.
    5.1 PHÒNG THỦ, NHỮNG HÌNH THỨC CHIẾN THUẬT VÀ MỤC ĐÍCH, VỊ TRÍ VAI TRÒ CỦA PHÂN ĐỘI TRONG PHÒNG NGỰ.
    Phòng ngự là một hình thức hoạt động tác chiến, hình thành đồng thời cùng với hình thức tác chiến tiến công. Thông thường tác chiến phòng ngự được áp dụng đối với các đơn vị quân đội, có binh lực và vũ khí trang bị, phương tiện chiến đấu kém hơn so với đối phương hoặc tính toán rằng, sẽ không hiệu quả khi áp dụng hình thức chiến đấu tiến công trước tiên đối với lực lượng đối kháng.
    Phòng ngự trong đại đa số các trường hợp là bắt buộc, là hình thức chiến thuật trong một giai đoạn thời gian. Như một hình thức tác chiến, tính chất của phòng ngự nếu so sánh với hình thức chiến đấu tấn công sẽ mất đi nhiều điểm ưu thế. Lực lượng phòng ngự trong các hoạt động tác chiến phụ thuộc hoàn toàn vào hoạt động của lực lượng tấn công. Phòng ngự luôn trong trạng thái căng thẳng, sẵn sàng chiến đấu cao, phải luôn sẵn sàng đánh chặn và bẻ gẫy các đòn tấn công từ phía đối phương. Lực lượng phòng ngự thông thường bao giờ cũng hạn chế hơn lực lượng tấn công về thế chủ động, binh lực và vũ khí trang bị. Thế chủ động thường nằm ở lực lượng tấn công.
    Trong chiến tranh hiện đại có sử dụng vũ khí hủy diệt lớn, vũ khí có độ chính xác cao và thời gian hạn chế, thường có sự chuyển hóa nhanh chóng cán cân lực lượng về binh lực và vũ khí phương tiện chiến tranh từ bên nay qua bên kia trong một thời gian rất ngắn, từ đó dẫn đến, sự thay đổi nhanh chóng tình huống chiến trường – các bên tham chiến đều phải nhanh chóng thay đổi các hình thái chiến thuật, từ tấn công sang phòng ngự và ngược lại.
    Chính vì vậy, phòng ngự - mặc dù là hình thái chiến thuật bắt buộc, nhưng cũng là hình thức chiến thuật theo quy luật tất yếu tương tự như tấn công.
    Phòng ngự: là hình thức chiến thuật của trận chiến đấu, phòng ngự có mục đích ngăn chặn những đòn tấn công với binh lực vượt trội hơn của đối phương, làm cho đối phương có những tổn thất lớn nhất về binh lực và sinh lực, giữ vững những khu vực, những điểm chốt phòng ngự, tạo điều kiện thuật lợi cho lực lượng quân ta chuyển sang phản công hoặc tấn công giành thắng lợi. Phụ thuộc vào nhiệm vụ được giao, có hai hình thức phòng ngự chính: Phòng ngự các địa bàn cố định và phòng ngự cơ động.
    Phòng ngự các địa bàn cố định
    – hình thức phòng ngự cơ bản chủ yếu của chiến tranh, thường được sử dụng trong tình huống cần phòng ngự các hướng và địa bàn, địa bàn đó không được phép bị quân địch đánh chiếm.
    Phòng ngự cơ động
    –hình thức phòng ngự với mục tiêu nhằm tiêu diệt, tiêu hao binh lực và sinh lực địch, dành thời gian và tránh tổn thất cho lực lượng quân ta trong chiến đấu. Phòng ngự cơ động cho phép để lại một phần của địa bàn tác chiến. Chuyển từ tiến công sang phòng ngự có thể thực hiện trong tình huống:
    - Trong điều kiện đang chiến đấu trực tiếp với đối phương trên địa bàn chiến trường.
    - Trong điều kiện không chạm địch, không có chiến sự diễn ra trong khu vực phòng ngự.
    Vị trí trận địa phòng ngự của phân đội được hiểu là vị trí phòng ngự trong đội hình tác chiến của lực lượng các đơn vị binh chủng hợp thành. Trong nội dung sau chúng ta sẽ nghiên cứu trận địa phòng ngự của tiểu đoàn bộ binh cơ giới (BBCG) tăng thiết giáp và trận địa phòng ngự của đại đội bộ binh cơ giới (BBCG) tăng thiết giáp (TTg).



    Tiểu đoàn phòng ngự thê đội 1- chuẩn bị và chiếm lĩnh trận địa phòng ngự trên tuyến phòng ngự thứ 1 và có nhiệm vụ:
    − Chặn đánh các cuộc tấn công với lực lượng vượt trội của đối phương;
    − Tiêu diệt tiêu hao binh lực, sinh lực địch trước tuyến phòng ngự và khi địch đột nhâp vào sâu trong trận địa phòng ngự của ta;
    − Giữ vững trận địa phòng ngự;
    − Tạo điều kiện thuận lợi cho đánh tan rã lực lượng của đối phương.
    Tiểu đoàn phòng ngự thê đội hai có nhiệm vụ.:
    − Giữ vững khu vực phòng ngự;
    − Tăng cường hoặc thay thế các đơn vị của thê đội 1 trong tình huống thê đội mất sức chiến đấu do tổn thật nặng về binh lực;
    − Triển khai các mũi phản công đánh lui địch khỏi trận địa phòng ngự;
    − Tiêu diệt lực lượng đổ bộ chiến thuật đường không của đối phương.
    Phân đội phòng thủ tiền duyên. Được tăng cường bằng các đơn vị xe tăng, thiết giáp. Có nhiệm vụ độc lập tác chiến , thực hiện nhiệm vụ được giao trên hành lang đảm bảo thực hiện nhiệm vụ.
    Trận địa phòng ngự tiền duyên. Được triển khai nhằm mục đích che chắn bảo vệ tuyến phòng thủ của trận địa phòng ngự và xây dựng trận địa phòng ngự tại chỗ, không để đối phương bất ngờ tấn công trận địa phòng ngự của thê đội 1.
    - Phân đội bọc hậu: Là phân đội binh chủng hợp thành bảo vệ hậu phương của trận địa phòng ngự, bảo vệ lực lượng chủ yếu của hệ thống phòng thủ.
    - Lực lượng cảnh giới hậu phương. Là lực lượng cảnh giới cơ động đảm nhiệm nhiệm vụ cảnh giới cho các lực lượng cơ động hành quân trong hậu phương của hệ thống phòng ngự.
    - Trận địa phòng ngự tuyến 1 và 2. Hệ thống phòng ngự trên trận địa, đã được các phân đội chiếm lĩnh hoặc được chỉ định chiếm lĩnh để tiến hành các hoạt động tác chiến phòng ngự.
    - Lực lượng dự bị binh chủng hợp thành. Được chỉ định đóng quân chiếm lĩnh một khu vực trên trận địa phòng ngự nhằm đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ do tình huống bất ngờ xuất hiện.
    5.2 ĐỘI HÌNH CHIẾN ĐẤU PHÒNG NGỰ.

    Đội hình chiến đấu phòng ngự của tiểu đoàn (đại đội) bao gồm:
    - Đội hình tác chiến của tiểu đoàn (đại đội).
    - Hệ thống các trận địa chốt và vùng (khu vực) hỏa lực.
    - Hệ thống hỏa điểm.
    - Hệ thống hàng rào, bãi mìn và vật cản.
    Trận địa phòng ngư phải được xây dựng và tăng cường thường xuyên khả năng ngăn chặn sức tấn công của đối phương, loại trừ khả năng đối phương đột phá tuyến phòng ngự và tạo điều kiện thuận lợi cho tiêu diệt binh lực, sinh lực địch.
    Đội hình bố trí trận địa phòng ngự có thể được chia thành hai tuyến phòng ngự hoặc một tuyến phòng ngự với lực lượng dự bị không dưới 1 trung đội. Đội hình thế trận phòng ngự có thể là:
    - Các đơn vị trong thê đội 1 (2 -3 đại đội)
    - Đơn vị thê đội 2 (1 đại đội) hoặc lực lượng dự bị ( không dưới 1 trung đội).
    - Các phương tiện hỏa lực và lực lượng tăng cường, trực thuộc quyền chỉ huy trực tiếp của tiểu đoàn trưởng. (khẩu đội cối, các trung đội súng phòng lựu và súng chống tăng).
    - Các cụm tăng, thiết giáp BMP, BTR, không có bộ binh.
    - Các trận địa phục kích hỏa lực.
    Trong các trận đánh phòng ngự, các đơn vị tăng cường là:
    − Đối với tiểu đoàn, được tăng cường hỏa lực đến một tiểu đoàn pháo binh, một đại đội xe tăng ( thiết giáp BMP), các phân đội vũ khí chống tăng, vũ khí phòng không ( một khẩu đội), một trung đội công binh, một trung đội súng phóng lựu nhiệt áp.
    - Đối với đại đội- được tăng cường đến 1 khẩu đội lựu pháo (súng cối), các trung đội xe tăng, trung đội chống tăng, trung đội súng phóng lựu, tiểu đội công binh, tiểu đội súng phóng lựu nhiệt áp.
    Chức năng nhiệm vụ những thành phần đội hình tác chiến.
    Thê đội 1 của tuyến phòng ngự thứ nhất có nhiệm vụ:
    − ngăn chặn các đợt tấn công của đối phương;
    − Tiêu diệt binh lực địch trước tuyến phòng ngự và khi địch đột nhập vào trận địa phòng ngự;
    − Bảo vệ chắc chắc những điểm chốt, những địa bàn quan trọng trong khu vực phòng ngự.
    − Tạo điều kiện thuận lợi cho phản công tiêu diệt lực lượng quân địch đột nhập vào tuyến phòng ngự.
    Thê đội hai của tiểu đoàn có nhiệm vụ:
    − Phòng thủ vững chắc địa bàn chốt chăn trong chiều sâu trận địa phòng ngự;
    − Tiêu diệt lực lượng địch đột kích lọt qua tuyến phòng ngự thứ nhất bằng hỏa lực hoặc phản công;
    − Thay thế cho các phân đội thuộc thê đội 1 trong trường hợp bị tổn thất năng nề về binh lực, mất khả năng chiến đấu phòng ngự.
    Lực lượng dự bị tiểu đoàn - để thực hiện những nhiệm vụ đột xuất xảy đến trong quá trình chiến đấu.
    Khẩu đội súng cối – Phương tiện hỏa lực yểm trợ đại đội tuyến phòng ngự thứ nhất. Tiêu diệt sinh lực đối phương và hỏa khí của địch, xuất hiện trong khu vực hỏa lực trước tuyến phòng ngự của trận địa. Đồng thời bắn tiêu diệt binh lực đối phương khi địch đột phá qua tuyến phòng ngự tiểu đoàn, đồng thời thực hiện những nhiệm vụ chiến thuật khác.
    Trung đội chống tăng - để ngăn chặn các đợt tấn công của xe tăng, thiết giáp của đối phương, che chắn các khu vực bên sườn của trận địa bị sơ hở, đồng thời kiểm soát trận địa.
    Trung đội súng phóng lựu - để tiêu diệt sinh lực và các phương tiện hỏa lực của đối phương, được triển khai trước tuyến phòng ngự trận địa, đồng thời phối hợp tiêu diệt lực lượng địch khi địch đột kích chọc thủng trận địa phòng ngự.
    Nhóm thiết giáp – được tổ chức nhằm tăng cường tính tích cực của hệ thống phòng ngự - duy trì sức mạnh phòng thủ, bịt kín những khoảng hở trong phòng ngự. Thực hiện những nhiệm vụ đòi hỏi khả năng cơ động nhanh chóng và linh hoạt. ( trong nhóm thiết giáp có thể có một số xe tăng và xe thiết giáp BTR – BMP nhưng thiếu bộ binh).
    Phục kích hỏa lực – nhằm bất ngờ tấn công tiêu diệt đối phương bằng hỏa lực bắn thẳng mạnh mẽ, tầm gần đồng thời sử dụng hệ thống trận địa mìn – vật cản “lực lượng hỏa kích tầm gần thường là một trung đội (tiểu đội, xe tăng) được tăng cường súng phóng lựu nhiệt áp, công binh”. Tiểu đoàn phỏng ngư trong một khu vực có diện tích phân công là 5 km theo chiều rộng, 3 km theo chiều sâu. (hình. 5.2.1).


    Đại đội chiếm lĩnh điểm chốt có diện tích phòng ngự: 1,5 km theo chiều rộng trận địa và đến 1 km chiều sâu, trung đội – đến 400 m theo chiều rộng và 300 m theo chiều sâu trận địa.
    Trước tuyến phòng ngự chính diện tổ chức trận địa cảnh giới với mục đích không để cho địch tấn công đột kích bất ngờ đồng thời tiến hành các hoạt động trinh sát. Lực lượng cảnh giới thông thường được tổ chức là 1 trung đội từ lực lượng của tiểu đoàn phòng ngự từ thê đội 1. Trên khoảng cách đến 2 km. Trận địa phòng ngự của tiểu đoàn thường có từ 3 đến 4 dẫy hào chiến đấu nối liền với nhau từ những trận địa hỏa lực của đại đội, các vị trí hỏa lực trực thuộc và hỏa lực được tăng cường, hàng rào vật cản và các hào giao thông liên lạc.
    Trận địa phòng ngự của đại đội BBCG được xây dừng từ hai tuyến hào chiến đấu bao gồm các trận địa hỏa lực của các Trung đội BBCG, các vị trí hỏa lực của đại đội và hỏa lực của các đơn vị tăng cường, hàng rào vật cản và hào giao thông.
    Tuyến hào chiến đấu đầu tiên là tuyến phòng ngự thứ nhất của trận địa phòng ngự. Phía trước hào chiến đấu là các trận địa hàng rào, vật cản chống tăng và chống bộ binh. Tuyến chiến hào thứ 2 được xây dựng cách tuyến thứ 1 từ 400m đến 600m với tính toán, các lực lượng phòng thủ của thê đội 2 có thể yểm hộ thê đội 1 đang chiếm lĩnh tuyến chiến hào thứ 1. Tuyến chiến hào thứ 3 được xây dựng cách tuyến thứ 2 khoảng từ 600 – 1000m với dự tính hỏa lực của lực lượng có thể phát triển trên khoảng cách giữa tuyến thứ 1 và thứ 2, đồng thời có thể sử dụng như bàn đạp để cơ động trên những hướng có nguy cơ bị đột phá. Tuyến chiến hào thứ tư được xây dựng cách tuyến thứ 3 từ 400m đến 600 m.
    Hệ thống hỏa lực tiểu đoàn trong phòng thủ.
    Hệ thống hỏa lực tiểu đoàn được hiểu là kế hoạch cụ thể, đơn nhất vị trí bố trí hỏa lực, liên kết phối hợp hỏa lực và phân định nhiệm vụ hỏa lực theo mục tiêu, vị trí và thời gian với dự tính sử dụng tối đa sức mạnh hỏa lực. Hệ thống hỏa lục của tiểu đoàn trong phòng ngự bao gồm có: (hình. 5.2.2)


    1. Các khu vực tập trung hỏa lực và vành đai hỏa lực ngăn chặn của pháo binh và súng cối, được chuẩn bị khi chuyển sang phòng ngự, trước tuyến phòng ngự, hai bên sườn, trong khoảng cách giữa các trận địa phòng ngự của đại đội BBCG và trong chiều sâu phòng ngự.
    2. Khu vực hỏa lực của các phương tiện chống tăng.
    3. Khu vực mật độ hỏa lực dày đặc nhiều tầm nhiều lớp trước tuyến chiến hào phòng ngự, trong khoảng cách giữa các chiến hào, hai bên cánh và chiều sâu tuyến phòng ngự.
    4. Chuẩn bị các phương án cơ động hỏa lực nhằm tập trung mật độ hỏa lực trên mọi khu vực phòng thủ trong thời gian ngắn nhất.
    5.3 TRÌNH TỰ TIẾN HÀNH TRẬN ĐÁNH PHÒNG NGỰ.
    Trước thời điểm địch triển khai tấn công, các đại đội đưa các nhóm trực sẵn sàng chiến đấu là xe tăng, xe BMP (BTR) và các phương tiện hỏa lực khác. Xe tăng, thiết giáp và các phương tiện hỏa lực được đặt trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao độ, sẵn sàng tiêu diệt các nhóm đơn lẻ của địch, khi những nhóm quân địch tiến hành các hoạt động trinh sát, chuẩn bị mở cửa mở trong khu vực hàng rào vật cản hoặc cố gắng tiềm nhập vào sâu trong trận địa phòng ngự của quân ta. Các nhiệm vụ diệt tốp địch đơn lẻ được thực hiện từ những hỏa điểm hoặc công sự tạm thời, dự bị. Các nhóm quân đơn lẻ của địch phải được tiêu diệt nhanh chóng bằng hỏa lực bất ngờ của lực lượng cảnh giới cùng với sự yểm trợ của của pháo binh trực thuộc hoặc hỏa lực yểm trợ của tiểu đoàn.
    Hỏa lực tiêu diệt đối phương trong phòng thủ được tiến hành theo nhiệm vụ được giao của trận đánh phòng ngự:
    • Hỏa lực ngăn chặn bắn phủ đầu hoạt động cơ động và triển khai đội hình chiến đấu của đối phương;
    • Hỏa lực ngăn chặn các đợt tấn công của địch;
    • Hỏa lực yểm trợ lực lượng phòng ngự theo chiều sâu.
    Lực lượng tấn công tập trung đông và ồ ạt của đối phương khi tiến đến gần trận địa phòng ngự của của bộ phận cảnh giới phải bị tấn công không chỉ là hỏa lực biên chế của bộ phận tiền duyên, mà đồng thời hỏa lực của đại đội phòng ngự tuyến thứ nhất thê đội một theo phân công nhiệm vụ. Lực lượng cảnh giới tiêu diệt chủ yếu là xe tăng, xe thiết giáp của đối phương trước trận địa.
    Khi đối phương triển khai lực lượng chủ yếu và phương tiện chiến đấu trước tuyến chiến đấu phòng ngự, lực lượng cảnh giới rút khỏi trận địa tạm thời dưới sự yểm trợ của hỏa lực pháo binh và chiếm lĩnh vị trí trong đội hình phòng ngự hoặc trở thành lực lượng dự bị của tiểu đoàn.
    Khi đối phương bắt đầu hỏa lực chuẩn bị, dọn chiến trường, các phân đội nhanh chóng ẩn nấp vào hầm, hố trú ẩn, các công sự và lô cốt, vào trong xe tăng, xe bộ binh cơ giới, nằm xuống đáy hào, ụ súng nhằm bảo vệ tránh bị sát thương bởi hỏa lực pháo binh tên lửa và bom đạn đối phương.
    Khi pháo đã chuyển làn, lực lượng quân địch chuyển sang tấn công, hỏa lực của tất cả vũ khí, phương tiện chiến đấu tập trung vào lực lượng chủ yếu của đối phương.
    Hỏa lực của pháo binh tên lửa đơn vị phòng thủ và được tăng cường từ cấp trên tập trung vào từng mục tiêu cụ thể, hỏa lực hành rào ngăn chặn tấn công tiêu diệt xe tăng, xe thiết giáp đối phương, phá nát đội hình đối phương, tạo điều kiện cho các hỏa khí diệt tăng, thiết giáp hoàn thành nhiệm vụ.
    Khi lực lượng đối phương đã tiến sát đến hệ thống chiến hào tuyến phòng thủ thứ nhất, hỏa lực của tất cả vũ khí trang bị trong biên chế và hỏa lực tăng cường cho tiểu đoàn phát huy uy lực tối đa tiêu diệt địch. Các đơn vị phòng thủ tập trung hỏa lực tiêu diệt xe tăng, xe bọc thép, chia cắt lực lượng bộ binh ra khỏi tăng thiết giáp đối phương và hỏa lực bắn thẳng tiêu diệt đich. Lực lượng bộ binh đột kích vào trận địa phòng ngự, tiêu diệt địch bằng hỏa lực bắn gần, lựu đạn và giáp lá cà.
    Trong trường hợp đối phương chọc thủng tuyến phòng ngự thứ 1 và đánh chiếm điểm chốt, tiểu đoàn trưởng (đại đội trường) cần sử dụng hỏa lực tối đa của tất cả các phương tiện và nhóm tăng, thiết giáp ngăn chặn không cho địch phát triển rộng và theo chiều sâu, củng cố trận địa phòng ngự chính diện và hai bên sườn khu vực địch đột phá, hỏa lực tối đa ngăn chặn địch. Sau đó tổ chức lực lượng của thê đội 2 ( lực lượng dự bị) tổ chức phản kích chiếm lại khu vực đã mất.
    Sau khi đã đánh bại các đợt tấn công của địch:
    • Phục hồi và tổ chức lại hệ thống hỏa lực;
    • Bổ sung cơ số đạn và cơ sở vật chất phục vụ chiến đấu;
    • Xây dựng lại trận địa (công sự, chiến hào, hào giao thông, trận địa mìn và hàng rào vật cản);
    • Chuẩn bị cho phục hồi và sửa chữa vũ khí trang bị đã bị hư hỏng trong chiến đấu, chuyển thương và đưa liệt sĩ về hậu phương.
    Rút lui khỏi trận địa phòng ngự của tiểu đoàn (đại đội) chỉ được tiến hành theo mệnh lệnh của người chỉ huy cấp trên với mục đích bảo toàn lực lượng trước sức tấn công của lực lượng đối phương, vượt trội hơn nhiều lần về binh lực, chiếm lĩnh vị trí có lợi hơn và kéo dài thời gian tạo điều kiện tốt hơn. Rút lui có thể là bắt buộc hoặc có dự kiến từ trước.
    Rút lui bắt buộc được sử dụng trong trường hợp: , khi với phương tiện, vũ khí trang bị trong lực lượng không còn đủ để giữ vững trận địa, có nguy cơ bị bao vây và bị tiêu diệt toàn bộ lực lượng phòng ngự.
    Rút lui theo kế hoạch tác chiến: được tổ chức nhằm mục đích tạo điều kiện tối ưu cho các hoạt động tác chiến tiếp theo - Rút lui chiến thuật. Rút lui thông thường mang tính chất tạm thời, được tổ chức chu đáo, cụ thể theo một kế hoạch chặt chẽ, nhằm bảo đảm không xảy ra tình huống rút lui hỗn loạn và không làm hở sườn đối với các lực lượng bạn (tác chiến bên cạnh).

    Biên dịch: Trịnh Thái Bằng-tech.edu

    Nguồn: Tài liệu huấn luyện quân sự Trường đại học kỹ thuật quốc gia Tambov - Liên bang Nga

  4. #44
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,235
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Trung Quốc hiện đại hóa bộ binh như thế nào?

    Trải qua gần 4 thập kỷ âm thầm đầu tư, nâng cấp, đến nay có thể nói quân giải phóng Trung Quốc (PLA) đã có thể yên tâm về lực lượng bộ binh của mình, ít nhất là về mặt trang bị, vũ khí và khí tài.
    Theo nguồn tin từ báo cáo mà trang tin “Tình báo hàng ngày” (Mỹ) thu thập được, kể từ thập niên 80 của thế kỷ trước, quân đội Trung Quốc đã cơ bản hoàn thành việc cơ giới hóa tất cả các sư đoàn bộ binh. Đến nay, nhiều đơn vị bộ binh của Trung Quốc đã được trang bị các loại xe bọc thép thế hệ 3 hoặc xe chiến đấu bộ binh (IFV). Theo tiêu chuẩn, mỗi xe chiến đấu bộ binh cơ giới có thể chở được một tiểu đội 9 binh sỹ và được trang bị tới 6 khẩu tiểu liên tấn công Type 95 và 1 súng máy. Các binh sỹ Trung Quốc mặc quân phục ngụy trang màu xanh lá cây, đội mũ sắt như lính Mỹ và có cả áo khoác bảo vệ. Để tăng cường khả năng liên lạc và hợp đồng chiến đấu, mỗi tiểu đội bộ binh còn được trang bị 2 máy bộ đàm, 1 hệ thống liên lạc và 1 máy phát sóng tầm xa.
    Xe bộ binh cơ giới Xe IFV Type 92 của quân đội Trung Quốc.
    Một trong những loại IFV đang được sử dụng rộng rãi nhất trong các đơn vị bộ binh cơ giới của PLA là mẫu xe Type 92 – loại xe có thiết kế gần giống xe chở quân Stryker của quân đội Mỹ hoặc LAV của Canada. Xe IFV Type 92 là loại xe bọc thép, nặng 16 tấn, mỗi xe gồm 1 tổ lái 3 người chở theo 9 binh sỹ và trang bị hỏa lực là súng máy 12ly7.
    Ngoài IFV được phát triển từ thập niên 90, quân đội Trung Quốc cũng được biên chế một số loại xe bọc thép chở quân khác nhưng hầu hết đều là các mẫu xe “nhái” theo mẫu của Nga. Hiện nay, PLA sử dụng nhiều nhất vẫn là các mẫu xe Type 86 và Type 92 cho khoảng 30 trung đoàn bộ binh cơ giới. Trong số này, PLA tổ chức riêng một trung đoàn thử nghiệm chuyên được sử dụng để thí nghiệm các kỹ chiến thuật và phương tiện mới trước khi đưa vào sử dụng đại trà.
    Cùng với sự phát triển của bộ binh cơ giới, Trung Quốc cũng đặc biệt chú trọng phát triển và cải tiến các loại xuồng đổ bộ Jingsah II nặng 70 tấn và có thể chở theo 15 tấn hàng hóa, binh sỹ hoặc các loại phương tiện khác. Hầu hết các xuồng đổ bộ đều do Trung Quốc thiết kế và sản xuất ở trong nước nhưng chỉ chở khoảng 20 binh lính hoặc 2 tấn hàng hóa. Từ năm 2005, loại xuồng đổ bộ hạng nặng Jingsah II mới được biên chế. Mới đây, Trung Quốc còn đặt mua thêm 2 xuồng đổ bộ Zubrs của Ukraina với giá 10 triệu USD mỗi chiếc. Zubrs có thể di chuyển với vận tốc lên tới 100km/h. Ngoài 2 chiếc mua của Ukraina, Trung Quốc còn đang đóng thêm 2 chiếc tương tự theo giấy phép của nước bán.
    Xuồng đổ bộ đệm khí Jingsah II
    Bên cạnh xe bọc thép chở quân và xuồng đổ bộ, Hải quân Trung Quốc cũng đã và đang được trang bị các tàu đổ bộ LDP Type 071 nặng 20.000 tấn. Chiếc tàu đổ bộ lớp 071 thứ 2 (Jinggang Shan) đã được đưa vào sử dụng từ hồi cuối năm ngoái cùng với Hạm đội Hoa Nam. Tàu đổ bộ lớp 071 là loại tàu lớn nhất của quân đội Trung Quốc, sau tàu sân bay. Đến nay, mẫu tàu đổ bộ lớp 071 thế hệ 3 đã sắp hoàn thành và chiếc thứ 4 đã được đặt hàng sản xuất.
    Các tàu đổ bộ 071 nặng 20.000 tấn, dài 210m, có 1 bãi đỗ đủ cho 4 chiếc máy bay trực thăng, có thể chở theo tối đa 800 binh sỹ nhưng thông thường PLA chỉ chở theo 500 quân và kèm theo đó là 20 xe bọc thép.
    Tàu đổ bộ lớp 071 của Trung Quốc tương tự như tàu chiến lớp San Antonio nặng 25.000 tấn của Mỹ hoặc tàu chiến lớp Mistral nặng 21.500 tấn của Pháp nhưng chỉ đòi hỏi thủy thủ đoàn ít nhất (120 người) trong khi tàu chiến của Mỹ cần tới 396 người còn tàu của Pháp cũng cần tới 180 thủy thủ.
    Các con tàu Type 071 này được trang bị một pháo 76 ly. 4 pháo tự động chống tên lửa 30 ly và nhiều loại vũ khí khác. Mỗi chiếc có giá khoảng 300 triệu USD, có thể mang theo 4 xuồng đổ bộ.
    Minh Tân

  5. #45
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,235
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Chiến thuật chung (P6)

    Chương 6.

    NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA HÌNH THỨC CHIẾN ĐẤU TIẾN CÔNG CÁC ĐƠN VỊ BINH CHỦNG HỢP THÀNH.
    6.1 MỤC ĐÍCH CỦA CHIẾN ĐẤU TIẾN CÔNG, CÁC PHƯƠNG PHÁP CHUYỂN SANG HÌNH THỨC CHIẾN ĐẤU TIẾN CÔNG, NHIỆM VỤ, ĐỘI HÌNH CHIẾN ĐẤU TIẾN CÔNG CỦA CÁC ĐƠN VỊ BINH CHỦNG HỢP THÀNH.
    Tấn công từ những thời gian xa xưa được xác định là phương thức chiến đấu tích cực nhất của các hoạt động tác chiến, kết quả của các hoạt động chiến đấu tiến công là đạt được những thành quả có tính quyết định.
    " Đứng tại chỗ thành trì không thể đánh chiếm được ", – Nguyên soái A. V. Suvorov khẳng định.
    Không thể không đồng ý với nhận xét của vị tướng vĩ đại. Thành quả của một trận chiến đấu tiến công, như trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, đạt được bởi nỗ lực sử dụng triệt để tất cả các phương tiện, vũ khí trong biên chế tiêu diệt và bẻ gẫy sức kháng cự của kẻ thù, tập trung lực lượng chủ lực trên hướng tấn công chính, các hoạt động tác chiến diễn ra kiên quyết, hiểu biết kỹ và sâu địa bàn tác chiến, cơ động linh hoạt nhằm mục đích tấn công thọc sườn hoặc đánh vòng sau lưng hệ thống phòng thủ của địch.
    Tiến công
    – là một trong những hình thức tác chiến chủ yếu của chiến đấu hiệp đồng quân binh chủng, được triển khai với mục đích tiêu diệt hoặc đánh tan rã, gây tổn thất nặng nề đối phương, chiếm lĩnh những địa bàn quan trọng (bàn đạp chiến đấu, khu vực, tuyến phòng thủ) trên địa bàn tác chiến. Phụ thuộc vào các tình huống chiến trường, chiến đấu tiến công có thể thực hiện khi địch đang phòng thủ vững chắc, đang tấn công hoặc đang rút lui.
    Tiến công khi địch rút lui là Tiến công truy kích địch.
    Tiến công khi địch đang tấn công là: Triển khai tấn công khi gặp (chạm) lực lượng tấn công địch (Tao ngộ).
    Tiến công lực lượng phòng ngự địch là:
    − Trong tình huống trận địa của ta và của địch tiếp giáp, đan xen lẫn nhau;
    − Lực lượng tấn công cơ động từ hậu phương trận địa.
    Vị trí của các đơn vị trong tiến công.
    Phụ thuộc vào nhiệm vụ được giao, tiểu đoàn có thể chiến đấu tiến công trong đội hình của thê đội 1, là thê đội 2 hoặc trong biên chế lực lượng dự bị của đơn vị binh chủng hợp thành, tiểu đoàn có thể tác chiến với vị thế lực lượng tiền tiêu, tuyến tấn công thứ nhất, lực lượng đột kích, lực lượng công kích, lực lượng tấn công bọc sườn hoặc vòng sau hậu phương địch, lực lượng đổ bộ đường không.
    Đại đội bộ binh cơ giới, tăng thiết giáp có thể tiến công ở thê đội một, lực lượng tiền tiêu của đội hình hành quân, thuộc thê đội 2 hoặc lực lượng dự bị, lực lượng tiến công bên sườn hoặc tấn công vào sau trận địa địch, lực lượng trinh sát hỏa lực.
    Chiến đấu tiến công được thực hiện theo quyết tâm chiến đấu của tiểu đoàn trường, đại đội trưởng, triển khai thành đội hình chiến đấu. (hình. 6.1.1).


    Đội hình chiến đấu tiến công của tiểu đoàn, đại đội bao gồm có các phân đội thuộc thê đội 1, thê đội hay hay lực lượng dự bị, hỏa lực đi cùng và các đơn vị tăng cường, trực thuộc quyền chỉ huy của tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng. Trong chiến đấu tiến công đội hình của tiểu đoàn có thể là 1 hoặc 2 thê đội, đại đội – 1 thê đội, trong đội hình chiến đấu tiến công 1 thê đội, tiểu đoàn phân bổ 1 lực lượng dự bị không nhỏ hơn 1 trung đội. Trong đội hình cơ động tiến công đại đội (trung đội) của tiểu đoàn (đại đội) có thể là hàng ngang, chữ V mũi phía trước, mũi nhọn phía sau, mũi nhọn bên trái hoặc bên phải.
    Hỏa khí tăng cường cho tiểu đoàn, đại đội trong chiến đấu tiến công.
    Mục đích nhằm duy trì khả năng độc lập tác chiến khi tiến hành trận chiến đấu hiệp đồng binh chủng, lực lượng bộ binh cơ giới, tăng thiết giáp được tăng cường hoặc bổ xung thêm các phân đội yểm trợ hỏa lực hoặc kỹ thuật từ các binh chủng khác. Hỏa khí và lực lượng tăng cường hoặc bổ xung có thể là: Một đến hai đại đội tăng thiết giáp, một tiểu đoàn hoặc một khẩu đội pháo binh, các phân đội hỏa lực chống tăng, các phân đội pháo phòng không, các phân đội phòng chống vũ khí hủy diệt lớn và các phân đội công binh. Đại đội bộ binh cơ giới có thể được tăng cường khẩu đội súng cối, trung đội xe tăng, các phân đội chống tăng, súng phóng lựu, công binh, công binh công trình và phóng lựu nhiệt áp.
    Nhiêm vụ chiến đấu của tiểu đoàn (đại đội) trong chiến đấu tiến công.
    Nhiệm vụ chiến đấu của tiểu đoàn BBCG, TTg là đập tan mọi sự kháng cự, làm tan rã hoàn toàn hoặc đập tan mọi khả năng chống cự của địch trước trận tuyến của tiểu đoàn, chiếm lĩnh các khu vực quan trong trên địa bàn tác chiến vào thời gian quy định.
    Nhiệm vụ chiến đấu của tiểu đoàn (đại đội) theo chiều sâu phụ thuộc vào năng lực tác chiến của phân đội, tính chất của hệ thống phòng ngự đối phương, vị trí của đơn vị trong đội hình chiến đấu. Nhiệm vụ của phân đội theo chiều sâu được chia ra thứ tự như sau (hình 6.1.2):



    • Tiểu đoàn: Nhiệm vụ thứ 1, nhiệm vụ thứ 2;
    • Đại đội: Nhiệm vụ trước mắt.
    Ngoài ra, còn dự kiến hướng phát triển tiếp theo.
    Nhiệm vụ thứ 1 của tiểu đoàn ở thê đội 1 gồm: tiêu diệt lực lượng địch trong các điểm chốt tương đương một đại đội ở thê đội 1 trận địa phòng ngự trên hướng tấn công chính và đánh chiếm trận địa của đối phương.
    Nhiệm vụ thứ 2 bao gồm phát triển tiến công, liên kết phối hợp với các tiểu đoàn bạn đập tan sức chống cự của địch trên chiều sâu phòng ngự và đánh chiếm tuyến phòng ngự thứ 1.
    Hướng phát triển tiếp theo được vạch ra với tính toán thực hiện nhiệm vụ tiếp theo của trung đoàn (lữ đoàn).
    Nhiệm vụ trước mắt của đại đội thuộc thê đội 1 là tiêu diệt địch trong điểm chốt tương đương với 1 trung đội thuộc thê đội 1 của trận địa phòng ngự và đánh chiếm điểm chốt. Hướng phát triển tiếp theo là bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ thứ 2 của tiểu đoàn.
    Nhiệm vụ thứ 1 của tiểu đoàn thuộc thê đội 2 khi đưa vào chiến đấu có thể là phối hợp cùng với các tiểu đoàn thuộc thế đội một đập tan sức kháng cự và tiêu diệt lực lượng dự bị cấp lữ đoàn của đối phương và đánh chiếm tuyến phòng ngự.
    Nhiệm vụ thứ 1 của đại đội thuộc thê đội 2 khi triển khai chiến đấu là: tiêu diệt hoàn toàn lực lượng địch trong các điểm chốt phòng ngự chiều sâu, chiếm lĩnh tuyến phòng ngự đầu tiên. Hướng phát triển tiếp theo của tiểu đoàn (đại đội) thuộc thê đội 2 được xác định là đảm bảo thực hiện nhiệm vụ tiếp theo của Tiểu đoàn, trung đoàn.
    Tiến công địch phòng ngự có thể tiến hành trong tình huống chiến tuyến sát địch hoặc cơ động hành quân chiến đấu từ hậu phương chiến trường. Tiến công bắt đầu từ đột phá hệ thống phòng ngự của đối phương, chọc thủng tuyến phỏng ngự tại các cửa mở bằng hỏa lực của tất cả các loại vũ khí hỏa lực có trong biên chế, đòn tấn công quyết liệt của các phân đội xe tăng, xe thiết giáp vượt qua cửa mở, mở rộng tấn công theo chiều sâu phòng ngự và mở rộng ra hai phía.
    Tiểu đoàn đột phá tuyến phòng ngự của địch trong đội hình chiến đấu của trung đoàn.
    Phương pháp tiến công từ tuyến phòng ngự sát trận địa địch
    Tiến công địch phòng ngự từ tình huống vị trí phòng ngự sát tuyến phòng ngự của đối phương, tiểu đoàn triển khai sẵn sàng đội hình chiến đấu. Vị trí bàn đạp để triển khai tấn công do tiểu đoàn chốt giữ sau khi thay đổi cơ cấu tổ chức phòng ngự thành đội hình tấn công đồng thời với sự thay thế các lực lượng phòng ngự. (hình 6.1.3)

    Các tiêu chí chiến thuật chiến đấu tiến công
    Phân đội
    Chiều rộng trận địa tiến công
    Khu vực đột phá
    Trung đội 300 -
    Đại đội 1000 500
    Tiểu đoàn 2000 1000
    Bản chất của chiến đấu tiến công trong tình huống sát tuyến chiến đấu là: các phân đội trước giờ tấn công có thời gian và bí mật chiếm lĩnh bàn đạp tấn công, sau đòn tấn công hỏa lực chuẩn bị chiến trường với cường độ cao nhất, đồng loạt chuyển sang tấn công. Khi đơn vị tiến hành chiến đấu tiến công sát tuyến phòng thủ địch, các khả năng có ưu thế:
    - Điều nghiên kỹ hệ thống phòng ngự của đối phương và địa bàn tác chiến;
    - Chuẩn bị kỹ và chi tiết hoạt động chiến đấu tiến công trong tất cả các khâu chuẩn bị.
    - Chế áp có hiệu quả cao nhất hỏa lực chuẩn bị tiến công.
    - Đảm bảo đồng bộ và tổ chức chặt chẽ xe tăng, bộ binh cơ giới chuyển trạng thái chiến đấu tiến công.
    Đồng thời, khả năng chuyển trạng thái từ phòng ngự sát địch sang tiến công có những điểm yếu sau:
    Tập trung lực lượng và phương tiện trong một khu vực hẹp của chiến trường kề sát tuyến phòng ngự của địch rất nguy hiểm, đặc biệt trong trường hợp đối phương sử dụng vũ khí hủy diệt lớn.
    Cần thiết phải thực hiện một khối lượng công trình công sự che chắn rất lớn, khó đảm bảo giữ bí mật cho chuẩn bị các hoạt động tiến công.
    Giảm yếu tố bí mật, bất ngờ cho chiến đấu tiến công.
    Trong quá trình chuyển đổi lực lượng, tiểu đoàn chiếm lĩnh khu vực bàn đạp tiến công, đại đội chiếm lĩnh vị trí bàn đạp tiến công. Khu vực bàn đạp tiến công phải đảm bảo các vị trí bố trí lực lượng phải kín đáo, các phân đội khó bị sát thương bởi các loại vũ khí của đối phương và thuận tiện cho việc cơ động tiến công.Vị trí bàn đạp của đại đội bộ binh cơ giới phải có chiến hào, kết nối với chiến hào là các hào giao thông , vị trí hỏa lực của tất cả các xe thiết giáp, và các hỏa điểm của hỏa khí đi cùng. Trung đội súng cối chiếm trận địa hỏa lực phía sau của các đại đội thuộc thê đội 1, khoảng cách 300m, trung đội hỏa lực phòng không được bố trí trong đội hình chiến đấu của các phân đội BBCG, trung đội chống tăng cũng nằm trong đội hình của 1 đại đội thuộc thê đội 1. Tổ chức biên chế tiểu đoàn (đại đội), đang chiếm lĩnh tuyến phòng ngự tiếp giáp với địch với mục đích giữ bí mật và bất ngờ trong hành động, được tiến hành vào ban đêm và trong những điều kiện bị giới hạn về tầm nhìn đồng thời tiến hành những hoạt động nghi binh, đánh lừa địch, bảo vệ lực lượng trước đòn tấn công của vũ khí hủy diệt lớn.
    Phương pháp tiến công cơ động từ hậu phương chiến trường.

    Tiến công trận địa phòng ngự của đối phương sử dụng phương pháp cơ động từ chiều sâu của hậu phương chiến trường thông thường được thực hiện từ khu vực bàn đạp, khoảng cách tính đến tuyến phòng thủ thứ nhất của ta được xác định bởi cấp trên trực tiếp. Triển khai tiểu đoàn (đại đội) vào đội hình chiến đấu được thực hiện khi cơ động lên tuyến triển khai tiến công.
    Những ưu điểm của phương pháp cơ động bao gồm: phương pháp này đảm bảo giữ được bí mật cao nhất trong công tác chuẩn bị đồng thời giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ, bảo đảm cao nhất khả năng bảo vệ lực lượng trước đòn tấn công bằng vũ khí hủy diệt của đối phương, có thời gian chuẩn bị do khối lượng các công trình công sự bảo vệ không lớn và không mất nhiều thời gian cho biên chế tổ chức đội hình tấn công nếu so sánh với việc chuyển trạng thái chiến đấu tiến công khi tổ chức sát tuyến phòng thủ của đối phương.
    Đồng thời, thực hiện phương pháp tiến công từ chiều sâu phòng ngự cũng có những điểm yếu. Cơ động lên tuyến phòng ngự của địch tác động lên tư tưởng, tinh thần và tác động lên thể chất của cán bộ chiến sĩ, tiêu hao một lượng rất lớn nhiên liệu, đồng thời rất khó tổ chức sao cho toàn bộ lực lượng đồng thời tiếp cận tuyến triển khai chiến đấu tiến công cùng một thời điểm.
    Để tổ chức cơ động từ khu vực bàn đạp, triển khai đội hình triến đấu và triển khai tác chiến tiến công bắt đầu từ đường cơ động tác chiến, tuyến (khu vực) bắt đầu cơ động, tuyến triển khai đội hình chiến đấu cấp tiểu đoàn, cấp đại đội (trung đội), tuyến triển khai đội hình chiến đấu tiến công, tuyến khoảng cách an toàn, khi tấn công cơ động bộ binh cần có thêm tuyến cơ động nhanh (tăng tốc độ hành quân).
    Tuyến bắt đầu cơ động được vạch ra để theo thời gian quy định bắt đầu cơ động từ khu vực bàn đạp. Tuyến bắt đầu cơ động cách khu vực bàn đạp tập trung quân cần đảm bảo đội hình cơ động hàng dọc của tiểu đoàn và đồng thời tăng tốc độ hành quân đạt quy định, do đó tuyến bắt đầu cơ động cách khu vực đóng quân từ 5 km – 10 km.
    Tuyến triển khai đội hình chiến đấu hàng dọc cấp tiểu đoàn trên khoảng cách so với tuyến phòng ngự của đối phương trên khoảng cách đảm bảo an toàn của các phân đội trước các đòn tấn công hỏa lực chủ lực của đối phương là 12 – 15 km.
    Tuyến triển khai đội hình chiến đấu cấp đại đội phụ thuộc vào địa hình được xác định trên khoảng cách an toàn của các phân đội trước hỏa lực bắn thẳng của hỏa khí, xe tăng và tên lửa chống tăng, trên khoảng cách từ 4 – 6 km.
    Tuyến triển khai chiến đấu vào đội hình cấp trung đội, theo khả năng cấu trúc đơn gian phức tạp của địa hình có thể tránh khỏi và nằm ngoài hỏa lực chống tăng tầm gần của đối phương, khoảng cách so với tuyến triển khai chiến đấu sẽ là 2 – 3 km.
    Tuyến triển khai chiến đấu tiến công được lựa chọn sao cho, các hoạt động cơ động của các phân đội tăng thiết giáp và bộ binh cơ giới được triển khai kín đáo, bí mật. khoảng cách của tuyến triển khai chiến đấu so với chiến hào của đối phương , khoảng cách của tuyến triển khai chiến đấu cần đảm bảo hiệu quả cao nhất của các loại vũ khí bắn thẳng và cho phép các phương tiện chiến đấu cơ động với tốc độ cao nhất tiếp cận tuyến phòng thủ thê đội 1 của đối phương.
    Tuyến an toàn hỏa lực – đây là khoảng cách đảm bảo an toàn cho các phân đội tiến công không bị tổn thất bởi hỏa lực của pháo binh, hỏa khí đi cùng. Tuyến an toàn hỏa lực đối với:
    - BBCG và bộ binh tiến công bộ, khoảng cách là 400 m
    - Đối với các xe thiết giáp (BTR) là 300 m
    - Đối với các phân đội tăng – 200 m.
    Tuyến triển khai bộ binh bắt đầu gần với tuyến phòng ngự thê đội 1 của địch, thường lựa chọn các vị trí khuất với hỏa lực súng máy và hỏa lực chống tăng khi cận chiến. Cũng có thể quy định tuyến triển khai bộ binh tiến công trùng với tuyến triển khai chiến đấu tiến công theo điều kiện địa hình.
    6.2 HỎA LỰC TIÊU DIỆT ĐỊCH, CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾN CÔNG, TRÌNH TỰ VÀ KHẢ NĂNG TIÊU DIỆT LỰC LƯỢNG PHÒNG NGỰ ĐỊCH, ĐỘT PHÁ TUYẾN PHÒNG NGỰ CỦA ĐỊCH, ĐƯỢC TĂNG CƯỜNG MẠNH CÁC PHƯƠNG TIỆN CHỐNG TĂNG.
    Tấn công
    là hoạt động cơ động liên tục của các phân đội BBCG và TTG trong đội hình chiến đấu đồng thời phát huy hỏa lực tối đa của tất cả các loại vũ khí tập trung tiêu diệt binh lực và sinh lực địch.
    Phương pháp tấn công :
    • tấn công bằng bộ binh;
    • tấn công trên các phương tiện cơ giới (Thiết giáp – BTR).
    Hỏa lực tiêu diệt mục tiêu
    Hỏa lực tập trung cao độ của tất cả các loại vũ khí hỏa lực của tất cả các phương tiện tác chiến của các lực lượng quân binh chủng, sử dụng tên lửa và vũ khí thông thưởng, vũ khí nhiệt áp.
    Trước khi tấn công các phân đội BBCG và TTg triển khai hỏa lực tập trung, trong quá trình tiến công hỏa lực che chắn và yểm trợ đi cùng với các phân đội vào chiều sâu phòng ngự.
    Hỏa lực chuẩn bị
    tấn công bắt đầu vào thời gian được quy định trước và kết thúc vào thời điểm các phân đội thuộc thê đội 1 lên tuyến triển khai chiến đấu. Trong khoảng thời gian đó, pháo binh và hỏa lực không quân chế áp và tiêu diệt các hỏa điểm của đối phương, các đài chỉ huy điều khiển sinh lục của đối phương trong các điểm chốt và trên trận địa phòng ngự.
    Các phương tiện hỏa lực, được biên chế cho hỏa lực bắn thẳng, đồng thời là các xe BMP và BTR trong thời gian đó phát hiện và tiêu diệt các phương tiện của hỏa lực của đối phương, ưu tiên là các vũ khí chống tăng và các phương tiện thiết giáp trên tuyến phòng thủ thê đội 1 và sát chiều sâu phòng ngự.
    Hỏa lực yểm trợ tấn công
    – bắt đầu từ hỏa lực chuẩn bị và tiếp tục phát triển theo chiều sâu phòng ngự của lữ đoàn (trung đoàn) – thê đội 1 của đối phương, đôi khi theo chiều sâu phòng ngự.
    Hỏa lực đi cùng tấn công
    của các phân đội theo chiều sâu trận địa phòng ngự của đối phương bắt đầu sau khi kết thúc hỏa lực yểm trợ tấn công và thực hiện theo suốt thời gian tiến hành trận đánh.
    Khi đơn vị bắt đầu cơ động từ khu vực “Bàn đạp tiến công”. Chỉ huy tiểu đoàn (đại đội) báo cáo trung đoàn trường (đại đội trưởng) về trạng thái sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ được giao và vào thời gian quy định thông báo cho chỉ huy cấp đại đội (trung đội) và các chỉ huy các phân đội thuộc quyền thời gian pháo binh bắt đầu bắn dọn đường đồng thời thời gian G.
    Khi bắt đầu cuộc tiến công, tiểu đoàn pháo binh và khẩu đội súng cối tập trung hỏa lực tối đa chế áp trận địa địch và tiêu diệt binh lực địch, các phân đội bộ binh cơ giới, theo mệnh lệnh của tiểu đoàn trường hoặc chủ động tập trung hỏa lực theo các mục tiêu đã được phân công, đặc biệt là hỏa lực chống tăng, đảm bảo hỏa lực liên tục yểm trợ cuộc tấn công.
    Vào đúng thời gian G các phân đội xe tăng và BBCG với tốc độ cao nhất đột phá tuyến phòng ngự thê đội 1 của đối phương, tiêu diệt các phương tiện hỏa lực của đối phương và sinh lực địch, đánh chiếm các điểm chốt và phát triển sâu vào trận địa phòng ngự của đối phương.
    Trận đánh phát triển sâu trong trận địa phòng ngự của địch mang tính chất các nhịp xung kích dồn dập và liên tục thay đổi tình huống chiến trường. Sau khi tiêu diệt binh lực địch trong khu vực phòng ngự thê đội 1 cấp tiểu đoàn của đối phương, tiểu đoàn (đại đội) lợi dụng những khoảng trống phòng ngự, và những khoảng giữa các chốt phòng ngự trong đội hình chiến đấu của đối phương, là kết quả của hỏa lực pháo binh, tên lửa và hỏa lực bắn thẳng yểm trợ, hoặc hỏa lực của không quân, đột phá và tiếp tục phát triển theo chiều sâu hệ thống phòng ngự của địch.
    Đột phá tuyến phòng ngự của địch, được tăng cường hỏa lực chống tăng cường độ cao, các phân đội BBCG tiến hành đột phá cửa mở bằng lực lượng bộ binh.
    Xuốt tiến trình liên tục tấn công, các đơn vị tập trung cao độ chiến đấu với lực lượng chống tăng của đối phương. Hệ thống hỏa lực chống tăng trong giai đoạn là hỏa lực chủ yếu của hệ thống phòng thủ đối phương. Các trận địa phòng ngự hiện đại tập trung rất cao mật độ vũ khí chống tăng. Đồng thời, hỏa lực chống tăng cũng được tăng cường thêm tầm bắn, uy lực sát thương và khả năng tiêu diệt mục tiêu.
    Trận địa phòng thủ cấp tiểu đoàn của quân đội Đức, trên tầm bắn 3 km, có tới 15 đơn vị hỏa lực chống tăng, trên tầm bắn 2 km có từ 30 – 35 đơn vị hỏa lực, trên tầm bắn 500m có tới 40 – 45 đơn vị hỏa lực, từ đó cho thấy, nếu không chế áp và tiêu diệt hoàn toàn các phương tiện hỏa lực chống tăng, đặc biệt là hỏa lực bắn thẳng, hoàn toàn không có khả năng thành công các đòn tấn công đột phá của lực lượng tăng thiết giáp, các phân đội BBCG. Để phá hủy trận địa phòng ngự hiện đại của đối phương, yêu cầu quan trọng là hỏa lực pháo binh bắn chuẩn bị, dọn đường tấn công phải chế áp hoặc vô hiệu hóa phần lớn hỏa lực chống tăng đối phương. Đồng thời, hiệu quả của hỏa lực pháo binh bắn chuẩn bị phải được các phân đội tăng thiết giáp, BBCG triệt để khai thác sử dụng ngay tức khắc. Đòn tấn công đột phá càng nhanh chóng, bất ngờ với cường độ càng cao, các đơn vị tấn công càng nhanh chóng vượt qua tuyến phòng ngự với mật độ dày đặc hỏa lực chống tăng của đối phương. Kinh nghiêm tác chiến cho thấy, nếu tăng nhịp độ xung kích lên 1,5 lần, mức độ tổn thất binh lực trước hỏa lực địch sẽ giảm xuống từ 2 -3 lần. Khả năng diệt vũ khí chống tăng của đối phương cao nhất của các đơn vị tăng thiết giáp, BBCG là hỏa lực của trang thiết bị (tăng, thiết giáp) trong biên chế, lực lượng pháo binh tăng cường và pháo binh yểm trợ tấn công, đồng thời cũng là các vũ khí chống tăng thuộc quyền. Các tổ hỏa lực chống tăng cơ động theo đội hình chiến đấu của đại đội thuộc thê đội 1, nhanh chóng và kịp thời tiêu diệt các mục tiêu như xe tăng, pháo tự hành và các trang thiết bị bọc thép, các ụ súng chống tăng, phóng lựu và những phương tiện hỏa lực khác, ngăn cản đường tiến công của các phân đội.

    Biên dịch: Trịnh Thái Bằng-tech.edu

    Nguồn: Tài liệu huấn luyện quân sự Trường đại học kỹ thuật quốc gia Tambov - Liên bang Nga

  6. #46
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,235
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Chiến thuật chung(P7)

    Những đặc trưng cơ bản của chiến thuật chung khối quân sự Bắc Đại tây dương NATO trong chiến đấu tiến công và phòng ngự.
    Chương 7
    CHIẾN THUẬT CỦA PHÂN ĐỘI LỤC QUÂN KHỐI QUÂN SỰ NATO.
    7.1 NHỮNG CƠ SỞ CĂN BẢN CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN KHỐI QUÂN ĐỘI NATO.
    Các phân đội bộ binh cơ giới (BBCG) Mỹ có khả năng cơ động tác chiến, tiến hành các hoạt động chiến đấu tiến công và hoạt động chiến đấu phòng ngự.
    - Cơ động hành quân chiến đấu.
    Theo các quan điểm chiến thuật của quân đội Mỹ, cơ động hành quân được chia thành 2 khái niệm: cơ động chiến thuật và cơ động hành quân thông thường.
    Cơ động chiến thuật
    – Là hoạt động cơ động trong điều kiện có nguy cơ gặp lực lượng đối phương và các lực lượng sẵn sàng triển khai các hoạt động chiến đấu khi chạm đối phương.
    Cơ động hành quân thông thường
    là hoạt động cơ động hành quân, được tiến hành khi không có khả năng gặp lực lượng trên bộ của đối phương. Mục tiêu của mọi hoạt động cơ động tác chiến là đến điểm (khu vực) dự kiến vào đúng thời gian quy định. Trong điều kiện chiến tranh hiện đại, các lực lượng cơ động trên các phương tiện trong biên chế, nhưng cũng không loại trừ khả năng cơ động đi bộ.
    Quy chuẩn cơ động đi bộ trong một ngày từ 20 – 32 km, trên xe BTR và xe quân sự là 280 km, các đơn vị xe tăng, xe thiết giáp là 300 km hoặc hơn nữa….
    Đội hình cơ động hành tiền phải đảm bảo khả năng nhanh chóng triển khai từ trạng thái cơ động vào trạng thái chiến đấu. Đội hình chiến đấu phụ thuộc vào tình huống chiến trường, ý đồ chiến thuật của chỉ huy đơn vị, đặc điểm địa hình và bao gồm:
    Các cụm quân lực cơ động.
    Các thê đội cơ động
    Các hàng trong đội hình hành quân.
    Cụm quân lực cơ động là phân đội cơ động trong cơ động hàng dọc. Cụm quân lực cơ động có thể là tiểu đội, phân đội, trung đội, đại đội. Các thành phần cần đảm bảo được tốc độ hành tiến theo quy định và ổn định vận tốc.
    Hình. 7.1.1


    Thê đội hành quân cơ động bao gồm một hoặc nhiều cụm cơ động, tiến hành hành quân dưới quyền chỉ huy duy nhất. Thông thường là tiểu đoàn. Đội hình hành quân hàng dọc bao gồm các phân đội binh chủng hợp thành, cơ động theo một tuyến đường, bao gồm từ một đến nhiều thê đội. Khi tiến hành hành quân theo đội hình khép kín, khoảng cách giữa các xe cơ giới trong tiểu đội là 20 – 25 m. Mật độ trong hàng dọc đội hình là 30 xe trên 1 km. Chiều dài của đội hình tiểu đoàn là 2 – 4km.
    Khi hành quân các xe cơ động giãn đội hình, khoảng cách giữa 2 xe là 50 – 100 m. Mật độ các xe trên một km đường cơ động là 10 – 15 xe, chiều dài cơ động của đội hình tiểu đoàn là 6-8 km. Trong quá trình hành quân sử dụng các tốc độ: đối với các xe bánh hơi ban ngày hay ban đêm sử dụng đèn pha chạy với tốc độ 40 km/h, khi sử dụng đèn gầm chạy với tốc độ 16 km/h, chạy theo địa hình không đường đất là 16 km/h, ban đêm là 8km/h. Đối với xe bánh xách, tốc độ trung bình ban ngày và ban đêm với đèn pha là 24 km/h. Các tiêu chuẩn còn lại tương tự như các xe bánh hơi.
    Chiến đấu tiến công
    Theo quan điểm của Bộ tư lệnh liên quân Mỹ, hình thức chiến đấu tiến công là hình thức tác chiến cơ bản, quan trọng nhất của các hoạt động tác chiến, đảm bảo khả năng gây tổn thất nặng nề nhất cho đối phương và đạt được những mục đích quan trọng đề ra.
    Mục đíchchủ yếu của hình thức tác chiến tiến công là:
    Đập tan sức kháng cự của cụm lực lượng đối phương trong phòng ngự trận địa. Mục tiêu thứ 2 là đánh chiếm những địa điểm, khu vực có ý nghĩa quân sự chính trị quan trọng,
    cắt đứt đối phương khỏi nguồn dự trữ cơ sở vật chất chiến trường. thu thập được những thông tin quan trọng, cô lập đối phương trong những khu vực đang chiếm đóng.

    Điều kiện đặc biệt quan trong dành được thắng lợi trong chiến đấu tiến công là đảm bảo tỷ lệ so sánh lực lượng giữa lực lượng tấn công và phòng ngự của đối phương là 6:1. Chiến đấu tiến công được chia thành 4 giai đoạn: cơ động tiếp cận đich, tấn công, phát triển kết quả đạt được, truy kích đối phương.
    Cơ động tiếp cận địch
    – là hoạt động cơ động chiến đấu, bao gồm cơ động nhanh chóng và bí mật, tổ chức điều hành tập trung và nhanh chóng triển khai các phân đội từ hành tiến chuyển sang chiến đấu tiến công trong trận đánh.
    Tấn công
    –Là hoạt động tác chiến nhằm vượt qua sức chống trả mãnh liệt của đối phương và đột kích tuyến, trận địa phòng ngự đối phương. Phương pháp tấn công là tạo lên sức mạnh áp đảo đối phương bằng binh lực và vũ khí, phương tiện chiến tranh nhằm đè bẹp và chế áp sức kháng cự của đối phương bằng những đòn tấn công hỏa lực, vũ khí hạt nhân, vũ khí hủy diệt lớn, đột phá tuyến phòng ngự của đối phương và phát triển theo chiều sâu hệ thống phòng ngự.
    Phát triển kết quả đạt được
    – Hoạt động tác chiến bắt đầu sau khi đột phá trận địa phòng ngự thành công các lực lượng triển khai cơ động sâu vào tuyến phòng ngự đối phương, cắt đường rút lui, tiêu diệt lực lượng dự bị và bẻ gẫy ý đồ phục hồi tuyến phòng ngự của đối phương.
    Truy kích
    – Hoạt động tác chiến phát triển kết quả của đòn tấn công, đột phá tuyến phòng ngự và khi đối phương rút lui, tiến hành cắt đường rút của đối phương, bao vây, chia cắt và tiêu diệt các nhóm binh lực đối phương.
    Lực lượng quân đội NATO có các hình thái chiến đấu tiến công sau:
    - Chuyển từ hành quân cơ động sang chiến đấu tiến công.
    - Sau thời gian chuẩn bị tiến hành chiến đấu tiến công.
    Chiến đấu phòng ngự.
    Phòng ngự, theo khái niệm của điều lệnh quân sự Mỹ, là hinh thức tác chiến, khi các lực lượng tiến hành nhằm ngăn chặn và bẻ gẫy hoạt động chiến đấu tiến công của đối phương, bảo vệ và giữ vững các khu vực quan trọng, kéo dài thời gian, giảm tiêu hao binh lực và phương tiện chiến tranh để tiếp tục chuyển sang chiến đấu tiến công. Nghệ thuật xây dựng hệ thống phòng ngự và cơ động tác chiến của lực lượng phòng ngự cần phải chặn đứng đòn tấn công của đối phương, buộc đối phương phải tập trung quân tại các khu vực có lợi cho lực lượng phòng ngự, tiêu diệt binh lực, sinh lực đối phương bằng những đòn phản công quyết định với tất cả các vũ khí trang bị, phương tiện trong biên chế..
    Những nguyên tắc cơ bản tiến hành các hoạt động chiến đấu phòng ngự là:
    • Đánh chiếm những khu vực giữ thế chủ động, dành thế chủ động chung từ phòng ngự chuyển sang tiến công;
    • Giáng những đòn tấn công tiêu diệt binh lực đối phương trên toàn bộ chiều sâu của đội hình tấn công;
    • Bẻ gãy ý đồ chiến thuật của đối phương, nhanh chóng chuyển hỏa lực, cơ động hỏa lực và phương tiện, sử dụng triệt để trang thiết bị tác chiến điện tử, sẵn sàng tiến hành các đòn phản công quyết liệt.;
    • Đồng bộ và liên kết phối hợp chặt chẽ lực lượng và phương tiện trong xuốt quá trình tác chiến, linh hoạt trong kế hoạch và khai thác triệt để điểm yếu của địch.
    Phương án phòng ngự có thể là phòng ngự có chuẩn bị tại chỗ và triển khai phòng ngự cơ động..
    Phòng ngự có chuẩn bị tại chỗ
    được tiến hành với mục tiêu phỏng thủ các khu vực, địa bàn quan trọng. Hình thức chiến đấu cơ bản của phương án phòng ngự này là – hỏa lực từ các trận địa phòng ngự với ý đồ phản công nhằm chiếm lại các khu vực bị đánh chiếm, tạo điều kiện có lợi cho phản công.
    Phong ngự cơ động
    được gọi là những hoạt động tác chiến cơ động, cơ sở căn bản của các hoạt động đó là tính cơ động quyết liệt và trực tiếp chiến đấu đối đầu với đối phương. Phương thức tác chiến cơ bản là cơ động liên tục với hỏa lực mạnh tiêu diệt binh lực đối phương. Phòng ngự tạm thời khi cơ động có tính đặc trưng là biên chế trong đội hình thê đội 1 của lực lượng phòng ngự các đơn vị độc lập với số lượng vũ khí trang bị và binh lực cần thiết tối thiểu nhất, sử dụng để phản công trong điều kiện thuận lợi nhất và tại những vị trí xung yếu, trong khi các phân đội khác tiến hành tác chiến phòng ngự tạm thời.
    7.2 CHIẾN THUẬT TẤN CÔNG, ĐƯỢC CÁC PHÂN ĐÔI KHỐI NATO SỬ DỤNG TRONG CHIẾN ĐẤU.
    Tiểu đoàn BBCG là đơn vị chiến đấu cơ bản của sư đoàn. Tiểu đoàn tiến hành các hoạt động tác chiến trong đội hình lữ đoàn, trong một số trường hợp độc lập tác chiến. Trong đội hình lữ đoàn, tiểu đoàn BBCG có thể tác chiến ở thê đội 1, thê đội 2 hoặc lực lượng dụ bị, trên hướng tấn công chính hoặc thọc sâu, vu hồi.
    Trên biên chế cơ bản của tiểu đoàn BBCG, TTg, thông thường tổ chức tiểu đoàn chiến thuật tăng cường (trong biên chế có 2-3 đại đội BBCG, 1-2 đại đội xe tăng, trung đội công binh và các phân đội hỏa lực tăng cường và đảm bảo khác. Tiểu đoàn chiến thuật tăng cường có thể là BBCG, TTg hoặc hỗn hợp. Trong tiểu đoàn chiến thuật tăng cường sẽ tổ chức đại đội chiến thuật tăng cường. Các tiểu đoàn chiến thuật tăng cường thực hiện cac shoatj động tác chiến theo chiến thuật cấp tiểu đoàn cơ sở, nhân tố hình thành cấp chiến thuật tăng cường. Đội hình chiến đấu cấp tiểu đoàn BBCG NATO phụ thuộc vào nhiệm vụ được giao, tính chất địa bàn tác chiến, hệ thống phòng ngự của đối phương, cơ cấu biên chế lực lượng dự bị có thể: đội hình hàng dọc, đội hình hàng ngang 1 thê đội, hai thê đội, góc chữ V trước hoặc sau, góc nhọn phía bên trái hoặc bên phải. Thông thường, đội hình chiến đấu thường là hàng ngang với hai thê đội, thê đội 1 hai đại đội, thê đội hai 1 đại đội.
    Hình. 7.2.1

    Chiều rộng hành lang tấn công của tiểu đoàn BBCG (TTg) phụ thuộc vào nhiệm vụ chiến đấu, biên chế tổ chức của tiểu đoàn, đội hình tác chiến và điều kiện tình huống địa bàn. theo các chuyên gia quân sự nước ngoài, tiểu đoàn BBCG có thể tấn công trên hành lang có chiều rộng đến 5 km.
    Nhiệm vụ chiến đấu của tiểu đoàn thông thường là nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ hoàn thành, bao gồm các mục tiêu được giao trong toàn bộ trận đánh.
    Nhiệm vụ trước mắt. (các mục tiêu tấn công)
    bao gồm tiêu diệt binh lực, vũ khí trang bị hỏa lực trong các điểm chốt thuộc trận dịa phòng ngự cấp đại đội của tiều đoàn đối phương phòng ngự thuộc thê đội 1 có chiều sâu phòng ngự từ 3-4 km.
    Nhiệm vụ hoàn thành ( các mục tiêu chiếm lĩnh)
    – ngăn chặn và đánh thiệt hại nặng nề các đợt phản kích của đối phương, đánh tiêu diệt lực lượng dự bị của tiểu đoàn phòng ngự đối phương, đánh chiếm tuyến phòng ngự có chiều sâu từ 5 – 8 km.
    Đại đội chống tăng là lực lượng hỏa lực đi cùng chính thuộc biên chế dưới quyền chỉ huy của tiểu đoàn trưởng nhằm chiến đấu tiêu diệt lực lượng tăng, thiết giáp đối phương. Các hệ thống tên lửa chống tăng có điều khiển (ATM) có thể được bố trí trong đội hình chiến đấu của các đơn vị ở tuyến đầu hoặc ở sâu trong đội hình tác chiến. Một bộ phận ATM có thể được biên chế trực thuộc các phân đội, tấn công trên hướng tiến công chính. Trung đội súng cối có thể được sử dụng trong chiến đấu ở vị trí trung tâm nhằm yểm trợ hỏa lực cho các phân đội thuộc thê đội 1. Trung đội trinh sát cũng được sử dụng ở vị trí trung tâm, trong một số trường hợp được biên chế trực thuộc các đại đội BBCG. Trung đội có nhiệm vụ che chắn bên sườn, tiến hành các hoạt động trinh sát khu vực và kiểm tra độ nhiễm độc, nhiễm xạ địa hình trong khu vực tác chiến.
    Hình. 7.2.2

    Đội hình chiến đấu cấp đại đội
    có thể là một hoặc hai thê đội. Là một thê đội khi nhiệm vụ được giao là tấn công lên trận địa phòng ngự đã bị chế áp mạnh mẽ bằng hỏa lực. Đội hình chiến đấu hai thê đội ( 2 trung đội trong thê đội 1 và 1 trung đội trong thê đội 2) hoặc lực lượng dự bị cho phép có đủ lực lượng và phương tiện để tiến hành đòn tấn công thứ nhất và tăng cường tấn công trong xuốt quá trình chiến đấu. Hành lang tấn công của đại đội có thể từ 1 – 1,5km. Đại đội cũng được giao nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ hoàn thành (các mục tiêu cần đánh chiếm) trên chiều sâu trận đánh là 1,5 – 2km hoặc từ 3- 4km tính từ tiền duyên tuyến phòng ngự đầu tiên. Đại đội BBCG chiến thuật tăng cường được biên chế bổ xung từ 1-2 trung đội tăng thiết giáp và trung đội súng cối. Từ biên chế đại đội có thể tách ra một trung đội tăng cường cho đơn vị tăng thiết giáp (đại đội) bạn tấn công bên sườn.
    Tiến hành trận chiến đấu tiến công
    Trong điều kiện tiếp giáp với lực lượng đối phương, tiểu đoàn BBCG (TTg) chuyển sang chiến đấu tiến công từ trận địa đang chiếm lĩnh. Trong điều kiện không tiếp xúc với đối phương, tiểu đoàn BBCG (TTg) hành quân cơ động tiếp cận khu vực đóng quân (hệ thống phòng ngự) của đối phương, hoạt động cơ động tiến công được kết thúc trên tuyến triển khai chiến đấu tiến công. Trong khoảng thời gian hỏa lực pháo binh, không quân, tên lửa bắn chuẩn bị dọn đường, các phân đội của thê đội 1 cơ động lên tuyến chiến đấu tiến công. Khi pháo binh, tên lửa chuyển làn bắn sâu vào hệ thống phòng ngự các đại đội BBCG dưới sự che chắn của tăng thiết giáp tiến hành đột phá tuyến phòng ngự đối phương. Xe tăng trong đội hình tiến hành chiến đấu với các xe tăng của đối phương, các ổ hỏa lực và các lực lượng phản kích của đối phương. BBCG tiêu diệt các phương tiện hỏa lực chống tăng của đối phương, yểm trợ cho xe tăng vượt qua trận địa mìn và hàng rào vật cản của đối phương, che chắn, bảo vệ xe tăng trước lực lương săn tăng của đối phương. Để đánh chiếm trận địa đối phương, các phân đội của thê đội 1 của tiểu đoàn (BBCG) TTg tập trung lực lượng và vũ khí trang bị, tiêu diệt các hỏa điểm kháng cự của đối phương, sau đó lập tức phân tán và tiếp tục tấn công. Các khu vực bị nhiễm độc hóa học sau khi bị phát hiện, các lực lương tấn công sẽ cơ động vòng tránh hoặc vượt qua nhanh chóng bằng phương tiện cơ giới. Đánh chiếm xong các vị trí đầu cầu, các đại đội sẽ tổ chức lại đội hình chiến đấu và sẵn sàng đánh lực lượng phản kích của đối phương. Thê đội 2 ( lực lượng dự bị) được đưa vào chiến đấu vu hồi hoặc chọc khe giữa các đại đội đang đánh giằng co với đối phương, lực lượng này được sử dụng để đập tan hoàn toàn sức kháng cự của đối phương.
    7.3 CHIẾN THUẬT TÁC CHIẾN TRONG PHÒNG NGỰ CỦA KHỐI QUÂN SỰ NATO
    Tiểu đoàn BBCG trong phòng ngự tác chiến trong đội hình của lữ đoàn, có thể được biên chế vào thê đội 1 thê đội 2 hoặc lực lượng dự bị. Tiểu đoàn cũng có thể thực hiện nhiệm vụ phòng ngự độc lập, trực thuộc sự chỉ huy trực tiếp từ sư đoàn trưởng.
    Trong phòng ngự, nhiệm vụ trọng tâm của tiểu đoàn là hiệp đồng tác chiến với các đơn vị trực thuộc và các phương tiện, vũ khí hỏa lực đi cùng ngăn chặn các đợt tấn công của đối phương trước tuyến phòng ngự, bẻ gãy các đợt tấn công và trong trường hợp đối phương chọc thủng tuyến phòng ngự, các đơn vị phòng ngự sử dụng hỏa lực và tổ chức phản kích đánh bật đối phương, khôi phục thế trận ban đâu. Tiểu đoàn BBCG có thể được tăng cường 1 – 2 trung đội tăng thiết giáp và trung đội công binh.
    Đội hình phòng ngự tiểu đoàn (Hình. 7.3.1) là một hoặc hai thê đội. Tiểu đoàn có thể phòng ngự trên trận địa có tiền duyên rộng từ 5-8 km, chiều sâu phòng ngự là 8 – 12 km. Trận địa phòng ngự cấp tiểu đoàn được xây dựng theo 1 thê đội, hai thê đội ( lực lượng dự bị) và phương tiện hỏa lực, nằm dưới quyền chỉ huy trực tiếp của tiểu đoàn trưởng.
    Hình. 7.3.1

    Trong khu vực phòng ngự, tiểu đoàn bố trí các điểm chốt cấp đại đội, cấp trung đội, các vùng đánh chặn và vùng phong tỏa đối phương bằng hỏa lực. Trước tiền duyên, giữa các điểm chốt, hai bên sườn trận địa, khu vực giáp giữa các trận địa được bố trí các trận địa mìn, thuốc nổ và hàng rào vật cản. Trong điều kiện không tiếp xúc trực tiếp với đối phương, tiểu đoàn sẽ đưa môt phân đội cảnh giới tương đương 1 trung đội từ đại đội của thê đội 1. Đặc biệt chú trọng hệ thống phòng ngự chống tăng. Để xây dựng hệ thống phòng ngự chống tăng cần phải sử dụng xe tăng, pháo binh, tên lửa chống tăng có điều khiển, súng phóng lựu và mìn chống tăng. Đại đội BBCG phòng ngự trong đội hình 1 thê đội hoặc 2 thê đội. Tiền duyên của đại đội phòng ngự có chiều rộng là 2 km, chiều sâu là 1,5 km. Đội hình đại đội có thể từ một thế đội hoặc hai thê đội, sở chỉ huy đại đội và các phương tiện, vũ khí hỏa lực đi cùng.
    Hình. 7.3.2

    Tiến hành chiến đấu phòng ngự.
    Tiểu đoàn trưởng đặc biệt quan tâm sử dụng triệt để yếu tố địa hình địa vật trong phòng ngự, đảm bảo mối hiệp đồng tác chiến giữa các phân đội, đồng bộ hóa hệ thống hỏa lực tất cả các loại vũ khí trang bị và vũ khí chống tăng, sử dụng triệt để các địa hình địa vật ngăn cản tự nhiên và các hàng rào vật cản nhân tạo. Trong phòng ngự một vị trí quan trong được đặt ra là xây dựng khu vực phòng ngự cũng như hệ thống công trình hàng rào vật cản dày đặc. Hệ thống phòng ngự được xây dựng theo trình tự - phát quang các vùng hỏa lực và xây dựng công sự phòng ngự cảnh giới. Xây dựng các công sự trên các điểm chốt và ngụy trang công trình công sự. Cài đặt các trận địa mìn chống tăng và các trận địa mìn chống bộ binh, xây dựng các trận địa dự phòng và các trận địa bổ xung cho hệ thống phòng ngự tại chỗ. Xây dựng hầm trú ẩn cho lực lượng trong biên chế chống vũ khí hủy diệt lớn, xây dựng và bố trí các công trình giả đánh lừa đối phương.
    Trước tiền duyên, bao quanh các trận địa phòng ngự của đại đội, các điểm chốt của các trung đội thường được đặt hàng rào dây thép gai.
    Trận đánh phòng ngự thường bắt đầu từ các phân đội cảnh giới, các phân đội này với hỏa lực đi cùng tấn công và làm lực lượng tiến công đối phương bị thiệt hại nặng từ tầm xa phòng ngự, ngăn chặn kiềm chế khả năng tiếp cận nhanh chóng tuyến phòng ngự, ngăn chặn đối phương trinh sát hỏa lực tuyến phòng ngự thê đội 1. Phát hiện và phá vỡ đội hình tác chiến tiến công của đối phương. Hoạt động tác chiến của phân đội cảnh giới được sự yểm trợ hỏa lực của pháo binh và hỏa lực súng cối trực thuộc đi cùng.
    Khi đối phương đột kích đến gần tuyến phòng ngự thê đội 1, chỉ huy tiểu đoàn sử dụng tất cả binh lực và sinh lực dưới quyền ngăn chặn và bẻ gãy các đợt tấn công, không cho lực lượng đối phương vượt tuyến phòng ngự thê đội 1. Nếu đối phương sử dụng vũ khí hủy diệt lớn làm thiệt hại nặng hoặc gây mất sức chiến đấu hoàn toàn một đại đội thuộc thê đội 1, tiểu đoàn trưởng sẽ nhanh chóng ra mệnh lệnh phục hồi trận địa phòng ngự của đại đội đó ( sử dụng lực lượng thê đội 2 hoặc lực lượng khác thuộc quyền). Khi đối phương đột phá tuyến phòng ngự và tràn ngập trận địa của một đại đội thuộc thê đội 1, chỉ huy cấp tiểu đoàn có thể yêu cầu chi viện hỏa lực từ cấp cao hơn, hỏa lực có thể là vũ khí thông thường hoặc vũ khí hủy diệt lớn nhằm tiêu diệt binh lực đối phương (vũ khí hạt nhân chiến thuật, vũ khí hóa học hoặc nhiệt áp) sử dụng lực lượng của thê đội 2 (lực lượng dự bị) để chiếm lại trận địa.
    Tiểu đoàn (TTg) BBCG có nhiệm vụ kiên quyết bám trụ giữ vững trận địa và khu vực phòng ngự, rút lui hoặc thoát ly trận địa phòng ngự chỉ tuân thủ theo mệnh lệnh của chỉ huy lữ đoàn. Trong trường hợp bị cắt khỏi hệ thống phòng ngự của lữ đoàn, lập tức tiểu đoàn sẽ hình thành hệ thống phòng ngự dạng vòng tròn và giữ trận địa.
    Trận chiến đấu phòng ngự được coi là hoàn thành khi đạt được mục đích đề ra của cấp trên ( đánh lui, bẻ gãy mọi đợt tấn công, tiêu hao binh lực và sinh lực địch với số lượng lớn nhất, giữ vững được trận địa trong thời gian quy định….

    Biên dịch: Trịnh Thái Bằng.tech.edu
    Nguồn: Tài liệu huấn luyện quân sự Trường đại học kỹ thuật quốc gia Tambov - Liên bang Nga

  7. #47
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,235
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Tổng quan về lực lượng hải quân Trung Quốc (1):
    Tàu sân bay “Liêu Ninh” với chiến lược bành trướng trên biển xa

    Để hiện thực hóa tham vọng bành trướng trên các đại dương, xây dựng biên đội hàng không mẫu hạm hiện đại và lực lượng tàu ngầm hạt nhân chiến lược là mục tiêu chiến lược của hải quân Trung Quốc.

    Báo cáo cho biết, hải quân Trung Quốc tiến hành hiện đại hóa theo “chiến lược phòng thủ tích cực”, mục đích chủ yếu là phản kích chống đột nhập trên biển, có khả năng tấn công “tiên phát chế nhân”. Tư tưởng tác chiến của hải quân Trung Quốc là tích cực gây sức ép đến đối thủ, ngăn chặn địch ở bên ngoài cửa ngõ quốc gia, có khả năng tác chiến trên mọi chiến trường, trên mọi vùng biển xa lãnh hải quốc gia, khi cần có thể sử dụng các đòn tiến công hạt nhân cục bộ có tính chất tự vệ bằng các tàu ngầm hạt nhân chiến lược.
    Hải quân Trung Quốc đã xây dựng mục tiêu phát triển bao gồm 3 giai đoạn. Hiện nay, họ đã hoàn thành các mục tiêu của giai đoạn 1 là thành lập các cụm chiến dịch, khống chế hoàn toàn chuỗi đảo thứ nhất, xây dựng thành trì vững chắc trên biển. Mục tiêu của giai đoạn 2 là phải bảo đảm sự hiện diện quân sự, tiến hành hoạt động tích cực trong phạm vi chuỗi đảo thứ 2.

    Hiện nay, giai đoạn này đang được triển khai, dự kiến sẽ hoàn thành trước năm 2020. Giai đoạn 3 tiến hành trong thời gian 2020-2050 với mục đích xây dựng lực lượng hải quân viễn dương hùng mạnh, có khả năng hoàn thành mọi nhiệm vụ, tại bất cứ địa điểm nào tại các đại dương trên thế giới. Vì vậy, xây dựng biên đội hàng không mẫu hạm hiện đại và lực lượng tàu ngầm hạt nhân chiến lược là mục tiêu chính của giai đoạn này.
    Hiện nay, 3 hạm đội Nam Hải, Đông Hải và Bắc Hải có hơn 700 tàu mặt nước và tàu ngầm, bao gồm: 60 tàu ngầm động cơ Diezen, ít nhất 8 tàu ngầm đa dụng chạy bằng năng lượng hạt nhân, 5 tàu ngầm tên lửa chiến lược chạy bằng năng lượng hạt nhân, 28 tàu khu trục tên lửa, 52 tàu hộ vệ, 22 tàu rà quét mìn, 84 tàu đổ bộ, 83 tàu cao tốc tên lửa, 1 tàu đổ bộ trực thăng. Lực lượng không quân hải quân Trung Quốc có tổng cộng 55 máy bay ném bom thuộc các loại máy bay ném bom chiến lược thế hệ H-6 (Phiên bản Trung Quốc của chiếc Tu-16 của Nga), máy bay tiêm kích bom “Phi Báo” JH-7/7A và Su-30MKK; 132 máy bay tiêm, cường kích các loại, bao gồm tiêm kích thuộc thế hệ J-8, J-10 và cường kích thế hệ Q-5 (chỉ còn duy nhất loại máy bay cường kích Q-5E); 65 máy bay vận tải chủ yếu là Y-5, Y-7 (phỏng chế từ chiếc An-24 của Nga), Y-8 (phiên bản Trung Quốc của loại AN-12 của Nga); 15 máy bay trinh sát, chủ yếu là JZ-6, JZ-7, JZ-8; 3 máy bay tiếp dầu trên không H-6Y và 95 máy bay trực thăng các loại: Z-8, Z-9, Z-10 và loại Sa-321, Sa-322 của hãng Ja Super Frelon – Pháp cùng một số máy bay Mi-8, Mi-17 trước đây nhập khẩu của Nga. Ngoài ra, Hải quân Trung Quốc còn có 2 lữ hải quân đánh bộ (lữ 1 và lữ 164) cùng đóng quân tại thảnh phố Trạm Giang, tỉnh Quảng Đông với quân số khoảng 1 vạn người. Hiện đang có rất nhiều thông tin thắc mắc về vấn đề tại sao Trung Quốc lại triển khai 2 lữ hải quân đánh bộ tại cũng một thành phố. Nhiều chuyên gia quân sự cho rằng, rất có khả năng 1 trong 2 lữ này sẽ được điều động làm nòng cốt trong biên chế của lực lượng đồn trú tại "cái gọi là thành phố cấp địa khu Tam Sa", thuộc tỉnh Hải Nam mới được Trung Quốc thành lập tháng 6/2012, vi phạm chủ quyền Việt Nam.

    Lực lượng tàu chiến chủ lực của Trung Quốc hiện bao gồm: Kỳ hạm của hải quân Trung Quốc là tàu sân bay “Liêu Ninh”, tàu khu trục và hộ vệ tên lửa, tàu ngầm, tàu đổ bộ, tàu cao tốc tên lửa, tàu trinh sát chống ngầm, tàu rà quét mìn.


    Tàu sân bay “Liêu Ninh” mang số hiệu 16 trong lễ treo quốc kỳ

    Tàu sân bay chưa có khả năng tác chiến

    Hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc là phiên bản cải tạo từ tàu sân bay “Varyag” thuộc lớp “Kuznetsov” của Nga, được Trung Quốc mua về từ của Ukraina với mục đích ban đầu là làm khách sạn nổi. Tàu sân bay lớp “Kuznetsov” chỉ đóng có 2 chiếc là “Kuznetsov” và “Varyag”. Đây là lớp tàu sân bay động cơ thông thường (CV), có lượng giãn nước 6,5 vạn tấn, đường băng dài 323m kiểu bật lướt (không có máy phóng), khả năng chuyên chở tối đa 36 chiếc Su-33 (biến thể trên hạm của tiêm kích bom Su-27) và 16 máy bay trực thăng. Tàu mang theo 2500 tấn nhiên liệu hàng không, đủ cung cấp cho 5000 – 1 vạn lượt tác chiến của máy bay phản lực và trực thăng. Hiện tàu sân bay Kuznetsov vẫn đang phục vụ trong biên chế lực lượng hải quân Nga và chỉ được biên chế có 24 chiếc Su-33, 14 chiếc trực thăng trinh sát chống ngầm Ka-27PL, 2 chiếc trực thăng tác chiến điện tử, 2 chiếc trực thăng tìm kiếm và cứu hộ. Chiếc “Varyag” Trung Quốc được cải tạo và nâng cấp theo định hướng hàng không mẫu hạm Liên Xô cũ, sử dụng hệ thống chỉ huy thông tin tác chiến và radar quét mảng trong nước sản xuất có tính năng được Trung Quốc ca ngợi là không kém gì so với radar của hệ thống phòng chống tên lửa Mỹ “Aegis”. Cũng giống như các hàng không mẫu hạm khác, hệ thống vũ khí của tàu được trang bị đơn giản, vũ khí chủ yếu là hệ thống pháo phòng không tầm gần AK-1030 và hệ thống tên lửa phòng không FL-3000N. Tàu sân bay này hiện đã được đánh số 16, phiên hiệu là “Liêu Ninh”. Nó có chiều dài là 302m, rộng 74m, mớn nước sâu 10,4m, chiều cao 66m, lượng giãn nước 6,5 vạn tấn, tốc độ tối đa 32 hải lý/h, biên chế đủ 2500 người (3000 người khi biên chế đủ máy bay và phi hành đoàn). Hiện Trung Quốc đang có kế hoạch tự nghiên cứu, chế tạo 2 – 3 tàu sân bay nội địa tương tự như “Liêu Ninh”và đã bắt đầu triển khaithiết kế, dự kiến khoảng 2 – 3 năm nữa sẽ bước sang giai đoạn đóng tàu. Ngày 23/09, rất nhiều phương tiện truyền thông rầm rộ đưa tin về Lễ bàn giao “Liêu Ninh” cho hải quân nhưng đến ngày 24/09, thời báo “Hoàn Cầu” của Trung Quốc đã đăng tải thông tin phủ nhận của Bộ Quốc phòng Trung Quốc. Thông báo cho biết, “Sự ra đời của tàu sân bay là niềm tự hào của người dân Trung Quốc, Lễ bàn giao của nó phải được tổ chức theo nghi thức Quốc gia chứ không phải theo kiểu âm thầm, lén lút như một số tờ báo chụp trộm rồi tung tin gây sốc. Đây chỉ đơn thuần là nghi lễ treo Quốc kỳ trên tàu và triển khai một số xe cứu hỏa, xe sửa chữa, xe thông tin…, là một trong những công tác chuẩn bị cho đại lễ bàn giao tàu cho hạm đội Bắc Hải”. Dự kiến là nghi thức bàn giao chính thức tàu sân bay “Liêu Ninh” sẽ được tổ chức vào ngày quốc khánh lần thứ 63 của Trung Quốc (01/10/1949-01/10/2012). Sau đó, do lực lượng không quân hạm và biên đội tàu hộ vệ của nó chưa được định hình nên sắp tới “Liêu Ninh” sẽ được biên chế làm tàu thử nghiệm, huấn luyện của học viện tàu thuyền hải quân ở Đại Liên – Liêu Ninh.

    Còn nữa... Theo Nguyễn Ngọc
    An ninh thủ đô/Mạng TTCN quốc phòng Nga

  8. #48
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,235
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Tổng quan về lực lượng hải quân Trung Quốc (2):
    Bộ 3 tác chiến chủ lực: tàu ngầm, tàu hộ vệ và tàu khu trục tên lửa

    Trung Quốc đang chuyển hướng phát triển quân hạm, từ đóng các tàu chiến cỡ nhỏ và tầm trung chuyển sang chế tạo các tàu chiến cỡ lớn. Tuy vậy, mỗi loại họ chỉ có một vài tàu được cho là hiện đại, sánh ngang với Anh, Pháp, Nga, Mỹ

    Lực lượng tàu ngầm
    Về tàu ngầm hạt nhân tên lửa chiến lược, hiện Trung Quốc có 1 tàu lớp 092 (lớp Hạ) trang bị tên lửa Cự Lang-1A (JL-1A) và 2 chiếc tàu ngầm hạt nhân lớp 094 (lớp Tấn). Hiện nay họ đang đóng 3 chiếc và vừa bắt tay đóng mới chiếc thứ 4, nâng tổng số tàu ngầm hạt nhân lớp 094 lên con số 6. Có thông tin cho rằng, 3 chiếc tàu ngầm đang chế tạo được trang bị hệ thống vũ khí của lớp tàu ngầm tương lai 096 (có lượng giãn nước lên tới 1,6 vạn tấn) gồm 24 quả tên lửa đạn đạo. Tàu ngầm hạt nhân tên lửa chiến lược lớp 094 là loại tàu ngầm hiện đại nhất của Trung Quốc, chiếc đầu tiên có số hiệu 409, được đưa vào biên chế năm 2004. Loại tàu này có ngoại hình giống như tàu ngầm hạt nhân chiến lược 667BDRM lớp “Dolphin”. Loại tàu ngầm này có chiều dài 133m, rộng 13m, lượng giãn nước không tải 9000 tấn, đầy tải 11.500 tấn, tốc độ 26 hải lý/h, độ sâu tác chiến bình thường 300m, tối đa là 400m.

    Nó có khả năng hành trình liên tục 70 ngày với 120 thủy thủ, sử dụng 2 động cơ hạt nhân loại nhỏ công suất 90MW. Vũ khí chủ yếu của nó gồm 12 quả tên lửa đạn đạo Cự Lang-2 (JL-2), biến thể tàu ngầm của loại tên lửa đạn đạo xuyên lục địa phóng trên mặt đất Đông Phong-31 (DF-31) có tầm bắn 12.000km. Hiện nay, công tác thử nghiệm tên lửa JL-2 đang gặp trục trặc nên Hải quân Trung Quốc đã lùi thời gian trang bị loại tên lửa này nên hệ thống vũ khí chỉ có 6 ống phóng ngư lôi loại 533mm. Còn về tàu ngầm đa dụng, Trung Quốc hiện có 3 tàu lớp 091 (lớp Hán) và 2 tàu ngầm hạt nhân lớp 092. Hiện nay, họ đang đóng một chiếc tàu ngầm hạt nhân lớp 093 (lớp Thương), có tính năng được so sánh ngang với tàu ngầm hạt nhân 671RTM của Nga. Hải quân Trung Quốc còn xây dựng kế hoạch trước năm 2020 sẽ chế tạo xong 5 tàu ngầm hạt nhân lớp 095. Về tàu ngầm thông thường, Hải quân Trung Quốc có khoảng 50 chiếc, chủ yếu thuộc lớp 636 “Kilo” nhập khẩu từ Nga, lớp Tống (039), lớp “Vũ Hán” (033), lớp Minh (035) và một số ít thuộc lớp tàu hiện đại hơn là 041. Hiện họ đang chế tạo 1 chiếc tàu ngầm diezen lớp 041 (lớp Nguyên) và sắp tới sẽ đóng thêm 3 chiếc nữa. Loại tàu ngầm này được đánh giá ngang với loại tàu ngầm lớp “Kilo” của Nga mà Trung Quốc và Việt Nam hiện vẫn đang sử dụng. Các tàu ngầm Trung Quốc được biên chế cấp chi đội trực thuộc hạm đội, mỗi chi đội có từ 8-10 tàu, mỗi hạm đội thường có 2 chi đội tàu ngầm và 1 – 2 căn cứ độc lập.

    Tàu khu trục tên lửa số hiệu 170 (Lan Châu) thuộc lớp 052C (lớp Lữ Dương II)
    Tàu khu trục
    Gần đây nhất, ngày 28-8-2012, hải quân Trung Quốc đã hạ thủy chiếc tàu khu trục tên lửa thế hệ mới lớp 052D đầu tiên. Các quan chức Trung Quốc thổi phồng nó lên là một loại tàu chiến mới, có thể sánh được với loại tàu chiến “Aegis” của Mỹ, sự ra đời của nó đã mở ra một “thời đại mới” cho tàu khu trục tên lửa Trung Quốc, thế nhưng trên thực tế, nó chỉ là phiên bản nâng cấp của loại 052C. 052D có chiều dài 160m, rộng 18m, lượng giãn nước từ 6000 – 8000 tấn. Những thay đổi của nó so với 052C là: sử dụng loại pháo hạm PJ-38 cỡ nòng 130mm, hệ thống tên lửa phòng không FL-3000N, trang bị thêm 16 ống phóng dạng thẳng đứng của loại tên lửa phòng không “Hải Hồng Kỳ-9” (HHQ-9), sử dụng loại radar quét mảng kiểu 346 và radar sục sạo tầm xa trên dải sóng dài kiểu 518. Tàu khu trục lớp 051C chủ yếu làm nhiệm vụ phòng không cho nhóm tàu tác chiến mặt nước, được trang bị các loại vũ khí tiên tiến nhất do Trung Quốc sản xuất và nhập khẩu từ Nga. Nó được biên chế 280 thủy thủ, có chiều dài 154m, rộng 17m, mớn nước 6m, lượng giãn nước 6500 tấn, hành trình tối đa 8000 hải lý với vận tốc 29 hải lý/h. Trang bị chính trên tàu là hệ thống tên lửa phòng không S-300 Rif (S-300R) với 6 ống phóng và 48 quả tên lửa.

    Đây là phiên bản xuất khẩu của hệ thống phòng không hạm S-300 Fort (S-300F) mua của Nga. Hệ thống phòng không này sử dụng antenna radar quét mảng, có khả năng dẫn đường cho tên lửa đồng thời tấn công 12 mục tiêu một lúc. Các loại vũ khí khác bao gồm: 8 quả tên lửa YJ-83, 1 bệ pháo hạm kiểu 95, 2 bệ pháo phòng không kiểu 730, 2 đơn nguyên 3 ống phóng ngư lôi 324mm và 1 chiếc máy bay trực thăng Ka-28. Trong thời gian gần đây, có 2 chiếc được triển khai đóng mới lần lượt vào năm 2004 và 2005, nhưng cùng xuất xưởng năm 2007 và cùng được biên chế cho hạm đội Bắc Hải. Hệ thống phòng không của 2 tàu này được nâng cấp cao hơn so với các tàu khác với 6 ống phóng 48 quả tên lửa S-300 Rif-M (S300R-M), phiên bản xuất khẩu của S-300 Fort-M (S-300F-M), có tầm bắn 90km, xạ giới cao 30km. Trung Quốc đã mua thêm 2 hệ thống S-300R-M của Nga năm 2002 và trang bị riêng cho 2 chiếc tàu này. Ngoài các tàu tương đối hiện đại thuộc lớp “Lữ Hộ” là 052B/C/D và “Lữ Đại” là 051C, các tàu còn lại thuộc 2 lớp này là 052A và 051A/B cùng với 1 số tàu lớp “Hiện Đại” (956) đều đã già cũ, chuẩn bị thải loại.

    Tàu hộ vệ tên lửa lớp 054A (Giang Khải - II), số hiệu 568 (Sào Hồ) của hải quân Trung Quốc
    Tàu hộ vệ tên lửa
    Cuối năm ngoái, Trung Quốc đã đưa vào biên chế chiếc tàu hộ vệ lớp 054A thứ 14 mang tên “Lâm Nghi” và đang chế tạo tiếp một số tàu nữa với sự giúp đỡ tích cực của các nhà thiết kế của nhà máy đóng tàu St Petersburg-Nga. Một số tàu loại thuộc này được sử dụng để thay thế cho các tàu hộ vệ đã già cũ lớp 053H và một số dùng để xuất khẩu. Loại tàu này được Trung Quốc đánh giá là có tính năng tiên tiến, không kém gì các tàu hộ vệ hiện đại nhất hiện nay.

    Tàu có chiều dài 134m, rộng 16m, mớn nước 5m, lượng giãn nước 4300 tấn, tốc độ tối đa 29 hải lý/h, hành trình tối đa 3800 hải lý với 190 thủy thủ. Nó áp dụng công nghệ tàng hình, lắp đặt hệ thống ống phóng tên lửa phòng không dạng thẳng đứng, được trang bị 1 chiếc máy bay trực thăng Ka-28 hoặc Z-9 với sàn đỗ và nhà chứa máy bay. Hệ thống vũ khí của 054A bao gồm: 1 bệ pháo hạm 100mm kiểu 713, 4 bệ pháo phòng không tầm cao AK-630, 2 ống phóng 8 quả tên lửa chống hạm Ưng Kích – 83 (YJ-83), 1 hệ thống gồm 32 ống phóng tên lửa phòng không Hồng Kỳ-16 (HQ-16). Trong số này, ngoài 14 tàu lớp 054A cùng với 1 số tàu thuộc lớp “Giang Hồ” là 053H1G/HT (Giang Hồ IV/V) và 053H3 (Giang Vệ II) được xếp vào hàng hiện đại, đa phần các tàu hộ vệ đều thuộc thế hệ 053 là loại đã già cũ như: 053H/H1/H2 (lớp Giang Hồ/I/II/III), lớp 053 H2G (lớp Giang Vệ I), ngoài ra còn có một số loại cũ hơn thuộc lớp 037II, 037IG, lớp 62. Hiện nay, Trung Quốc đã triển khai đóng loại tàu hộ vệ tên lửa hạng nhẹ lớp 056, hiện họ đã hạ thủy 2 chiếc, 2 chiếc còn lại trong loạt 4 chiếc dự kiến cuối năm nay hoặc đầu năm tới sẽ hoàn thành. Đây là loại tàu hộ vệ tầm gần, trang bị máy bay trực thăng săn ngầm Z-9, lượng giãn nước hơn 1000 tấn, vũ khí yếu hơn các lớp tàu khác, chủ yếu là tên lửa chống hạm YJ-83 và hệ thống phòng không tầm gần FL-3000N. Các tàu khu trục và hộ vệ tên lửa Trung Quốc thường được biên chế chung trong một chi đội tàu khu trục. Thường mỗi chi đội tàu khu trục có 1 đại đội tàu khu trục tên lửa biên chế từ 4-5 tàu và 1-2 đại đội tàu hộ vệ có từ 6 – 8 tàu, mỗi hạm đội có 2 chi đội loại này. Ngoài ra các tàu hộ vệ còn có thể được biên chế trong chi đội tàu cao tốc hoặc trong biên chế căn cứ hải quân.

    Còn nữa... Nguyễn Ngọc
    Theo Mạng TTCN quốc phòng Nga

  9. #49
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,235
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Tổng quan về lực lượng hải quân Trung Quốc (3):
    "Điểm danh" lực lượng tàu bảo vệ và bảo đảm


    ANTĐ - Để thực hiện ý đồ độc chiếm biển đảo, hải quân Trung Quốc không ngừng đẩy mạnh phát triển nhóm tàu có tính chất tấn công mà ít chú trọng đến nhóm tàu bảo vệ.

    Tàu đổ bộ với chiến lược vươn xa

    Tổng cộng hiện nay Trung Quốc đang có hơn 500 tàu, thuyền, xuồng đổ bộ các loại. Trong đó nòng cốt là 84 tàu đổ bộ thuộc lớp tàu đổ bộ đệm khí “Đại Cô” là lớp 722 (lượng giãn nước 78 tấn, năng lực vận chuyển 15 tấn), tàu đổ bộ cỡ lớn lớp 072 (lượng giãn nước 3100 tấn, tải trọng 2000 tấn), tàu đổ bộ cỡ vừa lớp 073 (lượng giãn nước tối đa 1100 tấn) và tàu đổ bộ dạng ụ nổi lớp 071. Ngoài ra, Hải quân Trung Quốc còn có hơn 150 tàu đổ bộ hạng nhẹ các loại và 10 tàu đệm khí, hiện họ đang nghiên cứu chế tạo tàu đổ bộ đệm khí tải trọng 60 tấn. Để vận chuyển lực lượng hải quân đánh bộ xung phong lên bờ, Hải quân Trung Quốc còn có trang bị đổ bộ loại nhỏ cấp phân đội là các xuồng đổ bộ, xuồng đệm khí, tàu xung phong… Các tàu đổ bộ dạng ụ nổi lớp 071 thuộc loại tàu đổ bộ lớn nhất và hiện đại nhất Trung Quốc hiện nay, được phỏng chế từ nguyên mẫu tàu đổ bộ LPD-17 của Mỹ. Nó có chiều dài 210m, rộng 28m, mớn nước 7m, lượng giãn nước đầy tải là 2,5 vạn tấn. Nó có hành trình xa nhất tới 6000km với vận tốc 22 hải lý/h, số lượng thủy thủ là 120 người. Khi tác chiến, nó có thể vận chuyển 1 tiểu đoàn hải quân đánh bộ quân số đủ 800 người và 20 xe chiến đấu bộ binh cùng với 2 tàu đệm khí cỡ lớn và 4 tàu đệm khí cỡ nhỏ. Boong tàu có sàn đỗ cho 2 chiếc trực thăng loại Z-8/AS-321, mỗi chiếc có thể vận chuyển 30 lính hải quân đánh bộ. Vũ khí chủ yếu của tàu lớp 071 là 1 bệ pháo hạm AK-176, 4 bệ pháo phòng không AK-630, 4 hệ thống phóng đa dụng kiểu 726 và 4 khẩu súng máy. Ngày 3/9 năm nay, tiếp theo “Côn Luân Sơn” và “Tỉnh Cương Sơn”, chiếc tàu đổ bộ lớp 071 thứ 3 mang tên “Trường Bạch Sơn” đã tiến hành thử nghiệm trên biển. Ngoài việc sử dụng các tàu đổ bộ quân dụng, thời gian gần đây Hải quân Trung Quốc còn trưng dụng dịch vụ vận chuyển của các tàu vận tải dân sự. Mới đây nhất, ngày 14/08, Tập đoàn quân 54 của Đại quân khu Tế Nam đã sử dụng dịch vụ vận tải của loại tàu Ro-Ro có tải trọng gần 4 vạn tấn để vận tải đổ bộ các phương tiện xe xe tăng, pháo tự hành, xe thiết giáp, xe chiến đấu bộ binh…

    Ro-Ro là một loại tàu vận tải phương tiện tự hành của tổng công ty vận tải viễn dương Trung Quốc COSCO, chuyên dụng để vận chuyển các loại phương tiện siêu trường và siêu trọng tự hành hoặc có xe kéo như: ôtô, máy xúc, xe ủi, xe lu, máy gặt…, xếp ngang hàng với các loại tàu dầu, tàu container, tàu chở hàng rời (bulker), tàu chở chất lỏng, tàu chở chất khí… Hiện Ro-Ro chủ yếu phục vụ cho công tác vận tải xuất khẩu cho ngành công nghiệp ô tô giá rẻ của Trung Quốc. Loại tàu này chỉ có thể sử dụng trong thời bình.

    Tàu ngầm hạt nhân lớp 094 (lớp Tấn)
    Hiện nay, có thông tin cho rằng Trung Quốc đang triển khai nghiên cứu, chế tạo tàu đổ bộ dạng tàu sân bay trực thăng lớp 081, tuy nhiên thông tin này chưa được sự xác thực của các quan chức chính phủ. Hiện nay mỗi hạm đội hải quân Trung Quốc có 1 chi đội tàu đổ bộ, mỗi chi đội có 3 đại đội, mỗi đại đội có 8-10 tàu. Thường mỗi đại đội biên chế 1 loại tàu, 2 đại đội lớp 072 và 1 đại đội lớp 073, các tàu lớp 071 hiện trực thuộc Bộ tư lệnh hạm đội.
    Nhóm tàu bảo vệ yếu kém
    Trung Quốc hiện có khoảng trên 80 tàu cao tốc tên lửa, trong đó một nửa là tàu lớp 021 (Hồng Phong), 1 nửa là tàu lớp 022. Các tàu cao tốc tên lửa được biên chế trong chi đội tàu tên lửa loại hỗn hợp, trong chi đội chỉ có 1 đại đội tàu tên lửa còn lại là tàu hộ vệ tên lửa, tàu chống ngầm… Tàu tên lửa lớp 021 được chế tạo theo nguyên mẫu của Nga, dạng 1 thân, sản xuất đầu thập niên 70 – thế kỷ XX. Tàu có lượng giãn nước tối đa 205 tấn, hành trình 1400km, được trang bị 4 dàn tên lửa Thượng Du – 1 (SY-1) và 2 bệ pháo hạm 2 nòng 30mm. Đây là loại tàu cũ, hệ thống điều khiển và hệ thống vũ khí yếu kém, khả năng tác chiến hạn chế, loạt tàu chế tạo đầu tiên đã hết hạn sử dụng, các loạt sau cũng sắp bị thải loại. Tàu cao tốc tên lửa lớp 022 là tàu tên lửa tàng hình 2 thân, có chiều dài 42,6m, rộng 12,2m, mớn nước 1,5m, lượng giãn nước 220 tấn, thủy thủ đoàn 12 người. Vỏ tàu được chế tạo bằng hợp kim tổng hợp cộng với lớp sơn có khả năng hấp thụ sóng radar làm cho nó có tính năng tàng hình rất tốt, vận tốc lên tới 38 hải lý/h (khoảng 70km/h), trang bị hỏa lực tấn công cực mạnh. Vũ khí chủ yếu của tàu bao gồm 1 hệ thống phóng tên lửa chống hạm YJ-82/83 với 8 quả đạn, 1 bệ pháo phòng không AK-630, 1 hệ thống tên lửa phòng không, 12 hệ thống tên lửa phòng không vác vai.

    Hệ thống vũ khí trên tàu được điều khiển bởi radar sục sạo mặt nước và trên không kiểu 362, radar dẫn đường và thiết bị quan sát quang điện HHOS300. Hiện nay, Hải quân Trung Quốc đang hợp sức của 4 nhà máy đóng tàu để đẩy nhanh tốc độ sản xuất tàu lớp 022 để thay thế cho loại tàu tên lửa không tàng hình lớp 021 và đã sản xuất được hơn 40 chiếc. Tuy vậy loại tàu này cũng có nhược điểm lớn là không có khả năng tác chiến xa bờ, thời gian hoạt động liên tục ngắn, lượng vũ khí dự trữ kém.

    Tàu đổ bộ dạng ụ nổi lớp 071 số hiệu 998 (Côn Luân Sơn)
    Hiện Trung Quốc đang sở hữu lực lượng tàu trinh sát chống ngầm đông đảo nhưng chất lượng không cao. Đa số các tàu này đều thuộc lớp tàu hộ vệ tên lửa 037 được cải biên một chút để phục vụ công tác chống ngầm. Hiện họ có khoảng gần 80 chiếc thuộc các lớp 037I/IS/JZ/LS nhưng đều đã cũ, trang thiết bị lạc hậu, khả năng trinh sát, phát hiện còn kém hơn cả trực thăng chống ngầm. Thường mỗi hạm đội Trung Quốc tổ chức 3 đại đội tàu săn ngầm, các đại đội này trực thuộc chi đội tàu tác chiến hoặc trực thuộc căn cứ hải quân trọng yếu, biên chế chuẩn mỗi đại đội là 8 – 10 tàu. Hiện hạm đội Nam Hải có 3 đại đội, 1 đại đội trực thuộc căn cứ bờ Bắc Hải – Quảng Tây (căn cứ này giáp Việt Nam, phụ trách khu vực biển vịnh Bắc bộ). 2 đại đội còn lại đóng ở Từ Văn – Quảng Đông và Dương Phố - Hải Nam. Trong số các tàu bảo vệ, lực lượng tàu rà quét mìn của Trung Quốc kém phát triển nhất và ít được chú trọng đầu tư. Hiện nay lực lượng này còn không quá 30 chiếc, chủ yếu là sản xuất từ những thập niên 80 thế kỷ trước. Phần lớn các tàu thuộc lớp 6610 phụ trách rà quét mìn khu vực căn cứ hải quân, còn lại 8 chiếc thuộc các lớp 082/A/G làm nhiệm vụ rà quét mìn trong cảng, vịnh. Các tàu này còn kiêm luôn cả nhiệm vụ rải lôi, phong tỏa luồng đường, cảng, vịnh và các khu vực nhỏ trên biển. Mỗi hạm đội Trung Quốc chỉ có 1 đại đội biên chế từ 8 – 10 tàu. Về tàu bảo đảm, hải quân Trung Quốc có 1 tàu bệnh viện cỡ lớn là tàu bệnh viện “Hòa Bình” được trang bị vào cuối năm 2008. Tàu này dài 178m, rộng 25m, mớn nước 6m, lượng giãn nước 1,4 vạn tấn, tốc độ tối đa 20 hải lý, thủy thủ đoàn 309 người, nhân viên y tế 107 người. Nó có 8 boong có thể đồng thời lắp đặt các thiết bị điều trị với 32 phòng bệnh và 300 chỗ nằm, hơn 1500 loại dược phẩm y tế. Tàu còn được trang bị trực thăng cứu hộ Z-8JH, mỗi chuyến có thể chở được 27 bệnh nhân. Ngoài ra họ còn có một số loại tàu bổ trợ khác như: tàu kéo, tàu dầu, tàu hậu cần, tàu cứu hộ, tàu khảo sát, tàu công trình… Nguyễn Ngọc
    Theo Mạng TTCN quốc phòng Nga

  10. #50
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,235
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Tàu ngầm lớp Tấn: Cái đích hay chỉ là bước phát triển?

    Tàu ngầm lớp Tấn là bước phát triển quan trọng trong kế hoạch tăng cường khả năng đánh chặn vũ khí hạt nhân trên biển của Trung Quốc. Tuy nhiên, đây chưa phải là cái đích cuối cùng trong kế hoạch lâu dài của Bắc Kinh.




    Hai chiếc tàu ngầm lớp Tấn của Trung Quốc.

    Sau nhiều thập niên nỗ lực bất thành, kế hoạch đánh chặn vũ khí hạt nhân bằng tàu ngầm của Trung Quốc cuối cùng đang được hình thành với tàu ngầm loại 094 lớp Tấn (Jin-Class), loại tàu ngầm hạt nhân được trang bị tên lửa đạn đạo (SSBN) và vũ khí dự kiến của tàu này là tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) JL-2. Báo cáo của Bộ Quốc phòng về tình hình quân sự và an ninh Trung Quốc năm 2012 cho biết thế hệ tàu ngầm lớp Tấn đã bắt đầu được Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đưa vào vận hành; việc chưa hoàn thành phát triển thế hệ tàu ngầm JL-2 đã ngăn cản Trung Quốc hoàn thành kế hoạch đánh chặn tên lửa trên biển lâu nay của nước này.[1] Mặc dù vậy Bắc Kinh tiếp tục đầu tư nguồn lực cho chương trình, điều này được thể hiện bằng việc xây dựng đường hầm trên đảo Hải Nam mà nhiều nhà quan sát tin là để bố trí hệ thống SSBN (tàu ngầm được trang bị tên lửa đạn đạo) mới nhằm do thám vùng nước sâu trong khu vực tranh chấp ở Biển Đông. (Strategic Security Blog, 24/04/2008). Ngay khi những chi tiết kỹ thuật của tàu JL-2 được hoàn tất, Trung Quốc sẽ sở hữu tên lửa đánh chặn từ tàu ngầm- loại có khả năng bắn rơi tên lửa hạt nhân từ các tàu ngầm được trang bị tên lửa (SSBNs) của Hải quân Mỹ.
    Trung Quốc tìm kiếm khả năng đánh chặn vũ khí hạt nhân từ biển
    Trong khi các tàu ngầm của Mỹ và Liên Xô được sử dụng từ những năm 1960 và 1970 đã tạo ra những tiến bộ lớn trong việc phát triển vũ khí hạt nhân đánh chặn dưới nước, cuộc Cách mạng Văn hóa (ở Trung Quốc) đã nhằm vào các kỹ sư được đào tạo từ nước ngoài như Huang Xuhua, nhà thiết kế tàu ngầm hàng đầu. Tại thời điểm đó, việc bảo vệ thành tựu khoa học, công nghệ của Trung Quốc đòi hỏi phải có sự can thiệp cá nhân của những lãnh đạo cấp cao. Thêm vào đó là những cuộc đấu đá cá nhân, thời kỳ này đầy rẫy những tai họa về hệ thống và kỹ thuật: “nhìn chung, cuộc Cách mạng Văn hóa đã tác động tai hại đối với sự phát triển của lực lượng tàu ngầm Trung Quốc”.[2] Vì lý do chính trị nội bộ, Trung Quốc đã phải vật lộn trong khoảng thời gian mà tàu ngầm hạt nhân của Mỹ và Nga đạt được nhiều tiến bộ nhất trong việc phát triển hệ thống đánh chặn vũ khí hạt nhân. Sau khi Cách mạng Văn hóa kết thúc, Hải quân Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLAN) đã phải làm việc bù cho khoảng thời gian đã mất và cuối cùng đã tiến một bước dài vào giữa và cuối những năm 1970 - triển khai tàu ngầm hạt nhân tấn công đầu tiên (SSN), loại 091 lớp Hán (Han-class) năm 1974. Trong những thập niên sau đó, Trung Quốc theo đuổi công nghệ của Liên Xô và Pháp để cải thiện một cách nhanh chóng khả năng của lực lượng tàu ngầm nước này. Họ mua linh kiện (các thiết bị định vị dưới nước - French DUUX), bản thiết kế tàu ngầm (căn cứ thử tàu ngầm loại 301 Golf SSG vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay và các tàu ngầm loại Romeo SS cũng vẫn đang hoạt động), và toàn bộ tàu ngầm (ví dụ: hàng chục tàu ngầm loại Kilo, mỗi loại đều có tập hợp vũ khí riêng). Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy Trung Quốc theo đuổi công nghệ nước ngoài thậm chí ngay khi chính quyền không sẵn sàng hỗ trợ; do đó cùng với việc hợp tác và theo đuổi công khai, Bắc Kinh có vẻ như đã sử dụng chiến dịch bí mật sưu tầm dài hạn để hỗ trợ cho việc hiện đại hóa và phát triển đội tàu ngầm của nước này. Tuy nhiên, chương trình vũ khí đánh chặn tên lửa từ biển tiến bộ với tốc độ quá chậm chạp, dẫn tới sự ra đời tàu ngầm loại Hạ (Xia-class) SSBN, loại tàu ngầm mà Bắc kinh chỉ triển khai trong các vùng nước ven bờ. Năm 1982, Hải quân Trung Quốc cũng thử nghiệm thành công loại JL-1, loại tàu ngầm phóng tên lửa đầu tiên của nước này, tại căn cứ thử tàu ngầm loại Golf SLBM của hạm đội Bắc Hải, loại Vạn lý trường thành 200, loại mà truyền thông đại chúng Trung Quốc gần đây đã ca ngợi là “quân tiên phong” của các vụ phóng thử tên lửa SLBM (Science & Technology Daily, 23/01/2011). Tàu ngầm lớp Hạ có thể mang theo 12 tên lửa đạn đạo CSS-NX-3 (JL-1) SLBMs- mỗi đầu đạn có phạm vi bắn tương đối ngắn, khoảng 1600km (hơn 1000 dặm) - nhưng tàu ngầm lớp Hạ chưa bao giờ tiến hành tuần tra răn đe và coi như chưa được triển khai[3] . Tuy nhiên, các vấn đề liên quan đến nơi thử tàu và vũ khí vẫn tồn tại. Năm 2003, ngư dân Trung Quốc đã phát hiện một tàu ngầm lớp Minh (Ming-class) hỏng trôi dạt trên mặt biển. Sau khi cánh cửa của tàu được mở ra, ngư dân đã tìm thấy tất cả 70 thủy thủ đoàn chết ngạt bên trong. (Wen Hui Bao, 7/5/2003). Trong khi tai nạn của tàu ngầm Minh 361 và tất cả thủy thủ đoàn đã chứng minh sự ngoại lệ và không có quy luật đối với lực lượng tàu ngầm Trung Quốc trong thế kỷ 21, những vấn đề quan trọng vẫn chưa được giải quyết. Quan trọng nhất là PLAN đã làm tốt đối với bản thân tàu ngầm lớp Tấn, nhưng một tàu ngầm chỉ có ý nghĩa khi nó có thể tuần tra một cách lặng lẽ ở vùng nước sâu mang theo 12 tên lửa JL-2 SLBMs, với tầm bắn ước tính ít nhất khoảng 7200km và được hỗ trợ về thiết kế để đánh bại hệ thống tên lửa của đối phương[4]. Theo báo cáo 2010 của Bộ Quốc phòng về diễn biến quân sự Trung Quốc năm 2010, “Thế hệ đầu của tàu ngầm lớp Tấn (Loại 094) SSBN đã sẵn sàng, nhưng loại JL-2 SLBM đã gặp trục trặc, bị hỏng một số chi tiết trong cuối quá trình thử nghiệm.” Theo kết quả của báo cáo 2010 thì “ngày tàu lớp Tấn SSBN/JL-2 SLBM phối hợp hoạt động vẫn chưa xác định”[5]. Trong một đánh giá lạc quan hơn, báo cáo năm 2012 chỉ ra rằng, dù “đã nhiều lần trì hoãn”, chương trình JL-2 vẫn có khả năng khởi động trong vòng hai năm tới.” Bản báo cáo lưu ý, khi được triển khai, “loại tàu lớp Tấn SSBN và JL-2 sẽ khiến cho khả năng hạt nhân dưới biển của Hải quân Trung Quốc lần đầu tiên trở nên đáng tin cậy”[6].
    Tình trạng hiện tại của tàu ngầm lớp Tấn SSBN và JL-SLBM

    Theo sách trắng quốc phòng của Trung Quốc năm 2010, PLAN đang tăng cường các khả năng đánh chặn và đánh trả chiến lược của nước này, một ví dụ điển hình là sự kết hợp của loại tàu loại 094 SSBN và JL-2 SLBM[7]. Thật vậy, loại 094 là một cải tiến lớn so với tàu ngầm lớp Hạ đời đầu của Trung Quốc, dù bản báo cáo của Cục tình báo Hải quân chỉ ra rằng loại này hơi ầm hơn loại tàu Delta III SSBNs cũ hơn của Nga (Strategic Security Blog, 21/11/2009). Có lẽ một phần là do kinh nghiệm thất bại đối với loại tàu lớp Hạ, Trung Quốc dường như đặt mục tiêu đóng đủ tàu loại 094 SSBN để tạo điều kiện cho PLAN tiến hành các hoạt động tuần tra ngăn chặn nếu cần. Cơ quan tình báo Hải quân Mỹ (ONI) đánh giá Trung Quốc sẽ xây dựng một “hạm đội 5 tàu ngầm loại 094 SSBN… để đáp ứng khả năng hiện diện trên biển nhiều hơn trong thời gian tới.”[8]. Nhiều xuất bản của Trung Quốc, thường trích dẫn sản phẩm của ONI và thêm vào một số chi tiết, cho thấy lực lượng tàu SSBN tương đối nhỏ của Anh và Pháp có thể là những mô hình cho Trung Quốc[9]. Căn cứ vào các bức ảnh trên internet và hình ảnh thương mại qua vệ tinh mô tả tàu ngầm lớp Tấn SSBN tại căn cứ hải quân Xiaopingdao và Jianggezhuang, xưởng đóng tàu Huludao cũng như một công trình tàu ngầm xây dựng gần đây ở cảng Yalong gần Tam Á trên đảo Hải Nam (Strategic Security Blog, 2/6/2011), rõ ràng nhiều thân tàu đã được hạ thủy. Hình ảnh các công trình trên đảo Hải Nam cho thấy một số dấu vết về các kế hoạch gia cố tàu SSBN của PLAN. Thật vậy, hình ảnh của tàu lớp Tấn tại vịnh Yalong - đặc biệt kích thước của chúng và các công trình hỗ trợ trong đó -cho thấy công trình này có thể là căn cứ quan trọng cho lực lượng tàu ngầm SSBN của Trung Quốc trong tương lai.
    Những diễn tiến trong tương lai
    Khi những tiến bộ trong khả năng đánh chặn trên biển của Trung Quốc tiếp tục, một loạt các câu hỏi sẽ được đặt ra. Thứ nhất, khi tàu loại SSBN và SLBM cuối cùng được triển khai, việc kết hợp giữa tàu ngầm loại 094 và JL-2 sẽ thể hiện một bước tiến lớn đáp ứng nhu cầu vũ khí đánh chặn trên biển của Trung Quốc để bổ sung cho các tên lửa chiến lược trên đất liền, nhưng đây chưa thể là phần cuối của câu chuyện. Thật vậy, tàu lớp Tấn cuối cùng có thể đóng vai trò như một bước phát triển, và không phải là cái đích cuối cùng trong kế hoạch tên lửa đánh chặn vũ khí hạt nhân trên biển lâu dài của Trung Quốc. Trung Quốc chưa tiết lộ kế hoạch của nước này, nhưng truyền thông Đài Loan cho hay Bắc Kinh cuối cùng có thể phát triển và triển khai kết hợp giữa tàu ngầm SSBN và SLBM: loại 096 SSBN và JL-3 SLBM (Taipei Times, 23/05/2011). Một vấn đề nữa liên quan đến vai trò của thế hệ Quân đoàn Pháo binh số 2 và PLAN. Mặc dù Quân đoàn Pháo binh số 2 đã từ lâu chiếm vị trí quan trọng như một “lực lượng đánh chặn chiến lược trọng yếu”, vai trò của nó có thể thay đổi cùng với sự tiến bộ của hệ thống đánh chặn tên lửa của PLAN[10]. Nhưng lực lượng tên lửa trên đất liền của Thế hệ Quân đoàn Pháo binh Số hai khiến cho lãnh đạo Trung Quốc thể hiện vai trò rõ ràng hơn trong việc kiểm soát. Bản chất của việc đánh chặn bằng tàu ngầm là tạo ra sự tách biệt giữa lãnh đạo đất nước và các chiến binh: người được triển khai trong đội tàu tuần tra lớp Tấn trong tương lai sẽ được độc lập và không bị định vị trong khoảng thời gian dài do khả năng tồn tại một cách bí mật là một lợi thế chính của SSBNs. Trong môi trường chính trị hiện nay việc các lãnh đạo dân sự không thể cập nhật một cách thường xuyên và kiểm soát, hoạt động của SSBN vẫn có thể đảm bảo an toàn cho họ nếu Bắc Kinh duy trì tuần tra ngăn chặn thường xuyên. Sự kết hợp giữa kinh nghiệm sử dụng vũ khí hạt nhân và việc tăng cường triển khai các lực lượng cơ động cho thấy rằng Thế hệ Quân đoàn Pháo binh số hai vẫn là lực lượng đánh chặn chiến lược ưu việt . Một vấn đề liên quan nữa là quan hệ giữa SAF (Quân đoàn Pháo binh số 2)và PLAN có thể tiến triển ra sao sau khi việc kết hợp giữa tàu lớp Tấn và JL-2 đạt tới khả năng vận hành bước đầu và trở thành một bộ phận của toàn bộ lực lượng hạt nhân của Trung Quốc. Những xuất bản quân sự của Trung Quốc nói vai trò của Quân đoàn Pháo binh số 2 trong các hệ thống đánh chặn và đáp trả cho thấy rằng các vụ tấn công của tên lửa hạt nhân SAF có thể được tiến hành như một “chiến dịch đánh trả hạt nhân độc lập” (duli he fanji zhanyi) hay một phần quan trọng của một “chiến dịch đánh trả chung” (lianhe he fanji zhanyi)[11]. “Chiến dịch đánh trả chung” dường như bao hàm nhiệm vụ của PLAN và Quân đoàn Pháo binh số 2, cùng chuẩn bị trong thời bình để phối hợp đánh chặn và tấn công trong thời chiến. Một giải pháp có thể để phối hợp và tránh xung đột ở cấp Bộ tổng tham mưu (GSD) hay Quân ủy Trung ương (CMC). Vẫn còn một câu hỏi nữa liên quan đến vũ khí của các SSBN (tàu ngầm được trang bị tên lửa) của Trung Quốc. Một khả năng nữa là Trung Quốc có thể theo chân của Mỹ cải tạo một số tàu SSBN thành SSGN (Tàu ngầm hạt nhân có tên lửa hành trình) để chở các tên lửa tấn công đất liền từ biển, bằng cách triển khai các khả năng tấn công chiến lược thông thường của mình. Ví dụ, nguyên Tham mưu không quân Mỹ vùng ngoài Mark Stokes cho rằng Trung Quốc có thể tăng sự linh hoạt trong khả năng đánh chặn của mình bằng cách trang bị cho một hay nhiều các tàu ngầm SSBN của nước này các loại vũ khí thông thường- có thể là tên lửa chống tàu (ASBMs) hay tên lửa tấn công mặt đất (LACMs) (Defense News, 06/6) Bản thân tàu ngầm lớp Hạ cũng đặt ra một số câu hỏi chưa có đáp án như: dường như Trung Quốc chưa hoàn toàn từ bỏ tàu SSBN thế hệ đầu tiên của nước này. Thật vậy, Hans Kristensen cho rằng, tàu lớp Hạ cho đến nay đã trải qua nhiều năm thí nghiệm ở Căn cứ Hải quân Jianggezhuang của PLAN. Điều này thể hiện sự đầu tư thực tế, nhưng tại điểm này mục đích sử dụng tàu ngầm này của hải quân Trung Quốc vẫn chưa rõ ràng (Strategic Security Blog, 3/8/2008). Có lẽ câu hỏi quan trọng nhất lúc này là Trung Quốc sẽ sử dụng tàu loại 094 SSBN như thế nào khi tàu loại JL-2 đang được hoàn thành ở giai đoạn cuối. Như Hans Kristensen đã nêu, “Chưa rõ, Trung Quốc định sử dụng tàu ngầm lớp Tấn như thế nào khi các tàu này được đưa vào sử dụng." Các khu vực tuần tra tiềm năng (một chiến lược pháo đài hoặc xa hơn nữa ở Thái Bình Dương), số lượng tàu thuyền được triển khai đồng thời, và tải vũ khí vẫn còn là những ẩn số quan trọng. Câu hỏi lớn nhất có lẽ là liệu PLAN có tiến hành tuần tra răn đe thường xuyên với vũ khí hạt nhân trong thời bình. Những người hoài nghi cho rằng tàu lớp Tấn sẽ "không được triển khai cùng với vũ khí hạt nhân thường xuyên như các tàu ngầm tên lửa của Mỹ" (Blog Strategic Security, 02/06/2011). Thay vào đó, Trung Quốc có thể "sử dụng chúng trong thời gian khủng hoảng có nguy cơ bùng phát." Tuy nhiên, các nhà quan sát khác cho rằng nhiều khả năng Trung Quốc sẽ triển khai các tàu ngầm SSBN mới với các tên lửa đạn đạo (SLBMs) để tiến hành tuần tra răn đe thường xuyên[12]. Nhìn chung, sau nhiều thập niên tìm kiếm khả năng đánh chặn hạt nhân hiện đại trên biển, cuối cùng kế hoạch của Trung Quốc cũng đã được hình thành. Mặc dù một số câu hỏi lớn vẫn chưa có đáp án, sự tiến bộ dần dần của PLAN hiện tại khiến cho khu vực và thế giới thấy rằng Bắc Kinh sẽ sớm có khả năng răn đe hạt nhân trên biển như là một phần của lực lượng tên lửa hạt nhân trên đất liền của SAF (Quân đoàn Pháo binh Số hai). Khi Trung Quốc giải quyết xong các vấn đề kỹ thuật đối với JL-2, PLAN sẽ có khả năng triển khai ngay lập tức gần như thường xuyên sự hiện diện vũ khí hạt nhân đánh chặn trên biển, tùy theo yêu cầu của Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) và các nhà lãnh đạo PLA. Việc triển khai khả năng này có tác dụng làm tăng vị thế chiến lược của Trung Quốc, góp phần đáp ứng mong muốn có một lực lượng hạt nhân "hiệu quả" để hỗ trợ một cách đáng tin cậy cho việc đánh chặn lần hai của nước này, nhưng nó cũng có thể làm cho các động thái chiến lược trong khu vực vốn đã phức tạp trở nên phức tạp hơn[13].
    Michael S. Chase là phó giáo sư và Giám đốc của Nhóm Nghiên cứu Mahan tại Học viện Hải chiến Newport, Rhode Island.
    Benjamin S. Purser, III nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Khoa Chính trị học, Đại học Colorado-Boulder. Trước đây, ông từng là sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ. Ông tốt nghiệp Học viện Hải chiến, Trung tâm Hopkins-Nanjing và Đại học Carleton College.
    Các quan điểm được trình bày trong bài viết này là của các tác giả và không nhất thiết thể hiện quan điểm của Học viện Hải chiến, Bộ Quốc phòng.
    Theo Jamestown Foundation



    Văn Cường (gt)

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •