CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 64 của 64 Đầu tiênĐầu tiên ... 1454626364
Kết quả 631 đến 639 của 639

Chủ đề: Cựu lão làng tôi

  1. #631
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,154
    Thích
    328
    Đã được thích 1,863 lần trong 994 bài viết
    NGƯỢC CHIỀU

    Người ta tất bật ngược xuôi
    Còn tôi tấp tểnh đi chơi thôi mà
    Đi thăm mấy lão bạn già
    Cùng nhau tán dóc cũng là đón Xuân!







    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  2. #632
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,154
    Thích
    328
    Đã được thích 1,863 lần trong 994 bài viết
    MÀN PHÁO HOA MỪNG CHIẾN THẮNG ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ CỦA BỘ ĐỘI XE TĂNG

    Tối 30.4.1975, trời Sài Gòn bỗng được chiếu sáng rực rỡ bởi màn pháo sáng liên tục bắn lên từ phía cảng Khánh Hội. Nhiều người ngỡ ngàng: Sao Quân giải phóng chuẩn bị nhanh thế? Mới giải phóng buổi trưa mà giờ đã có pháo hoa chào mừng. Nhưng không phải vậy! Đó là một màn pháo hoa ngoài kế hoạch. Và có một bí mật không phải ai cũng biết: Tác giả màn pháo hoa ấy chính là cán bộ, chiến sĩ Đại đội xe tăng 4 của Lữ đoàn 203 - những người đã húc cổng, cắm cờ tại Dinh Độc Lập buổi trưa hôm đó.

    14 giờ ngày 30 tháng Tư năm 1975, sau khi tình hình ở Dinh Độc Lập đã trở lại bình thường, Đại đội xe tăng 4 được giao nhiệm vụ chiếm giữ cảng Sài Gòn và kiểm soát tình hình đi lại trên sông. Ngay sau khi nhận lệnh, đại đội trưởng Bùi Quang Thận lập tức tập hợp đội hình, phổ biến nhiệm vụ và tổ chức cho đại đội cơ động về phía cảng.
    Lúc này quảng trường trước cửa Dinh Độc Lập và các con đường xung quanh đều đông nghẹt người. Có thể nói gần như tất cả nam, phụ, lão, ấu của thành phố đã đổ về đây để chứng kiến giờ phút trọng đại của dân tộc.
    Từ trong sân dinh đi ra, những chiếc xe tăng còn lấm đỏ bụi đường phải bò từng tí một vì bà con cứ xúm xít xung quanh vẫy chào, chụp ảnh, tặng hoa... Phải mất một lúc lâu chúng mới qua khỏi đám đông và nhanh chóng tăng tốc độ.


    Xe tăng Quân Giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc Lập trưa 30.04.1975. Ảnh tư liệu



    Chừng hai mươi phút sau, toàn đại đội đã đến con đường trước cổng cảng. Ngay sau khi vào cảng, đại đội trưởng Thận cho tất cả các xe tiến sát ra mép cầu cảng. Những khẩu pháo 100 mm hướng xuống mặt sông đầy đe dọa. Trên cầu cảng rải rác vài chiếc xe du lịch các màu đỗ ngổn ngang, cửa và nắp cốp xe vẫn mở toang hoác.
    Chắc là của những người giàu hay quan chức di tản bỏ lại. Dưới sông chỉ có một tàu vận tải loại nhỏ đang neo tại cầu tàu. Các chiến sĩ yêu cầu những người còn đang ở trong cảng ra ngoài hết rồi đóng cổng lại. Chỉ mất khoảng mười phút, Đại đội xe tăng 4 đã hoàn toàn làm chủ cảng Sài Gòn.
    Ít phút sau, hai chiếc tàu kiểu sà lan tự hành chạy từ phía hạ lưu lên. Các chiến sĩ cảnh giới vẫy nhẹ tay, hai chiếc tàu đã lập tức bẻ lái cặp sát vào cầu cảng. Những người chủ tàu lên bờ trình báo: "Tàu của họ là tàu dân sự nhưng bị chính quyền Sài Gòn trưng dụng đi phục vụ chuyển quân.
    Tuy nhiên, trưa nay lính tráng đã bỏ chạy hết nên bây giờ họ đang trên đường về nhà". Khi hỏi: "Tại sao trên tàu nhiều súng như vậy?" họ cho biết: "Lính Việt Nam cộng hòa khi tan rã đã bỏ lại tất cả súng ống, đạn dược và cả quần áo nữa".


    Xe tăng Lữ đoàn 203 chiếm Dinh Độc Lập trưa 30.04.1975. Ảnh tư liệu



    Sau khi kiểm tra các loại giấy tờ thấy đúng như họ nói, các chiến sĩ đồng ý sẽ cho họ về nhà nhưng yêu cầu họ phải đưa tất cả các loại vũ khí, trang bị quân sự dưới tàu lên bờ.

    Đợi một lúc nữa không có tàu nào qua lại, đại đội trưởng Thận phân công các lái xe ở lại cảnh giới, còn lại đi nấu cơm và thu dọn khu vực kho. Cả một dãy mười cái kho rộng mênh mông cửa mở toang. Hàng hóa thì đủ thứ thượng vàng, hạ cám, có những kiện hàng to như cả gian nhà, nhỏ thì cái bát, đôi đũa đều có nhưng có lẽ nhiều nhất là vải vóc.

    Màn pháo sáng để đời

    Cơm nước xong, cả đại đội kéo nhau ra sát mép cầu cảng ngồi. Ở đó có khoảng chục súc gỗ lớn vứt ngổn ngang. Gần hai chục anh em kẻ đứng, người ngồi trên mấy súc gỗ điểm lại tên những người ngã xuống suốt chặng đường từ ngoài Bắc vào tới đây, nhắc chuyện quê hương và nhớ những người thân ở quê đang ngóng đợi. Ai cũng nghĩ chỉ ít ngày nữa là mình sẽ được về quê.
    Chiều ngày hoà bình đầu tiên trên bến cảng thật bình yên. Dưới sông, những dề lục bình trôi lững lờ. Gió thổi mát rượi xua tan hết những mệt nhọc của hơn một tháng trời ròng rã chiến đấu từ Huế vào đến Sài Gòn. Những người lính ngồi hóng gió thật thảnh thơi như những nông dân sau một buổi cày. Cứ như một giấc mơ vậy- nhiều người bảo thế!
    Chiều xuống dần. Mặt trời đã lặn hẳn. Hoàng hôn Sài Gòn tím thẫm trông thật lạ. Một cậu lính trẻ trông khá thư sinh, láu lỉnh bỗng đề xuất với đại đội trưởng xin bắn pháo sáng mừng chiến thắng. Đại đội trưởng Bùi Quang Thận ngạc nhiên khi biết cậu ta đã thu gom được những 3 thùng pháo sáng. Mỗi thùng có 40 quả, vị chi là có những 120 quả.
    Nhìn chung, đồ quân dụng của quân đội Mỹ đều thuộc loại rất tốt và bền, trong đó có pháo sáng. Những quả pháo sáng có vỏ là một ống nhôm gần bằng cổ chân, một đầu là hạt nổ, một đầu là nắp đậy được dán kín bởi băng keo.
    Với kết cấu như vậy dù có ngâm nước cả tháng nó vẫn không hề hấn gì. Khi sử dụng chỉ việc bóc băng keo ra, lồng cái nắp vào đáy ống và dập mạnh xuống đất.
    Thế là một quả pháo sáng sẽ vọt lên. Nhờ có dù nên pháo sáng sẽ lơ lửng trên không chừng vài ba phút, soi tỏ một diện tích khá rộng. Sau khi bắn xong cái vỏ có thể làm thành cái ống điếu cày rất tuyệt, không sợ dập vỡ bao giờ.
    Nghe vậy, Thận thích chí cười: "Bắn đi! Mấy chục năm chiến tranh giờ mới có hòa bình. Phải chào mừng mới đúng chứ!".
    Thế là cả đại đội ngồi quây lại thành một vòng tròn. Lúc đầu họ đập đồng loạt. Khi gần hai chục cánh tay cùng dập mạnh xuống chỉ nghe thấy những tiếng "vút", "vút" vang lên rồi gần hai chục quả pháo sáng nở bừng trên bầu trời tím thẫm.
    Một góc Sài Gòn bừng sáng, mặt nước sông lung linh phản chiếu lên càng làm cho chùm ánh sáng thêm huyền ảo, kỳ bí. Cả đại đội sung sướng ngước nhìn và reo hò đến vỡ họng. Ngoài phố phía đối diện với cổng cảng cũng vang lên tiếng hò reo hưởng ứng của nhân dân và những người chứng kiến.
    Tiếp đó, họ bắn theo nhóm rồi bắn lần lượt nối tiếp nhau. Trên bầu trời đêm đen kịt những quả pháo sáng lần lượt bừng nở, quả này vừa tắt đã có quả khác bắn lên. Cả một góc Sài Gòn bừng sáng, những gương mặt trẻ tươi rói cùng reo hò đến khản cổ. Đó đây một vài quả pháo sáng được bắn lên như phụ họa cùng bữa tiệc pháo sáng nơi đây.
    Buổi bắn pháo sáng của Đại đội xe tăng 4 kéo dài đến gần ba mươi phút. Bầu trời khu vực cảng Sài Gòn liên tục rực sáng và ngập trong tiếng reo hò của mấy chục lồng ngực trẻ và của bà con xung quanh.

    Đã hơn 40 năm trôi qua, đã được chứng kiến hàng chục cuộc bắn pháo hoa trong những dịp lễ, Tết hay kỷ niệm gì đó song với cán bộ- chiến sĩ Đại đội xe tăng 4 thì màn pháo sáng mừng hòa bình thống nhất trên cầu cảng Sài Gòn đêm 30.4.1975 vẫn là màn pháo hoa đẹp nhất trong đời.



    CB- CS Đại đội 4 thăm lại Cảng Sài Gòn ngày 30.4.2015

    Nguồn:http://soha.vn/man-phao-hoa-mung-chien-thang-doc-nhat-vo-nhi-dem-3041975-cua-bo-doi-xe-tang-20170127162416694.htm

    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  3. Có 2 người thích bài viết này


  4. #633
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,154
    Thích
    328
    Đã được thích 1,863 lần trong 994 bài viết
    "CÁC CẬU ẤY NGỦ ĐƯỢC THÌ TỚ CŨNG NGỦ ĐƯỢC"

    Bộ đội xe tăng huấn luyện vượt chướng ngại nước. Ảnh: QĐND.

    Đó là câu khẳng định của Thiếu tướng Lê Chưởng khi ông yêu cầu cho mình ngủ trong xe tăng trong một dịp ghé qua Đại đội xe tăng 3 của Mặt trận B4. Và sự giản dị, dễ gần của ông đã để lại trong lòng những người lính trẻ những kỷ niệm vô cùng đẹp đẽ về tình cảm giữa người chỉ huy với bộ đội. Thật đúng là:
    "Tướng sĩ một lòng phụ tử,Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào"
    (Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi)

    Ngày 27.01.1973, Hiệp định Pa-ri được ký kết. Vì vậy, Tết Quý Sửu - 1973 là cái Tết hòa bình đầu tiên đối với dân tộc Việt Nam sau mấy chục năm chiến tranh khốc liệt. Tình hình chung là như vậy, song ở nơi này nơi khác tiếng súng vẫn vang lên trong các cuộc tranh chấp vùng ảnh hưởng. Và đối với những người lính, sự cảnh giác là không bao giờ thừa.

    Trận địa trực chiến giữa địa bàn chiến lược

    Đang vui mừng, phấn khởi chuẩn bị đón cái Tết hòa bình đầu tiên sau mấy chục năm bom đạn, loạn ly với rất nhiều dự định thì Đại đội xe tăng 3, Tiểu đoàn 408, Mặt trận B4 nhận lệnh: "Điều một trung đội ra trực chiến tại sân bay A Lưới! Trung đội còn lại có nhiệm vụ bảo vệ sân bay A Sầu!".Ban chỉ huy đại đội quyết định cử Trung đội xe tăng 2 do thiếu úy Nguyễn Văn Phùng chỉ huy đi làm nhiệm vụ ở A Lưới. Còn Trung đội xe tăng 1 do chuẩn úy Nguyễn Quang Hòa chỉ huy có nhiệm vụ ở lại hậu cứ và trực chiến tại A Sầu.
    Nhiệm vụ của Trung đội xe tăng 2 là thực hiện chế độ sẵn sàng chiến đấu 24/24 giờ, sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường không ra khu vực sân bay A Lưới.Thế là kế hoạch đón Tết, mừng Xuân đành gác lại. Một tổ trinh sát do đại đội trưởng Lê Minh Đô dẫn đầu đi ngay ra đó xác định trận địa. Còn lại, tất cả tập trung vào công tác chuẩn bị để lên đường trong thời gian ngắn nhất.
    Sáng 28 Tết năm đó, trung đội bắt đầu xuất phát. Do quãng đường từ hậu cứ ra đến vị trí trực chiến cũng không xa lắm nên chỉ khoảng gần trưa là đến nơi. Vị trí các xe đã được tổ trinh sát xác định sắn nên xe nào xe nấy nhanh chóng vào vị trí.Vì ở đây la liệt những hố bom với hố bom nên bộ đội đã tận dụng chúng làm công sự cho xe tăng. Nhờ vậy, chỉ chưa đày một ngày sau khi có mặt, hệ thống công sự cho xe tăng đã hòm hòm. Một cái chòi gác cao lêu nghêu được dựng lên để quan sát, cảnh giới từ xa. Mọi công việc phục vụ cho nhiệm vụ trực chiến cơ bản đã đâu vào đấy.
    Trải dài hàng chục km, chỗ rộng nhất hơn ba km thung lũng A Lưới là một địa bàn có vị trí quan trọng tầm chiến lược nên đã bị hai bên giành đi, giật lại khá nhiều lần. Lần gần đây nhất là năm 1969, Sư đoàn Kỵ binh bay của Mỹ đã đổ bộ lên đây.


    Một đơn vị xe tăng thuộc Trung đoàn 202 hiệp đồng cùng bộ binh tấn công vào sân bay Quảng Trị, tháng 4/1972.

    Vì vậy, việc cấp trên phải đề phòng một cuộc đổ bộ đường không tương tự của phía Việt Nam Cộng hòa cũng là điều dễ hiểu. Và đó cũng chính là lý do mà Trung đội xe tăng 2 có mặt tại đây vào thời điểm này.
    Cũng vì Tết nhất đến nơi nên ngay sau khi hoàn thành hệ thống công sự chiến đấu cả trung đội đã bắt tay vào xây dựng nhà "C bộ". Với một số vật liệu đã chuẩn bị sẵn từ "nhà" nên công việc cũng khá nhanh.
    Cho đến chiều 30 Tết thì nhà "C bộ" cũng tạm gọi là hoàn thành. Mặc dù còn đơn giản song cũng đủ chỗ cho các cán bộ đại đội ngủ nghỉ, làm việc và tiếp khách. Ấy là lo xa như vậy chứ bộ đội vừa làm vừa kháo nhau: "Ở đây thì làm quái gì có khách!".
    Mấy ngày Tết trôi qua trong sự thấp thỏm và cảnh giác cao độ. Song thật may là không có chuyện gì xảy ra. Có lẽ phía bên kia cũng đã cảm thấy đuối sức, hoặc giả từ bài học của Sư đoàn Kỵ binh bay của Mỹ mà họ không muốn sa vào vũng lầy này.Nhịp sống của phân đội trực chiến dần trở lại bình thường. Trung đội trưởng Nguyễn Văn Phùng đã ngắm được vài vạt đất có thể trồng rau để phân cho các xe.Đúng lúc ấy thì phân đội có khách! Thật không ai ngờ được.

    Các cậu ấy ngủ được thì tớ cũng ngủ được!

    Chiều Mùng Hai hay Mùng Ba Tết gì đó, khi vầng dương chuẩn bị khuất sau dãy A Bia phía tây, các chiến sĩ đã qua một ngày trực chiến căng thẳng đang rủ nhau đi cuốc đất tăng gia thì họ phát hiện trên đường tuyến gần trận địa trực chiến của mình một chiếc com-măng-ca đang bị hỏng.Một lúc sau, từ xe đó có hai người dò dẫm đi vào trận địa của họ.
    Những người lính trẻ hết sức ngạc nhiên khi thấy giữa khung cảnh hoang tàn của chiến địa bỗng một ông già đầu tóc bạc trắng, dáng hiền từ trong bộ quần áo lụa màu mỡ gà, chân lại đi đôi guốc mộc giống như một ông tiên xuất hiện trước mắt họ.
    Khi thấy người cùng đi giới thiệu đây là Thiếu tướng Lê Chưởng, khi đó đang làm việc tại Ban thống nhất Trung ương, xe ông đi công tác qua đây bị hỏng, muốn nghỉ nhờ một đêm để lái xe đi lấy phụ tùng, các chiến sĩ vội báo cáo ngay lên Ban chỉ huy đại đội.
    Thực ra, chỉ những chàng lính trẻ mới không biết ông là ai thôi chứ các đồng chí trong Ban chỉ huy đại đội đều đã biết ông hoặc nghe đến tên vị chính ủy lừng danh của Quân khu Trị Thiên rồi. Vì vậy, khi được nghe báo cáo Đại đội trưởng Lê Minh Đô vội vàng sửa sang quân phục sang đón tiếp ông.
    Có lẽ tưởng ông đến kiểm tra nên đại đội trưởng Đô vội tập trung toàn đơn vị lại. Sau khi nghe chỉ huy đơn vị báo cáo, ông cho bộ đội ngồi xuống và bản thân mình cũng ngồi xuống luôn một cành cây trước hàng quân.Trước hết, ông chúc Tết đơn vị, chúc toàn thể anh em mạnh khỏe, hoàn thành nhiệm vụ. Sau đó, ông bảo người cùng đi - chắc là trợ lý của ông đưa cho mình cái túi, trong đó là mấy gói kẹo Hải Châu và 5 bao thuốc lá Thủ Đô bao bạc trao cho Đại trưởng Đô.Thì ra đấy là quà ông tặng anh em ăn Tết. Ông nói giản dị: "Các đồng chí thông cảm! Tôi còn phải đi nhiều nơi nữa nên các đồng chí dùng tạm thế này thôi". Lính tráng ngồi dưới mắt mũi cứ sáng như đèn ô tô: "Thế này là quá nhiều và quá sang với chúng em rồi!".
    Tiếp đó, ông thân mật hỏi han tên tuổi, quê quán, hoàn cảnh... từng người. Được cái một trung đội xe tăng cũng ít người nên câu chuyện vui vẻ lắm. Sau cùng, ông thông báo một số tình hình thời sự và dự báo tình hình của ta. Lúc này thì lính tráng cứ há hốc mồm mà nghe bởi sự uyên bác của ông.
    Trời sâm sẩm tối, buổi nói chuyện mới kết thúc. Đại đội trưởng Đô mời ông về bên nhà "C bộ" ăn cơm. Ông lắc đầu: "Cho tớ ăn chung với bộ đội! Còn để xem các cậu nuôi bộ đội thế nào chứ". Thế là bữa cơm lính được dọn ra. Ông vừa ăn ngon lành vừa pha trò làm bộ đội cười nghiêng ngả.
    Cơm xong, Đại đội trưởng Đô lại tha thiết mời ông về nhà "C bộ" nghỉ ngơi cho đàng hoàng. Ông gật đầu nhưng hỏi lại: "Thế bộ đội các cậu ngủ nghỉ thế nào?". Trung đội trưởng Phùng gãi đầu, gãi tai: "Báo cáo thủ trưởng! Một số anh em mắc võng trong lán, một số ngủ trong xe ạ!".Ông tỏ vẻ ngạc nhiên: "Trong xe cũng ngủ được à?". Phùng lại phải giải thích: "Đây là xe tăng bơi, lòng xe khá rộng nên ngủ trong đó được".
    Thật bất ngờ khi ông quay sang bảo đại đội trưởng Đô: "Đêm nay cho tớ ngủ trong xe tăng nhé!". Trung úy Đô sững người, lúng búng: "Báo cáo thủ trưởng! Trong xe mùi dầu mỡ hôi lắm, lại bẩn nữa... sợ thủ trưởng sẽ không ngủ được".Ông cười hiền từ, chỉ vào các chiến sĩ đang đứng xung quanh và nói: "Không sao cả! Các cậu ấy ngủ được thì tớ cũng ngủ được". Và thế là đêm hôm đó, một xe được dành cho ông và người trợ lý.
    Sáng hôm sau ông dậy sớm ăn bữa cơm sáng đạm bạc cùng anh em. Lúc này, xe đã sửa xong và ông tiếp tục lên đường. Cánh lính trẻ tiễn ông đầy lưu luyến. Ông hẹn: "Nếu có dịp, khi quay ra tớ sẽ lại ghé thăm và ngủ một đêm nữa trong xe tăng".
    Ông đi rồi, cánh lính trẻ còn bàn tán với nhau mãi. Họ không thể ngờ một vị tướng nổi tiếng của quân đội lại có tác phong giản dị và dễ gần đến thế!

    Thiếu tướng Lê Chưởng sinh năm 1914, quê xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông được thụ phong quân hàm Thiếu tướng năm 1959 và giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Quân đội nhân dân Việt Nam.Năm 1971, ông chuyển ngành sang là Thứ trưởng Bộ Giáo dục. Khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, ông sang công tác tại Ban Thống nhất trung ương. Thật tiếc là ông đã hy sinh tháng 10.1973 trên đường đi công tác.



    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  5. #634
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,154
    Thích
    328
    Đã được thích 1,863 lần trong 994 bài viết
    NHỚ ANH LÊ VĂN PHƯỢNG

    Mới đó mà anh- người Đại đội phó kỹ thuật, người anh cả của Đại đội xe tăng 4 anh hùng chúng tôi ra đi đã được 1 năm. Xin có vài lời mộc mạc thay nén tâm nhang thắp cho anh. Chúc anh yên nghỉ cõi vĩnh hằng, luôn phù hộ độ trì cho anh em, con cháu... được bình an, hạnh phúc!




    Ngày cuối xuân nhớ anh Lê Phượng
    Người đàn anh “xê” Bốn chúng tôi
    Anh đi đã một năm rồi
    Vợ đau, con khóc, bao người tiếc thương

    Nhớ ông anh dẫu là đại phó
    Nhưng hiền lành, chịu khó, chịu thương
    Hành quân qua những đêm trường
    Bao nhiêu hỏng hóc anh thường phải lo






    Có những lúc mệt phờ muốn gục
    Bỗng thấy anh nhẹ thúc vào vai:
    “Nghỉ đi một chút chú mày
    Để đấy anh lái đoạn này cho nhanh”

    Nhớ ông anh lòng ngay dạ thẳng
    Biết thế nào thì nói thế thôi
    Về hưu cắt tóc lần hồi
    Chẳng câu oán thán, không lời kêu ca...






    Thôi anh nhé- trùng xa cách biệt
    Anh hãy về cõi Niết Bàn kia
    Chúc anh yên nghỉ ngàn thu
    Độ cho con cháu cả nhà bình an!






    Ngày giỗ đầu anh- 19.02 ÂL

    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  6. Có 1 người thích bài viết này


  7. #635
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,154
    Thích
    328
    Đã được thích 1,863 lần trong 994 bài viết
    SUỐT ĐỜI TRI ÂN SỰ HY SINH CỦA ĐỒNG ĐỘI

    QĐND - Tháng 12-1971, khi mới 17 tuổi tôi đã lên đường nhập ngũ vào Binh chủng Tăng-Thiết giáp (TTG). Được chọn đi học lái xe tăng nhưng khóa học chưa hoàn thành đã phải kết thúc tháng 3-1972 để lên đường vào chiến trường. Sau một thời gian chiến đấu ở Quảng Trị, số phận đã đưa đẩy tôi được làm lính của Đại đội Xe tăng 4, Tiểu đoàn Xe tăng 408 thuộc Mặt trận B4 (sau này là Tiểu đoàn 4 thuộc Lữ đoàn Xe tăng 203, Quân đoàn 2).

    Trên chiếc xe tăng mang số hiệu 380, tôi đã cùng đồng đội đi suốt chiều dài đất nước và có mặt tại Dinh Độc Lập trưa 30-4-1975. Kết thúc chiến tranh, tôi được cử đi học sĩ quan rồi gắn bó với nhiệm vụ huấn luyện, đào tạo sĩ quan và chiến sĩ của Binh chủng TTG cho đến năm 2008 mới nghỉ hưu sau 37 năm phục vụ quân đội.
    Đã đi qua một đoạn cuộc chiến tranh vô cùng khốc liệt, chứng kiến bao đồng đội của mình ngã xuống giữa tuổi 20, được may mắn trở về dù không còn nguyên vẹn, tôi luôn canh cánh trong lòng một món nợ tinh thần đối với những người đồng đội của mình. Tôi luôn nghĩ rằng, chính nhờ có những hy sinh ấy mà mình được sống, trở về. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng như trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc sau này, sự hy sinh ấy thật lớn lao. Đơn cử như Đại đội 4 của tôi, tính từ khi vào chiến trường cho đến khi Đại đội trưởng Bùi Quang Thận cắm lá cờ chiến thắng lên nóc Dinh Độc Lập mới chỉ có 3 năm nhưng đã có 10 cán bộ, chiến sĩ nằm lại dọc đường chiến đấu. Đối với một đại đội xe tăng, quân số trên dưới 40 người thì đó là một tỷ lệ không hề nhỏ. Nhìn rộng ra, cả lữ đoàn, rồi toàn quân, toàn dân... đã có biết bao người hy sinh đổ máu mới có được đất nước thống nhất, độc lập hôm nay.


    Đại tá, nhà văn Nguyễn Khắc Nguyệt (thứ 2, bên trái) cùng đồng đội trong ngày gặp mặt.

    Rồi còn nữa, bao người chiến sĩ sau khi hoàn thành nhiệm vụ trở về với đời thường không nghề nghiệp, không tài sản, nhọc nhằn bới đất lật cỏ mưu sinh... Trong khi đó, có nhiều người, nhất là giới trẻ còn hiểu biết rất sơ sài về sự hy sinh, gian khổ mà những người lính đã phải chịu đựng, vượt qua. Những suy nghĩ đó, món nợ tinh thần đó thôi thúc tôi phải viết, phải kể cho hậu thế biết đồng đội tôi đã sống và chiến đấu như thế nào để không bao giờ lãng quên sự hy sinh của họ.
    Chính vì vậy, khi còn đang công tác tôi đã tranh thủ thời gian viết một số bài báo về con đường mà tôi và các đồng đội đã đi qua như: “Cây số cuối cùng”, “Màn pháo hoa đẹp nhất trong đời”... (Báo Quân đội nhân dân các năm 2003-2005). Đặc biệt, trong cuộc vận động viết "Ký ức mùa Xuân đại thắng" do Báo Quân đội nhân dân phát động năm 2005, bài viết “Lời xin lỗi không bao giờ kịp nói” của tôi đã được tặng giải B. Những thành công nho nhỏ đó đã động viên, khích lệ tôi vượt qua mặc cảm của một sĩ quan tham mưu-chỉ huy chưa từng được qua một lớp viết văn, viết báo nào để theo đuổi chí nguyện của mình.
    Năm 2007, tôi nhận giấy báo nghỉ hưu khi mới 54 tuổi. Mặc dù là thương binh song sức khỏe của tôi còn khá tốt. Trong thời gian tại ngũ, tôi cũng đã tham gia học đại học tại chức và có trong tay tấm bằng Đại học Kinh tế Quốc dân. Cũng đã có lời mời của anh em bè bạn về một công việc nào đó khi chính thức nghỉ hưu. Tuy nhiên, tôi từ chối và quyết định sẽ dành những năm tháng còn lại của đời mình để trả món nợ tinh thần trước các đồng đội đã hy sinh vì nước-trước hết là những đồng đội trong chính tập thể nhỏ bé, thân thương của mình-Đại đội Xe tăng 4.
    Vậy là tôi ngồi viết cuốn sách đầu tiên của đời mình, cuốn “Hành trình đến Dinh Độc Lập” với một tâm niệm hết sức giản dị mà tôi đã ghi ở lời tựa: “Cho đến giờ-hầu như mọi người dân Việt Nam đều biết về câu chuyện những chiếc xe tăng 843 và 390 của Đại đội 4 thuộc Lữ đoàn Xe tăng 203 đã húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập và Đại đội trưởng Bùi Quang Thận đã kéo lá cờ bách chiến bách thắng của dân tộc Việt Nam lên nóc Dinh trưa ngày 30-4-1975. Nhưng mấy ai biết được hành trình mà Đại đội 4 ấy đã đi qua từ lúc rời khỏi hậu phương miền Bắc vào Nam chiến đấu để đến được cái đích cuối cùng đầy vinh quang ấy. Hành trình đến ngày chiến thắng đó chẳng hề dễ dàng như có người đã từng suy nghĩ. Về không gian, nó trải dài hàng nghìn cây số, về thời gian là nghìn ngày có lẻ cùng với bao mất mát, hy sinh, anh hùng và hèn nhát, cao thượng và thấp hèn, vinh quang và cay đắng… Cuốn sách này của một chiến sĩ trong đại đội viết ra xin kể về hành trình đó, như một nén tâm nhang thắp cho những người đã khuất và cũng là món quà tặng cho những người đồng đội đã rời quân ngũ đang ngày đêm bươn chải với đời thường”.
    Sáu tháng sau, bản thảo hoàn thành. Thô ráp, trần trụi, mộc mạc... như lính kể chuyện lính nhưng nó đã được Nhà xuất bản QĐND chấp nhận và đưa vào phát hành năm 2008 (cũng cuốn này, sau được Nhà xuất bản Trẻ tái bản có bổ sung, sửa chữa ấn hành với tựa đề “Bút ký lính tăng-Hành trình đến Dinh Độc Lập”-năm 2015, 2016). Thành công đó làm tôi tự tin hơn về sự lựa chọn của mình. Biết quỹ thời gian của mình không phải là vô tận, tôi dồn sức tranh thủ viết. Những năm tiếp theo, tôi hoàn thành 4 tập bộ tiểu thuyết sử thi “Bão Thép” viết về Binh chủng TTG của mình. Tiếp đó là một số truyện ký và hàng trăm bài báo nhưng đều chung một chủ đề: Cuộc sống, chiến đấu, hy sinh của những người lính TTG như: “Tự truyện của mãnh hổ đường số Chín”, “Mũi lao thép”, “1 chọi 10-Trận đấu tăng bi tráng”... Một người bạn thân thấy vậy đã tặng tôi mấy câu thơ. Tôi thấy thích và thật sự cảm ơn anh: Cả đời làm bạn cùng cây súng/ Hưu rồi mới chập chững văn chương/ Trả món nợ tình-Bao đồng đội/ Vẫn còn nằm lại chốn sa trường!
    Những cuốn sách, những bài báo cùng với nhiều chuyến đi về lại chiến trường xưa để tri ân đồng đội, đồng chí, đồng bào... đã giúp tôi trả phần nào “món nợ tinh thần” trước sự hy sinh vô bờ bến của những đồng đội mình. Nhưng tôi biết rằng, dẫu có bỏ cả đời này, cả kiếp này đi chăng nữa cũng chẳng thể nào trả hết món nợ đó được. Chỉ biết cố gắng hết sức mình mà thôi!

    Đại tá NGUYỄN KHẮC NGUYỆT,
    nguyên chiến sĩ lái xe tăng số 380, Đại đội Xe tăng 4, Lữ đoàn 203

    Nguồn: http://www.qdnd.vn/hau-phuong-chien-si/que-huong/suot-doi-tri-an-su-hy-sinh-cua-dong-doi-506289

    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  8. Có 2 người thích bài viết này


  9. #636
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,154
    Thích
    328
    Đã được thích 1,863 lần trong 994 bài viết
    VĂN TẾ CÁC LIỆT SĨ XE TĂNG 388



    Ngày mai- 05.5.2017 tôi cùng các đồng đội lên đường đi A Lưới làm Lễ tưởng niệm các Liệt sĩ trên xe tăng 388 đã hy sinh cách đây 45 năm về trước (07.5.1972). Dẫu biết khả năng có hạn song tự tấm lòng thành xin mạo muội có đôi dòng gửi tới anh linh các anh.

    Hôm nay:
    Mồng Bảy tháng Năm năm Hai Nghìn Không Trăm Mười Bảy (07.5.2017)
    Lại nhớ về Mồng Bảy Tháng Năm năm Một Chín Bảy Hai (07.5.1972).
    Ngày ấy:
    Vượt qua mọi khó khăn gian khổ, Đại đội 4 vừa tới chiến trường
    Sau mấy trăm cây số hành quân, toàn đơn vị trú quân đợi lệnh
    Bỗng nhiên, Bê Năm Hai oanh tạc, mặt đất ngả nghiêng
    Đột ngột, bom rải thảm nổ tung, bầu trời vần vũ
    Xe Ba Tám Tám trúng bom, 4 chiến sĩ hy sinh
    Đại đội lần đầu tổn thất, 1 xe tăng xóa sổ
    Tăng võng thay quan tài mai táng các anh, cả đại đội nghiến chặt hàm răng
    Tấm tôn làm bia mộ ghi danh liệt sỹ, toàn đơn vị lòng đau như cắt
    Gửi các anh lại đất này, Đại đội 4 vào đường Mười Hai
    Chỉ mang theo chí căm thù, toàn đơn vị quyết tâm diệt giặc






    Nhớ anh linh xưa
    Bốn vị bốn quê
    Mỗi người một vẻ
    Nguyễn Minh Luyến, trai đất Tổ Phong Châu, tính nết hiền hòa
    Lê Mạnh Hùng, người Diễn Châu xứ Nghệ, khỏe như lực sĩ
    Vũ Ngọc Kiểm, người con Gia Lộc, Hải Dương, ăn nói nhẹ nhàng
    Lê Khả Mai, thanh niên Thọ Xuân, Thanh Hóa, cần cù chịu khó
    Mười tám, đôi mươi đang tuổi thanh xuân
    Vẫn dáng học sinh giữa thời đẹp nhất
    Nghe tiếng non sông, gác bút nghiên học bắn lái xe tăng
    Đáp lời Tổ Quốc, bỏ sách vở tập làm người chiến sĩ
    Thành bộ đội xe tăng, một dạ trung kiên
    Làm người lính Cụ Hồ, chung lòng quyết thắng
    Dẫu việc nhỏ việc to luôn gắng hoàn thành
    Cùng đồng chí đồng đội không nề gian khổ
    Bốn anh em chung lưng đấu cật trên một kíp xe tăng
    Thành liệt sĩ vẫn ở bên nhau giữa đất thiêng A Lưới



    Hố bom xưa vẫn còn đó


    Chia tay liệt sỹ, toàn đơn vị hứa sẽ đồng lòng
    Vĩnh biệt các anh, Đại đội 4 quyết tâm một dạ
    Trấn giữ đường 12, ngăn quân địch từ Động Tranh, Bình Điền
    Chốt chặt ngầm Sông Bồ, đánh Tà Lương mở rộng vùng giải phóng.
    Bom tấn, pháo bầy, mìn vướng... thêm 5 chiến sĩ hy sinh
    Mưa rừng, sốt rét, đói cơm... không một anh em nản chí
    Pa- ri xong Hiệp định, trên cho phép đưa xe pháo về sau
    Hoa Kỳ kéo nhau rút, đơn vị vẫn sẵn sàng chiến đấu.
    A-Lê- nốc nên căn cứ lâu dài
    Đất Hồng Bắc thành thao trường huấn luyện.
    Chăm sóc pháo xe, tổ kỹ thuật ra kéo lật Ba Tám Tám lên
    Nhớ thương liệt sỹ, chính trị viên cùng mấy anh em đi tìm mộ

    Than ôi!
    Xe vẫn đấy, dẫu không còn trong đội ngũ điệp trùng vẫn cung cấp vô số khí tài
    Mà người đâu, tìm chẳng thấy giữa bãi bom la liệt, không dấu vết thấy đâu mộ chí
    Chẳng tiếc thân mình vì Tổ Quốc anh dũng hy sinh
    Còn chút thịt xương giờ lại hòa vào lòng Đất Mẹ
    Vẫn biết nơi đây là trọng điểm bị oanh kích hàng ngày
    Nào ngờ mộ táng chốn thiêng liêng lại mất vì bom đạn
    Nhớ thương đồng đội, cả đơn vị một dạ quyết tâm
    Đau đớn nghẹn lòng, Đại đội 4 lên đường chiến đấu

    Tháng Ba năm 1975
    Sáng 20 xuất quân hùng dũng, vượt đèo cao tiến tới Bạch Mã, Động Truồi.
    Ngày 23 dũng cảm kiên cường, cùng bộ binh đánh tan Núi Bông, Núi Nghệ.
    Ngày 25 mưu trí linh hoạt, tìm đường tránh tiến về thành Huế, truy kích địch ra tận cửa Thuận An.
    Ngày 29 không sợ gian nguy, vượt Hải Vân mà vào Đà Nẵng, trấn giữ nội thành ngay Bạch Đằng Thương cảng.

    Sang tháng Tư
    Ngày 14 xuất quân hành phương Nam từ căn cứ Khánh Sơn
    10 ngày sau, vượt cả ngàn cây số đến đồn điền Ông Quế
    Trưa 28, 380 đơn thương độc mã tăng cường cho Đại đội 5 bị dính đạn trọng thương, pháo hai Nguyễn Kim Duyệt hy sinh
    Ngày 29, cả đại đội khí thế bừng bừng, cùng bộ binh Trung đoàn 9 làm Nước Trong thất thủ, trưởng xe Nguyễn Đình Luông đi viện.
    Sáng 30 dẫn đầu đội hình binh đoàn thọc sâu
    Gần 9 giờ đã thấy Hòn ngọc Viễn Đông trước mặt.
    Cầu Sài Gòn, tập trung hỏa lực như trời long đất lở, 2 M48 lần lượt tan thây.
    Rạch Thị Nghè, phân tán bắn nhanh tựa chớp giật sấm rung, 3 thiết giáp thi nhau bốc cháy.
    Ngoảnh đằng sau ngàn ngày gian nan
    Ngay trước mặt là dinh Độc Lập.
    Đại lộ Thống Nhất 843 dẫn đầu dũng mãnh xông lên cổng trái ủi bung.
    Đường Hồng Thập Tự 390 đi trước ầm ầm lao tới húc tung cổng chính.
    Đại đội trưởng Bùi Quang Thận lên sân thượng dinh gấp gáp cắm cờ.
    Chính trị viên Vũ Đăng Toàn vào phòng khánh tiết bắt luôn nội các.
    Chiến công lịch sử đã ghi
    Thành tích người đời truyền tụng.
    Gần bốn mươi năm sau, Đại đội được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang
    Ngót nửa thế kỷ qua, hai kíp xe được xếp làm bảo vật quốc gia đợt một.

    Bốn nhăm năm sau
    Chúng tôi về thăm lại chốn chiến trường xưa
    Bâng khuâng nhớ bao đồng đội từng ngã xuống.
    Chiến địa xưa giờ phố xá khang trang
    Trọng điểm cũ nay làng quê trù phú
    Vẫn đau đáu một niềm mong mỏi mà nào thấy tăm hơi
    Luôn canh cánh bao nỗi nhớ thương nhưng còn đâu mộ chí
    Hố bom còn đây
    Người nằm đâu nhỉ?
    Thôi đành bái vọng các anh bằng một nén tâm nhang
    Tâm nguyện sẽ xây ngay tại đây miếu thờ liệt sĩ
    Nhưng lòng dân thơm thảo, bà con Xóm 2 Quảng Vinh đã đón nhận các anh phụng thờ
    Với tình nghĩa vẹn toàn, nhân dân Sơn Thủy A Lưới luôn trân trọng anh hùng liệt sỹ.



    Nhà thờ Xóm 2 Quảng Vinh- Nơi thờ phụng các LS


    Vậy nên
    Dẫu thân xác có tan vào đất mẹ để xanh mãi cỏ cây
    Thì hồn thiêng vẫn lưu giữa miếu đền đời đời cúng tế
    Tạo hoá vốn vô cùng, dẫu đã khuất vẫn hiện hữu trường tồn;
    Âm dương dù đôi ngả, người chẳng thấy mà không từng cách biệt.
    Ngày chính kỵ dâng nén tâm nhang;
    Buổi cầu siêu nhớ người tiết liệt.
    Lòng thành cầu cho anh linh liệt sĩ an giấc ngàn thu, ngậm cười nơi chín suối, phù hộ độ trì cho non nước Việt Nam;
    Tâm sáng mong sao cuộc sống trần gian hạnh phúc muôn đời, hanh thông chốn đất lành, chung tay kết đoàn xây quê hương đất nước!



    Ban thờ 4 liệt sĩ


    Chúng tôi:
    Nguyện phấn đấu bằng tất cả tâm tài để nước mạnh dân giàu;
    Luôn noi theo gương hy sinh dũng liệt cho quê hương phát triển.
    Tâm nhang một nén, gọi là lễ bạc gởi chút lòng thành;
    Văn tế đôi dòng, bày tỏ lời quê dâng trang tuấn kiệt.



    Cẩn cáo
    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  10. Có 2 người thích bài viết này


  11. #637
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,154
    Thích
    328
    Đã được thích 1,863 lần trong 994 bài viết
    THĂM LẠI NHỮNG CON CHIẾN MÃ THÂN THƯƠNG VÀ MÁI NHÀ CHUNG ẤM ÁP- LỮ ĐOÀN XE TĂNG 203




    Ngày 18.6 vừa qua, gần 200 cựu chiến binh của Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn 2 từ khắp các miền quê đã hội tụ về đơn vị của mình.

    Có một nơi mà mỗi người lính đều mong muốn được về thăm ít nhất một lần trong đời- đó chính là đơn vị cũ của họ. Nơi đó, họ đã sống những tháng năm tươi đẹp nhất của đời mình. Nơi đó đã rèn giũa họ, tôi luyện họ trưởng thành, nên người.
    Nơi đó họ có thêm biết bao người anh em tuy không cùng một mẹ sinh ra nhưng yêu quý nhau còn hơn ruột thịt. Và đó cũng là nơi lưu giữ những truyền thống vẻ vang mà chính họ đã bằng tất cả sức lực và trí tuệ, thậm chí cả máu của mình góp phần dựng xây lên...


    Chính vì vậy, khi nghe tin cuộc Gặp mặt truyền thống năm 2017 được tổ chức tại chính đơn vị cũ, nhiều cựu chiến binh (CCB) của Lữ đoàn xe tăng 203 đã mừng đến phát khóc lên.
    Không mừng sao được khi đã rời quân ngũ mấy chục năm rồi, nay lại được về chứng kiến sự trưởng thành của các thế hệ con cháu và nhất là được thăm lại những con "chiến mã" đã từng cùng mình tung hoành khắc các chiến trường ngày xưa. Chỉ nghĩ đến là đã thấy hạnh phúc rồi.
    Và ngày 18.6 vừa qua, gần 200 CCB của Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn 2 từ khắp các miền quê đã hội tụ về đơn vị của mình. Cuộc hàn huyên giữa những người đồng đội mà trong đó có những người hơn 40 năm nay mới được gặp lại nhau tưởng như bất tận. Có cả nước mắt, nụ cười và nỗi nhớ thương khôn xiết về những người đồng đội đã không thể về dự gặp mặt hôm nay.

    Cựu chiến binh của Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn 2 từ khắp các miền quê đã hội tụ về đơn vị. Ảnh: Nguyễn Khắc Nguyệt

    Nơi trân trọng từng mảnh nhỏ của quá khứ

    Lữ đoàn xe tăng 203 được thành lập ngày 22 tháng 6 năm 1965. Là đơn vị xe tăng thứ hai của Quân đội nhân dân Việt Nam song lại là đơn vị đầu tiên đưa xe tăng vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Vết xích của lữ đoàn đã trải khắp dọc dài đất nước và cả bán đảo Đông Dương.
    Từ Tà Mây- Làng Vây đến Quảng Trị, Đông Hà. Từ Huế - Đà Nẵng qua khu Năm dằng dặc khúc ruột miền Trung đến dinh Độc Lập giữa Sài Gòn hoa lệ. Từ biên giới Tây Nam mênh mông bát ngát những cánh đồng đến biên cương phía Bắc trập chùng đồi núi...
    Những chiến công oanh liệt, những trận thắng vẻ vang đã làm nên tên tuổi một lữ đoàn "Thần tốc, táo bạo, đã ra quân là đánh thắng" hết sức gần gũi thân thương với đồng bào cả nước.
    Song để viết lên truyền thống đó cũng chẳng dễ dàng chút nào! Dọc đường chiến đấu của lữ đoàn đã có 384 cán bộ, chiến sĩ anh dũng hy sinh, hàng trăm người còn mang thương tật trong mình cùng những câu chuyện chiến đấu đầy bi tráng như huyền thoại.
    Thấu hiểu điều đó, thế hệ cán bộ chiến sĩ hiện tại của lữ đoàn đã hết sức trân trọng, ghi nhớ đến từng mảnh nhỏ của quá khứ. Ngay từ khi về nơi đóng quân ổn định bây giờ, cùng với việc xây dựng doanh trại và khu kỹ thuật ngày một cơ bản, khang trang các anh đã có ý tưởng quy hoạch xây dựng những công trình nhằm tôn vinh truyền thống vẻ vang của đơn vị.

    Xe tăng số hiệu 380 do chính Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt lái đang tiến vào Dinh Độc lập trưa 30/04/1975. Ảnh tư liệu.

    Công trình đầu tiên được các anh chăm chút rất kỹ càng là Phòng truyền thống của đơn vị. Ở đó tập hợp rất nhiều hiện vật minh chứng cho quá trình xây dựng và chiến đấu của đơn vị mấy chục năm qua.
    Từ những kỷ vật của các liệt sĩ đến những lá cờ trận mạc nhuốm màu khói súng, từ những vật dụng thông thường của những người lính đến những phần thưởng của Nhà nước v.v... đều có mặt tại đây.
    Đặc biệt, tại vị trí trang trọng nhất ở đây là ban thờ Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các liệt sĩ của lữ đoàn. Tên tuổi, quê quán và ngày hy sinh của các liệt sĩ được khắc trên tấm bia đá khổ lớn như là lời nhắc nhở các thế hệ sau này về những hy sinh vô bờ bến của các thế hệ đi trước.
    Vào những ngày lễ tết hoặc những dịp kỷ niệm, Ban chỉ huy và cán bộ chiến sĩ toàn lữ đoàn lại về đây làm lễ dâng hương, kính cáo với Bác và hương hồn các liệt sĩ những gì mình đã làm được.
    Và nghi lễ đầu tiên của cuộc gặp mặt truyền thống CCB năm 2017 cũng được bắt đầu tại đây với Lễ tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Đứng trước ban thờ liệt sĩ khói hương nghi ngút, mắt nhiều CCB ầng ậng nước. Trên tấm bia đó là tên tuổi những đồng đội, những thằng "Quê" của họ chứ ai!

    Đảm bảo kỹ thuật ở Lữ đoàn xe tăng 203. Ảnh: Nguyễn Khắc Nguyệt.
    Gặp lại những con chiến mã trung thành - dẫu tuổi đã cao vẫn vững vàng

    Một trong những lý do làm cho các CCB càng thêm háo hức về thăm "mái nhà xưa" là về đây họ sẽ được thăm lại những con "chiến mã" trung thành - những chiếc xe tăng đã từng gắn bó với họ tung hoành trên các chiến trường mấy chục năm về trước.
    Mấy thập kỷ đã trôi qua từ khi họ rời đơn vị, Lữ đoàn đã được bổ sung nhiều trang bị mới hiện đại hơn. Nhưng bên cạnh số trang bị mới đó, những con chiến mã trung thành của họ- dẫu tuổi đã cao- song với sự chăm chút của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ sau này giờ đây vẫn đang vững vàng trong đội ngũ, sẵn sàng lên đường đến bất cứ nơi nào khi Tổ Quốc cần.
    Sau khi tham quan sơ bộ một vòng toàn bộ khu kỹ thuật, đoàn xe dừng lại cạnh khu xe sẵn sàng chiến đấu. Cửa xe vừa mở, nhiều CCB đã lao xuống chạy như bay về phía lán xe. Họ như trẻ lại hàng chục tuổi.
    Rất nhiều người trong số họ đã tìm lại được con chiến mã thân thương của mình. Họ săm soi những dấu vết mà đạn bom quân địch đã ghi lại trên thân thể chúng. Họ trầm trồ ngạc nhiên về sự "cải lão hoàn đồng" của chúng...
    Nhưng cũng có những người bần thần, buồn bã bởi không thể gặp lại chiến mã của mình. Có thể nó đã được điều chuyển đi đơn vị khác hoặc cũng có thể nó đã nằm lại ở một nơi nào đó sau khi rời bàn tay chăm bẵm của họ.
    Nhưng rồi cuộc vui nào rồi cũng đến lúc kết thúc. Ban chỉ huy lữ đoàn cùng các cán bộ chiến sĩ trong lữ đoàn mời các CCB cùng ăn một "bữa cơm lính" để mãi nhớ về những ngày xưa và tăng thêm tình đoàn kết gắn bó giữa các thế hệ. Toàn thứ cây nhà lá vườn của nhà làm được song bữa cơm lính hôm nay cũng tươm tất, thịnh soạn như một bữa cỗ của họ ngày xưa.
    Vào tiệc, các CCB và những người lính của lữ đoàn hôm nay cùng nhau hát bài "binh chủng ca - Năm anh em trên một chiếc xe tăng". Dư âm của bài hát còn vang mãi như sự gửi gắm lòng tin của những người lính già vào thế hệ trẻ đang tiếp bước mình viết tiếp bài ca truyền thống của lữ đoàn.

    Nguồn: http://soha.vn/tham-lai-nhung-con-ch...2117520939.htm


    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  12. Có 1 người thích bài viết này


  13. #638
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,154
    Thích
    328
    Đã được thích 1,863 lần trong 994 bài viết
    CÓ PHẢI LÀ SỰ TRÙNG HỢP NGẪU NHIÊN?
    Hôm nay, tôi và Phạm Tảo, Nguyễn Hữu Nghị- hai đồng đội của Đại đội XT4 đến viếng Hoàng Xuyên- nguyên pháo thủ xe 388, nguyên quân khí viên của đại đội ngày xưa.
    Chuyện về chiếc xe tăng 388 bị trúng bom B52 lật ngửa ở A Lưới và 4 chiến sĩ hy sinh cùng một lúc cũng như hành trình của các CCB cT4 về A Lưới làm lễ cầu siêu và tưởng niệm đồng đội tôi đã từng kể các bạn nghe. Tuy nhiên, còn một số chi tiết nữa chưa kịp kể.
    Đó là chuyện về pháo thủ Hoàng Xuyên- người mà chúng tôi đến viếng hôm nay. Cái ngày 7.5.1972 định mệnh đó, khi box B52 rải thảm trùm lên khu trú quân của đại đội, một quả bom tấn làm chiếc xe 36 tấn bị hất tung lên rồi rơi xuống lật ngửa chổng hai băng xích lên trời. Bốn chiến sĩ nằm dưới bụng xe hy sinh ngay lập tức. Còn HX cùng một chiến sĩ nữa nằm trong xe đã may mắn thoát chết và chỉ bị sứt đầu, mẻ trán mà thôi.
    Vì có trình độ chuyên môn tương đối khá, lại ko còn xe nữa, HX đã đwọc giao nhiệm vụ Quân khí viên đại đội.
    Nhưng số phận chưa buông tha anh này. Cuối tháng 11.74, do vô tình HX đã gây ra một vụ tai nạn lớn nên phải xa đơn vị và không được tham gia vào cuộc chiến năm 1975.
    Có lẽ do mặc cảm, cộng với hoàn cảnh đơn vị cT4 ở khá phân tán nên HX chưa lần nào tham dự các cuộc gặp mặt toàn thể của đại đội. Thậm chí anh còn bỏ ko dùng điện thoại nên tôi đã ko thể thông báo cho anh biết về chuyến trở về A Lưới của đơn vị dạo tháng 5 vừa qua.
    Nhưng có khi đó lại là điều may mắn cho anh và cho cả chúng tôi. Đúng trưa 7.5.2017- trong khi tại A Lưới chúng tôi đang tổ chức Lễ tưởng niệm 4 liệt sĩ xe 388 hy sinh 45 năm trước- ngày 7.5.1972 thì tại quê nhà, HX cũng trút hơi thở cuối cùng sau mấy ngày ốm nhẹ. Vậy là, sau cú chết hụt tròn 45 năm- anh đã ra đi thật! Kể lại chuyện này, ngay cả người thân của anh cũng bảo: “Có khi mấy đồng đội kia về rủ ông ấy đi đấy!”.
    Có phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên hay là các đồng đội gọi đi là có thật?

    H1- HX đứng cạnh khẩu 12,7 mm trong HL tại AL- Lê Trí Dũng chụp 1973







    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  14. #639
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    2,154
    Thích
    328
    Đã được thích 1,863 lần trong 994 bài viết
    Nhân vụ tướng Võ Văn Liêm chửi CSGT:

    Tướng là tài sản quốc gia
    Là của quý hiếm, tinh hoa của đời
    Võ văn kiêm đủ đức tài
    Là tấm gương sáng để người người theo
    Đánh 2 đế quốc nhà giàu
    Chỉ 36 tướng anh hào mà thôi* !
    ...
    Hòa bình mấy chục năm rồi
    Quân thì đã giảm trước 10 giờ 5
    Thế mà tướng lại mấy trăm
    Hơn mười ngày trước, các ông tướng gì ?
    ...
    Lại nghe có cả tướng mua,
    Tướng xin, tướng chạy, tướng đua đấu thầu...
    Đức tài thì để đằng sau
    Tướng không ra tướng chỉ rầu lòng dân
    Cứ xem tướng Võ Văn Liêm
    Xổm trên luật pháp. Còn niềm tin không ?

    * Tính đến 30.4.1975, QĐND Việt Nam mới có 36 vị được phong tướng.

    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  15. Có 2 người thích bài viết này


Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •